HAI CÕI NGƯỜI TA

Lượt đọc: 620 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

Chỉ một lần duy nhất, nhưng cảm giác được mọi người chú ý đúng là tuyệt cú mèo.

Ethan chẳng hề kêu ca dù phải vác chiếc máy quay phim nặng trịch. Dù sao cậu Ross của nó cũng đang phải khiêng hết tất cả đồ đạc còn lại, từ túi ngủ đến đồ ăn vặt (cậu Ross bảo đi điều tra giám sát phải đúng lệ bộ đàng hoàng, dù những người mà họ muốn điều tra đều đã ngủm củ tỏi). Hai cậu cháu đi ngang qua mấy tay chơi trống, chiếc xe ủi và đám thợ xây. Lúc hai người đi ngang qua, Ethan nhận ra ai cũng khựng lại một lúc. Ánh mắt ông lão thổ dân nhìn như đóng đinh vào gáy cậu bé. Nhưng cái nhìn đó không phải vì ông ta vốn lập dị, mà chỉ vì tò mò trước hai cậu cháu đường hoàng đi ngang khu đất như đi trong đất nhà họ.

Ethan dừng chân, nhìn một cậu sinh viên đang sàng cát. Cậu ta chỉ mặc mỗi cái quần cộc, bờ vai và lưng rám nắng. Ethan nhìn xuống ống tay áo dài ngoằng cùng cái quần dài dày cộm của mình và khẽ trề môi sau lớp khẩu trang.

“Này đi nào,” Ross quay lại gọi to, khiến Ethan cuống cuồng đuổi theo.

Van Vleet sốt sắng chạy đến ngay khi nhìn thấy hai cậu cháu. Đôi giày kiểu doanh nhân thành đạt cứ khiến anh ta trượt chân trên mặt băng trải rộng khắp khu đất như lớp kem bơ quét trên mặt bánh. “Anh Wakeman,” Rod van Vleet lịch sự chào hỏi. “Anh nhớ tôi đã nói chuyện này nên… kín đáo chứ?”

“Anh cũng nhớ tôi đã nói tôi sẽ tiến hành điều tra theo cách của mình chứ?” Ross đáp trả rồi quay lưng lại. Anh thận trọng bước lên mấy bậc thang trong căn nhà cũ kỹ. Một bậc thang gãy đôi ngay dưới chân anh. “Cẩn thận đấy,” anh dặn dò Ethan.

Căn nhà trông như đang khóc lóc thảm thương, những cánh cửa chớp lặc lìa lủng lẳng trên bản lề như hàng mi dài đẫm lệ. Ethan lùi lại, rướn cổ lên nhìn dãy cầu thang dẫn lên lầu. Cầu thang khi xưa hẳn là màu trắng. Hầu hết cửa sổ đều bị mấy đứa trẻ xung quanh đập vỡ từ lâu. Cây thường xuân quấn quanh khung cửa sổ như bộ ria mép vểnh ngược lốm đốm.

“Ethan!”

Giật mình bởi tiếng gọi của cậu Ross, Ethan phóng nhanh lên bậc thang nhưng khựng lại ngay lối vào. Thạch cao rụng lả tả từ trần nhà, mặt sàn dày bụi. Giấy hoa văn dán tường in đầy dấu tay và chữ phun sơn: SARI LẲNG LƠ. Dưới cầu thang còn có dấu vết của lửa trại và tầm ba mươi chai bia rỗng.

Ethan quét mắt từ ban công đổ nát đến căn phòng tối đen cạnh đó, rồi ngước nhìn lên trần nhà. Cậu thầm nghĩ, ớn lạnh thật. Nhưng thế thì sao. Ethan vươn vai tự nhủ nếu làm tốt chuyện này, cậu có thể được chọn tham gia chương trình Nhân Tố Kinh Dị hay mấy chương trình truyền hình thực tế khác. Cậu có thể xin cậu Ross dẫn mình theo trong những vụ sau. Dù sao thì Ethan chỉ được ra ngoài vào ban đêm. Phải thử mới biết được chứ.

Cậu gan dạ hơn bất kỳ đứa bạn nào cậu biết… nhưng thật ra cậu cũng chẳng có mấy người bạn.

Cứ thế Ethan tự luyên thuyên với bản thân cho tới khi có một bàn tay chạm vào gáy làm cậu nhảy dựng lên.

Kerrigan Klieg là phóng viên của tờ báo New York Times, Anh là tác giả những bài viết kiểu hội chứng ma cà rồng trong lễ Halloween, bản chất hóa học của tình yêu trong lễ Valentine, phỏng vấn cha mẹ của những đứa trẻ sinh vào đúng thời khắc đầu thiên niên kỷ của thành phố này. Nói cách khác, anh thích nhàn hạ. Kerrigan chẳng có tham vọng hay hoài bão để theo dõi những vụ tham nhũng của cảnh sát hay tranh chấp chính trị; những bài viết của anh ta toàn là về thông tin tầm phào đại chúng mặc dù anh chẳng hề thích thú với mấy chủ đề đó. Vậy mà Kerrigan lại thích lang thang nghiên cứu ngoài thực địa, như viếng mộ Mercy Brown tại đảo Rhode để tìm cương thi hoặc đến bệnh viện Johns Hopkins để chứng kiến những nhà khoa học đo lường mối quan hệ giữa nồng độ của melatonin và cảm giác ham muốn tình dục. Kerrigan thích một thế giới khác bên ngoài ốc đảo Manhattan, nơi người ta thực sự bước ra phố và nhìn vào mắt nhau thay vì giả vờ mình đang ở nơi khác hay đóng vai người khác.

Những nhân tố ở đây sẽ đảm bảo một bài báo bất bại: ông già da đỏ một trăm tuổi, đám dân thị trấn đang khiếp sợ, tay trùm bất động sản, và một hồn ma giận dữ. Đấy là mới những thứ diễn ra bên rìa của khu đất, chính là phần có căn nhà. Ai mà biết có cái gì ẩn khuất trong mấy mẫu rừng đằng sau?

Kerrigan bước đến cạnh ông Az Thompson, người đã gọi cho biên tập viên mục điều tra. Anh tự hỏi làm cách nào một cụ già có thể sống lâu đến vậy. Ông ta ăn sữa chua như quảng cáo của hãng Dannon? Hay tập thiền? Chẳng lẽ là tiêm vitamin B-12? “Người ta đã cướp đi đất đai của chúng tôi mãi mãi,” Thompson nói. “Nhưng nếu chuyện này cứ tiếp diễn, thậm chí khi chúng tôi đã chết rồi, thì đúng là điên tiết.”

Kerrigan bước ngang qua một chú chó đang gặm chiếc giày cũ. “Theo tôi được biết thì Spencer Pike, ông chủ đất đã không sống ở đây được một thời gian rồi.”

“Không đến hai mươi năm đâu.”

“Thế ông có nghĩ từ đầu ông ta đã biết khu đất này là nơi mai táng?”

Ông lão dừng lại. “Tôi nghĩ Spencer Pike biết nhiều hơn những thứ mà ông ta tiết lộ.”

Giờ thì mọi chuyện thú vị hơn rồi. Kerrigan tính mở miệng hỏi một câu khác thì bị phân tâm bởi người đàn ông và cậu bé đang dạo bên trong khu đất. “Họ là ai vậy?”

“Có tin đồn rằng đó là người mà van Vleet thuê,” ông Thompson trả lời. “Để đảm bảo không có ma cỏ gì cả.” Ông quay sang tay phóng viên. “Anh nghĩ sao?”

Kerrigan đã quen với việc phỏng vấn chứ không phải bị phỏng vấn. “Đó là toàn bộ yếu tố làm nên một câu chuyện ly kỳ,” anh dè dặt đáp.

“Anh đã bao giờ thức giấc vì giấc mơ của người khác? Hoặc mang ủng rồi thấy bên trong đầy tuyết vào tháng Tám? Hay hoa bí thò ra từ lỗ thoát nước trong bồn rửa sau một đêm chưa, anh Klieg?”

“Chưa, tôi chưa hề thấy.”

Thompson gật gù, “Vậy thì cứ ở đây mà chứng kiến nhé.”

Khi Ross đặt tay lên cổ Ethan, cậu nhóc giật thót. “Ethan”, Ross gọi, “cháu không sao đấy chứ?”

Ethan vẫn còn run lẩy bẩy. “Vâng. Ồ, chắc mà, cháu hoàn toàn ổn mà.”

“Cậu có thể đưa cháu về nhà. Không sao đâu.” Ross nghiêm nghị nhìn Ethan. “Cháu có thể nói với mọi người là chính cậu không cho cháu ở lại.”

Đáp lại lời anh, Ethan nắm lấy lan can cầu thang gãy vụn và bắt đầu leo lên.

Thở dài một cái, Ross cất bước theo sau. Có lẽ Ethan thực sự muốn đến đây, nhưng anh chả muốn tí nào. Khi van Vleet đề nghị điều tra mấy hiện tượng tâm linh tại khu đất của ông Pike, anh đã từ chối. Nhưng rồi anh thấy ánh mắt trông đợi của chị mình.

Anh đặt ra bốn điều kiện. Một, chính anh phải là người phụ trách điều tra và không nhận mệnh lệnh từ bất kỳ ai, bao gồm cả người đứng đầu của Tập đoàn Redhook. Hai, chỉ có anh và trợ lý được phép vào khu đất lúc điều tra. Anh tuyên bố trợ lý không ai khác ngoài Ethan, trước sự ngạc nhiên và mừng rỡ vô hạn của cậu bé. Ba, anh không muốn biết bất kỳ thông tin lịch sử nào của khu đất cho tới khi mình yêu cầu - nếu không, suy luận của anh sẽ bị ảnh hưởng. Bốn, anh không nhận thù lao - không giống như nhóm Warburton vẫn thường vẽ ra cho từng khách hàng một con ma dựa vào mức thù lao.

Đổi lại, Ross hứa sẽ giữ “im lặng” về cuộc điều tra này vì mấy sếp nắm quyền tại Tập đoàn Redhook không muốn cả thế giới biết họ tin vào vào hiện tượng tâm linh.

Vậy nên anh ở đây, chuẩn bị cho buổi quan sát đêm và đắm mình vào công việc quen thuộc. Ethan đợi ngay trên bậc cao nhất của cầu thang như một chú chó con bắng nhắng. “Đặt máy quay phim xuống,” Ross ra lệnh. “Đi dạo xung quanh xem thử cháu có tìm thấy gì không?”

“Tìm thấy gì à? Ví dụ như?”

Ross khựng lại suy ngẫm vài phút. Anh phải giải thích cho một đứa nhỏ về cảm giác tâm trí chia nhỏ thành nhiều mảnh để từng mùi hương và hình ảnh được khắc sâu như thế nào? Làm sao để diễn tả cảm giác không khí trở nên nặng nề như tấm chăn bông thít chặt quanh sườn? “Nhắm mắt lại,” Ross hướng dẫn, “và nói cậu nghe xem cháu thấy gì.”

“Nhưng…”

“Cứ làm đi.”

Ban đầu Ethan im bặt. “Ánh sáng… chiếu ra từ các góc.”

“Được rồi.” Ross nhẹ nhàng xoay cậu bé một vòng rối nắm lấy vai Ethan. “Giờ… không nhìn trộm nhé… cầu thang ở đâu?”

“Đằng sau cháu,” Ethan run rẩy đáp vì nhận ra sự kỳ diệu của giác quan thứ sáu.

“Làm sao cháu biết?”

“Vì… cháu cảm thấy có một lỗ hổng trong không gian phía sau.”

Ross xoay Ethan lại rồi vỗ đầu thằng cháu cái bốp khiến cậu nhóc lập tức mở mắt.

“Giỏi lắm, Cậu Nhóc Phi Thường. Đây là bài học số một.”

“Vậy bài học số hai là gì?”

“Là phải dừng thắc mắc về bài học.”

Ross bước dọc hành lang. Những nội thất hay kỷ vật gia đình đã được chuyển đi từ lâu, chỉ còn mấy vệt sơn hay vết xước mờ trên mặt sàn lấm lem. Lầu trên có ba phòng ngủ và một phòng tắm. Thêm một cầu thang dẫn lên gác xép của người giúp việc.

“Cậu Ross? Khi nào ma sẽ đến?”

“Nếu có ma thì họ đã ở đây rồi.” Ross liếc vào phòng tắm. Bên trong là cái bồn tắm với chân đế hình móng vuốt đã nứt toác và bồn vệ sinh kiểu cũ với bồn chứa nước đặt phía trên. “Chắc là họ đang xem xét cậu cháu mình đấy. Nếu hứng thú thì họ sẽ cố gắng thu hút sự chú ý của chúng ta sớm thôi.”

Ethan vặn vòi nước, một dòng nước đọng màu nâu chảy ra. “Họ có để ý tới việc chúng ta đang ở đây không?

“Có thể đấy.” Ross rà soát dọc cửa sổ rồi kiểm tra dấu niêm phong. “Vài con ma cực kỳ muốn người ta chú ý tới nó. Nhưng một số khác thì không biết mình đã chết rồi. Họ thấy chúng ta và tự hỏi tại sao chúng ta lại ở trong nhà họ. Đó là nếu quả có ma trong nhà này,” anh khiêu khích nói to lên.

Đến bắt tao đi, Ross thầm nghĩ.

Anh bước xuống cầu thang, kiểm tra phòng bếp, phòng ăn, hầm rượu và phòng khách. Trong phòng làm việc nhỏ có cửa đôi với chiếc ghế bập bênh đặt phía trong và một đống da nát vụn đã biến thành nơi trú ngụ cho gia đình nhà chuột. Mấy tờ báo cũ vương vãi trên sàn, còn bức tường lấm đầy thứ gì như mỡ bôi trục bánh xe.

“Cậu Ross? Cô Aimee là ma sao?”

Anh cảm thấy tóc gáy dựng ngược. Nhưng điều này chẳng hề liên quan tới hiện tượng tâm linh nào mà chỉ do anh bị sốc. “Cậu không biết nữa, Ethan à.” Hình ảnh Aimee dâng trào trong tâm trí anh như nàng tiên cá hiện lên từ đại dương thế giới bên kia nhưng anh gạt nó sang một bên. “Cái chết sao… chú nghĩ giống như đi xe buýt vậy. Hầu hết mọi người đều tận hưởng chuyến đi và cứ thế đi tiếp đến trạm tiếp theo. Nhưng sẽ có vài người xuống xe trước khi đến được trạm cuối cùng.”

“Có lẽ cô Aimee xuống xe để được gặp cậu.”

“Có thể lắm đấy,” Ross đáp. Anh quay người lại, định bước lên cầu thang trước khi tự khiến mình xấu hổ trước mặt đứa cháu.

“Tại sao cậu nghĩ những hồn ma ở đây xuống xe giữa chừng?”

“Cậu không biết”

“Giả sử như…”

“Ethan,” Ross cắt ngang. “Suỵt.” Anh xoay một vòng cố nắm bắt ý nghĩ vừa lóe lên trong đầu nhưng áo vụt qua nhanh đến nỗi không tài nào nhìn rõ được. Anh tựa vào lan can, cố gắng tập trung, cau mày nhìn vào đống rác bẩn đọng ở chân cầu thang, rồi quét mắt qua mấy con vật gặm nhấm đang âm thầm run rẩy. Anh liếc thấy tổ ong bắp cày ngay trong góc.

Dấu vết của sự sống rải rác đầy sảnh - nào là tơ nhện, xác ve, rong rêu và nấm mốc - đúng là tiêu biểu của sự hoang phế và ẩm thấp. Ross bước vào phòng ngủ phía sau. Trong phòng ngủ, sàn gỗ két bẩn đen xỉn, mảnh gốm vỡ cùng vỏ kẹo vương vãi khắp nơi. Nhưng trần nhà thì lại sạch bong như vừa được quét dọn sáng nay. Không mạng nhện, không nấm mốc, không côn trùng. Dù tình trạng của mấy phòng khác có ra sao thì rõ ràng lâu nay chẳng hề có sinh vật nào vào trong phòng này.

Ross quay qua nhìn cậu bé và bảo. “Đây là nơi chúng ta sẽ dựng máy móc.”

“Tôi không biết chuyện gì xảy ra nữa,” người quản lý trại hè của Lucy nói. Cô quản lý trẻ đến mức người ta nhầm cô là trẻ con. Cô vội vàng dẫn Meredith chạy dọc con đường dẫn tới kho chứa vật dụng. Lucy đã tự nhốt mình trong đó khoảng bốn mươi lăm phút trước. “Cô bé đang chơi bóng né, đột nhiên vừa bỏ chạy vừa la hét.”

Giày cao gót của Meredith bị mắc kẹt trong kẽ đá khiến cô suýt tí nữa thì ngã nhào. Cô có nhớ mang theo thuốc của Lucy không nhỉ? Nếu con bé sợ hãi đến nỗi không chịu bước ra khỏi nhà kho tối thì con bé có thể lên cơn hen suyễn. “Chúng tôi đã gọi về nhà ngay,” người quản lý nói.

“Nhưng mẹ bé bảo bà ấy không lái xe được.”

“Mẹ tôi chứ,” Meredith thẫn thờ đính chính. Với cái tuổi hơn bảy mươi có lẻ, bà Ruby vẫn minh mẫn nhưng không vững tay lái nữa. Bà liền gọi đến phòng nghiên cứu cho Meredith, có chuyện gấp, bà nhắn thế.

Hai người chạy đến căn nhà gỗ nhỏ bên bìa rừng. “Lucy?” Meredith lắc mạnh tay nắm. “Lucy con mở cửa ngay cho mẹ!” Cô tông vào cánh cửa hai lần liên tiếp. Vào lần tông thứ ba, cánh cửa bung bản lề và Meredith lách vào trong.

Cái nóng mang theo mùi hôi xộc lên đầu tiên. Một túi lưới chứa đầy bóng cao su to tướng ngăn cô tới gần Lucy. Cô bé đang thở khò khè sau chồng cọc tiêu màu cam và đám vợt cầu lông. Con gái cô đang ôm trước ngực một túm vải xa-tanh màu tím. Đó là mảnh lễ phục dùng trong lễ hội nhạc hè lâu lắm rối. Cô bé đang khóc.

