Cô bước vào hành lang bên trong. Giờ cô chỉ còn lại một mình. Lần đầu tiên cô được ở một mình, kể từ tám giờ tối nay. Cô không còn một cánh tay đàn ông ôm quanh mình. Cô không còn cảm thấy hơi thở của người khác phả vào khuôn mặt mình. Giờ chỉ còn mình cô. Cô không biết thiên đường trông như thế nào; nhưng cô hình dung rằng khi người ta chết đi và lên thiên đường, nơi đó hẳn phải như thế này – được ở một mình, chẳng có gã đàn ông nào. Cô đi qua một ngọn đèn đơn độc ở cuối hành lang, trắng bệch, mệt mỏi, rồi bước lên những bậc cầu thang nhếch nhác. Thoạt đầu là với dáng người khá thẳng, bước đi khá quả quyết, nếu không muốn nói là vui vẻ; cuối cùng, sau trọn hai dãy cầu thang, cô sụp xuống trên hai đầu gối, bước đi lắc lư lảo đảo, cố giữ cho bản thân đứng vững, lúc nhờ tựa vào tường, lúc nhờ tựa vào hàng tay vịn bằng gỗ.
Cô đi một mạch lên tới đỉnh cầu thang, rồi trong lúc vẫn đang thở hổn hển, tựa người vào một cánh cửa, ngay đầu cầu thang, cúi gằm mặt xuống như thể đang chăm chú nhìn vào thứ gì đó dưới sàn. Không phải thế. Chỉ đơn giản là cô mệt.
Rồi cô lại lập tức di chuyển. Thêm một điều nho nhỏ nữa phải làm, một điều nhỏ nhặt nữa thôi, rồi tất cả sẽ kết thúc. Tất cả sẽ kết thúc, cho tới tối mai, cũng vào giờ này, rồi mọi thứ sẽ lại bắt đầu một lần nữa. Cô lấy chìa khóa phòng, máy móc tra vào ổ, đầu vẫn cúi gằm. Cô đẩy cửa, rút chìa ra và đóng sập lại sau lưng. Không phải bằng bàn tay hay quả đấm cửa, mà là bằng đôi vai, đổ ập ra sau, tựa vào cánh cửa để nó đóng sập lại.
Cô cứ đứng im như thế, ngửa người lên, đưa tay lần tìm công tắc và bật đèn lên. Đôi mắt cô cúi gằm xuống khi làm việc đó, như thể chúng không muốn nhìn thấy nó ngay lập tức, không muốn nhìn nó sớm hơn thời điểm chúng buộc phải làm thế.
Đây là nó. Đây là nhà. Đây. Nơi này. Đây là thứ mày đã gói ghém va li và tìm tới để chuốc lấy. Đây là thứ mày đã mong ngóng khi mày mười bảy tuổi. Đây là thứ mà vì nó mày đã lớn lên và trở nên xinh đẹp, duyên dáng. Khắp cả nơi này, mày khó lòng có chỗ để nhúc nhích, nó vương vãi đầy những mảnh vỡ, chất đống đến tận mắt cá chân, đến tận đầu gối. Mày không thể nhìn thấy chúng. Những giấc mơ tan vỡ, những hy vọng dập nát, những tiếng cười tắt lịm.
Ở đây, đôi lúc mày đã khóc, khẽ khàng và âm thầm với chính mình, giữa đêm khuya. Nhưng có những buổi tối khác còn khủng khiếp hơn, mày chỉ nằm đó, mắt ráo hoảnh, chẳng cảm thấy gì, cũng chẳng còn để tâm đến điều gì nữa. Tự hỏi liệu có mất quá lâu để già đi hay không, liệu có mất quá lâu không... và hy vọng là không.
Cuối cùng cô cũng rời khỏi cánh cửa, và trong lúc bỏ mũ, rũ chiếc áo khoác ra, bước lại gần ngọn đèn hơn, mệt nhoài, xanh xao như tình trạng của cô lúc đó, câu hỏi đã được trả lời. Phải, sẽ mất nhiều thời gian. Và đó sẽ lại là một nỗi hổ thẹn đáng nguyền rủa nữa.
Cô loạng choạng gieo mình xuống ghế, lóng ngóng loay hoay với mớ dây giày, rồi lột chúng ra. Đây luôn là việc đầu tiên cô làm ngay khi bước vào phòng. Đôi chân không được tạo ra để làm những việc mà đôi chân của cô phải làm. Nếu chúng phải nhảy thì sẽ là do ý muốn của chúng, một cách vui vẻ, trong một chốc, một hay hai điệu. Chúng không được tạo ra để bị ép buộc vào các vũ điệu, trong suốt một quãng thời gian dài vô tận vượt quá sức chịu đựng.
Cô lập tức xỏ chúng vào một đôi dép nỉ méo mó có phần cổ gần sát mắt cá chân, ngoác ra như đang ngáp. Sau đó cô ở nguyên tại chỗ thêm ít lâu, ngủ gà ngủ gật, đầu ngật ra sau qua đỉnh lưng tựa của chiếc ghế, hai cánh tay buông thõng xuống sàn, trước khi làm bất cứ điều gì trong số những điều ít ỏi cần được làm.
Có một chiếc giường nhỏ kê sát tường, phần giữa hơi võng xuống ngay cả khi không có ai nằm trên, như thể đã hao mòn sau nhiều năm bị người ta nằm lên. Đôi lúc cô tự hỏi, liệu những người đã ngủ trên chiếc giường đó trước cô, họ có từng khóc như cô đã khóc hay không? Đôi lúc cô tự hỏi, liệu giờ những người đó đang ở đâu? Đang bán những túi oải hương ở một góc phố dưới mưa, đang cọ sàn các tiền sảnh văn phòng lúc rạng sáng; hay có lẽ lúc này đang nằm trên một chiếc giường khác, vĩnh viễn – một chiếc giường chắc chắn hơn, bên trên là thảm cỏ – mọi rắc rối của họ đều đã lặng yên.
Ở giữa phòng, dưới bóng đèn, có một cái bàn và một chiếc ghế có lưng tựa thẳng được kê bên cạnh. Trên mặt bàn có một phong bì, đã dán tem và ghi địa chỉ, sẵn sàng để được gửi đi, chỉ còn chờ lá thư được nhét vào và mép gấp được dán lại. Trên phong bì đề, “Bà Anna Coleman, Glen Falls, Iowa”, và bên cạnh là tờ giấy viết thư theo dự kiến sẽ được nhét vào trong, vẫn còn trắng tinh, ngoại trừ bốn từ. “Thứ Ba. Gửi mẹ...” Rồi không có gì thêm nữa.
Cô đã có thể nhắm mắt mà viết cho xong lá thư, cô đã từng viết quá nhiều lá thư như thế rồi. “Công việc của con đang rất tốt. Chương trình con tham gia biểu diễn hiện đang rất ăn khách, thậm chí còn phải từ chối người muốn mua vé. Tên chương trình là...”, rồi cô chọn lấy một cái tên từ các cột quảng cáo nhà hát và viết vào. “Con không diễn nhiều trong chương trình đó, chỉ nhảy một chút, nhưng họ đã nói đến việc cho con một vai có thoại vào mùa diễn tới. Vậy nên mẹ thấy đấy, không có gì phải lo lắng cả...”, những lời đại loại như thế. Rồi sau đó, “Làm ơn đừng hỏi liệu con có cần tiền không, điều đó thật tức cười, con không chấp nhận những điều như thế đâu. Thay vào đó, con sẽ gửi cho mẹ chút ít. Đáng lẽ phải nhiều hơn nữa, họ trả lương cho con cũng khá, nhưng e là con đã hơi hoang phí, mẹ biết đấy, nghề này luôn đòi hỏi phải duy trì ngoại hình. Và căn hộ này nữa, bởi vì nó rất đẹp, nên giá thuê cũng khá cao, với cô hầu da màu và đủ thứ. Nhưng tuần sau con sẽ cố làm tốt hơn...” Và cuối cùng hai tờ bạc một đô la sẽ được nhét vào phong bì, với máu của cô thấm đẫm vô hình trên khắp bề mặt chúng.
