Giờ Thứ 25

Lượt đọc: 13609 | 10 Đánh giá: 9,4/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Làng Fântâna

Em không thể tin rằng anh đi được!

Suzanna vừa nói vừa ôm siết Iohann Moritz vào mình. Nàng để tay lên đầu anh và vuốt nhẹ mớ tóc đen. Moritz lùi một bước, nói:

- “Tại sao em không tin? Ngày mốt, sáng sớm thì anh đi”. Chàng trả lời, giọng cứng cỏi. Nàng đáp nhỏ:

- Em biết rồi.

Họ đứng gần một hàng rào. Trời mát lạnh vì đã quá nửa đêm. Moritz cầm tay Suzanna, rồi bỏ xuống, nói:

- Bây giờ, thôi, chào em!

- Ở nán thêm chút nữa, anh.

- “Sao em cứ muốn anh ở nán thêm?”. Giọng chàng quả quyết hơn: “Đã khuya quá rồi. Mai anh còn phải đi làm sớm”.

Nàng không trả lời, nép sát mình vào Moritz. Mở hở áo anh ra, nàng đặt gò má vào ngực anh và ngó lên trời, nói:

- Sao đẹp quá!

Moritz chờ một chuyện quan hệ hơn. Anh tưởng nàng biểu ở nán lại để nói chuyện ấy, thế mà nàng lại nói chuyện sao trên trời. Anh xê ra, muốn rời nàng, nhưng nhớ lại mình phải ra đi, và phải vắng mặt ít lắm là ba năm, nên anh bèn nhìn sao để nàng vui lòng. Suzanna hỏi:

- Phải chăng mỗi người đều có một vì sao bổn mạng, và khi họ chết thì sao rụng không anh?

- “Anh chẳng biết gì cả!”. Và chàng nhứt định đi về, nên nói: - Thôi chào em!

Nàng cố hỏi thêm:

- Phải chăng chúng ta cũng có ngôi sao của chúng ta trên ấy không anh?

- Cũng như mọi người. Ở trên ấy, hay ở trong ta.

Moritz nâng đầu Suzanna ra khỏi ngực. Anh bước đi. Nàng cầm tay anh đưa đến đầu đường. Nàng nhìn sao, ngó Moritz rồi nói:

- Em chờ anh tối mai.

- Nếu trời không mưa!

Suzanna muốn đi theo anh và van anh phải đến, dẫu trời mưa. Nhưng Moritz đi quá mau, đã khỏi khúc quanh đường, khuất sau miếng vườn. Nàng đứng yên lặng, vuốt áo, phủi mấy cành nhỏ dính ở hông. Trước khi vô sân, nàng nhìn lại đám cỏ nhàu nát, dưới cây gồi lúc nãy hai người đã nằm kề. Mũi nàng còn giữ hơi của Moritz, một thứ hơi lẫn các mùi cỏ nát, thuốc lá và hột trái anh đào.

Moritz băng đồng về nhà, vừa đi vừa huýt sáo. Anh mặc quần lính đen, áo sơ-mi trắng cổ hở, đi chân không. Đã mấy lần, anh ngưng huýt sáo và ngáp dài. Đoạn nhớ lại người đàn bà anh vừa chia tay, nghĩ đến Suzanna, anh muốn mỉm cười: “Hừ! Chuyện ngôi sao... Đàn bà thật trẻ con. Họ hỏi toàn những chuyện vô ích!”. Rồi nhớ tới cuộc hành trình anh định đi trong hai ngày nữa. Anh nghĩ tới nước Mỹ. Thét rồi không thèm nghĩ ngợi chi hết. Anh lại huýt sáo. Buồn ngủ quá! Phải mình được ở nhà liền bây giờ để ngủ. Mai còn phải dậy thật sớm, ngày làm công chót mà! Kìa trời đã hừng đông. Còn vài giờ nữa là sáng. Nghĩ đến đó, Moritz rảo bước thật mau.

(2)

Vừa hừng sáng, Moritz ghé lại máy nước trong làng, mở rộng áo sơ-mi ra, đưa tay bụm nước rửa mặt, rửa cổ. Anh vừa đi ra giữa lộ vừa vuốt tóc cho tay khô, sửa lại bâu áo chớ không gài nút. Anh nhìn cảnh làng, sương mù màu sữa đục tan lần. Đó là làng Fântâna xứ Roumanie. Moritz sanh trưởng nơi đây được 25 năm rồi. Và hiện giờ, trong lúc anh ngắm quê nhà chỉ có những nóc gia bé nhỏ với ba gác chuông của ba nhà thờ: Chính thống giáo, Thiên Chúa giáo và Cơ đốc giáo, anh lại nhớ đến câu nói của Suzanna hôm qua: “E rằng anh phải tiều tụy vì không sống ở đây nữa!” Anh đã cười, cho là câu nói đùa và trả lời rằng, anh đã thành nhơn, chỉ có đàn bà mới tiều tụy thôi. Nhưng bây giờ anh cảm thấy một cái gì luyến tiếc xâm chiếm anh. Anh vội huýt sáo, ngảnh mặt đi.

 

Nhà của mục sư Koruga ở dựa đường, gần nhà thờ Chính thống giáo. Cửa đóng. Moritz cúi xuống lấy chìa khóa giấu dưới cửa, cất như vậy để có thể mở vào, khi đi làm sớm. Anh mở cánh cửa nặng nề, không hấp tấp. Vô trong sân, mấy con chó chạy lại trửng giỡn quanh anh. Chúng nó quen biết anh nhiều, vì anh đã làm cho mục sư hơn sáu năm nay; mỗi ngày, trong sáu năm liền, anh đến như là nhà anh. Song bữa nay là ngày làm chót của anh. Anh sẽ hái trái bôm suốt ngày, rồi sẽ lãnh tiền và mạnh dạn thưa với mục sư về ý định của anh, vì mục sư chưa hề biết gì.

Anh vô kho chứa đồ nghề, xách giỏ chất lên xe. Mục sư bước ra bao-lơn, mình mặc áo sơ-mi vải trắng. Ông vừa thức dậy. Moritz chào ông và cười. Anh để giỏ xuống, phủi tay, leo lên bao-lơn, lấy bình nước trên tay mục sư, nói:

- Cha để tôi xối nước cho.

Anh vừa xối nước, vừa nhìn tay mục sư. Ngón tay búp măng, dài và trắng, y như ngón tay đàn bà. Anh vui vẻ xem mục sư thoa xà-bong vào râu, vào cổ, trên trán. Mải nhìn, anh quên xối nước. Mục sư đưa hai tay đầy bọt xà-bong, chờ đợi. Moritz thấy có lỗi và đỏ mặt.

Mục sư Koruga là giáo trưởng trong làng. Ông mới độ năm mươi mà râu tóc đều đã bạc trắng. Vóc ông ốm yếu, mảnh dẻ, mình lòi xương như các hình thánh trong nhà thờ Chính thống giáo. Có thể nói ông là một ông già, chừng nhìn cặp mắt ông và nghe ông nói, mới nhận ra ông còn trẻ. Khi rửa mặt xong, ông lau mặt, lau cổ, bằng khăn vải thô. Moritz cầm bình nước đứng chờ, và nói:

- Tôi có một chuyện cần thưa với Cha.

- Anh chờ tôi thay đồ đã.

Mục sư lấy bình nước trên tay Moritz, cầm vô nhà. Tới ngưỡng cửa, ông ngoái lại vừa cười, vừa nói:

- Tôi cũng có chuyện để nói với anh nữa. Tôi cho anh một tin mừng. Giờ đây, hãy chất giỏ lên xe và bắc kế đi.

 

Suốt buổi mai, Moritz và mục sư hái trái bôm đựng đầy giỏ. Họ làm việc, không nói chuyện. Khi mặt trời nóng tới vai, mục sư ngưng làm, mỏi mệt, giăng hai tay ra, rồi nói:

- Ta nghỉ một lát đã.

Moritz đáp:

- Dạ!

Hai người bước lại chỗ mấy bao đầy trái bôm và ngồi lên trên. Họ làm thinh. Mục sư tìm trong túi gói thuốc ông mang theo luôn luôn để dành cho Moritz, đưa cho anh, và hỏi:

- Anh muốn nói chuyện gì với tôi?

- Dạ, tôi muốn thưa một chuyện.

Moritz châm điếu thuốc hút, quăng diêm quẹt trong cỏ, và xem nó tắt. Thật là khó nói chuyện ra đi của mình với mục sư. Anh còn dụ dự, thì mục sư lại tiếp:

- Để tôi báo tin mừng của tôi với anh trước.

Moritz rất vui lòng được khỏi phải nói trước. Mục sư khoan thai khởi chuyện:

- Cái phòng nhỏ gần nhà bếp của tôi trống, tôi nghĩ anh có thể đến ở. Vợ tôi đã quét vôi, treo màn và để sẵn vải trải giường sạch sẽ rồi. Nhà anh không đủ chỗ, chỉ có một căn phòng cho ba má anh và anh. Mai đi làm, anh đem đồ đạc lại ở.

- Ngày mai tôi không đến.

- Thì ngày mốt. Kể từ nay phòng ấy về anh.

- Tôi không đến đây nữa. Mai này tôi sang Mỹ.

- Mai này? - Mục sư trố mắt nhìn.

- Dạ, mai này, sáng sớm.

Giọng Moritz tuy cứng cỏi nhưng ẩn một hối tiếc. Anh nói tiếp:

- Tôi mới được thơ, tàu cặp bến Constantza và chỉ đậu có ba ngày thôi.

Mục sư biết Moritz muốn sang Mỹ. Đã nhiều thanh niên nông dân qua đó, và chừng vài năm họ trở về, giàu có, mua nhà tốt và đất đai trong làng. Mục sư vui lòng thấy Moritz cũng đi. Trong vài năm nữa, anh cũng sẽ có một miếng đất của anh. Ông chỉ hơi lạ, vì cuộc hành trình quá gấp. Moritz không hề nói với ông chuyện này, tuy mỗi ngày anh với ông đều làm việc kế cận nhau luôn.

Moritz nói:

- Tôi vừa được thơ hôm qua.

- Anh đi một mình?

- Với Ghitza. Chúng tôi xuống tàu làm công, chỗ nồi súp-de. Như thế chỉ trả có năm trăm “lơ” mỗi người. Có bạn của Ghitza ở Constantza làm tại bến tàu lo hộ.

Mục sư chúc Moritz may mắn. Ông tiếc anh còn trẻ và làm việc giỏi. Anh lại tốt bụng, thật thà, nhưng nghèo. Anh không có tấc đất nào hết.

Hai người lại tiếp tục làm việc. Ông già bèn nói chuyện về nước Mỹ. Moritz lắng tai nghe. Anh thở dài mấy bận. Anh hơi hối tiếc về sự quyết định của anh. Chiều đến, sau khi lãnh tiền, Moritz đứng một hồi lâu, trước mục sư, mắt ngó xuống. Anh không can đảm bước đi. Mục sư vỗ vai anh nói:

- Khi tới nơi, anh nhớ viết thơ cho tôi. Mai sáng anh lại đây lấy gói đồ tôi soạn cho anh, anh sẽ có những gì ăn để đi đường.

Mục sư lại cho anh thêm năm tấm giấy 100 “lơ” và nói tiếp:

- Nhớ đến sớm, gõ nhẹ nhẹ cửa sổ tôi. Tốt hơn đừng cho vợ tôi nghe. Đàn bà họ hà tiện lắm! Tối nay tôi soạn đồ sẵn. Chừng nào anh đi?

- Mờ sáng. Tôi hẹn với Ghitza ở đầu làng.

- Vậy anh chỉ đủ thì giờ tạt qua nhà tôi. Hay là tối nay anh lại nhà tôi!

Moritz nghĩ đến Suzanna chờ anh, nên trả lời:

- Ngày mai tiện hơn.

Anh ra về.

(3)

Mục sư Koruga để bao lương thực dựa tường, dưới cửa sổ. Ông tắt đèn đi nằm. Trước khi ngủ, ông nghĩ đến Moritz, đến cuộc đi Mỹ của anh. Lúc soạn sắp bao đồ, ông có cảm giác là như chính mình sẽ đi. Ba mươi năm về trước, ông cũng có một lần sửa soạn hành trang. Khi ấy ông mới đậu bằng tiến sĩ thần học. Ông đăng tên làm nhà truyền giáo nơi Chính Thống giáo hội Michigan. Một tuần lễ trước khi đi, ông lại đánh điện xin từ khước chỗ làm này. Vì trong khoảng thời gian ấy, ông quen biết vợ ông và đã làm lễ cưới. Từ đó, ông ở lại làm giáo trưởng làng Fântâna. Làng nhỏ, đời sống khó khăn. Ông thường hối tiếc cơ hội bỏ lỡ, nhưng đã quá trễ rồi! Mỹ quốc chỉ còn trong mộng tưởng. Mỗi khi một dân làng nào sang bên ấy, thì ông cho thuốc hút, thực phẩm với chút ít tiền nong, và dặn viết thơ về cho ông khi đi tới nơi. Làm việc ấy, ông giấu bà. Vợ ông không có gì nói ông được. Nhưng hễ nghĩ đến Mỹ quốc thì ông cảm thấy hình như phụ tình bà. Vì bà mà ông không ra đi. Trong thâm tâm ông vẫn còn sự xung đột ngấm ngầm ấy.

Nay Moritz ra đi, không phải như những người khác kia. Anh là người thân tín của ông. Và Moritz ra đi, tất là một chút gì của ông cũng đi sang Tân Thế giới.

Trăng tỏ. Mục sư không tài nào ngủ được. Ông đứng dậy, thắp đèn đi qua phòng sách mà khắp cả ba phía tường đều có kệ sách. Ông cầm một quyển. Trước khi giở ra, ông nhìn lên mấy kệ đầy sách. Có đủ thứ chữ: Anh, Pháp, Đức, Ý. Tường bên kia, sách cổ điển Hy Lạp và La Mã. Đó là những bạn cố tri của ông. Thỉnh thoảng, ông tự hỏi sao ông không muốn vào giảng tại Đại học đường. Nhiều bạn ở Iasi và Bucarest đã hai lần mời ông, nhưng ông đều từ chối chức giáo sư môn Lịch sử Giáo hội. Ông không tiếc. Ở Fântâna, ông làm lễ mi-xa bữa chúa nhật và mấy ngày lễ; ngoài ra, ông lo chuyện đất vườn, nuôi ong mật, trồng cây trái. Tối đến, ông đọc sách. Vận mạng ông bảo đảm tương lai ông. Ông an phận như thế. Có một lần ông muốn cưỡng vận mạng: chuyện muốn đi Mỹ quốc. Ông hết lòng lo lắng để đi, nhưng mặc dầu hết sức lo, chuyến đi không thành. Một bất ngờ đã xảy đến. Thế là hết! Từ đó, ông không toan tính nữa.

