Tại căn gác một nhà ở Phố Hàng Điếu, Hà Nội, các cụ « Bô lão » đang họp hội nghị tối mật để bàn về một câu chuyện quốc gia đại sự. Đó là các « Bô lão » trong làng cách mạng thời bấy giờ : năm 1925.
Trong hàng « Bô lão » ấy người ta đếm được lơ thơ trên đầu mấy ngón tay : Ngô đức Kế ; Dương bá Trạc, Lê Dư, Hoàng tăng Bí… Các cụ đã làm cách mạng, đã bị thất bại, song thực dân không giam cầm hay đầy ra Côn đảo vì không muốn làm náo động nhân tâm ; vả lại các cụ chưa mó tay vào các cuộc biến động nên còn được tương đối tự do, chỉ bị Mật thám theo dõi đề phòng. Các cụ là những thần tượng của thanh niên ái quốc ; họ coi các cụ như cố vấn lão thành mà họ thường lui tới để thỉnh ý về mọi vấn đề liên hệ đến quốc gia dân tộc. Họ gọi các cụ là những « cụ Bô » tức như đấng bô lão.
Hôm nay các « Bô lão » nhóm họp ở nhà cụ Lê Đại, phố Hàng Điếu, để thảo luận về cái « bí mật Phan bội Châu ».
Tin cụ Phan bội Châu bị bắt từ Thượng Hải đưa về Hà nội lúc ấy là một tin chưa đích xác. Một điều « bán tín bán nghi ». Tin ấy mới do một tờ báo Thượng Hải loan đi, còn báo chí nước nhà thì chưa biết gì. Các nhà cách mạng nhờ anh em đi làm tàu biển mà hay được tin ấy.
Nếu cụ Phan bị bắt thật, thì đã bị đưa vào Hỏa Lò, khám đường ở Hà nội, nơi giam kín nhất và chắc chắn. Vậy mà danh sách các tù nhơn trong Hỏa Lò không hề thấy tên cụ Phan bội Châu. Các đồng chí cũ của cụ ở trong cảnh cá chậu chim lồng, nhưng cũng thường được tin tức từ trong khám đưa ra mỗi khi một người nào bị bắt giam vì quốc sự. Vậy mà sao không có bị can nào mang tên « Phan bội Châu ».
Tin vịt chăng ? Hay là thực dân « thả vịt » để phá tan những hy vọng mà phái thanh niên ái quốc từng đặt vào cụ Phan.
Các cụ « Bô lão » liên lạc với những người tâm phúc làm việc tại Hỏa Lò, hỏi tin tức thì được trả lời : « không có ». Cụ Phan chưa bị bắt chăng ? Tuy nhiên, cũng nhận được một tin từ khám đường đưa ra, đáng chú ý : Có một ông già bị bắt giam, ghi tên là Trần Văn Đức. Ông quắc thước, có bộ râu tốt lắm, hai mắt linh lợi và hình như có vẻ là người Tàu vì bận quần áo Tàu. Lạ sao ? Ngoài phòng giam lại treo cái bảng nhỏ ghi ba chữ « Trần văn Đức » không phải là tên Tàu.
Hơn nữa, trại giam Trần văn Đức lại là trại giam các tội nhân Pháp, các người Âu Châu, người ngoại quốc da trắng. Nếu là một anh « da vàng mũi xệp » thì ít ra cái tên Việt của anh còn phải kèm theo một tên Tây nữa : Trần văn Đức là người Việt dân Tây thì sao không có cái tên « Paul Đức » chẳng hạn. Phòng giam riêng Trần văn Đức là một phòng nhỏ có một giường cá nhân với một bàn nhỏ, tuy không lớn hơn cái « xà lim » của phòng tù nhân « bổn xứ » song đủ tiện nghi hơn. Phòng ấy mang số 13.
Người Việt mà bị giam ở cái « xà lim » Tây này chắc không phải là người thường.
Hay ông Đức là một nhân vật làm việc tòa lãnh sự Pháp ở Thượng Hải bị đưa về nước câu lưu vì can vào một vụ bí mật gì còn đang cứu xét ? Căn cứ vào đâu mà có thể nghĩ rằng ông Đức ấy là nhà cách mạng bôn ba hải ngoại, họ Phan ?
Lúc ấy chân dung cụ Phan bội Châu có được phổ biến như ngày nay đâu. Chẳng mấy ai biết được mặt cụ, ngoài các đồng chí của cụ.
Nhà nào nếu có tấm hình của cụ cũng không dám giữ vì rủi có kẻ nào tố giác thì… « ở tù mọt gông ».
