Hắc Miêu Quán

Lượt đọc: 2356 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

Ghi chép của Ayuta Toma (4)

Sáng thứ Sáu, mùng 4 tháng Tám.

Cảm giác khó chịu khi tỉnh dậy còn tệ hơn hôm trước. Mặc dù tôi vẫn không nhớ bản thân đã mơ thấy gì, nhưng cũng không khó hình dung ra cảnh tượng trong giấc mơ.

Khuôn mặt trắng bệch như tờ giấy của Tsubakimoto Rena, chiếc khăn đỏ như máu quấn quanh cái cổ mảnh mai, hốc mắt đen ngòm của bộ xương nhìn tôi trong bóng tối tầng hầm, cả bộ xương mèo nằm bên cạnh nữa… Cho dù sự việc đã trôi qua được một tháng, những cảnh tượng đó vẫn liên tục tái hiện trước mắt tôi, mãi không chịu biến mất. Nếu dỏng tai lên, tôi dường như còn nghe thấy tiếng nức nở nghẹn ngào đây cô độc của cô gái trẻ và tiếng gào của con mèo vọng lại từ dưới tầng hầm.

Bởi vậy, tôi càng vui mừng khi mình không nhớ nổi nội dung của giấc mơ. Nếu nhớ rõ những cảnh trong mơ giống như bao người bình thường khác, chắc chẳng đêm nào tôi dám đi ngủ, hoặc lại bị chứng mất ngủ hoành hành như hồi còn trẻ.

Xét về mặt nào đó, suy nghĩ này của tôi kế cũng đáng buồn. Tôi từng muốn được tới thế giới trong mơ, nhưng giờ thì ý muốn đó đã biến mất. Tôi buộc phải thừa nhận rằng, mình không thể ao ước thế giới trong mơ được nữa, tâm hồn cũng mục ruỗng từ lâu rồi. Kể cả khi vụ việc này không xảy ra, thì sự thay đổi của tôi cũng là tất yếu. Đây chính là số mệnh của kẻ muốn từ bỏ thế giới thực tại, nhưng cuối cùng lại bị thế giới thực tại ruồng rẫy!

Quay trở lại vấn đề chính.

Để tôi kể lại các diễn biến vào sớm mùng 4 tháng Tám.

Đêm hôm trước ngủ chưa đủ giấc, sáng sớm tỉnh dậy, tôi thấy mặt mũi mình vô cùng thê thảm. Đầu óc còn chưa tỉnh táo hẳn, tôi ra đứng trước gương của bồn rửa mặt. Lúc soi gương, tôi còn nghi ngờ đó không phải khuôn mặt mình. Mí mắt sưng như đựng nước bên trong, gò má hóp như bị ai khoét mất miếng thịt, môi thâm đen, nếp nhăn tăng lên thấy rõ.

Sau một đêm mà như già đi cả chục tuổi. Tôi chậm rãi rửa mặt, nhìn bộ dạng lọm khọm của mình trong gương, bất giác thở dài. À, tôi nhớ ra rồi, khi nhìn vào gương, thấy mèo mun Kalo đi theo mình, tôi căng thẳng đến cứng người.

Tôi bế nó lên, sắp sửa rời buồng tắm thì nghe tiếng nước chảy. Không phải tôi quên khóa vòi nước, mà hình như có ai đang dùng nước trên buồng tâm tầng hai nằm ngay vị trí này. Bấy giờ tôi không hề nghi ngờ chút nào.

Khoảng 9 rưỡi sáng, tôi ra khỏi phòng ngủ, đi sang phòng sinh hoạt. Ở đó có một thanh niên đang ngồi ỉu xìu nhìn màn hình ti vi không phát tiếng. Là Shin.

“A… Chào chú quản gia.” Shin lúng túng tránh ánh mắt tôi, sau đó lôi từ túi áo ngực ra cặp kính đen gọng tròn.

“Tâm trạng cậu ổn định hơn chưa?”

Tôi bước vào phòng. Thanh niên kia ngượng ngùng nhìn tôi.

“Hôm qua… Vô cùng xin lỗi chứ.” Cậu ta lí nhí, “Cháu…”

“Việc đã qua đừng nên nhắc lại, không cần quá để bụng đâu.”

Shin vẫn chán nản ủ rũ, tôi ngắm nghía bộ tóc xõa tung của cậu ta.

“Về nhà rồi, cậu hãy quên hết những chuyện xảy ra ở đây đỉ. Thời gian sẽ khiến con người ta dần lãng quên tất cả.”

“Cháu hiếu rồi.”

Cậu ta gật đầu tỏ ý nghe lời, cầm cốc trên bàn lên uống nốt chỗ nước còn lại. Nhìn đôi tay run rẩy của Shin, tôi thầm tưởng tượng ra bộ dạng đáng sợ của con quái vật mà cậu ta đã nhìn thấy trong cơn ảo giác tối qua.

Shin đặt cốc nước về chỗ cũ, bất cẩn đụng phải bình đựng đá cầm tay làm nó lăn xuống đất, nước bên trong tràn ra vấy ướt nền gạch trắng đỏ. Shin vội vàng đứng dậy khỏi sofa, nhặt bình đá lên.

“Xin lỗi chứ.” Cậu ta ngoan ngoãn nói.

“Dù sao cũng không vào thảm, không sao đâu.” Tôi an ủi cậu ta rồi ra khỏi phòng sinh hoạt.

Tôi vào bếp lấy giẻ lau nhà, tiện thể ra tiền sảnh kiểm tra cánh cửa khỏa đêm qua. Không có dấu hiệu gì bất thường. Đúng lúc đó, Hayato từ tầng hai đi xuống.

“Chào chú.” Hayato nhã nhặn cất tiếng, mặt mệt mỏi thấy rõ. Cậu ta đeo cặp kính gọng vàng, quanh đôi mắt dài hẹp đã xuất hiện quầng thâm, trông mà ái ngại.

“Cậu Shin đang ở phòng sinh hoạt.” Tôi rời khỏi cửa, nói với cậu ta, “Xem ra đã bình tâm, không phải lo giở mửng giống hôm qua đâu. Tôi đi pha cà phê, cậu cũng uống một cốc chứ?”

“Cảm ơn chú.” Nói đoạn, Hayato lần mò trong túi quần, móc ra hai chiếc chìa cậu ta nhận giữ tạm tối qua. “Cái này, trả lại cho chú.” Cậu ta đưa cho tôi. “Biết nói sao đây? Đúng là chúng cháu đã gây ra cho chứ không ít phiền phức…”

“Cứ coi như chưa xảy ra chuyện gì đi. Ban nãy, tôi cũng nói với Shin, những việc đã qua thì không cần nghĩ lại làm gì.” Tôi giơ tay trái nhớn một trong hai chìa, quay lại cửa. Tôi muốn hít thở bầu không khí tươi mát bên ngoài lắm rồi.

Đêm qua, hình như trận áp thấp đã đi mất, thời tiết dần trở lại như trước, tầng mây dày tản ra, vầng dương đã lên cao. Nắng rọi mặt đất, phàn chiếu chói chang rất nhức mắt. Tôi vươn vai, giơ hai tay lên cao, hít thở thật sâu, muốn đem hết những muộn phiền còn tích tụ trong lòng xả hết ra ngoài.

10 rưỡi sáng, Yuki xuống phòng sinh hoạt, trông tiều tụy không khác gì hai người kia. Nhưng cậu ta khá đờ đẫn, tình trạng còn không bằng cả Shin và Kenjiro chứ đừng nói là Hayato. Vừa nhìn thấy tôi, cậu ta đã kêu đói bụng, muốn ăn cơm.

“Kenjiro còn đang ngủ sao?” Yuki nhìn đồng hồ trên tường, “Shin, lên gọi cậu ta dậy!”

Shin đang ngẩn ngơ hút thuốc lá, nghe thấy Yuki gọi, cậu ta nghiêng đầu thắc mắc, “Kì lạ nhi. Tôi vẫn cho rằng tên nhóc đó đã dậy từ lâu rồi chứ.”

“Tại sao?”

“Bởi vì tôi nghe thấy tiếng cậu ta đi tắm.”

“Gì cơ?”

“Tôi nghe thấy cậu ta đi tắm mà.”

“Thật không?”

“Sáng sớm hôm nay, tôi định đi vệ sinh thì nghe thấy bên trong có tiếng vòi sen. Tôi gọi mấy lần nhưng cậu ta không trả lời. Tôi còn tưởng cậu ta đang tắm nên không nghe rõ… Không còn cách nào khác, đúng lúc anh Hayato vừa dậy, tôi bèn đi nhờ buồng tâm bên anh ấy.” Shin nhìn Hayato, thanh niên đeo kính gọng vàng lâng lặng gật đầu. “Cho nên, cậu ta phải dậy rồi chứ.”

Âm thanh mà tôi nghe thấy lúc rửa mặt có thể chính là tiếng động khi cậu ta tắm gội.

Tôi nhìn thấy Shin ở phòng sinh hoạt vào lúc 9 rưỡi, trước đó vài phút, tôi đang rửa mặt. Xét về mặt thời gian, lời của Shin có thể tin được.

“Chắc không đến nỗi vừa tắm xong đã lăn ra ngủ lại đấy chứ?” Yuki nói có vẻ không tự nhiên, nhìn lên trần nhà. “Gọi nó dậy ngay, Shin!”

“Được rồi, để tôi lên xem.”

Shin uể oải đứng dậy, bước ra khỏi phòng sinh hoạt. Yuki ngồi vào chỗ cậu ta, lấy một điếu trong hộp thuốc Shin để trên bàn, đưa lên miệng ngậm. Cậu ta chán nản cào cào mái tóc dài, lé mắt nhìn sang người anh họ đang im lặng uống cà phê.

“Anh Hayato!” Yuki ngập ngừng thăm dò, “Tối qua, em đã nghĩ rồi…”

“Chuyện gì?” Hayato lãnh đạm hỏi.

Giọng Yuki nhẹ nhàng hơn, “Chúng ta đều cho rằng, ai đó trong số bốn người đã giết Rena, em thấy không nên chấp nhận lối suy nghĩ này.”

“Tôi không hiểu ý cậu.”

“Chúng ta không có lỗi, mà lỗi là do cô ta. Đó không phải án mạng mà là tai nạn, anh hiểu không? Là tai nạn! Trách nhiệm thuộc về cô ta. Anh bảo có đúng không?”

“Sao giờ lại nói vậy?” Hayato nhíu chân mày thanh mảnh, đôi mắt đỏ ngầu thấp thoáng nét cười mỉa mai.

“Dù có giải thích thế nào thì cô ta cũng đã chết. Không khẳng định cô ta tự sát, nhưng cũng không cần nói là tại chúng ta…”

Đúng lúc đó, Shin chạy vào phòng sinh hoạt. Kính đen tuột xuống mũi, cậu ta chưa kịp đẩy gọng lên đã hét lớn, “Lạ quá!”

“Có chuyện gì?” Mặt Yuki bỗng sa sầm, mắt trợn lên. “Kenjiro á hả? Vẫn đang ngủ à?”

“Không, không phải.” Shin lắc mạnh đầu, “Tiếng nước trong buồng tắm vẫn không dứt, cửa khóa trái. Tôi gọi đến mấy cũng không ai trả lời. Tôi sang phòng cậu ta xem thì không có ai cả.”

Tôi nhìn đồng hồ, bây giờ đã 11 giờ. Nếu đúng như Shin nói thì kì quái quá đấy. Tại sao cậu ta lại ở trong buồng tắm một mình lâu như vậy…

“Cùng lên xem sao.” Hayato đứng dậy, thúc giục Yuki đang thừ người bên cạnh. “Chú Ayuta, chứ cũng lên với cháu nhé?”

Kenjiro ở phòng trong cùng, bên tay phải cầu thang đi lên, ứng với vị trí Đông Nam của ngôi nhà, bên dưới chính là phòng ngủ của tôi. Phòng đối diện, nằm ở tay trái cầu thang, là phòng Yuki. Phòng của Shin và Hayato nằm bên ngoài, cách hai phòng kia một buồng tắm*. Chúng tôi xông vào phòng Shin, chạy đến cửa buồng tắm. Đó là một cánh cửa gỗ màu đen, nắm đấm cửa hình tròn bằng đồng thau, không có ổ khóa, chỉ chốt trong được.

Cửa đóng im im. Tiếng nước vòi sen chảy xè xè nghe rất rõ.

“Kenjiro!” Hayato đập cửa, hét tên cậu ta, “Kenjiro, cậu có đó không?”

“Kenjiro!” Yuki đứng cạnh cũng hét theo, “Này, Kenjiro!”

Đáp lại vẫn là tiếng nước chảy.

Hayato vặn mạnh tay nắm thêm lần nữa, nhưng vẫn không mở được, bên trong đã chốt rồi.

“Sang phòng bên cạnh xem sao.” Hayato vội vàng chạy ra khỏi phòng. Ba chúng tôi lập tức theo sau.

Phòng của Kenjiro cũng không có gì bất thường. Các cửa sổ ở đối diện và bên trái cửa ra vào đều buông rèm, ô lật phía trên hai cửa sổ đều đóng kín. Đèn vẫn bật, ban nãy từ lúc Shin vào đã như vậy rồi.

“Cửa phòng cậu ta không khóa sao?”

Tôi hỏi Shin. Thanh niên đeo kính đen gật đầu, sau đó Hayato mới chạy tới cửa buồng tắm.

Giống như bên kia, cửa buồng tắm bên phòng Shin cũng chốt chặt, không mở ra được. Hayato gọi mấy lần liền, bên trong vẫn không ai đáp.

Cẩn thận hơn, Hayato còn mở tủ để đồ ở bên cạnh cửa buồng tắm, nhìn vào trong, cũng không phát hiện ra điều gì bất thường. Tôi đứng bên cạnh, nghĩ cách mở cửa buồng tắm, và mau chóng nhận ra chỉ còn một cách duy nhất là phá cửa. Lúc đó, tôi chủ động kiểm tra tình trạng cửa phòng, thấy rằng giữa cửa và khung cửa không hề có khe hở, dù là sợi chỉ mỏng không phẩy mấy li cũng không len qua được. Không có lỗ khóa, nắm đấm cửa cũng khó bề tháo xuống. Cửa buồng tắm mở vào trong, nên bản lề cũng lắp trong đấy, không tài nào tháo cả cánh cửa ra được. Cửa buồng tắm phía phòng bên cạnh cũng vậy.

“Tông cửa xem sao!” Hayato đề nghị.

“Cửa chỉ lắp một chốt thô sơ, chưa biết chừng lại được. Yuki, cậu tới giúp tôi một tay. Chú Ayuta, chú lùi ra sau đi.” Hayato dùng tay ra hiệu, hai người cùng huých vai vào cánh cửa buồng tắm. Nhưng chốt trong chắc chắn hơn Hayato tưởng rất nhiều, huých ba bốn lần vẫn không thấy suy suyển. So ra, thà xuống tầng hầm lấy dao chặt củi và búa lên còn hơn. Tôi vừa nghĩ vậy thì cố gắng của hai người kia đã được đền đáp.

Cùng một tiếng sựt như thể đinh gi trên cửa vừa bị nhổ ra, cánh cửa đổ vào trong. Tiếng nước chảy càng to hơn. Hayato xoa bóp vai phải, nhìn vào buồng tắm, đột nhiên hét lớn.

“Ôi, Kenjiro…”

Tôi hiếu ngay trong buồng tắm xảy ra chuyện gì. Yuki kinh hãi đứng sau lưng Hayato và Shin đang quan sát từ bên ngoài cũng nhận ra vấn đề.

“Kenjiro!” Yuki kêu rất nhỏ, thanh âm run rẩy, “Sao cậu lại…”

Tôi bước vào theo bọn họ, chú ý kiểm tra tình trạng cánh cửa.

Cấu tạo của cái chốt rất đơn giản, chỉ cần xoay then đồng thau gắn trên khung cửa vào chốt cài trên cánh là được. Do cứ huých mạnh của Hayato và Yuki, đỉnh vít gỗ dùng để cố định đã long một nửa, cụm chốt cài đã xệ xuống ở mặt trong cửa.

Tôi cố tình quan sát để xem chốt có dấu vết bị ai mó máy hay không, bởi vì tôi rất nghi ngờ trạng thái phòng kín của buồng tắm. Kết quả là, cả then và chốt cài đều không có dấu hiệu khả nghi, cánh và khung cửa cũng vậy, không sót lại đâu dây quấn quanh, không có vết cọ xát mới, then và chốt cài đều không dính nến hay tàn tro… Kiểm tra cả cửa bên kia, cũng không thấy chi tiết nào đáng ngờ. Ngoài ra, Yuki và Hayato khi đẩy của xông vào cũng không thừa cơ tôi lơ đãng mà giở trò với hai cánh cửa. Tôi có thể chịu trách nhiệm về lời khẳng định này.

Còn về trạng thái phòng kín của buồng tắm, sau này tôi có điều tra thêm. Tạm thời chưa bàn ở đây vội.

Buồng tắm hình chữ nhật, không có cửa sổ, sàn và tường đều ốp gạch men đỏ xen trắng. Bước qua cửa sẽ thấy bên trái có bồn tắm màu đen, dưới bồn tắm là bốn chân trụ theo phong cách cổ điển. Kenjiro đứng trong bồn tắm. Không, chính xác thì không phải đứng, nhưng ban đâu tôi đã tưởng vậy.

Cậu ta mặc áo ngủ màu nâu nhạt, đầu gục xuống bất lực, hai cánh tay buông thõng. Nước lạnh (không phải nước nóng) tuôn ra từ đâu vòi sen giống như cơn mưa xối xả, làm ướt đẫm cơ thể hơi xoay ra ngoài của cậu ta. Nước bắn tung tóe tới bồn rửa mặt, bồn cầu và gần cửa.

Dưới ánh đèn mờ ảo, hai người xông vào trước là Hayato và Yuki đứng sát nhau giữa căn buồng nhỏ hẹp, trân trối nhìn người bạn đã không còn nói cười được nữa. Tôi đẩy cả hai ra, đi tới cạnh bồn tắm bất chấp những giọt nước bắn ướt quần áo.