Ông tự hỏi: “Có phải thật mình còn tiếc cuộc ra đi ấy cách ba mươi năm nay chăng? Nếu không, sao mình lại băn khoăn lạ kỳ về chuyện đi của Moritz?”. Ông kéo mền lên, suy nghĩ: “Mình đã không buồn khi ở lại. Đây chỉ là lòng nhớ nhung một vật gì mình tưởng là thật trong mộng ảo, nhưng chẳng khi nào chiếm được trên thực tế. Đến khi tưởng đã nắm được nó thì lại nhận ra liền là không phải vật mình mơ ước. Có thể Mỹ quốc không phải là xứ mình muốn tìm đến? Có thể nó chỉ là một cớ về nỗi lo âu của mình. Mỹ quốc là xướng khởi của lòng thương nhớ vẩn vơ. Chưa biết Mỹ quốc có lẽ sẽ ít thất vọng hơn khi đã biết thật sự nó rồi”.

Mục sư vẫn chưa ngủ được. Ông ngùi ngùi cảm động, nóng lòng chơ cho mau sáng, như chính ông đã hẹn gặp Ghitza ở đầu làng để đi Constantza, rồi cùng nhau xuống chiếc tàu đang chờ đợi, tàu “chỉ được đậu ở bến có ba ngày thôi”.

Khi ông thức giấc, trời còn tối, nhưng gà đã gáy sáng. Đường vắng, làng còn chìm trong một lớp sương mù. Mục sư mở bao, để thêm gói thuốc hút còn để nằm trên bàn. Ông nghĩ thầm: “Nếu Moritz đi, mình đâu còn ai để biếu thuốc, mình mua cốt để dành cho anh ấy mà thôi”. Dòm qua cửa sổ, thấy trời rạng sáng, ông nói: “Moritz phải lẹ lẹ, không thì trễ hẹn!”. Ông nghe tiếng chân đi ngoài đường, nhưng lại vượt qua khỏi nhà và xa lần. Ông ra bao-lơn rửa mặt bằng nước lạnh mà không có Moritz ở đó để xối nước cho ông.

Mặt trời lên cao. Moritz không thấy lại. Mục sư chờ anh tới giờ ăn sáng. Ông nghĩ chắc anh thức dậy trễ, nên không kịp đến lấy bao đồ. Ông tiếc thầm: “Uổng quá! Anh ta sẽ có gì ăn trong ít nữa ba tuần lễ, vừa đủ cho mấy ngày đầu của anh ta ở xứ người!”.

Bà mục sư bước ra thềm nói:

- Ông ăn sáng đi chớ.

Ông đáp:

- Tôi đi đây.

Ông vội cất bao đồ dưới giường, lòng ông se lại, buồn tiếc phải từ bỏ một việc, và từ bỏ mãi mãi việc ấy. Hy vọng chót sang Mỹ quốc, hay ít ra hy vọng ủy nhiệm lần chót đã mất. Ba mươi năm về trước, ông đã hành động y như vậy. Ông đi qua bàn ăn.

Ông nói thầm: “Nếu Moritz lấy bao đồ tự tay mình sửa soạn cho nó, mình sẽ có cảm tưởng như mình ra đi. Rất tiếc, anh lại không đến!”.

(4)

Khi ra khỏi nhà mục sư, Moritz ghé lại máy nước, tắm gội sạch sẽ, rồi đi đến phía bên kia làng, chỗ Nicolae Porfirie ở. Nicolae có một miếng đất, gần ven rừng, muốn bán. Moritz bước vô sân nhà, nói:

- Mai này tôi sang Mỹ châu. Chừng về sẽ có đủ tiền mua miếng đất này. Trước khi tôi đi, tôi muốn đưa tiền cọc để anh đừng bán cho ai.

Nicolae hỏi:

- Anh ở bển bao lâu?

- Chừng nào có đủ số tiền theo ý muốn. Hai, ba năm không chừng.

- Phải, ba năm là vừa. Không ai ở quá ba năm. Bên Mỹ, dễ kiếm tiền lắm!

- Anh muốn bán bao nhiêu?

- Hiện giờ tôi chưa cần tiền. Như trong ba năm, anh trở về với số tiền 50.000 đồng “lơ”, anh sẽ được miếng đất. Tôi không bán cho ai, tôi chờ anh.

Moritz móc túi, lấy xấp giấy bạc ra đếm trên ngạch cửa, rồi đưa cho Nicolae, nói:

- Đây ba ngàn “lơ”. Tốt hơn anh nên có tiền cọc trước.

Cuộc mua bán đã xong; Moritz siết tay Nicolae, rồi ra về. Trời chưa tối. Anh muốn xem lại miếng đất, tuy anh đã thấy nó nhiều lần. Anh thuộc lòng nó, song bây giờ lại khác, nó là của anh. Chỉ còn có việc chồng đủ tiền là anh đến ở được.

(5)

Moritz băng qua cánh đồng. Anh đi rất mau. Áo anh thấm mồ hôi dính sát da. Anh không thể nhẫn nại đi chẫm rãi được. Đến rừng rồi, anh ngừng lại. Đất của anh chạy dài, từ chỗ anh đứng, nơi ven rừng. Họ đã trồng bắp, cao độ chấm vai anh. Đất không mấy rộng, nhưng có thể cất một cái nhà có sân, có vườn cây trái. Anh nhắm chừng bề dài và bề ngang. Anh thấy hiện lên trên đám bắp, cái nóc nhà, cái tay quay nước giếng, cái cánh cửa ngõ bằng cây gồi và cả chuồng bò nữa. Đã bao lần, anh thấy cảnh tượng trên đây, nhưng không lần nào rõ bằng bây giờ. Tất cả đều dường như thật, đúng với sự anh ao ước làm anh mỉm cười. Gió thổi qua đám bắp, uốn chuyển những cành lá xanh tươi như lượn sóng. Anh lắng nghe tiếng xào xạc. Anh cúi xuống, hốt một nắm đất. Đất nóng trong lòng tay anh như một sinh vật, như hơi nóng của chim sẻ cầm trong tay. Moritz lại cúi xuống hốt một nạm khác. Anh bóp chặt nắm tay rồi buông ra, để đất rơi xuống kẽ tay. Anh băng ngang đám bắp để đến phía rừng. Tới giữa đám bắp, anh lại cúi xuống hốt một nắm đất, rồi nói: “Ở đây đất cũng nóng”. Anh cầm hòn đất kê sát vào má anh. Mùi đất xông vào mũi anh thấm thía. “Y như mùi thuốc lá, mùi đất tốt”, anh nghĩ thầm, và ngước đầu lên. Moritz hít nhiều hơi dài, như để thấm buồng phổi mùi đất thơm tho ấy. Anh nhớ đến Suzanna đang chờ anh, anh huýt sáo.

(6)

Nhà của Iordan, cha Suzanna, ở phía ranh làng. Moritz băng qua vườn, đi thẳng tới sân. Anh đứng lại dòm qua kẽ hàng rào. Iordan vừa nặng nề bước ra bao-lơn. Ông lần lượt đóng cửa, vặn chốt và khóa chặt lại. Moritz ngó theo từng cử chỉ của ông. Đóng cửa nẻo xong, ông còn nghi ngờ, ngó chung quanh, rồi bước xuống mấy bực thang bằng cây, kêu răng rắc dưới sức nặng thân hình to tướng của ông. Như thường bữa, ông mặc áo màu xanh lá mạ, mặc quần kiểu quần cỡi ngựa, và mang giày ống. Ông đi ngang qua vườn trước nhà, lại phía cửa ngõ, đóng mạnh cửa rồi khóa hai vòng, đoạn xây lưng, núng nính đi vô. Ông rảo quanh nhà, dòm bên này bên kia, như để tìm ai trong bóng tối. Rồi ông vào nhà, phía cửa sau. Tiếng khóa vặn hai ba lần, kế im lặng.

Iordan vô phòng. Buồng ngủ của ông, vách treo đầy những thú săn được, đầu thú dồn rơm: nai, chó sói, gấu... Trên tường, giữa gạc nai và chim ưng dồn rơm, có súng trường, súng ngắn và túi đạn. Gần dưới chiếc giường rộng lớn, trải hai tấm da thuộc đen. Iordan giẵm giày trên tấm da gấu, lấy cây súng trường dựng dựa giường. Ông kéo ngăn tủ lấy ra khẩu súng lục, cây đèn sáp, cái hộp quẹt và để trên bàn đầu giường. Đoạn ngồi lên giường, mệt thở hì hạch, ông tháo giày ra, sắp kế nhau. Mỗi tối, ông vẫn để đồ tại một chỗ, vừa tầm tay, để dễ tìm, trong đêm tối, hễ đưa tay ra là đụng liền. Sau rốt, ông cổi áo ra nằm ngủ, đầu vùi trong gối trắng, như con gấu trong tuyết.

Moritz thấy đèn lu dần, rồi tắt hẳn. Cửa sổ đen ngòm. Bên phòng Iolanda, vợ Iordan, còn ánh đèn lờ mờ, vì cái chụp lụa đỡ bớt tia sáng chói. Thiên hạ đồn rằng bà rất khổ sở. Hai mươi lăm năm về trước, bà đến làng này với Iordan. Họ cỡi ngựa và dừng nghỉ tại quán trọ. Không ai rõ họ từ đâu đến. Nhưng chắc là xa lắm. Iolanda là người xứ Roumanie, còn người chồng, thì không phải. Về sau, mới biết họ từ xứ Hongrie đến. Họ choàng áo tơi lót bông. Khi ăn uống xong, họ ngủ tại phòng chủ quán. Chồng ăn tợn như hổ đói, bà vợ chỉ nếm qua như mèo. Ba ngày sau, người ta được biết họ không rời khỏi làng nữa. Vài tuần kế, họ mua quán trọ. Khi mới tới, Iordan không biết một tiếng Roumanie nào, mà bây giờ thì rành lắm. Họ không kết bạn với ai. Đến đứa con gái, Suzanna, họ cũng tránh không cho học tại trường nơi đó, sợ nó sẽ làm quen với trẻ trong làng; Suzanna đi học ở tỉnh. Người trong làng chỉ gặp Iolanda những lúc đi nhà thờ Chính thống, hoặc khi đi ra tỉnh, ngồi xe ngựa với chồng. Cạnh Iordan, Iolanda, xem nhỏ thó, co quắp, vì y to lớn gấp đôi vợ. Suzanna giống hệt mẹ, có đôi mắt xanh và tóc óng như tơ. Đó là những gì mà người làng hiểu biết về gia đình này. Mùa đông nọ, Iordan có bắn chết một người muốn vào nhà hắn lúc đêm tối. Y bắn bằng súng trường ngay giữa hai mắt kẻ trộm. Cảnh binh cho rằng đó là quyền của Iordan. Y có quyền giết kẻ nào vào nhà y ban đêm để cướp tiền bạc của y. Nhưng người làng không đồng ý với cảnh binh mà nhìn nhận như vậy. Một án mạng vẫn là một án mạng. Song chuyện ấy rốt cuộc bị lãng quên, vì đã xảy ra lâu lắm rồi.

Khi Moritz dòm qua kẽ hàng rào thấy đèn lu dần rồi tắt hẳn, anh đưa hai tay làm loa cất tiếng kêu, nhái theo giọng chim mèo: “Hu! Hu! Hu”. Tiếng vang lên rồi vọng lại, nhỏ lần đến im bặt. Giây lát, cánh cửa mở, Suzanna nhảy qua cửa sổ, nhón gót chạy băng qua vườn. Nàng vạch lỗ rào, chun ra khỏi sân, gần chỗ Moritz đứng chờ.

(7)

- “Tại sao anh lựa tiếng kêu như thế! Tại sao? Tại sao?”. Suzanna đến từ bên kia rào, vừa hỏi vừa đi tới. Moritz muốn ôm nàng, song nàng vội tránh ra, nói tiếp: “Em không muốn anh kêu như vậy nữa!”. Tim nàng đập mạnh vì quá sợ hãi. Moritz hỏi:

- Chớ em muốn anh kêu thế nào?

- Tùy ý anh, nhưng tiếng chim mèo xui lắm, nó báo hiệu sự chết chóc.

- Chỉ là bịa đặt của mấy bà già. Có con chim nào kêu luôn ngày lẫn đêm, khi trời xấu, mùa hạ như mùa đông chăng? Chỉ có chim mèo. Em có biết con chim nào khác không? Họa mi chỉ hót về hè. Nếu anh bắt chước họa mi, tất ba em sẽ biết là tiếng người. Em muốn ông hộ pháp ấy biết là anh gọi em hay sao?

- Không, em không muốn, nhưng chim mèo báo tin dữ!

- Đó đâu phải lỗi của anh. Tại sao không có con chim nào kêu bốn mùa mà không báo hiệu sự chết? Nhưng thôi, đừng cãi cọ nữa. Đêm nay là đêm chót anh gọi em. Từ rày về sau, chúng ta hết còn phải giấu diếm! Sáng mai, anh đi Mỹ quốc. Lúc anh về, em sẽ là vợ anh. Anh đâu còn cần trốn sau hàng rào để bắt chước tiếng chim mèo nữa.

Moritz ôm Suzanna vào lòng. Nàng vòng tay bá cổ anh. Họ đứng dưới gốc cây gồi, chỗ mà họ gặp nhau đêm hôm qua, và mỗi đêm, từ bốn tháng nay, họ quen biết nhau. Nàng càng lúc càng nặng trên tay anh. Moritz đỡ nàng, để nằm trên cỏ và cũng nằm kề bên. Hai thân hình quấn quít nhau, tay tìm tay, môi sát môi. Họ nhắm mắt mê ly. Đâu đây, tiếng dế nỉ non trong vườn. Họ vẫn ôm nhau không thốt một lời. Áo xanh Suzanna nổi lên trên nền cỏ thẫm. Nàng đã cởi ra để mẹ nàng không thấy dấu nhăn. Mây đen khi nãy che lấp trăng tròn, đã vén lần. Đôi vai trần của Suzanna lấp lánh trong bóng tối. Moritz cũng cổi áo sơ-mi lót dưới mình Suzanna.