Bởi vậy những người làm việc trong khám có thấy mặt ông Đức cũng không biết là có phải cụ Phan hay không ? Mà muốn lại gần cái « xà lim » Tây mang số 13 ấy để hỏi xem ông Đức là ai, thì phải là câu chuyện « câu trăng đáy nước » không dễ gì đâu. Vì những « xà lim » là những phòng giam cá nhân, đặt trong quy chế « Tối Mật ». Người gác ở đây không phải là người Việt, mà là một người Pháp, mới thật khó. Nhân viên người Việt nào mà lớ vớ lại gần khu « Tối Mật » sẽ bị « bể nồi cơm » như chơi.
Tại bộ tham mưu, các « Bô lão » họp ở nhà cụ Lê Đại, Phố Hàng Điếu, không ai chiếu được tia sáng nào vào cái bí mật ở phòng số 13 ấy : cái « bí mật Phan Bội Châu ».
Cụ Hoàng tăng Bí luận bàn một lúc rồi cũng… bí luôn. Cái « bí mật Phan bội Châu » vẫn còn lâm ngõ bí.
Cụ Lê Dư từng lê gót cách mạng ở Trung Hoa, Nhật bản, Triều Tiên, cũng không nghĩ ra một mưu kế gì để khám phá ra bí mật ấy.
Cụ Lê Đại bóp trán thở dài :
- Nếu Trần văn Đức đích thị là ông Phan, thì chúng ta phải kêu gọi đến dư luận trong nước và ngoài nước chớ ? Chúng ta phải đánh thức đồng bào từ Nam chí Bắc, không lẽ để cho bọn Tây chúng nó âm thầm xử kín ông Phan rồi lén lút hành quyết như chúng đã từng xử các liệt sĩ của chúng ta từ trước đến giờ. Dư luận biết được thì đã quá trễ.
Ai nấy lặng thinh như liên tưởng đến giờ bi thảm ở Pháp trường. Bỗng cụ Lê Đại nẩy ra một ý kiến :
- Thôi được rồi ! Chúng ta quên mất anh Hy. Sẵn anh Hy đó, chúng ta sẽ nhờ anh vào Hỏa Lò xét xem sao ?
Cụ Lê Đại tìm ra một điệp viên. Các « Bô lão » sực nhớ tới anh Hy, một thanh niên hăng hái, thường lui tới nhà các cụ, luận bàn quốc sự và học hỏi những kinh nghiệm cách mạng của người huynh trưởng.
Các cụ trầm ngâm suy nghĩ, không tỏ ý song cái lặng thinh có thể hiểu là một thái độ nghi ngờ :
- Liệu có dễ dàng như lời nói không ? Vào Hỏa Lò để khám phá cái « bí mật Phan Bội Châu » hay là để ở luôn trong khám với Phan bội Châu rồi chờ ngày ra tòa lãnh án. Sao lại bàn đến việc « đeo nhạc cổ mèo » như thế. Câu chuyện tráng sĩ Kinh Kha một ra đi là không trở về… Ai mà quên được.
Cụ Lê Đại không nghe ai tán thành đề nghị của cụ, bèn nói rõ thêm :
- Nhưng anh Hy đã từng làm trong « ghép » của Hỏa Lò mấy năm trước, thế nào lại không có người quen biết, có bạn đồng sự cũ còn làm ở đấy, có thể nhờ cậy được.
Tiếng « ghép » âm ở tiếng Pháp « greffe » là tiếng thông dụng trong giới tù nhân ; « ghép » là cơ sở hành chánh trong khám đường, phụ trách về giấy tờ, sổ sách liên hệ đến các tội nhân. Anh Hy, một nhân viên hành chánh cũ của khám đường, một người làm ở « ghép » mà nay vào thăm anh em cũ, thì không đến nỗi khó khăn nguy hiểm như Kinh Kha sang Tần. Các cụ « bô » suy nghĩ một lúc rồi tán thành đề nghị của Cụ Lê Đại ; vài cụ lặng thinh không phản đối song cũng muốn cầu may một phen : bộ tham mưu đồng ý cho đi mời anh Hy.
Anh Hy là một thanh niên có óc tiến bộ. Sau ba năm làm một công chức giúp việc tại khám đường Hà Nội, anh xin từ chức vì gia đình sung túc, anh muốn xoay ra đi buôn để có một tương lai khả quan hơn. Từ khi ra khỏi cuộc sống tù túng trong 4 bức tường của công sở, anh thấy tinh thần khoảng khoát và giao du với những bậc đàn anh hay những người có tư tưởng mới.
Được các cụ « bô » cho mời anh đến không bỏ phí một phút đồng hồ, đến ngay căn gác của ngôi nhà Phố Hàng Điếu. Sẵn bầu máu nóng của tuổi thanh niên, anh luôn luôn mong chờ những sứ mạng khó khăn mà các bậc đàn anh giao phó, dầu có phải vào sanh ra tử, anh cũng không nề hà.
