Hãy Chăm Sóc Mẹ

Lượt đọc: 566 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
tôi đã về đây! 2.

Ông nhìn cái chuồng chó đặt gần cổng vào sân bên. Đáng lẽ con chó phải

sủa chứ, đằng này trong nhà hoàn toàn tĩnh lặng. Ông không thấy sợi dây

xích dâu; chắc chị gái ông đã mang con chó sang bên nhà vì thấy mệt khi

cứ phải qua cho nó ăn. Ông không đóng ngay cổng lại mà cứ để ngỏ rồi

bước qua sân vào ngồi xuống thềm. Những lần vợ ông lên Seoul một mình,

ông thường ngồi trên thềm như thế này. Khi vợ ông gọi điện từ Seoul về

hỏi, “Ông đã ăn uống gì chưa?” thế nào ông cũng hỏi lại, “Thế bao giờ bà

về?”

“Sao chứ? Ông nhớ tôi à?”

Ông sẽ trả lời, “Nhớ cái gì mà nhớ, bà không phải lo cho tôi, lần này cứ

ở chơi cho chán đi rồi khi nào thích thì hãy về.” Nhưng cho dù ông có

nói gì đi nữa, chỉ cần nghe ông hỏi, “Bao giờ bà về?” là vợ ông trở về

nhà ngay, bất kể lý do nào đã đưa bà ấy lên Seoul. Khi vợ về, ông lại

nói như thể trách móc, “Sao bà về sớm thế? Tôi đã bảo bà cứ ở đấy bao

lâu tùy thích mà lại...” Bà vừa lườm ông vừa bảo, “Ông tưởng tôi về vì

ông chắc? Tôi về cho con chó nó ăn đấy chứ.”

Chính những gì vợ ông chăm sóc đã khiến ông vứt bỏ hết mọi thứ ông có

được ở những nơi mới lạ để trở về nhà. Mỗi khi mở cổng bước vào nhà, ông

lại thấy vợ mình đầu quấn cái khăn cáu bẩn, đang vừa bới khoai lang hay

làm men rượu vừa để ý Hyong-chol học bài bên bàn. Chị ông thích nói rằng

nguyên nhân khiến ông thích đi lang bạt là do hồi còn trẻ ông thường

xuyên không ngủ ở nhà để trốn khỏi phải tham gia quân dịch. Mặc dù thực

ra không phải ông muốn trốn tránh nhập ngũ. Một lần ông thậm chí còn đi

đến đồn cảnh sát vì đã quá mệt mỏi với việc trốn tránh. Chú ông, một

cảnh sát chỉ hơn ông năm tuổi, đã đuổi ông về. Ông chú nói: Dù dòng họ

có tàn lụi đi chăng nữa, thì người trưởng tộc vẫn phải sống. Dù cả gia

tộc có sa sút thì người trưởng tộc vẫn phải sống để duy trì mồ mả tổ

tiên và lo giỗ chạp cúng tế. Nhưng đó xem ra chẳng phải lý do đủ chính

đáng để chú ông đặt ngón tay trỏ của ông dưới chiếc liềm rồi xẻo đi một

đốt. Bởi vì thực ra việc chăm sóc mồ mả tổ tiên và chuẩn bị cúng tế mỗi

mùa trong năm đều do một tay vợ ông làm cả. Đó có phải là lý do không?

Có phải ông trở thành một kẻ lang thang là bởi vì trước đây ông phải rời

nhà ra ngoài ngủ dưới sương dưới tuyết không? Có lẽ đúng như thế thật.

Thói quen ngủ ngoài đường có lẽ chính là lý do tại sao ông cứ lang thang

xa nhà. Khi ngủ ở nhà ông luôn thấp thỏm lo sợ sẽ có người nhảy bổ qua

cổng vào bắt ông đi. Có lần thậm chí ông còn chạy ào ra khỏi ngôi nhà

này vào lúc nửa đêm như thể có ai đó đang rượt đuổi.

Một đêm đông, ông trở về nhà thấy các con đều đã lớn tướng. Trời lạnh

cắt da cắt thịt nên mấy mẹ con tập trung cả vào một phòng ngủ chung với

nhau. Vợ ông lặng lẽ đi lấy bát cơm ủ ở cạnh lò sưởi và lôi cá ở bàn ăn

phủ khăn ra đặt trước mặt ông. Đó là một đêm bão tuyết rất to. Vợ ông

nướng rong biển trên bếp lò. Mùi thơm nức của dầu tía tô đánh thức từng

đứa con ông, cả lũ chúng chạy đến ngồi quanh bố. Ông cuốn cơm với rong

biển vợ ông vừa nướng rồi đút vào miệng cho từng đứa con một. Ông lần

lượt đút cho thằng lớn, sau đó đến thằng thứ hai, rồi đến cô con gái

lớn. Cô con gái thứ và đứa con út vẫn chưa được bố đút miếng nào vào

miệng thì thằng anh lớn đã lại há miệng chờ bố cuốn iếng khác. Tốc độ

cuốn cơm rong biển của ông không kịp so với tốc độ ăn của lũ con. Chẳng

mấy chốc, ông đã thấy sợ sự háu ăn của chúng. Ông nghĩ thầm không biết

làm thế nào nuôi được cả lũ con này. Đó là khi ông quyết định phải quên

đi thế giới bên ngoài, ông không thể rời ngôi nhà này lần nữa.

