Lúc năm giờ chiều. Mitch tắt đèn văn phòng của anh, cầm theo cả hai chiếc cặp và dừng lại tại bàn của Nina. Bà kẹp điện thoại vào một bên vai trong khi gõ vào chiếc IBM. Thấy anh, bà thò tay vào ngăn kéo, lấy ra chiếc phòng bì. “Đây là tờ xác nhận đặt phòng của anh tại Capitol Hilton,” bà nói vào chiếc điện thoại.
“Bài đọc ở trên bàn của tôi,” anh nói. “Hẹn gặp bà vào thứ Hai.” Anh theo cầu thang lên tầng bốn, đi đến văn phòng ở góc của Avery, nơi một cuộc náo loạn nhỏ đang diễn ra. Một thư ký đang nhồi nhét các hồ sơ vào một chiếc cặp khổng lồ. Một thư ký khác đang đấu khẩu gay gắt với Avery, ông này thì đang la hét vào điện thoại với ai đó. Một trợ lý phát ra các mệnh lệnh cho bà thư ký đầu.
Avery sập điện thoại. “Anh đã chuẩn bị xong chưa?” ông hỏi Mitch. “Chỉ còn chờ có ông nữa thôi.” Mitch đáp.
“Tôi không tìm thấy hồ sơ Greemark,” bà thư ký vặc lại viên trợ lý. “Nó nằm trong hồ sơ Rocconi đó,” viên trợ lý nói.
“Tôi đâu có cần hồ sơ Greenmark!” Avery hét lên. “Tôi phải nói bao nhiều lần với các người đây? Các người có bị điếc không vậy?”
Bà thư ký nhìn Avery. “Không điếc, tôi nghe rất tốt. Và tôi đã nghe ông nói rõ mồn một, Hãy mang theo hồ sơ Greenmark.”
“Chiếc limousin đang đợi,” bà thư ký kia lên tiếng.
“Tôi không cần cái hồ sơ Greenmark chết tiệt đó!” Avery hét lớn. “Còn hồ sơ Rocconi thì sao?” viên trợ lý hỏi.
“Đúng rồi! Đúng! Lần thứ mười rồi đấy nhé. Tôi cần hồ sơ Rocconi!”
“Máy bay đang chờ,” bà thư ký kia nói.
Một chiếc cặp đã được đóng và khóa lại. Avery lục tung các tài liệu trên bàn làm việc của ông. “Hồ sơ Fender đâu rồi? Các hồ sơ của tôi đâu cả rồi? Tại sao không bao giờ thấy hồ sơ nào hết vậy?”
“Fender ở đây,” bà thư ký đầu nói trong khi nhồi nhét nó vào một chiếc cặp khác.
Avery nhìn một mảnh giấy ghi chú. “Được rồi. Tôi đã có Fender, Rocconi, Cambridge Partners, Green Group, Sonny Capps, Okati, Burton Brothers, Galveston Freight, và McQuade, đúng không?”
“Vâng, vâng, vâng,” bà thư ký đầu nói.
“Có tất cả bọn họ rồi đấy,” viên trợ lý nói.
“Thật không thể tin nổi.” Avery nói khi với lấy chiếc áo vest. “Ta đi thôi.” Ông sải chân bước qua cửa. Các bà thư ký, viên trợ lý và Mitch nối gót theo sau. Mitch xách hai chiếc cặp, viên trợ lý cũng xách hai chiếc và một bà thư ký xách một chiếc. Bà kia đang nguệch ngoạc các ghi chú trong khi Avery sủa ra những mệnh lệnh và đòi hỏi những việc phải thực hiện xong trong khi ông đi vắng. Đoàn tùy tùng chen chúc vào chiếc thang máy nhỏ để đi xuống tầng một. Bên ngoài, người tài xế bật dậy để hành động, mở các cánh cửa và chất hành lý vào cốp xe. Mitch và Avery buông mình xuống băng ghế sau. “Thư giãn đi, Avery,” Mitch nói. “Ông sắp có ba ngày ở Cayman mà, thư giãn đi.”
“Phải, phải rồi. Tôi đã mang theo đủ công việc để làm cho nguyên cả tháng. Tôi có những thân chủ đang gào thét vì sự lẩn tránh của tôi; họ đang hăm kiện tội vì tội lạm dụng luật pháp; tôi đã bị tụt lại phía sau những hai tháng; và giờ đây thì anh lại sắp đi dự một cuộc hội thảo về thuế chán ngấy trong bốn ngày tại Washington. Thời biểu của ông rất tuyệt đấy, ông McDeere. Đúng là rất tuyệt.”
Avery mở tủ, pha một món cocktail. Mitch từ chối. Chiếc limo bọc quanh đường Riverside Drive trong giờ giao thông cao điểm. Sau ba ngụm Gin, vị đối tác bắt đầu hổn hển.
“Giáo dục thường xuyên. Đúng là một trò đùa.” Avery nói.
“Ông từng trải qua nó khi còn là tân binh. Và nếu như tôi không lầm thì mới đây ông đã dành hai tuần cho một hội thảo quốc tế về thuế tại Honolulu. Hay là ông quên mất rồi?”
“Đó là công việc. Tất cả đều là công việc. Anh có mang theo các hồ sơ của anh không đấy?”
“Dĩ nhiên, Avery. Tôi được kỳ vọng sẽ dự hội thảo thuế tám giờ mỗi ngày, học về các tu chính mới nhất về thuế mà Quốc hội đặt ra cho chúng ta, và trong thời gian rảnh rỗi thì phải ghi hóa đơn năm giờ mỗi ngày.”
“Sáu, nếu như anh có thể. Chúng ta đã bị tụt lại phía sau rồi đó, Mitch.”
“Lúc nào chúng ta chẳng tụt lại phía sau, Avery. Pha thêm một cocktail nữa đi. Ông cần được thư giãn.”
“Tôi dự định sẽ thư giãn ở Rumheads.”
Mitch nghĩ đến quầy bar với Red Stripe, domino, phi tiêu và nhất là bikini dây. Và cả cô gái nữa.
“Đây có phải là chuyến bay đầu tiên của anh trên Lear không?” Avery hỏi, nay đã thoải mái hơn.
“Vâng, tôi đã ở đây bảy tháng, và mãi đến bây giờ mới sắp được nhìn thấy cái máy bay. Tôi mà biết chuyện này từ hồi tháng Ba thì tôi đã đi làm cho một hãng ở Wall Street.”