Kenjiro không hề đứng, bởi vì cậu ta không dùng chân để chống đỡ trọng lượng cơ thể, mà dùng cổ…👁

Sơ đồ hiện trường

“Cậu ấy treo cổ.” Hayato ngoảnh lại nói với Shin, người bước vào cuối cùng và đang bật khóc thảm thiết. “Cậu ấy tự sát.”

Kenjiro đã chết. Tôi ấn tay trái lên ngực mình, cố gắng trấn tĩnh lại, đồng thời quan sát thi thể đang treo trước mặt.

Thít chặt cổ họng Kenjiro là một sợi dây bọc nhựa đen, hình như là dây nối máy quay 8mm với ti vi. Một đầu dây được cố định trên thanh treo rèm bồn tắm cách mặt đất hơn hai mét, đủ để treo cổ. Nhưng Kenjiro không bị treo hẳn lên vì mũi chân chạm đáy bồn tắm, đầu gối hơi cong, giống như đang kiễng chân.

Từ góc độ chuyên ngành, treo cổ chia làm hai loại: dây treo gánh toàn bộ sức nặng cơ thể, gọi là treo cổ định hình; và dây treo không gánh toàn bộ sức nặng cơ thể, gọi là treo cổ phi định hình*. Trạng thái treo cổ của Kenjiro rõ ràng là loại thứ hai, mặt cậu ta sưng tím, rõ ràng là hiện tượng tụ máu do động mạch nối từ cơ thể lên đầu chưa tắc nghẽn.

Ở đằng sau, Yuki bỗng kêu lên, quay về bồn rửa mặt, hai tay ấn bụng, bắt đầu nôn. Tiếng ọe và mùi nôn của cậu ta rất kinh tởm, tôi chịu không nổi, phải chạy ra.

“Chú quản gia.” Shin đã rời buồng tắm từ trước, bấy giờ gọi tôi lại, “Cái này…” Tay giơ một mảnh giấy, cậu ta hất cằm về phía bàn đầu giường. “Ở đằng ấy. Di thư… của Kenjiro.”

“Thật sao?” Tôi nhận lấy mảnh giấy gấp đôi và mở ra xem, giấy viết thư màu trắng với dòng kẻ ngang. “Ôi, cái này…” Tôi nhìn lướt và nhận ra ngay. “Đúng là cậu ta viết…”

Tôi vẫn còn chút ấn tượng về nét chữ viết bằng bút bi đen này. Nét chữ rất ngay ngắn, nhìn thoáng qua còn tưởng không phải viết tay, giống y như chữ trên băng mà hôm qua tôi tình cờ trông thấy.

Tôi không muốn tiếp tục giấu giếm nữa.

Đầu óc tôi đã trở nên rất kì lạ.

Tối hôm qua, chính tôi đã giết cô ta.

Kí ức vẫn như vừa mới đây.

Tôi đã gây phiền phức cho mọi người rồi, cứ thấy trong lòng áy náy không yên, xin hãy tha thứ cho tôi.

Asao Kenjiro

Xin được kể vắn tắt diễn biến tiếp theo.

Ngay từ đâu Kenjiro đã biết rằng hung thủ giết chết Tsubakimoto Rena không phải ai khác mà chính là mình. Đêm đó cậu ta cũng dùng thuốc gây ảo giác, không biết cậu ta có tự ý thức trong lúc hành sự không, nhưng về sau vẫn nhớ rõ rằng chính mình đã giết người. Hôm qua, khi mọi người thảo luận về sự việc, cậu ta không hề hé răng. Bởi vì kí ức của ba người còn lại đều rất mơ hồ, cậu ta bèn thừa cơ đục nước béo cò. Nhưng về đêm, cậu ta sinh lòng day dứt, không thể giải thoát bản thân khỏi tội ác do mình gây ra, cuối cùng đành lựa chọn tự tìm đến cái chết…

Cách giải thích trên là kết luận do ba thanh niên còn lại đưa ra sau khi bàn bạc. Bọn họ dĩ nhiên sẽ giải thích như vậy, điều này là rất bình thường. Tôi cũng không muốn đưa ra ý kiến nào khác. Là người đứng ngoài cuộc, tôi có thể thấy rất rõ mọi thay đổi nhỏ nhặt nhất trên nét mặt của họ. Có thể nói rằng: tuy rất đau lòng khi bạn mình tự sát, nhưng đồng thời họ cũng cảm thấy vui mừng khi biết mình không phải hung thủ giết người.

Tiếp theo, họ buộc phải thảo luận xem có nên báo việc Kenjiro tự sát với cảnh sát hay không. Tôi tham gia bàn bạc với họ, cùng chọn ra kế hoạch vẹn cả đôi đường.

Khác với cái chết bất ngờ của Rena mấy ngày trước, việc tự sát của Kenjiro là không thể giấu giếm. Ai ai cũng biết cậu ta tới đây du lịch cùng đám bạn trong ban nhạc của mình. Nếu chủ quan giữ kín không nói ra, sẽ rất dễ gây nghi ngờ.

Đã vậy, chỉ còn cách tiêu hủy di thư đề cập đến cái chết của Rena, tất cả những chuyện khác vẫn giữ nguyên như cũ, sau đó báo cho cảnh sát. Đây là ý kiến thống nhất cuối cùng của chúng tôi.

Kể cả nói rằng Kenjiro tự sát khi đi du lịch, dù không để lại di thư thì mọi người đều biết vì sao cậu ta tự sát. Cách đây không lâu, mẹ cậu ta vừa qua đời. Một người quấn quýt mẹ từ nhỏ như Kenjiro đương nhiên càng suy sụp nặng nề. Tinh thần của cậu ta chịu đả kích quá lớn, sau khi tới đây, cứ gặp phải chuyện gì là lại ngấm ngầm ám chỉ rằng mình muốn tự sát. Nếu tất cả mọi người đều thống nhất khai như vậy, cảnh sát sẽ tin ngay. Hơn nữa, hiện trường tử vong là nhà tắm quả thật ở trạng thái phòng kín. Cậu ta treo cổ tự tử trong đó, theo suy nghĩ thông thường thì cũng chỉ có khả năng tự sát.

Cứ thế mà làm thôi.

Tôi đem di thư và máy quay mà Hayato đưa cho hôm qua ra lò thiêu ở sân sau để đốt, sau đó bảo mấy thanh niên đối chiếu một lượt lời khai, xác định rõ xem nên nói gì, không nên nói gì, cuối cùng mới báo cảnh sát.

Sau khi gọi điện, cảnh sát lập tức kéo tới. Họ căn cứ theo tình hình hiện trường và lời khai của bốn người, nhanh chóng đưa ra kết luận tự sát, nhanh hơn rất nhiều so với tưởng tượng của chúng tôi.

Pháp y giải phẫu thi thể xong cũng nhận định là tự sát (thời gian tử vong nằm trong khoảng 1 đến 4 giờ sáng mùng 4). Cảnh sát cũng không xuống tầng hầm, trái tim đang treo lơ lửng của chúng tôi cuối cùng cũng được hạ xuống. Vài ngày sau, ba thanh niên còn lại trở về nhà một cách suôn sẻ.

Về trạng thái phòng kín của buồng tắm đã được đề cập trước đó, tôi muốn bổ sung thêm một chút.

Cho dù xem xét thế nào, hiện trường vụ tự sát của Kenjiro cũng trong trạng thái khóa kín. Cửa hai bên buồng tắm đều khóa từ bên trong, lại không có cửa sổ. Tôi biết trong buồng tắm không có lối đi bí mật. Nơi có thể tiếp xúc với không khí bên ngoài chỉ có quạt thông gió nhỏ gắn trên trần nhà và lỗ thoát nước dưới sàn.

Hai chỗ này tôi đều đã kiểm tra.

Lỗ thông gió thông với bên ngoài nhờ ống dẫn nối từ trần nhà tới bức tường phía Nam ngôi nhà. Để tăng tốc độ lưu thông không khí, cạnh lỗ thông gió còn lắp quạt chạy bằng điện. Khi chúng tôi phát hiện ra thi thể của Kenjiro, quạt vẫn đang chạy. Công tắc quạt và đèn chiếu sáng đều ở cạnh bồn rửa mặt.

Lỗ thoát nước nằm cạnh bồn tắm, miệng lỗ đậy nắp lưới bằng thép, mắt lưới cũng rất nhỏ. Do dùng đã lâu, rìa nắp đều bị gì, phải dùng tua vít mới tháo ra được. Tôi đã thử tháo ra nhưng muốn lắp lại nguyên trạng cũng không dễ dàng.

Tình trạng của hai cánh cửa giống hệt như ghi chép ở trên. Khóa cửa và xung quanh đều không có dấu vết khả nghi, giữa cửa và khung cửa cũng không hề có khe hở. Sau này, tôi lại quan sát và thí nghiệm kĩ càng hơn, một lần nữa chứng minh rằng hai cánh cửa này chưa từng bị ai đụng vào. Tôi phải xác nhận lại hết lần này đến lần khác, rốt cuộc là muốn chứng minh điều gì, tự kết quả đã nói lên tất cả.

Kenjiro cố tình tự sát. Từ động cơ và di thư cho đến hiện trường tự sát trong phòng kín… đều nói lên điều này. Nhưng tôi vẫn ngờ ngợ là còn khả năng khác, có thể cậu ta bị ai đấy giết chết chẳng hạn. Tôi đã nghĩ thế. Không, chính xác hơn là tôi không thể không nghĩ thế.

Tôi đã nhiều lần suy nghĩ về trạng thái phòng kín của buồng tâm, cuối cùng đã có một đáp án chính xác. Nhưng tôi không muốn trình bày kết luận với bất cứ ai, tôi thấy điều này cũng chẳng cần thiết.

Đã một tháng trôi qua, Hắc Miêu Quán lại trở về với vẻ yên tĩnh thường ngày, nhưng suy nghĩ của tôi chưa hề thay đổi. Hơn nữa, sau này nếu không cố biến động gì to lớn, tôi sẽ giữ kín bí mật này mãi mãi.

Những cô gái như Tsubakimoto Rena sẽ không bao giờ tới đây nữa.

Kenjiro tự sát vì lý do cá nhân.

Đây chính là sự kiện xảy ra ở Hắc Miêu Quán vào tháng Tám năm 1989.

Mọi chuyện đã kết thúc, và đây cũng là kết thúc tốt nhất cho tất cả.

Chương 8

7/1990, Akan

Gió lớn thổi qua, cây trong sân kêu xào xạc. Màn sương dày lảng vảng tản bớt đi, chỉ trong chớp mắt, vầng thái dương trên vùng trời phía Nam đã trở nên vô cùng chói chang.

“Được rồi, chúng ta vào thôi!”

Shishiya cất cao giọng, bước về phía hàng hiên được mặt trời chiếu rọi của Hắc Miêu Quán. Kawaminami liếc nhìn cái chong chóng mèo lạch cạch đổi hướng hên tục, rồi cùng ông Ayuta đuổi theo Shishiya.

Đúng như dự đoán của Kawaminami, cửa tiền sảnh đã khóa. Shishiya túm lấy tay nắm cửa bằng cả hai tay, vừa đẩy vừa kéo một hồi mà cửa vẫn không nhúc nhích. Anh quay ra nói với hai người còn lại, “Tôi ra xe lấy đồ,” rồi chạy khỏi Hắc Miêu Quán.

Bước lên vài bậc thềm là tới dưới mái che hàng hiên, Kawaminami và Ayuta đứng chờ Shishiya ở đó. Ayuta không nói năng gì, tay phải cầm ba toong gõ gõ xuống đất, đồng thời quan sát cửa ra vào trắng xám và các ô cửa Số khảm kính màu. Kawaminami hỏi ông với tâm trạng phức tạp, “ông đã nhớ ra điều gì chưa?”

Ông ta không lên tiếng, chỉ nhẹ nhàng lắc đâu.

Chẳng mấy chốc, Shishiya đã mang dụng cụ sửa xe vào. Khoảng mười phút sau, cuối cùng anh cũng cạy được cửa ra.

“Xong.” Shishiya đắc ý lẩm bẩm, đưa mu bàn tay quệt mồ hôi trán rồi bước vào trước tiên. Bên trong tan hoang hơn Kawaminami tưởng, không khác gì nhà hoang. Sàn đầy bụi bặm, khắp nơi giăng mạng nhện, chứng tỏ đã không ai sống ở đây từ rất lâu rồi.

Ba người tiến đến cửa tiền sảnh. Ánh mặt trời bên ngoài rọi qua cửa sổ kính màu, đan xen với những tia sáng lờ mờ trong phòng càng làm nổi bật vẻ tĩnh lặng và trong suốt đây huyền bí. Họ đẩy cửa bước vào trong.

Shishiya tiến vào giữa tiền sảnh, đảo mắt quan sát một lượt rồi khoanh tay đứng đó, ư ử trong cổ. Kawaminami tìm được công tắc điện trên tường, bật thử nhưng đèn không sáng. Xem ra không phải bóng đèn cháy, mà là ngôi nhà không được cấp điện.

Tiến thẳng vào trong là một cánh cửa lớn màu trắng nhờ, hân là cửa dẫn vào kho? Bên trái là cầu thang có tay vịn màu trắng dẫn lên tầng hai… Giống như Shishiya, Kawaminami cũng khoanh tay ngắm nghía căn phòng tối tăm, thầm hồi tưởng những miêu tả về tiền sảnh trong ghi chép của Ayuta.

Đúng lúc đó, họ nghe thấy tiếng cửa kêu ken két, Ayuta đang đẩy cánh cửa phòng màu trắng nằm bên trái lối vào. Thấy ông ta bước vào, Shishiya vội vàng đi theo, Kawaminami cũng nhanh chóng nối gót hai người.

Đây là đại sảnh, trần rất cao. Hành lang gấp khúc ở độ cao tương đương tầng hai bao quanh ba mặt của căn phòng chữ nhật. Bên dưới hành lang có rất nhiều đồ đạc (giá trang trí, ghế nằm…), tất cả đều phủ vải trắng. Nắng rọi vào qua lớp kính màu trên tường, biến đổi thành nhiều màu sắc, khiến nơi đây sặc sỡ hơn hẳn tiền sảnh ngay bên cạnh.

Ông Ayuta bước tới chính giữa đại sảnh, chậm rãi ngẩng đầu lên, rồi cứ thế xoay cổ, từ từ di chuyển, dường như đang tìm kiếm lỗ nhìn trộm mà mình từng nhắc tới trong ghi chép. Shishiya dừng ở cửa, cổ họng lại rên ư ử.

“Sao vậy?” Kawaminami hỏi, nhưng anh ta không đáp, lại đan tay vào nhau, chỉ nhăn nhó mặt mày mà không hề nhúc nhích.

Kawaminami vượt qua Shishiya để vào trong, đi tới cạnh ông Ayuta, thầm đánh giá căn phòng rộng lớn này một lượt.

Kính màu quanh phòng được làm theo hình mẫu trên bộ bài Tây, thứ tự lần lượt là Hậu Rô, Vua Bích… Trên hành lang gấp khúc có rất nhiều giá sách đứng chân trước lớp kính màu. Nhìn từ đây sẽ thấy các giá sách đều trống không, chẳng có quyển sách nào.

Kawaminami quay người lại định nói gì đó với Shishiya, chợt nhận ra bức tranh sơn dầu treo cạnh cửa ra vào được nhắc đến trong ghi chép hiện cũng không thấy đâu.

“Bức tranh không có ở đây.” Kawaminami nói với Shishiya.

“Hả? Ồ, không có thật này.”

“Trên giá cũng không có sách.”

“Hình như là vậy.” Shishiya lơ đãng đáp rồi xoay người đi. Ông Ayuta vẫn tiếp tục nghiêng đầu mà không nói gì. Shishiya liếc nhìn ông ta, hai tay chống nạnh ngó quanh ngó quất.

“Sao lại thế?” Anh ta lẩm bẩm, “Rốt cuộc đã có chuyện gì…”

Shishiya bối rối ra mặt, dường như không thể hiểu nổi tình hình trước mắt. Kawaminami cũng không biết nói gì cho phải, đành đi đi lại lại xem xét trong phòng.

Ngôi nhà vô cùng tan hoang, giá sách trống huếch trống hoác, bức tranh trên tường cũng biến mất, khác hẳn miêu tả của Ayuta trong ghi chép về ngôi nhà hồi tháng Tám năm ngoái. Quả thật vô cùng là lạ. Một lát sau, Shishiya thở dài, lẳng lặng đi tới góc phòng, chính là góc tường nằm bên phải cửa vào.

Shishiya đặt chiếc túi xách trên vai xuống bên cạnh, quỳ gối xuống sàn, dùng tay phủi lớp bụi bám trên nền gạch men. Trông dáng vẻ đó, Kawaminami hiểu ngay anh ta đang muốn làm gì. Shishiya muốn tìm lối đi bí mật thông xuống tầng hầm.

“Xem ra chính là viên gạch này.”

Kawaminami lại gần. Shishiya vừa nói với cậu, vừa chỉ tay vào viên gạch đây bụi bẩn. Đó là một viên gạch men trắng nằm ở góc tường.

“Conan, cho tôi mượn một đồng xu.”

Như thể hai người họ đang tái hiện cảnh Hayato và ông Ayuta tìm con đường bí mật được viết trong sổ ghi chép.

Kawaminami lấy đồng xu một yên Nhật từ túi trước quần bò ra, và ngoái nhìn ông Ayuta. Hình như cũng đã chú ý đến hành động của hai người, ông ta liền bước lại gần. Shishiya lách đồng xu vào khe hở của viên gạch, bẩy mạnh, sau một tiếng động nặng nề, viên gạch chìa khóa bật lên khỏi sàn. Shishiya nhặt nó ra, trượt viên đen bên cạnh sang. Trò này quả thật giống trò chơi xếp hình 15 ô. Có thể do bụi đất đã đóng bánh vào các khe hở, nên di chuyển các viên gạch rất khó khăn, nhưng Shishiya vẫn kiên nhẫn làm, một lúc sau đã tìm thấy công tắc mở cánh cửa bí mật.

“Chắc là nó đấy.” Shishiya lẩm bẩm, thò tay ấn xuống. Cùng tiếng răng rắc, một cánh cửa nhỏ hình vuông có cạnh dài 80 phân (to bằng bốn viên gạch men) lập tức mở xuống phía dưới. Trên nền nhà lát gạch đỏ đen xuất hiện một cái hốc vuông vức, bên dưới tối om không nhìn thấy gì.

