Cô đi đi lại lại, đấm tay vào lòng bàn tay bên kia. Họ sẽ không cho cô vào trong. Tấm biển trên lối vào đã tắt. Những thùng rác đầy ắp đã được dẹp đi. Những cuộc thác loạn cuối cùng đã kết thúc. Nơi này đã chết. Chết, nhưng vẫn chưa lạnh hẳn, vẫn chỉ đang trong quá trình từ biệt hồn ma của nó. Cứ chốc chốc lại có một bóng người lẻ loi xuất hiện rồi rời đi, một người kiếm sống trong đó. Với những người làm việc trong hộp đêm, những người có đồng hồ chạy theo hướng ngược với phần còn lại của thế giới, thì lúc này chính là thời điểm năm giờ chiều.
Trong khi cô đi đi lại lại, chực chờ bên ngoài để dò hỏi thông tin, cô không ngừng nghĩ về điều đó. Trong kia, ở nơi cô đang đứng canh trước cửa, vào tối nay, một cô ả tóc đỏ mặc váy màu lục sáng đã đưa cho Graves một tờ giấy ghi lời nhắn. Mình có nơi này và mình có tờ giấy. Được rồi, mình đã có chừng đó. Giờ thì xem nào. Trước hết, để viết lời nhắn đó cô ả cần có giấy và bút chì. Những thứ đó loại phụ nữ rẻ tiền như vậy thường chẳng mấy khi mang theo; loại đó gửi đi phần lớn lời nhắn qua đôi mắt và vòng hông. Có thể cô ả này thực sự có giấy và bút chì; nếu đúng thế thì coi như quá đen đủi cho cô. Tuy nhiên giả như cô ta không có. Nếu vậy thì cô ta chắc chắn phải mượn của ai đó trong kia. Khó có chuyện cô ta quấy quả ai đó trong số những người đang nhảy trên sàn và hỏi, “Ông (bà) có thể cho tôi mượn bút chì và giấy được không?” Khó có chuyện cô ta lại gần một cặp đôi hay một nhóm người ngồi tại bàn và hỏi câu đó. Còn lại gì nào? Bồi bàn, nếu cô ta ngồi tại bàn. Người phục vụ quầy bar, nếu cô ta ngồi tại quầy bar. Cô gái ngồi sau quầy gửi mũ. Người phục vụ tại phòng trang điểm.
Như vậy, diện đối tượng thu hẹp lại chỉ còn những người làm việc tại đây.
Đó là lý do mình đứng ở ngoài này.
Thậm chí ngay cả khi họ khoác trên mình những bộ quần áo mặc ngoài đường, cô vẫn có thể ít nhiều nhận diện những người này khi họ lần lượt đi ra. Chẳng hạn, cô nàng nhỏ nhắn gọn gàng, hoạt bát xinh đẹp, mặc trang phục cũng hợp mốt như bất cứ vị khách nào, chẳng thể là ai khác ngoài người trực phòng gửi đồ ở một nơi như thế này.
Cô gái sững lại khi cảm thấy bàn tay Bricky đặt lên ống tay áo mình, rồi sự ngạc nhiên lan ra trên khuôn mặt cô ta khi phát hiện ra bàn tay đang níu lấy mình lại là của nữ giới. Thậm chí cô ta còn có chút hốt hoảng hay có vẻ tội lỗi trong giây lát, như một người lo sợ bị tính sổ, cho tới khi câu hỏi được đưa ra.
“Không, ở vị trí làm việc của tôi thì ngược lại.” Cô ta nói với giọng thánh thót, trẻ con. “Tất cả họ đều lấy bút chì của mình và dùng chúng ở chỗ tôi làm.” Cô ta mở túi xách, lấy ra một xấp dày đủ loại danh thiếp và những mảnh giấy ghi họ tên, địa chỉ, số điện thoại.
Một tờ giấy rơi ra, và cô ta dùng chân hất nó đi. “Kệ nó đi.” Cô ta nói. “Không có nó thì tôi cũng có quá đủ rồi.” Cô ta cất chỗ còn lại vào túi. “Không có người phụ nữ nào mượn bút chì của tôi cả; kỳ thực tôi còn chẳng có cái nào để cho mượn.” Cô ta tiếp tục đi ngược lên đầu phố, với bước đi khe khẽ của đôi bàn chân nhỏ nhắn.
Quý bà da màu vừa đi ra, hợp mốt chẳng kém, chỉ có thể là người phục vụ ở phòng trang điểm.
“Noại pút chì lào?” Bà ta trả lời câu hỏi một cách lảng tránh. “Pút chì kẻ mắt màu nâu à?”
“Không, bút chì thông thường, loại dùng để viết ấy.”
“Họ hông vào trong đó để viết, cô em ạ, cô tìm nầm chỗ rồi.”
“Không có ai hỏi mượn bà một cái bút chì như thế trong suốt buổi tối sao?” Bricky cố gặng hỏi.
“Không. Đó nà thứ duy nhất họ không hỏi. Mà nghĩ nại thì đó nà thứ duy nhất tôi không có để đưa cho họ. Cô em khiến tôi có một ý tưởng đấy; tôi nghĩ tôi sẽ cầm theo một cái pút chì vào tối mai, biết đâu nại có người hỏi mượn.”
Một người đàn ông bước ra.
Anh ta dừng lại và lắc đầu. “Ở đầu quầy bar phía tôi thì không. Tốt hơn hãy hỏi Frank, cậu ấy làm ở đầu còn lại.”
Một người khác đi ra ngay sau anh ta.
“Anh là Frank?”
Người đàn ông dừng lại và mỉm cười đánh mắt đưa tình với cô. “Không, tôi là Jeny, nhưng tôi đang rất rảnh. Đừng để tên họ cản trở em.”
Lần này thì cô là người phải rời đi, ra xa chừng mười mét, đợi đến khi anh ta đi khỏi và phía trước hộp đêm lại thoáng đãng.
Nhưng trong khi cô đang chờ thì có thêm một người nữa bước ra ngoài và đã đi được khá xa. Cô phải đuổi theo chạy ngược lên phố để có thể bắt kịp.
“Vâng, tôi là Frank.”
“Có cô gái nào mượn anh một cái bút chì ở phía quầy bar anh phụ trách tối nay không? Đó là một cô gái cao ráo, tóc đỏ, mặc váy màu lục sáng. Ồ, lúc ấy cũng lâu rồi, sớm hơn cơ, nhưng anh thử xem có nhớ được... Có ai như vậy không? Có ai không?”