“Thuốc đây này,” Meredith dỗ dành, đưa thuốc Albuterol tới. Lucy ngoan ngoãn nhét vào miệng rồi hít vào. Từ lâu Meredith đã học được rằng dù nhìn thấy con mình vật vã khó thở như thế nào, thì mình cũng không thể thở giúp con bé được. Bản năng đầu tiên của Meredith là phải đưa Lucy ra khỏi căn phòng đầy mùi ẩm mốc này để tránh cơn suyễn; nhưng có gì đó mách bảo cô rằng nếu không làm dịu cơn sợ hãi của Lucy trước thì không ổn. Vậy nên cô vòng tay ôm vai con gái. “Vì sao lại gọi là bóng né nhỉ?” Meredith cố tỏ ra hài hước giống như mẹ con nói chuyện bình thường. “Sao không gọi môn đó là bóng núp hay bóng trốn chẳng hạn?”

“Tại vì mẹ phải né khỏi đường bóng bay.” Lucy nép chặt vào vai Meredith. “Đó là lý do vì sao từ “né” lại được sử dụng.”

“À, ra thế.” Cô chậm rãi gật gù. “Giờ mẹ mới biết đấy.”

Ngực Lucy vẫn phồng trướng như bễ thổi. “Không phải tại trận đấu đâu mẹ,” cô bé thú nhận. “Con đã nhìn thấy một thứ.”

“Thứ gì?”

“Thấy cái gì đó… đang treo lủng lẳng. Chỗ cái cây. Treo trên dây thừng.”

“Giống như xích đu làm bằng lốp xe sao?”

Lucy lắc đầu. “Giống như một người phụ nữ.”

Meredith cố giữ bình tĩnh. “Con chỉ cho mẹ xem được chứ?”

Hai mẹ con loạng choạng ra ngoài, đi ngang cô quản lý trại hè, xuyên qua gian triển lãm nghệ thuật và đồ thủ công, tới cây cầu hẹp bắt ngay hạ nguồn con suối để đến khu thể thao. Một nhóm học sinh cắm trại lớn tuổi hơn Lucy vẫn đang chơi bóng né.

“Ở đâu vậy con?” Meredith hỏi. Lucy chỉ vào lùm cây bên trái. Nắm chặt tay con gái, Meredith tiến đến gốc cây và ngước lên. “Không có sợi dây thừng nào cả,” cô thì thào. “Chẳng có gì cả.”

“Nó ở đó mà.” Sự thất vọng vang lên qua giọng Lucy. “Hồi nãy có.”

“Luce. Mẹ tin là con thấy thứ gì đó. Mẹ cho rằng ở đâu đó giữa võng mạc và màng não của con hơi bị lộn xộn tí thôi. Hẳn là có cách giải thích hợp lý mà chẳng liên quan gì tới chuyện người phụ nữ treo cổ trên cây. Có thể do mặt trời chiếu vào mắt con chẳng hạn.”

“Có lẽ thế,” Lucy lẩm bẩm nhưng không mấy tin tưởng.

“Có lẽ cành cây bị gió thổi đung đưa đó mà.”

Lucy nhún vai.

Đột nhiên Meredith cởi giày cao gót và đưa áo choàng phòng thí nghiệm cho Lucy. “Giữ lấy này,” cô dặn con gái và bắt đầu trèo lên cây.

Meredith không thể trèo lên quá cao vì đang mặc váy và đi vớ dài nhưng cô vẫn trèo lên được một nhánh cây cao quá đầu người và ngồi trên đó như một chú sóc ngoại cỡ. Lúc này, tất cả mọi người đến cắm trại đều đang đứng xem. Giờ Lucy cũng hơi hé cười. “Không,” Meredith la lớn, chủ động làm trò để đám người đi cắm trại khi rỗi việc sẽ nói về một bà điên ngồi trên cây sồi thay vì một đứa trẻ sợ hãi vừa chạy vừa la hét. “Luce, bờ biển không có gì lạ.. ối ối…!” Với một cú ngã điệu nghệ đủ khiến anh em nhà Ringling tự hào, Meredith nhảy xuống khỏi cây, tiếp đất trong tư thế ngồi xổm rồi lăn tròn một quãng.

Người Meredith dính đầy bụi bẩn và xây xát, tóc xổ khỏi trâm kẹp nhưng Lucy đã lấy tay ôm lấy mặt mẹ. “Chắc là mặt trời chiếu vào mắt con,” Lucy thì thào.

Meredith ghì chặt con gái vào lòng. “Thế mới là con gái dũng cảm của mẹ,” cô đáp trong khi biết rõ cả hai mẹ con đều chẳng tin vào những gì vừa nói.

Eli Rochert không muốn tỉnh giấc. Anh quen với giấc mơ này như quen với mùi nước hoa pha trộn kỳ lạ giữa mùi táo và nước mưa phảng phất trong giấc mơ. Anh cũng nhận ra độ trầm bổng của giọng phụ nữ, ngân nga như một nốt chưa bao giờ tồn tại trong thang âm. Anh mới leo lên giường hai tiếng trước vì phải tăng ca để ngăn đám thổ dân và mấy gã quy hoạch nhà đất khỏi choảng nhau. Vậy mà điện thoại lại không ngừng reo, rốt cuộc anh đành thò tay ra khỏi chăn gối lùng nhùng trên giường và chộp lấy ống nghe. “Có chuyện gì?” anh càu nhàu.

Tôi xin gặp cô Rochert. Cô ấy có ở đây không?”

“Không.”

“Anh có thể cho tôi biết khi nào cô ấy sẽ trở về không?”

Không bao giờ về nữa, Eli nghĩ, sững sờ vì cảm giác đau nhói ở ngực sau từng ấy thời gian. Anh gác điện thoại mà không buồn đáp lại, rồi lăn một vòng, và bắt gặp Watson đang giành gối. “Ôi, lạy Chúa,” Eli làu bàu, đẩy cái mõm Watson ra xa. Watson chớp chớp đôi mắt khuất sau mấy nếp gấp trên khuôn mặt, rồi khụt khịt bò lại chỗ cũ.

“Tao không nên để mày ngủ trên giường,” Eli nói thành tiếng, lưng anh ép sát tấm lưng to bè của chú chó săn. Anh nghe Watson bắt đầu ngáy và nhận ra mình sẽ không thể nào quay lại với giấc mơ nữa rồi. Đẩy chăn ra, Eli bước xuống giường và lạch bạch vào bếp, mở tủ lạnh nhìn chằm chằm vào bên trong.

Bác sĩ bảo anh không nên ăn thịt đỏ. Việc này đối với người khác thì chẳng là gì nhưng với Eli thì đúng là thảm họa. Anh vẫn luôn coi thịt đỏ là một trong hai nhóm thức ăn cơ bản (nhóm còn lại là khoai tây). Nhìn xem, mấy thứ trong tủ lạnh đúng là chán như mớ công thức nấu món chay tải về từ Internet - hai lọ mù tạt, sáu hộp sữa có mùi kỳ quái, một miếng - tạ ơn Chúa - thịt hộp trông giống thịt gà tây để từ một đến ba tuần rồi, và đậu hủ - một loại thực phẩm mà anh chẳng tài nào chịu nổi vì nó cứ trôi xuống cổ họng một cách nhạt nhẽo như chuyện tầm phào.

Không khí lạnh phả vào quần cộc và vấn vít lấy chân anh. Eli đóng cửa tủ lạnh và điện thoại lại reng lên lần nữa. Anh nhấc điện thoại đặt trong bếp. “Xin chào?”

“Tôi hy vọng được nói chuyện với cô Rochert?”

Eli đếm đến mười. “Cô Rochert không có ở đây. Cô Rochert đã bỏ đi từ khoảng bảy năm sáu tháng trước với tình nhân rồi. Cô ta cuỗm hết tiền trong tài khoản tiết kiệm của chúng tôi, mang theo cả con mèo và áo len tay dài tôi thích nữa. Ngay trước khi ra khỏi cửa, cô ta đã giải thích rằng không phải do tính cách của tôi, mà là vì tôi đã không ở bên cạnh để chăm lo cho cô ta. Trong khi nếu nói cho công bằng thì tất cả những gì tôi đã làm là bươn chải gần chết để kiếm tiền bỏ vào tài khoản ngân hàng mà cô ta đã cướp sạch. Thông tin cuối cùng mà tôi nghe được là cô ta đang sống ở New Mexico, nhưng đấy chỉ là tin đồn thôi. Nên dù có hy vọng đến đâu thì ông cũng không thể nói chuyện với cô Rochert. Nếu ông có cơ hội nói chuyện với cô ta thì hãy nói để cô ta biết ông đứng thứ nhất trong hàng chờ hẹn cô ta.”

Nói xong, Eli thở hổn hển. Tiếng thở lấn át không khí trầm lặng ở đầu dây bên kia.

“Ồ,” cuối cùng anh cũng nghe thấy một tiếng trả lời yếu ớt.

“Có lẽ ông nên xóa số điện thoại này ra khỏi danh sách của mình đi,” Eli nói rồi ném điện thoại cầm tay vào tường.

Lúc Watson tìm thấy chủ, Eli đang ngồi trên sàn, hai tay xọc vào mớ tóc. Chú chó nhả điện thoại vào lòng Eli rồi dụi dụi vào người anh. Eli lấy tay vuốt mặt. “Nếu chú mày hy vọng có bữa ăn nhẹ thì chú mày gặp xui rồi. Trừ phi mày thấy món đậu hủ nhắm bia ngon lành.”

Eli vòng tay ôm chặt cái cổ to tướng và nhìn chằm chằm vào đôi mắt nâu buồn bã của Watson. Đây là một trong những lý do Eli đem Watson về từ tổ chức nhân đạo. Chỉ cần một ánh nhìn cũng đủ để anh biết chú chó săn đó chưa từng hạnh phúc. Điều này có nghĩa Eli không được phép làm nó khổ thêm nữa.

Ross học được từ nhóm Warburton rằng thời gian ma quỷ hoạt động là vào khoảng 10 giờ đêm tới 3 giờ sáng. Hầu hết những tiếng đập, tiếng va chạm và những hình ảnh mà Curtis đã thấy - hoặc vờ thấy được - đều diễn ra trong thời gian này. Đúng 10 giờ 30, Ross và Ethan đã sắp xếp phòng ngủ trong nhà hoang theo ý anh, và rõ là không như ý cậu cháu.

“Mấy thiết bị đâu hết rồi ạ?” Ethan thắc mắc. “Mấy thứ đồ coi rất ngầu đó. Như những gì người ta có trong chương trình Những chuyện rùng rợn có thực? Cậu nhóc nghi ngờ nhìn cái máy quay phim.

“Curtis bảo lần đầu tiên ra ngoài điều tra thì đừng nên quá lệ thuộc vào những thứ rườm rà,” Ross lý giải. “Người ta sẽ bị phân tâm bởi những thiết bị này và dựa dẫm vào chúng thay vì chính bản thân người nghiên cứu. Thêm nữa, hồn ma có thể làm nhiễu sóng điện từ. Khả năng hồn ma có thể khiến thiết bị chập mạch cũng ngang bằng với khả năng họ để lại dấu vết cho mình thấy.”

“Dù vậy,” Ethan càu nhàu. “Không có những thiết bị và công cụ, chúng ta cũng mù tịt giống như Shaggy và Scooby.”

Ross cười ngặt nghẽo. “Như Zoinks chứ,” anh kêu lên rồi liếc qua khuôn mặt tiu nghỉu của cháu mình. “Nghe này. Mỗi khi Curtis cảm giác rằng có thứ gì đó, anh ta thường quay lại chỗ đó với những thiết bị ngầu hơn. Chúng ta cũng có thể làm vậy. Dĩ nhiên là trước tiên phải mua được những thiết bị đó đã.”

Máy quay phim hướng về một vách tường phòng ngủ, thức ăn vặt trong tầm tay, còn túi ngủ được trải ra như hòn đảo nhân tạo trên mặt sàn lấm lem. Nguồn sáng duy nhất trong căn phòng là đèn pin Maglite được đặt giữa Ross và Ethan. Ross móc ra một cỗ bài nhỏ và bắt đầu xáo bài.

Ethan lúng búng hỏi, miệng còn vướng bong bóng kẹo cao su mới thổi vỡ. “Cậu nói cái ông Warburton kia là tên đê tiện nhưng cậu cũng trích dẫn lời ông ta hơi bị nhiều đấy.”

“Ăn nói cho cẩn thận. Ông ta không phải đê tiện mà là kẻ dối trá. Nhưng dù dựng chuyện hơi nhiều thì tay đó cũng hơi bị rành nghề.”

“Ăn nói cho cẩn thận,” Ethan nhái lại rồi chộp lấy bộ bài. “Cậu Ross? Cậu có nghĩ con ma trong nhà này chết rất thảm không?”

“Cậu còn không biết có ma ở đây không nữa. Cháu muốn cá cược không?”

“Quá được.” Cậu bé bắt đầu chia bài. “Cháu tự hỏi nó có điên lên với chúng ta hay không nếu tưởng nhầm chúng ta là người chặt đầu nó bằng rìu.”

“Cái rìu nào?” Ross nghiêng tay cầm bài về phía nguồn sáng duy nhất từ đèn pin. “Được rồi, vậy cứ có nhiều quân bồi, đầm, già là ngon hả?”

“Cháu không thể tin được là cậu chưa từng chơi trò này. Đúng vậy, có càng nhiều bồi đầm già càng tốt, con át nữa. Nhưng quan trọng hơn là cậu phải có quân bài cùng chất liên tiếp nhau, ví dụ như hai-ba-bốn-năm-sáu. Đầu tiên cậu phải cược cái gì đó… cậu có tiền mặt không?”

“Có kẹo thôi.”

“Ờ, sao cũng được. Thùng phá sảnh thắng tứ quý, tứ quý thắng cù lũ. Như vậy là đủ để bắt đầu chơi rồi. Cháu rút nhé.” Cậu nhóc ngước mắt lên. “Nghĩa là chọn một lá bài đấy.”

“Cảm ơn,” Ross đáp gọn. “Cược hai viên kẹo.”

“Chơi luôn, cháu không sợ, cậu biết mà, cho dù bị cái gì đuổi theo.”

Thẳng thắn ra thì Ross sẽ nói anh không tin khu đất của ông Pike bị ma ám. Thứ nhất, suốt mấy tháng trời săn ma Ross chưa bao giờ thấy gì. Thứ hai, dù xét trên lý thuyết đi nữa, đúng là điên mới cho rằng ma có thể thu thập đủ năng lượng để gây ra những hiện tượng kỳ quái như làm mặt đất đóng băng hay tạo nên cơn mưa cánh hoa từ không trung. Các nguyên nhân tự nhiên như tảng băng ngầm trôi dưới đất hay do nước bốc hơi bất thường nghe còn thuyết phục hơn.

Nhưng Ross cũng từng nhận định sai lầm về nhiều việc trước kia.

Ít nhất là đêm nay Ethan rất vui vẻ. Ross chống tay ngả người ra sau, nhìn cháu mình xòe bài ra. “Cháu có một sảnh nhé.”

“Xám này. Ba con bồi nhé.”

“Hay là chú cược chấp đi,” Ethan đề nghị. Cậu nhóc chia bài cho lượt thứ hai. “Cháu nghĩ cháu sẽ quay về.”

“Về đây?”

“Không, không phải chỗ này… mà là thế giới này. Sau khi cháu chết.” Cậu nhóc đảo mắt quanh phòng, rồi nhìn vào Ross với ánh mắt đầy thách thức. “Cháu còn chuyện chưa dứt được. Cậu hiểu mà, phải không?”

Ross từng đến những căn nhà có trẻ con chết do bệnh tật hoặc tai nạn cùng nhóm Warburton. Những người mẹ mang theo hy vọng như tấm khăn choàng quấn quanh mặt, mòn mỏi chờ đợi Curtis tìm lại những gì đã mất. Trong mấy vụ như vậy, nhóm Warburton được gọi đến không phải vì tiếng than khóc, đập thình thịch hay hiện tượng kỳ quái, mà là vì không có những điều đó.

Anh nhớ đến chị mình, tay bẻ gập lá bài.

“Cháu đói bụng,” Ethan than thở. Cậu nhóc lẩn vào góc tối, mò mẫm xung quanh và gây ra một tiếng động chói tai.

“Cháu ổn chứ?” Ross lia đèn pin về phía đống đồ ăn nhẹ mang theo, nhưng góc đó trống trơn.

Từ phía sau, Ethan lên tiếng. “Cháu ở đây,” cậu nhóc run rẩy đáp. “Âm thanh đó, à ừ, không phải do cháu gây ra.”

Cậu nhóc dán chặt vào lưng Ross. “Đi kiểm tra nào,” Ross lẩm bẩm. Lúc này, mọi thứ đều tĩnh lặng, và chẳng có thứ gì bị rớt. “Có thể do viên gạch rớt ngoài sân hoặc con chuột đấy.” Anh vòng tay ôm vai Ethan. “Có thể là bất kỳ thứ gì, Ethan à.”

“Dạ.”

“Sao chúng ta không ngồi xuống để cậu cho cháu biết thế nào là thua nhỉ?”

Ethan thoáng thả lỏng. “Đúng thật là,” cậu làu bàu, cố xốc lại lòng dũng cảm để tách mình ra khỏi cậu Ross và ngồi xuống lại.

Ross chia bài, nhưng mắt anh cứ đảo quanh căn phòng. Chẳng có gì bất thường hay đáng chú ý ngoại trừ việc nắp ống kính camera treo trên sợi dây đen nối với rìa máy đang đung đưa qua lại.

Dù trong phòng không hề có tí gió nào.

Một tiếng thịch vang lên phía ngoài, nghe như cây đổ, hay ai đó ngã chổng vó. “Cậu nghe thấy không?” Ethan thì thào run lẩy bẩy.

“Có chứ.” Ross tiến lại gần ô cửa sổ bị vỡ và dõi mắt nhìn ra khoảnh rừng phía sau. Một đốm trắng đập vào mắt anh, nhìn giống như đuôi hươu, sao băng, hoặc là mắt chim lợn.

