Điên, điên, điên hoàn toàn rồi. Được, đó là kiểu của mọi người nhà Finch. Tuy nhiên, khác biệt giữa chú Jack với những người còn lại là chú ấy biết chú ấy điên.
Cô đang ngồi ở một cái bàn phía sau cửa tiệm kem của Cunningham, ăn trong hộp kem bằng giấy tráng sáp. Cunningham, một người có tính ngay thẳng không khoan nhượng, đã cho cô một chai sữa nửa lít miễn phí vì đã đoán được tên của anh ta hôm qua, một trong những điều nhỏ bé mà cô yêu mến ở Maycomb: người ta nhớ lời hứa của họ.
Chú ấy nhắm tới cái gì? Hứa đi – liên quan tới vấn đề - Anglo-Saxon - từ bẩn thỉu thiếu hiệp Roland. Mình hy vọng chú ấy không mất ý thức về sự đúng mực nếu không người ta sẽ phải nhốt chú ấy lại. Chú ấy lìa xa thế kỷ này đến độ chú ấy không thể đi vào nhà vệ sinh, chú ấy đi vào nhà tiêu. Nhưng điên hay không, chú ấy vẫn là người duy nhất trong bọn họ chưa làm hay nói điều gì…
Tại sao mình trở về đây? Chỉ để thấm thía hơn chuyện đó, mình nghĩ vậy. Chỉ để nhìn vào mặt sỏi sân sau nơi xưa kia trồng cây, nơi xưa là nhà để xe, và tự hỏi phải chăng tất cả chỉ là một giấc mơ. Jem đậu cái xe đi câu của anh ấy đàng kia, bọn mình đào giun bên hàng rào sau nhà, mình có lần trồng một măng tre và bọn mình đấu đá nó trong suốt hai mươi năm. Anh Cunningham này hẳn đã rắc muối lên chỗ đất nó mọc lên, mình không thấy nó nữa.
Ngồi trong cái nắng một giờ trưa, cô tái hiện ngôi nhà của mình, đưa vào khoảng sân hình ảnh bố và anh trai của cô và Calpurnia, đặt Henry bên kia đường và cô Rachel ở nhà kế bên.
Lúc đó là hai tuần cuối cùng của năm học và cô sắp tới buổi khiêu vũ đầu tiên của mình. Theo truyền thống, học sinh lớp cuối cấp mời em trai và em gái tới dự dạ vũ tốt nghiệp, được tổ chức vào buổi tối trước dạ tiệc tiễn lớp cuối cấp vốn luôn diễn ra vào ngày thứ Sáu cuối cùng của tháng Năm.
Cái áo nỉ chơi banh của Jem đã trở nên ngày càng đẹp - anh ấy là thủ quân của đội bóng, năm đầu tiên Maycomb đánh bại được Abbottsville trong suốt mười ba mùa bóng. Henry là chủ nhiệm Câu lạc bộ hùng biện cuối cấp, sinh hoạt ngoại khóa duy nhất mà anh có thời gian tham dự, và Jean Louise là một cô bé mập mười bốn tuổi, đắm chìm trong thơ ca thời Victoria và tiểu thuyết trinh thám.
Hồi đó việc tán tỉnh ai đó bên kia sông là thời thượng, Jem điên cuồng đem lòng yêu một cô gái ở hạt Abbott đến độ anh ấy nghiêm túc nghĩ đến việc học lớp cuối cấp ở trường trung học Abbottsville, nhưng bị Atticus ngăn chặn, ông phản đối quyết liệt và an ủi Jem bằng cách ứng cho anh đủ tiền để mua một chiếc xe Ford Model-A hai chỗ. Jem sơn xe màu đen bóng, đạt hiệu ứng vỏ xe viền trắng cũng bằng cách sơn, giữ cho bộ truyền động bóng loáng tới tuyệt hảo, và lái tới Abbottsville vào mỗi tối thứ Sáu với vẻ nghiêm trang lặng lẽ, hoàn toàn không biết chuyện cái xe của anh kêu như máy xay cà phê quá khổ, và chuyện anh đi tới đâu bọn chó cũng có xu hướng tụ họp rất đông đảo.