“Tôi đã về đây!”

Ông mở cửa phòng ngủ nhìn vào trong. Không có ai trong phòng. Mấy chiếc

khăn gập ngay ngắn đặt ở góc phòng, vợ ông đã đặt chúng ở đó trước khi

ông đưa bà lên Seoul. Cốc nước ông dùng để uống thuốc vào buổi sáng hôm

lên thành phố đặt trên sàn nhà giờ đã khô hết nước. Đồng hồ treo tường

chỉ đúng ba giờ chiều, bóng bụi trúc ngả lên cánh cửa phòng hướng ra sân

sau.

“Tôi bảo tôi về rồi đây.” Ông thì thầm một mình với căn phòng trống, đôi

vai ông trĩu xuống. Ông đã nghĩ gì vậy? Ông khước từ cậu con trai cả cứ

kiên quyết phản đối chuyện ông bỏ về nhà một mình, và đón chuyến tàu

sáng về nhà. Một góc nhỏ trong trái tim ông hy vọng rằng, khi ông bước

vào nhà và gọi to, “Bà ở trong đó à? Tôi về rồi đây này!” vợ ông sẽ chào

đón ông như ngày xưa, “Ông về rồi đấy à!” Có lẽ khi đó vợ ông đang lau

sàn hoặc nhặt rau trong kho hoặc đãi gạo ở bếp. Ông cứ nghĩ điều đó có

thể sẽ xảy ra. Nhưng ngôi nhà hoàn toàn trống trải. Cảm giác thật hiu

quạnh, cứ như nó đã bị bỏ hoang từ rất lâu rồi.

Ông đứng dậy mở toang tất cả cửa phòng của ngôi nhà trống trải để nhìn

vào trong. Ông mở cửa phòng ngủ rồi phòng ngách rồi nhà bếp và cả cửa

phòng sưởi để tìm kiếm. Cứ mở một cánh cửa là ông lại hỏi, “Bà ở trong

đấy à?” Từ khi sống trong ngôi nhà này, đây là lần đầu tiên ông sốt sắng

đi tìm vợ mình như vậy. Vợ ông có tìm ông như thế này mỗi lần ông bỏ nhà

ra đi hay không? Ông chớp chớp đôi mắt khô rang rồi mở cánh cửa nhà bếp,

nhìn về phía nhà kho mà lẩm bẩm, “Bà có ở trong đó không?” Chỉ có cái

phản gỗ đứng trong đó, chơ vơ.

Trước đây đôi khi ông cũng đứng ở đúng chỗ này quan sát vợ đang luôn tay

luôn chân làm việc gì đó trong gian nhà kho, lúc ấy cho dù ông không gọi

thì vợ ông vẫn nhìn về phía ông và hỏi, “Gì thế ông? Ông cần cái gì à?”

Nếu ông bảo, “Mấy đôi tất của tôi đâu ấy nhỉ, tôi định vào trong thị

trấn một lát,” thì vợ ông sẽ vội vàng tháo đôi găng tay cao su ra rồi đi

vào trong nhà để lấy quần áo cho ông.

Ông nhìn chăm chăm vào gian nhà kho trống không và lẩm bẩm, “Này... tôi

đói bụng rồi. Tôi muốn ăn cái gì đó!”

Mỗi khi ông nói muốn ăn cái gì đó, thì cho dù có đang giã hồ tiêu hay

xếp lá vừng hay muối cải thảo đi chăng nữa, vợ ông đều dừng ngay lại

không chút lưỡng lự, tiến đến chỗ ông mà nói, “Tôi đã hái được một ít lá

ba chưởng trên núi đấy, ông có muốn ăn bánh lá ba chưởng không? Ông đợi

tôi rán với bột à ăn!” Tại sao lúc đó ông không nhận ra rằng mình đang

có một cuộc sống yên bình và may mắn? Chưa bao giờ ông nấu cho vợ mình

một bát canh rong biển, vậy mà tại sao ông lại nhận tất cả những gì vợ

làm ột cách thản nhiên như thế? Một lần vợ ông vào thị trấn về có nói

chuyện với ông, “Ông này, ông biết ông hàng thịt ở chợ mà ông hay ghé

qua chứ? Hôm nay tôi đi ngang qua đó, vợ ông ấy cứ gọi mãi nên tôi vào

chơi. Bà ấy mời tôi một bát canh rong biển, thế là tôi hỏi có dịp gì

vậy. Bà ấy nói rằng hôm nay là sinh nhật của bà ấy nên ban sáng ông

chồng đã nấu cho bà ấy cả một nồi canh rong biển.” Ông chỉ lặng im lắng

nghe, và vợ ông nói tiếp, “Nó không ngon lắm. Nhưng đây là lần đầu tiên

tôi thấy ghen tị với vợ ông hàng thịt.”