“Anh không thuộc về Wall Street đâu. Anh biết mấy gã ở đó làm gì không? Họ có ba trăm luật sư trong một hãng, đúng không nào? Và mỗi năm họ thuê ba mươi cộng sự mới, có thể còn hơn thế. Ai cũng muốn có việc làm vì đó là Wall Street mà, đúng không nào? Và sau khoảng một tháng họ sẽ gom toàn bộ ba mươi người này vào một căn phòng bự và thông báo rằng họ kỳ vọng những anh chàng này làm việc chín mươi giờ mỗi tuần trong suốt năm năm, và đến hết năm năm thì một nửa đã ra đi mất rồi. Doanh thu là không thể tin nổi. Họ muốn giết các tân binh, bắt tân binh ghi hóa đơn lên đến một trăm, một trăm năm mươi đô mỗi giờ. Họ muốn chồng chất gánh nặng lên tân binh rồi đá đít mấy cậu nhóc đó. Wall Street là vậy đó. Và những cậu nhóc ở đó chẳng bao giờ thấy được chiếc máy bay nào của hãng đâu. Thậm chí chiếc limo của hãng cũng chẳng thấy nữa là. Anh thực sự là may mắn lắm đấy, Mitch. Anh phải tạ ơn Chúa mỗi ngày vì chúng tôi đã nhận anh vào đây, vào cái hãng Bendini, Lambert & Locke tốt đẹp này.”
“Chín mươi giờ dễ như bỡn. Tôi có thể sử dụng thời gian còn lại.”
“Điều đó sẽ được tưởng thưởng. Anh đã nghe về tiền thưởng của tôi năm ngoái chưa?”
“Chưa.”
“Bốn-tám-năm. Không tệ phải không? Và đó mới chỉ là tiền thưởng thôi nhé.”
“Tôi được sáu ngàn,” Mitch nói.
“Cứ bám theo tôi, anh sẽ sớm ở trong đội ngoại hạng.”
“Vâng, nhưng trước hết tôi phải trải qua cái giáo dục thường xuyên đó đã.”
Mười phút sau, chiếc limo rẽ vào một con đường dẫn đến dãy nhà chứa máy bay. Memphis Aero, một tấm biển ghi là vậy. Một chiếc Lear 55 bạc mượt mà đang chầm chậm tiến đến ga hàng không. “Nó đấy.” Avery nói.
Những chiếc cặp và hành lý được nhanh chóng chất lên máy bay, và chỉ trong vòng vài phút máy bay đã sẵn sàng để cất cánh. Mitch cài dây an toàn rồi chiêm ngưỡng khoang máy bay da-và-đồng. Nó trông hào nhoáng và xa hoa, đúng anh như kỳ vọng. Avery pha một ly cocktail nữa rồi cài dây.
Một giờ năm mươi phút sau, chiếc Lear bắt đầu hạ cánh xuống sân bay quốc tế Baltimore-Washington. Sau khi nó lăn bánh đến một điểm dừng, Avery và Mitch xuống một sân trải nhựa đường và mở cửa khoang hành lý. Avery trỏ vào một người đàn ông mặc đồng phục đứng gần cổng. “Đây là tài xế của anh. Chiếc limo ở phía trước. Cứ đi theo anh ta. Anh còn ở cách Capital Hilton khoảng bốn mươi phút đi xe nữa.”
“Một chiếc limo khác hả?” Mitch hỏi.
“Đúng. Ở Wall Street họ sẽ chẳng đối xử với anh như thế.”
Họ bắt tay nhau rồi Avery leo trở vào máy bay. Việc nạp lại nhiên liệu mất ba mươi phút, và khi chiếc Lear cất cánh, trở về hướng nam, ông lại ngủ tiếp.
Ba giờ sau, chiếc Lear hạ cánh xuống Georgetown, Grand Cayman. Nó lăn bánh qua một ga hàng không, đi đến một nhà chứa máy bay rất nhỏ, nơi nó sẽ ngụ lại qua đêm. Một nhân viên an ninh chờ Avery cùng hành lý của ông rồi hộ tống ông đến ga hàng không và di qua hải quan. Người phi công và phụ lái làm các thủ tục sau khi bay. Cả họ cũng được hộ tống qua ga hàng không.
Sau nửa đêm, những ngọn đèn trong nhà chứa máy bay được tắt và nửa tá máy bay chìm trong bóng tối. Một cửa hông mở ra và ba người đàn ông, một trong số đó là Avery, bước vào và đi nhanh đến chiếc Lear 55. Avery mở khoang hành lý, và ba người vội vã khuân xuống hai mươi lăm chiếc thùng các tông nặng. Trong cái nóng nhiệt đới oi ả, nhà chứa máy bay giống như một lò lửa. Họ nhễ nhãi mồ hội nhưng không nói gì cả cho đến khi toàn bộ những chiếc thùng được lấy ra khỏi máy bay.
“Cả thảy phải là hai mươi lăm cái. Đếm thử xem,” Avery nói với một gã bản địa bắp thịt cuồn cuộn, mặc chiếc áo ba lỗ với khẩu súng dắt bên hông. Một gã khác cầm bìa kẹp hồ sơ, nhìn chằm chặp như thể hắn ta là một thư ký nhận hàng trong một nhà kho. Gã bản địa đếm nhanh, mồ hôi chảy tong tỏng lên những chiếc thùng. “Đúng rồi. Hai mươi lăm.”
“Là bao nhiêu?” gã cầm bìa kẹp hồ sơ hỏi.
“Sáu triệu rưỡi.”
“Toàn bộ là tiền mặt?”
“Toàn bộ là tiền mặt. Đô la Mỹ. Tờ một trăm và tờ hai chục. Ta chất nó lên đi.”
“Đưa nó đi đâu đây?”
“Quebecbang. Họ đang chờ chúng ta đấy.”
Mỗi người tóm lấy một thùng. Họ bước trong bóng tối đến cánh cửa hông, nơi một đồng bọn của bọ đang chờ với một khẩu Uzi. Những chiếc thùng được chất lên một chiếc van cũ tồi tàn, với dòng chữ SẢN XUẤT TẠI CAYMAN dán cẩu thả ở bên hông. Các gã bản địa ngồi ôm súng, đợi đến khi gã thư ký lái xe rời nhà chứa máy bay, đi về hướng khu thương mại của Georgetown.