Đại khái là thế. Cô có thể hoàn thành nó ngay cả khi nhắm mắt. Có lẽ cô sẽ hoàn tất việc này vào ngày mai, khi tỉnh dậy. Cô sẽ sớm hoàn tất nó; lá thư đã nằm trên bàn ba ngày nay. Nhưng không phải là tối nay. Có những lúc cô quá mệt mỏi và kiệt quệ, thậm chí là để nói dối. Và rất có thể sẽ có điều gì đó len lỏi vào giữa các dòng thư.
Cô đứng dậy, bước tới một chỗ được bố trí như tủ bếp, một cái hốc không có thứ gì che hay đóng lại, há hoác ra trên bức tường trong cùng. Trong cái hốc này, trên một chiếc giá có đặt cái bếp đun, với một đường ống cao su chạy lên nối vào một đầu cấp ga thò ra từ bức tường cao quá đầu người. Cô đánh diêm, mở khóa đầu cấp ga và một vòng lửa nhỏ màu xanh lờ đờ cháy lên. Cô đặt lên bếp bình cà phê bằng thiếc móp méo, đun lại chỗ cà phê đã pha trước đó, khi mà việc đi lại còn chưa khổ sở như bây giờ.
Sau đó, hai tay cô tìm tới vai chiếc váy đang mặc, cởi nó ra. Bỗng cô chợt nhớ ra và nhìn về phía cửa sổ hướng ra phố. Rèm cửa vẫn để đó, chưa kéo xuống. Ở phía đối diện có các nóc nhà mà đôi lúc những kẻ sâu mọt vẫn leo lên. Có một lần, vào mùa hè năm ngoái, một tiếng huýt sáo nhạo báng đã vọng tới, báo cho cô hay chuyện đó. Kể từ lần đó, cô không bao giờ quên kéo rèm nữa.
Cô để nguyên cái váy trên người thêm một lúc, tới bên cửa sổ để kéo rèm xuống. Rồi khi nắm lấy dây kéo rèm, cô chợt dừng lại và quên mất không thực hiện tiếp dự định của mình nữa.
Anh ta vẫn ở dưới kia. Anh ta vẫn đang nấn ná, dưới đường, ngay trước ngôi nhà. Chính là người đàn ông ban nãy đi bộ về cùng cô. Ánh đèn đường rọi xuống, giúp cô chắc chắn rằng không hề có chút nhầm lẫn nào. Đó chính là anh ta.
Anh ta đang đứng ngoài đó, ở sát mép vỉa hè, như thể đang lạc lối, như thể sau khi đã đi xa tới tận đây, anh ta không còn biết sẽ phải đi đâu nữa. Như thể việc cô bỏ lên nhà đã làm anh ta mất phương hướng. Anh ta đứng im, nhưng không hẳn là bất động. Anh ta vẫn liên tục cử động chút ít, đổi trụ từ chân này sang chân kia như chiếc compa đang bồn chồn.
Thứ đã níu giữ anh ta ở đó không phải là cô, điều này thể hiện rõ ràng trong tư thế của anh ta. Anh ta quay lưng về phía cô, hay ít nhất cũng một phần như vậy; anh ta đang gần như xoay một bên người về phía cô, song song với hướng đường phố. Anh ta không nhìn lên, tìm kiếm cô trên các ô cửa sổ. Anh ta không nhìn vào trong, tự hỏi mình đã thấy cô rời đi qua cánh cửa nào. Anh ta đang làm như cách anh ta đã làm, khi cô vẫn còn bước bên cạnh, nhìn chằm chằm có chủ ý và liên tục xen vào những khoảnh khắc gián đoạn ngắn ngủi về phía xa, về cuối phố và xa hơn nữa, săm soi màn đêm ở hướng họ vừa đi qua, anh ta và cô. Một cách bồn chồn, lo lắng, sợ hãi. Phải, không thể nhầm lẫn về cảm xúc mà cả cơ thể anh ta biểu thị, thậm chí là từ trên cao ba tầng gác. Đó là sự sợ hãi.
Cho dù cô hoàn toàn chắc chắn rằng việc này không xâm phạm gì tới cô, không có gì liên quan đến cô, thế nhưng vẫn có gì đó khiến cô khó chịu. Anh ta muốn gì vậy? Tại sao anh ta không đi chỗ khác để làm trò tìm hình dõi bóng? Anh ta nấn ná trước cửa nhà cô làm gì? Cô muốn tránh xa khỏi chúng, cô muốn quên chúng đi, tất cả những gì có liên quan tới vũ trường. Và anh ta là một trong những thứ đó. Tại sao anh ta không trở lại nơi mình thuộc về đi?
Miệng cô dần mím lại thành bộ dạng cau có nhăn nhúm, và hai bàn tay cô tìm đến gờ bám tay bên dưới khung cửa sổ. Cô sắp sửa đẩy cánh cửa sổ lên cao, rồi nhô người ra, hét xuống, “Giờ hãy đi tiếp đi, khốn kiếp! Đi làm tiếp việc của anh đi! Anh đang đợi cái gì dưới đó hả? Đi đi, bước mau, không thì tôi sẽ gọi cớm đấy!” Và cả những lời khác bằng giọng chát chúa của một bà bán cá mà cô biết quá rõ cần phải nói ra sao, những lời hẳn sẽ buộc anh ta phải nhổ rễ rời đi dù có miễn cưỡng đến đâu chăng nữa, hoặc nếu không cũng buộc anh ta phải đương đầu với những ô cửa sổ được mở ra để tìm hiểu xem đâu là nguyên nhân gây nên tràng đả kích ấy.
Nhưng trước khi cô kịp làm thế, có chuyện đã xảy ra.
Anh ta quay đầu nhìn về hướng khác, vẫn nhìn dọc theo phố, nhưng giờ là về phía Tây, về phía đường Mười và xa hơn. Đây chỉ là một khoảng ngưng, một chút trì hoãn, rồi anh ta lại nhìn về hướng cũ. Thế rồi đột nhiên cô thấy anh ta hơi chúi người xuống, như thể định bước đi rồi lại thôi.
Chỉ thêm một khoảnh khắc nữa, không hơn, anh ta chờ đợi để khẳng định cái nhìn thoáng qua đầu tiên, cho dù anh ta đã thấy gì chăng nữa, rồi sau đó lao vụt qua một bên, mất hút khỏi tầm mắt, rồi di chuyển vào đâu đó phía dưới tầm quan sát từ trên cao của cô. Từ hướng di chuyển, rõ ràng anh ta đang ẩn nấp trong ngưỡng cửa của tòa nhà nơi cô đang sống.
Trong một khoảnh khắc, không có chút dấu hiệu nào của thứ đã khiến anh ta phải vội vã rút lui. Con phố vươn dài ra không chút sinh khí bên dưới, tối sầm xám xịt như thép, chỉ trừ nơi quầng sáng đìu hiu của cột đèn làm nó trắng ra đôi chút.
Cô ở yên đó, áp mặt vào cửa sổ, chờ đợi, quan sát. Thế rồi đột nhiên, không có bất cứ âm thanh nào cảnh báo trước, một thứ gì đó trắng toát, có hình dạng như một chiếc thuyền lật úp, lao vụt qua, bồng bềnh trên những con sóng tối tăm của màn đêm. Cô phải mất một lúc mới nhận ra đó là gì, cái thứ đang ngấm ngầm chạy dọc phố ấy. Đó là một chiếc xe tuần tra nhỏ đang thực hiện công việc thường ngày lúc đêm muộn. Chạy tới mà không bật đèn hay phát ra tiếng động ầm ĩ, để khiến những kẻ bất lương phải bất ngờ.
Nó chẳng có mục tiêu nào, nó không đang truy lùng ai, càng không phải là anh ta; cô dám chắc điều đó qua cách di chuyển uể oải của chiếc xe. Nó chỉ đang đi tuần và ngẫu nhiên rẽ qua phố này.