Gần hai vai trắng nõn của Suzanna, ngực Moritz càng đen sạm như vỏ cây dà.

Nàng nói:

- Anh ơi! Đừng đi anh!

Moritz cau mày đáp:

- Tại sao em nói thế. Em biết rằng nếu anh không đi Mỹ, thì làm sao có tiền mua đất. Mà không có vườn có đất, thì làm sao cưới em được? Rồi chúng ta ở đâu, nếu không có nhà, có đất? Không, anh sẽ ra đi trong ba năm, và trở về với một số tiền. Chúng ta làm lễ cưới. Em không muốn anh cưới em sao?

- Em muốn lắm, nhưng không muốn anh đi.

Moritz mỉm cười nói:

- Vậy làm sao anh có tiền mua đất. Em biết không, anh đã đưa tiền cọc cho Nicolae rồi đấy! Còn lại bao nhiêu lúc anh về sẽ trả.

Moritz bèn thuật lại chuyện đưa tiền trước làm sao, đi thăm miếng đất thế nào, và dự tính cất nhà, chuồng bò... tất cả.

Suzanna không để tai nghe anh thuật chuyện, nói:

- Anh à, nếu anh đi, lúc trở về, anh không còn gặp em còn sống nữa.

Moritz lần này tức giận hỏi:

- Em có chuyện gì vậy? Em lạ kỳ quá!

- Không có chi hết. Anh có thể không tin em được. Song em cảm chắc khi anh trở về là em đã chết mất rồi.

- Không, em không chết. Em vẫn ở với ba má em như bây giờ. Em không có điều chi lo lắng, vì em không cô độc, không ở với người dưng, mà ở với ba má em.

Suzanna thút thít khóc. Moritz hỏi:

- Sao em? Em có chuyện gì?

Anh vừa nói vừa hôn môi Suzanna. Môi lạnh và ướt đầy nước mắt mặn mặn.

Suzanna đáp:

- Anh sẽ cho là những ý nghĩ điên cuồng, ý của đàn bà. Tốt hơn đừng nói với anh gì cả.

- Em nói đi. Anh không cho là ý nghĩ của đàn bà đâu!

- Em chắc ba em muốn giết em!

Moritz giận hỏi:

- Ai nhét vào đầu óc em tư tưởng xằng bậy này vậy? Tại sao em muốn ba em giết em?

- Em biết anh không tin, nhưng em quá lo sợ rồi. Em chắc ông sẽ thi hành ý định vì ông đoán biết có chuyện gì rồi. Em không rõ lắm, song chắc vì đó mà ông muốn giết em.

- Ba em thấy chuyện gì mới được chớ.

- Ba em đã biết mối tình của chúng ta.

Moritz nằm dang ra xa. Vóc mình Suzanna lộ hẳn như pho tượng đá cẩm thạch trên nền cỏ.

Moritz hỏi:

- Ông có nói gì với em chưa?

- Chưa.

- Ông có rầy em không?

- Không.

- Vậy sao em nói ông biết chuyện rồi?

- Linh tánh báo cho em biết trước.

Nàng khóc to, nói tiếp:

- Tiếng nói của lòng chưa đủ. Hồi trưa này, khi bưng món ăn lên, ông ngó em một cách khác thường. Một cái ngó căm thù. Ông hét lên: “Xây lưng vô vách coi!”. Em xây lưng vô vách. Em cảm thấy ông nhìn vào hông em. Ông hét thêm: “Ngó ra cửa sổ!” Lần này ông nhìn kỹ và lâu hơn. Trông bề nghiêng, ông ngó bụng, ngó hông em như xem con ngựa của ông vậy. Rồi ông quát lên: “Mầy đi mau cho rảnh mắt, đồ đĩ!” Ông bỏ ăn. Em vội chạy ra. Em biết ông đã rõ sự thật. Khi em nhỏ, ông có la, có rầy, có đánh đến chảy máu nữa, nhưng không bao giờ mắng em là “đồ đĩ”, và đuổi xua em như hồi trưa này.

Moritz hỏi:

- Làm sao ông biết được? Có khi nào ông bắt gặp hai đứa mình đâu?

- Không gặp, nhưng ông biết.

- Làm sao biết cho được?

- Chỉ nhìn vào em thôi.

Moritz phì cười, hôn lên trán Suzanna, nói:

- Dẫu cho ông dùng ống dòm cũng không thấy được. Chuyện đùa! Em tưởng chỉ nhìn vào người rồi biết em có nhân tình sao?

- Em cũng biết thường thường thì khó nhận ra. Song ba em khác đời lắm. Những ngựa cái của ông, ông chỉ nhìn sơ là biết con ngựa có chửa hay không. Bạn ông, ai cũng phục ông hết.

- Hay là em có thai rồi?

- Không, em không có.

- Vậy thì không sao. Trong hai, ba năm, anh trở về, có tiền. Chúng ta sẽ mua đất, làm lễ cưới tại nhà thờ mục sư Koruga. Ta sẽ cất một cái nhà thật đẹp, rồi sống một cuộc đời hạnh phúc. Không phải vậy sao, em Suzanna?

Nàng siết chặt Moritz, như rất sợ hãi. Nàng run lên, và nói:

- Anh ở đây thì em không sợ, mà anh đi rồi, em sẽ chết vì sợ vậy! Nếu ba em không bắn giết, em cũng không sống nổi, em quá lo sợ rồi anh à! Mỗi đêm, em đều khóa cửa phòng và gài chốt chặt. Khi nghe tiếng giày của ba em, là em chui đầu vào gối, run lên.

Moritz đặt tay lên vai nàng, ôm sát vào lòng. Hai người yên lặng. Suzanna thấy sung sướng gần Moritz, mà anh cũng bằng lòng thấy nàng nín khóc.

Gà gáy sáng. Cả hai đứng dậy. Suzanna mặc áo vào, áo ướt lạnh vì hơi sương. Moritz cũng mặc áo sơ-mi và nắm tay Suzanna đưa tới hàng rào. Song vừa đi qua lọt, Suzanna kêu lên một tiếng thất đảm. Moritz khom lưng dòm xem chuyện gì, thì không thấy Suzanna ở trên sân. Nàng trở lại hồi nào, đến Moritz cũng không trông thấy. Nàng ôm chặt anh một cách tuyệt vọng. Toàn thân nàng run lên, mình nàng nóng ran như đang lên cơn sốt. Moritz dòm qua sân thấy cửa sổ phòng Suzanna mở rộng. Iordan mặc sơ-mi, đi qua, đi lại, tay cầm lồng đèn như tìm một vật gì. Moritz vuốt tóc Suzanna và ôm sát nàng vào mình, cố ý che không cho nàng thấy cha, song nàng đã thấy quá rõ ràng. Và, vì thế, nàng càng ghì chặt Moritz. Nàng run lên, không khóc được nữa. Hai người nghe tiếng mắng chửi của Iordan. Moritz nhìn thân hình khổng lồ của hắn. Sau bóng hắn, thấy dạng Iolanda. Bà đứng trước mặt chồng có một lát, một lần thôi. Iordan xây lưng ra cửa sổ. Moritz không còn thấy vợ của hắn nữa. Bà đã khuất hẳn sau thân hình to lớn của chồng. Kế nghe tiếng bà Iolanda kêu la, rên siếc như xé ruột xé gan. Đèn tắt, cửa sổ mở trong đêm tối. Tiếng rên la của bà Iolanda càng lúc càng đau thương, tuyệt vọng, rồi dịu lần. Moritz và Suzanna còn nghe thêm một hồi nữa tiếng kêu thảm thiết ấy như uất nghẹn. Đôi lứa run lên. Tiếng than khóc im bặt. Bà Iolanda đã té xuống đất. Iordan còn đạp, đá người đàn bà trong phòng tối.

Suzanna rền rĩ:

- Trời, má ơi! Ba giết má chết rồi!

Nàng xô Moritz ra, muốn chạy về sân, nhưng Moritz nắm chặt lại, vỗ về nàng. Đoạn anh buông Suzanna, cũng muốn chạy đến tiếp cứu người đàn bà thọ nạn, nhưng nghĩ lại là đã trễ rồi. Các thớ thịt anh căng thẳng. Anh không có khí giới trong tay, mà Iordan thì có súng và hình vóc vạm vỡ. Bản năng anh không cho anh đối chọi vô ích.

Anh bèn ôm Suzanna vào lòng. Nàng cố vùng vẫy. Nhưng anh ôm thật chặt và dìu nàng đi rất mau. Anh có cảm tưởng gã hộ pháp ấy đang đuổi theo nàng với khẩu súng cầm tay. Anh muốn giấu nàng, đem nàng thật xa, xa biệt nóc nhà ngói đỏ này. Hai người nhắm mắt chạy càn. Bên tai như thoảng nghe tiếng gót giày Iordan đang rược theo, để bắn chết người con gái mà Moritz đang ôm trong lòng.

(8)

Moritz băng ngang đồng, không dám đi đường cái. Anh vấp mấy gò mối nhiều lần và đứng không muốn vững. Anh thấm mệt, chắc anh đã đi lâu lắm rồi nên thấy đuối sức, tay rã rời, mồ hôi chảy ướt đầm làm mờ mắt anh. Anh ngừng lại giữa một đám bắp và để Suzanna xuống đất. Anh đã kiệt sức. Anh để nàng nằm trên đất ướt, kéo áo đắp đầu gối nàng lại, và đặt tay lên ngực nàng. Anh bứt một mớ lá bắp làm gối kê đầu Suzanna; rồi bứt thêm một mớ lá khác trải trên bãi cỏ ướt, đoạn để Suzanna nằm lên. Nàng vẫn im lặng. Moritz vuốt tóc, màng tang và má nàng. Đoạn anh đứng dậy. Nỗi đau đớn cấu xé ruột, gan và tứ chi anh, như muôn ngàn mũi kim châm sâu vô xác thịt.

Anh thầm nghĩ: “Chắc mình chạy lâu lắm!”. Anh nhìn lên nền trời xanh và thấy mình ở gần rừng gồi, cách chừng vài bước. Ban đầu anh không tin cặp mắt anh, tưởng anh mơ, nhưng lần lần anh định tỉnh và run lên như cây sậy. Anh không chiêm bao. Anh và Suzanna đang ở trong đất của Nicolae. Cuộc chạy bấn loạn dắt dẫn anh đến đây. Lá bắp mà anh vừa giựt ra để lót cho Suzanna nằm, và nàng hiện còn nằm, là của vườn bắp mà anh đã đưa tiền cọc để mua đất, mới ngày hôm qua.

Nước mắt hòa với mồ hôi chảy dài theo má Moritz. Anh khóc trên đám đất mà anh biết chẳng thể nào mua được nữa, vì anh sẽ không sang Mỹ quốc.

(9)

Chỗ anh đứng, Moritz thấy rõ hết cảnh xóm làng. Anh nhìn từng nhà, từ đầu đến cuối làng, rồi nhìn Suzanna đang nằm dưới chân anh, trên lá bắp. Anh phóng tầm mắt nhìn xem nhà nào có thể trọ nàng được. Anh phải tìm cho nàng một chỗ trọ. Phần anh, anh đã từ bỏ sự ra đi; anh từ bỏ luôn ý định mua đất, vì hiện giờ người yêu của anh cần đến anh.

Anh không thể bỏ bê nàng được. Anh phải kiếm cho nàng một chỗ ở. Anh chỉ thấy có hai nơi: nhà ba má anh, và nhà mục sư Koruga; các nhà khác không tiếp anh được, vì mấy anh nông dân đều sợ Iordan; tất cả đều sợ ông ta. Nhà cha mẹ anh thì chỉ có một phòng, không dư chỗ cho Suzanna. Còn nhà mục sư, thì anh chưa cưới nàng, làm sao dẫn đến được. Anh không muốn làm liên lụy đến mục sư. Nếu mục sư chứa nàng, thì ắt Iordan sẽ xách súng đến hạch hỏi. Anh biết chắc như vậy, và không nên để chuyện chẳng lành xảy ra. Nhưng Suzanna cũng không thể ở trong vườn bắp này. Suy nghĩ một chặp, Moritz bồng Suzanna đi về làng. Nàng mét xanh, Moritz chắc nàng quá sợ nên thành bịnh. Anh rờ tim nàng thấy đập chậm chạp, anh vội rảo bước đi mau về làng.

(10)

Mặt trời đã lên cao khi Moritz về tới nhà. Anh để Suzanna nằm trước thềm dựa tường, nhìn mặt trời và nói thầm: “Chắc Ghitza đợi mình lắm”. Anh cắn chặt răng để lấy can đảm, rồi xây lưng, bước vô nhà. Anh muốn xin với cha mẹ cho nàng ở đó. Ba má anh còn ngủ. Aristitza, mẹ Moritz, là một người khắc khổ. Anh muốn tránh bà, để nói thẳng với cha. Nhưng vừa bước vô thì Aristitza ngóc đầu lên khỏi gối, hỏi:

- Mầy lấy bao đồ phải không? Để chỗ cửa đó!

Moritz không trả lời. Bà nói to:

- Làm gì mà đứng sựng đó vậy? Lại đây hôn mẹ, rồi qua từ giã cha mầy cho mau. Rán ăn xài tiện tặn và đem tiền về.

Moritz đáp:

- Tôi không đi Mỹ nữa!

Bà già ngồi phóc dậy gọn gàng, hỏi:

- Mầy không đi à?

- Không!

- Ghitza cũng không đi hả?

- Ghitza thì đi.

Aristitza nhận thấy có chuyện gì mờ ám; bà mặc vội áo và hỏi:

- Tại sao? Mầy gây với Ghitza hả?

- Không!

Bà đứng giữa nhà, hằn học, tiến gần đến con, hỏi:

- Vậy chớ có chuyện gì?

- Không có chi hết. Tôi muốn cưới vợ nên không đi.

