I. KINH DỊCH VÀ SÁCH THÁI ẤT THẦN KINH
1. Bát quái đồ và Kinh Dịch
Sấm ký cũng như Tượng số học đều có cơ sở từ Kinh Dịch mà Dịch lý được ký hiệu thành Bát quái đồ từ thời Phục Hy (1).
Sau bát quái đồ được Văn Vương đời Chu cải biên bằng cách xoay phương vị để chuyển quẻ kiền vốn ở phương Nam (phương của họ Bách Việt có viễn tổ là Phục Hy) xích lên phương Tây Bắc là nơi xuất phát của nhà Chu. Nhà Chu đặt ra Hậu Thiên bát quái đồ hiện còn thông dụng. Có thể nói ký hiệu Bát quái đồ là hệ thống ký hiệu được đặt ra vào loại sớm nhất thế giới và Phục Hy đúng là một trong những Tổ sư của ký hiệu học loài người.
Từ bát quái đồ lại phát triển thành tượng số học, thành khoa toán số, mầm mống của phép bói toán có tính chất mê tín dị đoan. Thời Chiến quốc bên Trung Quôc đã có Quỷ Cốc Tử rất thông thái, rất nổi tiếng về tượng số học với những học trò nổi tiếng như Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tẫn, Bàng Quyên. Tuy không làm nghề bói toán nhưng Quỷ Cốc Tử được coi là tổ sư của nghề này.
Từ tượng số học lại phát triển thành Kinh Dịch. Kinh Dịch là tác phẩm kỳ diệu của nền văn hóa phương Đông, công trình của tập thể các tác giả qua biết bao nhiêu thời đại. Từ bát quái đồ, đức Khổng Tử đã san nhuận lại, giải thích từng quẻ một. Từ lưỡng nghi (hai hào) đến tứ tượng (bốn tượng) thành bát quái (tám quẻ) đến 64 quẻ dịch mà biến ảo khôn lường.
Trong Kinh Dịch cái gốc chỉ là một nét vạch ngang gọi là hào:
- Vạch ngang liền là hào dương (tức vạch lẻ)
- Vạch ngang đứt là hào âm (tức vạch chẵn).
Hai hào này gọi là lưỡng nghi (xem hình vẽ).
Nếu trên mỗi nghi ta thêm một hào thì có bốn cái hai hào gọi là tứ tượng:
- Hai vạch trên liền là Thái dương và Thiếu đương.
- Hai vạch trên đứt là Thiếu âm và Thái âm (xem hình vẽ).
Nếu trên mỗi tượng lại thêm một vạch thì có tám cái ba hào gọi là bát quái.
- Bốn vạch trên liền là: Càn, Tốn, Ly, Cấn.
- Bốn vạch trên đứt là: Đoài, Khảm, Chấn, Khôn (xem hình vẽ).
Ý nghĩa của bát quái như sau:
- CÀN (hay kiền) : Thiên là trời
- TỐN : Phong là gió
- LY : Hỏa là lửa
- CẤN : Sơn là núi
- ĐOÀI : Trạch là ao, đầm
- KHẢM : Thủy là nước
- CHẤN : Lôi là sấm
- KHÔN : Địa là đất.
Những quẻ trên gồm ba vạch gọi là quẻ đơn. Hai quẻ đơn chồng lên nhau gọi là quẻ kép. Vậy quẻ kép gồm sáu hào. Nếu lấy quẻ Càn đặt lên trên bát quái ta được tám quẻ kép:
Càn, Càn, Càn, Càn, Càn, Càn, Càn, Càn.
Càn, Tốn, Ly, Cấn, Đoài, Khảm, Chấn, Khôn
Tương tự như vậy nếu quẻ Tốn đặt lên trên ta lại được tám quẻ kép tiếp... Cứ như thế ta có 8 x 8 = 64 quẻ kép.
Trong 64 quẻ kép này có 8 quẻ do hai quẻ đơn cùng tên chồng lên nhau (như càn/càn) gọi là 8 quẻ Bát thuần. Ly/Ly gọi là Bát thuần ly. Năm mươi sáu quẻ còn lại do hai quẻ đơn khác tên chồng lên nhau gọi là quẻ Thái.
Quẻ dịch biến hóa khôn lường (Vì Dịch là thay đổi, chuyển hóa nên từ đó có quan niệm động, tĩnh của các hào). Như trong hình vẽ từ quẻ Bát thuần ly (gồm 6 hào đánh số từ dưới lên trên) nếu ta thấy các hào thứ 2, 3, 4 thì được quẻ TỐN, nếu lấy các hào 3, 4, 5 ta lại được quẻ ĐOÀI. Đem que TỐN chồng lên quẻ ĐOÀI ta được một quẻ Thái có tên là quẻ Trung phù (xem hình vẽ).

Rất nhiều cách biến đổi khác từ 64 quẻ dịch cho ta muôn ngàn tình huống khác nhau, chính vì vậy các nhà bói toán mới lợi dụng để giải thích những biến ảo của đời người. Thực ra Kinh Dịch là một sách triết học hơn là sách bói toán. Ngay ở Trung Quốc, Kinh Dịch đã có nhiều bản khác nhau do nhiều người chú giải. Người thì dựa trên quan điểm Thuật số, người thì đứng trên quan điểm Triết học, người lại trên quan điểm Đạo giáo. Dịch sang tiếng nước ngoài lại càng tam sao thất bản. Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức đều có những bản dịch qua lại nhiều lần, khó mà giữ nguyên tinh thần Kinh Dịch. Ở Việt Nam ta cũng có tới ba bản dịch của các cụ Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố và Nguyễn Hiến Lê mà không bản nào dám nhận là đã truyền đạt đầy đủ tinh thần cùng triết lý cao siêu của Kinh Dịch.
2. Sách Thái Ất thần kinh (Thái huyền) và lý số.
Theo sách Hán chỉ thì sách Thái Ất thần kinh tức Thái huyền là do Dương Hùng, một đại phu triều Vương Mãng phỏng theo Chu dịch mà viết ra.
Dương Hùng tự là Tử Vân sinh vào đời Tây Hán khoảng năm 53 trước công nguyên và mất năm 70 tuổi vào cuối đời Vương Mãng. Ông làm ra sách Thái huyền (về Hình nhị thượng) và Pháp ngông (về Hình nhị hạ). Làm sách Thái huyền, ông tham chước cả Kinh Dịch và Đạo đức kinh. Kinh Dịch lấy âm, dương làm gốc, còn sách Thái huyền thì lấy MỘT, HAI, BA làm cho sự biến hóa của trời đất.
Dương Hùng cho là đạo trời xoay vần biến đổi, nhưng không bao giờ ra ngoài cái lý huyền được. Huyền là cái bản thể của vũ trụ mà người và vũ trụ là đồng một thể cả.
Theo văn học sử Trung Quốc thì khi làm xong bộ Thái Ất thần kinh, Dương Hùng có đưa cho bạn là Lưu Hân xem nhưng Lưu Hân chê là ngày nay đọc Kinh Dịch còn không hiểu thì đọc Thái Ất thần kinh làm gì.