Chiếc xe lúc này đã đi qua. Cô thoáng ngập ngừng, lưỡng lự xem có nên mở cửa sổ và gọi chiếc xe đó dừng lại, bảo với họ, “Có một người nấp trong hành lang ở dưới này. Hãy hỏi xem hắn định làm gì” hay không. Cô đã không làm thế. Mà tại sao mình phải làm chứ, cô tự nhủ. Anh ta chưa hề làm gì gây hại cho cô, cũng chưa làm gì sai trái, theo như cô biết. Cô không chịu nổi anh ta, nhưng cô cũng chẳng chịu nổi mấy tay cảnh sát tuần tra kia. Anh ta không phải anh trai cô, cô cũng chẳng phải bảo mẫu của anh ta.
Dù sao thì bây giờ chiếc xe cũng đã đi quá xa. Những người ngồi trong xe thậm chí chẳng thèm nhìn về phía cửa ra vào của tòa nhà này. Chiếc xe chạy xuống góc đường kế tiếp, giống một chiếc thuyền hơn bao giờ hết, trong dòng chảy vô hình từ sự di chuyển của chính nó, thu lại chỉ còn bằng một hạt đậu, rồi rẽ phải và khuất hẳn.
Cô đợi thêm vài giây để xem liệu anh ta có đi ra không. Không hề. Con phố trước tòa nhà vẫn vắng tanh, như thể anh ta chưa từng ở đó. Anh ta đứng khuất khỏi tầm nhìn ở đâu đó, nơi anh ta đã chạy tới, khi lòng can đảm đã cạn sạch.
Cuối cùng, cô kéo rèm xuống như đã định làm lúc đầu, trước khi tất cả những biến cố vừa rồi diễn ra. Cô rời khỏi cửa sổ nhưng không tiếp tục việc thay đồ đã bị trì hoãn. Cô đi tới chỗ cửa ra vào, đứng áp tai lắng nghe. Sau đó cô chậm rãi mở nó ra, đặt tay lên rìa để làm lặng các tiếng động khi mở. Cô bước ra hành lang trống trơn, im lặng bước đi trên đôi dép mềm.
Không có âm thanh nào cho thấy còn ai khác đang cử động ngoài cô, ai khác đang ở trong tòa nhà này, ở trên hay ở dưới, một người không thuộc về nơi này. Cô quay lại nơi đầu cầu thang có tay vịn, thận trọng cúi người qua lan can nhìn xuống khoảng sáng lờ mờ bên dưới, qua cả ba tầng lầu, xuống tận dưới đáy.
Cô không thể trông thấy gì ở tư thế này, các đợt cầu thang bắt chéo quá nhiều. Cô dịch người thêm chút nữa và có góc nhìn chéo xuống tận các bậc thang dưới cùng.
Cô thấy anh ta ở dưới đó. Anh ta đang ngồi co ro trên dãy bậc thang đầu tiên, buồn bã tựa vào tay vịn, ở khoảng giữa chiếu nghỉ đầu tiên và chân cầu thang. Hai chân anh ta co lên sát người. Anh ta đã bỏ mũ ra; cái mũ hẳn đang được để trên bậc thang cạnh đó, song cô không thể thấy được từ xa thế này. Thứ duy nhất cử động ở anh ta là đôi tay, còn lại thì anh ta ngồi khá bất động. Cô có thể thấy bàn tay anh ta liên tục lùa qua mái tóc, hết lần này tới lần khác, như thể một tình thế cực kỳ khó khăn đang giày vò anh ta.
Anh ta không thể cứ ở đó như thế. Anh ta không thể ở dưới đó, ở ngoài lối đi cả đêm. Ấy thế nhưng, một lúc sau, khi cô cho anh ta biết về sự hiện diện mà anh ta không thể ngờ tới, không hề có một tràng quát tháo gay gắt như cô đã nghĩ ban đầu, lúc vẫn còn đứng bên cửa sổ. Có gì đó đã khiến cô đổi ý. Có lẽ là bộ dạng vô vọng, bất lực của anh ta khi ngồi co ro dưới đó. Ai biết được; bản thân cô cũng chẳng rõ. Cô bộc lộ sự có mặt của mình mà không khiến ai khác biết đến sự hiện diện của anh ta. Ít ra thì cô cũng đã cho anh ta một cơ hội. Đã một thời gian dài kể từ lần cuối cô cho ai đó một cơ hội. Và một quãng thời gian dài gần tương tự đã trôi qua kể từ lần cuối cùng bản thân cô có một cơ hội.
Cô “suỵt” một tiếng khá to nhưng len lén, để thu hút sự chú ý của anh ta, để gửi tới anh ta một tín hiệu gần như tiếng huýt gió.
Anh ta quay đầu ngước lên, giật mình, sẵn sàng bật dậy, cho tới khi định vị được khuôn mặt của cô ló ra ở tít trên khoảng không mở ra giữa họ.
Cô hất hàm dứt khoát về phía anh ta, một yêu cầu lặng lẽ bảo anh ta lên chỗ cô. Anh ta lập tức bằng lòng và đứng lên; cô mất dấu anh ta trong giây lát, nhưng có thể nghe tiếng anh ta đang hối hả leo lên cầu thang, mỗi lần bước lên hai hay ba bậc. Thế rồi anh ta xuất hiện ở dãy cầu thang cuối cùng, rẽ lần cuối theo hàng tay vịn và dừng sững lại bên cô, thở hổn hển. Anh ta nhìn cô dò hỏi, đồng thời cũng có vẻ hy vọng dè dặt, như thể bất cứ lời gọi nào dành cho anh ta lúc này đều dứt khoát là điều tốt.
Cô thấy anh ta trông có vẻ trẻ hơn so với lúc trước, theo cách nào đó. Trẻ hơn so với cách cô nhìn nhận về anh ta ở chỗ vũ trường. Ánh sáng, và đặc biệt là bản thân bối cảnh ở nơi đó, đã khiến tất cả mọi người trông nham hiểm và từng trải hơn so với con người thực của họ. Cô biết anh ta không hề thay đổi, thứ đã thay đổi chắc chắn phải là ấn tượng của cô về anh ta. Có lẽ hình ảnh anh ta ngồi trên cầu thang mất phương hướng mà cô vừa thấy đã điều chỉnh lại bức chân dung của anh ta trong tâm trí cô. Và nói cho cùng, hình ảnh của mọi người trong mắt bạn đều đã phải đi qua bộ lọc cá nhân, chứ không phải bản chất thực tế của họ.
“Rắc rối của anh là gì vậy, người xa lạ? Anh đang nghĩ gì trong đầu thế?” Cô hỏi với giọng rít lên gay gắt, được nhấn mạnh một cách có chủ đích, nhằm loại bỏ đi sự quan tâm ẩn chứa trong hành động cất tiếng hỏi, bởi đáng ra cô chỉ cần mặc kệ anh ta dưới cầu thang. Bởi vì cô đang phá vỡ một trong các nguyên tắc mà cô tự áp đặt cho mình, thế nên cô đã làm nó theo cách hằn học nhất có thể.
Anh ta lắp bắp, “Không có gì... tôi... tôi... tôi không hiểu ý cô”, và khổ sở ấp úng không thành lời. Rồi anh ta trấn tĩnh lại. “Tôi chỉ đang ngồi nghỉ dưới đó một chút thôi.”
“Phải.” Cô lạnh lùng nhận xét. “Người ta ngồi nghỉ trên cầu thang của những tòa nhà xa lạ, vào lúc hai giờ sáng, khi đầu óc người ta hoàn toàn trống rỗng. Tôi biết mà. Nghe này, tất cả đều ăn khớp. Tôi chẳng cần phải xòe ngón tay ra để đếm. Cái điệu bộ liên tục ngoái lại đằng sau của anh trên suốt quãng đường tới đây, anh không nghĩ là tôi đã nhận ra à? Cái cách anh gà gật trong góc, khi tôi từ vũ trường bước ra...”
Anh ta đang nhìn xuống thanh vịn bên cạnh, như thể không hề trông thấy nó cho tới tận lúc này. Anh ta không ngừng xoay xoay lòng bàn tay lên đó, như thể đang đánh bóng một chỗ nào đó, một chỗ không tài nào làm sạch được.
Phải, mỗi phút trôi qua anh ta lại càng trẻ hơn. Lúc này anh ta giảm xuống chỉ còn khoảng hai mươi ba tuổi, nhiều khả năng là dưới tuổi thực. Và khi anh ta bước vào vũ trường lần đầu tiên, anh ta... à, chuột cống làm gì có tuổi. Hay ít ra thì ta cũng không bận tâm tìm hiểu điều đó.