Có tiếng lá khô kêu sột soạt và hai tiếng bước chân khác nhau rõ ràng. Kèm theo tiếng khóc nghèn nghẹt như của trẻ con.

“Để đi xuống coi thử,” Ross lẩm bẩm.

Ethan lắc đầu nguầy nguậy. “Không đời nào. Cháu sẽ ở lại đây.”

“Có lẽ chỉ là một con chồn thôi.”

“Vậy nếu không phải thì sao?”

Ross chầm chậm mỉm cười. “Nếu à,” anh thì thào.

Shelby không có thói quen để con mình dấn thân vào mấy trò mạo hiểm vì thế giới này đã rất nguy hiểm cho Ethan rồi. Nhưng Ethan lại có tính tò mò và ưa mạo hiểm đúng kiểu một đứa nhóc chín tuổi. Cậu nhóc tin mình là một phần trong nhiệm vụ của cậu Ross. Thôi được, biết đâu chuyện này tốt cho cả hai cậu cháu thì sao.

Cô bước vào phòng con trai dọn dẹp máy Game Boy nằm trên sàn và mấy cuộn phim rơi dưới gầm giường. Lịch thi đấu của đội Red Sox dán trên tường, kèm mớ sách giáo khoa Shelby dùng để dạy Ethan, và cả bài thơ haiku cậu bé viết hồi năm ngoái lúc học về Nhật Bản.

Sâu trong bóng đêm

Tôi thức giấc lấy đêm thành ngày

Mặt trời cảm thấy thế nào nhỉ?

Shelby ngồi phịch xuống giường con trai. Cô băn khoăn liệu Ross có bảo vệ Ethan an toàn hay không. Cô tự hỏi Ethan có nhớ mẹ dù chỉ một chút hay không.

Cô bồn chồn liếc qua máy tính. Lần trước khi lén xem email của Ethan, cô phát hiện cậu nhóc có sáu người bạn qua mạng - tất cả đều trạc tuổi cậu và sống ở khắp nơi trên thế giới. Lúc đầu, Shelby cảm thấy đây là chuyện đáng mừng vì Ethan đã học được cách kết bạn với những đứa trẻ khỏe mạnh khác. Nhưng khi bắt đầu đọc vài bức thư, Shelby nhận ra Ethan không kể chính xác về bản thân mình. Với Sonya ở Đan Mạch, cậu bé là một học sinh chuyên toán lớp Sáu. Với Tony ở Indianapolis, cậu bé là một vận động viên bóng chày cừ khôi đang chơi cho đội địa phương. Với Marco ở Colorado, cậu bé lại là một tay leo núi đầy nhiệt huyết luôn đi khám phá với bố mỗi dịp cuối tuần.

Trong mọi bức thư, cậu bé chẳng hề nhắc đến chứng bệnh của mình. Cậu chưa bao giờ tỏ ra mình khác với mấy cậu nhóc Mỹ khỏe mạnh bình thường, yêu thể thao và có cha mẹ đầy đủ.

Tóm lại Ethan biến mình thành kẻ khác.

Khẽ thở dài, Shelby rời khỏi phòng Ethan ra ngoài hành lang. Cô chần chừ khi băng qua phòng Ross. Cô chỉ lớn hơn Ross tám tuổi nhưng chừng như đã dành cả đời để chăm sóc em trai - từ thay tã lúc cậu em còn nhỏ đến ở cạnh Ross sau lần tự tử không thành, rồi lại lo lắng khi em trai chẳng hề gọi điện cho cô suốt mấy tháng trời. Bản năng làm mẹ đến với Shelby rất tự nhiên vì cô phải đứng ra gánh lấy gia đình từ khi cha mẹ qua đời nhiều năm về trước.

Cô tin rằng sự thành tâm trọn vẹn có quyền năng bảo vệ, khiến tình yêu biến thành tấm khiên thép mà Số Phận không thể đâm thủng. Cô cũng cho rằng giây phút thoáng lơi lỏng cảnh giác, giây phút người ta cho phép mình mềm yếu hơn bình thường, thì đó chính là lúc mọi thứ có thể bị tước đoạt.

Suy nghĩ này khiến cô lại băn khoăn liệu Ross có đưa Ethan về đến nhà hay không.

Cô đẩy cửa bước vào và bắt đầu dọn dẹp căn phòng. Cô dọn giường cho Ross. Cô đặt lại bàn chải đánh răng và lược chải tóc lên kệ. Cô cất dầu gội, kìm cắt móng tay và kem đánh răng vào túi đồ dùng cá nhân của Ross và khóa lại.

Đống quần áo nhàu nhĩ chất cao trên ghế ngồi. Cô thở dài rồi nhấc cái áo sơ mi lên, gấp gọn và đặt lên giường. Cô gom mấy đôi vớ lại với nhau, xếp mớ đồ lót, áo thun và còn lôi ra được một cái quần jean chưa mặc. Lúc cô gấp quần jean lại với sự chuẩn xác đúng kiểu quân đội, có gì đó rơi ra từ túi quần. Shelby cúi xuống nhặt mấy thứ bị rơi: ba đồng xu in năm 1932. Cô đặt chúng lên kệ để Ross dễ tìm.

Ross quay người vẫy tay với Ethan đang đứng bên cửa sổ, sau đó cẩn thận tiến đến địa điểm mà anh đã thấy cái bóng trắng. Anh để đèn pin lại cho Ethan, nghĩa là bất cứ khi nào anh cũng có thể vấp ngã lộn cổ. Mặc dù trời tối mịt đến cách hai bước chân đã không thấy gì, nhưng, anh có thể nghe được tiếng ai đó - hoặc là cái gì đó - đang sục sạo quanh đây.

Ross rùng mình; bên ngoài lạnh hơn anh tưởng. Anh ước giá mà mình có mang theo áo khoác. Anh có thể ngửi thấy mùi hoa hồng dại, cứ như dưới chân anh là một thảm hoa hồng. Và anh học được từ Curtis rằng đây cũng là một cách mà hồn ma có thể chứng minh sự hiện diện của mình. Xuất hiện đi nào, anh thầm nghĩ.

Nhưng tất cả mọi hy vọng được chạm mặt với ma đều tắt phụt khi anh bắt gặp một người phụ nữ trẻ tuổi đang lúi húi đào bới trên mặt đất đóng băng.

Cô mặc chiếc váy đầm hoa với mái tóc màu nhạt, buông rủ tự nhiên quanh mặt. Cái bóng trắng Ross nhìn thấy chính là phần cổ áo bằng ren. Cô ta đang tất bật và chăm chú làm việc của mình. Và cô ta có thật, thật như mặt đất dưới chân anh.

Rõ ràng là cô ta không hề nghe thấy anh đến gần, nếu không thì cô ta đã nhận ra mình bị bắt quả tang khi đang… ồ, làm cái quái gì đó. Ross không nói nên lời - không phải vì cô ấy không phải con ma mà anh đang tìm, mà là vì cô ấy trẻ trung, xinh đẹp nhưng lại là khách không mời. Anh nắm lấy lý do đó để lên tiếng hỏi: “Cô đang làm gì ở đây?”

Cô ta chầm chậm quay người lại, chớp mắt như sửng sốt vì nhận ra mình đang đứng giữa rừng cây. “Tôi… tôi không biết nữa.” Cô ta liếc nhìn hai bàn tay mình, móng tay bám đây bụi bẩn, và cau mày.

“Ông van Vleet bảo cô đến đây sao?”

“Tôi không hề quen ngài van Fleet…”

“Vleet”. Ross nhăn mặt. Có lẽ đây chỉ là sự tình cờ kỳ quái, vào đêm anh bắt đầu điều tra thì một cô nàng mộng du lại lang thang trong khu đất. Vài nhà quanh khu này còn gặp phải những hiện tượng kỳ quái hơn. Anh áy náy vì khi nãy mình bắt chuyện hơi gay gắt. Anh cũng mong cô gái ấy ngước mắt lên nhìn anh lần nữa. “Cô đang tìm cái gì?” anh gặng hỏi, hất hàm về phía cái lỗ mà cô đang đào.

Mặt người phụ nữ đỏ như gấc. Khi cô ấy lắc đầu nguầy nguậy, anh lại ngửi thấy mùi nước hoa. “Tôi không biết. Lần mộng du gần nhất, tôi chỉ lang thang qua vựa cỏ khô của nhà hàng xóm thôi.”

“Lang thang một mình hay cùng với gã hàng xóm?” Ross buột miệng hỏi, và người phụ nữ trông có vẻ xấu hổ đến mức anh ước mình có thể rút lại câu nói đó. Anh đút tay vào túi quần, cố vớt vát. “Tôi là Ross Wakeman,” anh tự giới thiệu.

Cô ta ngước mắt nhìn lên nhưng vẫn tỏ vẻ lúng túng. “Tôi phải đi đây.”

“Không, nghe này, ở quê tôi, câu trả lời thích hợp phải là: Xin chào, tôi là Susan. Hoặc là: Chào, tên tôi là Hannah. Hay là: Chào đằng ấy, tớ là Madonna.”

“Madonna là sao?”

Ross nhe răng cười. “Sao cũng được.”

Một nụ cười nhẹ xuất hiện trên môi cô ấy. “Tôi là Lia,” cô nói.

“Lia thế thôi à?”

Cô chần chừ. “Beaumont. Lia Beaumont.”

Cô rõ ràng chỉ muốn đi. Dù sao thì đụng phải người lạ trong rừng khi đang mộng du đúng là phiền. Cô gật đầu chào ngượng ngập rồi bắt đầu rời đi. Ross không hiểu sao mình rất muốn giữ cô lại, muốn cố nghĩ ra điều gì để nói, nhưng mọi từ ngữ như bị dồn nén lại trong cổ họng.

Đột nhiên cô ấy quay lại nhìn anh. “Anh cũng mộng du sao?”

“Không, thực ra tôi đang làm việc.” Ross cố cuốn nội dung câu chuyện về phía mình.

“Ở đây? Vào giờ này sao?”

“Đúng vậy, tôi là nhà điều tra các hiện tượng tâm linh.” Anh nhìn ra được cô chẳng hiểu mấy từ này nên giải thích. “Hồn ma ấy. Tôi tìm ma. Thực ra tôi đến đây là vì tưởng phần cổ áo của cô là… ồ, mặc kệ đi. Cô không phải là thứ tôi đang tìm kiếm.”

“Tôi rất tiếc.”

“Không sao đâu.”

Cô khẽ nghiêng đầu quan sát anh. “Anh thực sự tin rằng con người có thể quay về sau khi chết đi? Giống như Harry Houdini?”

“Chẳng phải ai cũng vậy sao?” Vẻ u buồn phủ lên người cô ấy như mũ trùm đầu che khuất thân hình mảnh khảnh. “Ai mà biết được” anh giở giọng trêu chọc. “Biết đâu lúc này chúng ta đang có người đi theo đấy.”

Nhưng câu nói của Ross khiến Lia liếc ra sau trong hoảng loạn. “Nếu anh ta tìm thấy tôi…”

Ai cơ? Ross muốn hỏi vì anh nhận ra cô lo sợ không phải vì bị anh tìm thấy, mà là một ai khác. Trước khi anh kịp hỏi, một tiếng hét chói tai vang lên từ ngồi nhà. “Cậu Ross!” Ethan rú lên. “Cậu Ross, quay lại đây!”

Ross ngước nhìn lên ô cửa sổ nhưng chẳng còn thấy được ánh sáng phát ra từ đèn pin hay camera. Anh tái mặt khi tưởng tượng ra Ethan có lẽ đã thấy cái gì. “Tôi phải đi đây,” anh nói với Lia, không giải thích gì thêm mà chỉ chạy trối chết.

Trích từ thời báo New York Times:

VA CHẠM GIỮA ĐÊM KHUYA?

viết bởi Kerrigan Klieg

Comtosook, VT - Cư dân Comtosook, một thị trấn nhỏ phía tây bắc tiểu bang Vermont đang hào hứng kể chuyện giật gân. Có rất nhiều câu chuyện như nhựa cây phong tuôn chảy trong những tháng mùa hè khô hạn, về cánh hoa rơi từ những đám mây dông, mặt đất đóng băng ngay giữa tháng Tám, và xe cộ đột nhiên chỉ có thể di chuyển ngược hướng. Tuy nhiên, điều kỳ quặc nhất chính là những lời đồn trên đều có thật, và những hiện tượng kỳ quái nói trên chỉ là bề nổi của tảng băng chìm. Nhiều chuyên gia thuộc nhiều ngành tại Đại học Vermont vẫn chưa thể giải thích được những hiện tượng trên, còn cư dân địa phương tin rằng chuyện xảy ra là có nguyên nhân: do một hồn ma chưa yên nghỉ không muốn bị di dời.

Chỉ mới vài tuần trước, Comtosook vẫn còn là một thị trấn thôn quê. Sau đó Tập đoàn Phát triển Redhook đã đạt được thỏa thuận với chủ đất để thu mua một khu đất. Ngay lập tức một nhóm người bộ tộc Abenaki bắt đầu kháng nghị và khăng khăng cho rằng khu đất trên là nghĩa trang của những thổ dân bản địa. Quá trình khám nghiệm khảo cổ tiến hành bởi chính quyền liên bang vẫn chưa tìm ra được hài cốt của con người, dù sao đó chỉ là yếu tố phụ, như ông Az Thompson, đại diện bộ tộc Abenaki đã phát biểu: “Tôi không mong tập đoàn bất động sản biết rõ tổ tiên của tôi được chôn ở đâu, nhưng tôi chắc chắn không ngờ họ lại nói với tôi rằng tôi đang nói dối về việc đó. Ai cho bọn họ quyền được viết lại lịch sử của bộ tộc tôi?” Ông Winks Smiling Fox, một người tham gia kháng nghị, còn nói thêm: “Những chuyện xảy ra gần đây đủ để kết luận rằng dù tập đoàn Redhook có muốn dọn vào, thì cũng có cái gì đó không muốn bị dời ra.”

Ông ta đang nhắc đến một loạt nhưng hiện tượng kỳ quái càng lúc càng nhiều và bắt đầu gây hoang mang cho dân chúng, thậm chí những người sống hàng mấy dặm cách khu đất đang tranh chấp. Abe Huppinworth, ông chủ một cửa hàng tạp hóa, nay đã quen quét cánh hoa hồng khỏi hàng hiên, cho biết: “Cánh hoa hồng rơi suốt đêm như tuyết. Dày gần cả gang tay khi tôi mở cửa hiệu. Và trong vòng bán kính ba dặm quanh đây còn không có đến một khóm hoa hồng.” Ava Morgan phải đưa đứa con trai hai tuổi của mình đến Bệnh Viện Fletcher Allen ở thành phố Burlington sau khi con bà thức giấc vào buổi sáng và bắt đầu nói tiếng Bồ Đào Nha, thứ ngôn ngữ mà không ai trong gia đình bà biết chứ đừng nói là thành thạo. “Bác sĩ cũng không giải thích được chuyện gì đã xảy ra. Họ làm xét nghiệm đủ loại cho thằng bé, và rồi một buổi sáng năng lực ấy lại biến mất, Cole lại nói năng như cũ. Không phải cư dân nào cũng chủ quan như vậy. Hơn sáu trăm người đã ký vào bản kiến nghị gửi đến Rod van Vleet, quản lý dự án tại chỗ của Tập đoàn Redhook. Ông van Vleet từ chối phỏng vấn. Được biết trước đó ông đã phủ nhận toàn bộ thông tin về những hiện tượng tâm linh trên khu đất vì cho là vô lý.

Tin đồn lại ám chỉ rằng ông van Vleet có lẽ không hề tự tin như những gì mình tuyên bố. Vài nguồn tin tiết lộ rằng Tập đoàn Redhook đã trả tiền cho một chuyên gia đến điều tra khu đất.

Đối với cư dân thị trấn, cả động cơ bí ẩn của công ty bất động sản và sự giận dữ của bộ tộc Abenaki đều chẳng hề quan trọng mấy. “Tôi chỉ biết là tôi chán chuyện này lắm rồi,” ông Huppinworth than vãn lúc ngừng tay quét dọn đám cánh hoa vương vãi. “Sớm muộn cũng xảy ra chuyện thôi.”

• • •

Rõ rành rành là Meredith không bao giờ gặp được người đàn ông nào cho tử tế. Trong công việc, cô quá thông minh, đến mức khiến người ta phải e dè. Hẹn hò giấu mặt chẳng còn hiệu quả. Người cuối cùng mà cô hẹn gặp kiểu đấy chính là một anh chàng diễn viên mà bà ngoại cô gặp tại công viên. Anh ta đến nhà hàng trong trang phục của Hamlet. Lúc đó Meredith nghĩ: “Bỏ đi hay không bỏ đi, đó là vấn đề.” Sau cuộc hẹn thất bại ấy, bà ngoại cô đã đưa cho cô thêm số điện thoại của một người chuyên tổ chức đám tang, một bác sĩ thú y và một người xem bói bằng chỉ tay, nhưng Meredith cứ tiện tay quăng đâu đó. Cứ hai ba tháng là bà Ruby lại cằn nhằn, “Bà muốn ôm cháu ngoại trước khi qua đời.”

“Bà đã có một đứa rồi mà,” Meredith nhắc.

“Một đứa có cha ấy,” bà Ruby nói cho rõ.

Meredith rốt cuộc cũng phải nhân nhượng khi bà Ruby kể anh chàng lần này thích dành thời gian rảnh để làm công tác tình nguyện với người cao tuổi. Vậy nên lúc này, Meredith đang ngồi đối diện Michael DesJardins, cố gắng thuyết phục bản thân rằng chắc chuyện không đến mức tệ vậy đâu.

Anh ta đang chảy nước dãi. Được rồi, cứ cho là vì hôm nay anh ta phải chữa răng đi, nhưng cảnh tượng này đúng là khiến Meredith mất sạch cảm giác ngon miệng. “Vậy thì,” anh ta lắp bắp, “cô làm việc ở phòng thí nghiệm sao? Công việc của cô là gì… cho lũ chuột bạch ăn và làm mấy việc linh tinh khác à?”

