Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 461 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần IV
Ngày tàn của những hacker đích thực
Cambridge: 1983
Phụ lục A
ngày tàn của những hacker đích thực

Vào khoảng thời gian tổ chức bữa tiệc tân gia của Ken Williams, 25 năm sau khi TMRC của MIT khám phá TX-0, một người đàn ông tự gọi mình là hacker đích thực cuối cùng đang ngồi trong một căn phòng trên tầng 9 của Quảng trường Công nghệ – nơi chất đầy những bản in, sách hướng dẫn, túi ngủ, và một thiết bị đầu cuối máy tính nhấp nháy được kết nối với hậu duệ tiếp theo của chiếc PDP-6 – máy tính DEC-20. Tên của anh là Richard Stallman. Anh chàng sở hữu giọng nói cao đầy căng thẳng, không cố gắng che đậy thứ cảm xúc mà anh gọi là “sự cưỡng đoạt của Phòng Thí nghiệm AI”. Khi đó, anh 30 tuổi. Nước da tái xám cùng mái tóc sẫm màu không đều tương phản sâu sắc với đôi mắt xanh sâu thẳm như đang phát sáng của anh. Cặp mắt ấy nhòa lệ khi anh nói về sự thối rữa của Đạo đức Hacker tại Quảng trường Công nghệ.

Richard Stallman đã đến MIT từ 12 năm trước, năm 1971, và anh đã được trải nghiệm sự thấu tỏ cùng những người khác khi họ khám phá ra thiên đường hacker thuần túy – thánh đường Quảng trường Công nghệ – nơi người ta sống để hack và hack để sống. Stallman đã tiếp xúc với máy vi tính từ thời phổ thông. Trong một trại hè, anh cảm thấy thích thú với các cuốn sách hướng dẫn sử dụng máy tính mà anh đã mượn từ cố vấn của mình. Ở Manhattan nơi anh sống, anh tìm thấy một trung tâm máy tính để thực hành niềm đam mê mới của mình. Khi vào Harvard, anh đã là một chuyên gia về hợp ngữ, hệ điều hành và trình soạn thảo văn bản. Anh cũng thấy mình bị thu hút mạnh mẽ bởi Đạo đức Hacker, và sẽ nỗ lực thực thi các nguyên tắc của nó. Chính việc tìm kiếm một môi trường thích hợp hơn cho hack đã mang anh từ trung tâm máy tính khá độc đoán của Harvard tới đại lộ Massachusetts để gia nhập MIT.

Anh thích Phòng Thí nghiệm AI của Quảng trường Công nghệ vì nơi đây “không có những chướng ngại vật nhân tạo, những thứ khiến cho mọi người khó có thể hoàn thành công việc – kiểu như sự quan liêu, kiểm soát an ninh, từ chối chia sẻ với những người khác.” Anh cũng thích làm việc cùng những người coi hack là lẽ sống. Anh nhận thấy tính cách của mình không phù hợp với kiểu tương tác cho-và-nhận phổ biến giữa người với người. Trên tầng 9, anh có thể được trân trọng nhờ các hack của bản thân, và trở thành một phần của cộng đồng được dựng lên xung quanh sự mưu cầu kỳ diệu đó.

Tài năng phi thường của anh đã sớm được bộc lộ và Russ Noftsker, quản trị viên của Phòng Thí nghiệm AI, người đã chứng kiến các giới hạn an ninh khắc nghiệt trong những cuộc biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam, đã thuê Stallman làm lập trình viên hệ thống. Richard sinh hoạt theo chế độ ban đêm, và khi mọi người trong phòng thí nghiệm phát hiện ra anh vừa nhận được bằng xuất sắc chuyên ngành Vật lý ở Harvard, thì ngay cả các hacker bậc thầy cũng phải hết sức kinh ngạc.

Được làm việc bên cạnh Richard Greenblatt và Bill Gosper, những người mà anh coi là cố vấn của mình, đã củng cố thêm quan điểm của Stallman về Đạo đức Hacker. Anh đã coi phòng thí nghiệm là hiện thân của triết lý đó; một chủ nghĩa vô chính phủ mang tính xây dựng, mà như Stallman từng viết trong một tập tin máy tính là “không tán thành kiểu hành xử cắn xé lẫn nhau kiểu luật rừng. Xã hội Mỹ vốn đã là một môi trường cạnh tranh không thương tiếc. Chúng ta [những hacker] muốn thay thế các quy tắc đó bằng sự quan tâm dành cho tinh thần cộng tác mang tính xây dựng.”

Stallman thích được gọi bằng các chữ cái đầu trong tên của mình là RMS như cách anh đăng nhập vào máy tính, và sử dụng Đạo đức Hacker như một nguyên tắc dẫn đường cho sản phẩm nổi tiếng nhất của mình là trình soạn thảo EMACS. Nó cho phép người dùng có thể tùy biến vô hạn – khuyến khích mọi người không ngừng bổ sung và cải tiến nó. Anh phân phối miễn phí chương trình của mình cho bất kỳ ai đồng ý với điều kiện duy nhất của anh: “Gửi lại tất cả các phần mở rộng mà họ tạo ra để giúp cải tiến EMACS. Tôi gọi đó là ‘công xã EMACS’”, RMS viết. “Như tôi đã chia sẻ, trách nhiệm của họ là chia sẻ; là làm việc cùng nhau chứ không phải chống lại nhau.”

EMACS gần như đã trở thành trình soạn thảo tiêu chuẩn trong các khóa học máy tính ở đại học. Nó là một minh chứng chói sáng về việc hack có thể tạo ra thứ gì đó.

Nhưng khi những năm 1970 trôi qua, Richard Stallman bắt đầu chứng kiến những thay đổi trong lĩnh vực yêu thích của mình. Cuộc tấn công đầu tiên là khi mật khẩu được gán cho những Người dùng Được phê chuẩn Chính thức và những người không có thẩm quyền không được đăng nhập hệ thống. Là một hacker đích thực, RMS khinh thường mật khẩu, và anh tự hào về việc những chiếc máy tính do anh bảo trì không hề sử dụng chúng. Nhưng khoa Khoa học Máy tính của MIT (không phải do Phòng thí nghiệm AI vận hành) đã quyết định cài đặt bảo mật cho máy tính của họ.