Anh ta gật đầu. Cô đã tìm đúng người. “Có.” Anh ta nói. “Một cô có vẻ ngoài như thế đã hỏi mượn tôi. Tôi nhớ. Lúc ấy là khoảng mười hai giờ, nhưng đúng là có.”
“Nhưng anh không biết tên cô ta?”
“Không, cái đó thì không. Tôi có cảm giác cô ta làm việc tại một trong các hộp đêm quanh đây...”
“Nhưng anh không biết là hộp đêm nào ư?”
“Không. Lý do duy nhất khiến tôi nói thế là vì tình cờ tôi nghe thấy một người khác nói với cô ta rằng, ‘Cô làm gì ở đây vậy? Đã xong việc ở chỗ cô rồi cơ à?”‘
“Nhưng anh không biết...”
“Tôi không biết cô gái đó là ai, cô ta làm việc ở đâu hay bất cứ điều gì về cô ta. Tôi chỉ biết rằng cô ta đã mượn tôi một cái bút chì và cúi xuống gần chỗ tôi viết nguệch ngoạc gì đó sau cánh tay che chắn trong khoảng một phút, rồi ngẩng lên và trả bút cho tôi.”
Anh ta nán lại bên cô thêm giây lát. Chẳng còn gì để nói thêm nữa.
“Ước gì tôi có thể giúp cô.”
“Tôi cũng thế.” Cô uể oải nói.
Anh ta quay người rời đi. Cô đứng đó nhìn xuống vỉa hè không biết phải làm gì.
Chừng đó là gần đích nhất mà cô có thể hy vọng với tới. Quá gần, song cũng quá xa.
Cô ngẩng đầu lên. Anh ta quay trở lại chỗ cô.
“Chuyện này có vẻ khiến cô lo lắng.”
“Rất nhiều.” Cô khổ sở thừa nhận.
“Có đầu mối này cho cô đây. Tôi không biết liệu cô có làm việc ở hộp đêm hay không, nhưng ở đó họ có những thói quen kỳ cục. Có một câu lạc bộ sân khấu, nơi mà bọn họ đều tìm đến nấn ná sau khi các hộp đêm đóng cửa. Những ai không biết thì cứ nghĩ họ tới cùng mấy anh chàng diễn viên bảnh trai, tới đó tiệc tùng với sâm panh. À thì vài người thỉnh thoảng có làm vậy thật, nhưng phần lớn họ trong phần lớn thời gian thì không. Cô chẳng tin nổi đâu. Mười lần thì có chín lần họ tìm đến chỗ đó như một đám trẻ sau giờ tan trường. Họ thích như thế. Họ tụ tập ở đó uống sữa mạch nha và thả tóc xõa ra. Hãy tới đó ngó qua một lượt xem. Dù sao thì cũng đáng để thử.”
Là nó! Cô hối hả rời đi nhanh tới mức khiến anh ta tròn mắt nhìn theo. Cô chạy suốt cả quãng đường. Từ chỗ đó chỉ cần xuôi xuống hai dãy nhà là đến nơi.
Họ không hẳn tụ tập đông đảo như Frank đã khiến cô kỳ vọng, có lẽ vì lúc này đã quá muộn và phần lớn họ đã ra về. Nhưng có một nhóm ba người vẫn còn nán lại ở góc xa nhất. Một trong số họ dắt theo một con chó săn sói giống Nga. Hẳn cô này đã dắt nó đi hóng mát trước khi quay về ngủ vào buổi sáng. Cả mấy người họ đều xúm quanh con chó, cho nó những mẩu thức ăn thừa từ đĩa của họ và vui đùa với nó. Chủ nhân của con chó đang mặc một bộ trang phục khá thoải mái. Cô ta khoác hờ trên vai một chiếc áo choàng vạt dài, bên dưới lộ ra hai ống quần ngủ, đôi chân trần không tất xỏ dép lê đi trong nhà. Không ai trong ba người có mái tóc đỏ.
Cả ba ngẩng đầu lên. Sự chú ý của họ rời khỏi con chó và nhanh chóng chuyển sang Bricky.
“Tao đoán cô ấy muốn nói tới Joanie.” Một trong mấy cô gái nói. Cô ta nói thẳng với cô, một cách khá hợm hĩnh. “Cô muốn hỏi cô ta chứ gì?”
Làm sao cô có thể trả lời được, nếu chính cô còn không biết người mình muốn tìm là ai?
Có vẻ mấy cô gái này không biết họ của cô ả đó.
“Tôi chỉ biết cô ta vì gặp ở đây thôi.” Một cô nói.
“Tôi cũng thế”, cô thứ hai thêm vào.
“Tối nay cô ta không xuất hiện.” Cô thứ ba cho hay. “Sao cô không tới khách sạn của cô ta tìm thử xem? Nó ở ngay dưới kia thôi. Tôi nghĩ đó là khách sạn Concord hoặc Compton hay đại loại thế.” Rồi cô này nói thêm. “Tôi không biết liệu cô ta có còn ở đó hay không, nhưng cô ta đã ở đó cách đây hai đêm. Tôi đi cùng cô ta tới tận cửa, để cho Stalin đi dạo một chút.”
Họ nhún vai rũ bỏ cô. Sự chú ý nhỏ nhặt của họ quay trở lại với con chó, như một lựa chọn thú vị hơn trong hai sự lựa chọn đang cạnh tranh sự chú ý.
Khách sạn đó mang mọi dấu hiệu của một trong những nơi ám muội, là chốn hành nghề của đám bạc bịp, những kẻ lừa đảo và những loại ăn sương khác. Tuy nhiên, nó không hề khiến cô thấy sợ. Cô đã gặp qua kiểu cư dân này mỗi tối tại vũ trường hàng năm qua. Cô đi tới bàn lễ tân với vẻ quả quyết của một người không trông đợi sẽ bị từ chối. Một tay trực đêm với bộ mặt cô hồn và một mắt hơi lác, cổ cồn áo sơ mi đã cả tuần chưa thay và hơi thở thoảng mùi rượu hạng bét hơi nhúc nhắc, cựa người chút ít.
Cô thoải mái cúi người qua bàn, chống người trên một khuỷu tay. “Chào đằng ấy.” Cô thì thào như một làn gió thoảng.
Gã kia mở to miệng, chưng ra một khoảng trống giữa hai hàm răng. Nhiều khả năng nó được dự định là một kiểu cười.