Vừa thấy anh Hy, cụ Lê Đại thay mặt bộ tham mưu, nói trước (cụ vốn đã quen biết với anh) :
- Này ông Hy à ! Chắc ông cũng nghe tin cụ Phan bị bắt.
- Dạ, có nghe, nhưng không chắc thực hư ra sao.
- Chúng tôi muốn nhờ ông một việc…
- Phá tù xa để cướp lại cụ Phan chăng ? Hay ra pháp trường giải phóng cho cụ ? Cháu xin lãnh hết. Dù xương tan thịt nát, cháu đâu có quản ngại gì.
Các cụ « bô » đã biết tánh thanh niên hăng hái ngạo nghễ và hay nói đùa, nên các cụ đều cười vui vẻ ; cụ Lê Dư điềm đạm nói đỡ lời :
- Chưa đến phải phá tù xa, cướp pháp trường. Sứ mạng giao cho anh không nguy hiểm như thế.
- Vậy cần người chết thế mạng cho cụ Phan chăng ? Xin các cụ nói mau cho cháu biết.
- Cũng không phải hy sinh đến vậy. Chỉ cần một điệp viên. Ông Hy ạ, ông sẽ vào « nhà pha » xem có thật là cụ Phan bị bắt hay không ?
- Thưa các cụ, việc ấy tế nhị lắm, cháu không dám từ nan. Các cụ giao phó cho trọng trách này thì chẳng khác nào Thống sứ, Toàn quyền ký nghị định bổ tên Hy này làm Tổng thanh tra Hỏa Lò. Chẳng khác nào cháu phải đi từng phòng giam, từng xà lim mà hỏi : Ai là Phan Bội Châu… Nhưng việc khó đến đâu, cháu cũng xin vâng lời. Còn thành bại chưa dám nói trước.
Thay vì chén rượu tiễn hành Kinh Kha trên dòng sông Dịch, cụ Hoàng tăng Bí rót tách nước trà ướp sen mời anh Hy như dụng ý thưởng anh và khen anh.
Anh Hy đỡ chén trà uống một hơi rồi cáo từ ra về để thu xếp chương trình, kế hoạch sáng mai « vô khám ».
Sáng hôm sau, đúng như lời hứa, anh đến trước cửa khám đường. Anh gõ mấy tiếng vào cánh cửa sắt sơn đen có một cái lỗ hổng tròn băng miệng chén, để người gác đứng trong dòm ra xem ai muốn vào. Cánh cửa nặng nề từ từ quay, phát ra những tiếng sắt rỉ, nghe ken két, để trống một chỗ nhỏ vừa cho một người lách đi vô.
Anh gác cửa là một nhân viên đã làm lâu năm ở đây, còn nhớ mặt « ông Phán Hy » đon đả chào hỏi :
- Kìa ông Phán, hồi này mạnh khỏe chớ. Hôm nay vào thăm ai đây ?
- Thăm anh em cũ làm trong « ghép » và thăm cụ « Tổ ».
Cụ « Tổ » được anh em tặng cái danh hiệu này vì cụ là một nhân viên già gần 70 tuổi, còn làm « xếp ghép ». Đã quá tuổi về hưu, cụ còn khỏe mạnh và có dân tây nên được lưu dụng để làm cái việc an nhàn dưỡng lão nầy. Lại nữa cụ thạo công việc hành chính trong Hỏa Lò quá, thuộc làu mọi việc, nên người ta cũng muốn nhờ ở kinh nghiệm của cụ. Trước kia cụ Tổ đã tòng sự ở khám đường đảo Réunion, từng giao thiệp với Thành Thái, Duy Tân trong cảnh sầu xứ nên cũng có óc tương đối rộng hơn các công chức gốc Việt dân Tây khác. Cụ hay giúp đỡ đồng bào, đem chút đỉnh ưu ái xoa dịu phần nào nỗi khổ đau của những người mang số kiếp « vào tù ra khám ». Người ta gọi cụ là cụ « Tổ » cũng xứng đáng.
Anh Hy trước đây làm dưới quyền cụ, nay trở lại thăm cụ vì tình « thầy trò » cũng là chuyện thường. Cụ Tổ có ngờ đâu người đồng sự cũ còn trẻ tuổi này đang là một điệp viên của các « Bô lão » trong làng cách mạng.
Tay bắt mặt mừng, anh Hy ba hoa hỏi thăm sức khỏe của cụ. Tình thầy trò thật mặn mà, thắm thiết. Anh không ngồi mà chỉ đứng trước bàn cụ, không phải vì lý do « kính lão » nhưng dụng ý muốn nhìn xuống giấy tờ trên bàn xem có ba chữ « Phan Bội Châu » không ?