Shishiya trả đồng xu cho Kawaminami, lôi trong cặp xách ra một chiếc đèn pin cỡ nhỏ, sau đó nâm bò trên sàn, thò đầu vào xem xét. Xem ra, anh đã chuẩn bị cực kì đầy đủ.

“Đúng rồi. Hình như nó thông xuống tầng hầm.”

“Chúng ta xuống thôi.”

Nghe Kawaminami nói thế, Shishiya ngẩng đầu lên, mặt buồn như đưa đám, lắc đầu nói, “Bên dưới không có thang. Cứ thế nhảy xuống thì hơi nguy hiểm.”

Sau khi ra khỏi đại sảnh, ba người đi kiểm tra các phòng khác của tầng một trước tiên.

Từ phòng khách kiêm phòng ăn cho tới phòng sinh hoạt ngay bên cạnh, cả phòng ngủ và nhà bếp… tất cả đều không chứa đồ đạc, cho dù có cũng đều được phủ vải trắng. Trên mặt đất là lớp bụi dày đặc, tường và cửa sổ đều cáu bẩn, một số ô kính màu còn có vết nứt. Cả ngôi nhà đều không được cấp điện, vòi nước ở bếp và buồng tắm đều không có nước (nếu phân tích dựa trên vị trí của ngôi nhà, có thể thấy rằng nước ở đây hình như được lấy từ nguồn máy bơm). Xem ra, nơi này đã bị người ta bỏ hoang.

“Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, ông Ayuta?” Shishiya quay ra hỏi quản gia của Hắc Miêu Quán, sắc mặt càng lúc càng khó coi, “Ít nhất cho tới tháng Chín năm ngoái, trước khi cuốn sổ ghi chép được hoàn thành, đáng nhẽ ông vẫn phải sống ở đây. Tại sao chỉ trong một khoảng thời gian ngắn lại có thể…” Anh ta ngừng một lát, quan sát phản ứng của ông Ayuta.

Ông lão nhắm mắt, chậm rãi lắc đâu.

“Nhất định đã xảy ra chuyện gì đó, rồi ông bị ép rời khỏi ngôi nhà. Vì vậy, đồ gia dụng đều bị chủ nhà bán sạch. Hiện giờ chúng ta chỉ có thể đặt giả thiết như vậy. Sao rồi, ông có nhớ lại được gì không?”

“Tôi…” Ông Ayuta vẫn lắc đầu, giọng khản đặc, cố gắng trả lời, “Tôi, tôi cũng…”

“Ông nhìn phòng ốc, rồi cách bày biện trong nhà xem, vẫn chưa nhớ được gì sao?”

“Tôi chưa. À không, tôi có cảm giác rằng mình đã từng sống ở nơi này. Đại sảnh, phòng sinh hoạt ban nãy… tôi đều có ấn tượng. Như thể chuyện đã từ rất lâu rồi, nhưng quả thật…”

Sau đó, Shishiya và Kawaminami lên tầng hai.

Ông Ayuta nói việc lên gác quá tốn sức, nên ở lại tầng một, nhưng Kawaminami để ý thấy bắt đầu từ ban nãy, nét mặt và thái độ của ông ta có chút thay đổi. So với lúc gặp mặt ở khách sạn tại Shinjuku, thì thay đổi này lại càng rõ rệt. Khi ấy, ông Ayuta tha thiết được phục hồi lại trí nhớ, còn nói rằng dù cho các kí ức trước đây không như mình mong muốn, thì vẫn tốt hơn là không nhớ nổi điều gì.

Khi mới mất trí nhớ, ông Ayuta như bị buộc vào một hòn đá nặng nề rồi chìm sâu xuống nước. Nhưng giờ ông ta đã tới đây, đã bước vào ngôi nhà, các kí ức cũ rõ ràng đang dần dần trở lại. Ban đâu chỉ là chút xúc động rất nhỏ, đến giờ đã là cả một sự chấn động, chẳng mấy chốc sẽ thoát khỏi sự trói buộc của hòn đá nặng.

Hiện tại, ông ta hoảng hốt ra mặt rồi. Ông ta đang sợ hãi. Ông ta linh cảm rằng những kí ức không đẹp đẽ sắp sửa trở về, cho nên trong lòng mới sợ hãi…

Trên hành lang tầng hai, mỗi bên trái phải đều có hai cửa, trông có vẻ chắc chắn. Nền cửa trắng đã bạc màu, đâu đâu cũng bong tróc từng mảng sơn, tay nắm cửa cũng mất đi độ bóng. Shishiya và Kawaminami lần lượt mở cửa từng phòng, kết cấu các gian đều giống nhau, bên trong đều kê giường đôi bám đầy bụi bẩn.

Sau khi xem xét qua loa bốn căn phòng, Shishiya lại tới căn phòng nằm gần cầu thang nhất ở bên trái hành lang, sau đó bước vào buồng tắm dùng chung với phòng bên cạnh. Đó chính là phòng kín nơi Kenjiro treo cổ tự sát.

Phong cách ở đây khác với những buồng tắm độc lập thông thường, trần trát bùn vôi, sàn và tường lát gạch đen đỏ đan xen, bồn tắm màu trắng có bốn chân đỡ. Thanh treo rèm tắm được đóng chắc chắn vào hai bên tường, trông độ cao và tải trọng đều đủ để tự sát.

Kawaminami khiếp đảm ghé vào nhìn, trong bồn tắm toàn là bụi bẩn. Cậu vẫn nhớ trong sổ viết, bồn tắm màu đen… Nhưng cậu không nghĩ tiếp nữa.

Shishiya dĩ nhiên quan tâm nhiều nhất tới cánh cửa thông sang hai phòng bên.

Bên trong cánh cửa xám trắng đều có then cài bằng đồng thau. Chốt trên hai cánh cửa đều không hư hại, có lẽ sau này ông Ayuta đã sửa lại, mà cũng có thể hiện trường vụ tự sát ở buồng tắm chung bên đối diện. Kawaminami không thể học thuộc toàn bộ nội dung trong ghi chép, nên chẳng cách nào nắm được chính xác vị trí và phương hướng mỗi căn phòng.

“Conan thấy thế nào?” Shishiya lung lay cánh cửa tứ phía, thong thả nói, “Cửa rất chắc chắn, giữa cánh và khung không có khe hở, ngay cả điểm này cũng được miêu tả rất kĩ trong ghi chép, chứng tỏ ít nhất trạng thái cánh cửa khi đó giống hệt như chúng ta đang thấy bây giờ.”

“Cũng có nghĩa là không thể có người giở trò bằng dây hoặc kim để đóng cánh cửa từ bên ngoài.”

“Đúng vậy. Không chỉ thế, trong ghi chép chẳng phải đã nói then, chốt, cánh, khung đều không có dấu vết đáng nghi sao? Còn lấy ví dụ cụ thể để giải thích, như không có đâu dây, vết cọ xát mới, sáp nến và tro tàn…”

“Đúng, trong đó có viết như vậy. Tuy nhiên, mục đích của việc kiểm tra xem có đâu dây và vết cọ xát mới không thì tôi còn hiểu được, tại sao phải kiểm tra cả dấu sáp nến và tro tàn nữa?”

“Ôi trời, ôi trời ơi.” Shishiya vung hai tay ra, tỏ vẻ vô cùng kinh ngạc. “Conan, có phải công việc quá bận rộn nên não cậu bị lão hóa sớm không?”

“Ơ…”

“Có rất nhiều mánh khóe để giở trò với loại then chốt này, tạo hiện trường giả rằng căn phòng bị khóa kín.” Shishiya đặt tay lên then đồng thau lắp trên khung cửa, “Gạt then cửa nghiêng lên trên, gá đỡ bên dưới bằng một mẩu nến nhỏ. Sau khi đóng cửa lại, dùng cách nào đó hơ nóng từ bên ngoài làm nến chảy ra, then cửa sẽ tự rơi xuống chốt cài. Cũng nguyên lý đó, gá một que diêm bên dưới, thắp diêm xong thì nhanh chóng đóng cửa vào, diêm cháy hết cụt đi, then cửa cũng sẽ tự rơi xuống.”

“Hóa ra là như vậy.”

Nghe Shishiya giải thích xong, Kawaminami nhớ ra quả có loại mánh khóe này trong các cuốn tiểu thuyết trinh thám cậu đã đọc. Nhưng do không hứng thú nên cậu chưa bao giờ chú ý lắm, có thể vì không quá ham thích cái gọi là án mạng phòng kín. Trong một vài tiểu thuyết trinh thám còn có đối tượng tình nghi lợi dụng bảng giờ tàu chạy để chứng minh mình không có mặt tại hiện trường.

Kawaminami cũng không thích loại tiểu thuyết này. Mỗi lần đọc phải các vụ án hóc búa, cậu đều nghĩ rằng kiểu gì cũng sẽ có cách phá án. Nhưng cuối cùng khi phá giải được, cậu cũng không thấy phấn khích, cùng lắm chỉ lẩm bẩm Ồ, hóa ra là như vậy.

“Ngoài ra vẫn còn một mánh nữa, nhưng ông Ayuta đã sớm gạt bỏ khả năng này. Nếu sử dụng nến để gây án thì chắc chắn sẽ để lại dấu vết, còn đốt cháy thứ gì chắc chắn sẽ có tro tàn… Khi nhìn thấy sách của P. D. James ở phòng Hayato, ông ta đã lập tức thốt lên, cậu ta cũng thích đọc thể loại này sao? Chứng tỏ bản thân ông Ayuta rất am hiểu về các nhà văn trinh thám, và cũng rất thích suy luận. Cho nên, việc ông ta áp dụng một số kiến thức suy luận về phòng kín cũng không có gì kì lạ. Ghi chép viết rằng không có bất cứ điểm đáng ngờ nào, còn quả quyết rằng lúc Hayato và Yuki xông vào buồng tắm cũng không có thời gian và cơ hội để phá hủy chứng cứ. Trước mắt, chúng ta chỉ có thể tin lời ông ta.”

“Có thể sử dụng nam châm để gây án không?” Kawaminami giải thích về thủ đoạn mà mình nghĩ tới. “Đứng ngoài cửa, dùng nam châm di chuyển then cửa. Như vậy sẽ không để lại dấu vết.”

“Rất tiếc, nam châm không có tác dụng với đồng thau.”

“À, cũng đúng.”

“Tiếp theo là về lỗ thông gió và lỗ thoát nước.” Shishiya rời khỏi cánh cửa, đi vào buồng tắm, lần lượt kiểm tra lỗ thông gió trên trần nhà và lỗ thoát nước bên bồn tắm. “Có thể bố trí thế này, buộc sợi dây mảnh lên then cửa, sau đó luồn qua lỗ thông gió ra bên ngoài, rồi dùng lực kéo dây là có thể khóa cửa lại. Nếu thao tác đủ khéo, còn có thể khiến sợi dây mảnh trên then cửa tuột ra ngoài rồi kéo ra.”

“Như vậy thì quá phiền phức.”

“Đúng vậy. Qua kiểm chứng của ông Ayuta, khả năng sử dụng thủ đoạn này đã bị loại trừ. Khi thi thể được phát hiện, cánh quạt ở lỗ thông gió vẫn chạy bình thường. Nếu áp dụng biện pháp ban nãy, sợi dây mảnh sẽ bị cánh quạt cuốn đứt. Hơn nữa, công tắc quạt cũng nằm trong buồng tắm, một khi đã đóng cửa, kẻ gây án khó lòng bật lại công tắc. Dĩ nhiên cũng có thể sử dụng loại dây bền hơn, như dây câu, lợi dụng lực xoay của cánh quạt để gây án, nhưng công tắc vẫn ở bên trong, muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Hơn nữa, chỉ cần hơi lơ là, sợi dây sẽ bị quấn vào trục cánh quạt khiến hung thủ hết đường xoay xở. Như vậy sẽ để lại chứng cứ chí mạng.”

“Hóa ra là vậy.”

“Cùng một nguyên lý, cũng có thể luồn dây mảnh qua lỗ thoát nước lên then cửa để gây án… Nhưng từ buồng tắm tầng hai mà dẫn dây qua ống thoát nước ở bên ngoài thì lại không hề đơn giản. Tất nhiên cũng không phải là không có khả năng, buộc một vật nặng vào đâu dây, nhờ vào lực đẩy của dòng nước để giật dây vào lỗ thoát nước. Ông Ayuta cũng cân nhắc tới khả năng này, cho nên mới kiểm tra nắp lưới kim loại đậy bên trên lỗ thoát nước.”

“Nhưng nắp lưới không có dấu vết bị tháo ra.”

“Vấn đề nằm ở đây. Trong ghi chép chẳng phải đã viết rồi sao, xung quanh nắp lưới đã bị gỉ, không dùng tua vít thì không thể nhấc lên. Hơn nữa, một khi tháo ra, rất khó lắp lại được như trạng thái ban đâu. Mà nếu không tháo nắp lưới thì sợi dây mảnh cũng không thể lọt qua vì một đầu đang buộc vật nặng. Bởi vậy, khả năng lợi dụng lỗ thoát nước để gây án cũng bị loại trừ.”

“Vậy kết quả là thế nào?” Kawaminami hơi mất bình tĩnh. “Chẳng lẽ Kenjiro thực sự đã tự sát?”

“Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì…” Shishiya lại đứng trước cửa chau mày suy nghĩ. “Còn có một cách gây án nữa.” Anh ta lại sờ lên then cửa. “Làm thế này, đẩy then cửa hướng thẳng lên trên. Sau đó vặn ốc vít cố định then chặt hơn một chút, đại khái có thể giữ được ở góc độ này. Cậu xem, then đã đứng yên rồi.” Sau đó, Shishiya mở cửa ra rồi đóng lại thật mạnh. Cánh cửa kêu ầm một tiếng rất to. Then cửa vẫn duy trì ở góc độ cũ, không hề trượt xuống.

“Thế này chưa được.” Shishiya lẩm bẩm, lại đóng cửa một lần nữa. Lần này dùng sức mạnh hơn, như thể đang phá cửa. Do chấn động mạnh, then mất cân bằng, đổ xuống, nhưng lại ở phía đối diện, ngược hướng với chốt cài.

“Đại loại là như thể.” Shishiya không thử tiếp mà quay đầu nhìn Kawaminami.

“Nếu làm vậy sẽ không để lại dấu vết.”

Nghe Kawaminami nói xong, Shishiya khẽ nhún vai.

“Không để lại dấu vết nhưng tiếng động lại quá lớn. Giữa đêm hôm phát ra âm thanh như ban nãy, cậu nghĩ sẽ không ai nghe thấy sao? Bên cạnh chính là phòng Shin, thẳng bên dưới là phòng ông Ayuta, hơn nữa khả năng thành công cũng không cao, cùng lắm là năm mươi năm mươi.”

“Cũng đúng.”

“Phần cuối của ghi chép, ông Ayuta nói rằng đã quan sát và thí nghiệm kĩ càng, chắc chắn ông ta đã thử cách vừa rồi. E rằng ông ta đã loại trừ khả năng này cũng chính vì lý do tôi vừa đưa ra.”

Rốt cuộc phải lý giải thế nào? Ayuta và Shishiya đã mất nhiều thời gian như vậy đê’ nghiên cứu trạng thái phòng kín của buồng tắm, rốt cuộc kết luận của họ là gì?

Kawaminami thấy đau đầu.

“Tới giờ, đáp án sắp lộ diện rồi.” Shishiya không ngừng sờ lên cẳm, tự mình lẩm bẩm, “Kenjiro thực sự đã tự sát sao? Hoặc là… Nhưng vấn đề là cái tủ lạnh… Cái… Hả?” Bàn tay sờ cằm của anh ta bỗng dừng lại. “Đúng, đúng, đúng rồi. Nếu làm như thể… Không, làm sao có thể… Ra là như vậy. Người sống ở thế giới trong gương… Là gương sao? Hóa ra là vậy. Nếu mà như thể… Vậy… Chuyện đó lại là sao… Chuyện đó… Đúng rồi, chuyện đó cũng thế, chuyện đó…”

“Sao vậy, anh Shishiya?” Kawaminami hỏi với giọng bất an, nhưng Shishiya không thèm để ý, cứ lẩm bẩm những lời không ai hiểu, giống như một hòa thượng mới quy y cửa Phật đang tụng kinh. Lúc thì mím chặt môi, lúc lại nhìn chằm chằm vào khoảng không, khuôn mặt ngăm đen cứng đờ như pho tượng đá, anh ta cứ đứng đực ra đó hồi lâu.

“Ôi…” Rất nhanh sau đó, Shishiya lại xúc động thở dài, “Thật bực mình, rốt cuộc là thế nào? Đúng là ngu ngốc! Thật là bực mình.” Anh ta rống lên, rồi đột nhiên lao ra khỏi buồng tâm như thể vừa bật khỏi lò xo.

“Anh Shishiya!” Kawaminami hấp tấp chạy theo sau.

“Anh Shishiya, anh bị làm sao vậy…”

“Cái gương, Conan! Tiến sĩ Amo chính là người sống ở thế giới trong gương!” Shishiya ra đứng bên giường, một lúc sau quay người lại nói rất to.

“Đúng vậy. Hôm trước khi chúng ta ở Sapporo…” Kawaminami nghiêng đầu nói trong hoang mang.

“Lúc đó, chúng ta không hiểu câu này nghĩa là gì, ngay cả người kể lại là giáo sư Kumashiro cũng không hiểu.”

“Nhưng…” Kawaminami càng mơ hồ hơn. “Nhưng còn những lời chúng ta nói trong phòng khách sạn tối qua? Chẳng phải đã có thể giải thích đại khái sự việc rồi sao?”

“Hả, cậu nói cái đó à.” Shishiya gật đầu nói, “Dĩ nhiên, những gì chúng ta nói với nhau tối qua quả thật có thể giải thích một số chuyện, nhưng chỉ trả lời được tám mươi phần trăm bí ẩn. Hai mươi phần trăm còn lại vẫn chưa được làm rõ, mà hai mươi phần trăm ấy mới là mấu chốt…” Dứt lời, Shishiya vòng qua giường, đi tới cạnh cửa sổ. Đó là tấm kính màu gắn trên tường, bên trên có một ô lật thông gió nhỏ. Shishiya kéo sợi dây đang buông đế mở nó ra.