“Tôi thực hiện PDG. Chẩn đoán di truyền trước khi cấy phôi.”

“Tôi đang làm dịch vụ cung cấp thức ăn.”

“Ồ thế sao?” Meredith khoanh tay quan sát cảnh tượng anh ta trét bơ lên miếng bánh mì và tống vào mồm. May mắn là miếng bánh mì giúp thấm hết mớ nước dãi. “Anh là đầu bếp sao?”

“Nói vậy cũng đúng.”

Cô luôn ấp ủ ao ước được một người đàn ông dắt vào một căn hộ ấm cúng với bữa tiệc thịnh soạn đã được bày biện sẵn sàng cho mình. “Thế tôi đoán là ngồi trong nhà hàng thế này cũng giống như đang ở chỗ làm việc với anh nhỉ?”

“Nhà hàng này cao cấp hơn hẳn chỗ làm của tôi, thực ra thì… cô đã bao giờ ghé cửa hàng Wendy’s trên Phố Mười Sáu chưa?”

Meredith nhịn câu trả lời xuống khi người phục vụ bưng món khai vị đến gần. Michael bắt đầu cắt miếng bít-tết ra thành từng khối vuông nhỏ. Hành động của anh ta khiến cô nhớ đến bữa cơm hay được phục vụ trong bệnh viện tâm thần.

Cô trải khăn ăn ra, nhìn xuống khúc xúc xích chipolata nằm trên dĩa bột polenta và tự nhủ: May là mình cũng được một bữa ăn ngon.

Michael chĩa con dao về phía bữa tối của cô và cười cợt. “Nhìn giống như một thằng cha người Đan Mạch đang nấu ăn ở đây.” Rồi một đường nước dãi chảy xuống cằm anh ta.

Mình sẽ đứng dậy xin phép đi vệ sinh, Meredith cân nhắc. Và sau đó mình sẽ không thèm quay lại đâu.

Nhưng nếu cô làm vậy, bà ngoại Ruby sẽ cho rằng cô cố ý làm hỏng một cuộc hẹn hò nữa. Vậy nên Meredith bắt đầu nghĩ đến những cách để khiến Michael phải bỏ đi. Cô sẽ hỏi xin bút sáp và vẽ bậy lên tấm khăn trải bàn lộng lẫy này. Cô sẽ dùng món bột polenta để tạo hình gì đó. Cô sẽ liếm đĩa thức ăn của mình và đòi liếm đĩa của anh ta luôn. Cô sẽ giao tiếp theo kiểu ra dấu hoặc nói lái gì đó.

“Tôi hỏi một câu riêng tư được không?”’ Michael nói. “Cô đang trong kỳ rụng trứng sao?”

“Sao cơ?”

“Chỉ là mấy ngày nay khi nhìn vào gương, tôi thấy Cha mình.” Anh ta nhe răng cười và chỉ lên trán mình như thể trên đó có in chữ gì đó.

Lúc đó Meredith ao ước rất nhiều thứ: bà ngoại cô bị bêu đầu trên cọc nhọn, sự kiên nhẫn, xu hướng đồng tính nữ. Cô sực nhớ đến chuyện anh này làm việc từ thiện cho người cao tuổi. Cô nhìn chằm chằm vào đĩa thức ăn của Michael và hỏi. “Anh có ăn cái đó không?”

“Miếng bít-tết này sao?”

“Không, khúc xương ấy. Tôi muốn mang về nhà cho bà ngoại.” Meredith ghé người lại gần. “Bà ấy hơn bảy mươi tuổi rồi, cũng coi như sắp chết, và dùng xương cho bà ấy ăn thì đỡ tốn kém hơn.”

Michael sặc nước. Sau khi hồi phục lại thần trí, anh ta giơ tay ngoắc người phục vụ để tính tiền. “Cô đã dùng xong bữa tối rồi, đúng không?”

Meredith gấp khăn ăn lại đặt trên bàn. “Ồ, vâng.”

• • •

Ethan giờ đã biết cảm giác kinh hãi là như thế nào: đầu óc như bị tứ phía dồn ép, mặc dù xung quanh cậu chẳng hề có gì. Tóc gáy đều lần lượt dựng đứng lên như hiệu ứng đô-mi-nô đảo ngược. Hai chân lạnh toát, run lẩy bẩy đến mức nó phải ngồi sụp xuống nếu không muốn ngã.

“Cháu không có sợ,” Ethan khăng khăng đến lần thứ một trăm từ lúc hét lên gọi cậu mình vào đêm đó. “Cháu chỉ cảm thấy kỳ quái, cậu hiểu mà đúng không? Bỗng dưng mọi thứ xung quanh tối đen.”

Ross ngồi cạnh cậu nhóc trong phòng khách, máy quay video gắn với tivi. Hình ảnh không rõ ràng và tối om. Lại thêm việc máy quay bị gắn cố định vào giá ba chân nên không có gì đáng xem. Ethan chẳng biết cứ nhìn chằm chằm vào cảnh quay một bức tường suốt ba tiếng đồng hồ thì có gì thú vị. Dù biết rằng đây là một Yếu Tố Cực Kỳ Quan Trọng trong quá trình điều tra hiện tượng tâm linh, nhưng cậu nhóc vẫn không kìm nén được cơn ngáp.

Đó là việc mà cậu Ross đã dạy Ethan: Khi cháu đang ở cùng chỗ với ma, ma sẽ khiến cháu càng lúc càng mệt.

Cậu Ross vẫn luôn điềm tĩnh. Nhưng nói thật thì Ethan phải thừa nhận rằng mình sợ chết khiếp khi đèn pin tắt ngúm và máy quay tự tắt đi. Hóa ra là máy quay đã quay hết băng. Còn đèn thì hết pin.

Lúc này mẹ cậu nhíu mày nhìn vào hình ảnh trên tivi. “Mẹ có bỏ mất chuyện gì không?”

“Chưa đâu.” Ross đáp rồi quay sang Ethan. “Cháu biết cậu nghĩ gì không? Cậu nghĩ là nó ở trong phòng với cháu đó.”

Ethan không kìm được cơn rùng mình. Liệu ma có theo cậu về nhà không? Cậu có mắc phải con ma, như mắc virus sởi hay cúm không? Cậu nhóc cảm thấy mẹ vòng tay ôm mình nên dựa người ra sau, nép vào lòng mẹ. “Cháu… cháu tưởng cậu chạy ra ngoài vì thấy cái gì ở đó.”

“Không, thấy người ta thôi.” Đột nhiên Ross chộp lấy điều khiển và nhấn nút dừng. “Thấy mấy cái kia không?”

“Đom đóm sao?” Shelby đoán.

“Có khi nào chị thấy một đám đom đóm bay vòng vòng như bão tuyết thế này?” Anh tua lại đoạn băng và tăng âm lượng lên để nghe thấy đoạn hội thoại của anh và Ethan. “Đây là lúc cậu ra ngoài,” Ross tường thuật. Trong đoạn phim, tiếng anh bước chân càng lúc càng nhỏ dần. “Thấy không? Mấy đốm sáng đó xuất hiện ngay khi cậu rời đi.”

Sau đó máy quay phim tắt phụp.

Ross vặn vai răng rắc. “Cậu nghĩ có gì đó vào phòng chỗ Ethan đứng khi cậu ra ngoài. Mấy đốm sáng xuất hiện trên khung hình là một dạng chuyển hóa năng lượng. Và hiện tượng này lý giải vì sao đèn pin tắt ngúm. Ma cần năng lượng để hiện hình và di chuyển xung quanh; hồn ma này sử dụng hết nguồn năng lượng pin trong đèn pin.” Anh lại thấy Ethan ngáp dài. “Và rõ ràng là hút cả sức mạnh khiến Ethan nhũn chân đi không nổi.”

Nhưng Ethan vẫn ở một mình trong phòng và chẳng nhìn thấy gì. Hay là có?

Cái bồn tắm. Một bàn chân, hiện lên phía trên mớ bọt xà phòng.

Cảnh tượng đó thoáng hiện lên trong tâm trí nặng trĩu rồi lại chìm xuống trước khi cậu bé kịp nắm bắt. Đến lúc này, hai mí mắt của Ethan đều muốn sụp xuống. Cậu nhóc nghe giọng mẹ mình trầm trầm như tiếng mạch nước ngầm. “Em định nói gì với công ty nhà đất đây?”

Nhưng Ethan không nghe thấy câu trả lời của cậu mình. Cậu nhóc đang mơ về bờ biển, với bãi cát nóng như dao cắt vào bàn chân nhạy cảm của mình.

Shelby biết có những thủ thư vẫn cho rằng bộ não con người giống như tập vi phim. Những hình ảnh và chữ viết bé xíu in trên tấm vi phim trong suốt, được sắp xếp trang này tiếp trang kia để độc giả dễ xem. Nhưng mỗi khi nhìn thấy những tập hồ sơ bé xíu, cô thường nghĩ nếu có bộ phận nào được sắp xếp giống vậy thì chắc là trái tim. Cô tưởng tượng ra hình ảnh giải phẫu khi trái tim được xắt thành từng lát mỏng. Lát này lưu lại khoảnh khắc bạn nâng niu con mình; lát kia ghi lại tình cảm dành cho ba mẹ và anh chị em. Lát kia nữa, màu tím, lại in những khoảnh khắc của khát khao; không bao giờ lo thiếu chỗ. Và với những ai may mắn, lát cắt mỏng nhất sẽ chứa đầy kỷ niệm về tình yêu mãnh liệt đến mức khiến người ta thay đổi hoàn toàn và thở dốc, và trong trái tim người tri kỷ cũng có một lát cắt y như vậy.

Desiderate: có nghĩa là mong nhớ.

“Cô có cần giúp gì không?”

Shelby đẩy kính lên mũi và quay sang nhìn cô thư ký mặt rỗ hoa làm cho tòa án dân sự. “Không cần đâu, cảm ơn chị. Tôi quen tay lắm rồi.” Để chứng minh, Shelby kéo phần đế của máy vi phim và lật mấy tấm phim để xem sang trang khác.

Chính Ross là người yêu cầu cô giúp đỡ điều tra - và vì cậu em cứ lằng nhằng mãi, cô đành phải đồng ý. Anh muốn biết khu đất này được nhà Pike sở hữu trong bao lâu, và có tài liệu nào chứng minh thổ dân châu Mỹ từng sinh sống ở đó hay không. Shelby đã lái xe đến tòa nhà thị chính Vốn là trụ sở của cục cảnh sát, tòa án quận, vàn phòng luật thừa kế và cơ quan hành chính của thị trấn. Cô chỉ tìm hiểu được rằng nhà Pike chỉ nắm quyền sở hữu khu đất từ những năm 30.

Chẳng có hồ sơ nào chứng minh thổ dân châu Mỹ từng định cư ở đó.

Shelby đã chủ động tìm hiểu thêm làm cách nào Spencer Pike có được chứng thư cho khu đất. Ngạc nhiên thay Spencer Pike không hề mua mà là được thừa kế khu đất ấy, từ người vợ quá cố của ông ta.

Shelby chưa từng lập di chúc cho mình. Dù sao của cải của cô cũng chẳng có nhiều như cỡ quý bà Ivana Trump, nhưng nếu lát nữa cô bị đâm xe ngay lúc ra khỏi tòa án thì Ethan cũng chẳng đến mức trắng tay. Tuy nhiên, lý do cô chẳng buồn đến gặp luật sư để lập di chúc chẳng hề liên quan đến lượng tài sản mà là vì người thụ hưởng. Người làm cha mẹ trên thế gian này đều muốn để lại tài sản cho con cái. Nhưng nếu biết chắc mình sẽ sống lâu hơn con mình thì sao đây?

Tôi, phu nhân Spencer T. Pike của thị trấn Comtosook, xác nhận đây là di chúc cuối cùng, và bác bỏ mọi di chúc và tài liệu bổ sung được tôi lập từ trước đây

Shelby cau mày khi nhìn thấy ngày tháng - di chúc được lập năm 1931. Chữ ký của bà ấy trông mảnh khảnh và rườm rà như con nhện. Bà ấy đã ký tờ di chúc với chữ ký ”Bà. Spencer T. Pike” - như thể trước khi kết hôn bà không hề tồn tại. Gạt qua đống ngôn từ pháp lý, mục đích của tờ di chúc hết sức rõ ràng: phu nhân Spencer Pike để lại tất cả mọi thứ cho chồng mình. Gần như tất cả.

Tôi cho và để lại tất cả tài sản cố định, bao gồm nhưng không giới hạn ở đồ nội thất, vật dụng trang trí, đồ trang sức và xe cộ cho chồng tôi, ông Spencer Pike. Tôi cho và để lại bất động sản mà tôi sở hữu nằm tại ngã tư đường Otter Creek Pass và Montgomery tại thị trấn Comtosook, hạt Chittenden, bang Vermont, cho con cái của tôi với ông Spencer Pike, và được quản lý bởi người thi hành di chúc cho đến năm chúng tròn 21 tuổi. Bất động sản trên được sở hữu chung bởi tất cả con cái. Nếu ông Spencer Pike và tôi không có con cái tính đến thời điểm tôi qua đời, tôi cho và để lại bất động sản được nêu trước đó cho chồng tôi, ông Spencer Pike.

Trong bản di chúc của người phụ nữ rộng lượng đó chẳng hề nhắc đến vì sao bà sở hữu khu đất đó. Chẳng có thông tin gì về chuyện chồng bà đã suy sụp ra sao khi bà qua đời đột ngột; liệu ông ta có bao giờ nhìn đến khu đất bây giờ nằm trong tay mình và thà đánh đổi tất cả đất đai để vợ mình sống lại.

Shelby yêu thích ngôn từ, nhưng cô cũng sớm biết rằng từ ngữ thường mang lại sự thất vọng. Hầu hết những từ ngữ không được viết ra mới nói lên những điều mà người ta cần nhất.

Cô rút tấm vi phim ra khỏi máy, nhét vào trong tấm bìa ngăn bụi, trao nó cho cô thư ký và rời văn phòng luật thừa kế. Nhưng ngay khi cô ra khỏi tòa nhà, một chiếc xe cảnh sát lao vào con đường vòng dẫn đến tòa nhà thị chính rồi dừng lại sát Shelby đến mức tưởng như sắp đâm sầm vào cô. Viên cảnh sát lẩm bẩm xin lỗi nhưng chẳng buồn ngước lên nhìn cô vì anh ta đang vội vàng lao vào cục cảnh sát.

Shelby vẫn còn run rẩy cho đến khi ngồi vào xe, tự hứa rằng cuối tuần này cô sẽ đi lập một bản di chúc.

Eli đến trễ. Anh lao vào đại sảnh và ló đầu vào quầy lễ tân. “Họ đang tìm anh đấy,” anh trung sĩ nhắc.

“Nói với tôi chuyện gì mà tôi không biết ấy. Họ đâu rồi?”

“Trong phòng hội nghị. Với cảnh sát trưởng.”

Lầm bầm, Eli bước dọc hành lang để tìm cảnh sát trưởng Follensbee đang ngồi với hai cậu nhóc choai choai. “À, Thám tử Rochert. Cậu Madigan và cậu Quinn nói rằng anh đặc biệt bảo họ đến gặp anh lúc mười giờ ba mươi để lấy khẩu cung. Và bây giờ là hơn mười một giờ rồi đấy.”

“Tôi xin lỗi, cảnh sát trưởng,” Eli nói một cách cứng nhắc. “Tôi bị, à ừ, kẹt công chuyện.” Thực ra thì anh ngủ quên. Sau một đêm gần như thức trắng, anh chỉ chợp mắt được lúc bình minh. Anh đã mơ về người phụ nữ có mùi hương táo, giống với người phụ nữ mà anh mơ thấy lúc trước. Thế nên anh quên chuông báo thức thì có gì là lạ?

Sau đó, lúc lái xe ngang qua khu đất của nhà Pike, hai cô bé đang chạy xe đạp dừng xe anh lại và nói rằng có một người phụ nữ lang thang dọc phố Montgomery như bị lạc đường. Năm ngoái, một bà già mắc bệnh Alzheimer đã lái xe ra khỏi nhà và bị phát hiện chết trong xe vì giảm nhiệt hai ngày sau đó tại bãi đỗ xe trong siêu thị - chỉ vì lý do đó mà Eli phải quay xe lại chỗ hai cô nhóc chỉ cho anh. Nhưng người mà hai cô bé thấy đã biến đâu mất, và lúc đó Eli đã muộn hơn hai mươi phút rồi.

Anh ngồi xuống đối diện Jimmy Madigan và Knott Quinn. Hai đứa uể oải ngồi trên ghế trong trang phục áo thun hình đầu lâu, quần jean xé te tua và mang ủng màu đen. Hai đứa đều bỏ học trung học và giờ đang sống bên lề xã hội. Muốn chúng tự nguyện bước vào cục cảnh sát thì hẳn là vì chúng đã bị dọa một trận chết khiếp. “Vậy hai cậu nói rằng mình thấy cái gì đó trong khu đất nhà Pike?”

“Đúng vậy,” Jimmy xác nhận. “Ba đêm trước. Hai đứa bọn cháu thử đi đến đấy, chú biết đấy, vì những chuyện mà người ta đồn đại ở đó. Và đó là lúc chúng cháu thấy cái đó.”

“Cái đó?”

Jimmy nhìn qua bạn mình. “Hai chúng cháu đều thấy nó. Nó giống như cao hơn hai đứa chúng cháu. Và nó còn có răng nanh…”

“Mấy cái răng lận,” Knott phụ họa. “Răng sắc nhọn như dao găm ấy.”

“Vậy sinh vật đó có nói chuyện với hai đứa không?”

Hai cậu nhóc liếc nhau. “Đúng vậy, kỳ quái là ở chỗ đó. Trông nó như sắp giết hai đứa chúng cháu. Nhưng khi nó mở miệng ra thì lại òa khóc như trẻ con.”

“Khóc? Có chảy nước mắt không?”

Knott lắc đầu. “Không, nó rên rỉ. Oa, oa.”