Đôi mắt khô cằn của ông chớp chớp. Giờ này bà đang ở đâu... Chỉ cần vợ

ông có thể trở về ngôi nhà này thì không chỉ món canh rong biển mà ông

còn làm cả bánh cho bà ấy nữa. Bà đang trừng phạt tôi ư... Đôi mắt khô

cằn của ông đã đẫm lệ.

Ông bỏ nhà ra đi bất cứ khi nào ông muốn và chỉ trở về nhà lúc ông

thích, nhưng ông chưa từng nghĩ rằng vợ mình sẽ là người ra đi trước.

Phải đến khi người vợ bị lạc, ông mới nhớ lại lần đầu tiên ông gặp vợ

mình. Đó là sau khi hai gia đình quyết định hôn sự mà hai người chưa hề

biết mặt nhau. Chiến tranh đã kết thúc nhờ thỏa thuận ngừng bắn tại Bàn

Môn Điếm giữa chỉ huy của đội quân Liên hiệp quốc và chỉ huy của lực

lượng cộng sản, nhưng tình hình xã hội còn lộn xộn hơn cả trong thời

chiến. Thời gian đó, quân lính Bắc Triều Tiên đói khát cứ tối đến lại

kéo ra khỏi chỗ ẩn náu trên núi rồi tràn xuống cướp bóc làng mạc. Khi

màn đêm buông xuống, những gia đình có con gái đến độ tuổi gả chồng lại

cuống quýt mang con gái đi trốn. Tin đồn lính tráng từ trên núi tràn

xuống bắt cóc các cô gái trẻ lan khắp các làng. Có nhà còn đào cả hầm ở

gần đường sắt để giấu con gái ở đó. Những nhà khác thì tụ tập cả lại một

nhà và nơm nớp suốt cả đêm. Cũng có nhà vội vàng gả chồng sớm cho con

gái. Ngôi làng mà vợ ông sinh ra và sống ở đó cho đến khi lấy ông có tên

là Chinmoe. Lúc chị cả của ông nói rằng ông sẽ lấy một cô gái ở làng

Chinmoe, ông mới tròn hai mươi tuổi. Chị ông nói rằng, đó là cô gái có

số tử vi rất hợp với số tử vi của ông. Làng Chinmoe. Đó là một ngôi làng

miền núi cách làng của ông chừng mười dặm. Hồi đó, người ta cứ cưới xin

khi chưa hề gặp mặt nhau lần nào. Lễ cưới sẽ được tổ chức vào tháng Mười

ở sân nhà cô gái trẻ, một thời điểm nào đó sau khi đã thu hoạch hết lúa

ngoài cánh đồng. Sau khi ngày kết hôn được ấn định, cứ thấy ông cười là

mọi người lại trêu, bảo rằng chắc ông phải vui lắm vì được lấy vợ. Ông

chẳng thích mà cũng chẳng không thích chuyện này. Chị ông phải làm hết

mọi việc trong nhà, vì thế mọi người đều nói ông phải nhanh chóng lấy vợ

để còn có người chăm sóc gia đình. Mặc dù điều này rất đúng, nhưng ông

nghĩ ông không thể chung sống với người phụ nữ mà mình chưa hề gặp mặt

dù chỉ một lần.

Ông không bao giờ muốn làm nghề nông cả đời tại ngôi làng này và kết

thúc cuộc đời ở đó. Vào thời điểm mà ngay cả trẻ con cũng phải ra đồng

vì nhà thiếu người làm, ông lại thích lang thang trong thị trấn cùng hội

bạn. Ông đã lên kế hoạch bỏ làng tới một thành phố khác gây dựng một

xưởng ủ bia với hai người bạn tâm đầu ý hợp. Ông mải mê với việc hùn vốn

làm ăn chứ không hề quan tâm đến chuyện cưới xin, vậy điều gì đã khiến

ông đi sang làng Chinmoe?