Stallman đã vận động để hủy bỏ cách làm này. Anh khuyến khích mọi người sử dụng mật khẩu “Chuỗi Rỗng” – chỉ đơn giản là xuống dòng thay vì nhập một từ. Để khi máy tính yêu cầu nhập mật khẩu, bạn chỉ cần nhấp phím ENTER là đăng nhập được. Stallman cũng bẻ khóa chức năng mã hóa của máy tính để mở các tập tin bảo mật có chứa mật khẩu của mọi người. Anh đã gửi cho mọi người những thông điệp hiển thị trên màn hình khi họ đăng nhập vào hệ thống:

Tôi thấy bạn đã chọn mật khẩu [này nọ]. Tôi đề nghị bạn chuyển sang dùng mật khẩu “rỗng”. Như vậy sẽ dễ nhập hơn, và phù hợp với nguyên tắc về việc không nên dùng mật khẩu.”

“Cuối cùng, tôi đã khiến 1/5 số người dùng máy tính sử dụng mật khẩu Chuỗi Rỗng,” RMA tự hào kể lại.

Sau đó, phòng thí nghiệm khoa học máy tính đã cài đặt một hệ thống mật khẩu phức tạp hơn cho những chiếc máy tính khác. Lần này, Stallman đã không thể bẻ khóa dễ dàng. Nhưng anh có thể nghiên cứu chương trình mã hóa, và theo anh kể lại: “Tôi đã phát hiện ra rằng chỉ cần thay đổi một từ trong chương trình đó là có thể khiến nó in ra mật khẩu lên cửa sổ hệ thống kèm theo thông điệp đăng nhập.” Vì bất kỳ ai đi ngang qua cũng có thể nhìn thấy “màn hình hệ thống”, và bất kỳ thiết bị đầu cuối nào cũng có thể truy cập vào các thông điệp của nó, thậm chí là in ra thành bản cứng nữa, nên thay đổi của Stallman đã khiến cho những ai quan tâm cũng có thể lấy được mật khẩu máy tính. Anh cho rằng việc đó thật “thú vị”.

Dù vậy, ý niệm về mật khẩu vẫn tiếp diễn. Thế giới bên ngoài, nơi chuộng sự an toàn và quan liêu, đã chấp nhận nó. Chứng nghiện an toàn thậm chí còn lây nhiễm sang máy tính AI thần thánh. Bộ Quốc phòng đe dọa gỡ bỏ máy tính AI ra khỏi mạng ARPAnet – để tách những người ở MIT ra khỏi cộng đồng đang hoạt động rất tích cực trong lĩnh vực điện tử bao gồm các hacker, người sử dụng và các nhà khoa học máy tính xưa cũ trên khắp nước Mỹ – tất cả chỉ vì Phòng Thí nghiệm AI đã kiên quyết từ chối việc giới hạn quyền truy cập đối với các máy tính của họ. Các quan chức của Bộ Quốc phòng đã rất tức giận: Bất kỳ ai không cần báo trước cũng có thể sử dụng máy tính AI, và kết nối tới các địa điểm khác trong mạng của Bộ Quốc phòng! Stallman và những người khác cảm thấy cần phải như vậy. Nhưng rồi anh cũng hiểu ra rằng, số người đứng cùng chiến tuyến với anh đang ngày càng giảm. Ngày càng nhiều hacker giỏi rời bỏ MIT, và rất nhiều hacker trong số những người đã thiết lập văn hóa và xây dựng bộ khung cho nó nhờ cách hành xử của họ cũng đã ra đi từ lâu.

Điều gì đã xảy ra với các hacker trong năm vừa qua? Nhiều người đã rời đi để làm việc cho các doanh nghiệp, hoàn toàn chấp nhận những điều khoản thỏa hiệp trong công việc. Peter Samson, hacker TMRC thuộc nhóm những người đầu tiên khám phá TX-0, đang ở San Francisco, vẫn làm việc tại Công ty Systems Concepts mà anh đồng sáng lập cùng hacker bậc thầy về điện thoại, Stewart Nelson. Samson có thể giải thích về điều đã xảy ra: “[Hacking] giờ đây phải cạnh tranh với những trách nhiệm thực thụ như kiếm sống, lập gia đình, và sinh con đẻ cái. Thứ trước đây tôi từng có mà giờ đây không còn nữa chính là thời gian và sức khỏe.” Đây là một kết luận phổ biến, ít nhiều được chia sẻ bởi những người như đồng nghiệp của Samson tại TMRC, Bob Saunders (đang làm việc cho Hewlett-Packard, có hai con đang học phổ thông), David Silver (sau khi trưởng thành tại Phòng Thí nghiệm AI, hiện đang lãnh đạo một công ty nhỏ về lĩnh vực người máy ở Cambridge), Slug Russell (tác giả của Chiến tranh không gian đang làm việc cho một công ty ở bên ngoài Boston, và chơi với chiếc máy tính gia đình Radio Shack của mình), và thậm chí là cả Stewart Nelson, người dù vẫn còn độc thân nhưng vào năm 1983, anh đã phàn nàn rằng mình không được hack nhiều như mong muốn. “Thời nay, gần như mọi thứ đều dính dáng đến kinh doanh, và chúng tôi không có nhiều thời gian cho các vấn đề kỹ thuật như trước nữa,” người đàn ông đã dùng PDP-1 theo bản năng để khám phá thế giới của hệ thống điện thoại hai thập kỷ trước kể lại.

Sẽ chẳng bao giờ có một thế hệ nào giống như họ; Stallman nhận ra điều này mỗi khi anh nhìn thấy cách hành xử của những “du khách” mới đang lợi dụng sự tự do của AI. Họ thậm chí còn chẳng có vẻ gì là có ý định hay háo hức muốn gia nhập văn hóa đó như những người đi trước. Trước kia, mọi người coi hệ thống mở là một lời mời gọi để làm những công việc hữu ích cũng như cải thiện bản thân tới ngày bạn được coi là một hacker thực thụ. Còn giờ đây, một số người dùng mới này không thể cưỡng lại sự tò mò tới mức dò dẫm xung quanh một hệ thống với tập tin của tất cả mọi người đều để ngỏ trước họ. “Thế giới bên ngoài đang thâm nhập,” Stallman thú nhận. “Ngày càng có nhiều người tham gia sử dụng các hệ thống máy tính khác. Ở đâu đó, việc ai đó có thể chỉnh sửa các tập tin của bạn dường như là chuyện đương nhiên, bạn sẽ không thể làm được gì, và cứ sau mỗi 5 phút, bạn lại bị phá hoại. Ngày càng ít người trưởng thành theo cách cũ biết rằng đó là một cách sống khả dĩ và hợp lý.”