“Và sau đó nó biến mất,” Jimmy thêm vào. “Như một làn khói.”

“Khói,” Eli lặp lại. “Khói. Thú vị nhỉ.”

“Này, cháu biết chú cho là bọn cháu dựng chuyện, nhưng không phải vậy. Knott và cháu đều thấy nó. Vậy cũng đáng tin chứ.”

“Ồ, chú tin là bọn cháu thấy nó. Nói về chuyện bắt gặp mấy thứ lạ lùng, hai đứa thấy cái này bao giờ chưa?” Eli lôi từ trong túi áo trước ngực ra một túi khóa zip có vài cây nấm héo queo.

Gương mặt Knott trắng bệch, “ừ, nấm truffle à?”

“Ờ, lại còn nấm truffle nữa ha,” Eli nói. “Nhà cháu trồng thứ này hả Knott? Vì một trong những khách hàng của Jimmy lại nói khác đấy?”

“Cái quái gì thế? Cháu chả hiểu chú đang nói gì,” Jimmy gào lên.

“Tốt.” Eli quăng hai tờ giấy lên bàn. “Vậy thì chắc bọn cháu sẽ không phiền để chúng tôi lục soát phòng hai đứa rồi. Vì nếu chúng tôi không tìm thấy gì, chú sẽ không cáo buộc hai đứa vì tội danh sở hữu chất kích thích với mục đích tiêu thụ.” Anh nghiêng người ra trước, khoanh tay lại. “Khu đất nhà Pike có thể có ma, cũng có thể không. Nhưng sử dụng chất kích thích trước khi đi tìm hiểu có thể khiến thần hồn nát thần tính đấy.”

Đêm nay, Ross có mang theo dụng cụ đầy đủ - không chỉ có máy quay phim thường mà còn có máy quay phim kỹ thuật số và máy tầm nhiệt - đều được đặt hàng qua Internet với thẻ tín dụng của Shelby. Ross chưa hề nói với Shelby về chuyện này. Ethan lẽ ra phải nhảy lên hào hứng vì mớ dụng cụ này, nhưng cậu nhóc phải ở nhà - sự khoan nhượng của Shelby đã đến mức giới hạn. Lúc này mới hơn mười một giờ, khoảng nửa tiếng trước khi hồn ma xuất hiện trước mặt Ethan lần trước. Ross ngồi khoanh chân chờ đợi. Anh chỉ muốn gặp may như cháu mình lần trước.

Anh xếp dụng cụ trên khoảng đất trống phía sau nhà, nơi có tầm nhìn bao quát sân sau. Rod van Vleet đã cho tháo dỡ xong một nửa căn nhà. Điều này có nghĩa là hồn ma sẽ đi đến chỗ khác - và khu đất này rộng đến mười chín mẫu Anh. Ross tự nhủ với mình rằng việc anh đứng đúng tại địa điểm gặp Lia Beaumont mấy đêm trước chỉ là sự tình cờ.

Ross đang lắng nghe bản hòa tấu của lũ dế cùng tiếng gọi tình của đám ếch. Vài ngôi sao lấp lánh, trăng tỏa sáng phía sau lưng anh. Anh không biết khi nghe thấy tiếng bước chân vào đêm đó là lúc mấy giờ. Anh liếc nhìn qua máy tầm nhiệt, nhưng nhiệt độ chưa hề hạ xuống đủ để kết luận rằng ma đã đến. Nhưng ngay sau đó một hình bóng lọt vào tầm mắt anh, tim anh đập rộn ràng.

Ông bảo vệ mỏ đá lúc này không mặc đồng phục, nhưng Ross nhận ra ông ta ngay lập tức; chẳng có bao nhiêu người thổ dân sống quanh thị trấn Comtosook. Ồng ta đang cầm trên tay thứ gì đó giống như một đóa hoa hồng trắng. “Lại là anh?” Az lên tiếng, khẽ cau mày.

Ross nhún vai. “Tôi thường đi theo những gì hồn ma dẫn dắt.”

Ông thổ dân khịt mũi. “Vậy thì lần này anh đang làm việc cho bọn đỉa hút máu ấy à.”

“Tôi làm việc với tư cách cá nhân,” Ross đính chính. “Bọn họ còn chẳng trả cho tôi dù chỉ một đồng xu lẻ.”

Ông già tỏ vẻ khâm phục, mặc dù vẫn ra vẻ cau có. “Anh lại đi tìm hồn ma sao?”

“Vâng.”

“Anh sẽ làm gì nếu gặp phải ma?”

“Ma? Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ tìm được.”

“Anh nghĩ mấy tay nhà đất này có kế hoạch gì nào?

Ross tưởng tượng ra ông van Vleet. “Tôi cho là họ sẽ muốn tôi tống khứ nó.”

Miệng Az thoáng co rút. “À vâng, gom bọn họ lại rồi ném họ vào trong kho kín à. Anh chuyển họ đi đủ xa thì cũng dễ tin là họ chưa bao giờ tồn tại ở đây nhỉ. Mấy kẻ định cư trái phép đúng không, bọn họ chả là cái thá gì, đúng vậy không?”

Ross không trả lời. Anh không chắc ông già có chờ anh trả lời hay không, và anh cũng ngại rằng dù mình có nói gì thì cũng là nói sai. “Ông sống ở gần đây sao?” anh cố tình chuyển chủ đề.

Az chỉ đến bãi cắm trại khuất xa bên kia đường. “Thỉnh thoảng tôi vẫn đến đây vào ban đêm. Già rồi nên chẳng ngủ được mấy,” ông ta đáp khô khốc. “Vì sao phải phí thời gian cho một việc mà chẳng bao lâu nữa tôi sẽ phải làm vĩnh viễn?” Az bắt đầu rời đi. Khi đến rìa bãi đất trống, ông quay lại và nói. “Nếu anh tìm thấy ma, anh phải biết là anh sẽ không tống khứ được nó đâu. Bất kể là thằng cha Rod van Vleet muốn gì đi nữa.”

Ross nhún vai. “Đó là một giả thiết táo bạo đấy.”

“Không hẳn đâu. Anh bị hồn ma vây quanh suốt cả đời mình. Anh chỉ không biết mình đang nhìn thấy gì thôi,” Az phản bác. “Tạm biệt, cậu Wakeman.”

Ông ta biến mất ngay phía trước căn nhà, và gió nổi lên. Ross co mình vào áo khoác. Anh cứ nuốt nước miếng liên tục, nhưng lại không loại bỏ được hương vị của sự thất vọng trên đầu lưỡi. Anh tự nhủ đó là vì Az đã đến ngay lúc anh đang mong được gặp ma. Rằng chuyện chẳng hề liên quan đến việc Az đã đến, trong khi Ross lại mong được gặp Lia.

“Tôi chịu hết nổi rồi!” cô y tá òa khóc, làm đổ cả khay thuốc. “Tôi không cần phải chịu đựng bệnh nhân đối xử thế này nữa!”

Spencer Pike ngồi trên xe lăn dõi mắt quan sát, hai tay ông đặt trên đùi. Khi nào cần thiết, ông vẫn biết cách ra vẻ ngớ ngẩn đúng lúc. Ông nhìn chằm chằm vào vở kịch trên tivi, tỏ vẻ hứng thú khi bà quản lý chạy đến.

Bà ta có khổ người to cao với mái tóc nhuộm màu quả mơ. Spencer vẫn thầm gọi bà ta là mụ Thô Lỗ. “Có vấn đề gì sao Millicent?”

“Đúng vậy, có vấn đề,” cô ý tá trẻ tuổi nổi đóa lên. “Ông Pike lúc nào cũng nói những câu xúc phạm.”

Ratchet thở dài. “Lần này ông ấy nói gì?”

Môi dưới của Millicent mấp máy. “Ông ta bảo… ông ta bảo tôi là một đứa ngu.”

“Thứ lỗi cho tôi được phép cắt ngang, tôi không hề nói vậy.” Spencer quay sang y tá Ratchet. “Tôi bảo là cô ta xuất thân từ một gia đình đần độn. Không phải là ngu ngốc. Có sự khác biệt, dù chỉ là nhỏ thôi.”

“Bà thấy chưa?” Millicent gắt gỏng.

“Tôi chỉ thắc mắc là có phải cô ấy có liên quan đến gia đình họ Cartwrights ở vùng Swanton. Ai chả biết gần một nửa người của gia đình đó lớn lên trong trung tâm dành cho người thiểu năng của chính phủ.” Ông vẫn còn lịch sự nói tránh, mặc dù nếu xét trên số lần Millicent nhầm ông với một bệnh nhân ngoại trú khác, thì cô ta đúng là có di truyền từ dòng họ.

Millicent cởi áo cotton đồng phục của nhân viên viện dưỡng lão ra. “Tôi nghỉ việc,” Millicent tuyên bố rồi bỏ ra ngoài, gót giày nghiến nát mấy viên thuốc, tạo thành vệt màu cầu vồng theo bước chân cô.

“Ông Pike,” mụ Thô Lỗ nói, “chuyện này không hay ho gì đâu.”

Spencer nhún vai. Người ta chẳng bao giờ muốn đối mặt với lỗi lầm của chính mình. Ông phải biết chứ.

Trong văn phòng Bác sĩ Calloway, Meredith có cảm giác mình giống như người khổng lồ giữa đám bàn ghế tí hon, ngôi nhà đồ chơi bánh gừng với cầu trượt gỗ, cô càng không thể cầm mấy cây chì sáp nhỏ xíu mà tô vẽ. Nhưng Lucy thì lại hoàn toàn phù hợp với nơi này. Trong phòng bên kia, ngoài tầm nghe, cô bé nằm úp mặt vào một con ếch nhồi bông to tướng, mặc đồ y như đám búp bê Barbie gầy nhom.

“Chứng ảo tưởng chỉ ảnh hưởng đến thị giác rất hiếm gặp,” bác sĩ tâm lý giải thích. “Thường thì những biểu hiện của bệnh tâm lý liên quan đến ảo giác về âm thanh, hoặc là hành vi kích động.” Bác sĩ Calloway liếc mắt qua Lucy đang yên lặng vui chơi. “Cô có thấy tính cách cô bé thay đổi đột ngột không?”

“Không có.”

“Bạo lực? Giả vờ?” Meredith lắc đầu. “Vậy còn thói quen ăn ngủ thì sao?”

Lucy rất biếng ăn nên trông còi cọc. Meredith vẫn hay nói đùa rằng con gái cô quang hợp chứ không màng ăn uống. Còn chuyện ngủ thì cô bé chưa bao giờ ngủ tròn giấc suốt một đêm từ nhiều năm rồi. “Con bé ngủ không yên,” Meredith thừa nhận. “Lucy vẫn hay tưởng tượng quá nhiều. Con bé thường để đèn sáng để ngủ, và vẫn hay sợ hãi về những thứ núp trong tủ quần áo hay dưới giường. Khi nào cháu mệt quá mới thiếp đi.”

“Có thể Lucy đang trải qua những triệu chứng lo âu mà bất kỳ đứa trẻ tám tuổi nào cũng gặp phải.” Bác sĩ Holloway lý giải. “Nhưng nói lại thì cũng có thể cô bé quả có thấy thứ gì đó trong tủ quần áo và dưới giường.”

Meredith nuốt nước miếng. Con gái cô không thể nào bị tâm thần, không thể nào. Không phải Lucy, cô bé luôn nhảy chân sáo thay vì đi bộ; đọc sách cho đám thú nhồi bông; vừa học được hết các từ trong bài “Miss Mary Mack”. Trong thâm tâm, Meredith nghĩ đến một sự thật bỏng rát: Trước đây cô đã từng không muốn giữ lại con gái mình, vậy đây là sự trừng phạt dành cho cô.

“Tôi nên làm gì?” cô dò hỏi.

“Chỉ cần nhớ rằng tám tuổi là lứa tuổi còn tin ông già Noel, những người bạn trong tưởng tượng và trò chơi sắm vai. Trẻ con trong độ tuổi của Lucy đang bắt đầu phân chia rạch ròi giữa tưởng tượng và hiện thực - và rất có khả năng những gì cô bé nhìn thấy chỉ là một phần của quá trình đó thôi.”

“Nhưng nếu nó cứ tái diễn thì sao?”

“Vậy thì tôi đề nghị Lucy nên uống một liều Risperdal nhẹ, thử xem có hiệu quả hay không. Hãy chờ xem thế nào.”

“Được rồi.” Meredith lặng nhìn Lucy đang tết tóc cho búp bê. “Được thôi.”

• • •

Ross không hề thấy đói bụng, vậy nên anh chẳng hiểu vì sao mình lại mò đến quán ăn trong thị trấn, vốn lâu đời như lịch sử của Comtosook và dai dẳng truyền đời như bệnh dịch giữa các đời chủ quán béo phệ bèo nhèo, luôn tin rằng dầu mỡ là thứ gia vị thượng hạng. Dù vậy, xem chừng việc làm ăn vẫn khá: khi Ross đến nơi, tất cả mọi chỗ ngồi, kể cả quầy đều đã đầy khách. Đứng dựa lưng vào bức tường kính chờ đến lượt, anh lôi gói thuốc lá ra. “Xin thứ lỗi,” cô phục vụ nhắc nhở ngay lúc anh tính mồi lửa, “quán này không thuốc lá.”

Đúng là nực cười khi một quán ăn có thực đơn đầy những món khiến người ta có cơ nhồi máu cơ tim sớm lại có quy định đạo đức giả như thế, nhưng Ross vẫn đút gói thuốc Merits vào túi. “Tôi sẽ quay lại sau,” anh nói với cô phục vụ. “Cô giúp tôi giữ một bàn được không?”

“Còn tùy.” Cô mỉm cười. “Anh sẽ để dành cho tôi một điếu thuốc chứ?”

Năm phút sau, anh dựa vào thùng rác sau quán và châm lửa, nuốt làn khói thuốc uốn lượn như dấu hỏi. Anh lé mắt nhìn vào đầu thuốc đang cháy.

Lẽ ra anh nên mang theo áo khoác - ở đây chắc phải lạnh đến mười độ. Nhiệt độ lên xuống thất thường kiểu này như đã thành quen trong thị trấn, và cư dân ở đây cũng đã thay đổi thái độ - thay vì sợ hãi những hiện tượng kỳ quái, họ bắt đầu lôi đám ủng mùa đông và găng tay ra đặt ngay bên cạnh khăn đi tắm biển, kem bôi rám da vì tùy thời tiết mà có thể cần dùng đến cả hai. Ross thầm nghĩ đức tính hay ho nhất của dân New England là khi đã phàn nàn chán rồi, họ sẽ nuốt số phận như một liều thuốc - không ngon lành gì nhưng nuốt được và rồi sẽ mạnh mẽ hơn. Ross dựa vai mình lên thành thùng rác kim loại tối màu, cố gắng hưởng chút hơi ấm còn tích lại. Khẽ vặn cổ, anh quẳng đi điếu thuốc hút dở.

“Anh còn chưa hút xong mà.”

Anh quay lại. “Lia.”

Ross lẽ ra phải biết cô ấy đang đứng sau mà không cần cô ấy lên tiếng; mùi hoa thơm thoang thoảng trong không khí. Cô nghiền tắt đầu thuốc cháy dưới đế giày, mấy ngón tay vung vẩy. Cô ấy vẫn mặc một chiếc đầm chấm bi nhưng hôm nay phối với áo khoác cardigan đính cườm, cứ như cảm thấy xấu hổ nếu mặc đúng một bộ trang phục và muốn làm nó trông mới mẻ hơn.

“Tôi vẫn luôn tìm anh đấy,” Lia nói.

Lời nói của cô ấy chẳng phù hợp với dáng điệu sẵn sàng chạy trốn bất kỳ lúc nào. Cô gợi cảm giác tuyệt vọng, gò bó sao đó, khiến Ross cảm thấy rất thân quen. “Tôi cũng luôn tìm cô mãi.” Khi nói xong, anh mới nhận ra câu nói đó chân thực như thế nào. Anh vẫn luôn tìm kiếm Lia trong hình ảnh phản chiếu qua ô kính cửa sổ, nhìn qua cửa xe ô tô đỗ sát xe anh lúc chờ đèn giao thông hay liếc mắt vào dòng người xếp hàng tại hiệu thuốc.

“Anh tìm thấy hồn ma của mình chưa?”

“Không phải hồn ma của tôi,” Ross đính chính. “Một hồn ma xa lạ thôi.” Anh lấy lại tỉnh táo và mỉm cười. “Vì sao cô lại muốn tìm tôi?”

Lia nói liến thoắng. “Bởi vì… tôi chưa kể với anh rằng vào đêm đó… tôi cũng đi tìm ma.”

“Cô cũng vậy sao?” Câu trả lời thẳng thắn và bất ngờ của cô ấy khiến Ross phải ngạc nhiên vì hầu hết những người tin vào hiện tượng siêu nhiêu đều thừa nhận chuyện này một cách rất miễn cưỡng.

“So với anh thì tôi chắc vẫn còn nghiệp dư lắm.”

“Cô tìm thấy được gì không?” Ross thắc mắc.

Cô ấy lắc đầu. “Đã có người nào tìm thấy chưa?”

“Chắc là có rồi. Ý tôi là ngoại trừ những bức ảnh về hồn ma và mấy bà đồng cốt, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học Princeton, Đại học Edinburgh. Ngay cả CIA cũng từng nghiên cứu về khả năng ngoại cảm và thần giao cách cảm.”

“CIA sao?”

“Đúng vậy,” Ross cam đoan. “Chính phủ còn kết luận rằng con người có thể nhận thông tin mà không cần thông qua năm giác quan.”

“Đó đâu phải là bằng chứng cuộc sống sau cái chết.”

“Đúng thế, nhưng nó cho thấy rằng ý thức còn vượt trên những gì hữu hình. Có lẽ thấy được hồn ma chỉ là một hình thức khác của khả năng nhìn thấy những vật vô hình. Có lẽ ma không thực sự là vật chết, mà là vật sống trong quá khứ, và…” Giọng Ross lạc đi. “Xin lỗi. Chỉ là… hầu như ai cũng cho rằng việc tôi làm là điên khùng.”