Giọng Moritz run run. Anh không biết nên khởi đầu câu chuyện như thế nào, phải cắt nghĩa làm sao. Mẹ anh hai tay bấu chặt vai anh và lắc mạnh.

Anh nói tiếp:

- Tôi muốn nói chuyện với ba. Tôi không muốn cãi với má.

Bà la lớn: “Mầy phải nói chuyện với tao. Chính tao đẻ ra mầy chứ không phải mầy ở trong bụng ổng mà chun ra”.

Cha Moritz thò đầu ra khỏi mền, nói:

- “Thôi bà nguôi bớt đi”. Ông muốn khuyên giải bà. Aristitza không nghe, vỗ vào hông nói:

- Mầy banh da rứt thịt tao, mầy bú sữa tao mà bây giờ mầy không muốn nói chuyện với tao hả?

Moritz đáp:

- Rồi tôi cũng sẽ nói với má.

Bà mẹ khóc tức tưởi. Moritz muốn bà bớt giận, năn nỉ:

- Má nín đi, tôi sẽ nói chuyện với má, tôi xin thề.

Bà già ngồi bên cạnh giường, tay ôm đầu. Bà thấy bị tổn thương. Nỗi đau tủi không thể làm nguôi cơn giận của bà, bà không thể nín được.

Bà hét lên:

- Mầy cưới ai?

- Tôi sẽ nói liền, nhưng má bớt giận đi!

- Tao muốn biết mầy cưới đứa nào? Tao là mẹ mầy, tao có quyền muốn biết.

Cha Moritz khuyên:

- Nói đi con, nói cho bả nghe, cho bả nín.

Ông thừa biết bà ta sắp la lối nữa. Nhưng Moritz cũng biết rằng cái tên Suzanna không làm cho bà yên, mà trái lại, làm bà nổi tam bành thêm. Anh đành đáp:

- Tôi cưới Suzanna, con gái ông Iordan.

Aristitza nhảy a lại, không phải để đánh mắng Moritz, mà ôm anh ta hôn. Bà nói:

- Ừ, phải mà, tao biết tại sao mầy không đi!

Bà ôm con hôn khắp mặt, trên mắt, trên trán, trên má. Bà vồn vã nói:

- Mầy không dại gì sang Mỹ, làm vất vả như thằng mọi, và vài năm sau, ốm yếu, bịnh hoạn trở về với vài ngàn “lơ”. Mầy đã nghe lời tao, mầy cưới con gái nhà giàu, (vừa nói mắt mụ sáng lên). Tao sẽ giàu. Tao sẽ có áo nhung, xe và ngựa. Tao sẽ qua ở nhà Iordan. Đó là quyền của tao. Quyền của tao, mầy biết không? Chính tao sinh mầy ra, khôn ngoan, đẹp trai, nên mầy mới gò được con gái giàu nhứt trong làng, một đứa con gái có nhà gạch, có hầm rượu, có nhiều đất, xe và ngựa!

Ông già chận lại:

- Thôi, nín đi, mụ ơi!

Tiếng ông run run. Ông cũng xúc động. Nhiều tiền của quá làm ông ngẩn ngơ. Ông nằm vấn thuốc hút, không ngồi dậy.

Aristitza nói với Moritz:

- Tao sẽ ở nhà Iordan, cha vợ mầy. (Xây qua chồng, bà nói). Còn ông thì ở đây. Tôi cần phải ở gần con trai tôi. Ai mà hơn tôi, lo cho vợ nó được?

Moritz ngắt lời:

- Nhưng còn chuyện này nữa, má à!

- Cứ nói đi, cưng, mẹ sẽ nghe con!

- Má phải hứa điềm tĩnh nghe tôi mới được.

Bà vuốt má Moritz, trả lời:

- Ừ, má hứa nghe con tất cả.

- Má à, tôi cưới Suzanna không có phép của Iordan.

- Điều cần nhứt là mầy cưới được nó thì thôi. Tao sẽ là mẹ chồng con gái lão Iordan, lão nhà giàu. Thây kệ, nếu lão bằng lòng hay không!

- Má sẽ là mẹ chồng nàng, nhưng má không giàu được.

- Vậy tiền của về ai? Lão ta có độc một đứa con gái. Không lẽ lão ta lại không cho của hồi môn? Ai lại không biết lão chôn cả hũ vàng trong hầm rượu lão. Con đừng lo, má sẽ tính cho. Con mà biết gì?

- Má à, con cưới Suzanna, vì nàng chớ không phải vì tiền!

- Mầy muốn tao tưởng mầy thích gái hơn tiền à!

- Sự thật mà má!

- Dại! Nhưng tao cũng biết mầy rồi. Để đó cho tao. Không ai ăn qua tao được đâu.

Mụ hình dung thấy đang cãi vã với Iordan về tiền nong và nhứt định không chịu ly một đồng nào.

Moritz bèn thuật chuyện hồi hôm. Aristitza giựt mình, hỏi:

- Sao? Nó không muốn trở về nhà ba nó nữa sao?

Moritz đáp:

- Không! Nếu nàng trở về, ba nàng sẽ giết chết.

Ông già cũng nói:

- Phải, lão ta sẽ giết con gái. Không phải chuyện chơi đâu! Con gái lão biết ý cha nó. Thằng cha ấy tàn bạo lắm. Chọc nó giận, nó xách súng bắn liền. Ngựa yêu quý của nó kia còn không khỏi thay! Và trời ơi! Ai cũng biết lão ta yêu quý ngựa của lão là dường nào. Lão dám bắn chết con Suzanna nếu nó mò về, nhứt là nó mới trốn nhà bỏ đi đây.

Moritz nói:

- Ba nói thật đúng.

- Với chuyện như vậy khó gì mà không hiểu. Tao biết lão già ấy lắm mà!

Aristitza nói:

- Thôi để đợi vài ngày nữa sẽ dẫn nó về. Tôi dẫn đi cho.

Moritz đáp:

- Chắc Suzanna không trở về đâu. Tôi cũng không muốn Suzanna trở về nhà.

Mẹ anh hỏi:

- Rồi nó không có tiền bạc mầy sẽ làm gì? Mầy chết đói với nó phải không? Đàn bà thiếu gì, ở đâu lại không có. Không ai dại gì đi cưới vợ không của hồi môn. Sao mầy ngu ngốc vậy?

Moritz quả quyết:

- Tôi lấy nàng không của hồi môn!

Mụ già giận dữ:

- Mầy điên rồi! Từ bỏ tất cả vì một con đàn bà à? Không đi Mỹ cũng vì ai? Vì ả! Và bỏ tất cả, vì một đứa không giá trị gì ráo!

Ông già nói tiếp:

- Má mầy nói phải. Đừng làm bậy, đi sang Mỹ đi. Lúc về sẽ mua đất, cất nhà và cưới vợ. Đàn bà thiếu gì!

Moritz đáp:

- Tôi không đi nữa!

Cha anh nói:

- Mầy sợ trễ rồi sao? Ghitza chắc còn đợi ở đầu làng. Mặt trời mới vừa mọc, đi mau có thể kịp.

Moritz buồn rầu nói:

- Ba bảo tôi đi Mỹ rồi bỏ người con gái này à? Lòng ba như vậy sao?

Aristitza hỏi:

- Nó ở đâu?

- Ở ngoài trước cửa!

Hai cụ giựt mình, mặt thừ ra. Aristitza ngó ra cửa sổ. Moritz đứng chận cửa cái, không cho bà ra và khẩn nài:

- Xin má cho nàng ở đây vài ngày, tới chừng nào tôi tìm được chỗ ở cho nàng. Bây giờ thì nàng là dâu của má rồi.

Bà già tức giận nói:

- Mầy muốn nuôi nó ở đây sao? Mầy muốn lão Iordan giết cả hai vợ chồng tao hả?

Ông già nói tiếp:

- Con cũng biết nhà chỉ có đủ chỗ cho ba với má thôi. Nó sẽ ngủ ở đâu? Không, con à! Không thể được.

Aristitza nói:

- Bộ chắc mầy lại muốn chúng tao nuôi ăn nó nữa hả. Mầy muốn chúng tao nhịn ăn để cho nó hay sao?

Moritz ngó xuống, não nề suy nghĩ. Anh định trước sẽ phải đương đầu với mẹ, song tin rằng cha anh sẽ không nói gì. Bây giờ không phải vậy.

Moritz bèn nói:

- Vậy thôi để nàng ở đây tới chiều. Tôi chưa biết đem nàng đi đâu. Chiều nay tôi sẽ dẫn nàng ra thành phố kiếm việc làm. Nàng đang bịnh, cần phải nghỉ ngơi một chút để lấy sức, đặng đi tới tỉnh thành mới được. Cũng vì chuyện kinh khủng hồi hôm nên nàng mới đau.

Mẹ anh nói:

- Bữa nay không có gì ăn. Nếu mầy muốn nó chết đói thì cứ để nó ở đây.

Moritz đáp:

- Tôi sẽ đem đồ ăn về. Nàng cần phải ngủ, vì nàng đứng không được vững.

Aristitza nói:

- Ba mầy đau phải nằm trên giường luôn. Bây giờ để nó nằm đâu? Nằm chung với ổng à?

- Nếu không có chỗ trong nhà thì nàng ra nằm ngoài đống rơm, chỗ tôi nằm đó.

- Vậy thì được. Nhưng tao không có gì cho nó ăn đâu. Hết cả rồi.

Moritz xây lưng ra đi. Tới thềm, anh ngừng lại, nói với cha:

- Trong giờ phút nàng tạm ở đây, ba thương nàng với. Đau khổ như thế là nhiều quá rồi!

Mẹ anh giận dữ mắng:

- Đồ khốn! Mầy lại dạy khôn chúng tao à? Trứng mà dạy gà mái ấp chớ? Trong lúc phải đi Mỹ để kiếm tiền, mầy lại vác xác một đứa con gái đem về xô sấp bắt chúng tao nuôi, mà mầy lại còn thêm một bài học khôn dại nữa!

Bà cúi xuống lấy thanh củi đập Moritz. Anh đã quen với sự chửi rủa và đánh đập này rồi. Trọn đời thơ ấu của anh, toàn là một chuỗi dài đánh và mắng. Anh cười gượng nói:

- Ba má nên thương nàng. Tôi đi kiếm cái gì cho nàng ăn, và về liền.

Anh đi ra. Suzanna không cục cựa, vẫn nằm yên trước nhà. Anh vuốt tóc nàng và nói:

- Anh đi một chút rồi về ngay. Em ngủ đi. Khi thức dậy sẽ ăn một chút gì, rồi ta đi ra tỉnh thành.

Nàng sợ hãi khi nghe nói còn phải đi nữa, nàng hỏi:

- Chúng ta không ở đây sao?

- Không. Em lại đây!

Vừa nói anh vừa dìu nàng ra sau nhà, chỗ chứa đồ nghề làm vườn, và đặt nàng lên đống rơm. Anh nói:

- Ngủ đi! Nếu không thì em không thể đi bộ tới tỉnh thành được. Gần hai chục cây số ngàn lận.

Suzanna ngó anh và mỉm cười biết ơn. Nàng mừng được ngủ yên một mình, vì nàng đang lên cơn sốt, lỗ tai lùng bùng, không còn nghe rõ ràng tiếng gì nữa.

Moritz nói:

- Nếu má có ra kiếm chuyện, thì em đừng trả lời! Bà đang giận mình đó!

Moritz đi ra. Tới đường còn ngó lại nhìn nàng và cười, song nàng đã nhắm mắt lại.

(11)

Moritz vừa đi rồi thì Aristitza ra khỏi phòng. Bà đứng chống nạnh ngó Suzanna nằm trên đống rơm. Nàng mở mắt thấy mụ già có cái mũi nhọn như mỏ ó, đôi má vàng võ nhăn nheo, nàng liền ngó qua chỗ khác. Nàng đâm sợ. Mụ già nói:

- Tao là mẹ của Moritz.

Suzanna gật đầu như để trả lời và chào bà. Nàng kéo áo dài xanh che đầu gối lại. Bà già nhìn vào đầu gối, vào hông nàng như muốn lột trần nàng.

Ba nhăn mặt hỏi:

- Mầy muốn lấy chồng hả?

Suzanna đáp:

- Vâng!

- Tao thấy mà! Mầy đã lớn như con ngựa cái rồi!

Suzanna giấu mặt trong đống rơm. Bà lại gần, kề tai nàng nói:

- Mầy chưa tìm được thằng ngốc nào lấy mầy đâu. Không của hồi môn, ai thèm cưới mầy. Nếu mầy lấy con tao, thì mặc mầy, nhưng nó không nhìn mầy chính thức đâu.

Suzanna chỗi tay ngồi dậy. Nàng muốn ra đi. Nhưng bà già lại cúi xuống trên mình nàng. Sợ sệt, nàng hỏi:

- “Iani đâu rồi?”. Nàng muốn nói chuyện gì khác nữa.

Bà già trố mắt ngạc nhiên hỏi:

- Iani nào? Tao không biết ở đây có ai tên đó.

Suzanna ngơ ngác nhìn bà. Nàng không biết phải nói làm sao. Mụ già hỏi dồn:

- Mầy muốn nói Iani nào! Hay mầy mất trí rồi? Hay mầy tưởng đang ở đâu?

Suzanna ngập ngừng nói nho nhỏ:

- Iani, con bà!

Bà già đổi giọng, dữ tợn nói:

- Con tao tên Ion. Đó là tên tao đặt cho nó. Không ai có quyền sửa tên tộc của nó cả. Mầy biết không?

Suzanna thấy hai tay bà cung lên, như hăm dọa. Nàng nhớ lời Moritz dặn phải hòa dịu, nên nàng đáp:

- Tôi biết rồi. Iani hay Ion cũng một tên, theo tôi tưởng.

Lời phân trần càng làm cho bà hăng tiết lên. Bà quát to:

- Mầy lại muốn dạy tao học tên con tao hả? Tao chẻ đầu mầy ra. Mầy dám à! Đồ đĩ!

Suzanna nói:

- Tôi đâu dám làm phiền bà.

Aristitza bấu hai vai nàng lắc mạnh. Suzanna la lên. Nghe tiếng la, ông già tốc dậy, chạy ra cửa sau nhà, miệng ngậm điếu thuốc, còn mặc áo ngủ.