Cô dùng bàn tay còn rảnh quay xắc tay của mình quanh quai đeo của nó. Một vòng theo hướng này, rồi một vòng nữa theo hướng ngược lại. “Cô bạn gái của em thuê phòng nào nhỉ?” Cô nói với vẻ dửng dưng, đưa mắt nhìn chằm chằm qua bên kia tiền sảnh mốc meo. “Em muốn chạy ào lên đó một lát và nói với nó một việc mà em đã quên khuấy mất. Joanie ấy mà. Cô nàng mặc cái váy màu lục sáng. Em vừa chia tay nó lúc nãy ở câu lạc bộ, nhưng...”, cô cười khúc khích, “việc này không đợi được, nó quá tuyệt.” Cô cúi gập người xuống và vui vẻ vỗ vào hông mình. “Cô nàng sẽ chết mất!” Cô ré lên.
“Là ai thế, Joan Bristol à?” Gã kia hỏi với ánh mắt xấc xược, như muốn mời cô cùng chia sẻ câu đùa với gã, dù nó là gì đi nữa.
“Phải, phải, phải.” Cô tuôn ra một tràng liên thanh, như thể đó là chuyện đương nhiên vậy. Vừa cười khúc khích, cô vừa chọc vào sườn gã. “Nghe này, anh có muốn nghe chuyện cười không?” Cô cúi đầu hướng ra trước, về phía tai gã, như thể sắp thì thầm gì đó bí mật. Gã cũng nghiêng đầu hưởng ứng.
Đột nhiên, với sự thất thường đặc trưng của một ả gái làng chơi mà cô đang nhập vai, cô đổi ý. “Đợi chút đã, em muốn nói với cô nàng đó trước tiên. Em sẽ cho anh biết khi em quay xuống.” Cô bước đi rời khỏi bàn lễ tân, nhưng chỉ sau khi đã đưa ngón tay chạm khẽ dưới cằm gã. “Giờ hãy ở yên đó nhé, bố già; đừng đi đâu đấy.” Thế rồi, như thể một chi tiết vặt vãnh tiện miệng nói thêm sau vẩn đề quan trọng hơn trước đó, “Mà anh vừa bảo là phòng bao nhiêu ấy nhỉ?”
Gã kia cắn câu. Cô đã nỗ lực rất nhiều cho màn kịch nhỏ này, và nó đã thành công. “Bốn-không-chín, bé con nhé.” Gã nói một cách hòa nhã. Thậm chí gã còn vuốt thẳng cái cà vạt cũ mèm trong tâm trạng phấn khích mà nhất thời cô đã tạo nên. Với sự thân mật không đếm xỉa đến giờ giấc, hết sức gần gũi. Với sự phù phiếm vô hại, nhẹ dạ.
Gã bước về phía bảng điện thoại nội bộ ọp ẹp, thứ mà rõ ràng để mắt tới nó là một phần trách nhiệm của gã.
“Ồ, bỏ nó đi.” Cô cộc cằn nói, vung tay về phía gã. “Cô nàng không cần phải lên mặt với em. Cô ta định bỡn ai chứ? Em biết tỏng là cô nàng đã nợ tiền phòng hai tuần rồi.”
Gã trực đêm bật cười hô hố với điệu cười ám muội, và lời thông báo đáng lẽ sẽ đi qua đường dây nội bộ giờ được chuyển tới tổng đài.
Cô bước vào một buồng thang máy chắc phải được lắp từ thời Cleveland[6] còn tại vị với một cú đánh hông cường điệu thái quá, và cỗ máy cao niên đáng kính kẽo kẹt chậm chạp dịch chuyển lên trên. Cửa thang máy không kín, mà là một cánh cửa song sắt. Khi trần của tầng trệt thông ra phố dần hạ xuống và đưa cô khuất khỏi tầm nhìn của gã trực đêm, dường như bằng sự chuyển động của mình, giống như một tấm màn của sự điềm đạm chậm rãi buông xuống trên các đường nét của khuôn mặt cô, nó cũng cạo luôn lớp vỏ cười cợt phóng đãng khỏi khuôn mặt ấy, đưa những đường nét ấy trở lại dáng vẻ hết sức căng thẳng.
Cô và người đàn ông da màu nhọc nhằn nhích lên chậm như sên qua bốn tầng lầu tưởng chừng vô tận, rồi ông ta dừng thang máy để cô đi ra. Ông ta có vẻ định chờ tới khi cô quay xuống tầng trệt, vì thế cô tống khứ ông ta đi bằng câu nói sỗ sàng, “Thế là được rồi, tôi sẽ ở trên này lâu đấy.”
Ông ta đóng cánh cửa thang máy ọp ẹp lại, và một vệt sáng miễn cưỡng hạ xuống trên tấm kính như bị thứ gì đó lén lút hút đi; tấm kính trở nên tối om, trống trơn.
Cô quay người bước dọc theo hành lang ẩm mốc sáng mờ mờ, theo dải thảm trải sàn chỉ còn gắn kết với nhau nhờ sự bướng bỉnh của khung sợi dệt. Những cánh cửa tăm tối, bí hiểm, bị lãng quên, lần lượt khép nép trôi qua. Tất cả hy vọng đều đã rời bỏ chúng, rời bỏ những người đã đi ra đi vào qua chúng. Chỉ là một dãy những miệng lỗ bị bịt kín nữa của cái tổ ong thành phố khổng lồ này. Con người không nên bước qua những cánh cửa đó, không nên ở lại đằng sau chúng. Ánh trăng chưa từng lọt vào đó, cả những vì sao cũng không, chẳng có gì hết. Chúng còn kinh khủng hơn cả những huyệt mộ, vì trong huyệt mộ chẳng còn ý thức nữa. Và Chúa, cô thầm nghĩ, đã ban huyệt mộ cho tất cả chúng ta; nhưng Chúa đã không ra lệnh đào chúng trong một khách sạn hạng ba ở thành phố New York.
Hành lang này có vẻ dài, nhưng có khi đó là vì dòng suy nghĩ của cô quá nhanh. Chúng đang cuồng loạn cuộn tung lên, trong khi đôi chân đã đưa cô tới cái đích cận kề phía trước, sau chỗ rẽ.
Mình làm cách nào để vào được đây? Và nếu vào được, mình sẽ làm thế nào để biết, để phát giác ra liệu có phải cô ta đã giết người đàn ông đó hay không? Người ta sẽ không nói với mình những chuyện như thế. Về lý mà nói thì cả bang New York uy nghi cũng không thể khiến những lời đó đi qua đôi môi cô ta được, vậy thì làm sao mình có thể, khi chỉ có một mình, không ai trợ giúp? Và dù mình có làm được, thì làm sao mình có thể lôi cô ta trở lại đó, tới tận phố Bảy Mươi Đông, mà không gây ra một vụ huyên náo ầm ĩ, không phải gọi cảnh sát trợ giúp, không kéo Quinn vào một tình thế còn tồi tệ hơn so với tình cảnh mà anh ấy vốn đã lâm vào, không khiến cho cả Quinn và mình bị giam giữ vì nghi vấn, trong nhiều ngày hay nhiều tuần liền?