Vô kế khả thi. Cụ Phan bị bắt cả tuần lễ nay rồi, vậy nếu muốn xem có tên cụ trong « Sổ Đoạn Trường » không thì ít ra phải lật lên cả chục trang giấy về trước. Muốn kéo dài thì giờ, anh Hy rút gói thuốc trong túi ra mời người này người nọ, lân la từ bàn nọ sang bàn kia. Bao thuốc đã hết mà anh điệp viên chưa tìm ra được một tia sáng. Bỗng anh nghe cụ Tổ hỏi :
- Ông có biết ông Tây đang đi ngoài kia cùng ông xếp Hỏa Lò, tiến vào phía « ghép » không ? Độ là cụ « Bích » đấy.
Cụ Bích ? Cái tên nghe quen quen.
Ai là người Bắc am hiểu cơ quan hành chánh thời bấy giờ đều cũng thuộc câu vè «Tứ Hung» : « Nhất Đạc, nhì Ke, tam Be, tứ Bích ».
Đó là tên bốn nhân viên hành chánh cao cấp Pháp : Darles, Eckert, Wintrebert, Brides. Bốn người này đã từng làm Đốc lý hay Công sứ (Tỉnh trưởng) thuộc vào phái thực dân hạng nặng, biết nói tiếng « An Nam » và biết ăn mắm tôm nữa ; đặc tánh khắt khe, độc ác của bốn « trự » ấy thì khỏi phải nói ; dân chúng khiếp sợ, oán ghét họ mới gọi là « Tứ Hung » với câu vè trên kia.
Cụ Tổ nhắc tên « Bích » ngụ ý bảo anh Hy đề phòng hay nên rút lui có trật tự, kẻo mang tai bay họa gởi vì tên cáo gìa này. Song cái danh hiệu « Bích » gợi lên cho anh Hy một tia sáng tò mò : Chính thằng cha Bích này đã chủ tọa Hội đồng Đề hình xử vụ án Thái Nguyên năm trước đây. Nay nó vào Hỏa Lò không phải là không có « đại sự ». Nó sẽ lập Hội đồng Đề hình ở đây chăng ? Mà nếu có Hội đồng Đề hình thì chẳng phải là xử mấy anh nấu rượu lậu !.
Anh Hy lui bước ra hành lang, chỗ có những kệ chứa đầy các hồ sơ cũ. Anh làm như một công chức trong « ghép » đang sắp xếp hồ sơ. Anh cố giữ bình tĩnh vì nếu có nét mặt đổi khác khi rủi mà Bích lại gần anh thì anh khó mà tránh được vào sở Mật thám để bị tra tấn dã man.
May sao không có ai ra hành lang hết. Bích và xếp khám nói chuyện xì xồ, anh Hy nghe lõm câu được câu không :
- Sao ông không có một cuốn sổ riêng để ghi căn cước « Nó » ?
- Tôi đã ghi tên khác : tên Trần văn Đức. Tôi lại giam « Nó » ở khu người Âu để không có tên « An nam » nào tiếp xúc được với « Nó ».
- Ông nên biết rằng « Ông chủ ta » không muốn cái tên « Phan bội Châu » lọt ra công chúng. Có lẽ vụ này sẽ xử kín và khi thành án sẽ hành quyết ngay trong khám.
Anh Hy mừng run lên vì thần May Mắn đã giúp anh khám phá ra « bí mật xà lim 13 » rồi : Cái tên Trần văn Đức là tên giả mà xếp khám đặt cho cụ Phan bội Châu.
Kết quả cuộc dọ xét của anh Hy đã sáng tỏ mà anh không tốn công khó nhọc gì cho lắm. Anh lo lắng cho số phận nhà ái quốc đang bị thực dân âm mưu trừ diệt ngấm ngầm, không cho công chúng hay biết, đến khi công chúng có hay thì chuyện cũng đã dĩ lỡ rồi. Anh Hy muốn có phép tàng hình mà ra khỏi Hỏa Lò, về báo động cho các cụ « bô » ở Phố Hàng Điếu : « Thậm cấp ! Chí nguy ! »
Làm sao mà đánh trống khua chuông cho đồng bào đứng dậy không cho thực dân lén lút làm hại sanh mạng cụ Phan ?
Lúc sau, Bích cùng xếp khám ra khỏi văn phòng, có lẽ đi xem các trại giam tội phạm.
Anh Hy thở một cái nhẹ nhõm, ra bắt tay cáo từ cụ Tổ để về báo cáo kết quả sứ mạng của mình.
Bộ tham mưu ở Phố Hàng Điếu biết chắc rồi, bèn in mấy ngàn truyền đơn, báo động với đồng bào rằng cụ Phan bội Châu đã bị bắt.
Thế là từ Bắc vào Nam, đồng bào ùn ùn như nước chảy, đứng ra vận động đòi trả tự do cho cụ Phan.
Một phong trào nổi lên như vũ bão. Toàn quyền Varenne phải nhượng bộ trước lòng ái quốc thành thật của hai chục triệu dân Việt Nam.