Việc đăng ký bắt đầu vào lúc tám giờ bên ngoài hội trường Century Room trên gác lửng. Mitch đến sớm, ký tên, lượm cuốn tài liệu nặng có tên anh in ngay ngắn trên bìa. Anh đi vào, chọn một chỗ gần trung tâm căn phòng lớn. Số người đăng ký được hạn chế dưới hai trăm, một tờ rơi nói vậy. Một người phục vụ mang cà phê đến và Mitch mở tờ Washington Post ra xem. Tin tức chủ yếu là một tá phóng sự về Redkins thân yêu, người đã trở lại với giải Super Bowl...
Căn phòng từ từ đông dần lên khi các luật sư thuế trên khắp đất nước tập hợp lại để nghe những phát triển mới nhất trong luật thuế vốn thay đổi từng ngày. Vài phút trước chín giờ, một luật sư bảnh chọe, trông có phần loai choai, lẳng lặng ngồi xuống bên trái Mitch. Mitch liếc nhìn anh ta rồi trở lại với tờ báo. Khi căn phòng đã đầy, người điều phối chào mừng mọi người rồi giới thiệu diễn giả đầu tiên. Một nghị sĩ nào đó từ Oregon, chủ tịch của tiểu ban House Ways and Means. Khi ông ta lên bục để bắt đầu phần trình bày dự kiến trong một giờ, gã luật sư bên trái Mitch nghiêng sang anh và đưa tay ra bắt.
“Chào Mitch,” anh ta thì thầm. “Tôi là Grant Harbison, FBI.” Anh ta trao cho Mitch một tấm thẻ.
Ông nghị sĩ khởi đầu bằng một câu chuyện tiếu lâm mà Mitch không nghe. Anh nghiên cứu tấm thẻ, giữ nó ở gần ngực. Có năm người ngồi cách anh trong phạm vi dưới một mét. Anh không quen ai trong căn phòng, nhưng anh hẳn sẽ bối rối nếu ai đó biết anh đang cầm một tấm thẻ của FBI. Sau năm phút, Mitch bắn vào Harbison một cái nhìn trống rỗng.
Harbison thì thầm, “Tôi cần gặp anh vài phút.”
“Nếu tôi bận thì sao?” Mitch hỏi.
Từ cuốn sổ tay hội thảo, người đặc vụ trượt ra một chiếc phòng bì trắng không ghi chữ và trao nó cho Mitch. Anh để nó ở gần ngực rồi mở ra. Lá thư được viết tay. Chạy dọc trên đỉnh là một dòng chữ tuy nhỏ nhưng đầy uy lực. Nội dung của nó khá giản dị: “Văn phòng Giám đốc – FBI.”
Thư viết:
Ông McDeere thân mến,
Tôi muốn nói chuyện với ông trong chốc lát vào giờ ăn trưa. Xin làm ơn thực hiện theo hướng dẫn của đặc vụ Harbison. Sẽ không lâu đâu. Chúng tôi rất trân trọng sự hợp tác của ông.
Cảm ơn ông.
F. DENTON VOYLES - Giám đốc
Mitch gập lá thư trong phong bì rồi từ từ nhét nó vào cuốn sổ tay. Rất trân trọng sự hợp tác của ông. Từ Giám đốc FBI. Anh nhận ra điều quan trọng là phải giữ sự điềm tĩnh. Phải giữ cho khuôn mặt bình thản và tĩnh tại, như thể đó chỉ là một phép xã giao đơn giản. Nhưng anh lại đang chà xát thái dương bằng cả hai tay và nhìn chúi xuống sàn. Anh nhắm mắt và cảm thấy choáng váng. FBI. Ngồi ngay bên cạnh anh! Đang chờ anh. Ông Giám đốc, và có trời biết còn ai khác nữa. Tarrance hẳn đang ở đâu đây.
Bất chợt, căn phòng bột phát những tiếng cười do đoạn tháo nút của ông nghị sĩ. Harbison nghiêng nhanh về phía anh, thì thào, “Gặp tôi tại phòng vệ sinh nam ở góc phòng trong mười phút nữa.” Người đặc vụ bỏ lại cuốn sổ tay của anh ta trên bàn rồi đi ra giữa những tiếng cười.
Mitch lật giở phần đầu của cuốn sổ tay, giả tảng như đang nghiên cứu tài liệu. Ông nghị sĩ đang kể lại chi tiết cuộc đấu tranh dũng cảm của ông nhằm bảo vệ những thiên đường thuế cho những người da trắng giàu có, đồng thời làm giảm nhẹ gánh nặng thuế má của các tầng lớp lao động. Dưới sự dẫn dắt không sợ hãi của ông, tiểu ban đã khước từ bản báo cáo tư pháp về việc hạn chế miễn trừ cho hoạt động khai thác dầu hỏa và khí đốt. Một mình ông là cả một đội quân tại Cơ quan khai báo Thuế.
Mitch chờ mười lăm phút, rồi thêm năm phút nữa, rồi bắt đầu húng hắng ho. Anh cần uống nước, và, với một tay che miệng, anh lách qua những chiếc ghế để ra sau phòng rồi đi ra cửa hậu. Trong phòng vệ sinh nam, Harbison đang rửa tay dễ đến lần thứ mười. Mitch bước đền bồn rửa cạnh anh ta rồi vặn nước lạnh. “Các anh muốn gì?” Mitch hỏi.
Harbison nhìn Mitch qua tấm gương. “Tôi chỉ làm theo lệnh. Giám đốc Voyles muốn gặp riêng anh và tôi được cử đến đón.”
“Ông ta muốn gì chứ?”
“Tôi sẽ không nhanh nhẩu đoán, nhưng tôi biết chắc chuyện này rất quan trọng.”
Mitch thận trọng nhìn quanh phòng vệ sinh. Nó trống trơn. “Còn nếu như tôi quá bận, không gặp được ông ta?”
Harbison khóa nước rồi rũ tay trong bồn. “Cuộc gặp này là không thể tránh, Mitch ạ. Đừng làm mình làm mẩy nữa. Khi cuộc hội thảo nhỏ của anh tạm dừng để mọi người ăn trưa, anh hãy tìm chiếc taxi mang số 8667 đậu ở bên ngoài, phía bên tay trái của cổng chính. Nó sẽ đưa anh đến Đài Tưởng niệm Cựu Chiến binh Việt Nam, và chúng tôi sẽ ở đó. Anh phải cẩn thận. Hai người bọn chúng đã theo anh đến đây từ Memphis.”
“Hai người của ai?”
“Những gã từ Memphis. Hãy làm theo chúng tôi nói, chúng sẽ chẳng hay biết gì đâu.”