Ngôi nhà của người con gái đã hứa hôn với ông vào tháng Mười này là một

túp lều xiêu vẹo, phía sau là một bụi tre rậm rạp bao quanh. Cô mặc

chiếc áo choàng bằng vải bông, ngồi ở thềm túp lều thêu hình chim phượng

hoàng trên khung thêu. Ánh sáng phủ lên mái lều và sân, nhưng khuôn mặt

cô gái vẫn u tối. Thỉnh thoảng cô lại ngước mắt lên nhìn bầu trời. Cô cứ

nhìn đàn ngỗng bay thành hàng trên nền trời trong xanh cho đến khi chúng

mất dạng. Cô gái đứng dậy đi ra ngoài. Ông theo cô ra ruộng bông phía

sau túp lều. Mẹ vợ tương lai của ông đang lom khom hái bông ngoài đó.

“Mẹ ơi,” cô gái gọi mẹ từ xa. “Sao thế con?” bà mẹ vợ ông trả lời cô con

gái nhưng không quay đầu lại mà vẫn tiếp tục hái bông. Những cục bông

trắng xóa cứ bay lượn dập dờn theo cơn gió giữa hai mẹ con. “Mẹ ơi,” cô

gái lại gọi mẹ một lần nữa. Bà mẹ vợ tương lai vẫn chỉ đáp lời mà không

quay lại, “Sao thế con.”

“Con không đi lấy chồng có được không hả mẹ?”

Ông chết điếng người.

“Cái gì?”

“Con cứ sống với mẹ thế này không được à?”

Những cục bông trắng xóa bay vút lên cao theo cơn gió.

“Không được!”

“Sao lại không được!” cô gái nói như muốn bật khóc.

“Chẳng nhẽ mày muốn bọn người trên núi xuống bắt mày đi thì mày mới

sướng à?”

Vợ tương lai của ông không nói thêm câu gì, ngồi bệt xuống cánh đồng

bông, xoãi chân ra rồi òa khóc. Lúc này, cô không còn là cô gái nghiêm

trang, e lệ như lúc ngồi thêu trên thềm túp lều nữa. Cô khóc nức nở sầu

thảm đến mức chỉ đứng quan sát cô từ phía sau mà ông cũng muốn bật khóc

theo. Khi đó bà mẹ vợ tương lai của ông bước ra khỏi ruộng bông và tiến

lại chỗ con gái.

“Nào nào, con có cảm giác như thế là vì con hãy còn trẻ. Nếu không vì

chiến tranh, mẹ sẽ giữ con ở lại với mẹ thêm vài năm nữa, nhưng chúng ta

có thể làm gì được khi mà thế giới đáng sợ nhường này? Đi lấy chồng

không phải là việc xấu xa đâu. Đó là việc con không thể tránh được vì

con sinh ra ở vùng sơn cốc này. Mẹ không cho con đi học được, thế nên

nếu không lấy chồng thì con có thể làm được gì? Mẹ đã xem bói cho hai

đứa rồi, họ bảo hai đứa sẽ có rất nhiều phúc lộc. Con sẽ có đông con cái

và không mất một đứa nào, chúng lớn lên đều khôn trưởng và thành đạt.

Con còn mong muốn gì hơn nữa? Con người ta đến với thế gian này đều phải

kết thành đôi lứa để chung sống hạnh phúc và sinh con đẻ cái rồi nuôi

dạy con cái trưởng thành. Mẹ sẽ lấy bông trong ruộng này làm những tấm

chăn đặc biệt cho chúng mày, thôi nín đi con.”

Cô con gái vẫn cứ khóc rưng rức còn bà mẹ đưa tay vỗ vỗ lưng cô. “Thôi

nào, nín đi nào...”

Nhưng cô con gái vẫn không nín, đến lúc đó cả bà mẹ vợ ông cũng bật khóc

nức nở.

Nếu không chứng kiến cảnh hai mẹ con ôm nhau khóc ngoài cánh đồng bông,

có lẽ ông đã bỏ nhà ra đi trước tháng Mười. Khi ông nghĩ đến cô gái trẻ

ngồi thêu trên thềm căn lều ấy, cô gái đã cất tiếng gọi mẹ ngoài cánh

đồng bông rồi ngồi phịch xuống đất khóc lóc thảm thiết, khi ông nghĩ

rằng có thể một đêm nào đó cô gái sẽ bị lính trên núi xuống bắt đi mà

không để lại dấu vết gì, ông đã không thể cất bước ra đi.

Trở về ngôi nhà trống sau khi vợ đi lạc, ông ngủ ba ngày liền. Ông đã

không tài nào ngủ được ở nhà Hyong-chol, cứ đêm đến ông lại nhắm mắt nằm

yên lặng. Đôi tai ông đâm ra rất nhạy, chỉ cần ai đó mở cửa phòng đi vệ

sinh ngang qua là ông mở mắt tỉnh ngay. Trong suốt thời gian ở đó, cứ

mỗi khi đến bữa là ông đành phải ngồi xuống bàn ăn vì nghĩ đến những

người khác, mặc dù ông không thiết ăn mà cũng chẳng thấy đói. Nhưng khi

ở trong ngôi nhà trống trải của mình, ông không ăn uống gì mà chỉ ngủ

như chết.