“Anh bảo tên anh là gì ấy nhỉ? Tôi biết là anh đã từng nói rồi, nhưng giờ nó đã tuột khỏi đầu tôi.”
“Quinn Williams.”
“Quinn? Tôi chưa bao giờ nghe thấy cái tên này trước đây.”
“Nó từng thuộc về mẹ tôi, trước khi bà ấy lấy chồng.”
Cô nhướng mày. Không phải vì cái tên đó, mà là vì cuộc trò chuyện đang diễn ra giữa họ. “Được, nếu như anh đã nói vậy”, cô gạt chủ đề đó sang một bên. “Đó là chuyện của riêng anh. Cứ bám lấy nó nếu anh muốn.”
Có điều gì đó trong chính căn phòng của mình khiến cô chú ý. Một tiếng lạch tạch do va đập rất khẽ mà cô có thể nhận ra ngay lập tức từ kinh nghiệm lâu ngày. Cô vội vã quay lại phòng, để anh ta ngoài đó mà không nói lời nào. Cô tới chỗ bếp ga và tắt nó đi; vòng lửa xanh nhấp nháy tắt phụt và tiếng lạch tạch lặng xuống.
Cô cầm bình cà phê và đặt nó lên bàn. Cô đã để mở cửa ra vào. Cô bước tới để đóng cửa lại, ngăn cách giữa hai người họ.
Anh ta vẫn đứng ngoài đó, cách xa một quãng, cạnh chỗ cầu thang, tại nơi vừa bị cô bỏ lại. Anh ta có vẻ thụ động, cam chịu số mệnh. Anh ta vẫn đang mân mê tay vịn và nhìn xuống dưới, đồng thời quan sát chính mình làm việc đó.
Cô đặt bàn tay giữ trên cánh cửa. Mày đúng là đồ ngớ ngẩn, cô thầm cằn nhằn. Mày không bao giờ học được à? Mày không biết làm gì hay hơn điều mày đang định làm sao? Rồi cô tiếp tục và cuối cùng vẫn làm việc đó, đồng thời dành cho bản thân một lời giải thích để giảm sự áy náy. Mày vẫn còn một cơn tử tế bốc đồng cuối cùng. Chính xác là một, mà cái thành phố này đã bỏ sót và để lại trong mày. Tốt nhất là hãy tống khứ và đặt dấu chấm hết với nó đi, sau đấy mày sẽ sạch tinh.
Một lần nữa, cô lại dành cho anh ta cái hất hàm cộc lốc, dứt khoát. “Ở đây tôi có chút cà phê. Vào đây chút đi, tôi sẽ cho anh một cốc.”
Anh ta lại hăm hở bước tới, như cái cách mà anh ta đã lên cầu thang lúc trước. Cô có thể thấy rằng anh ta đang cần được động viên; rất cần có ai đó để nói chuyện cùng.
Nhưng cánh tay cô vẫn giữ nguyên vị trí, chặn ngang ngưỡng cửa và ngăn lại khi anh ta bước tới. “Có điều hãy hiểu rõ điều này.” Cô cảnh cáo anh ta, giọng đầy đe dọa. “Đây là lời mời cùng chia sẻ một cốc cà phê, chỉ vậy thôi. Không có đường kèm theo. Chỉ cần anh nháy mắt với tôi một lần và...”
“Tôi không hề nghĩ tới những chuyện kiểu đó”, anh ta nói với vẻ nghiêm trang kỳ cục mà cô không hề biết đám đàn ông có thể trưng ra, cho tới tận lúc này. “Người ta có thể chắc chắn, chỉ bằng cách nhìn vào ai đó, rằng liệu người kia đang có ý gì.”
“Anh sẽ ngạc nhiên về chuyện có bao nhiêu người trong số họ đã phải đi gặp bác sĩ nhãn khoa”, cô chua chát bình luận.
Cánh tay cô buông thõng và anh ta bước vào trong phòng.
Cô đóng cửa lại. “Hãy hạ giọng xuống.” Cô nói. “Có một ông già sống trong phòng bên cạnh...”
“Anh có thể ngồi ở cái ghế đã kê sẵn kia.” Cô nói. “Tôi sẽ mang cái ghế này tới cạnh bàn... nếu nó không vỡ tan tành ra trên đường tới đó.”
Anh ta ngồi xuống với vẻ lịch thiệp cứng đờ.
“Anh có thể ném mũ lên cái giường đằng kia.” Cô hạ cố tỏ vẻ hiếu khách. “Nếu anh có thể với tới nó.”
Anh ta thử một cách không mấy chắc chắn từ chỗ đang ngồi, ném qua cả cái bàn và bình cà phê, nhưng đã làm được.
Cả hai cùng quay lại sau khi đã thấy cái mũ hạ cánh, rụt rè mỉm cười với nhau. Sau đó cô sực tỉnh và vội vàng tắt nụ cười đi. Nụ cười của anh cũng tắt phụt vì cô đơn.
“Dù sao tôi cũng chẳng bao giờ làm vừa đủ cho một người”, cô nhận xét, như thể biện hộ cho sự mềm yếu của mình khi mời anh ta vào, “nên dù sao cũng vậy cả thôi.”
Cô mang đến thêm một chiếc cốc và đĩa tách nữa. “Lý do tôi có cái thứ hai”, cô bảo, “là vì ở Woolworth’s người ta bán hai cái với giá năm cent. Hoặc là tôi mua cả hai, hoặc là mất đi cơ hội.” Cô lật úp cái cốc xuống lắc lắc, và vài cọng rơm rơi ra. “Đây là lần đầu tiên tôi mang nó ra dùng.” Cô nói. “Tốt hơn tôi nên tráng qua nước một chút.” Cô mang cốc tới chỗ cái vòi nước mốc xanh mốc đỏ, nằm khuất dưới cái giá được sắp xếp như tủ bát đĩa. “Anh cứ uống trước đi”, cô mời khách trong khi đang quay lưng lại, “không cần phải đợi tôi.”
Cô nghe thấy tiếng cái bình thiếc lủng liểng kêu lạch cạch khi anh ta cầm nó lên để rót cà phê. Rồi nó được đặt trở lại mặt bàn một cách hơi nặng nề. Quả thực, cái bình cà phê bị đặt xuống đột ngột đến mức khiến cái cốc phải kêu thành tiếng. Cùng lúc đó, chiếc ghế anh ta đang ngồi cũng hơi chấn động.
Cô dừng việc đang làm, cụ thể là việc làm khô cái cốc bằng cách vẩy lên vẩy xuống để những giọt nước trong đó văng ra, và vội vã quay lại hỏi, “Anh đang làm gì thế, tự làm bỏng mình à? Anh có bị cà phê đổ lên người không?
Khuôn mặt anh ta vừa trắng bệch ra thêm một chút, cô thầm nghĩ. Anh ta lắc đầu, nhưng đang quá chú ý tới chuyện gì đó để có thể nhìn cô. Bàn tay anh ta vẫn cầm bình cà phê, ở nơi anh ta vừa đặt xuống. Anh ta đang cầm cái phong bì có ghi địa chỉ của mẹ cô trên bàn tay còn lại, nhìn chằm chằm vào nó, như thể bị choáng. Cô biết ngay chuyện gì đã xảy ra, chỉ qua một cái liếc mắt. Bình cà phê hẳn đã đè lên cái phong bì khi được đặt lên bàn, và hơi nóng đã làm nó dính vào đáy bình khi anh ta nhấc lên. Anh ta đã gỡ cái phong bì ra, và nhờ vậy đã nhìn thấy điều có vẻ đã khiến anh ta kinh ngạc đến thế.
Cô quay lại, đứng cạnh bàn và hỏi. “Có chuyện gì thế?”
Anh ta ngước nhìn cô, tay vẫn cầm cái phong bì. Miệng anh ta há ra; cả trước và sau khi anh ta nói, miệng anh ta luôn như thế. Anh ta hỏi, “Cô biết người nào ở đó à? Glen Falls, Iowa? Có phải cô định gửi lá thư này tới đó không?”