Người điều phối cảm ơn diễn giả thứ hai - một giáo sư thuế đến từ Đại học New York - rồi tuyên bố giải tán để mọi người dùng bữa trưa. Mitch không nói gì với người lái taxi. Anh ta phóng xe như một gã điên, và họ nhanh chóng biến mất trong luồng giao thông. Mười lăm phút sau, họ đậu xe gần Đài Tưởng niệm.
“Đừng ra ngoài vội,” người tài xế nói bằng một giọng uy quyền. Mitch ngồi yên tại chỗ. Trong mười phút, anh không động đậy hay nói năng gì cả. Cuối cùng, một chiếc Ford Escort màu trắng trờ tới, lướt qua chiếc taxi rồi bóp còi và phóng tiếp. Người tài xế nhìn phía trước rồi nói, “Ổn rồi. Hãy đi đến Bức Tường. Chừng năm phút nữa họ sẽ tìm đến anh.”
Mitch bước lên vỉa hè, và chiếc taxi đi khỏi. Anh đút sâu hai tay vào túi chiếc áo khoác len, chậm rãi bước về phía Đài Tưởng niệm. Những cơn gió mạnh rét buốt từ phương bắc thổi lá bay tản mác khắp mọi hướng. Anh rùng mình, kéo cổ áo khoác lên trùm quanh tai.
Một người hành hương duy nhất ngồi đóng băng trên chiếc xe lăn, mắt dán vào Bức Tường. Một tấm chăn dày trùm kín lên ông.
Dưới chiếc nón bê rê ngụy trang quá khổ, một cặp kính mát phi công che khuất đôi mắt ông. Ông ngồi gần rìa bức tường, cạnh những cái tên của những người đã mất năm 1972. Mitch lần theo số năm dọc vỉa hè, cho đến khi anh dừng lại gần chiếc xe lăn. Anh tìm cái tên của một người đã đột nhiên bị rơi vào quên lãng. Anh hít một hơi sâu và nhận ra sự tê dại ở hai chân và bao tử. Anh chầm chậm hướng mắt xuống, và rồi, ở gần đáy, nó đây rồi. Nó được khắc lên một cách chỉn chu, một cách không suy suyển, hệt như tất cả những dòng chữ khắc khác. Đó là cái tên Rusty McDeere.
Một lẵng hoa băng giá và héo tàn nằm ở một phía bên tượng đài, chỉ cách vài phân dưới tên của anh ấy. Mitch nhẹ nhàng đặt nó sang bên rồi quỳ xuống trước Bức Tường. Anh chạm vào những con chữ khắc tên Rusty. Rusty. Rusty McDeere. Mãi mãi tuổi mười tám. Bảy tuần ở chiến trường thì bị giẫm phải mìn. Cái chết là tức thời, họ nói thế. Theo lời Ray thì họ luôn nói thế. Mitch quệt một giọt lệ nhỏ rồi đứng nhìn dọc chiều dài của Bức Tường. Anh nghĩ đến năm mươi tám ngàn gia đình đã được thông báo cái chết là tức thời và chẳng ai phải đau đớn ở nơi đó.
“Mitch, họ đang chờ đấy.”
Anh quay lại, nhìn người đàn ông trên xe lăn, người duy nhất trong tầm mắt. Cặp kính phi công nhìn sững Bức Tường và không hề ngước lên. Mitch nhìn quanh quất mọi hướng.
“Thư giãn đi, Mitch. Chúng tôi đã phong tỏa nơi này rồi. Chúng không bám theo được đâu.”
“Ông là ai?” Mitch hỏi.
“Chỉ là một người trong băng. Anh phải tin chúng tôi, Mitch. Ông Giám đốc có những lời quan trọng, những lời có thể cứu mạng anh đấy.”
“Ông ta ở đâu?” Người đàn ông trên xe lăn quay đầu lại, nhìn dọc theo vỉa hè. “Hãy đi theo lối này. Họ sẽ tìm đến anh”
Mitch nhìn thêm một lúc cái tên của anh trai rồi bước qua sau lưng chiếc xe lăn. Anh đi qua bức tượng ba người lính. Anh bước chậm, chờ đợi, hai tay đút sâu trong túi. Vượt qua bức tượng khoảng năm mươi mét, Wayne Tarrance xuất hiện từ sau một gốc cây rồi sóng bước cạnh anh.
“Cứ đi tiếp đi,” anh ta nói.
“Tôi không ngạc nhiên khi thấy anh ở đây,” Mitch nói.
“Cứ bước tiếp đi. Chúng tôi biết có ít nhất hai tên lưu manh đã bay đến trước anh từ Memphis. Chúng ở cùng khách sạn, ngay bên cạnh anh đó. Nhưng chúng không bám theo anh đến đây đâu. Tôi nghĩ chúng đã bị mất dấu.”
“Chuyện quái gì vậy, Tarrance?”
“Anh sẽ sớm biết thôi. Cứ bước đi. Nhưng hãy thư giãn, không ai bám theo anh đâu, ngoại trừ khoảng hai mươi đặc vụ chúng tôi.”
“Hai mươi?”
“Phải. Chúng tôi đã phong tỏa nơi này. Chúng tôi muốn đảm bảo đám con hoang từ Memphis đó không ló mặt ở nơi đây. Tôi nghĩ chúng không hiện diện ở đây đâu.”
“Chúng là ai?”
“Ông Giám đốc sẽ trình bày.”
“Tại sao ông Giám đốc phải dây vào?”
“Anh hỏi nhiều quá đấy, Mitch.”
“Còn anh thì trả lời quá ít.”
Tarrance trỏ sang phải. Họ rời vỉa hè, đi đến một băng ghế xi măng nặng ở gần một chiếc cầu cạn dẫn vào một cánh rừng nhỏ. Nước trong ao bên dưới đã đóng băng trắng xóa.
“Ngồi xuống đi,” Tarrance ra lệnh.
Họ ngồi xuống. Hai người đàn ông băng qua chiếc cầu cạn. Mitch lập tức nhận ra người thấp hơn là Voyles. E. Denton Voyles, Giám đốc FBI dưới ba đời Tổng thống. Một người ăn nói cứng rắn, luôn nặng tay với tội ác và nổi tiếng không khoan nhượng.