Ông đã nghĩ rằng tình cảm của ông dành cho vợ mình không sâu sắc lắm, vì

ông lấy bà sau chỉ đúng một lần gặp mặt, khi bà ngồi thêu chim phượng

trên thềm rồi ra khóc nức nở ở ngoài cánh đồng bông. Nhưng mỗi lần bỏ

nhà đi lang bạt, cứ sau một thời gian là hình ảnh người vợ lại hiện ra

trong suy nghĩ của ông. Vợ ông mát tay nuôi bất cứ thứ gì. Nhà ông vốn

không có duyên nuôi súc vật. Trước khi vợ ông về ngôi nhà này, cứ có con

chó nào là con ấy chết mà chưa kịp sinh lứa nào. Con thì ăn phải bả

chuột, con thì lăn xuống nhà vệ sinh. Có một lần, chẳng hiểu sao không

ai để ý thấy con chó lết vào tận trong lò sưởi rồi chết thiêu trong lò.

Mãi tới lúc ngửi thấy mùi thối bốc lên, ông mới đi nâng cái nắp lò để

kéo xác con chó ra. Dù chị gái ông nói rằng cái nhà này không nuôi được

chó, nhưng vợ ông vẫn sang hàng xóm bắt một con chó con mới đẻ, bịt mắt

nó mang về nhà nuôi. Vợ ông tin là lũ chó rất thông minh, nếu không bịt

mắt nó khi bắt đi, thế nào nó cũng sẽ tìm được đường về với mẹ nó. Vợ

ông nuôi con chó ở phía dưới thềm, nó lớn nhanh như thổi và đẻ đến năm

sáu lứa. Có những khi dưới thềm nhà ông có tới mười tám con chó con nô

đùa. Vào mùa xuân, vợ ông cho lũ gà ấp trứng rồi nuôi ba mươi hoặc bốn

mươi con, chỉ trừ mấy con bị diều hâu tha, còn lại đều sống cả. Vợ ông

cũng rất mát tay trồng trọt. Khi bà gieo hạt giống ngoài vườn rau, chồi

non mơn mởn sẽ tranh nhau đâm ra tua tủa, ăn chẳng kịp. Vợ ông trồng

trọt rồi thu hoạch hết khoai tây, cà rốt lại tới khoai lang. Bà mà trồng

cà tím thì suốt hè sang thu những trái cà cứ lúc lỉu đầy cành. Bàn tay

vợ ông chạm vào cây nào là cây đó lớn nhanh như thổi. Bà bận luôn chân

luôn tay, chẳng có cả thời gian để cởi chiếc khăn đẫm mồ hôi trên đầu

ra. Cỏ dại ngoài đồng vừa mới nhú lên là đôi bàn tay của vợ ông đã nhổ

đi ngay, thức ăn thừa trên bàn ăn sẽ được bà dồn vào bát của lũ chó. Vợ

ông bắt ếch mang nấu chín rồi nghiền nhỏ để cho đàn gà ăn, sau đó lại

hót phân gà mang ra rắc ngoài vườn rau, cứ như thế và như thế. Dưới bàn

tay của bà, mọi thứ đều trở nên phì nhiêu màu mỡ, đâm chồi nảy lộc, ra

hoa kết quả trĩu cành. Vợ ông mát tay đến mức ngay cả bà chị gái luôn tỏ

ra khó chịu với bà cũng thường xuyên nhờ bà gieo hạt giống ngoài ruộng

vườn hay trồng giúp cây hồ tiêu non.

Đêm thứ ba kể từ khi về nhà, nửa đêm ông chợt tỉnh giấc, nằm im lặng

nhìn chăm chăm lên trần nhà.

“Kia là cái gì thế nhỉ,” ông thầm nghĩ rồi ngồi bật dậy nhìn kỹ cái hòm

có vẽ hình lá cờ thái cực đặt trên nóc tủ quần áo. Ông vẫn còn nhớ có

một buổi sáng vợ ông thức giấc rất sớm và đánh thức ông dậy. Ông đã tỉnh

nhưng vì bực mình với vợ nên ông không thèm trả lời.

“Chắc là ông vẫn còn đang ngủ.” Vợ ông thở dài thườn thượt. “Ông đừng có

chết sau tôi đấy.”

Ông vẫn không nói gì.

“Tôi đã sắm sẵn vải liệm rồi. Tôi cất trong cái hòm có vẽ hình cờ thái

cực để trên nóc tủ quần áo ấy. Bộ của tôi cũng cất trong đó. Nếu như tôi

chết trước thì ông cũng đừng có ầm ĩ lên, nhớ là phải lấy vải liệm xuống

trước tiên đấy. Lần này tôi cũng phóng tay một chút, mua loại vải gai

dầu tốt nhất đấy. Người bán hàng nói họ tự tay trồng cây gai dầu rồi dệt

thành vải. Ông mà nhìn thấy chắc cũng lác mắt à xem. Đẹp lắm!” Vợ ông cứ

lẩm bẩm như đọc thần chú mà không cần biết là ông có nghe hay không.