“Phải, sao hả?” Cô hỏi dứt khoát. “Trên phong bì ghi thế, phải không nào? Tôi viết thư gửi cho mẹ tôi.” Một chút thách thức len lỏi vào thái độ của cô. “Sao, có chuyện gì à?”
Anh ta bắt đầu lắc đầu. Anh ta chậm rãi đứng dậy, thế rồi đổi ý giữa chừng và lại ngồi xuống. Anh ta nhìn cô hết sức chăm chú. “Tôi không thể đừng được.” Anh ta thảng thốt. “Đó là quê tôi! Đó là thị trấn quê hương tôi! Tôi chỉ mới rời khỏi đó hơn một năm trước...” Giọng anh ta lớn dần lên trong sự hoài nghi. “Ý cô là cô cũng quê ở đó? Ý cô là hai chúng ta... trong số hàng trăm thị trấn nhỏ trên khắp đất nước này...?”
“Nơi đó cũng là...”, cô tán thành một cách cảnh giác. Cô bỏ lửng không nói nốt từ “quê tôi”. Cô thận trọng ngồi xuống đối diện anh ta. Nghi ngờ đang sống dậy lách tách như một dòng điện chạy qua người cô, được tạo ra cùng với từ đầu tiên anh ta thốt ra. Cô đã được nhào nặn thành như thế. Cô đã học được rằng không được tin bất cứ ai, vào bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu. Đó là cách duy nhất để giữ mình khỏi bị mắc bẫy. Mà chuyện này, nói cho cùng thì là gì chứ? Cách tiếp cận này là gì vậy? Anh ta có được tên thị trấn từ cái phong bì, nó lù lù ở đó ai cũng có thể thấy; đến đây thì hiểu rồi. Giờ anh ta đang định giở trò gì đây? Tiếp theo là gì đây? Tình huống này sẽ dẫn tới đâu? Một cái chạm tay? Một cú đòn để chiếm lấy thiện cảm trước khi cô bừng tỉnh và thoát khỏi vòng kiềm tỏa của nó? Cô chợt nhận ra nó là gì – một trò lừa phỉnh mới. Vậy mà cô cứ nghĩ là cô đã biết tất cả rồi.
Khoan đã, anh ta đang ở trạng thái không phòng bị gì. Cô sẽ tận dụng nó để bắt thóp anh ta. “Vậy ra anh là người Glen Falls.” Cô chăm chú săm soi anh ta. “Ở đó anh sống trên phố nào?”
Cô đếm thời gian trả lời của anh ta bằng cách gõ móng tay lên cạnh bàn. Câu trả lời của anh ta đưa ra nhanh tới mức cú gõ đầu tiên còn chưa kịp hoàn tất. Nó về đích từ trước khi tiếng súng lệnh báo hiệu xuất phát kịp nổ. “Đại lộ Anderson, gần phố Pine. Ngôi nhà thứ hai ở đoạn giữa phố Pine và phố Oak, ngay sau góc...” Cô chăm chú quan sát khuôn mặt anh ta. Anh ta không hề nghĩ ngợi; câu trả lời được đưa ra ngay tức thì, như thể khi trả lời về tên anh ta vậy.
“Anh đã từng tới rạp chiếu phim Bijou dưới quảng trường Tòa án chưa?”
Lần này có chút thời gian trễ. “Khi tôi còn ở đó thì không có rạp Bijou nào cả.” Anh ta ngơ ngác nói. “Chỉ có hai rạp thôi, State và Standard.”
“Tôi biết.” Cô dịu giọng khẽ nói, nhìn xuống bàn tay mình. “Tôi biết là không có.”
Bàn tay cô đang hơi run rẩy, vậy nên cô bỏ nó xuống dưới bàn. “Ở chỗ cây cầu sắt bộ hành chạy ngang qua đường sắt là phố nào nhỉ... Anh biết đó, để đi từ bên này qua bên kia của con hào nơi đường tàu chạy vào ấy?”
Chỉ có những ai sinh trưởng ở đó, những ai sống ở đó cả nửa cuộc đời, mới có thể trả lời được câu hỏi này.
“Sao cơ? Nó không cắt ngang đường sắt ở bất cứ phố nào cả.” Anh ta trả lời đơn giản. “Đó là một nơi rất bất tiện, nằm giữa hai con phố, Maple và Simpson, và nếu muốn băng qua cầu cô sẽ phải đi dọc theo một lối đi hẹp cho đến khi tới được đó. Cư dân ở đó đã phản đối trong nhiều năm, bản thân cô cũng biết thế mà...”
Phải, bản thân cô cũng biết. Nhưng điều quan trọng là anh ta biết.
Anh ta nói, “Này, cô phải thấy khuôn mặt mình lúc này, nó đang trắng bệch ra đấy. Đây chính là điều mà tôi vừa cảm thấy.”
Vậy là anh ta nói thật, và biến cố lạ lùng hiếm hoi này đã xảy ra.
Cô ngồi xuống, hai cánh tay bám cứng vào hai tay vịn ghế, và khi có thể nói trở lại, cô lẩm bẩm, “Anh có biết tôi đã sống ở đâu không? Anh có muốn biết tôi đã sống ở đâu không? Trên đường Emmet! Anh biết nó ở đâu chứ, phải không nào? Đó là phố kế tiếp sau đại lộ Anderson. Không có phố nào cắt ngang trên suốt chiều dài của nó. Hai ngôi nhà nơi chúng ta từng sống hẳn đã quay lưng vào nhau! Anh đã bao giờ nghe một chuyện như thế chưa?” Rồi cô dừng lại và bâng khuâng, “Làm thế nào mà chúng ta lại chưa từng quen biết nhau khi còn sống ở đó nhỉ?”
“Tôi tới đây từ một năm trước.” Anh ta nói.
“Còn tôi đã tới đây năm năm rồi.”
“Gia đình tôi chuyển tới sống ở đại lộ Anderson sau khi bố tôi qua đời, khoảng hơn hai năm trước. Trước đó chúng tôi sống trong trang trại của gia đình gần Marbury...”
Cô hối hả gật đầu, hạnh phúc vì phép màu đã không tan vỡ bởi vấn đề địa chính khô khan. “Ra là vậy. Lúc anh chuyển tới sống trong thị trấn thì tôi đã rời đi rồi. Nhưng rất có thể là ngay lúc này, vào đúng phút này, ở đó, gia đình tôi đã quen biết gia đình anh rồi. Như những người hàng xóm ở hai phía hàng rào.”
“Hẳn là thế.” Anh ta nói. “Hẳn là thế. Tôi có thể hình dung ra họ lúc này. Mẹ tôi luôn là một người tuyệt vời để...” Rồi anh ta ngừng lời và chuyển chủ đề để phù hợp với hoàn cảnh lúc này. “Cô vẫn chưa cho tôi biết tên cô. Tôi đã cho cô biết tên tôi rồi.”
“Ồ, vậy sao? Cứ như thể đã lâu lắm rồi, phải không nào? Tôi là Bricky[2] Coleman. Tên thật của tôi là Ruth, nhưng mọi người đều gọi tôi là Bricky, kể cả những người trong gia đình. Vậy đấy, hồi bé tôi ghét cái tên này lắm, nhưng giờ... tôi có phần thấy nhớ nó. Họ bắt đầu gọi thế...”
“Tôi biết, vì màu tóc của cô.” Anh ta hoàn tất nó giúp cô.
Cánh tay anh ta vươn qua mặt bàn về phía cô, lòng bàn tay ngửa lên; với một chút do dự, như thể sẵn sàng rút lại nếu nó bị tảng lờ. Cánh tay cô bắt đầu đưa lên từ hai bên sườn, cũng với sự do dự tương tự. Hai cánh tay gặp nhau, hai bàn tay nắm lấy nhau, một cái bắt tay được thực hiện, rồi chúng lại buông ra. Họ trao nhau một nụ cười bối rối, sau khi cử chỉ nhỏ nhoi ấy hoàn tất.
“Xin chào.” Anh ta rụt rè nói.
“Xin chào.” Cô đáp lại với giọng khe khẽ.