Mitch tôn trọng đứng dậy khi họ dừng lại ở băng ghế. Voyles chìa một bàn tay lạnh giá rồi nhìn Mitch, nhoẻn một nụ cười rộng từ khuôn mặt tròn trĩnh đã nổi tiếng khắp thế giới. Họ bắt tay nhau và xưng tên. Voyles trỏ vào băng ghế. Tarrance và người đặc vụ kia bước đến chiếc cầu cạn, dõi mắt nhìn chân trời. Mitch nhìn sang bên kia chiếc ao, thấy có hai người đàn ông khoác áo đen trông na ná như nhau với mái tóc hớt cao. Hẳn là các đặc vụ. Họ đứng tựa vào một gốc cây ở cách chừng một trăm mét. Voyles ngồi sát bên Mitch, chân của họ chạm nhau. Một chiếc mũ phớt nâu phủ một bên chiếc đầu to và hói. Ông ta ít nhất đã bảy mươi tuổi, nhưng cặp mắt màu lục sậm vẫn láu liên một cách mãnh liệt và không bỏ sót bất cứ điều gì. Hai người ngồi bất động trên băng ghế lạnh, đôi tay đút sâu vào túi áo khoác.
“Tôi rất trân trọng việc ông đã tới,” Voyles mở lời.
“Tôi cảm thấy mình không có lựa chọn nào. Các ông làm gắt quá.”
“Vâng. Chuyện đó là rất quan trọng đối với chúng tôi.”
Mitch hít một hơi sâu. “Ông có biết tôi bối rối và sợ hãi biết chừng nào không? Tôi vô cùng hoang mang. Tôi mong được có một lời giải thích, thưa ông.”
“Ông McDeere, tôi gọi ông là Mitch có được không?”
“Dĩ nhiên. Sao lại không chứ.”
“Tốt lắm, Mitch, tôi là một người rất kiệm lời. Và điều mà tôi sắp nói với anh chắc chắc sẽ khiến anh thấy sốc. Anh sẽ thấy khiếp hãi. Có thể anh sẽ không tin tôi. Nhưng tôi đảm bảo với anh đó là sự thật, và với sự giúp đỡ của anh chúng tôi sẽ cứu được mạng anh.” Mitch ngồi ngay ngắn lại và chờ đợi.
“Mitch, không một luật sư nào rời khỏi hãng luật của anh mà còn sống. Ba người đã thử làm vậy, và cả ba đều bị giết. Hai người chuẩn bị ra đi và họ đã chết vào mùa hè năm ngoái. Bất cứ luật sư nào gia nhập Bendini, Lambert & Locke đều không bao giờ rời khỏi hãng, trừ khi nghỉ hưu và chịu ngậm miệng. Và khi nghỉ hưu thì người đó đã trở thành đồng mưu và không thể hé răng. Hãng có một hoạt động theo dõi rất nghiêm ngặt ở tầng năm. Chúng theo dõi anh, và đôi khi cả vợ của anh nữa. Chúng đang ở đây, tại Washington này, trong khi chúng ta đang nói chuyện. Anh thấy đấy, Mitch, hãng này không chỉ là một hãng luật. Nó là chi nhánh của một tổ chức kinh doanh rất lớn, một tổ chức kinh doanh rất sinh lợi. Và rất bất hợp pháp nữa. Hãng không phải là do các đối tác sở hữu đâu.”
Mitch quay mặt lại, chăm chú nhìn ông. Vị Giám đốc nhìn chiếc ao đóng băng và nói. “Anh biết đó, Mitch, hãng luật Bendini, Lambert & Locke được sở hữu bởi gia đình tội ác Morolto ở Chicago. Đám mafia. Đám tội phạm. Chúng tổ chức những vụ giết người từ trên đó. Và đó là lý do vì sao chúng ta ngồi ở đây.” Ông nắm chặt đầu gối của Mitch, nhìn sát khuôn mặt anh, chỉ cách chừng mười lăm phân. “Chúng là mafia, Mitch ạ, và chúng bất lương bỏ mẹ đi được.”
“Tôi không tin điều đó,” anh nói, cứng người vì sợ hãi. Giọng của anh yếu ớt và thều thào.
Ông Giám đốc mỉm cười. “Có đấy Mitch, anh tin. Anh đã nghi ngờ từ ít lâu nay rồi. Đó là lý do vì sao anh trao đổi với Abanks ở Cayman. Đó là lý do anh thuê gã thám tử nhếch nhác đó và khiến cho hắn bị mấy gã ở tầng năm giết chết. Anh biết cái hãng này bốc mùi như thế nào mà, Mitch.”
Mitch khom xuống, chống các cùi chỏ lên hai gối. Anh nhìn mặt đất giữa hai đôi giày của anh. “Tôi không tin,” anh lầm bầm yếu ớt.
“Hiện tại, chúng tôi có thể nói rằng hai mươi lăm phần trăm thân chủ của chúng - hay thân chủ của anh không biết chừng - là hợp pháp. Trong hãng có một số luật sư rất tốt. Họ làm những công việc thuế má và chứng khoán cho các thân chủ giàu có. Đó là một tấm bình phong rất tốt. Hầu hết các hồ sơ anh làm việc đến nay đều là hợp pháp. Đó là cách chúng hoạt động. Chúng đưa vào một tân binh, ném tiền vào mặt anh ta, mua BMW cho anh ta, mua nhà, chi tất cả các khoản nhạc jazz và tiệc tùng, các chuyến đi đến Cayman. Rồi chúng thúc vào mông anh ta bằng những thứ thực sự hợp pháp, những thân chủ đích thực, những công việc luật sư đích thực. Điều đó diễn ra trong vài năm, và các tân binh không nghi ngờ gì cả, đúng không nào? Đó là một hãng tuyệt vời, với một đám người tuyệt vời. Tiền bạc thì rủng rỉnh. Ô này, một thứ đều rất tuyệt. Rồi sau năm hay sáu năm, khi tiền bạc đang rất tốt đẹp, khi chúng đã sở hữu các khoản thế chấp của anh, khi anh có vợ, sinh con và mọi thứ đều đang yên ổn thì chúng thả trái bom ra và nói lên sự thật. Không có lối thoát nào đâu. Đó là mafia, Mitch ạ. Những gã này không đùa được đâu. Chúng sẽ giết một trong các con của anh hay vợ anh, chúng cóc cần biết. Anh đang kiếm nhiều tiền hơn ở bất cứ nơi đâu khác. Anh bị hăm dọa vì anh có một gia đình vốn chẳng là cái quái gì đối với đám tội phạm đó. Vậy thì anh làm gì, Mitch? Anh sẽ ở lại. Anh không thể ra đi. Nếu ở lại anh sẽ kiếm được bạc triệu và sẽ nghỉ hưu với gia đình yên ổn. Còn nếu anh muốn ra đi thì anh sẽ kết thúc bằng tấm ảnh của chính anh treo trên tường thư viện ở tầng một. Chúng rất có sức thuyết phục đấy.”