Stallman tiếp tục phấn đấu và cố gắng, anh nói, “để đẩy lùi bước tiến của chủ nghĩa phát-xít bằng tất cả các phương pháp có thể”. Dù nhiệm vụ lập trình hệ thống chính thức được chia đều giữa khoa khoa học máy tính và Phòng Thí nghiệm AI, nhưng anh vẫn “đình công” chống lại Phòng thí nghiệm Khoa học Máy tính vì các chính sách an ninh của họ. Khi phát hành phiên bản mới của trình soạn thảo EMACS, anh từ chối cho phép Phòng Thí nghiệm Khoa học Máy tính sử dụng nó. Anh nhận ra rằng, theo một khía cạnh nào đó, anh đang trừng phạt người dùng của chiếc máy tính đó thay vì những người lập chính sách. “Nhưng tôi có thể làm gì đây?” anh kể lại. “Những người dùng đó đã tuân thủ chính sách. Họ chẳng đấu tranh gì cả. Nhiều người còn tức giận với tôi, và nói rằng tôi đang cố tống tiền hoặc giữ họ làm con tin, mà theo một nghĩa nào đó thì đúng là như vậy. Tôi chống lại họ bởi tôi cho rằng họ đang chống lại tất cả mọi người.”

Mật khẩu không phải là vấn đề duy nhất mà Richard Stallman phải đối mặt trong cuộc chiến cô độc bảo vệ Đạo đức Hacker thuần túy ở MIT. Nhiều người mới ở phòng thí nghiệm đã học về điện toán trên những chiếc máy tính cỡ nhỏ, và không được hướng dẫn về các nguyên tắc hacker. Giống như các hacker Thế hệ Thứ ba, họ thấy khái niệm sở hữu chương trình chẳng có vấn đề gì cả. Những người này vẫn sẽ viết các chương trình mới đầy thú vị như những người tiền nhiệm, nhưng sẽ có một điểm mới đi kèm. Đó là khi chương trình được khởi động và xuất hiện trên màn hình, các thông báo bản quyền cũng sẽ xuất hiện theo. Chính là các Thông báo bản quyền! Với RMS, một người vẫn tin tưởng rằng mọi thông tin cần được tự do, điều này thật báng bổ. “Tôi không nghĩ ai đó cần phải sở hữu phần mềm,” anh nói vào năm 1983, khi mọi thứ đã quá muộn. “Bởi [cách làm này] đang ngấm ngầm phá hoại loài người nói chung. Nó khiến mọi người không thể thu được lợi ích tối đa từ chương trình.”

Theo quan điểm của Richard Stallman thì chính kiểu con buôn này đã thổi bay tất cả những gì còn sót lại trong cộng đồng lý tưởng mà anh từng yêu mến. Việc đó đã mang quỷ dữ tới, và khiến những hacker còn lại chìm sâu vào mâu thuẫn. Tất cả đều bắt đầu từ chiếc máy LISP của Greenblatt.

☆ ☆ ☆

Sau nhiều năm, Richard Greenblatt có lẽ vẫn duy trì được những ngày vinh quang của hacker tầng 9. Ở giữa độ tuổi 30, chàng hacker chuyên tâm của Máy chơi Cờ vua và MacLISP đang tiết chế một số thói quen cá nhân cực đoan của mình, chải đầu thường xuyên hơn, thay đổi tủ quần áo nhiều hơn, và thậm chí còn chủ động nghĩ về người khác giới. Nhưng anh vẫn có thể hack một cách điên cuồng. Và giờ đây, anh đang bắt đầu chứng kiến giấc mơ mà bản thân đã ấp ủ từ lâu đang trở thành hiện thực – đó là một chiếc máy tính hoàn toàn không phải của hacker.

Anh nhận ra rằng ngôn ngữ LISP có thể mở rộng được, và đủ mạnh để giúp mọi người kiểm soát, xây dựng, đồng thời khám phá những hệ thống có thể làm thỏa mãn trí lực của các hacker khao khát nhất. Vấn đề là không có chiếc máy tính nào có thể dễ dàng xử lý những đòi hỏi phức tạp của LISP. Vì thế vào đầu những năm 1970, Greenblatt đã bắt đầu thiết kế một chiếc máy tính có thể chạy LISP nhanh hơn và hiệu quả hơn tất thảy những chiếc máy tính trước đó. Đó sẽ là một chiếc máy tính người dùng đơn – cuối cùng, cũng đã có lời giải cho vấn đề chia sẻ thời gian, mà ở đó các hacker cảm thấy chán nản khi không thể nắm quyền kiểm soát tối cao đối với máy tính. Bằng cách chạy LISP, ngôn ngữ của AI, chiếc máy tính đó sẽ trở thành chú ngựa thồ tiên phong của máy tính thế hệ tiếp theo, những cỗ máy có khả năng học hỏi; thực hiện các hội thoại thông minh với người dùng về tất cả mọi vấn đề từ thiết kế mạch tới toán học cao cấp.

Thế là với một khoản trợ cấp nhỏ, anh cùng một số hacker khác – đáng chú ý có Tom Knight, người thiết kế (và đặt tên) cho Hệ thống Chia sẻ Thời gian Không tương thích – đã bắt đầu làm việc. Mọi việc diễn ra chậm chạp nhưng vào năm 1975, họ đã hoàn thành cỗ máy và đặt tên nó là “Cons” (theo hàm “toán tử khởi tạo” phức tạp mà chiếc máy đó thực hiện bằng LISP). Máy Cons không hoạt động một mình mà cần phải được kết nối với PDP-10 mới có thể vận hành. Chiếc máy tính có hai khoang cùng với các mạch tích hợp và dây dẫn lộ thiên, họ đã chế tạo nó ngay trên tầng 9 của Quảng trường Công nghệ, tại sàn nâng bên trên máy điều hòa không khí.

Nó đã hoạt động như Greenblatt mong đợi. “LISP là một ngôn ngữ có thể triển khai rất dễ dàng,” Greenblatt giải thích. “Hacker có thể ngồi vào máy, làm việc chăm chỉ trong vài tuần và viết một chương trình LISP bất kỳ lúc nào. ‘Nhìn xem, tôi có LISP này.’ Nhưng có một khác biệt lớn giữa điều đó và một hệ thống có thể thực sự sử dụng được.” Máy Cons và những chiếc máy LISP độc lập sau này là một hệ thống sử dụng được. Nó có cái gọi là “vùng nhớ ảo” giúp đảm bảo rằng không gian mà các chương trình sử dụng không bị tràn như trong các hệ thống LISP khác. Thế giới mà bạn tạo ra bằng LISP có thể trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Hacker làm việc trên chiếc máy đó giống như phi công lái phi thuyền tưởng tượng đang du hành trong một vũ trụ LISP ngày càng mở rộng.

Trong vài năm tiếp theo, họ đã nỗ lực để chiếc máy có thể hoạt động độc lập. MIT trả lương cho họ, và tất cả đều vừa phát triển hệ thống trên ITS vừa thực hiện các hack AI ngẫu nhiên. Sự đột phá xuất hiện khi ARPA bơm tiền vào để nhóm chế tạo sáu chiếc máy với chi phí khoảng 50.000 đô-la mỗi chiếc. Sau đó, họ sẽ bổ sung nhiều tiền hơn để chế tạo thêm những chiếc máy khác.