Cô không biết. Cô không biết tất cả những điều đó. Cô chỉ biết là cô đang bước tới, không thể rút lui được nữa. Cô chỉ có thể cầu nguyện, cầu nguyện với thứ duy nhất trong cả thành phố này sẽ bảo vệ mình, trong khi mỗi lúc lại tiến gần mục tiêu hơn.
Ôi, hỡi đông hồ trên tháp Paramount mà tôi không thể trông thấy từ nơi này, đêm đã gần kết thúc và chuyến xe bus sắp khởi hành rồi. Hãy cho tôi được trở về nhà tối nay.
Những số phòng lần lượt đến gần cô. Sáu bên phía này, bảy bên phía đó, rồi tám lại ở bên này. Tiếp theo là đường cụt, hành lang kết thúc bằng một cánh cửa, cánh cửa cuối cùng nằm vuông góc với các cửa khác. Bốn-không-chín, nó kia rồi. Trông nó thật dửng dưng, không cá tính, nhưng đằng sau nó ẩn chứa toàn bộ vận mệnh, tương lai của cô, trong hình hài chưa nhìn thấy được.
Tấm biển số phòng này, miếng gỗ vuông vắn sẫm màu thô ráp này, định đoạt việc liệu cô có lại được làm con người, hay tiếp tục là một con chuột tại một vũ trường trong suốt phần đời còn lại. Tại sao một cánh cửa lại có nhiều quyền lực với mình đến vậy chứ?
Cô nhìn xuống mu bàn tay, như muốn nói, Có phải là mày không vậy? Hừm, mày quả là có gan đấy! Bàn tay đó vừa gõ lên cánh cửa gỗ, không thèm chờ đợi phần còn lại của cô.
Cánh cửa vụt mở ra trước khi cô kịp có thời gian toan tính bất cứ điều gì, để nghĩ xem sẽ làm gì, và hai người họ nhìn thẳng vào mắt nhau, người phụ nữ không quen biết này và cô. Khuôn mặt khó chịu, bóng láng kề ngay sát mặt cô, gần tới mức cô có thể thấy cả những lỗ chân lông trên đó, như một tấm lưới có mắt nhỏ. Đôi mắt thù địch, cảnh giác gần tới mức cô có thể nhìn thấy cả những mạch máu đỏ vằn.
Hành lang trên lầu trong ngôi nhà của Graves lại trở lại, ký ức của những bước dò dẫm trong bóng tối ở đó cùng với Quinn, và cô biết, một cách vô thức, rằng mình nhất định sẽ lại ngửi thấy cùng thứ mùi nước hoa ấy; đó là thứ đang thực hiện việc kết nối hai trải nghiệm với nhau.
Đôi mắt đã thay đổi. Chuyện này đang diễn ra quá nhanh, vẻ thù địch cảnh giác đã chuyển thành thách thức thẳng thừng. Một giọng nói khàn khàn vọng tới từ đâu đó bên dưới gia nhập cùng họ. Một giọng nói không cho phép ta đùa với nó.
“Nào, có chuyện gì hả? Cô qua vay một cốc đường hay gõ nhầm cửa thế? Cô muốn gì ở đây?”
“Phải”, Bricky nhẹ nhàng nói, “có đấy.”
Cô gái kia hẳn đã rít một hơi thuốc lá trước khi mở cửa, vẫn ngậm khói thuốc trong miệng và nói qua làn khói. Khói đột nhiên tuồn ra từ hai lỗ mũi cô ta thành hai cột xấu xa. Cô ta trông như quỷ Satan vậy. Cô ta trông như một kẻ mà tốt nhất nên tránh xa. Bản thân cô ta vẫn đang sẵn sàng để chuyện đó xảy ra... ít nhất là cho tới lúc này. Cánh tay cô ta gập lại để chuẩn bị đóng sập cửa trước mặt Bricky.
Bricky muốn quay lại và rời khỏi đó thật nhanh. Ôi, cô muốn quay lại và cuốn xéo khỏi đó biết chừng nào. Nhưng cô không thể cho phép mình làm chuyện đó. Cô biết mình sắp bước vào đó, cho dù chỉ là để tự hủy hoại bản thân. Cánh cửa đó phải tiếp tục mở.
Cô dùng bàn chân và khuỷu tay để làm việc đó.
Miệng cô ả kia biến thành một vết sẹo trắng bệch đầy đe dọa. “Tránh ra”, cô ta cảnh cáo bằng tiếng gầm gừ chậm rãi.
“Chúng ta không biết nhau”, Bricky nói, viện đến giọng ngầu nhất của mình ở vũ trường, “nhưng chúng ta có chung một người bạn, vậy đấy.”
Cô nàng Bristol kia hất hàm. “Đợi chút, cô là ai? Tôi chưa bao giờ thấy cô. Cô nói một người bạn là sao?”
“Tôi đang nói về Stephen Graves.”
Một tia kinh hãi lướt qua trên khuôn mặt của Bristol. Nhưng cô ta có thể phản ứng như vậy, Bricky nhận ra, ngay cả khi cô ta chỉ có mặt ở đó, tìm cách tống tiền Graves rồi ra về, không làm thêm điều gì khác.
Đúng lúc đó, trên bức tường trong cùng, lấp ló sau lưng cô ta, hiện lên đường viền mơ hồ của một cái bóng có thể nhận ra được. Không phải một hình bóng rõ nét, chỉ là một vết mờ tạo ra bởi thứ gì đó chắn đường ánh sáng chiếu ra từ một phía trong căn phòng. Cái bóng lúc này dịch chuyển rất khó nhận thấy, trượt sang bên, biến mất, như thể nguyên nhân gây ra nó đã đổi vị trí, rút lui, ẩn mình.
Hai con ngươi như hai hạt kê của cô gái kia hơi liếc sang phía đó trong giây lát rồi lập tức nhìn thẳng trở lại, như thể cô ta đã nhận được một tín hiệu kín đáo nào đó. Cô ta nói giọng căng thẳng, kèm theo hàm ý đe dọa ngấm ngầm, “Có lẽ cô nên vào trong này một chút, và nói cho tôi nghe xem có chuyện gì.” Cô ta mở rộng cửa. Động thái này không phải để thể hiện sự mến khách, mà là với thái độ hách dịch, như thể muốn nói, hoặc cô tự nguyện đi vào, hoặc tôi sẽ túm cổ cô lôi vào.