Sau Lưu Hân đến Ban Cố cũng chê Dương Hùng và khép Dương Hùng vào tội đáng đem tra phạt ở trước cửa Thánh hiền, nhưng đến Tống nho là Tư Mã Quang thì lại khen mà cho rằng xem sách ấy thì biết được cả âm dương, vũ trụ, thấu triệt cả việc người lẫn việc thiên địa quỉ thần.
Tư Mã Quang Lại cho rằng Dương Hùng làm ra sách Thái huyền là để tán thêm ý nghĩa của Kinh Dịch chứ không phải tranh với Kinh Dịch và ông coi Dương Hùng là một bậc đại nho dẫu Mạnh Tử, Tuân Tử cũng không sánh được.
Tuy nhiên lời của Tư Mã Quang không được chấp nhận.
Trong quyển nho giáo, cụ Trần Trọng Kim có viết như sau về sách Thái huyền:
“Những nhà bàn đến sách Thái huyền đều nói rằng Dương Hùng theo Kinh Dịch mà làm ra sách ấy. Nhưng xét ra không những là ông theo Kinh Dịch mà thôi, ông lại còn tham chước cả với sách Đạo đức kinh của Lão Tử nữa.
“Nguyên chữ Huyền là chữ của Lão Tử thường nói ở Đạo đức kinh và ở chương 42 quyển hạ có câu rằng: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”. Dương Hùng mới nhân chữ “Huyền” của Lão Tử mà đặt tên sách của mình và lấy số một, hai, ba làm gốc cho sự biến hóa của trời đất. Bởi lẽ ấy Nho gia đời xưa không nhận sách Thái huyền làm sách của Nho gia và cho sách ấy là hạng sách nói về thuật số”.
Dù có viết những điều thần bí trong sách Thái Huyền, Dương Hùng cũng không tránh được tai nạn xẩy ra cho mình. Tưởng Vương Mãng cướp được ngôi nhà Hán thì sẽ thịnh trị lâu dài, Dương Hùng ca ngợi Vương Mãng như một vị thánh quân và đi theo làm đến chức đại phu. Biết đâu khi giòng dõi nhà Hán khôi phục cơ nghiệp, quân của Hán Quang Vũ tràn tới, Dương Hùng thất thế phải nhẩy từ trên lầu cao xuống đất tự tử. Thế đủ biết sách Thái Ất thần kinh cũng không có gì là linh nghiệm lắm như người ta thường đồn đại.
Còn về lý số thì ở Trung Quốc, người mở đầu cho phái Lý học đời Tống là Trần Đoàn, giỏi về thuật số học. Ông thường lấy cái học về Dịch lý mà xét đoán vận mệnh. Sang đến thế kỷ sau (thế kỷ 11) thì Thiệu Ung và Chu Đôn Di đề xướng lên thành học thuyết.
Phái Lý học của Tống Nho tuy là một nhưng có ba thuyết. Theo lời các môn đệ của Trạng thì cụ nghiên cứu thuyết của Thiệu Ung rất uyên thâm, thuyết này về sau rất thịnh hành. Trong cuốn Hoàng Cực kinh thế của mình, Thiệu Ung phát biểu lý thuyết Kinh Dịch và Kinh Thái Huyền mà định ra tượng số, trong “Quan vặt nội thiên” ông viết:
- “Người ta đối với nóng, lạnh, ngày, đêm, không có lúc nào không biến; đối với mưa gió sương sấm không có lúc nào không hóa; đối với tính tình hình thể không có lúc nào không cảm; đối với sự chạy, sự bay, loài cỏ, loài cây, không có lúc nào không ứng. Bởi thế mắt trông rõ sắc các vạn vật, tai nghe rõ tiếng của vạn vật, mũi ngửi rõ khí của vạn vật, miệng nếm rõ mùi của vạn vật. Người ta như thế cho nên linh hơn vạn vật là phải vậy” (Theo Nho giáo của Trần Trọng Kim).
Theo ông, trời đất, vũ trụ chuyển vần thay đổi không lúc nào nghỉ, ông lấy cái thế, cái dụng của tứ tượng mà lập thành số, thành đồ. Ông quan niệm mọi sự vật biến hóa tuần hoàn, khi thịnh, khi suy theo nguyên, hội, vận, thế...
Chính trên cơ sở nghiên cứu sâu xa về Dịch học và Lý số cùng sách Thái Ất thần kinh mà Trạng Trình đã có những đoán định sát đúng về thời cuộc cũng như hành xử chính đính trong cuộc đời mình.
II. BÀI TỰA
NGUYỄN CÔNG VĂN ĐẠT PHỔ KÝ (2)
(Trích gia phả dòng họ Trạng Trình)
Đây là bài tựa viết cho tập gia phả của dòng họ Trạng Trình. Bài tựa này viết sau khi Trạng Trình mất 170 năm, tác giả là Ôn Đinh Hầu, Vũ Khâm Lân. Ông sinh năm 1702, ngưừi làng Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Ông còn có tên là Vũ Khâm Thận, đỗ tiến sĩ năm 1727 (niên hiệu Thái Bảo thứ 8) làm quan đến Ngự sử đài, Tham tụng, tước Ôn Quận công. Tác phẩm của ông có quyển: Phủ sát bí mật. Bài tựa này được chép trong quyển Công dư tiệp ký (những chuyện ghi nhanh trong lúc rảnh việc quan của Vũ Phương Đề, cuốn 3, tờ 166-175. Cũng có người cho tác giá Bài tựa này là tác giả của quyển “Công dư tiệp ký” tức Vũ Phương Đề, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là Bình Giang, Hải Dương, sinh năm 1697 và đỗ tiến sĩ vào năm Vĩnh Hựu thứ hai (1736).
Trong bài tựa, tác giá nêu rõ quá trình tìm hiểu cuộc đời và hạnh trạng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và lý do vì sao tác giả viết Bài tựa này.
“Trình Quốc công Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm tự Hành Phủ, đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Âm, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, tiên tổ ngày xưa tu nhân tích đức nhiều, nay không thể khảo cứu được - chỉ biết từ đời cụ tổ, được tập phong Thiếu bảo, Tư Quận công, nhân, Phạm Thị Trinh Huệ, nguyên trước các cụ lập gia cư ở nơi có núi sông bao bọc hợp với kiểu đất của Cao Biền, tay phong thủy trứ danh đời Đường.
Phụ thân cụ Trạng được tặng phong tước Thái bảo Nghiêm Quận công, mỹ tự là Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh. Cụ Văn Định học rộng tài cao, có đức tốt và đã có lần sung chức Thái học sinh đời Lê.
Thân mẫu cụ Trạng được phong tặng tước Từ Thục phu nhân, bà người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, cũng thuộc tỉnh Hải Dương, con gái quan Hộ bộ thượng thư Nhữ Văn Lân. Bà thông minh, học rộng văn hay, lại tinh thông tướng số. Ngay đời Hồng Đức (niên hiệu vua Thánh Tôn nhà Lê) bà đã đoán trước rằng vận mệnh nhà Lê chỉ bốn mươi năm nữa là suy đồi khó gỡ. Bà có chí hướng muôn phù vua giúp nước như một bậc trượng phu nên chỉ chịu kết duyên khi gặp người trai nào vừa ý. Bà kén chồng đến ngót hai mươi năm, cho đến khi gặp ông Văn Định là người có tướng sinh quý tử, mới thành lập gia thất.