Cuối cùng, các hacker ở MIT cũng chế tạo được 32 cỗ máy LISP. Bề ngoài, máy LISP trông như một thiết bị điều hòa không khí trung tâm. Tất cả các thao tác nhìn thấy được đều diễn ra tại một thiết bị đầu cuối từ xa, với bàn phím dài, sành điệu với các phím chức năng, và một màn hình bitmap độ phân giải cao. MIT sẽ kết nối vài cỗ máy LISP vào một mạng, sao cho mỗi người vừa có toàn quyền kiểm soát nhưng vẫn đồng thời hack được với tư cách là một phần của cộng đồng; ngoài ra, giá trị thu được từ dòng chảy tự do của thông tin sẽ vẫn được duy trì.

Máy LISP là một thành tựu quan trọng. Nhưng Greenblatt nhận thấy cần nhiều hơn việc chỉ chế tạo một vài cỗ máy và hack chúng. Chiếc máy LISP này là một công cụ xây dựng thế giới tối thượng, hiện thân của giấc mơ hacker… nhưng thân phận của chiếc “máy biết suy nghĩ” cũng khiến nó trở thành công cụ để nước Mỹ duy trì vị thế dẫn đầu về công nghệ trong cuộc đua AI với Nhật Bản. Tất nhiên là máy LISP có một hàm ý to lớn hơn so với Phòng Thí nghiệm AI, và những công nghệ kiểu này tốt nhất là nên được phổ biến thông qua lĩnh vực thương mại. Greenblatt cho rằng: “Tôi nhận ra rằng trong toàn bộ quá trình này, chúng tôi có thể [đã] chuẩn bị thành lập công ty vào một ngày nào đó để thương mại hóa những chiếc máy LISP. Chẳng chóng thì chầy, điều đó cũng sẽ xảy ra. Vì thế, khi cỗ máy dần trở nên hoàn thiện hơn, chúng tôi cũng bắt đầu tìm hiểu xung quanh.”

Đó là cách mà Russell Noftsker tham gia vào chuyện này. Cựu quản trị viên của Phòng Thí nghiệm AI đã rời bỏ công việc tù túng của anh vào năm 1973 để đến California tham gia vào công việc kinh doanh. Anh thường xuyên quay trở lại Cambridge, và dừng chân ở phòng thí nghiệm để xem những nhà nghiên cứu AI đang làm gì. Anh thích ý tưởng về máy tính LISP, và bày tỏ mong muốn giúp đỡ các hacker mở công ty.

“Ban đầu, hầu hết mọi người đều phản đối anh ta,” Greenblatt nhớ lại. “Vào thời điểm Noftsker rời bỏ phòng thí nghiệm, tôi vẫn giữ liên lạc với anh ta nhiều hơn đáng kể so với những người khác. Hầu hết mọi người đều ghét gã này. Anh ta đã làm một số việc thực sự hoang tưởng. Nhưng tôi đã nói rằng: ‘Được, hãy cho anh ta một cơ hội.’”

Mọi người đồng ý, nhưng chẳng bao lâu sau họ nhận thấy rõ ràng Noftsker và Greenblatt đang có những ý tưởng khác nhau về công ty. Greenblatt quá thiên về hacker để có thể chấp nhận một kết cấu doanh nghiệp kiểu truyền thống. Điều anh muốn là một thứ “hướng về hình mẫu AI”. Anh không muốn nhiều vốn đầu tư mạo hiểm. Anh thích cách tiếp cận từ từ hơn, ở đó công ty sẽ nhận đặt hàng một chiếc máy tính, sau đó chế tạo nó rồi giữ lại một tỷ lệ tiền nhất định, và đầu tư ngược vào công ty. Anh hy vọng rằng công ty của mình có thể duy trì một mối quan hệ ổn định với MIT; anh thậm chí còn hình dung về cách mà họ có thể liên kết mãi mãi với Phòng Thí nghiệm AI. Bản thân Greenblatt cũng bất đắc dĩ phải rời đi; anh đã thiết lập một cách vững chắc các tham số cho thế giới của mình. Dù trí tưởng tượng của anh được tự do bên trong chiếc máy tính, nhưng thế giới vật chất của anh vẫn chỉ bó gọn trong văn phòng chật chội với thiết bị đầu cuối trên tầng 9, và căn phòng mà anh đã thuê từ những năm 1960 của vợ chồng một nha sĩ (người chồng bây giờ đã mất). Anh sẽ đi vòng quanh thế giới để tham dự hội nghị về AI nhưng những buổi thảo luận đó sẽ chỉ tiếp nối các vấn đề kỹ thuật mà anh đã tranh luận ở phòng thí nghiệm hay trong thư điện tử trong mạng ARPAnet. Anh là người gần như được định hình bởi cộng đồng hacker, và dù biết thương mại hóa tới một chừng mực nào đó là điều cần thiết để truyền bá tư tưởng của máy LISP, anh vẫn muốn tránh bất kỳ sự thỏa hiệp không cần thiết nào đối với Đạo đức Hacker: cũng giống như các dòng mã trong một chương trình hệ thống, những thỏa hiệp đó cần phải được rút gọn xuống mức tối thiểu.

Noftsker coi việc này là phi thực tế, và quan điểm của anh được phản ánh ở các hacker khác liên quan đến dự án. Bên cạnh Tom Knight, dự án này còn có một số thiên tài trẻ tuổi không có mặt ở thời hoàng kim của tầng 9, và họ có một cách tiếp cận thực tế hơn đối với yêu cầu. “[Về ý tưởng của Greenblatt], theo tôi, cần mở một công ty sản xuất máy LISP trong một nơi kiểu như ga-ra. Rõ ràng, việc này không thực tế,” Tom Knight kể lại. “Thế giới chỉ đơn giản là không như thế. Chỉ có một cách duy nhất để vận hành một công ty, đó là cần phải có những người muốn kiếm tiền.”

Knight và những người khác hiểu rằng mô hình của Greenblatt về một công ty cũng giống như Systems Concepts ở San Francisco, nơi có hai cựu hacker của MIT là Stewart Nelson và Peter Samson. Systems Concepts là một công ty có quy mô nhỏ, được định hướng bởi một hãng quyết tâm không đáp lời bất kỳ ai nắm giữ hầu bao. “Mục tiêu ban đầu của chúng tôi là không cần thiết phải trở nên vô cùng giàu có,” đồng sáng lập Mike Levitt giải thích vào năm 1983, “mà là tự kiểm soát vận mệnh của mình. Chúng tôi không nợ ai bất kỳ điều gì.” Dù vậy, các hacker MIT vẫn đặt câu hỏi về tác động của System Concepts – sau hơn một thập kỷ, họ kết luận rằng nó vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, và không có ảnh hưởng gì ghê gớm lắm. Knight đã quan sát Systems Concepts và thấy rằng họ “có rủi ro thấp, không nhận đầu tư bên ngoài, không thuê những người mà mình không biết, chế độ đó sẽ chẳng đi được xa,” Knight nói. Anh và những người khác có tầm nhìn rộng hơn về một công ty chế tạo máy LISP.