Trong một giây nữa, Bricky vẫn là một người tự do; hành lang vẫn trải dài không có chướng ngại sau lưng. Cô thầm nghĩ, Đến lúc rồi. Mình hy vọng sẽ sống sót ra khỏi nơi này. Cô bước vào.
Cô chậm rãi bước qua bên cạnh cô nàng kia, xoay người bước vào một căn phòng lòe loẹt sặc mùi khói thuốc. Sau lưng cô, cánh cửa đóng sầm vào khung với âm thanh nghe như một kết cục chẳng lành, như thể nó định giữ nguyên tình trạng đó mãi mãi. Chiếc chìa khóa kêu lách cách hai lần; một lần khi xoay trong ổ khóa, lần thứ hai là khi được rút ra.
Cô ta khóa trái mình ở trong này. Giờ mình phải ở lại và chiến thắng; mình không thể quay ra được nữa.
Trận chiến đã bắt đầu. Một trận chiến mà vũ khí duy nhất của cô là trí tuệ, là thần kinh vững vàng và trực giác nhạy cảm của phụ nữ, những thứ mà thậm chí ngay cả một vũ công nhảy thuê cũng không đánh mất hoàn toàn. Cô biết từ lúc này, mọi ánh mắt mà cô ta lén lút đưa ra xung quanh, mọi cử chỉ dù là nhỏ nhất của cô ta đều phải được tính tới, vì sẽ không hề có sự khoan hồng, không có cơ hội thứ hai.
Căn phòng có vẻ không còn ai khác. Một cánh cửa, nhiều khả năng mở vào phòng tắm, vốn đã đóng chặt khi mắt cô trông thấy nó lần đầu tiên, nhưng quả đấm cửa mới dừng xoay và vẫn chưa dừng lại hẳn. Nếu như tình hình có vẻ là cô không biết quá nhiều, cánh cửa hẳn sẽ giữ nguyên như thế, không mở ra nữa. Nhưng nếu có vẻ cô biết quá nhiều... và mấu chốt cho vai diễn của cô là ở đó; phải tìm ra biết đến đâu là vừa đủ và đến đâu là quá nhiều. Cánh cửa đó sẽ cho cô hay. Cô đã có một cái thước để đo mức tiến triển của mình.
Về phần còn lại, các ngăn kéo ở cái bàn trang điểm tồi tàn đều nhô ra chút ít và không đều nhau, như thể chúng mới được mở ra để vét sạch những thứ bên trong. Một cái túi xách đi đường nằm dưới sàn, ngay cạnh chân giường. Cái túi đầy căng, sẵn sàng để được mang đi. Một số đồ vật nằm vương vãi trên bàn trang điểm, như thể chủ nhân của căn phòng đã quay về trong tâm trạng hoảng loạn và quẳng chúng ra đó. Cái xắc tay đã mở hoác ra, như thể bàn tay cuống quýt lục lọi trong đó tìm một món đồ, đã quá vội vã quên đóng nó lại.
Cô nàng Bristol lén đi vào sau cô, lén lút giẫm bẹp dí thứ gì đó dưới ngón chân cái, nhưng rồi giây lát sau, khi quay sang đối diện với Bricky, giữa các ngón tay cô ta đã lại giữ một điếu thuốc hút dở. Bricky vờ như không hề để ý thấy điếu thuốc vẫn cháy dần nãy giờ bên mép bàn mà không thuộc về ai. Một người đàn ông thường để điếu thuốc bên mép bàn hay một bề mặt nào đó, còn một người phụ nữ thì hiếm khi.
Điều này thực sự quá dư thừa. Quả đấm cửa vừa rồi còn nhúc nhích, cái bóng mơ hồ dịch chuyển trên tường lúc trước đã đủ để nói với cô những gì cô cần biết. Chúng ta có ba người ở đây.
Joan Bristol kéo ghế ra, điều chỉnh và xoay lệch nó để lưng ghế quay về phía cánh cửa đóng kín. Rồi cô ta mời, “Cô ngồi đi.” Cho dù Bricky có muốn ngồi xuống chỗ khác thì cô ta đã cũng biến cái ghế nọ trở thành chỗ duy nhất sẵn có, bằng cách chiếm lấy chiếc ghế độc nhất còn lại. Cô ta ngồi xuống ghế như thể đang ngồi lên những chiếc lò xo bị nén, sẵn sàng bung ra bất cứ lúc nào.
Cô ta liếm ướt đôi môi đánh son đỏ của mình. “Lúc nãy cô nói tên cô là gì ấy nhỉ?”
“Tôi chưa hề nói, nhưng cô có thể gọi tôi là Caroline Miller.”
Cô ta dành cho cô một nụ cười không chút tin tưởng, nhưng điềm nhiên đón nhận câu trả lời.
“Vậy là cô biết một người mang họ Graves, phải không? Hãy nói cho tôi biết xem điều gì khiến cô nghĩ tôi biết anh ta? Anh ta nhắc đến tôi với cô hả?”
“Không”, Bricky nói, “anh ấy không nhắc tới bất cứ ai hết.”
“Vậy thì điều gì đã khiến cô nghĩ tôi...”
Câu này hẳn là một sự lặp lại đơn thuần, và cô muốn bỏ qua điểm này. “Cô biết anh ấy, phải vậy không?”
Joan Bristol lại trầm ngâm liếm lớp son môi thêm chút nữa. “Nói xem, cô mới ghé qua gặp anh ta, phải không?”
“Rất gần.”
“Gần tới mức nào?”
Bricky nói với vẻ hớ hênh có chủ đích. “Tôi vừa từ đó đến đây.”
Tâm trí của cô ả Bristol dần trở nên căng thẳng. Có thể nhận ra điều đó khá dễ dàng từ bên ngoài. Đôi mắt cô ta nhớn nhác hướng tới một điểm vô định nào đó ở phía trên cao sau vai Bricky, như thể tuyệt vọng tìm kiếm thêm hướng dẫn. Bricky cẩn thận tránh không quay đầu dõi theo ánh mắt của cô ta. Dù sao thì ở đó cũng chỉ có một cánh cửa.
“Cô tìm thấy anh ta như thế nào?”
“Đã chết.” Bricky khẽ nói.