Sau khi đã lấy ông Văn Định, có lần qua bến đò Hàn thuộc sông Tuyết (sông thuộc làng Cổ Âm) gặp một chàng thanh niên khác, bà nhìn người này, và ngạc nhiên than rằng “lúc trước không gặp ngày nay sao đến đây làm gì ?”. Bọn theo hầu không hiểu nghĩa gì, cầm roi toan đánh đuổi chàng thanh niên ấy, bà cản lại, và hỏi tên họ. Khi được biết, bà nghĩ buồn rầu hối hận đến cả mấy năm trời. Người thanh niên ấy, không ai khác hơn là Mạc Đăng Dung, Thái tổ của nhà Mạc sau này.
Bỉnh Khiêm sinh năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi - 1491) lúc nhỏ có vóc dáng kỳ vĩ, chưa đầy một năm đã nói sõi. Một hôm, vào buổi sáng sớm, Văn Định đương bế cậu trên tay bỗng thấy cậu nói ngay rằng: “Mặt trời mọc ở phương đông”, ông lấy làm lạ. Xem đó đủ biết con người khác thường, từ lúc thơ ấu đã có vẻ khác thường.
Năm Bỉnh Khiêm được bốn tuổi, thân mẫu dạy cậu học các bài chính nghĩa của kinh, truyện (tức những bài chính của các sách Tứ thư, Ngũ kinh). Bà dạy bằng cách khi ru khi hát, nhưng dạy đến đâu, cậu thuộc lòng đến đó. Cũng vào khoảng năm số tuổi ấy, về thi ca, Bỉnh Khiêm đã thuộc vanh vách đến cả mấy chục bài quốc âm (thơ Nôm)...
………………….
...Trong tám năm ở triều, tiên sinh dâng sớ hạch tội mười tám kẻ lộng thần, xin đem ra chém để làm gương, bởi vì bản tâm, tiên sinh chỉ muốn trăm họ được an vui, những người mù lòa tàn tật được hành nghề hát xướng, bói toán... Nhưng rồi thấy người con rể là Phạm Đao ỷ thế lộng hành, tiên sinh sợ liên lụy đến mình, nên cáo quan về nghỉ... Năm ấy là năm Quảng Hòa thứ hai (1542) đời Hiến Tôn nhà Mạc, tiên sinh mới 52 luổi.
Treo mũ về quê, tiên sinh dựng am Bạch Vân ở phía đông làng và vẫn lấy biệt hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Tiên sinh bắc hai chiếc cầu là Nghinh Phong và Trường Xuân để hóng mát, đồng thời dựng một cái quán ở bến sông Tuyết (Tuyết Giang) gọi là Trung Tân quán, hiện nay quán này còn tấm bia đá làm di tích để lại.
Ngoài ra, tiên sinh còn tu bổ chùa chiền, tiên sinh thường cùng các lão tăng đàm luận, và thường khi thả thuyền dạo chơi Kim Hải hay Úc Hải để xem người đánh cá. Các chỗ danh sơn thắng cảnh như An Tử, Ngọa Vân, Kinh Chủ, Đồ Sơn, nơi nào tiên sinh cũng chống gậy trèo lên, thừa hứng ngâm vịnh, có khi quên cả sớm chiều. Mỗi khi ngắm cảnh non cao chót vót, rừng rậm xanh rờn, gió động rì rào, chim ca thánh thót, tiên sinh lại hớn hở tự đắc, phiêu phiêu như một vị lục địa thần tiên (thần tiên ở thế gian).
Thời gian dưỡng lão ở quê hương, tiên sinh không tham dự quốc chính, nhưng nhà Mạc vẫn kính như bậc thầy. Mỗi khi có việc trọng đại, vua Mạc thường sai quan về hỏi, hoặc mời lên kinh đô nói chuyện. Tiên sinh dâng lên ý kiến, được bổ ích rất nhiều. Mỗi lần lên kinh, xong việc, tiên sinh lại xin về, triều đình ân cần lưu lại, thế nào cũng không được. Sau tiên sinh được nhà Mạc xếp vào hạng đệ nhất công thần, phong tước Trình Tuyền hầu, rồi thăng dần đến tước Lại bộ thượng thư, Thái phó, Trình Quốc công. Ông bà nhị đại cũng được truy tặng chức tước, ba người vợ và bảy người con cũng được theo thứ tự phong hàm.
Năm Cảnh Lịch thứ ba (155?) đời Mạc Tuyên Tôn (Mạc Phúc Nguyên), Thư Quốc công Nguyễn Thiến (người làng Khoa Hoạch huyện Thanh Oai) cùng con trai là Quyện và Miễn (cũng đọc Mồi) về hàng quốc triều nhà Lê, tiên sinh làm bài thơ gửi cho Thiến, trong có câu:
Cố ngã tồn cô duy nghĩa tại,
Tri quân xử biến khởi cam tâm.
Lại có câu:
Vận chuyển nhất chu ly phục hợp,
Tràng giang khởi hữu hạn đông nam (3).
Thiến xem thơ, trong lòng cảm thấy bứt rứt. Quyện là viên tướng có tài, luôn luôn lập được chiến công, Mạc Phúc Nguyên lấy làm lo ngại sai người mời tiên sinh lên hỏi kế. Tiên sinh tâu:
- Cha Quyện với hạ thần là chỗ bạn chí thân từ trước, có lúc đã ở tại nhà thần, nay ra trấn thủ Thiên Trường, đang ở vào tình thế bán tin bán nghi, nay muốn bắt lại, thật chẳng khó gì, cũng như thò tay vào túi lấy vật ra thôi.
Tiên sinh nói đoạn, xin Mạc Phúc Nguyên giao cho một trăm tráng sĩ, sai đi phục sẵn trên bắc ngạn, rồi tiên sinh gửi thư mời Quyện sang bên thuyền uống rượu để gặp và nói chuyện tâm tình, Quyện nhận lời ngay: thừa lúc quá say, phục binh nổi dậy, bắt cóc đem về Nam Ngạn. Quyện tỉnh dậy tiên sinh đem phải trái khuyên nhủ, Quyện cảm động quá khóc nức nở. Tiên sinh dẫn Quyện về theo lại nhà Mạc và sau đó trở thành một danh tướng lừng lẫy. Nhờ đó, nhà Mạc duy trì được mấy chục năm nữa.
Trong thời gian ấy, đức Thế Tổ (tức Trịnh Kiểm, Thế Tổ nhà chúa Trịnh đã dấy nghĩa binh, thanh thế vang dội khắp xa gần, trong trận giao tranh ở cửa biển Thần Phù, Khiêm vương Mạc Kính Điển (con thứ của Mạc Đăng Doanh) thua to, thừa thắng, đức Thế Tổ tiến binh theo đường núi phía tây ra tiến đánh Kinh Bắc, trong ngoài đều nơm nớp lo sợ, nhà Mạc nhờ tiên sinh hiến kế rất nhiều, mới ổn định được tình thế lúc ấy.