Sau đó khoảnh khắc khách khí xã giao ngắn ngủi ấy tan biến, và hai người thêm lần nữa lại hòa làm một trong sự liên hệ mà họ vừa tìm thấy.
“Tôi nghĩ đến giờ chắc hẳn họ đã gặp nhau rồi... ở đó... Cô có nghĩ vậy không?” Anh ta gợi ý.
“Đợi một phút... Williams, đó là một cái họ phổ biến... Nhưng có phải anh có một cậu em trai nhiều tàn nhang không?”
“Phải, cậu em trai tôi, Johnny. Nó vẫn chỉ là một thằng bé. Nó mới mười tám tuổi.”
“Tôi dám cá rằng cậu ấy chính là anh chàng đã cặp kè với cô cháu tôi, Millie. Con bé cũng mới mười sáu hay mười bảy tuổi thôi. Thỉnh thoảng nó có viết thư kể với tôi về một cơn rộn ràng mới của trái tim, một cậu mang họ Williams. Mọi thứ ở cậu ta đều hoàn hảo, ngoại trừ các vết tàn nhang và con bé hy vọng rằng chúng sẽ mất dần đi.”
“Hockey?”
“Trong đội của trường trung học Jefferson!” Cô reo lên.
“Đó là Johnny. Chính là nó.”
Hai người chỉ có thể cùng nhau lắc đầu, chìm đắm trong sự kinh ngạc.
“Thế giới này thật nhỏ!”
“Hẳn là vậy rồi!”
Giờ cô đang ngắm nhìn anh, và cô đang quan sát, xem xét, tìm hiểu về anh bằng cả trái tim, lần đầu tiên thấy anh như một người thanh niên. Chỉ là một người thanh niên, một người thanh niên bình thường, thuần phác như một tấm vải chưa nhuộm, chẳng chút màu mè. Chỉ là một chàng trai hàng xóm. Chính là một chàng trai hàng xóm. Luôn có một anh chàng như thế trong cuộc đời của mọi cô gái tỉnh lẻ. Và trong cuộc đời của cô, người đó chính là anh. Đây là chàng trai hàng xóm của cô. Người đáng lẽ đã là của cô, hẳn là thế, nếu cô ở lại quê nhà, đợi lâu thêm chút nữa.
Chẳng có bất cứ điều đặc biệt gì ở anh. Chẳng bao giờ có bất cứ điều gì ở một chàng trai hàng xóm. Anh ta ở quá gần để bạn có thể quan sát một cách rõ ràng. Chẳng có gì bảnh bao, chẳng có gì lãng mạn. Những thứ đó luôn cần có một khoảng cách. Nhưng rõ ràng là anh trông hết sức sáng sủa, đó là điều chắc chắn. Sao cô lại không thấy điều đó ở vũ trường, khi anh lần đầu tiên bước vào, khi cô đã có quá nhiều cơ hội để làm việc đó? Vậy đấy, khi mà với bạn, họ chỉ là một tấm vé nhảy và một đôi chân thì làm sao bạn có thể nhìn thấy điều gì chứ?
Họ nói về nó, về thị trấn quê hương suốt một hồi lâu, với chất giọng khẽ khàng và đôi mắt khép hờ mơ màng. Họ mang nó lại gần, vượt qua cửa sổ, vào trong chính căn phòng ấy cùng với họ. Họ đẩy New York đang lơ lửng trong bóng đêm ngoài kia lùi thật xa. Chiếc đồng hồ trên tháp Paramount, lơ lửng giữa bầu trời đêm đâu đó sau cửa sổ cũng phải lùi lại, và thay vào đó hai người gần như có thể nghe thấy tiếng chuông từ tháp chuông của ngôi nhà thờ nhỏ màu trắng nằm cạnh quảng trường ngân lên nhè nhẹ, ngọt ngào báo giờ. Nó đang nói, “Hãy ngủ đi. Ta đang chăm lo cho hai người. Hai người đã ở nhà rồi, nơi mà hai người thuộc về. Hãy ngủ đi. Hai người đã an toàn rồi, ta đang canh gác cho hai người...”
Họ trò chuyện về thị trấn quê nhà suốt một hồi; ban đầu chậm rãi và hơi e dè lúng túng. Rồi câu chuyện trở nên nhanh và trôi chảy hơn khi họ đã nóng lên theo nó, đã hoàn toàn quên đi mình là ai và là gì; không còn là người này nói về người kia nữa, giờ mỗi người đều chỉ nói cho bản thân mình, cho tới khi nó chỉ còn là một dòng chảy liên tục, chỉ còn là một dòng hồi tưởng, nơi họ thay nhau thả vào những mảnh ký ức được xếp nối tiếp, gọn ghẽ một cách luân phiên, nhịp nhàng.
“Cái vỉa hè bằng ván gỗ đó ở phía trước cửa tiệm bách hóa của nhà Marcus, với những tấm ván thường hay lật nghiêng nếu ta bước quá sát rìa. Tôi cược là họ vẫn chưa chữa lại nó!”
“Rồi cửa hàng bánh kẹo của Pop Gregory nữa, nhớ chứ? Những cái tên ông ấy từng nghĩ ra cho các món đặc biệt của mình... Kem nước quả khoái cảm phương Đông xa xỉ...”
“Hiệu thuốc Elite, ở dưới khu Main, đó là một chỗ tuyệt vời...”
“Những buổi sáng lộng lẫy trên hàng cột hiên đằng trước...”
“Những cái võng mắc vào tất cả các cột hiên trước nhà vào mùa hè khi tối đến, đu đưa thong thả và một ly nước chanh để dưới sàn. Với cô là nước chanh phải không? Với tôi luôn là...”
“Và vào buổi tối không có nhạc. Một sự im lặng tuyệt đối. Anh có thể nghe tiếng một cái cặp tóc rơi xuống...”
“Và trường trung học Jefferson, thật ngăn nắp sạch sẽ, đá granite sạch bong không tì vết, trải suốt một dãy nhà. Tôi từng nghĩ rằng đó là tòa nhà lớn nhất trên thế giới. Cô có học ở trường Jefferson không?”
“Tất nhiên rồi, tất cả đều học ở trường Jefferson, tôi đoán vậy. Tôi từng đứng thẳng người trượt xuống những phiến đá mài nhẵn dọc hai bên các bậc cấp trước cổng trường mỗi khi tan học.”
“Tôi cũng từng làm thế. Tôi cá là cô từng học cô Elliott. Cô có học cô Elliott trong môn Anh ngữ Nâng cao không?”
“Tất nhiên rồi, mọi người ai cũng học cô Elliott môn Anh ngữ Nâng cao. Buộc phải thế.”
Có điều gì đó khiến cô cảm thấy nhói đau. Chàng trai hàng xóm, và cô đã gặp anh ta cách nhà hai nghìn dặm, muộn mất năm năm. Chàng trai hàng xóm, chàng trai mà đáng ra cô phải biết, nhưng lại không phải như vậy.
“Mọi người gửi lời chào buổi sáng tới cô trên từ tận bên kia đường, dù cô chưa từng gặp họ trước đó...”
“Và không có nhạc, sau khi đêm đến. Không có những cây kèn trombone cứ chốc chốc lại phát ra tiếng kêu be be như những con lừa. Chỉ có những con dế và những thứ tương tự. Không nhạc. Không bao giờ có nhạc...”
“Tuyết rơi dày, sâu, xốp vào mùa đông, phủ trùm lên mọi thứ như kẹo dẻo...”
“Nhưng vào mùa xuân...! Ôi, tôi có thể bỏ qua không nói về nó trong mùa đông, vào mùa thu, và thậm chí cả vào mùa hè nữa. Nhưng vào mùa xuân! Những nụ hoa màu hồng nhạt nhú ra trên các tán cây, và anh tản bộ dọc theo con phố như đi qua một luồng nước hoa hương táo của Dorothy Gray...”
“Khắp con phố đều là những người đã biết cô từ khi còn bé xíu. Những người quan tâm đến cô. Những người sẽ dừng lại trước cửa hỏi thăm và mang theo thạch khi cô ốm. Những người sẽ vui lòng cho cô mượn tiền khi cô lớn hơn một chút nếu cô không may túng thiếu...”