Russ Noftsker cũng nhận thấy, và lợi dụng việc nhiều hacker không muốn làm việc trong một công ty do Greenblatt dẫn dắt. Greenblatt đã quá tập trung vào việc sản xuất máy LISP, vào nhiệm vụ hack, vào việc cần phải làm tới mức thường xuyên không chấp nhận nổi người khác. Và khi các hacker thời xưa già đi, sự việc lại càng phát sinh thêm nhiều vấn đề. “Mọi người đã khoan dung với anh ấy vì sự thông minh và năng suất làm việc của anh ấy,” Noftsker giải thích, “[nhưng] cuối cùng, Greenblatt bắt đầu sử dụng dùi cui hoặc roi vọt để ép mọi người vào khuôn khổ. Anh đã mắng mỏ những người không quen với điều đó. Anh đối xử với họ như kiểu họ là những kẻ cứng đầu cứng cổ. Cuối cùng, mọi người không thể giao tiếp được với nhau và họ đã rời bỏ tầng 9 để tránh xa Greenblatt.”

Mọi việc càng trở nên căng thẳng trong một cuộc họp vào tháng Hai năm 1979, khi rõ ràng là Greenblatt muốn có một công ty mang phong cách hacker, và có đủ quyền lực để đảm bảo điều đó. Đó là một đòi hỏi vô lý, bởi kể từ những ngày đầu thành lập, theo Knight kể lại, “Nó đã được vận hành dựa trên các nguyên tắc của chủ nghĩa vô chính phủ, dựa trên niềm tin vào khía cạnh công nghệ mà những người liên quan đã xây đắp trong nhiều năm.” Nhưng dường như chủ nghĩa vô chính phủ không phải là Điều Đúng đắn trong trường hợp này. Hay cả những đòi hỏi khác của Greenblatt nữa. “Thú thực là tôi không thể chấp nhận việc anh ta ngồi vào ghế Chủ tịch trong một công ty mà tôi tham gia,” Knight nói.

Noftsker cho hay: “Tất cả chúng tôi đều cố gắng thuyết phục Greenblatt. Chúng tôi nài nỉ anh ấy chấp thuận một cấu trúc, mà ở đó Greenblatt bình đẳng với tất cả chúng tôi, và ở đó có sự quản trị chuyên nghiệp. Anh ấy từ chối điều đó. Vì thế, chúng tôi đã hỏi tất cả mọi người thuộc đội kỹ thuật rằng, liệu họ có chấp thuận bất kỳ điều khoản nào [mà Greenblatt muốn] hay không. Mọi người đều nói là họ không muốn tham gia vào một cuộc mạo hiểm [kiểu như thế].”

Đó là một sự bế tắc. Hầu hết các hacker đều không đi theo Greenblatt, cha đẻ của máy LISP. Noftsker cùng những người còn lại nói rằng họ sẽ cho Greenblatt một năm để thành lập công ty của riêng mình, nhưng chưa đầy một năm sau, họ nhận ra Greenblatt và những người ủng hộ mà anh tìm được cho công ty LISP Machine Incorporated (LMI) đã không giành được “chiến thắng”, vì thế họ thành lập một công ty được cấp vốn với tên gọi Symbolics. Họ rất lấy làm tiếc khi sản xuất và bán những chiếc máy mà Greenblatt có công đóng góp lớn, nhưng đồng thời cũng cảm thấy đó là việc phải làm. Nhân viên LMI cảm thấy bị phản bội; mỗi khi Greenblatt nói về sự chia cắt, giọng anh lại biến thành những tiếng lầm bầm chậm chạp, rồi tìm cách đổi sang chủ đề khác. Sự phân ly đầy cay đắng là điều có thể xảy ra trong kinh doanh hay khi người ta đầu tư cảm xúc vào các mối quan hệ, và tương tác con người, nhưng đó không phải là thứ có thể thấy trong đời sống của các hacker.

Phòng Thí nghiệm AI đã trở thành một chiến trường giữa hai phe và hai công ty, đặc biệt là Symbolics, khi họ đã lấy đi nhiều người trong số những hacker còn lại của phòng thí nghiệm. Thậm chí cả Bill Gosper, người đang làm việc tại Stanford và Xerox trong thời gian đó, cuối cùng cũng gia nhập trung tâm nghiên cứu mới mà Symbolics đã thành lập ở Palo Alto. Khi Symbolics phàn nàn về sự xung đột lợi ích có thể xảy ra giữa các nhân viên LMI đang làm việc cho Phòng Thí nghiệm AI, các hacker vẫn liên hệ với phòng thí nghiệm, bao gồm cả Greenblatt, đã phải nghỉ việc.

Điều đó thật đau đớn đối với tất cả mọi người, và khi cả hai công ty đều cho ra các phiên bản máy LISP tương tự nhau vào đầu những năm 1980, họ đều thấy rõ là vấn đề này sẽ còn tiếp diễn trong thời gian dài. Greenblatt đã thực hiện một số thỏa hiệp trong kế hoạch kinh doanh của anh – chẳng hạn như thực hiện một thỏa thuận, mà ở đó LMI nhận được tiền và sự hỗ trợ từ Texas Instruments để đổi lấy 1/4 cổ phần – và nhờ đó, công ty của anh đã sống sót. Symbolics thì hoang phí hơn khi thuê những cá nhân tinh hoa của chủ nghĩa hacker, và thậm chí còn ký hợp đồng bán những chiếc máy của họ cho MIT. Phần tệ nhất trong câu chuyện là cộng đồng lý tưởng của các hacker, những người mà theo Ed Fredkin thì “khá yêu quý nhau” đã không còn nói chuyện với nhau nhiều. “Tôi thực sự muốn nói chuyện với [Greenblatt],” Gosper nói thay cho nhiều hacker Symbolics đã trưởng thành cùng những hacker giỏi nhất, nhưng giờ đây lại bị tách biệt khỏi dòng chảy thông tin. “Tôi không biết liệu anh ấy có vui hay không khi thấy tôi tham gia cùng những kẻ xấu ở đây. Nhưng xin lỗi nhé, tôi sợ rằng lần này họ là những người làm đúng.”