Mitch chà thái dương và bắt đầu run rẩy.
“Này, Mitch, tôi biết anh đang có hàng ngàn câu hỏi. Được thôi. Vậy tôi sẽ tiếp tục nói cho anh những gì tôi biết được. Năm luật sư chết đều muốn rời khỏi hãng sau khi biết sự thật. Chúng tôi chưa bao giờ trao đổi với ba luật sư đầu vì, nói thẳng ra, chúng tôi chẳng biết gì về cái hãng này cho đến cách đây bảy năm. Chúng làm việc xuất sắc, giữ sự kín kẽ và không để lại chút dấu vết nào cả. Ba người đầu chỉ muốn rời bỏ, có lẽ vậy, và thế là họ được cho ra đi trong những cỗ quan tài. Hodge và Kozinski thì khác. Họ tiếp cận chúng tôi và, trong khoảng một năm, chúng tôi đã có nhiều cuộc gặp mặt. Chúng tung trái bom vào Kozinski sau khi anh ta đã ở đó được bảy năm. Anh ta kể cho Hodge. Họ thì thào với nhau trong suốt một năm. Kozinski sắp được phong đối tác và muốn ra đi trước khi việc đó xảy ra. Cho nên anh ta và Hodge đã lấy cái quyết định chết người là ra đi. Họ chưa bao giờ nghi ngờ về cái chết của ba người đầu, hay ít nhất họ chưa bao giờ nhắc đến chuyện đó với chúng tôi. Chúng tôi cử Wayne Tarrance đến Memphis để lôi kéo họ. Tarrance là một chuyên gia về tội ác có tổ chức từ New York. Đang lúc anh ta và hai luật sư này trở nên thân thiết thì chuyện đó xảy ra ở Cayman. Những gã ở Memphis giỏi lắm đấy, Mitch. Chớ bao giờ quên điều đó. Chúng nhận tiền và thuê những tay giỏi nhất. Cho nên, sau khi Hodge và Kozinski bị giết, tôi đã quyết phải truy bằng được cái hãng này. Nếu phá được nó, chúng tôi có thể truy tố mọi thành viên máu mặt của gia đình Morolto. Có thể sẽ có hơn năm trăm cáo trạng. Trốn thuế, rửa tiền, tống tiền, thứ gì cũng có cả. Việc này có thể hạ gục gia đình Morolto, và nó có thể là một trong những đòn giáng hủy diệt nhất trong ba mươi năm qua vào tội ác có tổ chức. Và, Mitch ạ, tất cả đều có trong các hồ sơ tại cái hãng Bendini be bé và im hơi lặng tiếng này tại Memphis.”
“Tại sao lại là Memphis?”
“À, câu hỏi rất hay. Ai lại đi nghi ngờ một hãng nhỏ ở Memphis, Tennessee, cơ chứ? Không có hoạt động lưu manh nào dưới đó cả. Chỉ là một thành phố ven sông yên tĩnh, đáng yêu và hiền hòa. Durham, Topeca, hay Wichita Falls thì cũng được đấy, nhưng chúng đã chọn Memphis. Nó đủ lớn để che giấu một hãng bốn mươi người. Một sự lựa chọn hoàn hảo.”
“Ý ông là tất cả các đối tác...” Giọng của anh lạc đi.
“Đúng vậy, tất cả các đối tác đều biết luật và chơi theo luật. Chúng tôi ngờ rằng đa số các cộng sự cũng biết, nhưng điều đó cũng khó nói. Có quá nhiều điều chúng tôi chưa biết, Mitch ạ. Tôi không thể giải thích cách vận hành của hãng và ai đang điều khiển nó. Nhưng chúng tôi cực kỳ nghi ngờ ở dưới đó đang có nhiều hoạt động phạm pháp.”
“Như là?”
“Gian lận thuế. Chúng làm tất cả những công việc về thuế cho đám Morolto. Chúng lập những hồ sơ lợi nhuận thu về trông sao cho đẹp đẽ, gọn gàng, dễ nhìn và chỉ báo cáo một phần nhỏ thu nhập. Chúng rửa tiền như điên dại. Chúng dựng lên những hoạt động kinh doanh hợp pháp bằng tiền bẩn. Cái ngân hàng ở St. Louis đó... Thân chủ lớn hả? Nó là gì vậy?”
“Đảm bảo thương mại.”
“Phải, đúng rồi. Nó là do mafia sở hữu. Hãng làm tất cả những phần việc pháp lý cho nó. Morolto thu về khoảng ba trăm triệu mỗi năm tiền cờ bạc, ma túy, cá cược, mọi thứ. Toàn bộ là tiền mặt, đúng không? Phần lớn số tiền đó đi qua các ngân hàng ở Cayman. Làm sao nó di chuyển được từ Chicago đến các đảo đó ư? Anh có ý nào không? Máy bay, chúng tôi ngờ là vậy. Chiếc Lear mạ vàng mà anh dùng để bay lên đây đang quay lại Georgetown với tần suất mỗi tuần một lần đấy!”
Mitch ngồi thẳng dậy, nhìn Tarrance, người đã ra khỏi tầm nghe và nay đang đứng trên chiếc cầu cạn. “Vậy sao ông không xúc tiến các truy tố của ông và phá banh nó luôn đi?”
“Chúng tôi không thể. Nhưng chúng tôi sẽ, tôi đảm bảo với anh đó. Tôi đã tung năm đặc vụ cho dự án ở Memphis và ba đặc vụ tại Washington này. Tôi sẽ tóm được chúng, Mitch, tôi thề với anh đấy. Nhưng chúng tôi cần có ai đó ở bên trong. Chúng rất thông minh. Chúng có rất nhiều tiền. Chúng cực kỳ thận trọng, và chúng không phạm sai lầm. Tôi tin chúng tôi cần có sự giúp đỡ của anh hay một thành viên nào khác của hãng. Chúng tôi cần các bản sao hồ sơ, các bản sao chứng từ ngân hàng, các bản sao của hàng triệu tài liệu vốn chỉ đến được từ bên trong mà thôi. Bằng không sẽ chỉ là vô vọng.”
“Và tôi đã được chọn?”