“Tôi cũng thường bị như vậy.” Lia cười nhẹ. “Và đừng nên xin lỗi. Tôi chưa bao giờ gặp một nhà khoa học nào mà không tỏ ra hào hứng về công trình nghiên cứu của họ.”

Một nhà khoa học. Ross đã bao giờ được gọi như thế chưa nhỉ? Cách gọi này khiến lòng anh nở hoa vì cảm giác hãnh diện, thành công và kinh ngạc nữa. Biết chắc dù mình có làm gì cũng sẽ phá hỏng khoảnh khắc này, anh rút ra bao thuốc lá để cố kéo dài thời gian, và mời Lia một điếu. Bàn tay cô đưa lên khẽ khàng như chú chim ruồi, sau đó lại rụt ra sau lưng. Tuy nhiên, chỉ thế thôi cũng đủ để Ross kịp thấy chiếc nhẫn vàng cô đang đeo.

Và vậy là thế giới của anh lại một lần nữa vỡ tan tành.

“Anh ta không biết được đâu,” Ross trấn an.

Lia nhìn chằm chằm vào anh. Rồi cô rút một điếu thuốc và để Ross mồi lửa cho mình. Dáng điệu cô hút thuốc trông như đang nuốt xuống một bí mật - có vẻ là một kho tàng cần được cất giấu. Đôi mắt cô khẽ nhắm; cằm ngước lên để lộ đường nét trên cổ.

Vào giây phút đó, việc cô là vợ của ai đó, việc cô cứ ngoái nhìn ra sau, hay chuyện những giây phút Ross được ở bên cô ấy chỉ là tạm bợ, thì cũng chẳng quan trọng mấy nữa. Đây có lẽ là khởi đầu của một sai lầm, nhưng Ross không đành lòng để cô ấy rời đi. Anh lên tiếng mời, “Để tôi mời cô ly cà phê nhé.”

Cô ấy lắc đầu. “Tôi không thể…”

“Không ai biết đâu mà lo.”

“Mọi người đều đến dự tiệc tối nay. Nếu anh ấy biết tôi đang ở cùng với anh…”

“Vậy thì sao? Cô cứ nói với anh ta sự thật. Chúng ta là bạn bè, đang thảo luận về chuyện ma thôi mà.”

Có vẻ nói sai rồi. Gương mặt Lia tái nhợt đi trông thấy, và Ross lại chứng kiến sự mỏng manh yếu đuối của cô lần nữa. “Tôi không có bạn bè,” cô lí nhí đáp.

Không có bạn bè. Và cô không được phép uống cà phê cùng bạn, cô phải lén ra khỏi nhà lúc đêm khuya thanh vắng. Ross không tài nào tưởng tượng nổi hình ảnh một thằng cha tàn bạo đang áp chế Lia hoàn toàn. Ở thời đại này, có ông chồng nào còn làm chuyện đó? Có người phụ nữ nào lại ít nghĩ cho bản thân mình đến mức để chuyện đó xảy ra? “Nếu tôi dùng túi giấy chụp lên đầu cô ngụy trang rồi bảo với mọi người rằng cô mắc bệnh phong thì sao?”

Cô cố nặn ra một nụ cười. “Tôi không thể uống cà phê qua túi giấy được.”

“Tôi sẽ lấy ống hút.” Nhìn đầu gối cô đung đưa nhè nhẹ Ross biết Lia đang mềm lòng. “Một ly thôi mà,” Ross nài nỉ.

“Được rồi,” cô chấp nhận. “Một ly thôi nhé.” Cô rít một hơi thuốc dài, cổ họng như rút lại khi ánh mắt cô dán lên người anh. “Chúng ta đã từng gặp nhau chưa?”

“Hai đêm trước.”

“Ý tôi là trước đó nữa kìa.”

Ross lắc đầu. “Tôi không nghĩ vậy,” anh đáp lại nhưng lại cảm giác như mình biết cô ấy từ rất lâu rồi. Hay ít ra là anh muốn thế. Liệu có gì khác biệt chứ?

Anh muốn hỏi vì sao cô lại sợ chồng mình đến vậy. Anh muốn hỏi vì sao cô lại tham gia bữa tiệc tối nay, ngay đúng lúc Ross đến nơi. Nhưng anh lo rằng nếu mình nói gì không phải, cô sẽ biến mất như làn khói thuốc phảng phất giữa hai người.

“Thực sự anh có cho rằng ở đây có ma không?” Lia thắc mắc.

“Ở mảnh đất nhà Pike sao? Có thể đấy. Nếu đó đúng là nghĩa trang của thổ dân da đỏ.”

“Nghĩa trang của thổ dân da đỏ sao?” Lia có vẻ giật mình vì giả thiết này. “Tôi không nghĩ thế.”

“Cô có biết gì nhiều về vùng này không?”

“Tôi từ nhỏ đến giờ sống ở đây mà.”

“Vậy thì có gì chứng minh khu đất đó đã từng là nơi người da đỏ định cư không?”

“Người nào nói với anh điều đó chắc chắn là đang dựng chuyện.”

Ross cân nhắc. Cũng có thể vậy lắm chứ.

“Nhưng hồn ma người thổ dân này… đó không phải là hồn ma đầu tiên mà anh gặp nhỉ,” Lia nói.

“Nó sẽ là hồn ma đầu tiên, nếu nó hiện hình.”

“Không, ý tôi là, đây không phải là hồn ma mà anh muốn tìm kiếm.” Cô cúi đầu xuống, mái tóc lòa xòa che khuất gương mặt. Đường ngôi trên tóc cô bị lệch cứ như bàn tay cầm lược chải tóc tới đoạn ấy hơi chệch đi. “Mẹ tôi mất khi tôi vừa sinh ra. Bà ấy là người tôi muốn tìm.”

Anh hiểu ra việc Lia tin vào hiện tượng tâm linh không phải vì tư tưởng cởi mở mà là vì quá tuyệt vọng. Anh soi thấy chính nỗi đau của mình nơi cô.

Lia duỗi tay ra và xắn tay áo khoác lên, để lộ vài đường sẹo chằng chịt trên da thịt. “Thỉnh thoảng tôi phải tự hành xác,” cô thú nhận, “vì tôi biết chắc mình sẽ không cảm thấy đau đớn.”

Đã lâu lắm rồi mới có người hiểu cảm giác đó. ‘Hồn ma của tôi,” Ross thổ lộ bằng giọng nói nghẹn ngào như của ai khác. “Tên là Aimee.”

Một khi bắt đầu, anh không thể ngừng lại. Anh kể về những điều khiến mình yêu Aimee - những điều bình dị như nụ cười rạng rỡ, chỗ da trên cùi chỏ lúc nào cũng ram ráp, hay cách cô không tài nào phát âm được chuẩn một từ nào đó. Anh chỉ lướt nhanh qua vụ tai nạn, không dám kể chi tiết vì sợ rằng trái tim mình lại vỡ tan tành. Anh chia sẻ cảm giác khi nhận ra có những lỗi lầm không sao tẩy được. Anh cứ nói mãi đến khi cổ họng bỏng rát và nỗi đau buồn chồng chất dưới chân Lia như vật hiến tế.

Khi anh nói xong, cô khóc. “Anh có tin rằng mình có thể yêu ai đó thật nhiều, rất rất nhiều, bất chấp cách biệt giữa hai thế giới?”

Câu hỏi quặn cả lòng; từ nỗi đau của mình, Ross thấu hiểu câu hỏi ấy. “Làm sao tôi có thể không tin được?”

Cô xoay người. “Tôi phải đi đây.” Ross vô thức vươn tay về phía cô, và Lia lập tức lùi phắt ra sau gần như phản xạ.

“Lia, nói cho tôi biết anh ta đã làm gì với cô.”

“Anh ta yêu tôi,” cô thì thầm khe khẽ. “Anh ta yêu một người phụ nữ không hề tồn tại.”

Ross đã nghĩ đến việc bạo hành nhưng rõ ràng chuyện này không phải vậy. Làm sao bạn có thể yêu một người nhiều đến mức khiến người đó tổn thương, dù không hề cố ý?

Lia phủi phủi tay áo, nước mắt trên đầu ngón tay cô để lại vệt ẩm trên vải. “Khi anh tìm được Aimee,” cô nói khẽ, “hãy nói cho cô ấy biết cô ấy may mắn đến nhường nào.”

Khi Ross ngẩng đầu lên, cô đang bước đi xa dần. Bao nhiêu câu hỏi cồn cào trong lòng anh: Lẽ nào Lia đã làm ra chuyện gì khiến cô ấy cảm thấy mình chẳng đáng giá gì đối với tình yêu của chồng? Và nếu Lia yêu chồng, vì sao cô ấy trông đầy đau khổ?

Ross không cố ý khiến cô ấy buồn. Anh chỉ muốn cô hiểu rằng cô ấy không hề đơn độc. “Lia,” anh lớn tiếng gọi, vội vàng đuổi theo nhưng cô ấy chỉ ngoái đầu lại nhìn rồi lại rảo bước thật nhanh. Tàn thuốc lá ánh lên bên vệ đường.

“Này.” Cô phục vụ mà anh trò chuyện lúc trước ló đầu ra cửa sau. “Anh vẫn còn tìm bàn chứ?”

Ross theo cô ta vào bên trong. Anh được đưa đến một chỗ ngồi còn chưa hề được dọn dẹp. Ngay khi bước vào quán, anh tuồn cho cô ta một điếu thuốc như đã hứa.

Cô ta cười rộ lên, nhét điếu thuốc vào trong tay áo rồi lau bàn. “Hôm nay anh đi một mình sao?”

Anh liếc nhìn ra phía cửa sổ. “Vâng, tôi cho là vậy.”

Phía đối diện, cô phục vụ moi đống tiền boa ra. Cô nhét vào túi mấy tờ tiền giấy và vài đồng hai mươi lăm xu, hừ mũi khinh khỉnh trước đồng xu lẻ còn lại. “Bực cả mình, mấy người kia lúc nào cũng cho tôi là ống heo tiết kiệm” cô lầm bầm. “Làm như tôi muốn bỏ túi đám xu lẻ này hơn họ đấy.”

“Một trăm đồng như thế đủ để cô mua một cốc cà phê đấy.”

Chiếc tạp dề của cô ta kêu lên leng keng. “Kèm thêm chứng thoát vị lưng hả.” Cô ta tung đồng xu về phía Ross. “Mặt ngửa. Anh giữ lấy nó đi, may mắn đấy.”

Khi cô ta rời đi để lấy thêm dao nĩa và cà phê, Ross nhặt đồng xu lên. Anh tung đồng xu, bắt lấy rồi lại xoay xoay chơi đùa với nó. Phải đến lúc đồng xu rớt xuống, lật mặt ngửa lần nữa thì Ross mới nhận ra đồng xu này đúc năm 1932.

Chiều hôm ấy, Ross lật lại trong đầu những gì mình biết về Lia:

Mỗi lần gặp phải anh là cô ấy lại cực kỳ thẹn thùng. Cô ấy thích thú với những hiện tượng tâm linh nhưng lại cứ sợ bóng sợ gió. Với cô ấy, tự do chỉ đến cùng đêm tối. Cô ấy kết hôn với một người đàn ông luôn muốn giữ cô ấy trong lồng.

À, thêm vào đó, trái tim cô ấy đã từng tan vỡ. Cô ấy giấu kín chuyện này rất tốt, nhưng từ kinh nghiệm của bản thân, Ross biết một khi người ta ráp lại từ từng mảnh vỡ, thì dù nhìn bề ngoài có nguyên lành đến đâu cũng không bao giờ như trước.

Ross tua nhanh đoạn phim quay được vài đêm trước, tua đi tua lại đoạn đối thoại giữa mình và ông già Az Thompson. Vấn đề là ở chỗ anh quan tâm đến bí mật của Lia Beaumont hơn là chuyện khu đất đó có bị ma ám hay không.

Anh vẫn chưa mời được nàng ly cà phê.

Ross cọ cằm mình vào góc cạnh của chiếc điều khiển từ xa. Chẳng có cái quái gì trong đoạn phim. Anh biết nói gì với Rod van Vleet bây giờ?

Điện thoại đột nhiên reo lên, khiến anh sực tỉnh. Anh chộp lấy điện thoại trước khi Shelby và Ethan thức giấc. “Xin chào?”

Chẳng có ai ở đầu dây bên kia, nhưng điện thoại vẫn kết nối. Ross cảm nhận được có người ẩn sau sự im lặng đó. Anh kẹp điện thoại ở cổ và lầm bầm: “Lia phải không?”

Đúng là cô ấy; anh dám cá với tất cả tài sản của mình rằng chính là cô ấy. Cô ấy có thể không gặp được anh nhưng cô ấy biết tìm anh ở đâu. Đây là cách cô ấy nói cho anh biết.

Ross không định cúp máy. Anh ngủ thiếp đi với điện thoại kẹp ở cổ. Đó là một giấc ngủ thật ngon sau mấy ngày trời. Anh thiếp đi, nhận ra rằng mình mệt rã rời mà không biết.

Mấy ngàn năm về trước, bộ tộc Abenaki đã phủ rộng từ phía tây bắc của bang Vermont đến phía đông nam, đến tận miền tây bang Massachusets, trải dài sang mấy tỉnh của bang New Hampshire và xa đến tận Quebec. Họ gọi vùng đất là Nd’akina, nghĩa là Vùng Đất Của Chúng Ta. Tên của bộ tộc, Abenaki, nghĩa là Bộ tộc của Bình Minh. Họ tự gọi mình là Alnobak, nghĩa là Con Người. Đã từng có thời điểm cư dân của bộ tộc lên đến con số bốn mươi ngàn người.

Cả bộ tộc phụ thuộc vào nông nghiệp, làng mạc đều tập trung ở những đồng bằng ven sông. Việc săn bắt và đánh cá cung cấp thêm nguồn dinh dưỡng cho bộ tộc. Phần lớn thời gian trong năm, người của bộ tộc sống tản mác theo gia tộc, nhưng mỗi mùa hè, tất cả quây quần gần nhau. Họ không hề có chính quyền trung ương, nên những lúc chiến tranh, bộ tộc Abenaki có thể bỏ làng mạc, phân tán thành từng nhóm nhỏ rồi lại tụ họp lại ở đâu đó thật xa để tổ chức phản công. Trong thời chiến, cả bộ tộc có thể tháo chạy đến tận Quebec, khiến thực dân vùng New England lầm tưởng họ chính là người da đỏ ở Canada. Tính đến năm 2001, có khoảng 2,500 người Abenaki định cư tại bang Vermont.

Sau khi thử đến sáu trang tìm kiếm khác nhau trên Internet và lật tung từng quyển sách tư liệu lịch sử tại Thư Viện công cộng Comtosook, Ross vẫn chưa tìm ra thông tin về chuyện liệu có người da đỏ nào từng sống ở khu đất nhà Pike.

Anh bực bội gục đầu trên bàn. Shelby tiến lại, xoa bóp vai cho em trai. “Tìm được gì không?”

“Này là công việc chị làm hàng ngày để sống đó hả?” Ross thở dài.

“Chắc là em chẳng tìm thấy gì rồi.” Cô ngồi xuống ghế bên cạnh, liếc nhanh qua chỗ bàn để tài liệu tham khảo để chắc là Ethan vẫn ngồi đó mải mê với trò Game Boy. Cô an ủi, “Vermont không phải là thư viện nổi tiếng với việc lưu trữ tài liệu chính xác. Hầu hết tư liệu nằm mốc meo trên sàn văn phòng thư ký thị trấn, mặc dù đống tài liệu đó chính là lịch sử định cư của người Anh trên châu lục này. Rõ ràng là từ hơn một ngàn năm trước, thổ dân châu Mỹ không hề nhận thấy hồ sơ công chứng nhà đất quan trọng như thế nào.”

“Đúng vậy, và giờ thì xem suy nghĩ đó đã dẫn họ đến đâu.”

“Em sẽ bỏ cuộc sao?”

“‘Không hề.” Anh liếc mắt lên màn hình sáng lóa kêu rì rì. “Em sẽ cố tìm hiểu thêm về mấy gã chủ đất người Anh kia. Xem thử nhật ký của mấy người đó có nhắc gì đến việc thổ dân châu Mỹ định cư ở đây hay không?”

“Thôi tùy em. Chị sẽ đưa Ethan về nhà.”

Ross nhìn chị gái mình tán gẫu với cô thủ thư mới đến thay ca ở đằng xa, rồi chị đeo túi xách lên vai, đặt tay lên đầu Ethan trong khi vẫn đang nói chuyện, tự nhiên như bản năng.

“Shel,” anh gào lên khi chị Shelby ra đến cửa và vẫy tay tạm biệt cậu em. “Chị từng nghe đến tên ai có họ là Beaumont chưa?”

“Có phải là họ của một trong những người Anh định cư ở đây không?”

“Không phải.” Tay Ross như tự động lướt trên bàn phím. Trang tìm kiếm mà anh đang mở chẳng hề liên quan đến tư liệu lịch sử. Nó chỉ là một hệ thống danh bạ của thị trấn Comtosook.

Cô thủ thư vừa đến thay ca nhìn chằm chằm về phía anh qua cặp kính dày cộp. “Có một thư viện sinh học tại Đại học Vermont được đặt theo tên ông Beaumont nào đó. Thỉnh thoảng chúng tôi có mượn sách từ thư viện đó.”

“Chị rất tiếc Ross à,” Shelby lắc đầu. “Chị không nhớ nổi.”

Cô đẩy Ethan ra khỏi cửa trong khi Ross nhập tên vào máy tính.

BEAUMONT, ABEL. Số 33 đường Casteton.

BEAUMONT, C. Đường Nông thôn số 2 hòm thư 358.

BEAUMONT, W. Số 569 đường West Oren.

Anh chẳng tìm thấy tên Lia từ danh sách được liệt kê; chồng cô ấy chắc không phải dạng người để cô ấy đứng tên chủ hộ. Chẳng thể nào tìm được người tên Beaumont ở vùng nông thôn, nhưng địa chỉ hai người kia ở gần đây. Anh tắt máy tính và thu dọn đồ đạc.