Nhưng ngay cả khi mọi người trong công ty nói chuyện với nhau, họ cũng không thể nói về việc quan trọng nhất – đó là sự kỳ diệu mà họ đã khám phá, và đưa vào hệ thống máy tính này. Sự kỳ diệu đó là bí mật kinh doanh không thể tiết lộ cho các công ty đối thủ. Thông qua hành động làm việc cho các công ty, các thành viên của cộng đồng hacker thuần túy nhất này đã từ bỏ thành tố then chốt của Đạo đức Hacker. Đó là dòng chảy tự do của thông tin. Thế giới bên ngoài đã thực sự thâm nhập vào bên trong họ.

☆ ☆ ☆

Người bị tác động nhiều nhất bởi sự chia rẽ và ảnh hưởng của nó đến Phòng Thí nghiệm AI là Richard Stallman. Anh đau khổ trước thất bại của phòng thí nghiệm trong việc duy trì Đạo đức Hacker. Anh sẽ nói với những người lạ mà anh gặp rằng, vợ anh vừa mới qua đời, và phải tới phần sau của cuộc nói chuyện, họ mới nhận ra rằng anh chàng trẻ tuổi, gầy gò, buồn thảm này đang nói về một học viện chứ không phải người vợ quá cố của mình.

Stallman sau này đã viết lại những suy nghĩ của anh vào máy tính:

Tôi thực sự đau đớn khi nhớ lại những ký ức về quãng thời gian này. Những người còn lại trong phòng thí nghiệm là các giáo sư, sinh viên,và các nhà nghiên cứu không phải hacker, những người không biết cách bảo trì hệ thống hoặc phần cứng và chẳng hề muốn biết những điều đó. Máy móc bắt đầu hỏng hóc, và không bao giờ được sửa chữa; đôi khi chúng cứ thế bị vứt đi. Những thay đổi cần thiết trong phần mềm cũng không được thực hiện. Những người không phải hacker đã phản ứng với điều này bằng cách quay sang các hệ thống thương mại đi kèm với các thỏa thuận bản quyền kiểu phát-xít. Tôi thường lang thang trong phòng thí nghiệm, qua những căn phòng trống không vào ban đêm, nơi trước kia thường chật ních người và nghĩ: “Ôi, Phòng Thí nghiệm AI đáng thương của tôi! Em đang chết dần mà tôi không thể làm gì.” Mọi người đều thấy nếu có nhiều hacker được huấn luyện hơn thì Symbolics cũng sẽ thuê họ, vì thế, họ thậm chí còn chẳng thèm cố gắng… toàn bộ nền văn hóa đã bị xóa sổ hoàn toàn...

Stallman nuối tiếc việc không còn có thể dễ dàng tập hợp một nhóm háo hức đi ăn tối ở nhà hàng Trung Quốc. Anh gọi vào số điện thoại của phòng thí nghiệm, nó kết thúc bằng cụm số 6765 (“Số Fibonacci thứ 20,” mọi người thường chú ý, và chỉ ra con số đặc biệt được thiết lập bởi một hacker toán học nào đó) nhưng không tìm được ai để ăn cùng hay nói chuyện cùng.

Richard Stallman cảm thấy anh đã xác định được kẻ tội đồ phá hủy phòng thí nghiệm, đó là Symbolics. Anh hề rằng: “Tôi sẽ không bao giờ sử dụng một chiếc máy LISP của Symbolic, hay giúp đỡ bất kỳ ai làm điều đó… Tôi không muốn nói chuyện với bất kỳ ai làm việc cho Symbolics hay liên hệ với họ.” Anh không tán thành công ty LMI của Greenblatt, do công ty này bán các chương trình mà Stallman tin rằng chúng phải là miễn phí, nhưng anh vẫn cảm thấy LMI đã nỗ lực tránh làm hại Phòng Thí nghiệm AI. Tuy nhiên, dưới cái nhìn của Stallman thì Symbolics đã cố tình cướp đi các hacker của phòng thí nghiệm để ngăn họ không được cống hiến những công nghệ hấp dẫn cho công chúng.

Stallman muốn phản công. Chiến trường của anh là hệ điều hành LISP vốn được chia sẻ giữa MIT, LMI và Symbolics. Điều này đã thay đổi khi Symbolics cho rằng thành quả công việc của họ sẽ trở thành tài sản riêng; có lý gì LMI lại được hưởng lợi từ những cải tiến do các hacker Symbolics thực hiện chứ? Vì thế, sẽ không còn chuyện chia sẻ nữa. Thay vì việc hai công ty cùng dồn sức để tạo ra một hệ điều hành đầy đủ tính năng, họ sẽ phải làm việc độc lập, giẫm chân lên nhau.

Đây là cơ hội để Richard trả thù. Anh đã gạt sự lo ngại về LMI sang một bên, và bắt đầu hợp tác với họ. Do vẫn còn làm việc chính thức ở MIT, và Symbolics đã cài đặt các cải tiến của họ lên những chiếc máy tính ở MIT, nên Stallman có thể cẩn thận khôi phục lại các tính năng mới hay gỡ lỗi. Anh sẽ suy nghĩ về cách thực hiện thay đổi đó, rồi thực hiện nó và trình bày kết quả với LMI. Đó không phải là một công việc dễ dàng, vì anh không thể cứ sao chép lại các thay đổi mà phải tìm ra các phương pháp sáng tạo hơn để triển khai chúng. “Tôi không nghĩ là việc sao chép mã nguồn có gì sai trái,” anh giải thích. “Nhưng họ sẽ kiện LMI nếu tôi sao chép mã nguồn của họ, vì thế, tôi phải làm rất nhiều việc.” Như một John Henry thực thụ về mã nguồn máy tính, Richard đã tự nỗ lực để tạo ra kết quả tương xứng với hơn chục hacker đẳng cấp thế giới, và xoay xở để duy trì công việc đó trong hầu hết năm 1982 và sang cả năm 1983. Greenblatt nhận thấy: “Xét một cách công bằng thì anh ta đã hack thắng tất cả bọn họ.”

Một số hacker ở Symbolics thường phàn nàn không phải bởi việc Stallman đang làm, mà là bởi họ không đồng ý với một số lựa chọn kỹ thuật mà Stallman sử dụng trong triển khai. “Tôi tự hỏi liệu những người này có đang tự lừa dối mình không,” Bill Gosper nói khi bản thân anh cũng đang giằng xé giữa lòng trung thành với Symbolics, và sự ngưỡng mộ mà anh dành cho các hack bậc thầy của Stallman. “Tôi đã xem được một số thứ mà Stallman viết, và nghĩ chúng không tốt (có thể không phải vậy, nhưng có người đã thuyết phục tôi là nó không tốt), nhưng tôi vẫn sẽ nói rằng: ‘Nhưng khoan đã – Stallman không có ai để thảo luận. Anh ấy làm việc một mình! Thật tuyệt vời khi ai đó có thể làm tất cả những thứ này một mình!’”