“Hồi xưa vợ của bác Tamyang mất, bác ấy khóc rống cả lên. Bác ấy kể lại

rằng trước lúc mất bác gái đã dặn đi dặn lại bác trai là không được mua

vải đắt tiền để liệm. Bác gái bảo rằng bác ấy đã là sẵn bộ hanbok mặc

hồi cưới, chỉ cần phủ tấm áo đó lên người bác gái để tiễn sang thế giới

bên kia là được. Rồi bác gái còn bảo bác ấy xin lỗi vì ra đi trước, lại

còn chưa kịp nhìn thấy con gái lấy chồng, cho nên bác trai không phải

tiêu pha tốn kém làm gì. Bác trai cứ gục vào người tôi khi kể lại chuyện

đó, bác ấy khóc nhiều đến nỗi ướt hết cả vai áo tôi. Bác ấy bảo bác ấy

đã làm cho bác gái khổ nhiều. Thật đau xót khi nhà vừa có điều kiện hơn

một chút thì bác gái đã ra đi, mà lại còn bắt bác trai hứa là không được

tốn tiền mua lấy một chiếc áo đẹp cho bác ấy cho dù vào lúc bác ấy chết.

Tôi thì tôi chẳng muốn như thế đâu! Tôi mà chết thì sẽ mặc áo đẹp đi cơ!

Ông muốn ngắm thử không?”

Thấy ông không nhúc nhích, vợ ông lại thở dài.

“Ông nên đi trước tôi. Như thế là tốt nhất. Các cụ có bảo là người đến

thì lần lượt chứ đi thì chẳng định ai trước ai sau đâu. Nhưng tôi với

ông đi theo thứ tự nhé! Ông hơn tôi ba tuổi, vậy ông hãy đi trước tôi ba

năm. Nếu còn tiếc nuối gì thì đi trước tôi độ ba bốn ngày cũng được. Tôi

thì vẫn cứ sống trong ngôi nhà này thôi, rồi nếu thực sự không thể sống

được một mình nữa thì qua nhà thằng cả ở để bóc tỏi hay lau nhà cho nó

cũng được, chứ ông mà còn lại một mình thì biết làm gì? Sống đến ngần

này tuổi rồi mà ông có biết làm cái gì đâu cơ chứ. Có người đã phục dịch

ông cả cuộc đời rồi. Chẳng cần nhìn cũng rành rành ra đấy còn gì! Ông

già nói chẳng ra hơi, lại chỉ nằm ườn trong phòng làm dậy mùi dậy mẽ thì

ai mà ưa cho được? Tôi với ông giờ là gánh nặng ấy đứa rồi, chẳng còn

ích gì cho chúng nó nữa. Người ta chả bảo, nhà nào có người già chỉ cần

vào đến hiên là đã phát hiện ra ngay. Vì mùi mẽ bay ra chứ sao! Thế

nhưng phụ nữ chúng tôi còn rửa ráy tắm táp, chứ mấy ông đàn ông nhà các

ông mà còn có một mình thì bừa bãi bẩn thỉu lắm. Ông có muốn sống dai

thì cũng đừng có sống lâu hơn tôi. Tôi chôn cất ông xong xuôi đâu đấy

thì cũng theo ông ngay thôi... Tôi làm được thế mà.”

Ông bắc ghế trèo lên để lấy xuống cái hòm có vẽ hình cờ thái cực trên

nóc tủ quần áo. Không phải một, mà có đến hai cái hòm. Hình như cái hòm

to đặt trước là của ông, còn cái ở đằng sau là của vợ ông thì phải. Kích

cỡ của cái hòm trông cũng to hơn nhiều so với lúc ông nằm nhìn nó. Ông

mang cái hòm xuống dưới nền nhà và mở nắp ra. Vợ ông bảo từ lúc cha sinh

mẹ đẻ chưa bao giờ thấy miếng vải nào đẹp đến thế, bà ấy đã phải đi xa

lắm mới kiếm về được. Ông mở nắp hòm ra, đập vào mắt ông là miếng vải

trắng lóa, gói bên trong là mấy thứ đồ tang bằng vải gai. Ông mở từng

nút buộc, rồi lấy từng thứ ra ngắm. Nào là miếng bọc đệm, bọc chăn,

miếng bọc chân, bọc tay, tất cả đều được xếp theo thứ tự ngăn nắp.Bà đã

bảo chôn cất tôi xong xuôi rồi mới đi cơ mà... Ông chớp chớp mắt nhìn

chằm chằm vào cái túi sẽ đựng ngón tay và ngón chân của ông và vợ sau

khi chết.