Năm Diên Thành thứ tám (1585) đời Mạc Mậu Hợp, tiên sinh lâm bệnh. Vua Mạc sai sứ đến thăm và hỏi về quốc sự, tiên sinh trả lời:
- Sau này nước nhà có bề gì, thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng thêm được vài đời (tha nhật quốc hữu sự cố, Cao Bằng tuy tiểu, khả duyên sổ thế).
Quả nhiên, cách 7 năm sau, nhà Mạc mất, các chúa nhà Mạc như Càn Thống, Long Thái, Thuận Đức, Vĩnh Xương rút lên Cao Bằng, cũng còn giữ được hơn 70 năm, nghĩa là sau ba bốn đời mới hoàn toàn bị diệt. Xem đó, thấy lời dự đoán của tiên sinh rất nghiệm.
Ngày 28 tháng 11 (âm lịch) năm ấy, tiên sinh tạ thế, hưởng thọ 95 tuổi, học trò tôn hiệu là Tuyết Giang phu tử. Phần mộ ở trên một đất khá cao trong làng...
...Năm Thuận Bình thứ tám (1556) vua Lê Trung Tôn băng, không hoàng nam nối ngôi, đức Thế Tổ (Trịnh Kiểm) do dự không biết lập ai, hỏi trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, cũng không quyết định nổi, mới sai ngầm đem lễ vật ra tận Hải Dương hỏi tiên sinh. Tiên sinh không trả lời, chỉ quay lại bảo các gia nhân rằng:
- Vụ này lúa không được mấy, chỉ tại thóc giống không tốt, vậy hãy đi tìm giống cũ mà gieo mạ!...
Nói xong tiên sinh ngồi xe ra chùa, bảo các chú tiểu quét dọn và thắp nhang, ngoài ra không đá động gì đến chuyện khác, và đó là cái thâm ý tỏ cho biết “cứ việc thờ Phật thì sẽ có oản ăn”. Trạng Phùng thấy thế, hiểu ý, xin từ giã. Qua lời kể lại, đức Thế Tổ hiểu ngay, nên đón vua Anh Tôn về lập, tình hình nội bộ mới bình thường trở lại.
Trong thời gian ấy, Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng là con trai thứ Chiếu Huân Tĩnh vương (Nguyễn Kim) đương ở trong tình thế nguy ngập sợ không thoát khỏi tay Trịnh Kiểm, thân mẫu ông, người làng Phạm Xá, huyện Tứ Kỳ với tiên sinh là chỗ đồng hương, nên trước cảnh ấy, sai người bí mật về làng nhờ tiên sinh chỉ giúp cho con trai bà một lối sống. Sứ giả đặt gói bạc nén ở trước mặt, rồi chắp tay lạy mãi.
Tiên sinh thấy sứ giả cố nàn nỉ, nhưng vẫn không đáp, rồi đứng phắt lên, cầm gậy thủng thẳng bước ra sau vườn. Đến chỗ núi non bộ (giả sơn) do mười tảng đá xanh xếp thành một dãy quanh co, tiên sinh thấy trên núi có bầy kiến đang men đá leo lên, đứng ngắm một lúc, mỉm cười đọc:
“- Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân”
Sứ giả hiểu ý trở về thuật lại, Nguyễn Hoàng liền nghĩ ra kế, xin vào trấn thủ Quảng Nam, đến nay con cháu còn hùng cứ một phương.
Trong lúc ngày thường, có lần tiên sinh cùng người học trò và Bùi Thời Cử bói dịch trúng quẻ Càn, thế mà tiên sinh dự đoán “chỉ sau 8 đời cuộc can qua nổi dậy”, sau đúng như thế. Lời đoán của tiên sinh quả thật thần diệu vậy.
Riêng số học trò của tiên sinh thì đông không biết bao mà kể. Những người có danh vọng lừng lẫy của bản triều (nhà Lê) như Phùng Khắc Khoan. Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ và Trương Thì Cử đều là những người nhờ sự dạy dỗ cua tiên sinh.
Nhắc lại Phùng Khắc Khoan khi còn theo học, bỗng một đêm, tiên sinh đến thẳng nhà trọ gõ cửa bảo:
- Gà gáy rồi, sao chưa dậy nấu cơm, còn nằm ỳ ngủ vậy?
Khắc Khoan hiểu ý, vội vã xếp hành lý, tìm đường vào Thanh Hóa, Nhưng lại ở ẩn nơi nhà Nguyễn Dữ. Chưa chịu ra làm việc. Thời gian ấy, Nguyễn Dữ có soạn bộ Truyền kỳ mạn lục, bộ này thành một tác phẩm “Thiên cô kỳ bút” là một phần lớn nhờ sự phủ chính rất nhiều của tiên sinh.
Xem đó, thì thấy tiên sinh đối với bản triều (nhà Lê) cũng có góp phần đào tạo một nhân tài vậy”.
Tôi thấy tiên sinh là người lòng dạ khoáng đạt, tư chất cao siêu, sử dụng sự hồn nhiên, không chút cạnh góc, ai hỏi thì nói, không thì thôi mà đã nói ra câu gì là câu ấy không xê không dịch. Tiên sinh ở nơi thôn dã, vui với cúc tùng, hơn mười năm trời, vẫn không quên nước. Văn chương của tiên sinh thường bộc lộ cái tấc dạ ưu thời mẫn thế, không cần điêu luyện mà tự nhiên, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà ý vị, câu câu đều có chỗ ngụ ý răn đời. Thơ quốc âm của tiên sinh rất nhiều, trước đã soạn thành một tập gọi là Bạch Vân quốc ngữ thi tập, có cá ngàn bài, nhưng nay chỉ còn độ hơn trăm. Thơ Hán tự cũng nhiều, nhưng cũng thất lạc, tôi xem cũng đều thấy chứa những ý nghĩ thanh tao và siêu thoát, thí dụ câu đối tiên sinh tự thuật chí hướng mình:
Cao khiết thùy vi thiên hạ sĩ,
An nhàn ngã thị địa trung tiên (4).
Nói về cả gia đình thì tiên sinh có ba vợ:
Bà vợ cả người họ Dương, hiệu Từ Ý, quê tỉnh Hải Dương, người cùng huyện, là con gái quan Hình bộ thị lang Dương Đức Nhan. Bà thứ hai, người họ Nguyễn, hiệu Như Tĩnh. Bà thứ ba hiệu Vi Tĩnh, cùng người họ Nguyễn.
Tiên sinh có tất cả mười hai người con, gồm 7 người trai, 5 người gái. Con trưởng lấy hiệu Hàn Giang cư sĩ, được tập ấm phong hàm Trung trinh đại phu, sau làm quan đến chức Phó hiến. Con thứ hai là Túy Am tiên sinh được phong hàm Triều liệt đại phu, tước Quảng Nghĩa hầu; con thứ ba hàm Hiển cung đại phu, tước Xuyên Nghĩa bá; con thứ tư hiệu Thuần Phu, hàm Hoằng nghị đại phu, tước Quảng Đô hầu; con thứ năm là Thuần Đức, tước Bá Thư hầu; con thứ sáu là Thuần Chính, tước Thắng Nghĩa hầu. (Không thấy ghi người thứ bảy). Mấy người này đều có quận công cả.