“Thành công không?” cô thủ thư mỉm cười hỏi thăm.

Ross huýt sáo. “Cứ cho là vậy đi.”

Az tức điên vì chuyện phải có một mảnh giấy phép vớ vẩn mới được câu cá ngay vũng nước chẳng thuộc quyền sở hữu của ai. Thằng cha quản lý khu vực cho mình là ai mà dám bảo ông cần phải xin giấy phép có chứng nhận để được ngồi bên bờ hồ câu mấy con cá hồi về nấu bữa tối?

Nhưng lúc nào ông cũng mang giấy phép theo người, nhét trong túi áo phòng trường hợp đụng phải thằng cha quản lý khu vực lúc sáu giờ sáng. Ông ngồi xuống, móc một con cá tuế màu bạc vào lưỡi câu và quăng vào chỗ nước tối màu hơn mấy nơi khác.

Ông thả dây câu để con cá mồi bơi loanh quanh. Dây câu cá màu neon như đường xích đạo chia cái hồ thành hai nửa. Az nhắm mắt và giữ cần câu thăng bằng giữa hai đầu gối. Tuổi già vẫn luôn khiến ông ngạc nhiên. Đúng là buồn cười khi ông chẳng tài nào nhớ nổi mình ăn gì cho bữa tối hôm qua nhưng lại có thể kể vanh vách về những chấm bạc trên lưng con cá hồi mình câu được lần đầu tiên. Ông chẳng nhớ nổi tên bạn bè nhưng nhớ như in những gương mặt người quen. Mấy năm qua, lưng Az khòm đến mức ông tưởng tượng đến lúc chết, bộ xương già của mình chắc đã biến thành vòng tròn. Nhưng đôi khi trí óc vẫn lóe lên sắc bén trước lúc thả lỏng và chìm vào giấc ngủ.

Az càu nhàu vì chẳng thấy động tĩnh gì từ dây câu. Cha Az đã dạy cho ông tính kiên nhẫn, vùng nước nông sâu thế nào thì thả mồi câu tốt nhất, kèm thêm cách thả mồi nhẹ đến mức lũ cá nghe tiếng lưỡi câu chìm vào nước chỉ như tiếng hồi ức vọng lại. Nhưng dạo này Az chẳng kiên nhẫn nổi. Sự kiên nhẫn cần thời gian, và thời gian của ông sắp hết.

Mặt trời như con mắt đỏ ngầu còn soi sáng viền bờ hồ. Chợt có luồng lửa bừng lên. Những tiếng nổ dội lên như pháo hoa, rực sáng trời chiều chạng vạng.

Mặt đất dưới chân Az khẽ chấn động khi người ta cho nổ đợt hai tại mỏ đá Angel, khai thác thêm nhiều đá granite về làm mặt bếp và bia mộ. Dây câu bắt đầu rung lên khi con cá hồi đớp con cá tuế. Az đếm nhẩm một, hai, rồi từ tốn thu dây câu.

Con cá bị ném vào xô, tất cả sắc màu của bình minh ánh lên trên từng chiếc vảy. Một đợt nổ thứ hai làm chấn động khu hồ, và lần này Az thấy mấy con cá vược bơi vòng vòng trong hoảng loạn, tuyệt vọng tìm cách thoát ra khỏi trận động đất không hề được báo trước.

Ông móc vào lưỡi câu một con cá tuế khác. Thỉnh thoảng cuộc sống cũng nên có chút xáo trộn.

Meredith bận rộn ghé mắt vào kính hiển vi để xem xét một phôi vừa được thụ tinh trong ống nghiệm. Có vẻ như phôi này không bị di truyền bệnh xơ nang. Đây đúng là phép màu khi cặp vợ chồng này đã thử thụ tinh đến bốn lần mà chẳng hề thành công. Cô duỗi lưng và mỉm cười: phôi này được đấy. Phôi này sẽ sống sót. Meredith biết chắc là vậy.

Lucy ngày trước cũng không dễ dàng gì mới ra được với đời. Không phải vì bệnh di truyền mà vì hoàn cảnh. Tám năm trước Meredith chia tay với giảng viên của mình, một vị giáo sư ngành công nghệ y sinh bận rộn đến mức chẳng có thời gian đi cùng cô về chịu tang mẹ tại Maryland. Mẹ cô mới hơn năm mươi tuổi, qua đời một cách bất ngờ và chóng vánh sau một cơn đau tim. Meredith suy sụp, nhưng bà ngoại cô còn đau đớn gấp mấy, vậy nên cô gái hai mươi sáu tuổi đành phải lo hết tang sự cho mẹ. Cô vẫn nhớ như in lần đến cửa hàng tang lễ để chọn màu vải sa tanh đính trên quan tài mẹ; lựa kiểu bia mộ khắc trên đá granite khai thác ở Vermont. Cô nhớ đến lễ hạ táng khi bà ngoại Ruby dựa vào cô. Sự nương tựa ấy từ bà cụ mảnh khảnh buộc cô phải đứng thẳng một cách vững vàng.

Cô định đến Boston bảo vệ luận án, sau đó quay lại Silver spring sống với bà ngoại. Nhưng bốn đêm thức trắng liên tiếp khiến cô kiệt sức; vài giờ sau, trên đường lái xe về phía bắc, cô lạc tay lái.

Meredith thức dậy trong bệnh viện với chân trái bó bột, mình mẩy thâm tím và cô y tá đứng cạnh giường luôn miệng trấn an rằng đứa bé vẫn khỏe mạnh. Đứa bé? Cô nghĩ thầm, có khi lúc đó còn bật hỏi ra lời. Đứa bé nào? Câu trả lời như thuốc giảm đau tiêm vào người cô - kết quả siêu âm để chẩn đoán nội thương cho thấy một bào thai tám tuần. Tim cô đập thinh thịch.

Cô chưa bao giờ muốn trở thành bà mẹ đơn thân. Suốt một thời gian dài, cô còn chẳng muốn làm mẹ. Cô chỉ muốn mẹ mình sống lại. Vậy nên cô đặt hẹn phá thai.

Nhưng rồi cô không đến.

Meredith biết rõ khía cạnh khoa học của quá trình thụ tinh; cô hiểu cha mẹ có thể di truyền những gì cho con cái. Nhưng cô không tài nào nén được suy nghĩ rằng phải chăng những thứ vô hình cũng thẩm thấu vào đứa con. Nếu lúc biết mình mang thai, cô thực sự muốn giữ lại đứa bé - thay vì cứ ước ao mình bị sảy thai - thì liệu Lucy có cảm thấy an toàn hơn không nhỉ? Bây giờ cô yêu con gái mình; thậm chí còn không tưởng tượng được cuộc sống của mình sẽ ra sao nếu không có con gái. Nhưng nếu nói thực với lòng mình, tám năm trước, cô hoàn toàn có thể chọn phương án ngược lại.

Cuộc sống chính là sự hiện diện ở đúng nơi đúng lúc.

Cô thầm nghĩ, “Ôi Lucy, giá mà mẹ có thể làm lại từ đầu.” Cô sẽ làm việc ít đi, dành thời gian dẫn con gái đi leo núi. Cô sẽ dạy con gái tập võ. Cô sẽ thừa nhận mình không biết và cũng không thể tìm ra mọi câu trả lời.

Thở dài, Meredith đành quay lại với kính hiển vi. Hai ngày sau phôi thai này sẽ được cấy vào tử cung của người mẹ. Cảm giác mỉa mai vẫn vây lấy cô - cô, chính là cái người không hề muốn nhưng lại mang thai, giờ trở thành niềm hy vọng cuối cùng của những cặp cha mẹ muốn có con hơn tất cả mọi thứ trên đời. Đứa bé này sẽ không di truyền bệnh xơ nang, nhưng không có nghĩa nó sẽ không mắc bệnh viêm màng não. Ai mà biết mình sẽ mắc bệnh gì. Dù đóng hết cửa nhưng người ta vẫn cảm thấy gió luồn qua khe cửa đấy thôi.

Hóa ra cả hai con đường Castlet và West Oren chẳng hề gần với khu đất nhà Pike, nhưng Ross vẫn đánh dấu tuyến đường và địa chỉ nhà lên tấm bản đồ mua tại trạm xăng rồi đánh xe đi tìm. Dù vậy, Lia Beaumont chẳng hề sống trong căn nhà ủ rũ kiểu Victoria với hàng rào bạc phếch, hay căn nhà gỗ có con chó chăn cừu Đức tên là Armageddon. Có thể Lia sống tại nơi khác, nhưng chắc chắn anh sẽ hỏi thăm khi gặp lại cô ấy.

Nếu anh gặp lại cô ấy.

Ross luôn đến dùng bữa tại quán ăn trong thị trấn và thức hai hai đêm liền trong khu đất, nhưng Lia Beaumont không hề xuất hiện. Anh gặp phải ông già Az Thompson trốn việc, thấy hai con gấu trúc Mỹ giao phối, và máy quay phim của anh đã vài lần bắt được mấy đốm sáng - lớn cỡ quả bóng rổ và có màu trắng ngà như ngọc trai vụt qua màn hình.

Anh muốn khoe đoạn phim với Lia biết bao.

Ross muốn hỏi liệu Lia có bao giờ nghĩ rằng sau bao nhiêu năm đã qua, mẹ cô ấy vẫn luôn chờ đợi được tìm thấy. Anh muốn hỏi có phải cô ấy yêu chồng như anh yêu Aimee. Anh muốn biết giữa hai người bọn họ có gì khác biệt đến mức không thể nào vãn hồi, như cái chết.

Anh cũng lo lắng có lẽ người chồng biết được Lia đã gặp Ross tại quán ăn nên đã trừng phạt cô ấy. Anh không biết cô ấy bị phạt như thế nào. Thể xác? Tinh thần? Cũng có thể lý do Lia biến mất là vì cô ấy - người vốn từng thừa nhận đã thử cắt tay để tìm lại chút cảm giác - quyết định cách chắc chắn nhất để tìm thấy mẹ chính là tự biến mình thành ma.

Ross lướt qua mấy bản cáo phó rồi lại thở phào nhẹ nhõm vì không thấy tên cô. Anh bắt đầu tự đặt cược vớ vẩn: Nếu mình có thể nín thở trong vòng ba phút, thì đêm nay cô ấy sẽ đến. Nếu mình kịp phóng xe qua trước khi đèn chuyển sang màu đỏ, thì cô ấy sẽ xuất hiện.

Có những đêm hiện tượng tâm linh ở khu đất nhà Pike trở nên náo nhiệt hơn bình thường. Vài đợt thay đổi nhiệt độ chóng vánh, mấy đốm sáng màu xanh lóe lên giữa mấy cành cây, và mùi cây độc cần tỏa ra nồng nặc đến nghẹt thở. Ross còn nghe thấy tiếng trẻ con khóc ngằn ngặt đến hai lần.

Đêm thứ ba, khi Ross đang ngồi bên rìa khoảng đất trống được nhắm cho buổi điều tra, màn đêm xung quanh dày đặc bao chặt lấy người, thì một hòn đá từ trên trời rơi xuống. Hòn đá có kích cỡ gần bằng cái đĩa ăn và phẳng gần như vậy, rơi từ trên cao với vận tốc đủ để đập gãy xương chân. “Mẹ nó chứ!” Ross chửi ầm lên, nhảy tưng tưng. Cơn đau lan khắp chân anh và một lằn sưng đỏ hiện lên ngay dưới đầu gối. Anh vội lia đèn pin đến cái cây gần nhất nhưng chẳng hề thấy gì. Anh không thể nào trèo lên cây được. Vì vậy anh chụp lấy viên đá kia và ném nó mạnh đến mức cái cây rung lên bần bật. “Này!” anh quát to. “Ai đó?”

Anh cứ tưởng đó là một con thú nào đó - gấu con, hoặc là mấy con sóc đột biến gene siêu mạnh - nhưng chẳng hề có gì ở trên cây. Anh bẻ lấy một cành cây rồi dùng nó đập vào những cành cây còn lại. Anh đập ầm ĩ một lúc, không phải vì cho rằng mình sẽ tìm thấy cái gì đó, mà là vì muốn xem có gì đó đáp trả hay không. Ngay khi dừng tay vì mệt, anh nghe thấy tiếng đào đất.

Tiếng đào đất nghe rất nhỏ, như tiếng chuột chũi đào hang trong vườn. Ross khập khiễng tiến đến mé kia của khu đất thì tiếng đào đất trở nên rõ ràng hơn. Ánh sáng đèn pin để lộ ba mươi mô đất không theo bất kỳ trật tự sắp xếp nào.

Nhiều chuyên gia khảo cổ và đội khai quật đã san phẳng nhiều phần của khu đất. Khi Ross đến đây lúc chạng vạng, chỗ này vẫn chưa hề bị đào bới. Vậy mà bây giờ, đất lại bị đào lên thành đống. Nhưng lúc Ross cúi xuống lấy một cái que thử đào sâu cái hố hơn, mặt đất vẫn cứng ngắc và đóng băng như mấy ngày trước.

Thực chất Ross chưa bao giờ nhìn thấy khu nghĩa trang của thổ dân thời xưa, nhưng anh đoán nó sẽ giống với cảnh tượng lúc này.

Anh lôi máy chụp hình ra khỏi túi và chụp lại theo nhiều góc độ. Sau đó anh cúi đầu nhìn xuống màn hình LCD để kiểm tra lại mấy tấm ảnh vừa chụp. Nhưng trong tất cả mọi bức ảnh, mặt đất đều cực kỳ bằng phẳng, lớp băng tuyết vẫn phủ nguyên vẹn ở phía trên. Ross sửng sốt quét đèn pin soi xuống chỗ đất vừa nãy. Chẳng còn đống đất nào ở đó.

“Mình thấy rõ ràng mà.” Ross dậm chân lên chỗ đất, nhưng mặt đất không hề suy suyển; đất vẫn bị đóng băng cứng ngắc.

Lẽ nào anh tự tưởng tượng ra mọi thứ? Anh cúi xuống và cuộn ống quần lên cao - không hề, vết sưng đỏ giờ còn to hơn và chuyển sang màu tím đậm. Hòn đá đúng là đập vào chân anh. Âm thanh đó đúng là tiếng đào đất. Mấy mô đất đó đúng là từng ở đây.

Vậy là thêm một lý do nữa để nhớ đến Lia: nếu đêm nay cô ấy đến đây và chứng kiến chuyện này, Ross chắc chẳng cho rằng anh bị điên.

Suốt tuần đó, dòng sông Winooski bỗng dưng chảy chậm hẳn, khiến lũ cá cứ bơi vòng vòng hoặc bối rối dạt lên bờ. Hệ thống tivi vệ tinh của nhiều nhà tự chuyển sang đài nói tiếng Na Uy, khẩu hình của diễn viên không ăn khớp với lời thoại giống như mấy bộ phim Godzilla xưa lắc. Tại cửa hàng bách hóa Comtosook, cả bốn máy tính tiền - mới đặt mua và vừa được chuyển đến - bắt đầu tính sai, khiến cho nho có giá đến tận 45 đô la một chùm còn dưa đỏ chỉ còn một xu một pound, bẫy chuột và phi lê cá tẩm bột thành ra miễn phí. Mấy người dám bàn tán về chuyện này đột nhiên quên mất mình đang nói gì, lưỡi lại cảm thấy vị ngọt của đường hay vị đắng của rau diếp xoăn, tùy vào điều họ đang nói đến.

• • •

Mỗi lần đến bác sĩ da liễu đúng là cực hình.

Nó không những nhắc cho Ethan nhớ đến mình khác người thế nào, mà còn phải thức suốt cả ngày, vì thời gian phòng mạch bác sĩ hoạt động vốn là thời gian cậu nhóc đi ngủ. Và sau khi kết thúc tất cả mọi thủ tục thăm khám, cậu còn phải nhìn mẹ mình cố nặn ra một nụ cười như quả trứng luộc bị nứt; mẹ cậu phải cố làm như thể cậu nhóc hoàn toàn bình thường.

Hôm nay có ba khối u tiền ung thư được loại bỏ khỏi mặt cậu. Ông bác sĩ nhúng một cục bông vào cái ly được nitơ lỏng rồi dí lên trán và mũi Ethan. Đau đến chảy nước mắt, và bây giờ thì vết thương ngứa cực kỳ.

Mẹ cậu nhóc lái xe rẽ vào nhà. Cậu Ross chắc là ra ngoài - xe ôtô đã biến mất. Ethan có thể tự tháo dây an toàn, nhưng cậu vẫn đợi mẹ vòng qua ghế phụ và tháo dây cho mình. “Con ổn chứ?” mẹ dịu dàng hỏi và cậu nhóc gật đầu rồi bước ra khỏi xe. Cậu để mẹ nắm tay mình bước lên thềm nhà. Đã lâu lắm rồi cậu không làm vậy, bởi vì nếu có ít thời gian hơn bất kỳ ai khác, người ta phải buộc mình nhanh chóng trưởng thành.

Ethan tuột bộ đồ đi đường dinh dính mồ hôi, tròng bộ áo ngủ qua đầu và liếc về phía gương soi. Mấy vết rộp vẫn chưa xuất hiện - chắc là ngày mai. Nhưng gương mặt cậu đã trở nên giống quả địa cầu, nơi khối u bị đông lạnh chính là mấy mảng kiến tạo đang chuyển động.

Trước khi kịp nhận ra, cậu giơ tay đấm thẳng vào tấm gương. Máu chạy dọc cánh tay, nhưng ý nghĩ duy nhất trong đầu cậu bé là rốt cuộc mình không phải nhìn thấy bản thân nữa.

“Ethan?” Mẹ cậu gọi. “Ethan!” Cô đã đến ngay sau Ethan, giật lấy tấm trải giường bọc tay cậu lại. “Chuyện gì đã xảy ra?”

“Con xin lỗi,” Ethan lắc lư. “Con xin lỗi.”

“Bây giờ thì con đang thỏa hiệp…”

“Thỏa gì cơ?”

“Thỏa hiệp nghĩa là chấp nhận. Chấp nhận bản thân mình.”