“Cửa sổ phòng bên dưới cũng có cấu tạo thế này.”

Anh ta kiễng chân, định quan sát tình trạng ô lật, nhưng nó ở quá cao nên không thể với tới. Shishiya nhìn quanh, phát hiện trong góc phòng có một ghế tròn nhỏ, bèn kê lại rồi đứng lên. Không biết Shishiya đang nghĩ gì, chỉ thấy anh thò tay ra ngoài.

“Được rồi, được rồi, như vậy không được.” Shishiya hài lòng lẩm bẩm, nhảy xuống từ trên ghế.

“Cái gì không được?”

Kawaminami hỏi. Shishiya kéo dây, đóng ô lật lại.

“Trong ghi chép, chi tiết về ô lật thông gió được miêu tả thế này: Mở rộng hết cỡ cũng chỉ được khe hở chừng mười phân. Cậu còn nhớ không?”

“Anh nhớ cũng khá rõ đấy.”

“Tôi đọc đi đọc lại rất nhiều lần.” Shishiya phủi bụi bẩn trên tay. “Quả thật giống hệt miêu tả trong ghi chép. Cho dù mở ra hết cỡ cũng chỉ hở bảy tám phân. Hơn nữa, ô lật mở xiên lên, không cách gì trèo vào được, thậm chí muốn thò bốn ngón tay ra cũng không được.”

“Thế à…”

“Được rồi, ông Ayuta chắc đợi dưới nhà lâu lắm rồi. Chúng ta không cần xem gác xép nữa, xuống thẳng tầng hầm thôi. Đi nào, Conan!

Ông Ayuta đang đứng dưới nhà đợi chúng tôi xuống.

Thí nghiệm đóng cửa buồng tắm ban nãy đã gây ra tiếng động rất lớn, hẳn cũng vọng xuống bên dưới. Ông Ayuta hỏi ngay là chuyện gì, Shishiya chỉ vòng vo cho xong chứ không giải thích.

Ba người vào kho, xuống cầu thang dẫn tới tầng hầm. Do ngôi nhà không được cấp điện nên đành phải trông cậy vào đèn pin của Shishiya. Họ xếp thành hàng đi xuống dưới, Shishiya dẫn đầu, ông Ayuta theo sát anh, còn Kawaminami đi cuối cùng.

Tầng hầm tối thui, lặng ngắt như tờ, khiến người ta không khỏi run rẩy. Bóng tối đen đặc bao vây tứ phía, tưởng chừng bản thân đang bị bóng tối nuốt chửng từng chút một.

Kawaminami nhìn quầng sáng nhàn nhạt đung đưa phía trước, cẩn thận tiến từng bước. Nơi đèn pin chiếu tới là bức tường vữa và nền xi măng, không thấy món đồ gia dụng nào. Đi sâu vào trong, căn phòng ngoặt sang phải, giống y như miêu tả trong ghi chép: tầng hầm có hình chữ L. Đi qua lối rẽ, từ trên có luồng sáng lọt vào. Ở phía trước bên phải là cái hốc hình vuông trổ trên trần, cũng chính là lối vào bí mật vừa mở ở đại sảnh.

“Cái thang ở đây,”

Shishiya rọi đèn pin vào một chiếc thang cũ kĩ dựa tường.

Ông Ayuta bước đến ngay dưới lỗ hổng, ngẩng đầu nhìn đại sảnh sáng sủa bên trên. Shishiya gọi ông ta, tiếp tục đi sâu vào hầm. Chẳng mấy chốc, nhờ ánh đèn pin, họ nhận ra đã tới cuối đường hầm, trên tường có một cánh cửa màu xám vừa hẹp vừa cao. Trong ghi chép, ông lão Ayuta từng nhắc đến một cánh cửa chẳng có ý nghĩa gì. Có vẻ như đây chính là cánh cửa đó.

Shishiya xốc lại túi xách trên vai, đi tới cửa. Anh cầm đèn pin bằng tay trái, tay phải đang chuẩn bị mở cửa thì ông Ayuta gọi lại.

“Đợi một chút, anh Shishiya. Để tôi…” Ông bước lên trước, nói với giọng khản đặc, “Cứ để tôi mở cho.”

Kawaminami kinh ngạc, trố mắt ra nhìn ông ta. Ông Ayuta dựa cây ba toong đang cầm trên tay phải vào tường, chậm rãi vươn tay ra túm lấy tay nắm cửa, hít một hơi, từ từ mở cánh cửa ra. Đằng sau cửa đáng lẽ sẽ có một bức tường ngụy trang xây bằng gạch nung và trát vữa. Nhưng…

“A!” Kawaminami không khỏi kêu lên.

“Sao lại…” Ông Ayuta cũng vô cùng ngỡ ngàng, chết lặng tại chỗ, tay vẫn siết tay nắm cửa. “Chuyện này…” Ông ta lắc đầu quầy quậy, lẩm bẩm như thể tự nói với chính mình, “Rốt cuộc đã có chuyện gì?”

Không có tường nào hết. Dường như cũng chưa bao giờ có. Bên kia cánh cửa là lối đi hẹp sâu hun hút.

“Đi vào xem nào.” Không thèm để ý đến Kawaminami và ông Ayuta đang trong cơn hoảng loạn, Shishiya vẫn bình tĩnh nói) “Phải điều tra tình hình bên trong mới được.”

“Nhưng anh Shishiya, cái này…”Ông Ayuta vừa nói vừa thở dốc, “Xem ra nội dung ghi chép đều là vô căn cứ.”

“Ông vẫn không nhớ ra được gì sao?”

“Tôi, tôi…” Ông lão gõ tay phải lên huyệt thái dương, như thể đang rất đau đâu.

“Đi thôi.” Dứt lời, Shishiya rọi đèn pin vào trong cửa, trên lối vào thẳng tắp không hề có dấu hiệu nào khả nghi. “Conan, cậu cũng vào trong đi.” Ba người lại xếp thành một hàng tiến vào trong bóng tối. Nước ngầm không biết từ đâu chảy ra, nền hầm vô cùng ẩm ướt. Ba người bước rất cẩn thận, chỉ sợ bị ngã. Mỗi khi cánh tay đụng phải tường hai bên, họ lại thấy lạnh thấu xương, chỉ muốn bật kêu lên.

Đi được một lúc, đường hầm phía trước dẫn tới một khúc quẹo trái.

Có thể đó chính là nơi có bộ xương cô gái và con mèo mun mà năm người trong ghi chép đã nhìn thấy. Chưa biết chừng cả thi thể của cô gái tên Rena chết trong đại sảnh một năm trước cũng nằm ở đây. Cứ nghĩ tới đó, Kawaminami lại càng thêm sợ hãi.

“Không có gì hết.” Shishiya đứng ở góc quẹo, quay đầu lại nói, “Ông nhìn xem, ông Ayuta. Trong này không có xương khô hay xác người đâu.”

“A…” Tầm nhìn của Ayuta dõi theo quầng sáng màu vàng của đèn pin, sau đó đảo khắp xung quanh.

Quả thật không có thứ gì giống như xác người. Chuyện này rốt cuộc là sao? Phải hiểu như thế nào mới đúng? Kawaminami thấy hơi chóng mặt, bất giác giơ tay lên đỡ trán, dựa bả vai vào tường.

“Ái chà?” Đúng vào lúc đó, trong bóng tối vang lên tiếng nói của Shishiya, “Kia là gì vậy?”

Tất cả đăm đăm nhìn về phía trước, trong bóng tối cách đó vài mét có một vật màu xám trắng, trông dẹt như một tấm gỗ, đang dựng vào tường bên phải.

Shishiya thúc giục hai người đi cùng, chậm rãi tiến lên phía trước. Đó hình như là một tấm gỗ, cao khoảng sáu bảy mươi phân, bên trên phủ một tấm vải trắng dơ bẩn. Shishiya vươn tay kéo tấm vải xuống. Một bức tranh đóng khung bạc hiện ra trước mặt ba người.

“Hóa ra là cái này.” Shishiya lẩm bẩm, nhìn ông Ayuta, “Đây hình như là tranh sơn dầu mà tiến sĩ Amo đã vẽ.”

Bức tranh vẽ một cô bé ngồi khoanh chân trên ghế bập bênh bằng sợi mây. Trên người cô mặc áo choàng xanh nhạt và quần yếm bò, mái tóc nâu để xõa trước ngực, đầu đội mũ nồi màu đỏ… Bức tranh này giống hệt bức tranh sơn dầu treo ở đại sảnh được nhắc tới trong ghi chép. Nhưng có một điểm không giống, trong ghi chép nói rằng trên đùi cô bé có một con mèo mun đang nằm cuộn tròn, nhưng bức tranh này lại không hề có.

Hơn nữa, bức tranh này hơi khác thường. Từ khuôn mặt cho tới ngực và bụng cô bé xuất hiện rất nhiều vết nứt màu đen, như thể có ai đã rạch nó ra. Kawaminami phát hoảng, ông Ayuta bên cạnh đột nhiên rên lên khác thường. Ông ta điên cuồng lắc đâu (Kawaminami chưa bao giờ thấy ông ta như vậy), lùi ra sau, dựa sát vào bức tường sau lưng, dường như muốn chạy trốn khỏi bức tranh. Ba toong rơi đánh cạch xuống sàn, ông Ayuta thậm chí còn không dám nhặt lên, chỉ dán lưng vào tường, vẫn lắc đầu quầy quậy, riêng đôi mắt là nhìn trân trân vào cô gái trong tranh.

“A…” Đôi môi khô nẻ của ông ta run bần bật, “Risako…”

“Ông Ayuta.” Kawaminami kinh ngạc gọi, ban nãy ông ta đúng là đã hét lên cái tên Risako, “Ông Ayuta, chẳng lẽ ông đã nhớ ra rồi sao?”

“Tôi…” Ông lão cuối cùng cũng rời mắt khỏi bức tranh, lưng vẫn dựa vào tường, đầu gục xuống. “Tôi… Aaa…”

“Đi tiếp vào trong đi.” Shishiya nhặt ba toong rơi trên sàn lên, đưa cho ông Ayuta. “Cứ đi tiếp chắc sẽ tìm thấy lối ra, ra bên kia đi.”

Đúng như Shishiya nói, tiếp tục đi trong bóng tối ẩm ướt thêm một lúc, không thấy cuối đường hầm (khác với miêu tả trong ghi chép), mà thấy một cánh cửa lớn màu xám khác. Shishiya mở cửa ra xem, ở đó có một đoạn cầu thang rất dốc hướng lên mặt đất.

“Ông có leo được không?”

Shishiya ngoảnh lại hỏi ông Ayuta. Ông lão không nói năng gì, chỉ lặng lẽ gật đầu.

Bước lên cầu thang, lối ra bị một tấm sắt tròn màu đen trông như nắp cống thoát nước chặn lại. Shishiya đặt đèn pin dưới chân, vươn hai tay, dùng sức đẩy lên. Sau âm thanh trầm đục, một luồng sáng chói mắt lọt vào.

Cứ như thể, cả ba người bò lên mặt đất. Lối ra rất hẹp, xung quanh bị che khuất bởi bụi cây cao hơn hai mét, hình như chính là bụi cây ở sân trước. Để che giấu lối ra, ai đó đã cố tình thiết kế một vài bụi cây hình tròn.

Shishiya bẻ gãy cành lá rậm rạp, mở một con đường, bước ra ngoài. Kawaminami dắt tay ông Ayuta, mất bao công sức mới ra được bên ngoài, cánh tay xước sát do cành cây quệt qua.

“Ái chà, sương đã tan rồi.”

Bên ngoài vô cùng quang đãng, Shishiya giơ tay che ánh sáng chói lòa chiếu vào mắt, quan sát tứ phía. Kawaminami móc đồng hồ quả quýt trong túi quần bò ra xác nhận lại thời gian. Bây giờ là hơn 2 giờ chiều, từ lúc ba người họ bắt đầu vào ngôi nhà này cho tới giờ là hơn hai tiếng, nhưng cảm giác như đã đi hơn bốn tiếng dưới tầng hầm tối tăm.

“Cậu nhìn xem, Conan,”

Theo hướng chỉ tay của Shishiya, Kawaminami nhìn ngôi nhà kiểu Tây cao hai tầng. Màn sương dày tan ra, giờ đây dưới bầu trời quang đãng, Kawaminami cảm giác ngôi nhà giữa rừng vân sam rộng lớn khác hẳn so với ấn tượng lúc ban đầu.

Tường nhà màu xám tro, nhưng có thể nhìn ra ban đâu là màu trắng tuyết. Đằng kia có mấy ô cửa sổ khảm kính nhiều màu, lắp khung trắng, là đại sảnh chăng? Dưới ánh nắng chói chang, mái nhà dốc cao sáng rực sắc trắng…

“Tôi vẫn cảm thấy kì cục.” Kawaminami cuối cùng cũng để ý thấy. “Trong ghi chép, Hắc Miêu Quán có màu đen.”

“Cuối cùng cậu cũng nhận ra sự khác biệt, đúng là hết cách với cậu.” Shishiya nhún vai nói, “Trong ghi chép, ngày đầu tiên ông Ayuta đưa đám thanh niên về đây, chẳng phải đã nói ‘tòa kiến trúc màu đen’ sao. Những chỗ khác cũng được miêu tả tương tự. Vào buổi chiều ngày thứ hai, khi đang đi dạo trong vườn và nhìn thấy Kenjiro đứng ở hàng hiên, ông Ayuta đã giật mình kinh ngạc, vì trông cậu ta ‘như trôi nổi bồng bềnh giữa không trung’. Đoạn miêu tả phía sau giúp chúng ta hiểu rõ lý do, lúc đó Kenjiro mặc trang phục màu đen, có nghĩa là cậu ta mặc quần áo đen đứng trước bức tường đen nên nhìn như thể đầu cậu ta đang bay giữa không trung.”

“Hóa ra là vậy.” Kawaminami gật đầu nhìn ông Ayuta. Ông ta không nói năng gì, chỉ hướng mắt về ngôi nhà trắng kiểu Tây sáng trưng dưới nắng.

“Ngoài ra, Conan.” Shishiya nói. “Cậu có nhớ màu sắc nội thất Hắc Miêu Quán không?”

“Nội thất ư?”

“Tường sơn màu đen, khung cửa cũng màu đen, bồn tắm tầng hai cũng màu đen, sàn lát gạch men đỏ trắng xen kẽ. Trong ghi chép miêu tả như vậy đấy. Còn cảnh tượng cậu tận mắt trông thấy thì sao?”

“Tường màu trắng ngà, cửa lớn cũng có màu tương tự, bồn tắm màu trắng… Phải rồi, khi chúng ta ở trên tầng, tôi đã cảm thấy hơi kì quái. Nền nhà lát xen kẽ gạch đỏ và đen. Còn nữa, ban nãy mở lối đi bí mật trong đại sảnh, màu sắc của viên gạch ‘chìa khóa’ cũng không đúng lắm.”

“Trong ghi chép nói là gạch men đen, mà viên gạch tôi lấy ra ban nãy lại có màu trắng.”

“Nói vậy, anh Shishiya, nội dung của ghi chép là bịa đặt sao?”

Shishiya lắc đâu rất kiên quyết. “Không, nội dung trong ghi chép giống như người viết đã nói ở phần đầu, ‘tuyệt đối không thêm thắt bất cứ tình tiết hư cấu nào’. Tôi tin vào điểm này.”

“Rốt cuộc…”

“Cậu vẫn chưa hiểu sao?” Shishiya lại giơ tay chỉ lên nóc, “Nhìn xem! Bên phải, chỗ cao nhất trên mái nhà.”

“Thấy rồi.”

“Cậu thấy gì?”

“Thấy cái chong chóng mèo… Phải rồi, màu sắc có vẻ không khớp. Không phải màu đen, mà là màu xám nhạt. Trước đây chắc hẳn nó có màu trắng ngà.”

“Cậu nhìn kĩ lại xem.” Shishiya chỉ vào chong chóng chỉ hướng gió hình động vật được làm bằng sắt mạ kẽm đang nhô lên trên nóc nhà. “Có đúng là chong chóng mèo không?”

“Đúng mà, khoan…” Kawaminami lại săm soi thật kĩ. Nghe Shishiya gặng hỏi, cậu cũng thấy không giống mèo thật. Nếu gọi hình dạng của con vật kia là mèo, thì đường nét thân thể quá tròn, phần đuôi lại quá to, tai cũng quá dài…

“Chẳng lẽ là con thỏ?”

“Đúng vậy.” Shishiya nghiêm túc gật đầu. “Đó không phải ‘mèo’, mà là ‘thỏ’, một con thỏ màu trắng.”

“Nhưng, nó…”

“Là Alice, đây không phải ngôi nhà ở ‘Thế giới Trong gương’, mà là ngôi nhà ở ‘Xứ sở Diệu kỳ’*, Conan ạ.”

“Alice?”

“Tối qua chẳng phải tôi đã nói với cậu rồi sao? ‘Dodgson’ để chỉ Charles Lutwidge Dodgson, cũng chính là tên thật của Lewis Carroll.”

“Đúng vậy. Chuyện này tối qua đã…”

“Nhiều năm trước, sau khi nhận ra bản tính của tiến sĩ Amo, người đặt hàng mình thiết kế ngôi nhà, Nakamura Seiji đã trêu đùa ông ấy. Kiến trúc sư đã lấy ý tưởng từ tác phẩm thiếu nhi viết về Alice của Lewis Carroll để thiết kế ngôi nhà.”

“A…”

“Ngôi nhà này không phải Hắc Miêu Quán. Nếu buộc phải đặt cho nó một cái tên thì có thể căn cứ vào chong chóng mèo mà gọi nó là ‘Bạch Thố Quán’. Hắc Miêu Quán thực sự được xây ở một nơi khác, một mặt khác của tấm gương.”

Shishiya nhìn bộ dạng vẹo đầu sang một bên của Kawaminami, lại đảo mắt nhìn Ayuta vẫn đang im lặng nãy giờ.