Sau đó, Hàn Giang tiên sinh sinh ra ông Thiết Đức, Thiết Đức sinh Đạo Tiến, Đạo Tiến sinh Đạo Thông, Đạo Thông sinh Đăng Doanh, Đăng Doanh sinh Thời Đương, Thời Đương lúc này đã 65 tuổi, sinh được ba người con trai, đều là cháu tám đời của tiên sinh vậy.
Năm Vĩnh Hựu nguyên niên (Ất Mão - 1735 - Lê Ý Tôn) người trong làng vì nhờ thịnh đức của tiên sinh có dựng hai ngôi miếu ở chỗ nền nhà cũ của tiên sinh trước, tại những miếu này, người hàng tổng cũng nhờ ơn đức, xuân thu hai kỳ đến tế lễ. Người trong họ của tiên sinh là Nguyễn Hữu Lý sợ sau này gia phả thất lạc có soạn lại một quyển và nhờ tôi viết cho bài tựa.
Tôi đây là người đất Hồng Châu, nghĩa là cùng quê với tiên sinh, nhưng nay đã cách 190 năm rồi, còn biết gì để viết.
Lúc thơ ấu, tôi cũng thường được nghe các bậc phụ huynh nói chuyện tiên sinh, nhưng cũng chỉ biết đại khái là cụ Trạng Trình thôi. Sau nhân những buổi bình luận về tiên hiền với các quan đại phu, tôi biết thêm ít nhiều, nên ước có dịp thuận tiện sẽ về tận quê của tiên sinh để tìm hiểu cho tường.
Ước mãi chưa được, vì cứ luôn luôn bị việc quan bó buộc.
May thay! Năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Hưng (1741 đời Lê Hiển Tôn) tôi vâng mệnh đổi đi Hồng Châu, nhận thấy cùng với nơi nhà cũ tiên sinh chỉ trong gang tấc, tới lui dễ dàng, nhưng lại vì việc quân ngũ quá bề bộn, nên mãi đến mùa xuân năm sau, tức năm Nhâm Tuất, trong khi vâng mệnh đi bồi đắp đê sông Nhị Hà, mới thực hiện được ý định nói trên.
Đến quê hương của tiên sinh, tôi tìm đến nền quán Trung Tân, coi tấm bia cũ, nhưng nét chữ đã quá mờ, không sao đọc nổi. Tôi vào đền thờ bái yết, nhân tiện hỏi người cháu bảy đời là Nguyễn Thời Đương để xem hành trang, nhưng cũng chẳng thâu thập được gì. Hỏi thăm các bô lão thì sau cơn binh lửa cũng chẳng còn ai biết; duy có viên hương ấp là Trần Bá Quang biết sơ qua về mấy việc cũ. Ông này ôn lại cho nghe bài phú quốc âm tức bài văn bia quán Trung Tân, và đưa cho một bản sao lục ít bài thơ của tiên sinh. Nhân tiện, tôi hỏi đến những di tích của cầu Trường Xuân, cầu Nghinh Phong rồi đi thăm nơi vườn cũ, tới nơi chỉ còn thấy ba gian nhà lá, Thời Đương và con cháu hơn mười người, cùng ở căn nhà đó.
Tôi nhìn quang cảnh đã sinh lòng hoài cảm, lại trông bốn phía càng bồi hồi nữa, này phía bên tả trước mặt là một cái đầm và bốn năm cái vụng tất cả độ vài trăm mẫu, bề sâu chỉ độ hơn trượng, chỗ dứt chỗ nối, chỗ thắt chỗ phình, khi thì yên lặng, khi nắng vàng tỏa, phải chăng đây chính là chỗ kiểu đất Nghiền trì thủy ảnh (mặt hồ nghiên, ánh nước long lanh) có khí thiêng chung đúc để sản xuất ra một đại nhân vậy?
Do đó, tôi ngâm vịnh thẩn thơ, chắng muốn dời chân. Ôi! Tôi muốn vì tiên sinh viết bài tựa quyển Gia phả, nhưng ngặt vì việc quân khẩn cấp, còn phải gác bút để đeo gươm, thành thử phải đợi ngày khác nữa.
Năm Quý Hợi (1743 đời Lê Hiển Tôn) khoảng mùa Đông, tôi vâng mệnh đi dẹp bọn thủy khấu ở vùng Đồ Sơn, nhân lúc đóng quân trên bờ sông Tuyết, lại đến yết kiến đền thờ của tiên sinh. Bọn Thời Đương cho tôi xem quyển gia phả và nói:
- Trước đây đã trải bao phen loạn lạc, chẳng còn quyển nào, sau họ mới sưu tầm được mấy trang giấy rách, trong đó chỉ thấy biên tên họ tiên nhân, ngoài ra chẳng có gì khác cả.
Vì thế, tôi phải thâu nhặt ý kiến nhiều người, rồi hợp với những điều mắt thấy tai nghe để viết nên bài tựa, Còn việc sưu tầm những văn thơ của tiên sinh, xếp lại thành thiên, đóng thành tập, để lưu cho đời sau thì xin nhường phần các vị cao minh khác.
Than ôi! Phượng hoàng, kỳ lân, đâu phải những vật thường thấy trong vũ trụ xưa nay, mà có thì chúng phải hiện ở những chỗ như vườn nhà Đường (vua Nghiêu) sân nhà Ngu (vua Thuấn) mới là điềm tốt lành.
Như tiên sinh, đã sẵn có tư chất thông tuệ, lại thâm hiểu đạo học thánh hiền, ví phỏng gặp thời để thi thố sở học thì chắc sẽ tạo ra được cảnh trị bình, biến đổi được thói ở trọc phù bạc ra lễ nghĩa văn minh. Khá tiếc thay, một người có tài đức phù tá vương nghiệp lại sinh giữa thời đại bá giả, khiến cho sở học không áp dụng được gì.
Tuy nhiên, dùng thì làm, bỏ thì ẩn, sự đắc dụng hay không, đối với tiên sinh cũng chẳng quan trọng gì. Tôi rất hâm mộ điểm ấy của tiên sinh. Tiên sinh sinh trưởng trên đất nhà Mạc, có lúc thử ra làm quan để thi hành sở học, thì cũng là muốn bắt chước việc Khổng phu tử xưa đi ra mắt Côn Sơn Phất Nhiễu; rồi khi thấy không thể giúp được, vội bỏ đi thì lại muốn theo trí sáng của Trương Tử Phòng theo gót Xích Tùng Tử xưa.
Nay tôi đọc những thi văn còn lại của tiên sinh, cũng chẳng khác nào được nghe tiếng reo vàng khua ngọc, sáng sủa như thái dương, rực rỡ như mây màu, thơ thái như cái phong vị tắm nước sông Nghi rồi lên hóng mát ở Vũ Vu của Tăng Điểm ngày trước, vài cái phong độ yêu sen thích lan của các tiên nho xưa; đồng thời cũng như thấy tiên sinh và được bái kiến tiên sinh ở chỗ đang ngồi dạy học vậy.
Ngoài ra, tiên sinh lại là người tinh thông lý học, thấu triệt họa phúc, biết rõ dĩ vãng và tương lai, cả trăm đời sau chưa chắc đã có ai hơn được.