Aristitza buông Suzanna và xây qua chồng, giận mét xanh. Bà nói:

- “Ông có nghe chuyện quái gở này không? Con khốn đó cho tôi biết tên con tôi. Nó làm tôi nổi xung”. Cúi xuống lượm cục đá, bà nói tiếp: “Tôi chẻ đầu nó ra! Tôi chà nó như chà một con rắn độc!”.

Ông nắm tay bà đẩy vô cửa, can gián:

- Thôi bà, giận mà làm gì?

Đoạn ông lại gần Suzanna, cầm tay nàng tỏ dấu thương hại, khuyên nàng:

- Thôi đừng khóc nữa! Chuyện không có gì đâu!

Suzanna hỏi:

- Iani đâu?

- Nó sẽ về. Nằm im đi.

Suzanna thấy được che chở. Bàn tay ông to lớn và sần sùi.

Ông nói tiếp:

- Nầy bé con, tao khuyên mầy điều này, mầy nên nghe tao. Về nhà cha mẹ mầy đi!

Nàng khóc. Ông nói thêm:

- Mầy không thể ở đây được. Mụ ấy sẽ bóp cổ hay bửa đầu mầy. Tao biết trước sẽ có như vậy. Và còn gì đau thương khi máu chảy ra. Nếu Moritz đứng trước cảnh ấy, nó sẽ giết mẹ nó thì càng gây thêm tội ác. Đừng để xảy ra tai họa, mầy hiểu chưa?

Suzanna mấp máy:

- Tôi hiểu rồi!

- Tao khuyên mầy nên đứng dậy đi liền đi. Đi lập tức trước khi Moritz về. Mầy cứ băng qua vườn bắp trở về nhà cha mẹ mầy đi. Chừng Moritz trở lại, tao sẽ nói mầy đi ra đường cái rồi. Nó sẽ không tìm mầy được nữa. Rồi chúng bây quên nhau. Tuổi trẻ chóng quên lắm! Thôi, dậy đi lẹ lẹ đi!

Suzanna nằm im, đầu quay mòng như điên. Nàng bịt hai tai lại, và cũng không màng để ý nghe ông già nói những gì. Ông hỏi:

- Mầy không muốn đi à?

Ông muốn nắm tay nàng kéo dậy, dẫn nàng về nhà trả, nhưng ông chắc Moritz không bỏ qua cho ông. Ông bèn đứng lên, nói:

- Thôi phận sự tao phải nói cho mầy hay trước, nếu tai họa xảy đến là tại mầy.

Ông trở vô nhà. Suzanna nằm một mình. Moritz trở về, tay cầm một bình sữa. Anh lo đi nấu nữa. Bà Aristitza mắng lớn:

- Với vợ chồng tao, mầy chẳng khi nào đem sữa về cho. Còn với con voi giày này, mầy lại bưng đem dưng. Thiệt, tao mà dè thì tao đã vặn cổ mầy hồi còn nhỏ cho rồi! Cho bú mớm bồng ẵm chi vô ích!

Moritz quỳ gối trước lò lửa, nhìn lửa cháy, như không nghe mẹ nói gì. Bà Aristitza bước lại xua đuổi:

- Mầy đi ra khỏi nhà tao lập tức, đem con khốn ấy đi cho khuất mắt tao. Không thì tao giết nó, tao bóp cổ nó cho mà coi. Đây dòm bàn tay tao đây. Để tao chận cổ nó cho chết mới nghe.

Moritz trả lời, không buồn ngó đến bàn tay của mẹ, bàn tay “sắp chận nghẹt cổ Suzanna”.

- Để nàng uống sữa rồi, chúng tôi đi liền, đi luôn ra tỉnh không bao giờ má thấy mặt nữa.

Bà già gay gắt:

- Bà hoàng chưa uống sữa thì không đi được phải không? Mẹ mầy không cần uống sữa buổi sáng, còn bả thì chẳng có chẳng được.

Moritz nhắc bình sữa đi ra, không nhìn hai cụ. Sữa chưa sôi nhưng đã nóng. Suzanna giựt mình nghe tiếng chân đi. Moritz đưa bình sữa cho nàng và nói:

- Anh đây mà! Sữa nóng đây em!

Nàng nói nhỏ:

- Em không uống sữa.

- Uống một chút đi.

Suzanna đỡ lấy bình sữa. Moritz trở vô nhà lấy bao đồ đã sửa soạn để đi Mỹ. Aristitza hỏi:

- Mầy đi với nó hả?

- Dạ!

Bà nghiến chặt hai hàm răng lại, nói:

- Thôi được!

Khi Moritz cúi xuống giường lấy đôi giày thì bà ta ra sân.

Suzanna đang cầm bình sữa, thấy bà đi ngay lại mình, nàng sững sờ chết điếng. Mụ già nói:

- Mầy còn đứng được thì phải đứng dậy ngay! Tao sẽ đánh cho mầy biết tay. Đồ khốn kiếp!

Chưa dứt lời, mụ ta nắm tóc Suzanna đánh túi bụi. Suzanna la rú lên. Moritz nghe tưởng như là tiếng bà Iolanda, mẹ nàng. Anh vội chạy ra, nói lớn:

- Má! Má làm gì vậy?

Bà già ném một cái nhìn thù hằn về phía Moritz, đập thêm Suzanna vài cái nữa, rồi chạy trốn trong vườn bắp.

Mặt Suzanna đầy máu. Môi mắt đều sưng húp. Bình sữa đã bể, miểng cắt tay nàng mấy đường lớn. Máu trộn sữa làm vấy áo xanh của nàng. Moritz vội ẵm nàng ra đi. Tới cửa, anh ghé lấy bao đồ. Đoạn anh ra sân, lưng vác bao, tay ẵm vợ. Người và đồ đều nặng trĩu, anh đi không ngước mặt lên được. Anh nặng nề bước đi chậm chạp, đầu rút vào hai vai.

(12)

Trời vừa rựng sáng, Iordan cho ngựa uống nước và ăn lúa. Hắn vuốt ve chúng. Có cả thảy tám con. Hắn giữ bốn con để cỡi, không bắc kế. Ngựa tốt giống lắm, đều là ngựa nòi Á Rạp, đen tuyền, cẳng nhỏ và tráng kiện. Đó là bạn yêu quý của hắn. Hắn thuật chuyện Suzanna cho chúng nó nghe, và nói với chúng những gì chất chứa trong lòng hắn. Con người không làm hắn tin cậy. Ngựa nhìn hắn chân thật hơn, với cặp mắt trong suốt, sáng ngời, như mặt kiếng soi.

Hắn nói: “Và bây giờ đây, vợ ta đang nằm dưới đất, máu chảy, xương nhừ!”. Không thấy ngựa nhúc nhích, hắn cho là ngựa có ý trách móc hắn, hắn nói tiếp: “Thôi để ta đem nó vô nhà thương, nếu bây muốn!”.

Thế là nửa giờ sau, hắn bắc kế ra tỉnh. Hắn quấn vợ trong cái mền, để nằm trên xe, tấn giữa hai cái gối. Iolanda nằm xuội lơ, mắt nhìn xa xăm. Xe đến nhà thương sớm quá, phải ngồi ngoài xe chờ tới tám giờ. Chưa có vị bác sĩ nào đến. Trong lúc chờ đợi, Iordan chỉ nói chuyện với ngựa, không hỏi han ngó ngàng gì đến vợ lần nào. Tám giờ đúng, Iordan ẵm vợ, cả mền lẫn gối như ôm một gói đồ, đem vô phòng khám bịnh. Vợ hắn được xem trước nhứt. Khi người khán hộ cổi áo choàng Iolanda ra, bác sĩ thấy đầu bịnh nhân sưng to lên, thân mình đầy máu. Iolanda nằm dài, chỉ mặc một áo ngủ dính khắn vào da. Thật chỉ là một gói máu! Bịnh nhân nằm êm rơ. Bác sĩ hỏi:

- Ai đánh người này?

Iordan trả lời:

- Quan hệ gì đến ông. Ông cứ chữa bịnh đi, chuyện khác đừng lo đến. Bởi thế ông mới làm bác sĩ và tôi mới đem bịnh tới nhà thương.

Hắn không muốn nói rõ vụ gì.

Bác sĩ khám bịnh Iolanda và đem liền vào phòng mổ, cứu cấp.

Iordan vừa lấy nón, vừa đi ra cửa, nói:

- Tôi đi về, ông lo phận sự ông. Tôi sẽ trả tiền đủ. Nếu ông tính tiền được trước khi mổ, thì tôi trả tiền, hay đưa trước chút ít.

Hắn đưa tay vô túi móc bốp tiền ra. Bác sĩ nói:

- Ông chưa về được, chờ đây một chút!

- Tại sao phải chờ?

Y không thích ai giữ y lại. Y muốn đi khỏi nhà thương mau lẹ. Mùi thuốc men xông lên đầu y. Và y động lòng trắc ẩn. Y hối hận đã quá tay đánh vợ. Y nghĩ thầm: “Mình đánh đạp chưa đủ sao, bác sĩ còn mổ xẻ nữa”. Y thương hại nhưng không muốn tỏ ra ngoài mặt. Y không muốn như vậy. Y chỉ muốn đi ra ngoài để chờ. Thở được khoan khoái, hít cho đầy phổi hơn.

Một khắc đồng hồ sau, ông biện lý đến với một viên hiến binh. Ông cho gọi Iordan vô phòng xử tại nhà thương để lấy khẩu cung. Ông hỏi đủ thứ: nào y phải tên Iordan không, nào chỗ ở nơi đâu, y mấy tuổi, và có phải chính y có đánh vợ trọng thương chăng? Y quạu quọ trả lời, mắt lờ đờ. Sau cùng, ông biện lý tuyên bố y bị bắt giam vì tội đánh vợ. Iordan thản nhiên, không cãi lẽ. Nhưng lúc viên hiến binh nắm vai y dẫn đi, thì y tái mặt hỏi:

- Ông dẫn tôi vô khám à?

- Phải!

- Còn mấy con ngựa của tôi? Mấy con bắc kế xe đậu ngoài cửa đó, ông làm sao?

Ông biện lý ngó viên hiến binh, rồi hỏi Iordan:

- Chú không có ai coi sóc nó sao?

- Không!

Viên hiến binh nói:

- Thôi bán lại cho lính chữa lửa đi. Họ có nuôi ngựa, họ sẽ nuôi luôn. Ở trong khám không chỗ nhốt ngựa.

Ông biện lý mỉm cười, tỏ dấu cám ơn viên hiến binh đã gỡ rối cho mình. Ông không biết phải xử trí làm sao với mấy con ngựa ấy. Ông mới đổi tới đây vài ngày. Ông tên là Damian, và đây là vụ án thứ nhứt của ông.

Đến trưa, khi ông sắp sửa đi ăn, thì có tin báo Iordan nhảy cắm đầu xuống sàn xi-măng, định tự tử. Tờ phúc trình của viên chủ ngục như sau:

“Tên tội đã khai tại nhà thương rằng y muốn tự tử vì không thể chịu được, khi nghĩ đến mấy con ngựa thuần giống á-rạp của y chết đói, chết khát! Nghe đâu y là một tay cuồng nhiệt mê thích ngựa. Bịnh tình y trầm trọng”.

Cùng một lúc ấy, lại có tờ phúc trình cho hay: “Iolanda, vợ y, đã chết”.

Ông biện lý Damian thấy lợm giọng. Nơi tiệm ăn, trước khi ngồi bàn, ông rửa tay thật sạch sẽ với nước lạnh và xà-bong. Ông nghĩ: “Luật pháp sẽ xử Iordan về tội đánh chết vợ. Đánh đập người, hay quý ngựa hơn người không phải tội trọng của y, đó chỉ là kết quả của một tâm trạng. Sự dã man mới là tội nặng duy nhứt của Iordan. Cũng như mọi kẻ dã man, y coi rẻ con người đến đỗi hủy diệt mạng người. Về trọng tội ấy, do đó gây ra các tội lỗi khác, chẳng luật pháp nào trừng trị bao giờ. Sự dã man chỉ là một trạng thái bất hợp pháp trong vài trường hợp riêng biệt thôi”.

(13)

Suzanna đi bộ được vài cây số ngàn, rồi ngồi xuống lề đường. Nàng nóng hầm và mệt nhừ, nàng nói:

- Iani ơi! Em không rán nổi nữa!

Nàng nằm dài trên cỏ. Ở đây mới nửa đường ra tỉnh. Moritz để nàng ngủ, và chờ coi có xe nào chạy ngang đặng chở nàng. Nhưng chỉ thấy toàn người đi bộ và cỡi ngựa. Tới năm giờ chiều, trời mưa. Hột mưa lạnh ướt má anh. Moritz nghĩ: “Nếu chiều hôm qua mà mưa thì mình đâu có lại thăm Suzanna, và bây giờ nàng vẫn còn ở nhà, mình thì ở trên tàu tại bến Constantza rồi! Nếu trời mưa chiều hôm qua... Thôi thây kệ!”.

Trời tối rồi mà chưa dứt hột mưa. Moritz tự nghĩ phải quyết định mới được.

Anh ái ngại nhìn Suzanna rồi nói:

- Anh trở về nhà mướn xe nhé!

Suzanna ngồi núp dưới tàn lá cây, áo và tóc ướt dầm. Nàng run lập cập vì lạnh. Nàng đáp:

- Anh tính sao cũng được.

Moritz hỏi:

- Em ngồi đây một mình, có sợ không?

- Nếu anh trở lại thì em không sợ.

Moritz hôn nàng và đi. Tới làng Fântâna thì trời tối đen như mực. Nông dân đều ngủ hết. Anh gọi cửa từng nhà, nhưng không một ai giúp anh. Họ muốn biết tên người đàn bà. Vừa nghe đến tên con gái Iordan là họ đều từ chối, viện lẽ không có chỗ chứa nàng. Tất cả đều sợ lão Iordan. Đến nửa đêm, Moritz vào sân nhà mục sư Koruga. Phòng sách còn sáng. Trước cửa, một chiếc xe hơi lớn, đen bóng, chiếu sáng dưới trời mưa. Trong nhà tiếng người nói chuyện vọng ra. Moritz nói thầm: “Chắc mục sư đang tiếp khách”. Anh định đi ra, không muốn làm phiền mục sư. Nhưng trời mưa to thêm và mái nhà dột mưa chảy từng giọt. Moritz im lặng nghe ngóng một hồi lâu. Chừng nhớ đến Suzanna đang chờ anh một mình bên bờ lộ, anh bèn gõ cửa nhẹ nhẹ.