“Và giờ hãy nhìn chúng ta xem.” Đầu cô gục xuống hai cánh tay đang xếp lại trên bàn, đột ngột như thể cổ vừa bị gãy.
Hai lần, ba lần, nắm tay cô đấm nhẹ xuống mặt bàn một cách vô ích. “Nhà.” Anh nghe thấy cô nói nghèn nghẹn. “Nhà, nơi tôi thuộc về... tôi muốn gặp lại mẹ tôi...”
Anh đang đứng bên cạnh khi cô ngước mắt lên. Anh không hề chạm vào cô, nhưng cô biết anh đã định làm vậy; anh đã đưa bàn tay ra và định chạm vào cô khi cô không nhìn, sau đó vì không biết phải tiếp tục thế nào nên anh đã từ bỏ ý định ấy. Cô dám chắc như vậy, qua điệu bộ lóng ngóng khi anh thu bàn tay lại.
Cô mỉm cười và cố gạt nước mắt bằng cách chớp chớp đôi mắt, để giữ cho anh khỏi thấy chúng đang ướt.
“Cho tôi một điếu thuốc.” Cô nói với giọng khàn khàn. “Tôi luôn hút một điếu sau khi khóc. Tôi không biết mình làm sao nữa. Đã nhiều năm rồi tôi không khóc trước mặt người khác.”
Anh không có điếu thuốc nào. Anh không đưa cho cô thứ có thể giúp cô giả bộ cứng cỏi nữa. “Tại sao cô không trở về?” Anh hỏi. Anh dường như lại trở nên già hơn. Có lẽ bây giờ đến lượt cô trở nên trẻ hơn. Thành phố làm người ta già đi. Quê nhà, người ta sẽ trẻ lại khi ở quê nhà. Và kể cả khi chỉ nghĩ về quê nhà, điều đó cũng sẽ khiến ta trẻ ra một chút, trong thoáng chốc.
Cô không định trả lời. Anh lặp lại câu hỏi lần nữa. Cô nhận ra rằng suy nghĩ của anh giống như một vòng khép kín, một khi nó bắt đầu nghĩ về bất cứ vấn đề gì. “Tại sao cô không về? Tại sao cô không trở về nhà?”
“Anh cho là tôi chưa thử sao?” Cô cau có hỏi. “Tôi đã xem bảng giá vé kĩ đến mức giờ tôi có thể đọc ngược nó được. Tôi đã tới bến xe để hỏi han nhiều lần tới mức tôi đã nhập tâm thời gian biểu của xe bus. Chỉ có một chuyến có thể tới nơi trong ngày, và nó khởi hành lúc sáu giờ sáng. Có một chuyến muộn mà anh có thể đi, nhưng anh sẽ phải nghỉ lại qua đêm ở Chicago. Và nghỉ lại qua đêm, dù ở Chicago hay bất cứ nơi nào, cũng sẽ làm anh nhụt chí; anh sẽ lập tức quay đầu trở lại. Tôi biết; đừng hỏi tôi tại sao, nhưng tôi biết. Đã có lần tôi đi tới tận bến, hành lý được gói ghém đầy đủ bên cạnh, ngồi đó chờ họ mở cổng. Tôi đã không thể làm được; tôi đã quay trở lại vào phút cuối cùng. Trả lại vé, và lê bước trở lại đây.”
“Nhưng tại sao? Tại sao cô không thể về, nếu cô muốn đến thế? Cái gì đã giữ cô lại?”
“Bởi vì tôi đã không thành công. Tôi đã không có được danh vọng. Mọi người ở nhà nghĩ tôi đang tham gia vào một chương trình lớn ở Broadway. Tôi chỉ là một cô gái nhảy tính giờ; chỉ là một cái túi xách cho thuê mà anh mang theo khắp vũ trường. Anh có thấy tờ giấy đằng kia chẳng có gì ngoài chữ “Gửi mẹ” hay không? Đó là một phần lý do; những điều tôi đã viết về nhà cho mọi người. Giờ tôi không còn đủ can đảm để trở về và đối diện với họ, rồi thừa nhận rằng tôi đã thất bại. Để làm thế cần rất nhiều can đảm, và đó là thứ mà tôi không có đủ.”
“Nhưng họ là người thân của cô, là ruột thịt của cô; họ sẽ hiểu, họ sẽ là những người đầu tiên cố gắng giúp cô thoải mái hơn, động viên cô đứng dậy.”
“Tôi biết; tôi có thể kể với mẹ tôi bất cứ điều gì. Vấn đề không nằm ở đó. Vấn đề nằm ở những người bạn và hàng xóm láng giềng. Có thế mẹ tôi đã khoe về tôi suốt nhiều năm qua, đã đọc cho họ nghe những lá thư của tôi, anh biết chuyện đó thế nào mà. Tất nhiên, mẹ và các em gái sẽ đứng bên tôi, họ sẽ không nói một lời; nhưng thực tế này vẫn sẽ khiến họ đau khổ. Tôi không muốn làm thế. Tôi muốn được trở về và khiến họ tự hào. Bây giờ nếu tôi phải trở về, tôi sẽ chỉ có thể khiến họ phải thương hại. Đó là một sự khác biệt lớn.” Cô ngước lên nhìn anh, rồi lắc đầu. “Nhưng đó chỉ là một phần thôi. Không phải là lý do chính.”
“Vậy thì là gì?”
“Tôi không thể nói với anh. Anh sẽ chỉ cười thôi. Anh không hiểu đâu.”
“Tại sao tôi lại cười chứ? Tại sao tôi lại không hiểu? Tôi cũng từ quê tới đây, phải không nào? Tôi ở đây, trong thành phố, cũng giống như cô.”
“Vậy thì lý do đây.” Cô nói. “Chính là bản thân thành phố. Anh chỉ nghĩ về nó như một nơi trên bản đồ thôi, phải không nào? Tôi nghĩ về nó như kẻ thù của mình, và tôi biết là mình đúng. Thành phố này hết sức tồi tệ; nó luôn dìm người ta xuống. Ngay lúc này đây, nó đang ghì dúi tôi xuống, và đó là thứ đang kìm giữ tôi, đó là lý do khiến tôi không thể rời đi.”
“Nhưng những ngôi nhà, những tòa nhà bằng đá và xi măng, chúng đâu có tay; chúng không thể với ra và túm lấy cô được, nếu cô muốn ra đi.”
“Tôi đã nói là anh sẽ không hiểu đâu mà. Chúng không cần phải có tay. Khi chúng có quá nhiều và chen chúc nhau như vậy, chúng tỏa ra không khí thứ gì đó. Tôi không biết cách diễn đạt hoa mỹ; tôi chỉ biết rằng có một dạng lý trí độc lập bao trùm lên khắp nơi này, bắt nguồn từ đó. Nó hèn hạ, xấu xa, độc ác, và khi anh hít vào quá nhiều trong một khoảng thời gian quá dài, nó sẽ ngấm vào dưới da anh, ngấm vào trong người anh – và thế là anh chìm xuống, thành phố đã vồ được anh. Khi đó tất cả những gì anh phải làm là ngồi đợi, và chỉ trong một khoảng thời gian ngắn nó sẽ hoàn tất công việc, sẽ biến anh thành một thứ anh không bao giờ muốn hay nghĩ rằng anh có thể trở thành. Khi đó thì đã quá muộn. Sau đó anh có thể đi bất cứ đâu, về nhà hay bất cứ đâu, nhưng từ đó về sau anh sẽ vẫn tiếp tục là thứ nó đã biến anh thành.”
Lần này anh chỉ nhìn cô mà không trả lời.