Cô ả Bristol không thể hiện một sự ngạc nhiên đúng kiểu. Biểu hiện của cô ta đúng là một sự ngạc nhiên, phải rồi, nhưng là sự ngạc nhiên đầy hận thù và ác ý, chứ không phải sự ngạc nhiên sững sờ. Nói cách khác, không phải tin được báo là điều gây ngạc nhiên, mà là nguồn báo tin đó.
Cô ta không trả lời ngay. Rõ ràng là cô ta muốn “bàn bạc” thêm với cái bóng trên tường. Hoặc nó muốn bàn bạc với cô ta. Âm thanh của nước chảy ra từ một cái vòi vang lên đâu đó sau cánh cửa đóng kín, cái vòi được mở ra rồi nhanh chóng khóa lại; và đó chính là tín hiệu.
“Tôi xin phép một chút.” Cô ta đứng dậy. “Hẳn là tôi đã quên khóa chặt vòi nước trong kia.”
Cô ta rón rén đi vòng qua chiếc ghế được đặt đúng vị trí đắc địa của Bricky và chui vào buồng tắm mà không mở cửa đủ rộng để cho phép bất cứ thứ gì sau cánh cửa lộ ra. Cô ta đóng cửa lại để chắc chắn rằng vị khách không ngoái đầu nhìn vào trong.
Chính cô ta đã đem đến cho Bricky cơ hội. Cơ hội tìm ra bất cứ thứ gì cần tìm, nếu nó có tồn tại. Cơ hội này chỉ kéo dài trong ba mươi giây. Đúng khoảng thời gian cần thiết để nhận một lời chỉ thị thì thào ở trong kia về việc cần tiếp tục ra sao. Và nó sẽ không lặp lại. Từ trước cả khi quả đấm cửa đứng im trở lại trên cánh cửa sau lưng, cô đã đứng dậy. Cô chỉ có thời gian tới tìm ở một chỗ. Cô đã chọn cái xắc tay để mở trên mặt bàn trang điểm. Đó là lựa chọn hiển nhiên. Hơn nữa, đó là thứ duy nhất có thể tiếp cận trong giới hạn thời gian và không gian mà cô có. Các ngăn kéo bàn trang điểm nhiều khả năng đều trống trơn, tình trạng của chúng thể hiện điều đó. Cái túi đi đường nhiều khả năng đã bị khóa, tình trạng đầy căng của nó cho phép cô phỏng đoán như vậy.
Cô lao vụt qua khoảng không gian của căn phòng, nhắm tới chiếc xắc tay đang mở, lùa tay vào trong. Cô biết mình không thể trông đợi một bằng chứng rõ ràng. Như thế sẽ là đòi hỏi quá nhiều. Nhưng cô cần một cái gì đó, bất cứ cái gì cũng được. Và cuối cùng chẳng có gì hết. Son môi, hộp phấn, những thứ thông thường. Có tiếng giấy kêu loạt soạt dưới các ngón tay cô khi chúng hối hả lục lọi một ngăn bên. Cô vội lôi mảnh giấy đó ra, nhìn lướt qua nó. vẫn chẳng có gì. Một hóa đơn tiền phòng khách sạn trị giá 17,89 đô la vẫn chưa được thanh toán, chính là tiền thuê căn phòng họ đang ở. Hẳn là một người đàn ông đã bỏ nó ở đó. Tờ hóa đơn này có giá trị gì chứ? Nó không liên quan gì tới điều cô tìm kiếm.
Dẫu vậy, một bản năng không lý giải được vẫn hét lên với cô, “Hãy giữ lấy nó. Có thể nó sẽ có ích.” Cô hối hả trở lại chỗ ngồi ban đầu, loay hoay với một bên tất đang đi, và mảnh giấy biến mất.
Một tích tắc sau, cánh cửa mở ra, và cô ả Bristol xuất hiện sau khi đã nhận được chỉ thị. Cô ta ngồi xuống, nhìn chằm chằm vào Bricky, rõ ràng để giữ cho sự chú ý của cô không lang thang đi chỗ khác.
“Cô đã làm gì, đến chỗ Graves một mình ư? Hay có ai đó đi cùng cô?”
Bricky dành cho cô ta ánh mắt hiểu biết của một người trên mười bảy tuổi. “Đương nhiên. Cô không cho rằng tôi mang bà tôi đi cùng những lúc như thế chứ?”
Người đối thoại với cô hiểu ra điều mà cô muốn cô ta suy ra từ câu nói đó. “Ồ, những lúc như thế, phải rồi.”
“Phải rồi.”
“Được, ờ...”, cô ta lại liếm son môi lần nữa. “Có ai đó chặn cô lại ngoài cửa và cho cô hay, cô đã biết việc ấy như thế, phải vậy không? Có phải bên ngoài chỗ đó có cớm, đông người xúm lại ồn ào bàn tán, và bằng cách đó cô biết anh ta đã chết, phải vậy không?”
Bricky trả lời những câu hỏi này chỉ bằng trực giác. Cho tới khi những câu hỏi được đưa ra, chính cô cũng không biết chúng sẽ là gì. Chuyện này giống như đi trên một sợi dây thừng mà không có gậy giữ thăng bằng, cũng chẳng có tấm lưới nào bên dưới.
“Không, quanh nhà chẳng có ai hết. vẫn chưa ai biết chuyện. Cô không nghĩ rằng tôi đã bước vào trong nhà sao? Tôi đoán tôi là người đầu tiên tìm thấy anh ấy. Cô thấy đấy, tôi có chìa khóa của ngôi nhà; anh ấy đã đưa nó cho tôi. Tôi đi vào và đèn trong nhà đều đã tắt. Tôi nghĩ có khi anh ấy chưa về, vậy thì tôi sẽ đợi. Tôi lên gác, và thấy anh ấy nằm đó, vừa xơi kẹo đồng.”
Joan Bristol vặn vẹo hai bàn tay đan vào nhau, bồn chồn trước lời tường thuật. “Vậy cô đã làm gì sau đó? Tôi đoán cô đã chạy ra khỏi đó và la lên rằng có án mạng, lôi tất cả thiên hạ tới đó?”
“Cô ả giang hồ” Bricky dành cho cô ta thêm một cái nhìn lõi đời nữa. “Cô nghĩ tôi ngu lắm hả? Tôi đã chuồn ra, phải rồi, rất lẹ, nhưng tôi đã giữ chân mình thật khẽ. Tôi đã tắt hết đèn và khóa cửa lại sau khi ra ngoài, để ngôi nhà lại y như lúc tôi bước vào. Cô em, tôi đã không hở ra lời nào hết. Cô nghĩ tôi muốn dính vào chuyện này lắm chắc? Tôi chưa bị thừa hơi đâu.”