(14)

- “Con về kịp lúc! Ba muốn gặp con”. Mục sư Koruga nói với con trai ông là Traian, và tiếp với con đem mấy va-li trong xe vô nhà. Xe đậu trước bao-lơn, phân nửa dưới giàn hoa trường xuân và hường rừng.

Trời vẫn mưa như trút.

- Con đi một mình hả.

Lúc ấy một thanh niên vừa bước xuống xe. Traian bèn giới thiệu với cha:

- Thưa ba, đây là anh Damian, bạn học và bạn thân của con. Con vừa mới gặp anh ngoài thành phố hồi trưa này. Anh là tân biện lý Tòa Hòa giải tỉnh mình.

Mục sư bèn xin lỗi về cách phục sức đơn sơ, vì không dè có khách. Ông dẫn hai người vô phòng khách rồi vào trong. Ông biện lý ngồi ngắm một hồi lâu con chim bồ câu trên đồng hồ, mấy tấm tranh treo trên tường, và mấy kệ đầy sách.

Traian cười và nói:

- Tôi biết anh đang nghĩ gì rồi! Anh ngạc nhiên về một nhà văn tân tiến nhứt trong xứ, viết những chuyện về máy bay, xe hơi, quán rượu và đèn điện, lại sanh trưởng ở một nơi mà thời gian dường như ngưng hẳn, tất cả đều cổ xưa hàng mấy thế kỷ, không chút gì thay đổi, phải không anh?

Ông biện lý đỏ mặt, gật đầu đáp:

- Thật vậy, đúng như tôi nghĩ!

Mục sư bước vào phòng, hai tay ngón búp măng và khô gầy châm lửa đốt cây đèn dầu, và trịnh trọng bưng để ngay giữa bàn. Traian mở va-li da, lấy mấy gói bao kỹ lưỡng để lên bàn. Đoạn, anh khui chai rượu chát và cho mời má anh lên. Khi bà ngồi rồi, Traian bèn rót hai ly rượu đầy, lấy trong cái hộp đựng sách mạ vàng, hai bổn đóng bìa toàn da, và nói:

- Đây là tác phẩm chót của con. Quyển tiểu thuyết thứ tám. Hai bổn này là bổn in riêng trước tiên, và cũng như thường lệ, xin để dành kính tặng cha mẹ. Và chúng ta uống rượu này khao mừng nó, cũng một thứ rượu chát hiệu “Capsa” mình đã từng uống mỗi khi xuất bản bảy quyển tiểu thuyết trước. Ba má còn nhớ nỗi vui của con khi quyển thứ nhứt chào đời chăng?

Mục sư đỡ lấy quyển sách trên tay con, trịnh trọng như cầm cuốn kinh thánh trên bàn thờ. Bà mẹ nhón tay cầm quyển sách để dựa bàn, nói:

- Tay má dính dầu mỡ, má không muốn làm dơ sách của con.

Traian day qua Damian nói:

- Bổn thứ ba về phần anh.

Mục sư hôn trán con. Damian siết tay chàng. Bà mẹ hôn con nơi má rồi kề tai nói, nhưng rất to cốt để mọi người nghe:

- Má chưa đọc hết mấy quyển kia, con đừng phiền! Ba con có thuật lại cho má nghe hết rồi, nhưng quyển này má muốn tự má đọc. Má không muốn khi chết rồi mà chưa có đọc trọn quyển sách nào của con viết!

Traian cảm động, cụng ly với mọi người. Bà mẹ xin kiếu, để xuống bếp. Traian bèn nói:

- Má ở đây một chút nữa. Con về đây còn một chuyện khác cũng quan trọng như vậy.

Chàng bèn móc túi lấy một bao thơ, đưa cho cha và nói:

- Đây là tiền tác quyền cuốn sách của con, xuất bản kỳ thứ nhứt. Con muốn mua một miếng đất tại làng Fântâna mình để cất nhà ở. Gần ba má càng tốt. Con sẽ ở suốt đời con.

Mục sư tươi cười lấy bao thơ để trên bàn. Bà mẹ vén vạt áo lau khóe mắt, nói:

- Má chắc con nói cho vui lòng ba má thôi. Con có bao giờ ở đây được quá ba ngày đâu. Lần nào con cũng tính ở cả tháng, mà mới hai ba ngày thì lại đi! Có khi bặt hằng mấy tháng không thấy con về.

- Thưa phải, nhưng bây giờ, con cất nhà mà!

Traian ngó cha và bạn. Chàng thấy hai người đều lộ vẻ ngạc nhiên, cho điều dự tính của chàng là một việc khác thường, bèn nói:

- Ai cũng không tin tôi có thể thực hiện được chuyện ấy. Nhưng trong hai năm nữa, cũng ngày này, nếu tôi còn sống, tôi sẽ mời tất cả đến nhà mới của tôi tại Fântâna. Chừng đó mới tin tôi được. Hiện giờ tôi không nói thêm gì nữa.

(15)

Ăn tối xong, mục sư hỏi con dự tính trước tác gì thêm. Traian ngập ngừng trả lời:

- Nội dung quyển tiểu thuyết tương lai của con sẽ là một chuyện thật. Phần văn chương của nó chỉ thuộc về phần kỹ thuật mà thôi. Các vai trong truyện của con có thật trong đời sống thực tế. Độc giả xem sách đều có thể gặp họ và chào hỏi họ ngoài đường. Con còn nghĩ muốn biên vào sách cả địa chỉ và số điện thoại của họ nữa.

Mục sư cười hỏi:

- Họ là những nhân vật nào mà con muốn làm quảng cáo như thế vậy?

- Họ là những người sống trên mặt đất! Cũng như Homère, con không thể đem cả chục triệu người ra viết truyện, nên con chỉ lựa lối mười người thôi. Không cần nhiều. Nhưng họ sẽ sống một cuộc đời như tất cả kẻ khác.

Ông biện lý hỏi:

- Có phải các nhân vật của anh sẽ được chọn theo một tiêu chuẩn khoa học, để trình bày nhân loại đúng với bản tính họ không?

- Không. Các vai truyện, tôi sẽ ngẫu nhiên chọn, không cần tiêu chuẩn khoa học. Việc gì xảy ra cho họ có thể xảy ra cho người khác, xê xích chút đỉnh thôi. Đó là những biến cố không một ai thoát khỏi. Tôi không cần lựa người phi thường, chỉ chọn đại trong số hai triệu người, những ai mà tôi biết nhiều hơn. Một gia đình chẳng hạn, gia quyến tôi đây: ba má tôi, tôi và anh, người ở của ba tôi, vài người bạn và ít người láng giềng.

Mục sư mỉm cười và rót rượu. Traian nói:

- Tôi sẽ chép truyện của từng người một trong những năm sắp tới. Chắc có nhiều chuyện lạ kỳ. Tương lai dành cho mỗi chúng ta nhiều sự bi đát mà không sử sách nào nói đến.

Ông biện lý nói:

- Nếu tương lai quả đáng kinh khủng như anh nghĩ, thì tôi ước mong nó chỉ là ở trong truyện của anh mà thôi!

Traian đáp:

- Chừng biến cố bi thảm xảy ra trong đời rồi, tôi mới viết vào truyện sau.

Ông biện lý hỏi:

- Vậy thì tôi cũng sống những giờ phút kinh khủng nữa sao? Anh biết rằng tôi có một cuộc đời trưởng giả, không ai chú ý đến. Đời tôi trái hẳn với đời một người mạo hiểm phiêu lưu mà!

- Anh Damian à! Phần đông những người sống trên trái đất này đều không phải là người mạo hiểm, nhưng họ phải trải qua những hoàn cảnh mạo hiểm mà chẳng một tác giả quyển truyện nào tưởng tượng được.

Ông biện lý mỉm cười hỏi:

- Và chuyện gì dữ dội sẽ xảy ra mà kích động như thế?

- Thôi đừng mỉa mai nữa, anh à! Tôi cảm thấy vừa có một biến cố nghiêm trọng xảy ra chung quanh ta. Tôi không rõ nơi đâu, chừng nào và bao lâu mới dứt. Nhưng tôi cảm thấy nó có. Và chúng ta sẽ bị lôi cuốn trong trận giông tố nhiễu loạn làm nát thịt, tan xương, hết người này đến người khác. Tôi linh cảm biến cố ấy như lúc một chiếc tàu sắp đắm chìm mà chỉ có đàn chuột thoát được thôi, khi chúng vụt chạy tứ tung; có khác một điều là tôi không biết trốn vào đâu? Trên thế giới này không có nơi nào cho chúng ta ẩn trốn được.

- Anh muốn ám chỉ biến cố nào vậy?

- Nếu anh muốn, anh có thể gọi là một cuộc cách mạng. Một cuộc cách mạng khổng lồ phi thường. Và tất cả con người đều là nạn nhân.

Vẫn chưa tin lời nói của Traian là thực, ông biện lý hỏi:

- Vậy chừng nào nó xảy ra?

- Cuộc cách mạng đã bùng nổ rồi bạn ạ! Dầu bạn có mỉa mai nghi ngờ, thì nó cũng đã khởi mào rồi. Ba tôi, má tôi, anh, tôi và mấy người khác sẽ lần lượt nhận ra nguy tai và nên rán tìm cách tự cứu, ẩn trốn đi. Có người đã khởi sự lẩn trú, như thú rừng chạy tìm chỗ ẩn khi biết cơn giông bão sắp đến. Phần tôi, tôi muốn rút về làng. Phe cộng sản cho rằng phe độc tài chịu trách nhiệm, và mối nguy tai chỉ có thể tránh được khi nào tiêu diệt hết bọn độc tài. Nhóm quốc xã muốn cứu lấy mình, phải giết dân Do Thái. Nhưng đây mới chỉ là triệu chứng của nỗi lo âu của con người trước hiểm họa. Hiểm họa, tuy nhiên, thì ở đâu cũng vậy. Chỉ có sức phản ứng của loài người trước nguy cơ là khác nhau thôi.

- Hiểm họa to tát nào hăm dọa chúng ta vậy anh?

- Tên nô lệ kỹ thuật (điện lực)! Anh cũng biết nó rồi. Tên “nô lệ kỹ thuật” là tay sai đắc lực, mỗi ngày giúp ta muôn ngàn việc mà ta phải cần đến luôn, không thể thiếu được. Nó đẩy xe hơi ta chạy, cho ta ánh sáng, đem nước ta tắm giặt, đấm bóp ta, thuật chuyện vui cho ta nghe khi ta vặn nút máy phát thanh, nó phóng đường, dời núi...

- Tôi nghĩ đây là một lối ẩn dụ ngữ nên thơ thôi!

- Đây không phải là ẩn dụ ngữ, anh à! Tên “nô lệ kỹ thuật” là thật sự. Sự hiện có của nó không chối cãi được.

- Tôi không phủ nhận sự hiện có của nó. Nhưng tại sao anh gọi nó là tên “nô lệ kỹ thuật” trong khi nó chỉ là một sức mạnh cơ giới thôi.

- Người nô lệ thời cổ, người “nô lệ nhân lực”, bạn của tên “nô lệ kỹ thuật”, bị người La Mã và Hy Lạp xem như một sức mạnh mù quáng, một động vật vô giác. Họ cũng bị bán, bị mua, bị biếu làm quà, và bị giết chết được. Họ chỉ được đánh giá theo sức mạnh của bắp thịt, và khả năng làm việc thôi. Cũng giống với một thứ tiêu chuẩn giá trị mà ta dùng ngay nay cho tên “nô lệ kỹ thuật”.

- Khác xa lắm chớ! Ta không thay thế một người nô lệ nhân lực bằng một tên nô lệ kỹ thuật.

- Sao lại không! Đúng là ta làm được chuyện ấy! Và tên nô lệ kỹ thuật lại tỏ ra ngăn nắp và ít tốn kém hơn người nô lệ nhân lực. Trước tiên, nó khởi sự thay thế rất mau chóng công việc làm của người nô lệ nhân lực. Tàu thủy thay thế thuyền chèo. Ngày nay tàu chạy bằng sức mạnh của các tên nô lệ kỹ thuật chớ đâu có do người nô lệ chèo chống nữa. Tối đến, nếu người giàu có mướn đày tớ cho thêm sang trọng, thì cũng không cần vỗ tay để thấy tên đày tớ cầm đèn sáp bưng lên, như thuở xưa ở La Mã hay ở Athènes, mà chỉ vặn nút là tên “nô lệ kỹ thuật” thắp đèn sáng trong căn phòng. Tên “nô lệ kỹ thuật” sưởi ấm nhà, nấu nước tắm, mở cửa sổ, tạo nên gió lùa cho có thoáng khí. Nó còn tiện lợi gấp mấy lần bạn đồng nghiệp nô lệ nhân lực của nó. Dễ sai, dễ biểu, không biết nghe ngóng, không dòm ngó gì. Tên nô lệ kỹ thuật chỉ có mặt khi ta cần đến nó thôi. Nó đem thơ tình của bạn trong nháy mắt, và cho đến tiếng nói của người yêu, bạn cũng nghe từ chỗ tận xa. Những tên nô lệ kỹ thuật thật là những đày tớ hoàn toàn. Nó cày ruộng, đánh giặc, làm cảnh sát, làm việc hành chánh. Nó học tất cả ngành hoạt động của người và thi hành toàn mỹ. Nó làm toán trong phòng văn, chải gỡ, hát múa, bay trên không, lặn dưới nước. Nó cũng trở thành viên hành hình kẻ tử tội. Trong nhà thương, nó chữa lành bịnh nhân cạnh bác sĩ, và nơi thánh đường, nó cũng giúp mục sư cử hành lễ mi-xa.

Traian ngừng một chặp, nhắp chút rượu. Ngoài trời mưa vẫn đều đều rơi.