Ôi! Thiên hạ xưa nay, các bậc quân vương và hiền giả thiếu gì, nhưng sống thì phú quý vinh hoa, còn khuất hỏi thời gian sau, đã có mấy ai được người đời nhắc đến. Còn tiên sinh, nay con cháu đã bảy tám đời mà gần thì sĩ phu, dân thứ còn xem như sao Đẩu trên trời, cho cách nghìn năm cũng còn mường tượng như mới buổi sớm nào; xa thì như sứ giả Thanh triều là Chu Xán khi nói đến nhân vật Lĩnh Nam cùng có câu: An Nam lý học hữu Trình Tuyền (về môn lý học ở nước Nam chỉ có ông Trình Tuyền) rồi chép vào sách để truyền lại bên Tàu.
Như thế, đủ biết tiên sinh là người rất mực của nước ta về thời đại trước vậy”.
III. NHẬN ĐỊNH CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU
A. NGUYỀN BỈNH KHIÊM: NHÀ VĂN HÓA LỚN
(Trích diễn văn đọc tại Lễ kỷ niệm 500 năm năm sinh danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm, tố chức tại trung tâm Văn Miếu - Hà Nội ngày 16.11.1991).
...Cũng như Nguyễn Trãi và các nhà nho nhập thế khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm mang nặng tư tưởng trung quân, luôn luôn canh cánh trong lòng trách nhiệm báo đền ơn nước và lý tưởng “trị quốc, bình thiên hạ”.
Ngã kim dục triển phụ nguy lực
Vãn khước quan hà cựu để thành
Nghĩa là:
Ta nay muốn thi thố sức phò nguy
Cứu vãn lại quan hà và kinh thành cũ nhà.
(Ngao lớn đội núi)
Ngoài những suy nghĩ mang tính chất quy phạm - bề tôi phải tận trung, kẻ sĩ phải hành đạo, lập công danh..., Nguyễn Bỉnh Khiêm còn tỏ ra là một con người đầy bản lĩnh, đầy tự tin. Ồng đã cho phép mình không gắn chặt tất cả số phận, tài nảng với một tập đoàn phong kiến nào mà tự đứng tách ra và thường đứng cao hơn mọi lực lượng, mọi phe phái, mọi sự đối đầu. Tất cả những ảo tưởng chính trị, quyền lực, những bả mồi phú quý vinh hoa không dễ gì chuyển lay một con người như ông. Rõ ràng sự vào đời muộn màng đã là điều kiện để khẳng định một tính cách đã thành bền vững, một quan niệm xử thế và một phương châm sống không dễ lay chuyển, không dễ bị bó buộc, biến cải theo một khuôn mẫu quan phương nào. Điều đó có cái căn nguyên ở việc mấy chục năm đọc sách, nghiền ngẫm cái lý của trời đất, của sự hưng suy, những kinh nghiệm dày dạn của cuộc sống, những quan sát, phán xét về thế tình. Với trí thức uyên bác, vốn sống phong phú và ở cái tuổi 45 - giữa độ “tứ thập nhị bất hoặc” và “ngũ thập tri thiên mệnh”, Nguyễn Bỉnh Khiêm trong khi tham gia chính trường đã trở thành nhà tư tưởng, nhà hiền triết có uy vọng lớn trong giới trí thức và trong nhân dân. Các vua Mạc cũng như các tập đoàn phong kiến khác đã không thể tùy ý sai khiến được ông, thì đành phải lợi dụng uy tín của ông, thậm chí nương bóng vào ông để thực hiện những ý đồ của mình. Bằng cớ là Nguyễn Bỉnh Khiêm với đức độ của người thầy học đã khuyến dụ được Nguyễn Quyện, học trò mình bỏ Lê - Trịnh về với nhà Mạc (năm 1557). Đó là việc có thực. Nhưng còn một loạt truyền thuyết khác, như việc ông Phùng Khắc Khoan về với Lê - Trịnh, hướng đạo cho Nguyễn Hoàng “Hoành Sơn nhất đái, khả dĩ dung thân”, mách nước cho chúa Trịnh. “Năm nay mất mùa, lấy giống lúa cũ mà ngâm mạ”, “Giữ chùa thờ Phật thì được ăn oản”. Cũng như đã báo trước cho Mạc Mậu Hợp thấy:
“Vận nhà Lê đã đến hồi tái tạo, do đó, sau này quốc gia hữu sự thì đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng có thể kéo dài thêm được mấy đời” v.v... Trong số những điều kể trên, sự việc nào là xác thực và thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thể hiện thái độ ủng hộ của ông đối với một tập đoàn nào đấy, hay chỉ là do các thế lực chính trị muốn mượn cái “uy lực trí tuệ” của ông để gây niềm tin cho thiên hạ, ngày nay chưa dễ khẳng định được. Dù sao, tất cả những huyền thoại được truyền tụng trên cũng có một cái lõi sự thực: Trong hoàn cảnh lịch sử phức tạp của thời đại mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm quả đã không đặt niềm tin của mình vào một tập đoàn phong kiến nào duy nhất: nói cách khác, ông đã không tìm được vị “chúa thánh minh” như lý tưởng của ông...
... Nguyễn Bỉnh Khiêm mất ngày 18 tháng 11 năm Ất Dậu tính ra dương lịch là ngàv 17 tháng giêng năm 1586, thọ 95 tuổi. Qua 95 năm ấy, ông đã có những cống hiến hết sức lớn lao cho trí thức văn hóa Đại Việt. Sau khi ông qua đời, các sử gia phong kiến, học trò đã đánh giá cao đức độ của ông: “Chí ông muốn mọi vật đều được yên sống, dẫu hèn mọn như kẻ tàn tật mù lòa, cũng dạy cho nghề hát, nghề bói để kiếm ăn”. Ông sửa chữa lại chùa thờ Phật, thường dắt sư già đi chơi. Có lúc thả chiếc thuyền nhỏ ra biển Đồ Sơn xem đánh cá. Ông chống gậy, đi dép trèo khắp các núi Yên Sơn, Ngọa Vân, Kính Chủ, Đồ Sơn. Đến đâu thích ý thì ngâm vịnh, hoặc nhẩn nha đi lại suốt ngày. Mỗi khi gặp bóng cây xanh rợp, tiếng chim theo mùa hót vang thì đắc ý, vui thích. Họ đồng cảm sâu sắc về những giá trị nghệ thuật của thơ văn ông: “Đọc qua văn ông, dù nghìn năm còn tưởng như trăng trong gió mát”. Họ khâm phục trước sự uyên thâm về triết học dịch lý của ông Trình Tuyền hầu, đủ thấy người Nam hay người Trung Quốc đều ngưỡng mộ ông như vậy.