Ethan giật tay ra. “Vậy sao mẹ không nói thẳng ra?” cậu nhóc hét lên. “Vì sao mẹ phải dùng mấy cái từ ngu xuẩn đến mức chẳng ai hiểu nổi? Vì sao không ai nói với con sự thật?”

Cô nhìn thẳng vào con trai. “Con muốn nghe gì, Ethan?”

Cậu sụt sùi, nước mũi chảy lòng thòng. “Con đúng là quái vật.” Cậu lấy tay ôm mặt, máu dính lên cằm và má. “Nhìn con đi, mẹ. Nhìn con xem.”

Cô cố nặn ra một nụ cười. “Ethan, con yêu, con mệt rồi. Đã qua giờ ngủ lâu lắm rồi đấy.” Giọng nói của mẹ trở nên êm dịu như mật ong ấm áp. Giọng nói ấy phủ lên vai Ethan; khiến cậu phải chống cự để không được mềm lòng. Cậu nhóc cảm giác được bàn tay mẹ nắm lấy tay mình, dắt cậu đến phòng tắm để làm sạch vết thương.

“Mẹ nghĩ không cần khâu vết thương đâu,” cô bảo rồi dùng băng gạc quấn vết thương. Sau đó cô dắt cậu nhóc quay lại phòng ngủ. Ethan trèo lên giường và nhìn chằm chằm vào khung gương đính trên tường.

“Ngủ đi một giấc rồi con sẽ cảm thấy khỏe hơn đấy,” mẹ cậu khuyên nhủ, và Ethan chẳng biết mẹ đang nói với cậu hay nói với chính bản thân mình. “Hai mẹ con mình sẽ làm gì đó thật tuyệt lúc con thức dậy - chẳng hạn như lấy kính viễn vọng tìm chòm sao Venus… hay là xem tất cả đĩa phim Chiến tranh giữa các vì sao… con thích vậy, đúng không?” Vừa nói, cô vừa cúi xuống sàn, nhặt nhạnh những mảnh gương vỡ. Cậu nhóc tự hỏi liệu mẹ có biết mẹ đang khóc hay không.

Dù cảm thấy kiệt sức, nhưng Ethan không ngủ được. Cả bàn tay và gương mặt cậu đau đớn. Cậu chờ đến khi không nghe thấy tiếng mẹ đi dọc hành lang, sau đó lén trèo xuống giường, vươn tay xuống dưới bàn nhặt lấy một mảnh gương hình tam giác mà mẹ cậu bỏ sót.

Ethan đặt mảnh gương trước mặt. Cậu chỉ có thể nhìn thấy một phần nhỏ trong gương - một phần sống mũi, một bên lông mày và một đám tàn nhang. Nếu cứ như vậy lắp ghép lại, đây có thể là hình ảnh phản chiếu một cậu nhóc bình thường. Nhìn như vầy, cậu có thể trở thành một người hoàn toàn khác.

Eli giật mình tỉnh giấc, ngồi bật dậy thở hổn hển. Cả căn phòng thơm phức mùi táo, nồng đến mức anh phải nhìn xem thử có cái máy ép nước táo nào đặt gần giường hay không. Anh dụi mắt nhưng vẫn không tài nào xóa bỏ được hình ảnh đang nhảy múa trước mặt mình: lại là người phụ nữ đó.

Dù chưa bao giờ nghe cô ấy nói chuyện, nhưng anh biết giọng nói đó. Anh biết cô ấy có một vết sẹo ngay dưới thùy tai bên trái, môi cô mang mùi vani lẫn với mùi bất hạnh.

Mẹ anh vẫn luôn tin vào sức mạnh của những giấc mơ. Khi Eli còn bé, mẹ kể cho anh nghe về ông ngoại, người đã nhìn thấy trước cái chết của mình. Ông đi ngủ và mơ thấy một ngọn núi phủ đầy tuyết, trên đỉnh núi là một con đại bàng. Con đại bàng vươn móng vào khe núi cố lôi ra một con rắn. Sau một hồi lôi kéo, cuối cùng con đại bàng moi ra một con rắn dính với một cái mai rùa trống rỗng. Ông run lẩy bẩy, đó là điềm báo của sự hấp hối. Ba tháng sau, tại nơi tế lễ, một trận bão tuyết kỳ quái khiến ông ngoại cùng ba người đàn ông khác mắc kẹt trên đỉnh núi. Người ta tìm thấy bốn người đàn ông chết cóng. Xác của họ có lẽ đã chẳng được tìm thấy nếu không nhờ tiếng kêu của con đại bàng dẫn đội tìm kiếm đến gần hơn.

“Khi thức giấc,” mẹ Eli thường nói, “chúng ta thấy những gì mình muốn thấy. Khi ngủ, chúng ta mới thấy điều thực sự.”

Anh thường tự hỏi không biết mẹ có bao giờ mơ đến việc kết hôn với một người da trắng, hay thấy trước căn bệnh tiểu đường đang khiến bà chết dần chết mòn. Anh tự hỏi liệu mẹ mình có biết đứa con trai duy nhất của bà thà mất một cánh tay còn hơn phải tin vào quan niệm của thổ dân châu Mỹ, thay vì tin rằng giấc mơ chỉ do đám nơ ron thần kinh nổi loạn.

Người phụ nữ luôn đến tìm anh vào ban đêm có một đôi mắt màu thủy xanh ve chai thăm thẳm, giống như mảnh đá thủy tinh mà anh tìm thấy trên bãi biển Rhode Island và đặt trên bậc cửa sổ trong phòng tắm.

Anh kéo chăn đến tận cằm và nằm xuống gối lần nữa. Chắc là do anh lại bứt rứt thôi. Anh mơ thấy gái đẹp vì đã lâu rồi không chạm vào ai thực sự.

Lúc thiếp đi, anh buộc phải thừa nhận nếu đúng là vì ham muốn thì anh phải mơ thấy cô ấy trong trang phục áo tắm, hoặc đang trần truồng trong nhà tắm hơi chứ. Làm sao lại mơ thấy cô ấy với áo quần chỉnh tề và nằm co quắp khóc lóc trên sàn nhà như mảnh ghép của câu đố không lời giải.

Tiếng hét vút lên hoảng loạn, Meredith lao vào phòng ngủ của Lucy. Không, ôi không, đừng mà, cô thầm nghĩ. Mọi thứ trước giờ vẫn bình thường mà.

Bà ngoại cô đang ở trong phòng, vuốt mớ tóc ướt đẫm của cô cháu gái và an ủi cô bé rằng mọi chuyện đều ổn. “Con bé không ngừng la hét,” bà Ruby hốt hoảng. “Cứ như nó không nghe bà nói gì vậy.”

Meredith lấy hai tay ôm lấy mặt con gái và nghiêng người lại gần. “Lucy, nghe mẹ nói này. Con an toàn. Không có gì ở đây làm hại con hết. Con hiểu không?”

Giống như bức màn được vén lên, ánh mắt Lucy trở nên tỉnh táo, và cô bé im lặng. Khi nhận ra mình đang ở đâu và chuyện gì đã xảy ra, cô bé cuộn mình lại như lúc còn trong bụng mẹ và lùi về phía đầu giường. Lucy thì thào, “Mẹ thấy cô ấy không? Cô ấy ở ngay đó.”

Lucy chỉ tay đến một điểm vốn chẳng có gì giữa Meredith và bà Ruby. Sau đó cô bé vùi đầu dưới chân. “Cô ấy muốn con giúp cô ấy tìm.”

“Tìm cái gì?” Meredith hỏi.

Nhưng Lucy lại chìm vào trong thế giới của mình, và cô bé im bặt. Meredith thấy ngực mình đau nhói; tim cô nặng trĩu. “Bà ơi,” cô nói bằng giọng điệu như mượn từ đâu đó, “bà trông chừng con bé được không?”

Không đợi bà ngoại trả lời, Meredith bước nhanh vào phòng ngủ của mình. Cô nhấc điện thoại và cầm lấy tấm danh thiếp đặt trong ngăn kéo tủ cạnh giường. Cô đợi đến khi nghe tiếng “bíp”, rồi cô đọc lời nhắn cho bác sĩ Calloway, cô đầu hàng.

Khi Ross đến khu đất nhà Pike lúc 11 giờ đêm, Lia đang đợi anh. “Tôi đến muộn sao?” anh hỏi thăm giống như vẫn đợi gặp cô. Anh lén liếc mắt quan sát Lia khi sắp xếp dụng cụ. Có gì đó khác lạ với cô ấy - một sự quyết tâm mỏng manh mà Ross không muốn phá hỏng bằng cách gợi lại lần gặp trước. Thay vào đó, anh chỉ cho cô thấy những chỗ mà mấy mô đất đã xuất hiện hai đêm trước. Anh để cô xem xét cái máy đo điện động vừa chuyển đến chiều nay. Nếu cô muốn đi săn ma cùng anh, anh sẵn sàng để cô theo. Dù sao bắt đầu như vậy còn hơn là chẳng có gì.

Cô lướt tay qua cái máy quay video dựng trên giá đang hướng về phía xa. “Cha tôi có một chiếc máy quay,” cô kể, “nhưng nó to hơn. Cồng kềnh hơn nhiều.”

“Cái này là máy quay kỹ thuật số.” Ross liếc mắt nhìn ra khoảng đất trống. Anh vẫn luôn có cảm giác mãnh liệt ở chỗ đó. “Nếu ngồi xuống đợi, biết đâu chúng ta sẽ gặp may đấy.”

“Tôi… được phép ở lại sao?”

“Tôi nghĩ cô đến đây là vì vậy mà.”

Lia không trả lời, nhưng lại ngồi cạnh Ross trên mặt đất đóng băng. Sự rụt rè của cô vẫn chẳng hề biến mất. Ross tự hỏi điều gì khiến cô ấy sợ đến vậy - khả năng gặp ma hay vì người chồng đến tìm cô ấy. “Cô ổn chứ?” anh hỏi thăm.

Cô gật đầu. Nếu không có ánh đèn pin bé xíu thì hai người đúng là lọt thỏm giữa bóng tối. Lia ngồi với tư thế hai tay ôm lấy đầu gối, váy phủ xuống mắt cá chân. Cô liếc mắt nhìn máy đo điện động, kim đo vẫn đứng yên. “Vậy cái máy này”, cô thắc mắc, “sẽ báo hiệu khi có ma ở đây sao?”

“Về mặt kỹ thuật thì máy sẽ báo hiệu khi có ma hiện hình. Quá trình chuyển đổi năng lượng sẽ ảnh hưởng đến từ trường.”

Cô cau mày. “Tôi không hiểu.”

“Nếu như hồn ma vô hình, rồi đột nhiên biến thành hình dạng rõ ràng - hoặc ngược lại - chúng ta sẽ nghe thấy tiếng máy kêu lách tách.”

Hai người đều chìm vào im lặng cùng với vô vàn câu hỏi mà chẳng ai dám mở lời thắc mắc. Sau một lúc, Ross ngừng để ý đến mấy hiện tượng tâm linh mà quay sang lắng nghe tiếng hơi thở của Lia hòa nhịp thở của mình. Anh thấy rõ hai người đang gần như vai kề vai. Chỉ cần nhích vai là anh có thể chạm vào cô ấy rồi. Quỷ quái thật, sao anh không chịu hít thở sâu cho bình tĩnh nhỉ.

Sau gần cả thập kỷ Ross mới có cảm giác này - cảm thức về điều gì đó mãnh liệt đến mức chiếm hết tâm trí anh, như con chiên ngoan đạo quỳ gối trước điều ngoài tầm kiểm soát của con người, như sóng thần hay động đất. Cảm giác này biết đâu có thể kéo hai người bọn họ lại gần nhau hơn. Suốt một thời gian dài, anh vẫn luôn tìm kiếm linh hồn một người phụ nữ đã qua đời. Lòng anh rối bời khi cảm thấy mình bị cô gái ngồi cạnh quyến rũ. Nhưng Lia đã kết hôn, còn Aimee mới là người anh thực sự muốn kia mà.

Nếu như cảm giác cuốn hút toát ra từ Lia không phải vì anh cảm thấy cần phải giúp cô ấy, mà là vì cô ấy có thể cứu vớt anh thì sao? Nếu như anh không phải tìm kiếm một hồn ma ở thị trấn Comtosook… mà phải tìm người phụ nữ này thì sao?

Aimee đã mất rồi. Lia đang ở đây…

Ý nghĩ đểu cáng đó vụt qua tâm trí và khiến anh bực bội đến mức buộc mình phải lách ra vùng sáng ánh đèn pin và dịch người ra xa Lia. “Có chuyện gì sao?” cô vội hỏi, như hụt hơi.

Không có gì, Ross nghĩ thầm, ơn Chúa. Anh đứng dậy và bắt đầu đi lòng vòng quanh bãi đất trống.

“Anh cảm thấy gì sao?”

“Không có,” Ross đáp nhưng lại thầm nghĩ, “Đúng vậy.”

Cô đứng lên, bước về phía bóng cây. “Tôi cảm thấy gì đó,” Lia lẩm bẩm. “Như thể mọi thứ trở lên sắc bén hơn. Hữu hình hơn.”

Khi cô bước qua trước mặt Ross, anh cảm thấy một luồng gió nhẹ. Làn váy nhẹ nhàng lướt qua tay anh. Không kịp kìm nén, anh cố tóm lấy nó nhưng làn váy lại trượt qua ngón tay anh như làn gió thoảng qua.

Tim anh đập rộn ràng như điên. Ross, con người chưa từng để tình yêu của mình phai nhạt ngay cả khi người yêu qua đời, đột nhiên lại cảm thấy xao lòng bởi thứ vụn vặt như vết lõm nơi đầu gối cô nàng.

Anh tự nhủ mình đã cùng Aimee xây dựng một thế giới riêng; Aimee mới là người hiểu anh hơn bất kỳ ai trên đời. Nhưng sự thật là Aimee chắc chẳng thể nhận ra Ross bây giờ. Đau khổ đã khiến anh thay đổi, từ giọng nói đến dáng đi trên phố. Aimee ngày xưa luôn hiểu điều gì làm Ross hạnh phúc.

Nhưng Lia dường như lại hiểu điều gì khiến tim anh tan nát.

Đột nhiên có tiếng khóc của một đứa bé. “Anh có nghe thấy không?” Lia thì thào, vươn tay nắm lấy cổ tay Ross.

Anh nghe thấy tiếng khóc. Nhưng anh nhận ra Lia không còn để ý đến âm thanh vọng lại từ đằng xa. Cô cầm lấy đèn pin chiếu vào vết sẹo trên cánh tay Ross. “Ôi…” Lia thốt lên, đánh rơi cái đèn xuống đất, làm cho bóng tối lại bao trùm lấy hai người.

Dù không thấy được Lia, Ross biết cô đang sờ tay vào vết sẹo dưới tay áo. “Vì sao không kể cho tôi biết?”

“Cô không hỏi mà.” Ross thò tay vào túi và đốt một điếu thuốc, soi sáng gương mặt cô.

“Từ khi nào?” cô hỏi ngắn gọn.

“Đã lâu rồi. Hồi ấy tôi từng nghĩ trên đời này chẳng còn gì cho mình nuối tiếc.” Anh bắt gặp ánh mắt cô, rồi cầm lấy điếu thuốc đang cháy dở và dụi vào phần da non mặt trong cánh tay như thách thức. “Đến giờ vẫn vậy.”

Ngạc nhiên thay, Lia không hề ngăn cản anh. Cô chỉ ngồi yên chờ đến khi anh quăng đầu lọc đi, để lại một vết bỏng dữ tợn sưng phồng trên da. “Tôi đến đây không phải để tìm ma,” Lia thú nhận. “Tôi đến đây là vì khi ở bên anh, tôi không phải ngồi ở nhà và tự hỏi mình nên dùng dao, hay thuốc ngủ, hay là thuốc độc.” Lông tay anh dựng đứng khi cô kề miệng vào tai anh thì thầm, “Ross, nói cho tôi biết thế giới bên kia là như thế nào.”

Ross đã từng có cảm giác này trước đây - choáng váng, đau đớn như mỗi tế bào đều chực nổ tung. Lần đó khi tỉnh lại, cả ba vị bác sĩ đều nói rằng anh vừa bị sét đánh. Tay anh ôm lấy mặt Lia. Anh nghĩ thầm, “Nếu cô có thể nhìn thấy tôi rõ ràng như vậy, thì chắc là tôi còn sống rồi.”

Cách đó không xa, máy đo điện động bắt đầu réo lên. Lúc đầu, âm thanh rè rè khe khẽ sau đó đột ngột to đến mức khiến Ross choàng tỉnh. Ross chưa bao giờ cảm giác được thứ gì mãnh liệt đến thế - có gì đó quan trọng sắp xuất hiện. Và chuyện này hoàn toàn hợp lý thôi: hồn ma đang bắt đầu sử dụng năng lượng phát ra giữa Lia và Ross để hiện hình.

Ross chạy đến chụp lấy máy đo điện động và cố nheo mắt để đọc số đo. “Đưa tôi cái đèn,” anh gọi cho Lia.

Ngay sau đó, giày anh đạp phải cái đèn pin. Máy đo lại ngừng kêu, tiếng lách tách dần biến mất. Đó là bằng chứng xác thực nhất về ma mà anh từng chứng kiến. Nhưng nếu lúc này hồn ma bước tới trước mặt anh và tự giới thiệu bản thân thì Ross cũng không để tâm. Anh cần tìm Lia để thấy phản ứng trên mặt cô ấy.

Ross bật đèn pin lên và soi xung quanh, nhưng cô ấy đã đi rồi.

Đây chẳng phải lần đầu tiên Ross thấy người ta chạy trốn khi chứng kiến hiện tượng tâm linh. Nhưng nỗi sợ hãi của Lia chẳng hề liên quan đến sự xuất hiện của con ma. Lý do cô ấy sợ hãi có lẽ giống với Ross - chính là thứ vẫn khiến anh run rẩy đến tận bây giờ: lần thứ hai trong đời, anh biết mình muốn một người nhưng lại không thể có được.

« Lùi
Tiến »