Chàng nói tiếp:

- Tôi xin kết thúc nghị luận lạc đề này. Phần tôi, tôi xin thú thật lúc nào cũng thấy còn ở trong toàn thể xã hội, mặc dầu bề ngoài tôi chỉ ở một mình. Tôi vẫn có chung quanh tôi những tên “nô lệ kỹ thuật” luôn luôn sẵn sàng phụng sự và giúp đỡ tôi. Nó đốt thuốc tôi hút, thuật cho tôi nghe tin tức thế giới, soi sáng đường tôi đi ban đêm. Đời tôi theo nhịp cử động của chúng nó. Chúng nó làm bạn đồng hành với tôi hơn tất cả mấy người bạn khác. Tôi có thể hy sinh cho chúng nó. Vì thế nên tôi không ở lâu tại làng Fântâna này như má tôi vừa trách móc. Mấy tên nô lệ kỹ thuật của tôi còn chờ tôi ở Bucarest. Chúng ta ngày nay giàu hơn các bạn đồng nghiệp chúng ta hồi hai ngàn năm trước. Hồi đó, họ chỉ có vài chục tên nô lệ. Chúng ta lại có cả trăm, cả ngàn. Và hiện giờ, tôi xin hỏi: “Ước được bao nhiêu tên nô lệ kỹ thuật đang hoạt động trên trái đất này? Ít nhứt cũng vài chục tỷ. Và có bao nhiêu người?”.

Ông biện lý đáp:

- Hai tỷ người ta.

- “Đúng vậy! Con số đông hơn của các nô lệ kỹ thuật trên mặt đất thật vô cùng to tát. Nếu kể đến việc những tên nô lệ kỹ thuật nắm các then chốt tổ chức trật tự xã hội ngày nay, thì nguy cơ thật rõ rệt. Nói theo thuật ngữ quân sự, các tên nô lệ kỹ thuật nắm trong tay các yếu điểm dụng binh trong xã hội: binh bị, giao thông, lương thực và kỹ nghệ, đó là chỉ kể sơ mấy điểm quan trọng. Các tên nô lệ kỹ thuật hợp thành một giai cấp vô sản, nếu ta hiểu theo nghĩa đen chữ này, ‘giai cấp vô sản’ là một nhóm trong xã hội ở một giai đoạn lịch sử, nhóm đó không được nhập chung với xã hội. Vận mạng các tên nô lệ kỹ thuật ở trong tay của loài người.

Tôi không viết một quyển tiểu thuyết kỳ dị, nên vì thế, tôi không diễn tả, một ngày kia, khi các tên nô lệ kỹ thuật nổi dậy bắt nhốt loài người vào trại giam như thế nào, thủ tiêu họ trên đoạn đầu đài hoặc trên ghế điện ra làm sao.

Những hành động cách mạng bạo tợn ấy là việc làm của loài người, của các tên nô lệ nhân lực. Tôi chỉ diễn tả những chuyện có thật. Và trong thực tế, ‘giai cấp’ nô lệ kỹ thuật ấy làm cách mạng mà không dùng đến chướng ngại vật như các đồng chí nô lệ nhân lực của chúng nó. Trong xã hội hiện tại, các tên nô lệ kỹ thuật chiếm phần đại đa số; việc này thấy rõ ràng. Trong khuôn khổ của xã hội loài người, chúng nó lại hành động theo kỷ cương cố hữu của chúng, khác hẳn với pháp luật đặc biệt của chúng: tự động tính, trạng thái nhứt trí, và vô danh.

Một xã hội có đến vài chục tỷ tên nô lệ kỹ thuật nhưng chỉ có độ hai tỷ người (dẫu rằng loài người cai trị xã hội ấy đi nữa), tất nhiên xã hội ấy sẽ có tính cách một đại đa số ‘giai cấp vô sản’.

Hồi thời đại dân Romains xưa, người nô lệ nhân lực biết nói năng, cầu khẩn và sống theo tục lệ của họ. Họ là dân xứ Hy Lạp, xứ Thrace hoặc của các xứ bị chiếm khác bị bắt đem về La Mã. Các nô lệ kỹ thuật của xã hội chúng ta ngày nay cũng giữ bản tính đặc biệt của chúng và sống theo kỷ cương tổ chức của chúng. Bản tính ấy, hay nếu anh muốn, sự thật ấy, hiện có trong khuôn khổ xã hội chúng ta. Ảnh hưởng của chúng càng lúc càng rõ rệt. Con người muốn cho chúng phụng sự mình, bắt buộc phải biết và bắt chước những thói thường và luật tắc của chúng. Mỗi chủ nhân đều cần phải biết chút ít ngôn ngữ và phong tục của người giúp việc mình để dễ điều khiển họ. Hầu hết luôn luôn như vậy. Khi kẻ chiếm cứ thuộc nhóm thiểu số, thì phải học tiếng nói và theo tục lệ của dân tộc bị chiếm, để được thuận tiện, hoặc vì lợi ích thiết thực. Họ làm đúng vì họ là kẻ chiếm cứ và là chủ nhân quyền thế.

Lối quá trình diễn tiến ấy cứ bành trướng mãi trong khuôn khổ xã hội ta, mặc dầu ta không chịu nhìn nhận. Ta học lề lối và cách nói năng của người nô lệ ta, để điều khiển được chu đáo. Và như thế, lần lần, ta rời bỏ bản tính con người và luật lệ của ta mà ta không để ý đến. Ta tự bỏ nhân bản mình để chịu theo lề lối đời sống của mấy tên nô lệ kỹ thuật của chúng ta. Triệu chứng đầu tiên của sự giảm hạ nhân bản ấy, là sự khinh rẻ con người. Người văn minh ngày nay biết rằng mình và đồng loại là những phần tử có thể thay thế dễ dàng. Xã hội hiện đại đã liệu tính một người phải dùng đến một vài chục tên nô lệ kỹ thuật tất phải tổ chức và điều hành theo luật tắc kỹ thuật. Đó là một xã hội thành lập tùy theo nhu cầu cơ giới, chớ không phải tùy theo nhu cầu nhân sinh. Và đến đây là khởi đầu tấn bi kịch.

Loài người bắt buộc phải sống và cư xử theo luật tắc kỹ thuật, khác hẳn với luật pháp nhân loại. Khi luật của cơ giới đã được cất nhắc lên luật xã hội, ai mà không theo sẽ bị trừng phạt. Con người sống theo tính cách thiểu số, thì với thời gian, sẽ thành một thiểu số giai cấp. Họ sẽ bị loại ra ngoài xã hội của họ, cái xã hội mà từ rày về sau họ không thể gia nhập, nếu không chịu rời bỏ địa vị con người của họ. Do đó nảy sinh nơi họ một mặc cảm tự ty, họ muốn bắt chước kỹ thuật cơ khí và bỏ rơi đặc tính nhân bản của mình, để đừng bị cách biệt khỏi mấy nơi trung tâm hoạt động xã hội.

Và cuộc tách lìa lần hồi ấy thay đổi tâm tính con người, khiến họ quên luôn tình cảm, xã giao: con người tiết giảm đến thành quả quyết, chính xác và tự động như các bộ phận ăn khớp nhau trong một cái máy. Nhịp đà và ngôn ngữ của các tên nô lệ kỹ thuật được bắt chước trong giới xã giao, hành chánh, hội họa, văn chương, khiêu vũ. Con người biến thành con kéc của mấy tên nô lệ kỹ thuật. Nhưng đến đây mới là khởi đầu thảm kịch mà thôi. Ấy là lúc khởi sự quyển tiểu thuyết của tôi, nghĩa là đời sống của ba tôi, của má tôi, của anh, của tôi, và của mấy nhân vật khác”.

Ông biện lý vẫn hỏi một cách ngạo nghễ:

- Nghĩa là chúng ta trở thành “người máy” hết?

- Chính vì đó mà bi kịch xảy ra. Ta không thể biến thành máy móc được. Cuộc đụng chạm giữa hai thực thể, máy và người, nổ bùng; các tên nô lệ kỹ thuật thắng trận. Chúng nó sẽ tự giải phóng và trở thành “công dân kỹ thuật” của xã hội chúng ta.

Và chúng ta là loài người, chúng ta sẽ trở thành giai cấp “vô sản” của một xã hội, tổ chức theo nhu cầu và văn hóa đại đa số công dân, nghĩa là của “công dân kỹ thuật”.

Ông biện lý hỏi:

- Theo thực tiễn, cuộc đụng chạm sẽ như thế nào?

- Tôi cũng tò mò muốn biết. Song, đồng thời tôi sợ. Tôi muốn thà chết trước, hơn là phải chứng kiến bị hành hình trên thập tự giá, tôi và các đồng bào tôi.

- Anh nghĩ đến những chuyện chắc chắn có thiệt à?

- Tất cả những biến cố đã xảy ra trên mặt đất và sẽ xảy ra trong những năm sắp tới, đều chỉ là triệu chứng và biến tượng của cùng một cuộc cách mạng, cuộc cách mạng của các tên “nô lệ kỹ thuật”. Kết cuộc, con người không thể sống thành xã hội được, khi còn giữ đặc tính nhân bản của mình. Họ sẽ được xem ngang hàng nhau, y nhau, và được đối xử theo một thứ luật pháp đã áp dụng cho các tên nô lệ kỹ thuật, không chút nhân nhượng nào hợp với tính chất con người nữa. Sẽ có những cuộc bắt bớ tự động, những cuộc giải trí tự động, những cuộc xử tội và hành quyết tự động. Con người chẳng còn quyền cá nhân được sống, sẽ bị coi như một bộ phận trong máy móc và sẽ bị chế giễu nếu họ muốn sống riêng biệt cá nhân. Anh có thấy một bộ phận của máy móc cử động riêng rẽ được không? Cuộc cách mạng ấy sẽ thực hiện tràn khắp thế giới. Ta không còn trốn tránh đâu được, trong rừng sâu hay trên hoang đảo. Không chỗ nào được hết. Chẳng một nước nào có thể bảo vệ ta. Tất cả những đạo binh trên thế giới đều gồm những binh sĩ đánh giặc mướn, chỉ chiến đấu để củng cố cái xã hội cơ giới, mà nơi xã hội ấy con người cá nhân bị loại trừ. Hồi xưa đến giờ, quân binh đánh nhau để chinh phục thêm đất đai tài sản, đánh nhau vì vinh dự tổ quốc, vì quyền lợi riêng tư của vua chúa, không ngoài cứu cánh xâm lược hay chiếm thế lực. Đó là mục đích của loài người. Ngày nay thì quân binh đánh giặc để giữ quyền lợi cho một xã hội mà họ chỉ có vừa đủ quyền sinh sống, họ như những người của giai cấp vô sản thuở xưa. Có thể đây là một thời kỳ lịch sử đen tối nhứt của loài người. Chưa bao giờ con người bị khinh khi đến thế. Như trong những xã hội dã man, một người bị đánh giá rẻ hơn một con ngựa. Chuyện ấy ngày nay còn thấy nơi vài giống dân hoặc nơi vài cá nhân. Có phải anh mới thuật cho tôi nghe một nông dân vừa giết vợ mà không chút hối hận, lại muốn tự tử vì nghĩ đến chuyện không ai cho ngựa anh ta ăn uống, trong lúc anh ta ngồi tù chăng? Cách làm giảm giá trị con người trong xã hội thời cổ là như thế: dùng con người làm vật hy sinh cúng tế là việc thông thường. Trong xã hội hiện đại, việc hy sinh người lại còn không đáng nhắc đến, vì nó quá ư tầm thường. Mạng người chỉ có giá trị khi dùng làm nguồn năng lực. Các tiêu chuẩn giá trị đều toàn tính theo khoa học. Đó là luật của nền kỹ thuật man rợ đen tối của chúng ta. Chúng ta sẽ đi đến tình trạng ấy khi các tên nô lệ kỹ thuật toàn thắng.

- Vậy cuộc cách mạng mà anh tiên đoán đó chừng nào sẽ xảy ra?

- Nó đã xảy ra rồi anh ạ! Chúng ta sẽ tham gia vào sự bành trướng của nó. Phần đông chúng ta sẽ không sống sót được. Tôi rất sợ không bao giờ viết xong quyển sách này được, bởi vì tôi cũng chết mất nữa.

- Anh thật bi quan quá sức!

- Tôi là một thi sĩ. Tôi có một giác quan mà người thường không có, và nhờ đó tôi thấy được tương lai. Thi sĩ là một nhà tiên tri. Tôi rất buồn mà thấy tôi là người đầu tiên đã nói ra trước nhứt một chuyện não lòng như thế, song sứ mạng thi sĩ của tôi bắt buộc tôi phải nói. Tôi phải kêu la lớn lên để có tiếng vang khắp chốn, dầu là chuyện không vui tai chút nào.

- Anh tin chắc chuyện anh là thật chớ?

- Khổ thay, tôi tin chắc lắm!

- Tôi chỉ tưởng là anh viết văn thôi.

- Không phải văn chương suông đâu. Mỗi đêm tôi đều chờ việc gì xảy đến cho tôi.

- Việc gì mới được chớ?

- Bất cứ việc gì. Khi mà con người bị hạ xuống tới mức một khả năng kỹ thuật xã hội, thì chuyện gì lại không thể xảy ra cho họ được. Họ có thể bị bắt, bị đày khổ sai, bị diệt chủng, hay bị bắt buộc làm một chuyện gì, nào ai biết được, hoặc làm việc để cải thiện giống nòi, hay cho một mục đích nào khác, ích lợi cho xã hội kỹ thuật, mà không chút mảy may tôn trọng phẩm cách cá nhân họ. Xã hội kỹ thuật chỉ làm việc theo luật pháp kỹ thuật, chỉ thi hành theo các kế hoạch, và chỉ có một tinh thần là: sự sản xuất.

- Có thể chúng ta bị bắt chăng?

Ông biện lý không còn mỉa mai nữa, và có vẻ lo sợ, hỏi Traian như hỏi một ông thầy bói về tương lai mình, mặc dầu trong thâm tâm ông không tin tưởng.

Traian đáp:

- Sẽ không có ai được sống yên tự do trên toàn cầu này.

- Ta chết trong ngục tối, dẫu không có tội nữa sao?