“Là như vậy phải không, ông Ayuta?”

Dường như đã dồn hết toàn bộ sức nặng cơ thể lên cây ba toong cầm bên phải, ông Ayuta mệt mỏi cúi đầu thật thấp.

Shishiya hỏi tiếp, “Ban nãy khi nhìn thấy bức tranh dưới tầng hầm, trí nhớ của ông đã hồi phục rồi phải không? Bản thân mình rốt cuộc là ai, chắc chắn ông đã nhớ ra hết, ông Ayuta… À không, tiến sĩ Amo nhỉ!”

Ayuta Toma và Amo Tatsuya là cùng một người.

Tối qua Kawaminami đã biết sự thật này, đúng vào lúc Shishiya gọi cậu sang phòng mình.

Khi nhìn thấy tấm bưu thiếp mà Hiroyo cháu gái giáo sư Kumashiro gửi tới, cũng chính là tấm thiệp mời mà hai mươi năm trước tiến sĩ Amo gửi cho giáo sư Kumashiro, Kawaminami vô cùng sửng sốt. Nét chữ trên đó quá giống với nét chữ trong sổ ghi chép của ông Ayuta Toma.

Chữ trên tấm bưu thiếp và trong sổ ghi chép do cùng một người viết, so sánh là biết ngay. Dù không có giám định của chuyên gia, vẫn có thể dễ dàng thấy được kết quả chỉ sau một cái liếc mắt.

“Sau cái chết đột ngột của Rena, vì sao ông Ayuta lại ngoan ngoãn nghe theo đề xuất của Hayato mà không báo cảnh sát?” Shishiya đã từng đặt câu hỏi này trước khi đưa cho Kawaminami xem tấm bưu thiếp, giờ anh lại nhắc lại, “Đó là bởi ông ta ngầm cho phép đám thanh niên chơi ma túy ư? Dĩ nhiên cũng có một phần nguyên nhân, nhưng quan trọng hơn cả, ông ta sợ cảnh sát tới đây sẽ lục tung mọi ngóc ngách của ngôi nhà lên.”

“Bởi vì dưới đất giấu một bộ xương sao?”

Nghe Kawaminami hỏi, Shishiya gật đầu không chút do dự. Anh cầm lấy kẹp giấy màu đen đang đặt trên bàn, bên trong là bản sao sổ ghi chép.

“Trong sổ ghi chép có viết thế này, ‘Trong lòng tôi cũng biết rõ. Nếu giờ cảnh sát tới điều tra vụ án, tôi cũng chẳng được lợi lộc gì. Vì vậy, tôi vẫn đang cân nhắc nên xử lý việc này thế nào.’ Cậu không cảm thấy đoạn văn này đã phản ánh đầy đủ tâm trạng ông ta lúc đó rồi sao?”

“Bộ xương khô chính là Risako, cô con gái nuôi chưa rõ tung tích của tiến sĩ Amo. Tôi đoán người giết cô bé rồi giấu thi thể dưới tầng hầm chính là chủ nhân của ngôi nhà bấy giờ, tiến sĩ Amo. Nếu Ayuta Toma và Amo Tatsuya là cùng một người, dĩ nhiên ông ta biết con đường bí mật dưới tầng hầm và thi thể giấu bên dưới, vì vậy ông ta không muốn báo cho cảnh sát. Ông ta sợ họ phát hiện ra bộ xương trong lúc khám xét ngôi nhà…”

Không đợi Kawaminami trả lời, Shishiya lại đưa ra điểm nghi vấn thứ hai.

“Còn một điểm nữa, chính là lúc kiểm tra cái xác của Rena, ông ta tỏ ra vô cùng chuyên nghiệp, có thể đoán được thời gian tử vong thông qua độ co cứng của thi thể. Nếu Ayuta chính là Amo, nghi vấn này có thể lý giải dễ dàng rồi. Ngoài ra, sự chu đáo của ông ta khi kiểm tra thi thể Kenjiro sẽ trở nên dễ hiểu.

“Suy nghĩ của một người ngoại đạo như tôi là thế này, ông Amo đã làm trong ngành Sinh học nhiều năm, đặc biệt là nghiên cứu về động vật học, nhiều khả năng có liên quan tới giải phẫu học. Trước đây, tôi cũng từng có một người bạn học động vật học ở khoa Khoa học tự nhiên, sau đó làm trợ giảng môn giải phẫu học ở khoa Y học, hiện giờ đang công tác tại Đại học Houston. Lâu rồi chúng tôi không gặp nhau.

“Nếu như Ayuta Toma chính là Amo, vậy thì chắc chắn ông ta phải nắm được một số kiến thức cơ bản về pháp y, đương nhiên cũng biết một số kiến thức về kiểm tra thi thể. Nếu quả thật ông ta cực kì thích đọc các tác phẩm của Edogawa Ranpo, Yokomizo Seishi như giáo sư Kumashiro đã nói, thì khả năng này lại càng lớn.”

“Trong ghi chép chẳng phải đã nói rằng, giấu thi thể Tsubakimoto Rena dưới tầng hầm có những ưu điểm dễ thấy sao? Câu đó có ý gì?”

“Lúc Hayato đưa ra đề xuất này, rõ ràng ông Ayuta đã rất khó xử. Trong ghi chép cũng nói thế. Nhưng làm như vậy lại có nhiều lợi ích lớn đối với ông ta, điều này giúp ông ta có được sự đảm bảo.”

“Đảm bảo?”

“Đúng vậy, chính là sự đảm bảo sau này ông ta có thể sống ở Hắc Miêu Quán cả đời.

“Bấy giờ quyền sở hữu Hắc Miêu Quán không thuộc về ông ta, mà thuộc về cha Yuki, ông ta chẳng qua chỉ là một quản gia bình thường mà thôi. Vì vậy, bản thân ông ta cũng không biết khi nào sẽ bị ông chủ đuổi ra khỏi cửa. Nhưng dưới tầng hầm ngôi nhà này lại giấu xác Risako do chính tay ông ta giết chết. Huống hồ, ông ta cũng có tình cảm sâu đậm với ngôi nhà. Ông ta không muốn rời khỏi đây, không muốn một chút nào.

“Ông ta muốn giấu xác Rena trong tầng hầm, để chính mình làm người gác mộ. Như vậy, ông ta đã nắm được điểm yếu chí mạng của Yuki con trai ông chủ. Ông ta côn cực kì chu đáo dặn Yuki, ‘Sau này mong cậu lưu tâm, đừng để ông chủ bán hoặc cho dỡ Hắc Miêu Quán.’ Như vậy, ông chủ sẽ không bán ngôi nhà, cũng sẽ không sa thải người quản gia, đảm bảo cho ông ta ở Hắc Miêu Quán mãi mã. Dĩ nhiên, ông ta cũng có thể lợi dụng tội trạng của Yuki và chứng cứ mà mình nắm được để uy hiếp ông chủ, đoạt lại ngôi nhà. Nhưng từ nội dung của ghi chép, có thể thấy ông ta không ấp ủ dã tâm đó.”

“Ra vậy. Cho nên…”

“Trên đây chính là câu trả lời cho những nghi vấn mà tôi vừa mới đặt ra.”

Shishiya ngồi ở mép giường, đặt bản sao của cuốn sổ ghi chép lên đùi, chậm rãi giở ra. Trong bản sao dán chi chít giấy nhớ.

Kawaminami nhoài người khỏi ghế, “Anh phát hiện ra ông Ayuta chính là tiến sĩ Amo từ khi nào?”

“Hôm nay, sau khi nhìn thấy bưu thiếp, tôi mới chắc chắn được chuyện này. Nhưng tôi đã luôn nghi ngờ rồi. Bởi vì trong ghi chép, nhiều hành động và lời nói của ông ta khiến tôi khó hiểu. Hôm qua, sau khi trò chuyện với giáo sư Tachibana, tôi lại càng cảm thấy ông Ayuta chính là Amo.” Shishiya ngẩng đầu lên. “Cơ quan nội tạng của Amo cũng bị đảo lộn vị trí, đây là manh mối mang tính quyết định.”

“Tại sao vậy?”

“Trong ghi chép, có rất nhiều chỗ ngầm ám chỉ việc nội tạng của ông Ayuta nằm ngược so với thông thường.”

“Thật sao?”

“Đúng vậy, tất cả đều là những chi tiết rất nhỏ. Lần đầu đọc ghi chép, tôi đã cảm thấy hơi kì lạ. Ví dụ như…” Shishiya nhanh nhẹn lật vài trang. “Đêm đầu tiên, khi về phòng nghỉ ngơi, ông ta miêu tả thế này, ‘Có thể do lâu rồi không uống rượu nên bụng tôi trướng lên rất không thoải mái. Để dễ chịu hơn, tôi nằm nghiêng sang trái, cố gắng mặc kệ tiếng hò hét của đám thanh niên bên phòng sinh hoạt, từ từ nhắm mắt chìm vào giấc ngủ.’”

“Thông thường, khi cảm thấy dạ dày khó chịu, người ta thường nằm quay sang phải, đó là vì dạ dày nằm bên phải, nhưng ông ta lại nằm nghiêng sang trái. Vì sao? Bởi vì dạ dày ông ta nằm ngược hướng với người thường. Còn nữa…”

“À, đây rồi. Đêm thứ hai, ông ta lên gác xép để nhìn trộm tình hình trong đại sảnh. Khi nhìn thấy cảnh tượng dâm loạn của đám thanh niên, ông ta đã ghi thế này, ‘Tôi vô thức đặt tay trái lên ngực, thấy tim mình đang đập rất nhanh.’ Conan, khi cậu ấn tay lên ngực, cậu sẽ dùng tay nào?”

“Tôi sẽ dùng tay phải… Đúng vậy, chính là tay phải, như thể này.” Kawaminami minh họa thực tế.

“Đương nhiên rồi.” Shishiya gật đầu nói, “Khi tim nằm bên trái cơ thể, người ta thường đặt tay phải lên ngực, kể cả người thuận tay chiêu cũng vậy. Nhưng ông Ayuta lại dùng tay trái.”

“Ra thế.”

“Trong ghi chép còn hai ba chỗ miêu tả tương tự. Ví dụ, khi phát hiện ra bộ xương dưới tầng hầm, ‘Tôi ấn chặt tay trái lên lồng ngực, cố trấn tĩnh, đồng thời nghĩ cách trấn an đám thanh niên đang sợ hãi.’ Khi phát hiện xác Kenjiro trong buồng tắm, ‘Tôi ấn tay trái lên ngực mình, cố gắng trấn tĩnh lại, đồng thời quan sát thi thể đang treo trước mặt.’ Giở đại khái mấy trang đã gặp nhiều thế này.

“Vì sao ông ta thường ấn tay trái lên ngực? Bởi vì tim của ông ta nằm bên phải.”

Shishiya đặt bản sao lên bàn, ngồi nhích lên cạnh gối, dựa vào thành giường.

“Chúng ta vẫn nên sắp xếp lại theo trình tự.”

Anh nói tiếp.

“Một mặt, sau khi du học về, tiến sĩ sinh học Amo được bổ nhiệm làm phó giáo sư Đại học H và sinh sống ở Sapporo. Không lâu sau, em gái ruột ông ta sinh con rồi qua đời, ông bèn nhận cháu gái làm con nuôi. Theo lời giáo sư Tachibana, ông ta rất thương yêu Risako, thường dẫn cô bé theo tới trường đại học, ngay cả lúc vẽ tranh để tiêu khiển, ông ta cũng lấy cô bé làm người mẫu.”

“Mặt khác, qua giới thiệu của một người bạn là giáo sư Kumashiro, tiến sĩ Amo làm quen với kiến trúc sư Nakamura Seiji, nhờ ông ta thiết kế nhà nghỉ dưỡng cho mình. Nakamura Seiji nhận lời, xây một căn Hắc Miêu Quán trong rừng Akan. Nhưng sau này, kiến trúc sư nhận xét Amo Tatsuya là ‘bản sao của Dodgson’, có ý nghĩa là…” Shishiya nhìn Kawaminami và hỏi, “Cậu có biết cái tên Lewis Carroll không?”

“Tôi biết, chẳng phải ông ta là tác giả của Alice ở Xứ sở Diệu kỳ

sao?”

“Thế còn tên thật của ông ta?”

Kawaminami lắc đâu, không nói nên lời. Shishiya híp mắt cười nói, “Charles Lutwidge Dodgson. Đó là tên thật của Carroll.”

“Dodgson…”

“Bút danh Lewis Carroll được đặt dựa trên tên thật của ông ta. Dịch tên thật Charles Lutwidge sang tiếng La tinh, sau đó thay đổi thứ tự trước sau của chữ cái, rồi đọc nó bằng tiếng Anh là ra. Tóm lại, Nakamura Seiji có ý châm biếm nên mới nói tiến sĩ Amo là bản sao của Carroll. Nakamura cố tình sử dụng tên thật Dodgson để từ đó có thể nhìn ra tính cách thật của ông ta.”

“Nghe anh nói vậy tôi mới nhớ ra. Giáo sư Kumashiro nói hồi sinh hoạt sáng tác, tiến sĩ Amo thích viết các tác phẩm cho thiếu nhi.”

“Đúng là giáo sư Kumashiro đã nói thế. Ngoài ra, khi nhắc tới Lewis Carroll, cậu sẽ nghĩ tới điều gì?”

“Ông ấy từng là giáo sư Đại học Oxford.”

“Cũng là nhà toán học và logic học. Còn gì nữa?”

“Còn… Xin lỗi, hồi nhỏ tôi đã từng đọc cuốn Alice ở Xứ sở Diệu kỳ

của ông ấy.”

“Cậu không cần xin lỗi đâu.”

“Ôi, thật ngại quá.”

“Carroll có sở thích tương đối kì lạ, cái này rất nổi tiếng. Ông ta không có cảm xúc với phụ nữ trưởng thành, mà chỉ thích các bé gái dưới 13 tuổi.”

“Bé gái… ông ta mắc chứng ái nhi?”

“Cậu không thể nói tế nhị hơn à?” Shishiya giả vờ giả vịt sờ lên mũi mình.

Kawaminami vẫn tiếp tục, “Có nghĩa là, Amo cũng say mê các bé gái giống như Carroll?”

“Giáo sư Kumashiro đã nói rằng ông ta rất nam tính, được nhiều cô gái say mê, nhưng vẫn luôn độc thân. Giáo sư Tachibana cũng nói ‘Hình như Amo không có hứng thú với nữ giới’.”

“Đúng là giáo sư Tachibana đã nói thế.”

“Kiến trúc sư Nakamura Seiji từng tiếp xúc vài lần với tiến sĩ Amo để bàn bạc công việc. Trong khoảng thời gian này, ông ta cũng nhìn ra được bản chất tiến sĩ, phát hiện ra con người này chỉ thích các ‘bé gái’. Bấy giờ, tiến sĩ Amo chỉ quan tâm tới con gái nuôi Risako. Sở dĩ ông ta xây nhà nghỉ dưỡng trong rừng sâu quạnh vắng, là bởi muốn tạo ra một thế giới riêng cho mình và Risako. Sau khi nhà nghỉ dưỡng ở Akan được xây xong, hễ có cơ hội, tiến sĩ sẽ đưa Risako tới đây tận hưởng khoảng thời gian chỉ có hai người, thi thoảng cũng mời bạn bè tới chơi.

“Thời gian dần trôi, Risako rồi cũng trở thành thiếu nữ. Tiến sĩ Amo vẫn rất yêu cô bé, nhưng khi Risako sắp vào trung học, có thể vì một lần xúc động nhất thời nào đó, ông ta đã tự tay giết chết cô bé…”

“Vì sao phải làm như vậy?” Kawaminami ngất lời anh, “Chẳng phải tiến sĩ rất yêu Risako sao?”

“Đúng là rất yêu. Nhưng ông ta chỉ yêu Risako thưở mới lớn. Chính vì vậy, ông ta mới giết chết Risako. Bởi ông ta không thể tha thứ cho việc một ‘cô bé’ thuần khiết lại nhiễm phải bao ô uế từ cuộc đời sau khi trưởng thành thành một ‘cô gái’. Về mặt nào đó, bé gái tới tuổi 12 sẽ bắt đầu thay đổi dần từ trẻ con thành người lớn, tuyến vú phát triển, bắt đầu có kinh.”

“Như vậy sao…”

“Dĩ nhiên, đây đều là suy đoán chủ quan của tôi, cũng có thể sự việc còn rối rắm phức tạp hơn, hiện giờ chỉ phỏng đoán dựa vào lập luận thôi. Amo giết chết Risako, không hiểu sao còn giết luôn cả con mèo mun, có lẽ giết cùng lúc luôn. Ông ta đưa hai cái xác xuống lối đi bí mật dưới tầng hầm, xây một bức tường ngăn ở cửa vào. Ông ta còn nói dối với người ngoài rằng con gái nuôi đã mất tích, may mắn che giấu được tội ác của mình.

“Nhưng số phận ông ta về sau rất bi thảm. Bị sốc nặng vì mất đi Risako, ông ta chỉ biết ngày ngày làm bạn với hơi men, mượn rượu giải sầu. Không lâu sau lại gây ra rắc rối lớn, bị trường sa thải. Lại thêm việc làm ăn phá sản, cuối cùng ông ta không trụ nổi ở Sapporo, ngôi nhà nghỉ dưỡng yêu dấu ở Hokkaido phải sang tay cho kẻ khác. Nhưng để trông coi thi thể Risako dưới tầng hầm, và cũng để tưởng nhớ cô bé, ông ta quyết không rời khỏi Hắc Miêu Quán.”

“Vì vậy, ông ta chủ động trở thành quản gia của ngôi nhà?”

“Đúng vậy. Ông ta đã xin Adachi Hideaki, quản lý bất động sản địa phương, giấu chủ mới của ngôi nhà tên thật và lai lịch của mình. Chưa biết chừng, ông ta và Adachi đã làm bạn với nhau từ lâu. Không nói những chuyện khác, nhưng riêng chuyện thi thể của Risako thì tuyệt đối không thể nhắc tới. Đây đã là chuyện của sáu năm… không, bảy năm trước rồi.”

“Cái tên giả Ayuta Amo có ý nghĩa đặc biệt gì không?”