“Cô đã ở đó cách đây bao lâu rồi?”
“Vừa nãy.”
“Vậy tôi đoán là ngoài cô ra thì vẫn chưa có ai...”
“Chỉ cô và tôi.”
Cô có chút cảm giác về chuyển động diễn ra sau lưng mình. Có thể không khí đã lay động ít nhiều. Hoặc có thể là thứ gì đó kêu cọt kẹt.
“Cô tới đây một mình chứ?”
“Tất nhiên. Mọi thứ tôi đều làm một mình. Tôi còn có ai chứ?”
Tấm gương trên bàn trang điểm nằm nghiêng về phía cô, cho phép cô thấy ở phía có bản lề của cánh cửa đang dần xoay ra ngoài. Bề mặt tấm gương không đủ rộng cho việc phản chiếu toàn bộ phần còn lại, không để cô thấy được phần mé cánh cửa đang mở ra.
Cô không có thời gian để quay đầu. Cô chỉ có thời gian để nghĩ. Cánh cửa đã mở ra sau lưng mình. Có ai đó sắp sửa... Điều đó cho thấy hai kẻ này đã gây ra vụ án mạng. Mình đã tìm đúng chỗ. Manh mối của mình đã đúng, và Quinn đã nhầm.
Điều đó giờ chẳng giúp gì được cho cô. Cô đã đòi hỏi điều đó, và giờ cô sắp có nó.
Bristol hỏi thêm một câu, nhằm giữ cô ở trạng thái mất cảnh giác thêm một khoảnh khắc ngắn ngủi nữa, hơn là vì cô ta cần câu trả lời. “Và cô tới để lôi tôi vào vụ này hả? Từ đâu mà cô nảy ra ý tưởng đó vậy?”
Không cần cô phải lo về câu trả lời; không có câu trả lời nào được trông đợi. Hai lần hai đã được tính toán thành công là bốn mà chẳng cần thêm trợ giúp từ cô nữa.
Thứ gì đó dày và có bề mặt nổi sần, đầy những nút thắt nhỏ, đột nhiên ụp xuống quanh mặt cô từ phía sau. Một cái khăn tắm vải bông được cuốn lại thành một tấm bịt mặt, nhiều khả năng là vậy, cho dù cô chẳng có chút hứng thú nào để tìm hiểu xem chính xác nó là gì. Cô bật dậy như bị điện giật, và một bên cổ tay của cô bị những ngón tay mạnh mẽ tóm chặt lấy, bẻ quặt ra sau lưng. Cô ả Bristol đã đứng bật dậy cùng lúc và giữ nốt tay còn lại của cô. Hai cánh tay cô bị bẻ quặt ra sau, bị bắt tréo rồi trói nghiến lại bằng những dải mảnh của thứ gì đó, có lẽ là một cái vỏ gối hay một cái khăn mặt bằng vải lanh bị xé ra.
Cô không thể hít thở tự do trong giây lát, cái khăn thô ráp trùm kín khuôn mặt cô. Ý nghĩ khủng khiếp rằng mình sắp bị ngạt thở đến chết ngay lúc ấy, ngay tại đó chợt đến với cô; nhưng cô mơ hồ nhận ra rằng nếu đó là mục đích của chúng thì hai kẻ kia sẽ không mất công trói cô lại làm gì. Điều đó giúp cô kìm lại cơn vùng vẫy kháng cự hoảng loạn rất có thể sẽ dẫn tới chính cái kết cục nó cố tránh khỏi, như đã xảy ra trong không biết bao nhiêu trường hợp trước đây.
Rồi một bàn tay cứng rắn, khỏe mạnh và to hơn bàn tay của cô ả kia, loay hoay một chút với cái khăn tắm, kéo nó xuống nửa dưới khuôn mặt, cho phép đôi mắt và hai lỗ mũi của cô được giải thoát. Phần còn lại của khuôn mặt bị bịt siết lại còn chặt hơn cả lúc trước, chặt tới nỗi cô có cảm giác như toàn bộ hộp sọ sắp bị bóp vụn dưới áp lực. Nhưng ít ra thì cô có thể đưa không khí vào phổi và làm dịu cơn ho dữ dội.
Bristol vẫn đang đứng trước mặt khi đôi mắt cô được giải thoát, cô ta đang nói với kẻ nào đó đứng sau lưng cô mà Bricky không thấy được. “Giờ hãy cảnh giác cái miệng của cô ta, Griff. Anh có thể nghe thấy mọi thứ qua mấy bức tường này đấy.”
Một giọng đàn ông hằm hè vang lên, “Xử lý chân cô ta... Đôi giày cao gót đang đạp vào chân tôi đây này.”
Cô ả ngồi phục xuống khuất khỏi tầm mắt – cái khăn tắm trắng xóa ngăn cản tầm nhìn xuống – rồi Bricky cảm thấy hai mắt cá chân mình bị dập vào nhau và những dải vải mỏng được thành thạo quấn quanh và trói chặt chúng. Cô trở thành một khối bất lực, bị trói chặt ở cả hai đầu.
Joan Bristol lại xuất hiện trong tầm mắt cô. “Giờ thì làm gì đây?”
Giọng đàn ông nói, “Cô không hiểu rằng chúng ta buộc phải...?” Hắn không nói hết câu. Bricky đoán được ý nghĩa còn dang dở của nó một cách gián tiếp, qua thái độ đột nhiên căng thẳng trên khuôn mặt cô nàng kia. Cô cảm thấy máu mình lạnh ngắt. Gã đàn ông nói ra câu đó bình thản, như thể chúng đang nói đến chuyện kéo một tấm rèm hay tắt một cái đèn.
Cô ả đang hoảng. Không phải vì ái ngại cho Bricky, mà vì sợ cho chính bọn chúng.
“Không phải ở đây, trong căn phòng này cùng với chúng ta, Griff.” Cô ta rầu rĩ nói. “Người ta biết chúng ta ở đây. Xin anh đấy!”
“Không, cô không hiểu ý tôi rồi.” Gã đàn ông giải thích. “Tôi không nói tới chuyện thịt luôn, không phải thế.” Hắn tới bên cửa sổ, cẩn thận kéo nó xuống, như cách một người đàn ông bình thường chăm lo cho nhà cửa. Một mảng mốc được ánh đèn chiếu sáng hiện lên trên bức tường gạch trống trơn ở phía đối diện. Hắn nhô đầu ra trước và nhìn xuống dưới dò xét. Rồi hắn quay lại và khẽ nói với cô ả. “Bốn tầng hẳn là đủ.” Hắn làm cử chỉ đầy ngụ ý với một bàn tay. “Ba chúng ta uống một ly trên này, cô ta ra chỗ cửa sổ, cố mở nó ra để đón chút khí trời, cửa kẹt và... Chuyện đó đã xảy ra bao nhiêu lần rồi nhỉ?”