Ôn lại những trang đời và những phương diện chính tạo nên cốt cách, bản lĩnh con người Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng ta càng hiểu rõ hơn những đóng góp lớn lao của ông đối với kho tàng lịch sử tư tưởng - văn hóa dân tộc. Với tư cách một chứng nhân của thời đại. Nguyễn Bỉnh Khiêm không những là một người đã có những đóng góp, tác động, và chi phối phần nào đối với xu thế phát triển của xã hội Việt Nam trong thế kỷ XVI, mà điều đáng nói hơn là cái di sản văn hóa ông để lại, cũng như phẩm cách cao khiết của ông đã trở thành mẫu hình trong lòng nhiều lớp người hậu thế, là cả một giá trị mở, một hệ thống mở, để ngày nay chúng ta tiếp tục tìm hiểu, luận bàn. Dường như càng qua thời gian thì những giá trị văn hóa đó càng tỏa hào quang, càng ánh xạ nhiều sắc màu mà cho đến hôm nay ta vẫn chưa thể bao quát hết, càng chưa thể phát hiện và phát huy được đầy đủ. Và như thế, kỷ niệm 500 năm ngày sinh Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lần này chúng ta có thêm một dịp nghiên cứu sâu sắc hơn giá trị tư tưởng và thơ văn ông, kể cả việc lý giải mối quan hệ giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm với vương triều Mạc, việc khảo sát tác phẩm từ góc độ tư duy triết học, việc vận dụng những yếu tố của khoa học dự báo để xác định đối tượng được gọi là “sấm Trạng Trình”, lý giải cho quần chúng nhân dân hiểu rõ hơn những huyền thoại đã định hình trong tâm thức dân gian. Tồn tại từ xứ Đông Hải Phòng đến việc tôn thờ Trạng Trình bên cạnh một đại văn hào Pháp Victor Hugo, một Tôn Trung Sơn thời cận đại Trung Quốc, ở tận tỉnh Tây Ninh gần biên giới phía Tây Nam của đất nước.
Trong sự nghiệp đối mới toàn diện của xã hội ta hiện nay theo con đường độc lập dân tộc và CNXH để đi tới hạnh phúc, văn minh kịp với bước tiến của thời đại, một thời đại trong đó bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại được xem là nền tảng, là nhân tố điều tiết đích thực cho sự phát triển, chắc chắn di sản văn hóa tinh thần của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ được kế thừa và phát huy mạnh mẽ, nhằm biến điều ước mong tâm niệm của ông: “Ngoài chưng phận ấy, cầu chi nữa? Còn một cầu xem thuở thái bình” thành hiện thực trên nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.
Giáo sư PHẠM XUÂN NAM
(Phó viện trưởng viện KHXH Việt Nam)
B. NGHĨ VỀ KHẢ NĂNG DỰ BÁO CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM
(Trích bài đăng trèn tạp chí kiến thức Phổ thông số 16/1991 của Nguyễn Viết Lãm).
“Dự báo, tiên tri, dự đoán những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai, đó là vấn đề được người đời sau truyền tụng ở tài năng của nhà văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm. Những tập sấm ký của Trạng Trình được xuất bản trước Cách mạng tháng 8 đã ghi lại những điều tiên đoán, nhưng nhiều khi không phải là đích thực của ông, mà là những việc thêm thắt về sau, dựa vào danh tiếng của ông mà hư tạo nên. Vậy, tài năng tiên đoán của Nguyễn Bỉnh Khiêm là như thế nào, hư thực đến đâu, và vì sao ông lại có tài năng ấy, đó là những vấn đề đang được nghiên cứu, chưa dễ có ai khẳng định được suy luận của mình là chính xác.
Chúng ta đều biết rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm am hiểu sâu sắc Kinh Dịch, tinh thông Thái Ất thần kinh của Dương Hùng đời Hán, chuyên sâu quan điểm Quan vật (quan sát sự vật) và tác phẩm Hoàng Cực kinh thế của Thiệu Ung thời Bắc Tống, qua sự truyền dạy của người thầy uyên bác là bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Tinh thần cốt lõi của các học thuyết nói trên là xây dựng những định lý của sự sinh thành và phát triển vũ trụ, Kinh Dịch, dần dần ở các giai đoạn sau đi vào nhiều lĩnh vực: Lý học, số học, tượng số học, thể hiện đầu tiên bằng những ký hiệu trong Bát quái đồ của Phục Hy (năm 2850 trước Công Nguyên), từ thái cực (thể thống nhất đầu tiên), đến chia hai (lưỡng nghi), rồi chia bốn (tứ tượng) và tiếp tục mãi mãi, lập thành những hào quẻ vô cùng biến hóa để nói lên mọi hiện tượng, từ trời đất đến nhân sinh. Khởi phát là một môn ký hiệu học thô sơ, nhưng về sau nhiều kẻ đã lợi dụng, phủ lên một tính chất hoang đường, huyền hoặc. Chúng ta cần phân biệt giá trị khoa học của dịch lý và những luận điểm dị đoan để giữ lại tinh túy của một nền học thuật hết sức sâu xa mà khoa học hiện đại đang tiếp tục khai thác.
Điều rõ ràng là Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi về lý số và ông đã từng áp dụng kiến thức về mặt này để phát biểu ý kiến của mình đối với thời thế, mang tính dự báo khá chính xác...”.
Sau khi nêu những dự đoán của Trạng Trình với các triều nhà Mạc, Chúa Nguyễn, Chúa Trịnh, bài báo viết tiếp:
“… Những ý kiến tiên đoán nói trên đều đã được chứng minh trong lịch sử, cho thấy khả năng nhìn trước của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khả năng ấy xuất phát từ việc tinh thông lý học của ông, từ kinh nghiệm cuộc sống, sự nắm chắc tình hình và tương quan lực lượng của các thế lực cát cứ lúc bấy giờ. Sức thông tuệ của ông đã cho phép ông suy nghiệm và đoán trước những việc xảy ra trong nước, trên cơ sởớ thực tiễn. Nếu nghĩ rằng đó chỉ là kết quả của việc bói toán mang tính thần bí thì chúng ta sẽ phạm sai lầm và đánh giá thấp nhà văn hóa lớn của chúng ta. Trước đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm có một vế câu đối: lý học thâm uyên Trình tiên giác, cũng đã nói rõ sự tiên giác của Nguyễn Bỉnh Khiêm là do ông uyên thâm về lý học, cộng với cuộc đời gần một thế kỷ của ông.
Trước cách mạng tháng Tám, nhiều nhà xuất bản đã ra sách, hoặc một số báo chí đã đăng những sấm ký của Nguyễn Bỉnh Khiêm, dự báo những sự kiện rất xa về sau, hoặc in những bài văn vần song thất lục bát khá dài kể những diễn biến lịch sử từ xa xưa đến thời Tây Sơn, nói là sấm ký của Trạng Trình, đề cập đến những sự kiện lịch sử sau Nguyễn Bỉnh Khiêm gần hai trăm năm. Bài thơ song thất lục bát dài dòng ấy lại kết thúc bằng hai câu 4 chữ: Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong... Chưa có chứng cứ gì khẳng định bài ấy là của Nguyễn Bỉnh Khiêm cả. Cũng như hai câu thơ lục bát thuộc loại sấm Trạng Trình:
Bao giờ Tiên Lãng chia đôi,
Sông Hàn lại nối thì tôi lại về.