“Và anh đã được chọn. Nếu anh khước từ thì anh cứ việc đi tiếp con đường của anh, kiếm hàng đống tiền và trở thành một luật sư thành đạt. Nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực. Chúng tôi sẽ đợi một cộng sự mới kế tiếp và cố gắng chiêu dụ anh ta. Và nếu việc đó không có tác dụng, chúng tôi sẽ chuyển sang một trong những cộng sự cao tuổi hơn, người nào đó có sự can đảm, có đạo đức, có khí phách để làm điều phải. Một ngày nào đó chúng tôi sẽ tìm ra được người này, Mitch ạ, và khi điều đó diễn ra thì chúng tôi sẽ truy tố anh cùng toàn bộ những gã còn lại và đá cái mông giàu có thành đạt của anh vào nhà tù. Điều đó sẽ đến, con trai ạ, tin tôi đi.”
Vào khoảnh khắc đó, tại nơi đó và thời điểm đó, Mitch đã tin lời ông. “Ông Voyles, tôi bị lạnh. Ta đi bộ loanh quanh có được không?”
“Dĩ nhiên, Mitch.”
Họ bước chầm chậm trên vỉa hè, đi về hướng Đài Tưởng niệm Việt Nam. Mitch liếc nhìn ra sau. Tarrance và người đặc vụ kia đang đi theo cách một quãng. Một đặc vụ khác trong trang phục nâu sậm đang cảnh giác ngồi trên băng ghế công viên trên vỉa hè.
“Anthony Bendini là ai?” Mitch hỏi.
“Ông ta kết hôn với một người trong gia đình Morolto vào năm 1939. Là con rể của lão già. Hồi đó họ có một hoạt động tại Philadelphia, và ông ta được cài vào đó. Rồi, trong những năm bốn mươi, vì lý do nào đó, ông ta được cử đến Memphis để dựng hãng. Ông ta là một luật sư giỏi, theo như những gì chúng tôi biết.”
Hàng ngàn câu hỏi ngập tràn trong óc anh, tranh nhau để được nêu. Anh cố tỏ ra điềm tĩnh, kiểm soát, ngờ vực.
“Oliver Lambert thì sao?”
“Đó là một ông hoàng. Một đối tác cấp cao hoàn hảo, người biết tất tật về Hodge và Kozinski lẫn kế hoạch thủ tiêu họ. Lần sau anh gặp ‘ông Lambert’ quanh văn phòng thì hãy nhớ rằng hắn là một gã sát nhân máu lạnh. Dĩ nhiên, hắn không có lựa chọn nào. Nếu hắn không hợp tác thì hắn sẽ được tìm thấy nổi lềnh bềnh ở đâu đó. Tất cả bọn họ đều thế cả, Mitch ạ. Họ bắt đầu cũng hệt như anh thôi. Trẻ, sáng láng, tham vọng. Rồi đột nhiên một ngày nọ họ bị lún sâu đến mức không còn nơi nào khác để mà đi. Thế là họ tham gia vào luôn, làm việc chăm chỉ, thực hiện cái công việc đồ sộ là lập ra tấm bình phong thật tốt để trông có vẻ là một hãng luật nhỏ đáng kính. Mỗi năm chúng lại tuyển một luật sư trẻ sáng láng với gia cảnh nghèo khó, không có tiền bạc của gia đình, với một cô vợ đang thèm sinh con. Rồi chúng ném tiền vào anh ta và ký kết với anh ta.”
Mitch nghĩ đến tiền bạc, đến khoản lương hậu hĩnh từ một hãng nhỏ bé ở Memphis. Anh nghĩ đến chiếc xe, đến khoản vay thế chấp lãi suất thấp. Anh đã hướng đến Wall Street, nhưng đã bị lôi kéo bởi tiền bạc. Chỉ vì tiền bạc. “Nathan Locke thì thế nào?”
Ông Giám đốc mỉm cười. “Locke lại là một câu chuyện khác. Hắn lớn lên ở Chicago, là một tên nhóc nghèo chuyên chạy việc vặt cho lão Morolto từ lúc mới lên mười. Suốt đời, hắn là gã chạy vặt, cố cày cuốc để vượt qua trường luật. Và rồi lão già cử hắn xuống phía nam cùng Anthony Bendini trong nhánh cổ cồn trắng của gia đình. Hắn luôn là một lính cưng của lão già.”
“Morolto chết khi nào?”
“Mười một năm trước ở tuổi tám mươi tám. Lão có hai đứa con trai nhầy nhụa Mickey the Mouth và Joey the Priest. Mickey sống ở Las Vegas và giữ một vai trò hạn hẹp trong hoạt động kinh doanh của gia đình. Joey mới chính là ông trùm.”
Vỉa hè ra đến đoạn giao nhau với một vỉa hè khác. Xa xa bên trái, tượng đài Washington vươn lên trong gió lạnh. Ở bên phải là lối đi bộ dẫn đến Bức Tường. Một nhóm người đang săm soi nó, tìm kiếm những cái tên của con trai, của chồng, hay của bạn. Mitch đi thẳng đến Bức Tường. Họ bước chầm chậm.
Mitch nhỏ nhẹ nói, “Tôi không hiểu bằng cách nào hãng có thể làm quá nhiều việc bất hợp pháp như vậy mà vẫn giữ được sự kín kẽ. Nơi này chứa đầy những thư ký, lục sự và trợ lý.”
“Nhận xét tốt đấy, nhưng đó là một nhận xét mà tôi không thể giải đáp được hoàn toàn. Chúng tôi nghĩ nó vận hành như hai hãng khác nhau. Một hãng thì hợp pháp, với những cộng sự mới, phần lớn các thư ký và trợ lý, cạnh đó là các cộng sự và đối tác cấp cao làm những công việc bẩn thỉu. Hodge và Kozinski sắp trao cho chúng tôi hàng đống thông tin, nhưng họ không bao giờ còn làm được việc đó nữa. Hodge có lần nói với Tarrance về một nhóm trợ lý ở tầng hầm mà anh ta biết rất ít. Họ làm việc trực tiếp với Milligan, McKnight cùng vài đối tác khác, và không ai biết chắc mình đang làm gì. Các thư ký biết mọi chuyện, và chúng tôi nghĩ một số họ cũng đã tham gia vào. Nếu quả vậy, tôi tin chắc họ đã được trả tiền và quá sợ hãi để có thể nói ra. Hãy suy nghĩ đi, Mitch. Nếu anh làm việc ở đó, kiếm được nhiều tiền, nhiều phúc lợi, rồi anh biết nếu đặt ra quá nhiều câu hỏi hoặc bắt đầu bép xép thì sẽ bị kết liễu ở trên sông, khi đó anh sẽ làm gì? Anh sẽ ngậm miệng và nhận tiền.”