Russ Noftsker, Chủ tịch của Symbolics, không có chung sự ngưỡng mộ ấy ở Greenblatt hay Gosper. Anh sẽ ngồi tại văn phòng của Symbolics, một nơi được trang trí đẹp, và tương đối xa hoa so với trụ sở đổ nát của LMI chỉ cách đó một dặm, khuôn mặt đầy lo lắng khi nói chuyện với Stallman. “Chúng tôi đang phát triển một chương trình hay một cải tiến cho hệ điều hành và khiến nó hoạt động, công việc có thể mất tới ba tháng, và theo thỏa thuận với MIT, chúng tôi đã đưa chúng cho họ dùng. Và rồi [Stallman] lại so sánh chúng với phiên bản cũ, tìm hiểu cách thức hoạt động của chúng, và triển khai lại [trên máy tính LMI]. Anh ta gọi đó là dịch ngược. Còn chúng tôi thì coi đó là ăn cắp bí mật kinh doanh. Việc anh ta làm chẳng đem lại lợi ích gì cho MIT, bởi chúng tôi vốn đã cung cấp các chức năng đó [cho họ] rồi. Mục đích duy nhất của việc này là phục vụ người của Greenblatt.”

Đó là một luận điểm chính xác. Stallman không hề ảo tưởng rằng việc làm của mình sẽ giúp cải tiến thế giới nói chung. Anh chỉ muốn gây tổn hại nhiều nhất có thể cho thủ phạm. Anh biết mình không thể cứ tiếp tục như thế mãi. Vì vậy, anh đã đặt một thời hạn cho công việc của mình là vào cuối năm 1983. Sau đó thì anh không chắc về hành động tiếp theo của bản thân.

Anh tự coi mình là hacker đích thực cuối cùng còn lại trên Trái đất. “Phòng thí nghiệm AI từng là một minh chứng cho việc có thể có một tổ chức đẹp đẽ và tuyệt vời đến thế,” anh giải thích. “Nếu tôi nói với mọi người họ có thể không cần bảo mật trên máy tính mà vẫn đảm bảo được rằng mọi người không xóa được tập tin của bạn, hay không ai có thể ngăn bạn làm việc của mình, thì ít nhất tôi cũng có thể chỉ vào Phòng Thí nghiệm AI và nói: ‘Xem này, chúng tôi đang làm thế đây. Hãy sử dụng máy tính của chúng tôi! Thấy không!’ Nhưng giờ đây, tôi không thể làm thế nữa. Nếu không có bằng chứng, sẽ chẳng ai tin tôi. Đã có lúc chúng tôi là hình mẫu cho phần còn lại của thế giới. Giờ đây, tình hình đã đổi khác, tôi sẽ phải bắt đầu từ đâu đây? Trước đây, tôi từng đọc một cuốn sách có tên là Ishi, the Last Yahi (tạm dịch: Ishi, người Yahi cuối cùng), nói về người sống sót cuối cùng của một bộ lạc Da đỏ, bắt đầu từ gia đình anh, rồi lan sang toàn bộ lạc.”

Richard Stallman cảm thấy mình đang ở trong tình cảnh đó. Giống như Ishi.

“Tôi là nhân chứng cuối cùng của một nền văn hóa đã chết,” Richard nói. “Tôi không thực sự thuộc về thế giới này nữa. Theo nhiều cách, tôi cảm thấy rằng mình đã lìa đời.”

Richard Stallman đã rời bỏ MIT, nhưng anh có một kế hoạch khác, đó là viết một phiên bản của hệ điều hành máy tính phổ biến có tên là UNIX, và tặng cho những ai muốn có nó. Làm việc với chương trình GNU (viết tắt của Gnu’s Not Unix) này đồng nghĩa với việc anh có thể “tiếp tục sử dụng máy tính mà không vi phạm các nguyên tắc [của mình].” Chứng kiến thứ Đạo đức Hacker từng phát triển mạnh mẽ ở MIT giờ không thể sống sót trong dạng trọn vẹn nhất của nó, anh nhận ra rằng, những hành động nhỏ như của anh sẽ giúp duy trì Đạo đức ấy tồn tại trong thế giới bên ngoài.

☆ ☆ ☆

Stallman đã gia nhập phong trào quần chúng của chủ nghĩa hacker theo thế giới thực, phong trào này bắt đầu tại chính nơi mà anh vừa buồn bã rời đi. Sự trỗi dậy của chủ nghĩa hacker tại MIT cách đây 25 năm là một nỗ lực tập trung nhằm tiếp thu trọn vẹn sự kỳ diệu của máy tính; để hấp thu, khám phá và mở rộng sự phức tạp của các hệ thống hấp dẫn này; sử dụng các hệ thống logic hoàn hảo đó làm cảm hứng cho một nền văn hóa và phong cách sống. Chính các mục tiêu này đã truyền cảm hứng cho hành vi của Lee Felsenstein và các hacker phần cứng từ Albuquerque tới Vùng Vịnh. Hiệu ứng tích cực của hành động là ngành công nghiệp máy tính cá nhân đã mang lại phép màu tới hàng triệu người. Chỉ một phần rất nhỏ trong số những người sử dụng máy tính mới này được trải nghiệm phép màu đó một cách đầy mãnh liệt như các hacker MIT, nhưng tất cả đều có cơ hội… và nhiều người sẽ thoáng nhận ra các khả năng phi thường của cỗ máy ấy. Nó sẽ mở rộng quyền năng của họ, thúc đẩy sáng tạo, và dạy cho họ một thứ gì đó, có thể là Đạo đức Hacker, nếu họ muốn tiếp thu.

Khi cuộc cách mạng máy tính phát triển theo vòng xoáy hướng lên trên mãnh liệt của silicon, tiền bạc, sự cường điệu hóa và chủ nghĩa hoàn hảo, thì Đạo đức Hacker có lẽ lại trở nên kém thuần khiết hơn, và sự xung đột giữa nguyên tắc đạo đức này với các giá trị của thế giới bên ngoài là không thể tránh khỏi. Nhưng các ý tưởng của nó sẽ được phát tán trong văn hóa hacker mỗi khi người dùng bật máy tính lên, màn hình lại trở nên sống động với các từ ngữ, ý tưởng, hình ảnh và đôi khi là cả một thế giới không ngờ tới – các chương trình máy tính này có thể biến bất kỳ ai trở thành một vị thần.