Được giảng giải bằng thực trạng của huyện Tiên Lãng đã khơi dậy con sông đào chảy trên đất huyện, và năm 1985 sông Hàn được bắc cầu phao trùng với dịp kỷ niệm 400 năm ngày mất của nhà thơ lớn. Hai câu lục bát ấy hình như chỉ mới được nghe gần đây, có thể cho phép chúng ta nghĩ rằng đó là một sáng tác dân gian mới có. Vả lại, xét về quá trình hình thành thể loại văn học của nước ta, thì thời kỳ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa có các thể thơ lục bát và song thất lục bát, cho nên chúng ta có thể khẳng định rằng những câu sấm truyền viết bằng thể lục bát hoặc song thất lục bát không thể là của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Cũng có trường hợp cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn mới có thể đi đến kết luận một cách khoa học được. Ví dụ, trong một cuốn sách của Nhà xuất bản Đại La in năm 1948 về sấm ký Trạng Trình, có bài thơ chữ Hán bốn câu, có dáng dấp như một bài kệ:
Cửu cửu kiền khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An.
(Càn khôn đã định rằng chín lần chín, 81 năm. Vào tiết thanh minh sức địch đã tàn. Đến đầu năm dê và đuôi năm ngựa (1954) tám vạn lính cụ Hồ tiến về kinh đô). Tài liệu này được ghi dưới ký hiệu Hán Nôm AB 444, AB 355 thư viện Viễn Đông bác cổ Hà Nội. Sự việc được dự đoán từ lâu trước khi trở thành hiện thực, đặt vấn đề cho chúng ta cần suy nghĩ đối với khả năng tính toán cua Dịch lý...
... Qua những việc trên, chúng ta có thể hiểu thêm Nguyễn Bỉnh Khiêm về phương diện dự báo. Với một vốn tích lũy học vấn uyên thâm, một vốn sống cả cuộc đời trong một thời thế đầy biến động mà ông là người trong cuộc, ông lại nắm được qui luật biện chứng về hóa sinh, sinh hóa của dịch lý, kết hợp với thực tiễn tình hình, nên khả năng dự đoán bước đi của thời cuộc là điều có thể có được. Tuy vậy, mọi phát kiến khoa học, nhất là những dự đoán tương lai, vẫn có thể được điều chỉnh với sự phát sinh những dữ kiện mới của xã hội loài người, những phát minh mới về khoa học kỹ thuật.
Hiện nay trên thế giởi có một học thuyết mới, đó là tương lai học (Futurologie). Tương lai học cũng đã có những cống hiến nghiêm chỉnh về bước phát triển của xã hội dựa trên cơ sở thực tiễn mà dự đoán trước. Các nhà tương lại học không phải là những thần bí học, công việc của họ là kết quả của trí tuệ, của ý thức, chứ không phải từ vô thức dù vô thức là một lĩnh vực cần được tiếp tục nghiên cứu. Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng ta tin rằng ông có căn cứ hiểu biết khi đưa ra, những điều dự báo. Ông không có biểu hiện nào là kẻ phát ngôn của vô thức, của thần linh, vì trong sự nghiệp tư tưởng và thơ văn của ông, ông không hề tin ở thần linh mà chỉ tin ở con người”.
C. TRẠNG TRÌNH VÀ SẤM TRẠNG TRÌNH.
(Trích đoạn cuối bài đăng trong tập kỷ về: “Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử văn hóa dân tộc” Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm - Thành phố HCM- 1991 - bài của Thái Hồng).
...“Dù vậy, bất kể xuất xứ, hình thức của các câu sấm thế nào, vẫn thấy sấm luôn chứa đựng nguyện vọng của một bộ phận nhân dân hoặc rộng hay hẹp và nhiều khi là phương tiện để huy động củng cố, khẳng định lòng tin của họ nữa. Đó là ý nghĩ và tác dụng tích cực của nhiều câu gọi là sấm Trạng Trình trong xã hội phong kiến, thuộc địa cũ. Nhưng về mặt khác, nếu có một văn bản gọi là Trình Quốc công sấm ký như có người đã kể thì chắc chắn người phổ biến không thể nào chứng minh được tính chân thực của văn bản đúng như danh xưng mà nó đang mang. Lẽ giản dị, sấm Trạng Trình thật ra không phải là sản phẩm của Trạng Trình mà là của người đời sau đặt ra rồi mượn danh ông để làm tăng giá trị cho sản phẩm của mình mà thôi. Hơn nữa Thái Ất thần kinh hay Thái huyền vốn do Dương Hùng tự Tử Vân (-50 đến 20 (?) quan Hoàng môn thị lang đời Tây Hán và Đại phu nhà Tấn (?) của Vương Mãng soạn ra, sách ấy dung hợp Kinh Dịch của Khổng Tử và Đạo đức kinh của Lão Tử mà thành, xem sự vận động của vạn vật và xã hội là đồng nhất và là sự vận động theo luật tuần hoàn của một vòng bất tận, hẳn không thể là công cụ để Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng mà suy đoán đúng ‘Việc sẽ xẩy ra 500 năm sau” rồi làm thành sấm. Vả chăng quan niệm về số mạng hay thuyết tiền định chủ nghĩa vốn đã sai lầm vì phủ nhận tính hiệu quả của những hành động tích cực của con người cùng sự tương tác của các hành động tích cực của con người, cùng sự tương tác của các hành động ấy và hoàn cảnh xã hội, thì nếu dựa vào quan niệm, lý thuyết đó, có vị thánh nào lại sáng tạo ra được hình thức lập ngôn gọi là sấm để tiên tri đúng cả những sự kiện cụ thể sẽ xảy ra trong tương lai đến 100 hay 500 năm sau? Chính Dương Hùng còn không suy đoán được số mệnh mình nên đã theo Vương Mãng rồi sau phải nhảy lầu mà chết nữa là? Còn nói về việc Nguyễn Bỉnh Khiêm làm cố vấn cho Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng, Mạc Mậu Hợp để họ nghe theo ông mà đạt được những thành công nhất định trong hoàn cảnh họ thì việc đó chỉ chứng minh nhãn quan chính trị, quân sự sắc sảo của ông mà thôi. Bộ Thái Ất thần kinh không giúp gì vào việc đó được.
Tuy thế, nói đi rồi cũng phải nói lại. Nhìn chung, tên tuổi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và điều gọi rằng sấm Trạng Trình vẫn là tên tuổi, hiện tượng xuyên qua một quá trình lịch sử khá dài, biểu hiện một hình thức đấu tranh xã hội làm cho đời sống tinh thần của dân tộc thêm phong phú, góp thêm niềm tự hào về trí tuệ, tâm hồn dân tộc Việt Nam. Cho nên, có sấm và sấm là Trạng Trình thì càng là điều hay, điều lý thú vậy”.

Chú thích:
(1) Phục Hy cũng có tên là Bào Hy là một ông vua thời Thượng cổ bên Tàu, người họ Phong đã dạy dân biết cày bừa để canh tác, nuôi gia súc, dạy dân đánh cá. Ong cũng lập ra văn khế và vạch ra bát quái. Phục Hy truyền được tới 15 đời và tương truyền được tới 1.260 năm cách đày mấy ngàn năm.
(2) Theo bản dịch ở quyển Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyên Quân - Sống Mới. Sài Gòn xuất bản năm 1974.
(3) Vận chuyển một vòng tan lại hợp
Trường giang đâu có hạn đông nam.
(4) Cao sạch ai là thiên hạ sĩ?
An nhàn ta đích địa trung tiên.