- Không! Con người sẽ bị lôi cuốn vào xã hội kỹ thuật trong nhiều năm dài đằng đẵng. Họ sẽ không bị chết trong xiềng xích tù đày. Xã hội kỹ thuật có thể tạo đủ tiện nghi, nhưng không phát sinh được tâm hồn trí óc. Mà không trí óc thì không có thiên tài. Một xã hội không có thiên tài sẽ đi lần đến chỗ diệt vong. Xã hội kỹ thuật đã chiếm địa vị của xã hội Tây phương và sắp chiếm cả hoàn vũ, cũng sẽ bị tiêu diệt nữa. Ông Albert Einstein trứ danh quả quyết rằng: “Chỉ gián đoạn chừng hai thế hệ những hạng trí não đại tài chuyên môn vật lý học, thì tất cả các cơ sở kiến tạo theo khoa học ấy đều sụp đổ”. Sau cuộc sụp đổ của xã hội kỹ thuật sẽ nối tiếp cuộc tái sinh những giá trị nhân bản và tinh thần. Ánh sáng vĩ đại sẽ soi từ phương Đông, từ Á châu. Không phải từ nước Nga. Dân Nga còn quỳ lụy dưới ánh sáng điện lực của Tây phương và không sống sót được. Người Á châu sẽ thâu phục xã hội kỹ thuật và dùng ánh sáng điện lực để soi đường sá, nhà cửa. Họ sẽ không trở thành nô lệ nó và không lập đền thờ nó, như ở xã hội kỹ thuật Tây phương này đã làm một cách man rợ. Họ không soi sáng đường lối của trí óc và tâm não bằng ánh điện nê-ông. Người Đông phương sẽ làm chủ các máy móc của xã hội kỹ thuật bằng trí khôn, như một nhạc sư điều khiển dàn nhạc do thiên tài âm điệu. Nhưng ta không thể biết thời đại đó. Ta đang sống một thời đại mà con người quỳ lụy dưới mặt trời điện khí như một dân dã man.

- Ta sẽ chết chùm với nhau sao?

- Mỗi người của chúng ta đều bị giết hại trong guồng máy kỹ thuật. Quyển sách của tôi sẽ là quyển nói về giai đoạn kết luận ấy.

- Anh cho nhan đề gì?

- Giờ thứ hai mươi lăm. Giờ mà mọi cứu cấp đều vô ích. Dầu cho Chúa Cứu Thế ra đời cũng không giải quyết được. Không phải giờ chót: ấy là giờ kế sau giờ chót. Thời giờ chính xác của xã hội Tây phương. Ấy là giờ hiện tại. Giờ thật đúng.

(16)

Mục sư ngồi im, đầu vùi trong hai bàn tay.

Damian nói:

- Thưa Cha, nếu lời tiên tri của Traian thành sự thật, và con người rồi đến phải bị đối xử như nô lệ, thì Giáo hội không làm gì được cho xã hội hiện tại sao? Nếu Giáo hội không cứu nổi nhân loại trong giờ phút nghiêm trọng ấy, thì sứ mạng của Giáo hội còn được những gì?

Mục sư Koruga suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Giáo hội không cứu nổi xã hội, nhưng có thể an toàn sinh mạng cá nhân của con người hợp thành xã hội.

- Và Cha có tin lời tiên đoán của Traian chăng?

- Tôi thường hay tin tưởng các thi sĩ. Và, theo tôi, Traian là một đại thi sĩ.

Traian đỏ mặt, vui mừng như một đứa trẻ, nói:

- Cám ơn ba.

Mọi người đều im lặng. Traian nói:

- Hình như có ai đi trên bao-lơn.

Ba người lóng tai nghe. Bên ngoài chỉ có tiếng mưa rơi. Mục sư nói:

- Nếu có ai vô trong sân, ắt chó sủa. Chỉ có Moritz là người thân tín của tôi vô nhà thì chó mới không sủa thôi. Nhưng giờ này, chắc anh đã ngủ ngon trên tàu đi sang Mỹ quốc rồi!

Traian nói:

- Tôi chắc chắn nghe tiếng người leo lên bực thang. Tôi thính tai lắm và nghe tiếng động rõ ràng.

Ông biện lý mỉm cười, nói đùa:

- Chắc có tên nô lệ kỹ thuật nào vừa mới thoát khỏi xe hơi anh. Hay cách mạng đã bùng nổ, và chúng nó đến bắt giam chúng ta ngay đêm nay chớ gì? Anh có bao nhiêu tên nô lệ kỹ thuật trong chiếc xe hơi anh?

- Anh cứ tính: 55 mã lực, mà một mã lực là sánh với bảy người.

- Con số của vài trung đội. Còn chúng ta chỉ có ba người. Nếu chúng nó tấn công, chắc ta phải đầu hàng vô điều kiện.

- Không có sự đồng lõa của một người thì những tên nô lệ kỹ thuật không làm gì người được. Nếu có một công dân đồng lõa, mà công dân ấy không phải người, thì các tên nô lệ kỹ thuật trở thành quái vật của Apocalypse thời cổ.

- Anh nói công dân nào? Chúng ta đều là công dân đây?

- Công dân là một người chỉ sống trong khuôn khổ xã hội của cuộc đời. Như nòng ống thụt của một cái máy, nó chỉ làm có một cử động, và cứ lặp lại cử động ấy mãi mãi. Nhưng khác với nòng ống thụt, một công dân có ước vọng thiết lập hoạt động của mình thành một biểu hiện, để làm gương mẫu trong khắp thế giới, và để cho mọi người bắt chước. Công dân là một con thú nguy hiểm nhứt, sinh ra trên địa cầu, từ lúc người và các tên nô lệ kỹ thuật gặp nhau. Nó có tính tàn bạo của người và của thú, với tính lãnh đạm của máy móc. Người Nga đã phát sinh ra một kiểu mẫu công dân hoàn toàn: người ủy viên.

Hai tiếng gõ cửa nhẹ dội lên. Traian nói:

- Tôi đã nói tôi nghe rõ mà! Thính giác của một thi sĩ không khi nào sai lầm.

(17)

Mục sư ra ngoài bao-lơn, để cửa mở. Ông trở vào dẫn theo sau một thanh niên. Người này mặc áo sơ-mi, quần dài, đầu trần và ướt dầm.

Mục sư giới thiệu: “Đây là anh Iohann Moritz”.

Ông đưa cho anh một ly rượu và mời anh ngồi. Moritz từ chối, và đứng dựa cửa. Anh sợ ướt tấm thảm và cái ghế. Từ trên tóc anh, nước mưa chảy xuống có giọt, đủ biết anh đã đi lâu dưới trời mưa.

Mục sư hỏi:

- Anh muốn nói chuyện một mình với tôi à?

- Tôi có thể nói ở đây được chăng?

Mục sư nói:

- Tôi rất tiếc, hồi mơi này anh không tới lấy bao đồ tôi tặng anh.

- Tôi không đi Mỹ nữa.

Moritz ngó hai người thanh niên, rồi day qua mục sư và hỏi:

- Hôm qua Cha cho phép tôi ngủ ở phòng gần nhà bếp phải chăng?

Mục sư bây giờ mới hiểu tại sao Moritz đến gõ cửa nhà ông trong đêm tối như vậy. Ông đáp:

- Phòng đó là của anh. Anh cứ đến ở lúc nào cũng được, tùy ý.

Moritz hỏi:

- Nếu có ai khác đến ngủ đêm nay, Cha cho không?

- Sao lại không. Nếu người ấy cần dùng, mà anh muốn giúp đỡ, thì anh làm một chuyện phải.

- Chính Suzanna, con gái của Iordan. Nàng trốn nhà vì cha nàng muốn giết nàng.

Moritz nhớ đến mấy người làng đều từ chối, không cho anh ở trọ khi nghe đến tên người con gái. Anh ngó ngay mục sư. Mục sư vẫn điềm tĩnh đáp:

- Nếu trong phòng có lạnh, anh nhúm lửa lên. Anh biết chỗ để củi chớ?

Moritz đứng ngần ngại dựa cửa. Trước khi ra đi, anh thuật lại, như xưng tội, chuyện đã xảy ra. Khi anh thuật dứt chuyện và nói Suzanna đang còn ở giữa đồng, nửa đường từ làng Fântâna ra tỉnh, thì Traian liền đứng dậy, khoác áo choàng, ra xe, chở Moritz đi.

Nửa giờ sau, xe trở về, đậu y chỗ cũ. Moritz đỡ Suzanna trên tay. Ông biện lý đứng trên bao-lơn ngó xuống, thấy bà mục sư đi kề bên trái Moritz, ông mục sư, bên mặt. Người con gái nằm trên tay Moritz như đứa trẻ đang ngủ, áo xanh ướt đẫm, dính sát vào mình. Traian vô phòng khách. Ông biện lý đi theo sau, nói:

- Anh ướt hết rồi!

Traian đỏ mặt, nhìn giày dính đầy bùn, quần áo ướt dầm, nước nhểu có giọt xuống gạch. Chàng làm ướt mình vô ích, vì Moritz đã một mình bồng Suzanna lên xe. Chàng khỏi cần giúp tay vào, thế mà chàng cứ đứng ngoài mưa, gần kề anh. Traian suy nghĩ về hành động của mình và tự nói, nếu từ rày về sau, có xảy ra trường hợp y như thế, chàng cũng sẽ làm như vậy. “Ấy là sự cần thiết chia sẻ nỗi đau thương với người bên cạnh mình, dẫu sự giúp đỡ không có giá trị thực tiễn, hay dẫu làm giùm không công cũng vậy”.

Mục sư vô phòng, ông cũng ướt hết, nước chảy từ trên trán, trên má, trên râu ông. Ông cũng đi theo Moritz, dưới trời mưa. Như con ông, ông không cần giúp tay vào.

Traian lại nghĩ: “Thượng Đế cũng hành động vô ích như thế, khi tạo lập vũ trụ. Thượng Đế sáng lập nhiều vật không lợi ích thật tiễn, nhưng đó là những công trình tuyệt mỹ. Đời người là một sáng tạo vô ích. Cũng vô ích và vô lý như hành động của ta và cha bây giờ. Song le, sự nhiệt tâm rất cao quý. Dẫu là vô ích, nhưng nhiệt tâm ấy không có gì so sánh nổi!”.

Mục sư nói:

- Coi chừng con lạnh, Traian à!

- Con không lạnh. Người bịnh ra sao?

- Nàng đang cơn sốt. Má con đã làm cho nàng một tách nước trà nóng rồi. Con sẽ được ban phước về cử chỉ của con đã chở nàng về. Người nghèo cần được giúp đỡ.

Đồng hồ gõ mười hai giờ khuya.

(18)

Moritz gõ cửa. Anh không chờ đến mai sáng để cám ơn mục sư và Traian. Trong những chuyện tai họa dồn dập cho anh từ 24 giờ qua, anh chỉ nhớ có lòng nhân từ của mục sư mà thôi. Anh mang ơn ông rất nặng. Anh thỏa lòng được thấy Suzanna có chỗ yên thân, nếu không thì sẽ nguy hại đến bực nào! Traian ngó chăm chỉ Moritz, ngắt ngang lời anh, nói với mục sư:

- Thưa ba, chừng nào con có về đây, con sẽ ở nhà ba. Tiền con gởi ba cất giùm đó, ba cho Moritz đi, để anh cất một cái nhà nhỏ tại làng Fântâna. Anh còn cần hơn con nhiều.

Mục sư lấy bao thơ đưa cho Moritz một cách tự nhiên, cử chỉ giản dị như tất cả mọi cử chỉ cao thượng khác. Ông không khuyên bảo gì thêm, chỉ đưa bao thơ cho Moritz mà thôi. Moritz mở bao thơ ra. Anh không biết mình có nghe lầm hay không? Khi thấy xấp giấy bạc, mắt anh mở to, thật to như mắt người thấy những hiện tượng phép màu kỳ lạ. Anh không thốt nên lời. Lòng anh không còn chỗ nào xen lời nói vô được. Anh nắm chặt bao thơ trong tay, đứng im lặng.

Sau một lát, mục sư nói:

- Anh cám ơn Traian đi, rồi về ngủ. Đưa tiền cho Suzanna cất. Đàn bà biết giữ tiền bạc hơn đàn ông.

Ông biện lý nói:

- Chắc anh Moritz còn muốn uống một ly rượu mừng, bây giờ anh đã là một điền chủ tại làng Fântâna rồi!

Bà mục sư bước vô phòng. Moritz để ly trên bàn và ngó bà trân trối. Bà cho hay Suzanna đỡ nhiều. Đoạn bà kéo mục sư riêng ra, và nói nhỏ vào tai. Ông già cau mày, rồi mỉm cười. Moritz ngó theo từng cử chỉ của ông. Ông lên tiếng:

- Anh vững lòng, đừng lo sợ, không phải một tin xấu đâu. Vợ tôi cho hay anh sắp làm cha. Vậy phải lo làm đám cưới trước.

Moritz siết tay từ giã Traian và ông biện lý rồi đi ra. Trời vẫn mưa. Trước khi xuống thềm, anh cất tiền vào áo sơ-mi cho khỏi ướt. Bao thơ ấm áp, và êm tay. Kẹp nó vào mình, Moritz thấy trước mắt nào nhà cửa, hàng rào, giếng nước, vườn cây trái, như lòng anh hằng mơ ước. Khi anh vô phòng, Suzanna còn ngủ. Anh để tiền dưới gối và nằm ngủ trên đống rơm.

Mục sư vừa đi ngang cửa sổ phòng sách vừa huýt sáo, rồi nói với Traian:

- Phải dè ba không nói chuyện đám cưới với nó. Mẹ Suzanna chết rồi. Thây còn để ở nhà xác, còn cha nàng thì ở tù. Thật không phải lúc.

Traian đáp:

- Nhưng hai người chưa biết. Họ tính chuyện tương lai. Họ đã có tình yêu và tiền bạc. Họ sung sướng đấy!

- Chúng nó sung sướng, song thật tình chúng nó phải khóc.

Ông biện lý nói:

- Đúng vậy! Chúng ta đã biết chuyện, nên thấy nỗi vui mừng của họ như một xúc phạm.

- Một khi phân tách cho kỹ lưỡng và đem tường thuật trong đại thể, thì những sự vui mừng nào trên thế giới đều là hành vi xúc phạm cả.

Đồng hồ gõ một giờ. Đêm ấy, ba người ngồi nơi phòng sách của mục sư, lắng tai nghe gõ giờ và trời mưa.

« Lùi
Tiến »