“Tôi biết những lời này với anh nghe thật đáng sợ. Tôi biết rằng anh không tin tôi. Nhưng tôi biết là tôi đúng. Nói cho anh biết, tôi đã cảm thấy nó. Có một bộ óc, một thứ biết suy nghĩ đang bao trùm lên thành phố này. Nó quan sát anh, đùa bỡn với anh như một con mèo vờn chuột. Nó sẽ để anh đi xa khỏi nó một chút – như nó đã để tôi đi tới tận bến xe bus – rồi đúng lúc anh nghĩ rằng mình đã thoát, đã sắp bỏ lại nó mãi mãi, thì nó sẽ vươn mình đuổi theo và lôi anh trở lại. Anh sẽ nghĩ rằng đó là ước muốn của bản thân, nhưng không phải thế; anh nghĩ rằng mình đã đổi ý, nhưng không phải thế. Đó là thứ hơi, thứ sương – có một từ nào đó, để xem tôi có thể nhớ ra được không – thứ chướng khí phả ra bởi thành phố này, thứ vốn đã thâm nhập vào trong anh, đã khiến anh làm thế. Hoặc anh có thể nói rằng nó giống như một xoáy nước. Nếu anh ở yên trong tâm của nó, không tìm cách thoát ra, anh sẽ không cảm thấy gì hết. Nhưng khi anh tới quá gần rìa ngoài, cố gắng tìm một lối ra, chính lúc đó nó sẽ cuốn anh vào trong trở lại. Tôi biết điều tôi đang nói. Đã có những lúc tôi gần như có thể cảm thấy sức lôi kéo của nó. Như khi anh đang bơi thì đột nhiên bị một luồng sóng ngầm cuốn lấy. Anh không thể trông thấy nó, nhưng anh có thể cảm nhận được lực cuốn của nó. Anh là người duy nhất biết nó ở đó, nhưng anh cũng là người duy nhất cần biết điều đó. Chính anh là kẻ đang bị cuốn xuống dưới. Anh không thể tự mình thoát ra được... Giờ anh đã hiểu tôi muốn nói gì rồi chứ?”
Cô khoát tay, gạt sang bên những điều anh vẫn chưa nói, nhưng là những điều cô nghĩ có thể anh sẽ nói. “Ồ, tôi biết. Có hàng nghìn người giống chúng ta tới đây mỗi năm. Họ lao thẳng tới đỉnh. Họ ở trên mọi nẻo đường đời. Cả New York đều đến từ một nơi nào đó, đó là điều người ta vẫn thường nói. Nhưng nó không hề phủ nhận quan điểm của tôi, mà chỉ càng chứng tỏ rằng nó đúng. Thành phố này xấu xa. Nếu anh là một trong số hàng nghìn người yếu hơn những người còn lại một chút, chậm hơn những người còn lại một chút và đang cần đến một chút giúp đỡ, một cú đẩy để vượt qua trở ngại; lúc đó nó sẽ nhảy bổ vào anh, đó là khi nó bộc lộ bộ mặt thật. Thành phố này là một kẻ hèn nhát. Nó tấn công khi ta vấp ngã và chỉ khi ta vấp ngã mà thôi. Tôi nói là thành phố này xấu xa, và nếu nó tốt đẹp với những người khác, thì tôi vẫn là tôi, và vì thế, với tôi nó vẫn xấu xa. Tôi ghét nó. Nó là kẻ thù của tôi. Nó sẽ không để tôi đi... và nhờ vậy mà tôi biết.”
“Tại sao cô không trở về?” Anh lại hỏi. “Tại sao?”
“Bởi vì tôi không còn đủ mạnh mẽ để phá vỡ cái vòng kìm kẹp mà nó đang siết chặt lên tôi nữa. Tôi nghĩ tôi vừa nói qua chuyện đó với anh rồi. Tôi đã tự chứng minh điều đó sáng hôm nay, khi ngồi đợi ở bến xe bus, và khi đó tôi đã nhìn ra bản chất của vòng kìm kẹp ấy. Vẻ ngoài càng nhẹ nhàng thì lực kéo càng mạnh. Nó lén lút chui vào trong tôi, tự xưng mình là ‘lẽ thường’; nó hủy hoại tôi. Khi ánh mặt trời bắt đầu chiếu xuống các tòa nhà và mọi người bắt đầu xuất hiện đông hơn trên vỉa hè của đường Ba Mươi Tư, nó trêu đùa với tôi bằng cách cố làm bộ thân quen, một thứ tôi đã quá quen thuộc, một thứ sẽ không khiến tôi thương tổn, một thứ tôi không cần phải sợ. Nó thì thầm, ‘Thay vì hôm nay, cô có thể đi vào ngày mai. Tại sao không dành cho nơi này thêm một buổi tối nữa? Tại sao không thử thêm một tuần nữa? Tại sao không phải lòng nó thêm lần nữa?’ Và khi người soát vé xe bus nói, ‘Tất cả lên xe’, tôi lại bước đi như kẻ mộng du, túi xách cầm tay, đi theo hướng ngược lại, chậm rãi và bị hạ đo ván. Không đùa đâu, khi bước ra ngoài, tôi có thể nghe thấy những cây kèn trombone và saxophone vang lên chế giễu từ tít trên cao, quanh đỉnh các tòa nhà ở đâu đó. Bọn ta tóm được mi rồi! Bọn ta biết mi không thể làm được! Tóm được mi rồi! Bọn ta tóm được mi rồi!”
Cô tựa đầu lên bàn tay, trầm ngâm nhìn xuống chẳng vào gì cả. “Có lẽ lý do khiến tôi không thể phá vỡ xiềng xích của nó là vì tôi chỉ có một mình. Một mình tôi thì không đủ mạnh mẽ. Có lẽ nếu tôi gặp được ai đó muốn trở về cùng tôi, ai đó nắm lấy tay tôi khi tôi định quay trở lại, có lẽ tôi sẽ không yếu lòng, có lẽ tôi sẽ làm được.”
Khuôn mặt anh trở nên căng thẳng. Cô thấy điều đó. Cô thấy lằn ranh mà anh đang vô tình tạo ra, với rìa bàn tay ở phía bên kia bàn. Như thể anh đang tách biệt một thứ khỏi một thứ khác. Có lẽ là tách quá khứ ra khỏi hiện tại. “Tôi ước gì mình đã gặp cô vào hôm qua.” Cô nghe tiếng anh nói, cho chính mình hơn là cho cô. “Tôi ước gì mình đã gặp cô vào tối qua, thay vì tối nay.”
Cô biết ý anh là gì. Anh đã làm điều gì đó không nên làm trong khoảng thời gian từ hôm qua đến hôm nay và giờ thì không thể quay đầu. Anh không cần phải nói với cô; ngay từ đầu cô đã biết là anh đang có chuyện gì đó.
“À, có lẽ tốt hơn là tôi nên biến mất.” Anh ấp úng. “Có lẽ tốt hơn là tôi nên đi.”
Anh đi tới chỗ cái mũ. Cô thấy anh hơi nhấc rìa cái gối lên một chút. Cô thấy bàn tay còn lại của anh ngập ngừng đưa vào trong túi áo khoác, như để lấy thứ gì đó ra mà không cho cô thấy.
“Để lại đi.” Cô gay gắt nói. “Cái đó thì không.” Rồi giọng cô dịu xuống. “Dù sao thì tôi cũng đã chuẩn bị đủ tiền cho chuyến trở về rồi. Tôi đã để dành khoản đó hơn tám tháng nay, tiết kiệm tới từng đồng nickel để mua hamburger ở những chặng nghỉ. Như một quả trứng trong ổ vậy. Một quả trứng đã ở trong ổ lâu tới mức biến thành hóa thạch.”
Anh quay lại chỗ cô, lúc này đã đội mũ trên đầu. Anh không nấn ná cạnh chiếc bàn nữa. Anh đi ra cửa, không nhanh, không quả quyết, như thể đang lê bước không có mục đích và để bàn tay lướt trên vai cô khi đi ngang qua, một cử chỉ chia tay thầm lặng nhưng bày tỏ hoàn hảo thứ mà nó muốn bày tỏ: nỗi muộn phiền chung, sự cảm thông dù không có khả năng giúp đỡ nhau của hai người đang ngồi trên cùng một chiếc thuyền.
Cô để anh đi ra tới cửa, cho đến khi bàn tay anh vươn ra hướng về phía quả đấm. “Họ đang truy tìm anh vì việc gì đó, phải không?” Cô khẽ hỏi.
Anh quay lại nhìn cô, nhưng không hề có chút ngạc nhiên thái quá hay nghi ngờ nào về sự thấu hiểu ấy. “Họ sẽ làm thế, muộn nhất là tám hay chín giờ sáng hôm nay.” Anh bình thản đáp.