“À, là thế này.” Shishiya lấy một mảnh giấy nhớ trên bàn, đặt lên đùi rồi cầm bút lên. “Đây là một trò chơi đố chữ rất đơn giản, tôi cũng mới phát hiện ra vào tối qua.”

Nói đoạn, Shishiya đưa giấy cho Kawaminami, trên đó viết tên Ayuta Toma bảng chữ cái La tinh: A Y U T A T O M A.

“Không cần thay đổi gì quá phức tạp, cậu hãy đặt tờ giấy này trước gương xem.”

Kawaminami đứng dậy, đi tới chiếc gương gắn trên tường. Cậu giơ tờ giấy lên soi theo lời Shishiya.

“Hả!” Cậu kêu thất thanh, “Hóa ra là như vậy, đảo ngược lại rồi.”

Cái tên trong gương không còn là Ayuta Toma nữa, mà là Amo Tatuya.

“AMO TATSUYA! Quả không hổ là ‘người sống ở thế giới trong gương’.” Shishiya điệu bộ nói như thể đang diễn kịch.

Kawaminami chăm chú nhìn các chữ cái trong gương, lặng lẽ lắc đâu.

“A lê hấp, Amo Tatsuya lắc mình biến thành Ayuta Toma, quản gia của Hắc Miêu Quán. Ông ta quyết định sống cả đời ở đây. Về sau ngôi nhà đổi chủ vài lần, mỗi lần đều phải nhờ trung gian là Adachi Hideaki, ông ta mới có thể tiếp tục cuộc sống ‘ẩn sĩ’ của mình. Tháng Tám năm ngoái, đám thanh niên tới đây. Sự xuất hiện của họ khiến tâm trạng ông ta vô cùng phức tạp, điều này thể hiện qua vài đoạn miêu tả trong ghi chép.”

Shishiya lại mở bản sao của cuốn sổ ra xem.

“Ví dụ, trong bữa ăn ngày thứ hai, Shin có bịa ra truyền thuyết Hắc Miêu Quán cho Tsubakimoto Rena nghe. Khi Ayuta nghe thấy Shin nhắc đến vụ việc kinh hoàng xảy ra trong nhà này, ông ta đã viết, ‘Ra đến hành lang, tôi dừng bước, dỏng tai lên nghe xem Shin giải thích thế nào.’ Lúc đó, chắc hẳn ông ta vô cùng căng thẳng. Sau khi vỡ lẽ đây chỉ là chuyện đùa, ông ta mới thở phào nhẹ nhõm.

“Rồi khi bọn họ khiêng thi thể Rena xuống tầng hầm, Hayato đột nhiên hỏi về cánh cửa dẫn vào lối đi, ‘Nghe cậu ta hỏi, tôi nhất thời không biết trả lời thế nào?

“Bức tường bị đập vỡ, lối đi bí mật bại lộ, Hayato dẫn đầu tiến vào, ghi chép viết ‘Tôi hạ quyết tâm vào theo’. Xét đến tâm trạng ông Ayuta lúc đó, chẳng phải các miêu tả này quá dễ hiểu rồi sao?”

“Tôi muốn hỏi một chuyện.” Kawaminami nói, “Ông Ayuta coi việc giấu thi thể Rena dưới tầng hầm chính là một sự đảm bảo. Nhưng nếu cân nhắc tình cảm của ông ấy với Risako quá cố thì…”

“Ý cậu là, ông ta nhất định sẽ không cho phép chuyện như vậy xảy ra phải không?”

“Đúng vậy, hơn nữa ông Ayuta còn không hề thích cô gái tên Rena, nói thẳng ra là chán ghét cực độ. Chôn loại phụ nữ như vậy ở cùng một chỗ với con gái nuôi mà mình hết lòng thương yêu, tôi nghĩ trong lòng ông ta sẽ có mâu thuẫn rất dữ dội.”

“Cậu nói cũng có lý. Ông ta quả thật sẽ có suy nghĩ như vậy.” Shishiya gật đầu, nhưng rất nhanh sau đó lại lắc đâu. “Song chúng ta cũng có thể xem xét dựa trên một góc độ khác. Về dung mạo của Rena, trong ghi chép có một đoạn miêu tả thế này, cậu còn nhớ không? ‘Quan tâm duy nhất của tôi với cô ta, chắc cũng chỉ có khuôn mặt (đặc biệt là đôi mắt) hơi giống với người thân đã mất của tôi mà thôi.’ Người thân đã mất ở đây nhất định là em gái ông ta, cũng chính là mẹ của Risako.”

“Giáo sư Tachibana hình dung em gái ông ta là một người xinh đẹp, kiểu tinh quái, chắc chắn Risako lớn lên cũng giống mẹ mình. Nếu đúng thì một mặt như cậu nối, trong lòng ông ta sẽ nảy sinh mâu thuẫn, nhưng mặt khác cũng có thể nhận định, Risako đã ở một mình trong Hắc Miêu Quán quá lâu rồi, giờ chôn thêm một phụ nữ trông giống mẹ cô bé, có thể phần nào an ủi trái tim cô đơn của cô…”

Trông thấy vẻ gật gù như đã hiểu của Kawaminami, Shishiya lại vứt bản sao sổ ghi chép sang một bên.

“Sau khi xem xét nhiều vấn đề như vậy, chắc cậu đã hiểu vì sao ông Ayuta lại tới Tokyo vào tháng Hai năm nay, cũng hiểu được cuốn sổ ghi chép quan trọng với ông ta đến mức nào rồi chứ?” Shishiya nói tiếp.

“Tuy đã báo cảnh sát về cái chết đột ngột của Kenjiro, nhưng sự việc chỉ được xử lý như một vụ tự sát thông thường chứ không phát sinh hệ lụy gì phiền phức. Sau đó, các thanh niên kia trở về Tokyo. Hắc Miêu Quán khôi phục vẻ bình yên vốn có. Do vậy, ông Ayuta đã coi mình là độc giả để ghi chép lại sự việc (xem như một cuốn tiểu thuyết ông ta tự viết cho chính mình), nhưng sau đó lại xảy ra tai họa mà chính ông ta cũng không ngờ tới.

“Đầu tiên là bệnh tật kéo đến. Ông ta bị xuất huyết não, tuy giữ được mạng sống nhưng tay trái lại ảnh hưởng, dẫn đến tàn tật.

“Tiếp theo là cuối năm ngoái, cả nhà Kazama tử vong vì tai nạn xe cộ, Hắc Miêu Quán là một trong những tài sản của cha Yuki nên cũng được chuyển nhượng cho mẹ của Hayato. Hơn nữa, theo suy đoán của tôi, bà ấy còn dự định bán hoặc tháo dỡ ngôi nhà.”

“Vậy sao.” Kawaminami cuối cùng cũng hiểu được tương đối. “Để ngăn cản kế hoạch này, ông Ayuta…”

“Đúng. Khi biết được ý định của người chủ mới, Ayuta đã rất hoảng loạn, định gọi điện thoại cho Hayato trước, hi vọng cậu ta có thể thuyết phục mẹ mình. Nhưng không may, kể từ khi sang Mỹ, Hayato bặt vô âm tín, không tài nào liên lạc nổi. Cho nên ông ta đành phải xem xét tới việc gặp mẹ của Hayato để đàm phán. Nếu kể hết sự tình, người mẹ có thể sẽ vì con trai mà từ bỏ kế hoạch bán hoặc tháo dỡ ngôi nhà. Nhưng…”

“Nhưng tai của bà ấy không tốt, không thể trò chuyện qua điện thoại, có phải vậy không?”

“Đúng vậy. Ông ta không thể nói rõ mọi chuyện qua điện thoại. Mà chuyện này lại rất đặc biệt và vô cùng phức tạp, cho dù viết thư cũng phải viết rất dài mới rõ ràng. Nhưng lúc đó, tay trái của ông ta không viết được bức thư dài như thể nữa. Ngoài ra, vì không được để ai khác biết nội dung bức thư nên cũng không thể nhờ người viết hộ. Ông ta chỉ còn cách duy nhất là đưa cuốn sổ ghi chép đã hoàn thành cho mẹ Hayato đọc. Cho nên tháng Hai năm nay, cuối cùng ông ta cũng quyết tâm tới Tokyo, thế nhưng…”

Ở Tokyo, khách sạn Ayuta trọ xảy ra hỏa hoạn, bản thân ông ta cũng vì trận hỏa hoạn này mà mất đi trí nhớ. Hàng loạt sự cố ngẫu nhiên không thể cưỡng lại được cứ thế liên tiếp diễn ra, thật đúng là dở khóc dở cười. Nghĩ tới đây, Kawaminami bất giác nín lặng.

“Tóm lại, đại khái sự việc là như thế…” Shishiya chống khuỷu tay lên đầu gối, bàn tay đỡ lấy cằm, bĩu môi không nói nữa. Anh nhắm mắt trầm tư suy nghĩ, một lúc sau lại từ từ mở mắt ra.

“Hiện giờ chỉ còn lại vấn đề cuối cùng, rốt cuộc Kenjiro tự sát hay là do ông ta giết?”

Shishiya quan sát vẻ mặt Kawaminami. Kawaminami dứt khoát hỏi luôn.

“Đoạn cuối của ghi chép, ông Ayuta hình như đã đưa ra một kết luận. Anh Shishiya có biết kết luận đó là gì không?”

“Khó nói lắm.” Shishiya chau mày. “Vẫn còn đôi chỗ tôi chưa hiểu rõ, chưa thể nắm được ông Ayuta đã làm thế nào để đưa ra kết luận. Tôi biết đại khái tình hình, nhưng nói sao đây? Giống như chơi trò ghép hình, mảnh ghép cuối cùng vẫn không khớp với vị trí cuối cùng vậy, nếu cứ cố xếp vào, cả bức tranh sẽ bị phá hỏng… Chính là cảm giác này.”

Kawaminami không biết nói gì cho phải, đành gật đầu phụ họa. Hai đầu lông mày Shishiya càng xích lại gần nhau hơn.

“Còn một điểm nữa, Conan.” Shishiya nói tiếp, “Trong ghi chép có một vài nội dung thật khó hiểu, khiến tôi thấy bối rối.”

“Ngoài những chỗ anh vừa nói ra thì vẫn còn nữa sao?”

“Có chứ, ví dụ như…” Shishiya đang định nói, nghĩ thế nào lại nuốt vào trong. Trông anh rất mệt mỏi, đầu dựa vào tường, mắt nhắm lại nghỉ ngơi một lát rồi mới nói tiếp, “Tóm lại, phải xem ngày mai thế nào đã.” Shishiya thở dài, tự an ủi mình, “Đợi tới Hắc Miêu Quán rồi nói tiếp. Chưa biết chừng sau khi tận mắt nhìn thấy ngôi nhà, trí nhớ của ông Ayuta sẽ được khôi phục. Những mơ hồ trong tôi có thể tiêu tan.”

“Ngày mai có cần xem xét dưới tầng hầm không?”

“Khả năng là có.”

“Nhưng…”

“Mục đích ban đầu của chúng ta là giúp ông Ayuta khôi phục trí nhớ. Đương nhiên hiện giờ tôi có thể nói với ông ta, rằng ông chính là Amo, nhưng làm vậy sẽ khiến đầu óc ông ta càng thêm hỗn loạn. Nếu ông ta tự lấy lại được kí ức thì tốt quá. Vì vậy, chúng ta buộc phải phá mở vài bức tường…”

“Nhưng nếu phát hiện ra thi thể, chúng ta phải làm sao…”

“Cậu muốn báo cảnh sát?” Shishiya cố tình nói với giọng hờ hững, “Báo hay không, tôi thấy nên để ông Ayuta quyết định. Tôi thì không nhé, huống hồ gần đây, tôi cũng chán ngấy cái gọi là nghĩa vụ cần có của một công dân lương thiện rồi… Dĩ nhiên, nếu cậu vẫn muốn báo cảnh sát, tôi cũng không ngăn cản.”

Ngôi nhà này không phải Hắc Miêu Quán. Hắc Miêu Quán thực sự được xây ở một nơi khác…

Câu nói này gây chấn động quá lớn, Kawaminami cứ nhắc đi nhắc lại mãi trong đâu. Nghe Shishiya giục, cậu lại một lần nữa tiến đến hàng hiên của ngôi nhà, còn ông Ayuta thì bất kể Shishiya nói gì cũng đều cúi đầu không đáp, lẳng lặng theo sau hai người như tù nhân bị bắt.

“Ban nãy khi đứng ở ngoài cổng, tôi đã cảm thấy hơi kì lạ.”

Shishiya và Kawaminami băng qua cửa lớn màu trắng đang mở, bước vào tiền sành âm u.

“Chúng ta đi từ cổng phụ vào, cổng phụ nằm bên trái cổng chính, nhưng trong ghi chép, cổng phụ lại nằm bên phải cổng chính. Ngoài ra, chong chóng thỏ mà chúng ta đang thấy nằm ở bên phải nhà nếu nhìn từ chính diện, nhưng trong ghi chép, chong chóng mèo nằm bên trái. Ghi chép viết là phía Đông, tính theo phương hướng thì chính là bên trái.”

Nếu bên trái là phía Đông thì cửa trước của Hắc Miêu Quán quay về hướng Bắc. Kawaminami cố nhớ lại mô tả trong ghi chép, nhưng chẳng thể nào nhớ nổi những đoạn nhỏ nhặt này. Sổ ghi chép mà có đính kèm sơ đồ chiếu bằng của ngôi nhà thì tốt quá… Trong lòng cậu bỗng dâng lên một nỗi bực bội vô cớ.

Như nhìn thấu tâm tư Kawaminami, Shishiya rút từ túi xách ra một tờ giấy, “Cậu xem cái này đi. Đây là mặt bằng tôi vẽ dựa trên nội dung của ghi chép, tuy hơi ẩu nhưng về cơ bản vẫn nhận ra được một số vấn đề.”

Kawaminami nhìn vào tờ giấy, trên đó vẽ sơ đồ chiếu bằng Hắc Miêu Quán bằng bút chì. Cửa trước mở ra phía Bắc, sau khi vào tiền sảnh, bên phải trước mặt là cầu thang đi lên tầng hai. Đại sảnh nâm bên phải tiền sảnh, cũng chính là mé Tây của ngôi nhà. Theo hành lang bên trái đi về hướng Đông, hai bên lần lượt là phòng ăn kiêm phòng khách, phòng sinh hoạt, bếp và phòng ngủ của Ayuta.

Kawaminami ngẩng đầu lên nhìn tiền sảnh trước mặt mình.

“Khác hoàn toàn.” Đúng lúc đó, cậu mới thấm thía được rằng trí nhớ và khả năng quan sát của mình quá kém cỏi. “Vị trí của các căn phòng ở đây đều ngược với sơ đồ…”

Cầu thang ở sâu bên trong tay trái, đại sành ở bên trái tiền sảnh, hành lang ở bên phải… Mọi vị trí đều đảo ngược so với sơ đồ chiếu bâng trên tay, giống như hình ảnh trong gương vậy.

“Tuy chưa vẽ đến, nhưng địa hình tầng hầm và hướng ngoặt của đường hầm mà chúng ta xuống xem ban nãy đều lật ngược so với vị trí miêu tả trong ghi chép. Ngoài ra…

“Như hình vẽ thì hàng hiên của Hắc Miêu Quán quay về hướng Bắc, trong ghi chép cũng miêu tả như vậy. Nhưng hàng hiên ở đây lại không quay về hướng Bắc.”

“Thật sao? Nói vậy là…”

Kawaminami nhớ lại cảnh mình đứng trước ngôi nhà giữa màn sương mù dày đặc cách đây hai, ba tiếng. Khi đó, một cơn gió mạnh thổi qua, xua sương mù tản đi, mặt trời chiếu rọi hàng hiên. Lúc đó đã sắp tới trưa, mặt trời nằm ở chính Nam. Như vậy, hiên nhà chắc chắn quay về hướng Nam rồi.

Hắc Miêu Quán thực sự có lẽ đang nằm ở bên kia tấm gương.

Quả nhiên! Ngôi nhà này và Hắc Miêu Quán được xây ở hai phía của một tấm gương…

“Sang đại sảnh thôi!” Shishiya tiến vào căn phòng có cánh cửa trắng, “Ông Ayuta, ông cũng mau qua đây đi.”

Nghe họ giục, ông Ayuta chậm rãi lê bước tới, vẫn cúi đầu như trước, không nói năng gì.

Màn sương dày bên ngoài đã tan hết, ánh sáng rực rỡ chiếu vào căn phòng còn sáng rõ, tươi đẹp hơn nhiều so với lúc họ vào lần đầu, cảm giác nhà hoang cũng phai nhạt dần. Shishiya bước tới giữa phòng với tâm trạng phấn chấn, quan sát kính màu trên ba mặt tường rồi ngoảnh lại nhìn Kawaminami, “Cậu thấy thế nào?”

“Ừm…”

“Đúng như chúng ta nhìn thấy, kính màu ở đây được làm dựa theo hình của lá bài Tây. Nền nhà ốp gạch men đỏ đen đan xen, có lẽ cũng nhàm thể hiện chủ đề này.”

“Đúng vậy.”

Kawaminami chỉ biết gật đầu tán thành, Shishiya nói tiếp.

“Hắc Miêu Quán thì sao? Trong ghi chép miêu tả rằng những ô cửa sổ đều được khảm kính màu, phía trên vẽ hình ‘vua’, ‘hậu’, ‘hiệp sĩ’. ‘Vua’ và ‘hậu’ tạm thời chưa bàn, nhưng trong bài Tây tại sao lại có ‘hiệp sĩ’? Chẳng lẽ đó chính là quân J? Ngoài ra, gạch men lát nền là đỏ trắng đan xen. Conan thấy sao?”

“Liệu có phải… là cờ vua?”

Kawaminami nói khẽ, trong đôi mắt trũng sâu của Shishiya ánh lên nụ cười như muốn nói Chính xác.

“Một bên là bài Tây, một bên là cờ vua. Một bên là thỏ trắng, một bên là mèo đen.” Tiếng Shishiya vang vọng khắp phòng. “Giống như tôi nói với cậu ban nãy ở bên ngoài, nơi đây giống như trong câu chuyện về Alice của Lewis Carroll, Alice ở Xứ sở Diệu kỳ

và Alice ở Thế giới Trong gương.