Họ dừng lại ở đầu Bức Tường, nơi có tấm đá hoa cương đen khởi đầu từ sát mặt đất và chạy dài bảy mươi lăm mét cho đến khi nó khép thành góc với dãy những tấm biển tương tự thứ hai. Cách khoảng mười tám mét, một cặp vợ chồng già đang nhìn Bức Tường và sụt sùi khóc. Họ ôm nhau để giữ ấm và cũng để tăng sức mạnh. Bà mẹ cúi xuống, đặt một khung ảnh trắng đen lên chân Bức Tường. Ông bố đặt xuống cạnh đó một chiếp hộp giày chứa đầy những kỷ vật thời trung học. Những chương trình thi đấu bóng bầu dục, những tấm ảnh chụp cả lớp, những lá thư tình, những móc khóa, và một sợi dây chuyền vàng. Họ khóc lớn hơn. Mitch quay lưng lại Bức Tường, nhìn tượng đài Washington. Ông Giám đốc quan sát đôi mắt anh. “Vậy tôi phải làm gì?” Mitch hỏi.
“Trước hết, hãy ngậm chặt miệng. Nếu anh bắt đầu đặt câu hỏi thì mạng anh sẽ lâm nguy. Mạng của vợ anh cũng thế. Đừng sinh con trong tương lai gần. Con cái sẽ là những mục tiêu dễ. Tốt nhất hãy sắm vai khờ khạo, cứ ra vẻ như mọi thứ đều tuyệt vời và anh vẫn đang lên kế hoạch để trở thành luật sư vĩ đại nhất. Thứ hai, anh phải quyết định. Không phải ngay bây giờ, nhưng sớm thôi. Anh phải quyết định có hợp tác hay không. Nếu anh chọn hỗ trợ chúng tôi, dĩ nhiên chúng tôi sẽ làm cho quyết định đó là xứng đáng cho bản thân anh. Nếu anh quyết định không hợp tác, chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi hãng cho đến khi nào tiếp cận được một cộng sự khác. Như tôi đã nói, một ngày nào đó chúng tôi sẽ tìm ra người có đủ khí phách và sẽ triệt hạ đám con hoang đó. Và gia đình tội ác Morolto như ta thấy ngày nay sẽ thôi tồn tại. Chúng tôi sẽ bảo vệ anh, Mitch, và anh sẽ không bao giờ phải làm việc nữa suốt cuộc đời.”
“Cuộc đời nào? Nếu như còn sống thì tôi sẽ phải vĩnh viễn sống trong sợ hãi. Tôi đã nghe nhiều câu chuyện về những nhân chứng được cho là FBI đang bảo vệ. Mười năm sau, chiếc xe nổ tung khi họ đang de nó để đi đến chỗ làm. Thi thể của họ văng tung tóe khắp cả ba dãy phố. Đám tội phạm chúng không bao giờ quên, ông Giám đốc ạ. Ông biết điều đó mà.”
Ông Giám đốc nhìn đồng hồ. “Tốt nhất anh nên về kẻo chúng nghi ngờ. Tarrance sẽ liên lạc lại. Hãy tin anh ta, Mitch. Anh ta đang cố cứu mạng của anh đấy. Anh ta có toàn quyền hành động thay mặt tôi. Nếu anh ta nói với anh điều gì thì anh nên hiểu điều đó đến từ tôi. Anh ta có thể thương lượng với anh.”
“Thương lượng gì cơ?”
“Các điều khoản, Mitch ạ. Những gì chúng tôi mang đến cho anh để đổi lấy việc anh giúp chúng tôi. Chúng tôi muốn gia đình Morolto, và anh có thể giao nộp nó. Anh cứ ra giá của anh đi. Thông qua FBI, chính phủ sẽ đáp ứng. Trong phạm vi hợp lý, dĩ nhiên. Và khoản chi đó đến từ tôi, Mitch ạ.”
Họ chầm chậm bước dọc Bức Tường và dừng lại cạnh người đặc vụ trên xe lăn. Voyles trỏ ngón tay. “Kìa, chiếc taxi đang đợi anh, số 1073, cùng với tài xế. Anh nên đi ngay đi. Chúng ta sẽ không gặp nhau nữa, nhưng Tarrance sẽ liên lạc với anh trong vài tuần tới. Làm ơn hãy suy nghĩ về những điều tôi nói. Đừng tự thuyết phục mình rằng hãng đó là bất khả chiến bại và có thể hoạt động vĩnh viễn, bởi vì tôi sẽ không cho phép điều đó. Chúng tôi sẽ ra tay trong một tương lai gần, tôi hứa đấy. Tôi chỉ hy vọng anh đứng về phía chúng tôi.”
“Tôi không hiểu các ông kỳ vọng tôi làm gì.”
“Tarrance đã có kế hoạch tác chiến. Rất nhiều điều sẽ tùy thuộc vào anh và những gì anh biết nếu như anh chịu tham gia.”
“Tham gia?”
“Đúng vậy, Mitch. Một khi anh tham gia thì sẽ không còn đường lui nữa đâu. Chúng có thể còn tàn bạo hơn bất cứ tổ chức nào trên thế gian.”
“Tại sao các ông lại chọn tôi?”
“Chúng tôi phải chọn một ai đó. Không, nói vậy không đúng. Chúng tôi chọn anh vì anh có đủ khí phách để bước ra khỏi đó. Ngoài vợ của anh ra, anh không có gia đình, không có mối dây ràng buộc nào, không có cội rễ nào. Tất cả những ai anh quan tâm đều làm tổn thương anh, ngoại trừ Abby ra. Anh tự nuôi nấng mình và bằng cách đó anh đã trở nên tự lực và độc lập. Anh không cần cái hãng đó. Anh có thể rời bỏ nó. Anh đã trở nên rắn rỏi và chai sạn qua năm tháng. Và anh có thừa thông minh để thoát ra, Mitch ạ. Anh sẽ không để cho chúng tóm. Đó là lý do vì sao chúng tôi chọn anh. Chúc một ngày tốt lành, Mitch. Cảm ơn vì đã đến. Tốt nhất anh nên đi ngay.”
Voyles quay lại rồi bước nhanh. Tarrance chờ ở cuối Bức Tường và gửi đến anh một cái chào nhanh như thể muốn nói, “Chậm quá - mau lên đi.