Trái tim của Bricky giống như một ngọn đuốc rực cháy đang cố thiêu trụi lồng ngực để tìm đường thoát ra ngoài.
“Phải, nhưng luôn có một cuộc điều tra. Lần này chuyện đó sẽ không hay ho gì cho chúng ta đâu, Griff. Chúng ta sẽ bị mắc kẹt ở đây hàng giờ liền, phải trả lời đủ loại câu hỏi của cảnh sát, họ hoàn toàn có thể điều tra hơi xa một chút... và trước khi anh kịp nhận ra thì chuyện kia đã rơi vào tầm ngắm.”
Cô ta hướng về phía gã một cái nhìn chỉ dành cho hai người họ với nhau, nhưng lúc này có ba người hiểu ý nghĩa của nó.
“Vậy chúng ta sẽ làm gì, bỏ cô ta lại chắc?” Hắn cáu kỉnh gắt lên.
Cô ả Bristol đưa các ngón tay bối rối lùa lên tóc.
“Hãy nhìn mớ bòng bong mà anh đã lôi chúng ta vào mà xem.” Cô ta càu nhàu với giọng the thé. “Thế quái nào anh lại phải...”
“Câm đi.” Gã đàn ông nóng nảy đáp.
“Cô ta đã biết chuyện rồi. Anh đã làm gì để khiến cô ta tìm đến tận đây vậy?”
“Vậy thì thế quái nào cô không chịu làm cho xong chuyện ngay từ đầu đi, như đáng lẽ cô phải làm?”
“Tôi không thể kiểm soát được hắn ta, hắn đã tuột khỏi tầm khống chế. Tôi chỉ xuống dưới cổng và đưa anh vào vì nghĩ rằng anh có thể làm hắn sợ, khiến hắn phải nhượng bộ. Như thế không có nghĩa là anh phải xử lý hắn!”
“Cô trông đợi tôi sẽ làm gì hả, khi hắn chộp lấy nó như thế; buông tay ra để hắn giật nó khỏi tay tôi chắc? Cô đã thấy mọi chuyện. Tôi phải bắn hắn để tự vệ. Mà giờ nói về chuyện đó thì ích gì nữa? Cô đã làm hỏng việc và thiệt hại đã xảy ra rồi. Điều chúng ta phải nghĩ tới bây giờ là mối phiền toái này. Tôi vẫn nghĩ tốt nhất là...”
“Không, tôi nói với anh đây, Griff; không! Làm thế sẽ là ngu ngốc chứ không phải khôn ngoan. Cứ để cô ta nói thoải mái sau khi chúng ta đã rời đi. vẫn chỉ có lời nói của cô ta chống lại chúng ta thôi. Chẳng phải cô ta cũng đến đó hay sao? Cô ta cũng có khả năng gây ra chuyện đó chẳng kém gì chúng ta. Chúng ta hãy rời khỏi đây và...”
Gã đàn ông mở cửa tủ tường ở phía bên kia căn phòng, ngó vào trong. “Chỗ này thì sao? Hãy nhét cô ta vào đây, ném chìa khóa đi. Vách trong của nó là một bức tường không giáp buồng nào cả, vì thế sẽ chẳng có ai nghe thấy tiếng cô ta. Như thế hẳn là đủ để chúng ta có lợi thế về thời gian. Sẽ phải mất nhiều ngày trước khi người ta tính đến chuyện phá cánh cửa này ra...”
Hai kẻ đó xốc lấy hai bên người cô lôi đi, kéo hai chân cô lệt xệt phía sau. Chúng ném cô vào trong tủ tường như một bịch quần áo được bọc kín chống mối mọt.
“Tốt hơn nên buộc cô ta vào thứ gì đó”, gã đàn ông nói, “nếu không cô ta sẽ cố thúc cả người vào cửa.” Hắn dùng những dải vải xé ra từ ga trải giường buộc thành một cái thòng lọng, luồn nó dưới hai cánh tay cô, buộc quanh cây treo quần áo đằng sau. Cô bị bỏ lại ở tư thế đứng thẳng, hai bàn chân chạm sàn, nhưng không thể nhúc nhích khỏi bức vách trong cùng của tủ tường.
Cô ả nói, “Cô ta có thể hít thở được không, trong trường hợp người ta mất thời gian để...?”
“Tôi không biết.” Gã đàn ông tàn nhẫn đáp lại. “Cô ta sẽ phải tự tìm hiểu chuyện đó và nói cho chúng ta biết sau.”
Chúng đóng tủ lại. Bóng tối đột ngột lan ra bao trùm mọi thứ. Chìa khóa được rút ra, chiếc chìa mà hai kẻ kia sẽ ném đâu đó bên ngoài. Cô vẫn có thể nghe thấy tiếng chúng qua cánh cửa thêm một lúc nữa, bận rộn hoàn tất những công việc chuẩn bị cuối cùng để lên đường.
“Lấy túi chưa?”
“Thế còn lão ma cô dưới bàn lễ tân thì sao? Lão ta chắc chắn đã thấy cô ả lên đây.”
“Chuyện đó tôi có thể xử lý dễ dàng. Chai whisky lúa mạch tôi mới mua hồi chiều đâu? Tôi sẽ dừng lại mời lão một ly. Lão luôn đi vòng ra đằng sau chỗ mấy hộp thư để ực một ly. Cô đi ra ngoài trong khi lão ở trong đó, và làm như thể cô ả kia đang đi cùng cô, hãy nói chuyện một mình hay làm gì đó.”
“Thế còn tay trực thang máy?”
“Chúng ta sẽ đi cầu thang bộ. Chúng ta chẳng phải đã làm thế vô khối lần trước đây, khi phát chán việc phải chờ hắn vác xác lên tới nơi rồi hay sao? Nút bấm không hoạt động, vậy thôi; hắn không nghe thấy chúng ta bấm chuông gọi. Đi nào, cô sẵn sàng chưa?”
“Ê, tôi không tìm thấy hóa đơn khách sạn. Chúng ta cần thanh toán nó trước khi rời khỏi đây. Chắc là nó đã rơi đâu đó trong phòng...”
“Đừng bận tâm tới nó; mặc xác nó. Lão ta có thể viết một tờ mới cho tôi dưới bàn lễ tân...”
Cửa ra vào đóng lại, và chúng bỏ đi.