Tối hôm qua, chẳng phải cậu nói đã từng đọc Alice ở Xứ sở Diệu kỳ

rồi sao? Chắc cậu còn nhớ, Alice đuổi theo một con thỏ trắng, rơi xuống một cái hang, cuối cùng lạc tới vương quốc bài Tây do Hậu Cơ cai trị.”

Kawaminami cuối cùng cũng nhớ ra các nhân vật chính: con thỏ trắng biết lấy đồng hồ quả quýt trong áo gi lê ra đế xem giờ, Hậu Cơ ngang ngược thích chặt đầu người khác.

Nói thật, Kawaminami không thích truyện thiếu nhi đó lắm. Hồi nhỏ đọc cuốn sách này, tính cách bướng bỉnh của nhân vật chính Alice đã khiến cậu vô cùng bực tức. Vì vậy, cậu vốn chẳng muốn đọc Alice ở Thế giới Trong gương

nữa, thậm chí cũng quên gần hết nội dung của Alice ở Xứ sở Diệu kỳ.

“Câu chuyện Alice ở Thế giới Trong gương

bắt đầu từ việc Alice ôm mèo đen lên soi gương. Lần này, cô ấy rơi vào thế giới cờ vua.”

Nói tới đây, ánh mắt Shishiya di chuyển tới ông Ayuta đang đứng ở cửa.

“Tôi thực sự bái phục ông.” Anh nói với ông Ayuta. “Trước khi đến đây, tuy cuốn sổ ghi chép có nhiều đoạn miêu tả thật khó hiểu, nhưng tôi vẫn kiên định rằng Hắc Miêu Quán chính là ngôi nhà này, trong khu rừng ở Akan. Do ghi chép có xuất hiện mèo đen và cờ vua, nên tôi đã cho rằng phong cách kiến trúc của Hắc Miêu Quán chịu ảnh hưởng của Alice ở Thế giới Trong gương.

Nhưng tới tận nơi, tôi mới phát hiện ra tình hình không đúng như vậy. Màu sắc của ngôi nhà không giống như miêu tả trong ghi chép, cách bài trí đều bị đảo lộn hết cả, hình vẽ trên kính màu cũng chịu ảnh hưởng rõ ràng bởi Alice ở Xứ sở Diệu kỳ…

Tôi phục ông đấy. Ai mà ngờ rằng hai mươi năm trước, tiến sĩ Amo lại nhờ kiến trúc sư Nakamura Seiji thiết kế tới hai ngôi nhà nghỉ dưỡng.”

Ông Ayuta nhìn xuống chân mình, không nói lời nào. Thân hình gây còm, dáng người hơi gù, tay trái bị tật không cử động được, đỉnh đầu hói, nửa trái khuôn mặt còn lưu vết sẹo bỏng, chụp mắt che kín mắt trái. Nhìn bộ dạng ông ta, Kawaminami cảm thấy thật khó chịu trong lòng.

Phong thái này đúng là khác một trời một vực so với phong thái trước đây của tiến sĩ Amo mà giáo sư Kumashiro và giáo sư Tachibana từng miêu tả. Ông ta giờ đã già yếu, tàn tạ, lầy lụa thương tích. Chẳng trách lúc họ ghé qua cửa hàng đồ điện ở Akan, chủ cửa hàng không nhận ra ông ta. Nếu để ông ta gặp lại bạn bè đồng nghiệp cũ, liệu bao nhiêu người có thể nhận ra đây chính là Amo Tatsuya?

“Trông ông có vẻ khá mệt rồi.”

Ông lão cúi thấp đầu, đội chiếc mũ không vành màu nâu.

Shishiya nhìn ông ta, “Tìm chỗ nào đó ngồi nghỉ đã. Bên phòng sinh hoạt còn vài cái ghế, chúng ta qua đó nào.”

Shishiya kéo ghế bập bênh từ góc phòng ra, để ông Ayuta ngồi xuống, sau đó tự kéo ghế ra ngồi hướng chếch trước mặt ông ta. Kawaminami cũng tìm một ghế, ngồi xuống giữa hai người họ.

“Ông Ayuta, ông có thể nghe tôi nói hết không?” Shishiya vắt chéo chân, thong thả mở lời.

Ayuta vẫn không trả lời, chỉ cúi đầu thật thấp. Shishiya chẳng ngó ngàng đến, nói luôn.

“Sau khi tới nơi, tôi mới hiểu đây không phải Hắc Miêu Quán trong ghi chép. Tôi đoán hai mươi năm trước, tiến sĩ Amo đã xây một ngôi nhà nghỉ dưỡng khác ở một địa điểm khác… Vì vậy, khi buộc phải cân nhắc lại nội dung trong ghi chép của ông, tôi bèn tự đưa ra một câu hỏi. Hắc Miêu Quán rốt cuộc nằm ở đâu?”

So với đại sảnh, ánh sáng ở đây u ám hơn nhiều, xung quanh đây bụi bẩn. Ánh nắng xuyên qua lớp kính màu chiếu vào trong, Shishiya di chuyển ánh mắt sang khuôn mặt Kawaminami.

“Tối qua, chẳng phải tôi đã nói với cậu rằng tôi vẫn còn những chỗ khó hiểu hay sao? Thật ra những chỗ đó đều ám chỉ vị trí hiện tại của Hắc Miêu Quán, chỉ là tôi quá ngốc nghếch nên không nhận ra sớm hơn. Tuy tôi có mua một quyển sách chuyên sâu về động vật học, nhưng cũng chẳng ích gì. Thật đáng thương.”

Nghe Shishiya nói, Kawaminami đâm ra tự dằn vặt: bản thân cậu tới giờ vẫn chưa hiểu rõ thì sẽ bị coi là gì đây? Cậu thật thà gật đầu.

“Rốt cuộc, những chỗ nào khiến người ta cảm thấy khó hiểu? Hãy để tôi lần lượt giải thích cụ thể nhé.”

Shishiya lấy kẹp đen chứa bản sao ghi chép trong túi xách dưới chân, đặt lên đùi rồi mở ra xem.

“Ví dụ như ngày đầu tiên, khi ông Ayuta tới khách sạn đón đám thanh niên, có một đoạn miêu tả như sau, ‘Lâu rồi mới có sương mù thế này, lái xe phải cẩn thận?

Nếu thành phố trong ghi chép là Kushiro, thì việc ban ngày có sương mù là chuyện quá bình thường. Ghi chép nói ‘lâu rồi mới có’, chẳng phải quá kì lạ sao? Kushiro vào hè, một nửa số ngày trong tháng có sương mù, đặc điểm này vốn rất nổi tiếng cơ mà?”

“Đúng nhỉ. Nghe anh nói vậy, tôi cũng nhận ra là kì lạ.”

“Được rồi, xem tiếp đoạn này.” Shishiya lật giấy, “Đây là đoạn ghi chép trên đường đi xe từ khách sạn trở về Hắc Miêu Quán, ‘Ba người ngồi phía sau khá ồn ào, lúc thì chỉ trỏ qua cửa kính, lúc lại đọc to mấy chữ in trên biển chỉ dẫn và bảng hiệu các cửa hàng bên đường.’ Cậu thử tưởng tượng xem, đám thanh niên hơn hai mươi tuổi đầu liệu có kém cỏi đến mức đọc to những chữ kiểu như ‘giới hạn tốc độ 50 km/h’, ‘cửa hàng tiện lợi Lawson’… không?”

“Đúng nhỉ, sao lại thế được!”

“Tương tự lúc ở trên xe, Hayato kể hôm trước có đi tham quan ‘di tích nhà tù’. Chúng ta vẫn hiểu ‘di tích nhà tù’ ở đây là nhà tù nằm bên hồ Toro. Cậu ta còn kể trước kia từng tới nhà tù Abashiri, nhưng lúc mới gặp ông Ayuta ở sảnh khách sạn, cậu ta lại nói ‘Tuy mới tới lần đầu nhưng cháu thấy nơi này cũng không đến nổi’. Dĩ nhiên chúng ta vẫn có thể hiểu rằng ‘nơi này’ là chỉ Kushiro, nhưng đặt trong văn cảnh thì có vẻ không phải. Ý cậu ta không hề chỉ phạm vi nhỏ hẹp là thành phố Kushiro, mà là toàn bộ tỉnh Hokkaido. Nếu hiểu như vậy, thì lại mâu thuẫn với câu ‘Trước đây, cháu cũng từng tham quan nhà tù Abashiri’.”

“Tiếp theo, là vấn đề cảnh sắc. Hôm đó, ông Ayuta và đám thanh niên gặp nhau lúc khoảng 3 rưỡi chiều. Khi ông ta lái xe đưa họ về Hắc Miêu Quán, trong ghi chép có hai đoạn tả cảnh như sau, ‘Sương dày đã tan bớt, cảnh quan âm u xung quanh dần rõ nét hơn’ và ‘Xe chầm chậm đi giữa sắc chiều đang dần u ám’. Hơn 5 rưỡi, họ đến Hắc Miêu Quán, Ayuta tả, ‘Giữa không gian tăm tối, ánh đèn xe rất chói mắt’. Chứng tỏ lúc ấy đã tối mịt. Cậu không thấy lạ sao? Hôm đó là mùng 1 tháng Tám ở Hokkaido! Sắc trời lúc 5 rưỡi chiều không thể tối như vậy được. Lẽ nào ông Ayuta nhớ nhầm? Hiểu là nhớ nhầm được không?”

Kawaminami không biết phải trả lời thế nào. Shishiya tiếp tục lật giở ghi chép.

“Nữa nhé… Phải rồi, ở đây cũng có chỗ khiến tôi cảm thấy khó hiểu. Buổi tối hôm đầu tiên, trên bàn ăn xuất hiện món thịt cừu non. Yuki tỏ ra không hài lòng, chê là vị hơi gây. Một quản gia không giỏi nấu ăn lại chuẩn bị thịt cừu non để đãi khách ngày đầu tiên, cậu không thấy hơi lạ sao?”

“À…”

“Ăn tối xong, đám thanh niên chạy tới phòng sinh hoạt. Hayato ngồi ghế bập bênh bên cửa sổ, gọi ông Ayuta sang. Có một đoạn miêu tả thế này, ‘Kenjiro cầm điều khiển từ xa, đổ người tới trước nhìn màn hình. Có lẽ tại ti vi toàn chiếu mấy chương trình lạ hoắc nên cậu ta chuyển kênh liên tục, mặt lộ rõ vẻ chán chường’. Nhưng tối qua, sau khi xem lịch phát sóng trên báo, tôi nhận ra đa số các kênh ở đây đều giống ở Tokyo, ngay cả phim Ngày đen tối

cũng có, gần như không tìm ra chương trình nào lạ của đài địa phương.”

“Thật nhỉ…”

“Lúc đó, Hayato còn vừa nói chuyện với ông Ayuta vừa làm động tác ‘đặt ngón trỏ lên lớp kính dày lắp trên bộ khung đen, vạch một đường thẳng tắp từ trên xuống dưới’. Tiếp theo lại tả, ‘Tôi nghiêng đầu ngó đường kẻ mới vạch trên lớp kính đỏ.’ Thế nào, cậu không thấy kì lạ sao?”

“Hừm…”

“Có thể dùng tay vạch một đường trên kính, chứng tỏ kính hấp hơi nước. Bấy giờ là mùa hè, phòng bật điều hòa, cho dù sớm tối bên ngoài lạnh đến mấy, thì kính trong phòng cũng không thể có hơi nước được.”

Kawaminami lùa tay vào mái tóc đầy bụi bặm, nghiêng đau đợi Shishiya nói tiếp.

“Hôm sau, Yuki và Shin ra ngoài hóng gió. Ông Ayuta đưa Hayato tới đại sảnh rồi quay lại thì thấy Kenjiro đã dậy. Cuộc đối thoại giữa cậu ta và ông Ayuta cũng có vài điểm rất khó hiểu, đầu tiên là chủ đề UFO. Kenjiro nói, ‘Nghe nói gần đây ngày càng có nhiều người trông thấy UFO ở khu vực này.’ Tôi chưa nghe thấy ở Hokkaido xuất hiện UFO bao giờ. về phương diện này, Conan còn hiểu rõ hơn tôi. Trước mùa hè năm ngoái, chẳng phải cậu vẫn làm biên tập CHAOS

sao? Cậu thấy thế nào?”

“Anh nói tôi mới nhớ là cũng thấy khó hiểu. Phải rồi, hôm qua anh có hỏi thăm nhân viên lúc ở sảnh khách sạn.”

“Đúng, nhân viên cũng nói không hề biết vụ UFO.”

“Sau khi hỏi về UFO, Kenjiro còn hỏi nhiều câu khác khiến ông Ayuta phải bó tay. Sói tuyệt chủng, sinh vật khổng lồ trú ngụ dưới hồ, mối liên quan giữa thổ dân quanh vùng và lục địa đã mất… Chó sói được nhắc tới ở đây có thể là chó sói Ezo, hồ nước có thể là hồ Akan, thổ dân địa phương có thể là tộc người Ainu. Nhưng tôi vẫn cảm thấy lấn cấn, mỗi câu hỏi đều khiến người ta vô cùng khó hiểu.

“Kế đó, Kenjiro chuẩn bị ra ngoài đi dạo, cậu ta lại hỏi xem gần đấy có gấu không, ông Ayuta khẳng định là không. Điều này lại càng lạ nữa. Khu vực cây rừng rậm rạp như Akan chưa chắc đã không có gấu. Hôm qua tôi hỏi nhân viên khách sạn, anh ta cũng nói ở núi rừng hoang vu hẻo lánh này thi thoảng vẫn có chuyện gấu gây thương tích cho người.”

Vẫn cầm bản sao, Shishiya vươn vai ngáp một cái thật to, rồi xoay bả vai mỏi nhừ sang hai bên. Có lẽ giật mình vì động tác đột ngột đó, Ayuta ngẩng phắt đầu lên.

“Sắp tới trọng tâm rồi.” Shishiya nói tiếp, ngữ điệu không hề thay đổi. “Quá trưa ngày thứ ba, đám thanh niên trong đại sảnh chưa dậy, ông Ayuta đâm ra bất an, chạy lên tầng hai xem xét tình hình. Ông ta vào phòng Hayato ở ‘bên trái, gần cầu thang nhất’, và tả quang cảnh căn phòng lúc đó thế này ‘Đèn không bật, rèm vẫn buông xuống, ánh sáng lọt vào qua kính màu, rọi cán phòng thành hai mảng sáng tối?

“Ngay câu trước đã tả ‘trên bức tường đối diện cửa lớn có trổ cửa sổ’. Xem sơ đồ chiếu bằng ban nãy cũng thấy khi lên tầng hai, căn phòng bên trái gần cầu thang nhất thuộc cánh Bắc. Vậy thì cửa sổ cũng phải mở ra hướng Bắc. Lúc đó vừa quá trưa, về lý mà nói, ánh mặt trời đáng lẽ phải đổ thẳng từ trên xuống. Như vậy, miêu tả trong ghi chép hơi kì lạ. Liệu ánh mặt trời khi đó có thể chiếu vào cửa sổ mở ra hướng Bắc không, làm sao mà khiến căn phòng phân thành hai mảng sáng tối được?”

Kawaminami chậm rãi lắc đầu, trong óc hiện ra một cảnh trong tác phẩm nổi tiếng Ánh đèn của Thượng đế* của Ellery Queen…

“Thêm một ví dụ khác. Sau khi đại sảnh mở cửa và nhận ra Tsubakimoto Rena đã chết, Shin chạy sang điện thoại ở tiền sảnh định báo cảnh sát thì bị Hayato ngăn lại. Trong ghi chép có mô tả tình hình lúc đố, rằng ‘Shin mới ấn số ‘0’, Hayato đã chặn tay cậu ta’. Mới ấn, sao phím đầu tiên lại không phải ‘1’ trong ‘110’ số khẩn gọi cảnh sát, mà là ‘0’?

“Đoạn sau còn câu này, ‘Thứ ánh sáng xanh đỏ xen kẽ bập bùng hiện lên trong đầu. Tôi cố sức không nghĩ đến nó, giục bọn họ đi sang hành lang.’ Thứ ánh sáng xanh đỏ xen kẽ ở đây rốt cuộc là gì? Nếu đặt trong văn cảnh, ta sẽ cho là ánh đèn xe cảnh sát, nhưng… để tôi liệt kê thêm hai ví dụ nữa nhé.

“Một là khi kiểm tra đồ đạc của Tsubakimoto Rena, bọn họ biết được ‘quê quán, ngày sinh tháng đẻ và chiều cao’ của Rena. Tạm gác quê quán và ngày sinh, nhưng tại sao lại tìm thấy cả chiều cao của cô ta? Chẳng lẽ khi còn sống, cô ta đi viết rõ số đo chiều cao của mình vào sổ sao?

“Hai là tối hôm đó, sau khi Shin về phòng nghỉ ngơi, Hayato nghe thấy ‘tiếng thú kêu huyên náo vọng vào’, đã nói ‘Đại não động vật không có thể chai’. Ông Ayuta coi câu này là một cách ‘pha trò để thay đổi bầu không khí trên bàn ăn’, nhưng hai người còn lại không hiểu, thậm chí có khi còn không biết thể chai là gì.

“Nhưng may mắn thay, cậu lại được trang bị những kiến thức này đấy, Conan à. Cái gọi là thể chai chính là cơ quan nối liền não phải và não trái. Trước đây, để chữa trị bệnh động kinh, đôi khi sẽ phải phẫu thuật cắt thể chai. Động vật trong rừng không có thể chai. Ở đoạn trước, khi họ bàn bạc cách xử lý xác chết, ông Ayuta đã nói, ‘Trong rừng có nhiều động vật, chúng sẽ đánh hơi được mùi thối. Chưa biết chừng tới lúc nào đó, cái xác sẽ bị bới lên.’ Nếu chỉ xem xét hai câu này, chúng ta sẽ cho ‘động vật’ ở đây là những loài như cáo hoang, chó hoang. Đại não của chúng không có thể chai như Hayato nói thật ư? Để làm rõ vấn đề, hôm qua tôi đã cố tình mua quyển sách, cũng học hỏi được đôi chút.”