“Ông ơi!” Hai đứa bé gái chạy ào qua cổng phụ tới chỗ ông và cất tiếng

gọi. Đó là những đứa trẻ nhà Tae-sop sống ở gần con mương. Chẳng mấy

chốc hai đứa rời chỗ ông rồi ngó nghiêng quanh nhà. Có lẽ chúng đang tìm

vợ ông. Tea-sop bố lũ trẻ mở tiệm đồ Tàu ở Teajon, chẳng hiểu có việc gì

không ổn mà lại đem hai đứa trẻ về gửi nhà bà chúng nó. Bà ấy tuổi cao,

sức yếu đến chăm sóc cho bản thân còn khó, vậy mà từ hồi gửi chúng nó về

chưa thấy bố chúng xuống hỏi thăm lần nào. Vợ ông cứ mỗi lần trông thấy

hai đứa trẻ là lại chép miệng lẩm bẩm, Cho dù thằng bố Tae-sop của chúng

nó có như thế đi nữa, nhưng con mẹ chúng nó là kiểu người gì mà cũng làm

như vậy chứ? Hàng xóm đồn là vợ của Tae-sop phải lòng gã bếp trưởng nên

cả hai đã rủ nhau bỏ đi rồi. Vợ ông mới chính là người lo cho hai đứa

trẻ ăn uống chứ không phải bà nội chúng. Có lần, vợ ông thấy lũ trẻ

không được ăn cơm bèn dẫn về nhà cho ăn sáng, thế là sáng hôm sau, lũ

trẻ lại vác khuôn mặt ngái ngủ với đôi mắt đầy nhử kéo sang nhà ông. Vợ

ông lấy thêm hai cái thìa và cho bọn trẻ ngồi trước bàn ăn, từ đó cứ mỗi

khi đến bữa là lũ trẻ lại tìm sang nhà ông. Những lúc đến mà chưa có gì

ăn bọn trẻ thường nằm sấp trên nền nhà chơi với nhau, rồi khi cơm vừa

được dọn lên thì chúng liền tranh nhau chạy tới ngồi trước bàn ăn. Chúng

phồng mồm trợn má lên ăn trông đến là khổ, cứ như thể chúng sẽ không bao

giờ được nhìn thấy thức ăn nữa. Ông nhìn chúng với vẻ ái ngại; nhưng vợ

ông lại đến bên chỗ hai đứa trẻ mà bà coi như hai đứa cháu mà xuýt xoa,

“Chắc chúng đói lắm nên mới ăn uống như vậy.” Vợ ông còn nói, “Bây giờ

đâu phải như thời đói ăn ngày xưa... lũ trẻ tìm đến với chúng ta thì

chúng ta cũng bớt cô đơn.”

Từ khi lũ trẻ bắt đầu sang nhà ông bà ăn cơm, dù là vào bữa sáng, vợ ông

cũng sẽ làm thêm một đĩa cà tím và cá thu nướng. Khi con cháu trên Seoul

về thăm mang theo hoa quả bánh kẹo, bà sẽ để dành cho đến khi lũ trẻ thò

đầu sang nhà bà vào tầm bốn giờ chiều. Chẳng mấy chốc, không chỉ có ba

bữa cơm mà lũ trẻ còn trông ngóng cả phần quà vặt nữa, và vợ ông cũng

bắt đầu đảm nhiệm việc chăm sóc cho chúng. Đó là thời điểm vợ ông hay

được người khác dắt về nhà. Ông không hiểu làm thế nào mà vợ mình có thể

nuôi được lũ trẻ trong khi có lần cậu Pyong-sik, chủ cửa hàng tạp hóa ở

ngoài thị trấn, phải đưa bà về vì cậu ta thấy bà cứ ngồi thần ra ở trạm

xe buýt mà chẳng biết tuyến nào chạy qua nhà. Rồi có lần, vợ ông bảo đi

lấy củ cải ở vườn nhưng lại ra tận mảnh ruộng bên kia con đê và ngồi lì

ở đấy. Lần ấy, cô Ok-chol tình cờ đi qua phải dẫn vợ ông về nhà. Trong

thời gian ông đi vắng, hai đứa bé này đã ăn uống thế nào không rõ? Những

ngày ở Seoul ông đã không hề nghĩ đến lũ trẻ.