Đôi khi những người tiên phong thuần khiết cũng phải kinh ngạc trước các hậu duệ của họ. Chẳng hạn, Bill Gosper đã rất bất ngờ trước một cuộc chạm trán vào mùa xuân năm 1983. Dù Gosper làm việc cho Symbolics và anh cũng nhận ra rằng, xét theo khía cạnh nào đó, anh cũng đã thỏa hiệp với bản thân khi hack trong lĩnh vực thương mại, nhưng anh vẫn là anh chàng Bill Gosper ngày nào từng làm việc với chiếc PDP-6 trên tầng 9, như một nhà giả kim của mã nguồn máy tính. Bạn có thể thấy anh lúc tờ mờ sáng trong một căn phòng trên tầng 2 gần El Camino Real ở Palo Alto, chiếc Volvo tả tơi của anh là chiếc xe ô tô duy nhất đỗ tại một điểm đỗ nhỏ bên ngoài tòa nhà hai tầng khó nhận ra, nơi có trung tâm nghiên cứu Bờ Tây của Symbolics. Gosper giờ đây đã 40 tuổi, với gương mặt sắc sảo ẩn sau cặp kính lớn và mái tóc cột đuôi ngựa xõa ngang lưng, vẫn đang hack trò LIFE, và theo dõi những thay đổi thú vị khi thiết bị đầu cuối của máy LISP của anh biến đổi qua hàng triệu thế hệ của LIFE.

“Tôi có một trải nghiệm vô cùng ngạc nhiên khi xem bộ phim Return of the Jedi (Sự trở lại của Jedi),” Gosper nói. “Tôi ngồi cạnh một cậu bé tầm 15 hay 16 tuổi. Tôi hỏi cậu bé đang làm gì thế thì cậu ấy nói, ‘Ồ, về cơ bản thì cháu là một hacker.’ Tôi gần như đã ngã ngửa, không thốt nên lời. Tôi vẫn chưa chuẩn bị cho việc này. Đó dường như là lời nói ngạo mạn nhất mà tôi từng được nghe.”

Tất nhiên là cậu bé không hề khoác lác, cậu đã giải thích mình là ai. Cậu là một hacker Thế hệ Thứ ba. Cùng với nhiều thế hệ khác tiếp theo.

Với những người tiên phong như Lee Felsenstein, thì sự tiếp diễn đó có nghĩa là đã hoàn thành mục tiêu. Nhà thiết kế của Sol và Osborne 1, nhà đồng sáng lập nhóm Community Memory, người anh hùng của cuốn tiểu thuyết lấy hình tượng từ Heinlein trong trí tưởng tượng, thường khoe khoang rằng anh đã từng “có mặt trong thời khắc sáng tạo”, và chứng kiến khoảnh khắc bùng nổ đó ở phạm vi đủ gần để có thể thấy được những giới hạn cũng như tầm ảnh hưởng quan trọng và tinh tế của nó. Sau khi kiếm được cả một gia tài trên giấy tại Osborne, Lee Felsenstein lại nhìn nó nhanh chóng không cánh mà bay, bởi khả năng quản trị yếu kém cùng lối tư duy ngạo mạn về thị trường. Chính điều đó đã khiến cho Osborne Computer sụp đổ chỉ sau vài tháng ra mắt vào năm 1983. Anh không hề thấy tiếc nuối số tiền ấy. Thay vào đó, anh tự hào khi tuyên bố rằng “huyền thoại về các siêu máy tính khổng lồ to hơn người [chẳng hạn như Cỗ máy Khổng lồ mà chỉ các Thầy tu mới có quyền tiếp cận] đã đi vào dĩ vãng. Chúng ta đã có thể chấp nhận sai lầm khi tôn thờ cỗ máy ấy.”

Lee Felsenstein đã dễ dàng học được cách mặc com-lê, tán tỉnh phụ nữ, và làm mê hoặc các khán giả của mình. Nhưng cỗ máy và tác động của nó lên mọi người mới là những điều anh quan tâm. Anh đang lên kế hoạch cho bước tiếp theo. “Chúng ta vẫn còn có nhiều việc phải làm,” anh nói không lâu sau khi Osborne Computer đóng cửa. “Chúng ta cần phải tìm ra mối quan hệ mang tính cộng sinh hơn giữa người và máy. Đó là điều rút ra được từ một huyền thoại, nhưng bạn cần phải thay thế nó bằng một thứ khác. Tôi cho rằng bạn nên bắt đầu với công cụ: Công cụ là hiện thân của huyền thoại. Tôi đang cố hình dung xem bạn có thể giải thích tương lai theo cách đó như thế nào.”

Anh tự hào rằng mình đã dành chiến thắng trong trận chiến đầu tiên – để mang máy tính đến với mọi người. Ngay lúc anh nói những điều này, các hacker Thế hệ Thứ ba vẫn đang xuất hiện trên tin tức, không chỉ với vai trò của các nhà thiết kế trò chơi điện tử siêu sao mà còn như những anh hùng văn hóa, những người bất chấp các giới hạn để khám phá các hệ thống máy tính. Trong bộ phim bom tấn WarGames, nhân vật chính là một hacker Thế hệ Thứ ba không hề có các kiến thức kỹ thuật uyên thâm như Stewart Nelson hay Đội trưởng Răng rắc, nhưng anh ta vẫn có thể xâm nhập vào các hệ thống máy tính bằng sự ngây thơ của Nhu cầu được Thực hành. Đây là một ví dụ khác về cách mà máy tính có thể truyền bá Đạo đức Hacker.

“Công nghệ cần phải được xem xét rộng hơn xét trên khía cạnh về những phần cứng vô tri,” Felsenstein nói. “Công nghệ đại diện cho những cách thức tư duy tẻ nhạt, và những cách thức tư duy khách quan. Câu chuyện về huyền thoại mà chúng ta thấy trong WarGames, cùng những thứ tương tự là chiến thắng rõ ràng của một cá nhân trước sự chán nản của cả một tập thể. [Huyền thoại đó] đang cố gắng chứng minh rằng các hiểu biết thông thường và kiến thức phổ biến luôn cần được hoài nghi. Đó không chỉ là quan điểm học thuật, mà còn là điểm cốt lõi đối với sự sống còn của loài người, xét theo khía cạnh sinh tồn của con người [một cách đơn thuần], nhưng loài người là thứ gì đó quý giá hơn một chút, mong manh hơn một chút. Nhờ đó, chúng ta có thể thách thức thứ văn hóa cho rằng ‘Đừng có chạm vào đây’, và cả việc thách thức khả năng sáng tạo của chính mình là… điều cốt lõi.”

Và tất nhiên, điều cốt lõi đó chính là Đạo đức Hacker.

« Lùi
Tiến »