“Bảo sao anh lại mua quyển sách. Kết quả thế nào?”

“Kết quả thế này.” Shishiya nhướng mày. “Thông thường, các động vật cổ cuống rốn đều cỏ thế chai.”

“Động vật nào cơ?”

“Động vật có cuống rốn. Con người, mèo, chó, thỏ, gấu, cá heo, cá voi… đều là động vật có cuống rốn.”

“Thì sao?”

“Hôm qua, suy luận của tôi bị tắc ở đây. Lúc đó tôi ép bản thân mình phải tin rằng ‘động vật’ ở đây là chỉ loài chim, như cú mèo chẳng hạn. Nói thật, nếu sớm nghiền ngẫm vấn đề này, chưa biết chừng tôi đã tìm ra đáp án từ lâu rồi.” Shishiya hơi nhún vai, đóng tập bản sao vào, đặt tạm xuống nền nhà đầy bụi bẩn. “Ngoài ra còn có vài chỗ mắc mưu nữa. Sau này sẽ dần dần xem lại rồi tìm hiểu.”

“Nghe anh nói thì đơn giản, nhưng tôi vẫn…”

“Vẫn chưa vỡ phải không? Phản ứng của cậu chậm chạp quá. Dĩ nhiên, tôi cũng chẳng có tư cách giáo huấn cậu.” Shishiya đổi tư thế, bắt hai chân vào nhau, rồi xoay người nhìn ông Ayuta ngậm câm lắng nghe họ nói chuyện nãy giờ. “Những khúc mắc vừa chỉ ra khiến tôi băn khoăn lắm, nhưng không tài nào cắt nghĩa được, đó là vì ngay từ đâu tôi luôn mặc định Hắc Miêu Quán nằm ở Akan, ấn tượng này đã trói buộc tư duy của tôi. Tới đây rồi, tôi mới biết Hắc Miêu Quán tọa lạc ở một nơi khác, rốt cuộc là ở đâu? Tôi ngẫm nghĩ mãi, cho tới lúc bước vào phòng kín ở tầng hai để điều tra cái chết của Kenjiro, tôi mới dần dần vỡ vạc.

“Phần cuối của ghi chép, ông làm thế nào để rút ra kết luận? Kể cả phân tích theo hướng đó cũng không ghép được bức tranh hoàn chỉnh. Vì sao? Chẳng lẽ phương hướng điều tra của tôi có sai sót ư? Tôi ráo riết suy nghĩ, rồi vỡ lẽ. Tôi đã hiểu sai tiền đề để đi đến kết luận.”

Shishiya lặng lẽ quan sát ông Ayuta đang ngồi im ru một chỗ.

“Ông xây Hắc Miêu Quán ở bên kia tấm gương phải không? Gương đặt ở đường xích đạo, nếu lấy đường xích đạo làm ranh giới, vị trí đối xứng với Akan trên địa cầu chính là đảo Tasmania ở nước Úc. Hắc Miêu Quán mà ông làm quản gia nằm ở đó!”

“Tasmania?” Kawaminami la lớn, “Chuyện này… Anh Shishiya, rốt cuộc…”

“Để tôi giải thích đã.” Shishiya nhấn mạnh từng chữ, “Hai mươi năm trước, tiến sĩ Amo Tatsuya đã nhờ kiến trúc sư Nakamura Seiji làm một dự án như sau: xây hai ngôi nhà nghỉ dưỡng ở Hokkaido và Tasmania, tức hai hòn đảo nằm lần lượt ở Bắc và Nam bán cầu, giống như đặt một tấm gương khổng lồ trên đường xích đạo, hai bên tấm gương là vật thể và hình chiếu của nó. Một nhà xây ở cố hương Kushiro, một nhà xây ở đảo Tasmania mà ông từng du học. Có thể hai ngôi nhà không đối xứng, nhưng nhìn trên bản đồ thế giới có thể thấy rằng kinh độ, vĩ độ vẫn tương đối đối xứng, nên tiến sĩ Amo đã lựa chọn hai địa điểm này.

“Nakamura Seiji vui vẻ nhận đơn hàng kì lạ, tham khảo hai câu chuyện thiếu nhi về Alice của Carroll để xây nên hai ngôi nhà nghỉ dưỡng. Màu sắc được sử dụng lần lượt là đen và trắng, có lẽ là muốn làm nổi bật mối quan hệ giữa ‘vật thể và hình chiếu’.”

“Sau khi hoàn công, tiến sĩ Amo đã thông báo cho bạn bè về ngôi nhà nghỉ dưỡng ở Akan, thậm chí gửi thư mời họ tới chơi vài ngày. Còn ngôi nhà nghỉ dưỡng ‘hình chiếu’ ở Tasmania, ông ta không hé răng với bất kì ai. Nhiều khả năng tiến sĩ và cô con gái nuôi đều có được quyền cư trú vĩnh viễn ở đây. Họ chọn mùa đẹp nhất của mỗi nơi để lần lượt sinh sống, kì nghỉ hè ở Akan, còn kì nghỉ đông thì tới Tasmania.”

Shishiya lấy hộp thuốc trong túi áo khoác, ngậm điếu cho hôm nay. Anh cố tình hút thật chậm, như thể dành thời gian cho Kawaminami suy nghĩ. Hút xong, anh vứt đầu mẩu xuống rồi dận giày lên dập tắt.

“Đã biết Hắc Miêu Quán nằm ở Tasmania tức Nam bán cầu, thì những nghi vấn ban nãy đều có thể giải đáp dễ dàng.” Shishiya nhìn Kawaminami, “Thành phố xuất hiện trong ghi chép không phải Kushiro, mà là Hobart, nơi có Đại học Tasmania. Chi tiết ‘Lâu rồi mới có sương mù’ không còn khó lý giải nữa. ‘Nơi này’ mà Hayato lần đầu tới chính là nước ức. ‘Di tích nhà tù’ cũng không phải Hương Thổ Quán bên hồ Toro, mà là di tích nhà tù Port Arthur nổi tiếng. Chắc cậu cũng từng nghe nói đến di tích này phải không? Nước ức vốn là thuộc địa của Anh, rất nhiều phạm nhân đã bị áp giải tới đây. Trong đó, những tội phạm nghiêm trọng sẽ bị lưu đày ở cực Nam đảo Tasmania, nơi này hình như được gọi là ‘nơi lưu đày cuối cùng’.

“Đám thanh niên sở dĩ đọc to những chữ cái trên biển chỉ dẫn và bảng hiệu của các cửa hàng bên đường, là vì những chữ đó không giống ở Nhật, khiến họ tò mò. Tiện thể nói luôn, khi đi xe, ông Ayuta có hỏi Hayato rằng đã quen với ‘tiếng địa phương’ chưa, tiếng địa phương ở đây chính là tiếng Anh-Úc.”

“Là tiếng Anh giọng Úc sao?”

“Đúng vậy. Ví dụ âm ‘ei’ trong tiếng Anh, người Úc hình như phát âm thành ‘ai’. Từ ‘make’ đọc thành ‘maik’, ‘eight’ đọc thành ‘ait’, vân vân. Thắc mắc về cảnh sắc ban chiều giờ thì dễ hiểu thôi. Đầu tháng Tám, chúng ta ở đây là giữa hè, nhưng ở đảo Tasmania phía Nam bán cầu lại đang vào mùa lạnh nhất trong năm. Thời gian ban ngày cũng ngắn hơn, khoảng 5 rưỡi đã tối rồi.”

“Thịt cừu non thì giải thích thế nào?”

“Ngành chăn nuôi của úc rất phát triển, Conan à. So với Nhật Bản, họ thường xuyên ăn thịt cừu non. Tiến sĩ Amo sống nhiều năm ở đó, cho dù tay nghề nấu ăn có kém cỏi thế nào đi nữa, thì cũng biết chế biến thịt cừu non.”

“Có lý. Các chương trình chiếu trên ti vi đều không quen thuộc, cũng là chuyện thường tình, phải không?”

“Đúng. Ngoài ra, kính cửa sổ có hơi nước cũng vì lúc đó không phải mùa hè, mà đang vào đông. Bên ngoài lạnh giá, trong phòng thì ấm áp, trên mặt kính dĩ nhiên phải xuất hiện hơi nước rồi.”

“Điều hòa ở đây là chỉ máy sưởi phải không?”

“Hẳn nhiên. Ví dụ như…” Shishiya đưa mắt nhìn tập bản sao dưới chân. “Trong ghi chép có một đoạn miêu tả thế này. Sau khi đám thanh niên chạy tới phòng sinh hoạt, Shin kêu ‘nóng’, xắn tay áo lên, đứng dậy gọi ông Ayuta đi ‘chỉnh lại nhiệt độ điều hòa’. Đọc đến đoạn này, chúng ta tưởng đang là mùa hè. Nhưng trên thực tế, không phải phòng không đủ mát mà là hơi ấm áp quá. Do vậy Shin mới xắn tay áo (sơ mi dài tay hoặc áo len lên), kêu ‘nóng’.

“Sau khi nhận ra Hắc Miêu Quán nằm ở đảo Tasmania, xem lại ghi chép sẽ thấy những chỗ khó hiểu đều trở nên thông suốt. Giống như ngày đầu tiên, Hayato sụt sịt mũi suốt, là do ‘khác biệt khí hậu’…”

Kawaminami thở dài nhìn tập bản sao nằm dưới chân Shishiya. Cậu nhớ lại tin đồn về UFO. Năm ngoái, khi còn làm ở ban biên tập CHAOS,

quả có thấy các tạp chí liên quan đều đăng tin lượng người chứng kiến UFO ở úc gia tăng. Cậu kể với Shishiya, anh gật đầu hài lòng.

“Tương tự, ‘chó sói’ mà Kenjiro nhắc tới cũng không phải Ezo mà là chó sói Tasmania, hay còn gọi là chó sói túi Tasmania. Nghe nói loài sói này đã tuyệt chủng, nhưng giống như chó sói Nhật Bản, vẫn có người nối ràng đã từng trông thấy nó.

“Ngoài ra, ‘thổ dân’ không phải để chỉ tộc người Ainu, mà là tộc người Anangu. Mà ‘hồ nước’ cũng không phải hồ Akan. Trên đảo Tasmania có rất nhiều hồ, không rõ ở đó có quái vật khổng lồ hay không.”

“Rừng bản địa không có gấu thật sao?”

“Làm sao có được. Phải rồi, còn một điểm nữa.” Shishiya nhìn bản sao, “Khi Yuki và Shin đưa Tsubakimoto Rena về Hắc Miêu Quán, ông Ayuta nghe thấy cô ta nói, ‘Đẹp quá, cả một bầu trời đầy sao! Khác hẳn trời đêm ở Tokyo.’ Biết rõ địa điểm rồi, ta sẽ thấy câu này có ý nghĩa đặc biệt. Bấy giờ, chắc cô ta đã nhìn thấy chòm Nam Thập Tự. Ánh mặt trời giữa trưa chiếu vào căn phòng hướng Bắc, mâu thuẫn này cũng giải thích được rồi. Bởi vì tại Nam bán cầu, mặt trời không ở phía Nam mà ở phía Bắc thiên đỉnh.”

“Khi chuẩn bị báo cảnh sát, tại sao Shin lại ấn số ‘0’? Số khẩn gọi cảnh sát ở đó là bao nhiêu?”

“000, tôi đã thấy ở đâu rồi ấy. Hơn nữa, đèn xe cảnh sát địa phương cũng giống ở Mỹ, có hai màu đỏ và lam. Chắc cậu cũng thấy trong phim rồi phải không?”

“Đúng thế.”

“Lúc kiểm tra đồ đạc tùy thân của Tsubakimoto Rena, biết được chiều cao của cô ta cũng là điều dễ hiểu. Bởi vì ba lô của cô ta có hộ chiếu. Ngoài tên và quê quán, trên hộ chiếu còn có mục ghi chiều cao. Cuối cùng, chính là vấn đề ‘không có thể chai’.”

Shishiya giơ ngón giữa tay phải lên, ấn vào trán rồi tiếp tục nói.

“Quyển sách về động vật học mà tôi mua hôm qua có viết thế này, ‘Não của thú có túi không có thể chai. Những loài động vật có vú hoang dã ở Úc, mà tiêu biểu là chuột túi, hầu hết đều là thú có túi.’ ‘Động vật trong rừng’ mà Hayato nói có thể là thú có túi sống quanh đó, có tên là Quỷ Tasmania*, cũng là loài động vật xấu xí nhất thế giới.”

“Ông Ayuta… À không, đề tôi gọi ông bằng tên thật, ông Amo.” Shishiya nói với ông lão đang ngồi ủ rũ, “Mất Risako, rồi bị trường sa thải, ông không thể trụ lại Sapporo nên đành chạy tới Tasmania. Ông lẩn trốn ở ngôi nhà nghỉ dưỡng nằm trong rừng sâu từng là tài sản của mình. Nhờ mối quen biết với Adachi Hideaki, một đại diện bất động sản người Nhật sống ở Hobart, ông đổi tên thành Ayuta Toma, tiếp tục sống ở Hắc Miêu Quán với danh nghĩa quản gia.”

“Ừm…”

“Tháng Hai năm nay, vì sao ông lại cầm sổ ghi chép trở về Nhật Bản? Chắc ông đã nhớ lại rồi? Cả nhà Yuki gặp tai nạn xe cộ, nhà nghỉ dưỡng thuộc quyền thừa kế của mẹ Hayato. Khi biết tin này, ông…”

Đôi môi nãy giờ vẫn mím chặt như cửa nhà lao cuối cùng cũng hé mở.

“Ngay cả điều này anh cũng biết sao?”

Chất giọng khàn khàn vang vọng trong căn phòng u tối. Kawaminami nín thở dõi theo bờ môi nứt nẻ như xác ướp của ông. Ông lão cúi đầu.

“Tôi lại còn nhờ anh điều tra nữa chứ…”

“Ông hối hận rồi ư?”

Ayuta Toma, tức Amo Tatsuya, khẽ lắc đầu.

“Tôi vẫn luôn coi thường những người tuân theo thuyết số mệnh. Xem ra tôi cần thay đổi quan điểm của mình.” Ông ta chậm rãi ngẩng đầu lên, khuôn mặt già nua xấu xí lộ vẻ tự chế giễu. “Cho dù anh giải thích nhiều như thế, nhưng thật ra tôi chẳng thể ngờ trong ghi chép lại có nhiều điểm khó hiểu đối với các anh. Ngôi nhà nghỉ dưỡng thứ hai xây trên đảo Tasmania, thời điểm ghi lại là mùa đông, với tôi đây đều là những chuyện quá hiển nhiên. Vì vậy khi đặt bút viết, tôi không để ý quá nhiều, ngờ đâu lại khiến các anh hao tổn công sức đến vậy. Tôi lại thành tay viết lão luyện rồi…”

“Tôi còn một việc muốn hỏi, mong ông giải thích giúp.” Shishiya lễ phép nói. “Phải chăng sổ ghi chép vẫn còn tập tiếp theo? Đẳng sau chắc phải có ‘phần phá án’ của tiểu thuyết trinh thám mà ông tự viết cho mình chứ…”

Ông lão gật đầu, vẫn nét mặt tự chế giễu, “Tuy không dài lắm nhưng quả thật vẫn còn một quyển nữa, nó bị thiêu rụi trong trận hỏa hoạn. Tôi nhớ lại cảnh đám cháy ấy rồi.”

“Trong quyển đó, ông đã ghi lại chân tướng án mạng phòng kín, cả tên và động cơ của hung thủ…”

“Những điểm đó, anh đã biết rõ rồi còn gì? Đâu cần tôi phải giải thích thêm nữa.”

“Đúng ạ.”

Cả hai im bặt, phòng sinh hoạt lặng đi trong phút chốc. Chẳng biết tự bao giờ, ánh sáng bên ngoài đã yếu đi. Trời còn lâu mới tối hẳn, có lẽ do mây đen kéo đến, hoặc cũng có thể sương dày lại mới xuất hiện.

“Tôi buộc phải nói với ông một chuyện.” Một lúc sau, Shishiya cất tiếng trước, “Sáng nay, trước khi rời khỏi khách sạn, tôi đã gọi điện cho nhà Hikawa. Tôi linh cảm bên đó sắp có biến chuyển mới.”

“Thật sao?”

Vẻ mặt Ayuta có chút thay đổi, Shishiya thong thả trình bày.

“Nghe nói hôm trước, họ đã liên lạc được với Hayato. Hình như cậu ta đang làm nghiên cứu ở Nam Mỹ. Cuối cùng cậu ta đã biết tin nhà Kazama gặp nạn… Chắc cậu ta đang trên chuyến bay về Nhật rồi. Khi biết mẹ mình định chuyển nhượng hoặc tháo dỡ Hắc Miêu Quán, cậu ta vội khuyên mẹ từ bỏ ý định này.”

“Anh Shishiya, anh…” ông Ayuta kinh ngạc nhìn anh nhà văn. “Anh muốn tôi phải làm thế nào?”

“Tôi cũng chẳng muốn ông phải làm thế nào.” Nói xong, Shishiya đứng dậy, nhặt bản sao dưới sàn bỏ vào túi xách, nhìn ra cửa sổ hướng Nam rồi vươn vai. “Chúng tôi không phát hiện được bất cứ dấu vết phạm tội nào trong ngôi nhà nghỉ dưỡng này. Ngay xác mèo còn chẳng thấy nữa là xác người.”

“Anh…”

“Được rồi, Conan. Chúng ta lên xe về thôi. Tôi sắp chết đói rồi.” Dứt lời, Shishiya quay người đi ra hành lang. Kawaminami vội vàng rời ghế.

Ông lão vẫn ngồi đó, như thể chân không còn sức để đứng dậy nữa.

Ra tới cửa, Shishiya ngoái đâu gọi ông ta, “Đi thôi, ông Amo, à không, ông Ayuta!” Anh vừa nói vừa cười ha hả, chẳng hợp chút nào với không khí tan hoang của ngôi nhà. “Trên đời này vốn không tồn tại Hắc Miêu Quán. Nội dung trong sổ ghi chép là do ông sáng tác dựa trên những cơn ác mộng của mình. Đối với tôi và Conan, đây mới đúng là ‘sự thật’.”

« Lùi
Tiến »