“Ông ơi, bà đâu rồi ạ?” Đứa lớn hỏi ông, mãi sau khi tìm kiếm hết quanh

giếng, nhà kho, sân sau và thậm chí mở cả cửa các phòng ngủ, nó mới nghĩ

ra là vợ ông không ở đây. Trong lúc đứa lớn hỏi, đứa bé đã xán lại gần

để đợi câu trả lời của ông. Chính ông cũng đang muốn hỏi điều đó. Thực

ra, vợ ông đang ở đâu? Bà ấy có còn sống nữa hay không đây? Ông bảo lũ

trẻ đợi ông nấu cơm cho ăn, ông lấy gạo mang ra chậu vo rồi cho vào nồi

cơm điện. Lũ trẻ chạy vòng quanh, mở hết cửa phòng này đến phòng kia, cứ

như chúng sẽ tìm được vợ ông từ một phòng nào đó. Chưa bao giờ động tay

động chân tới chuyện cơm nước, ông cứ đứng ngẩn người ra không biết phải

đổ bao nhiêu nước cho vừa, rồi ông đổ thêm khoảng nửa cốc nước nữa rồi

ấn nút.

Hôm đó, trên con tàu rời ga Seoul, phải mất mấy phút ông mới nhận ra mọi

chuyện? Phải mất bao nhiêu thời gian sau khi đoàn tàu bắt đầu chuyển

bánh ông mới nhận ra rằng vợ mình đã không kịp lên chuyến tàu đó? Ông cứ

đinh ninh vợ mình đã lên tàu ngay sau mình. Khi đoàn tàu dừng lại ở ga

Namyong rồi nhanh chóng chạy tiếp, ông đột nhiên cảm thấy hoảng sợ.

Trước khi ông có thể kiểm tra được nguồn gốc của cảm giác ấy, một điều

gì đó tựa hồ như nỗi tuyệt vọng vì đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng

không thể sửa chữa giáng xuống tâm trí ông. Tiếng tim đập thình thịch

tới mức ông có thể nghe rõ mồn một. Ông sợ không cả dám nhìn lại phía

sau. Khoảnh khắc ông phải thừa nhận rằng ông đã bỏ rơi vợ ở nhà ga

Seoul, rằng ông đã một mình bước lên tàu và đi qua một ga, khoảnh khắc

ông quay lại và lỡ huých vào vai người khách ngồi cạnh, ông mới nhận ra

cuộc đời mình đã tan vỡ không thể cứu vãn. Ông chẳng mất đến một một

phút để nhận ra rằng cuộc đời ông đã rẽ ngoặt sang hướng khác bởi vì ông

đã bước đi quá nhanh. Suốt năm mươi năm kể từ khi lấy vợ, ông luôn đi

trước vợ từ ngày cưới, từ khi bà còn trẻ cho tới lúc bà đã già. Nếu ngay

khi lên tàu điện ngầm ông cẩn thận quay lại kiểm tra xem vợ đã lên chưa

thì mọi chuyện có ra cơ sự này không? Vợ ông đi chậm nên lúc nào vợ

chồng đi cùng nhau bà cũng tuột lại phía sau. Mỗi lần như vậy bà lại vừa

cằn nhằn sau lưng ông vừa mồ hôi mồ kê nhễ nhại cố bám theo, thế nên câu

ca thán suốt nhiều năm qua của vợ ông là, “Tôi chỉ mong ông đi chậm lại

một chút thôi, giá như ông đi cùng với tôi thì có phải tốt hơn không...

Có việc gì mà ông vội vàng thế?” Nếu thấy ông miễn cưỡng dừng lại để

chờ, thế nào vợ ông cũng mỉm cười xấu hổ và nói, “Tôi đi chậm quá phải

không?”

Vợ ông sẽ bảo, “Tôi xin lỗi... nhưng ông cũng phải biết là nếu người

khác trông thấy chúng ta thế này thì thể nào họ cũng sẽ nói này nói nọ à

xem. Nếu thấy hai người chúng ta tuy sống chung một nhà mà lại người đi

trước kẻ đi sau, họ sẽ bảo chắc ông bà ấy ghét nhau lắm nên mới không

thể đi cạnh nhau. Người ta trông thấy như thế thì có gì hay ho đâu, ông

có công nhận không? Tôi không cần phải nắm tay ông hay gì hết, chỉ cần

ông đi chậm lại một chút là được. Ông cứ đi nhanh như thế, nếu lạc mất

tôi thì ông tính sao?”

Ông nghĩ chắc bà biết rồi có ngày chuyện thế này sẽ xảy ra nên đã báo

trước cho ông. Trong suốt năm mươi năm qua kể từ lần đầu gặp nhau khi

ông mới hai mươi tuổi, câu nói “Ông đi chậm một chút” là câu mà ông nghe

nhiều nhất từ vợ mình. Sao ông không đi chậm lại khi mà suốt đời vợ ông

luôn bảo ông đi chậm lại một chút cơ chứ? Ông có thể dừng lại đợi vợ

mình, nhưng ông chưa bao giờ sải bước đi bên cạnh chuyện trò với bà như

bà muốn, chưa bao giờ, dù chỉ một lần.

« Lùi
Tiến »