Jean Louise chắc chắn Jem đã dàn xếp thế nào đó với Henry để Henry dẫn cô tới vũ hội, nhưng cô chẳng phiền gì. Ban đầu cô không muốn đi, nhưng Atticus nói rằng thật buồn cười nếu em gái của mọi người đều có mặt trừ em gái của Jem, bảo cô rằng cô sẽ thấy rất vui, và cô có thể tới cửa hàng Ginsberg chọn cái váy nào tùy thích.
Cô tìm được một cái xuất sắc. Màu trắng, có tay áo phồng và chân váy xòe rộng khi cô xoay tròn. Chỉ có một điều không ổn: mặc cái đó vào trông cô như cái chai bowling.
Cô hỏi ý kiến Calpurnia, bà nói chẳng ai làm gì được với vóc dáng của cô, rằng kiểu của cô là thế, cũng là kiểu mà mọi cô gái ít nhiều đều có khi họ mười bốn tuổi.
“Nhưng con trông kỳ quá,” cô nói, giật giật đường viền cổ áo.
“Lúc nào trông cô cũng vậy mà,” Calpurnia nói. “Ý tôi là cô vẫn là thế dù mặc bộ váy áo nào. Cái ấy chẳng có gì khác.”
Jean Louise ưu tư suốt ba ngày. Đến buổi chiều trước vũ hội cô quay trở lại Ginsberg và chọn một cặp ngực áo giả, đem về nhà, mặc thử.
“Xem này, bà Calpurnia,” cô nói.
Calpurnia nói, “Cô có vóc dáng đúng rồi, nhưng cô thích ứng với nó từ từ thì không tốt hơn sao?”
“Ý bà là sao?”
Calpurnia lầm bầm, “Lẽ ra cô phải mặc nó một thời gian để làm quen - mà bây giờ thì trễ rồi.”
“Ôi bà Calpurnia, đừng ngớ ngẩn thế.”
“Thôi được, đưa hai cái đó đây. Tôi sẽ khâu chúng lại với nhau.”
Khi Jean Louise đưa chúng cho bà, một ý nghĩ bất chợt giữ chân cô lại tại chỗ. “Ôi chao,” cô thì thầm.
“Lại chuyện gì đây?” Calpurnia hỏi. “Cô đã thu xếp món này cả tuần nay rồi. Còn quên cái gì nữa?”
“Ôi Cal, con đâu có biết khiêu vũ.”
Calpurnia chống hai tay lên hông. “Bây giờ đứng là lúc để nghĩ tới chuyện đó,” bà nói, nhìn lên đồng hồ nhà bếp. “Ba giờ bốn mươi lăm.”
Jean Louise chạy tới điện thoại. “Xin nối số sáu năm giùm,” cô nói, và khi bố cô trả lời cô rền rĩ vào ống nói.
“Bình tĩnh và đi hỏi Jack xem,” bố cô nói. “Lúc trẻ chú Jack giỏi vụ này lắm.”
“Chú ấy chắc nhảy được điệu minuet hạng bét,” cô nói, nhưng vẫn gọi cho ông chú, ông này sốt sắng đáp ứng.
Bác sĩ Finch huấn luyện cô cháu gái theo nhạc trong máy thu băng của Jem: “Chẳng có gì đâu… giống như chơi cờ… chỉ cần tập trung… không, không, không, nép mông vào… cháu đâu có chơi chặn bóng… rất ghét khiêu vũ trên sàn… rất giống công việc… đừng cố dẫn chú đi… nếu anh chàng đó đạp vào chân cháu là do lỗi của cháu vì đã không chuyển chân đi… đừng nhìn xuống… đừng, đừng, đừng… bây giờ cháu hiểu rồi đấy… căn bản, nên đừng cố làm gì ly kỳ.”
Sau một giờ tập trung cao độ Jean Louise đã nắm vững được một điệu nhảy đơn giản đi theo hình vuông. Cô thầm đếm kịch liệt trong đầu, và ngưỡng mộ ông chú vì có thể vừa nói chuyện vừa khiêu vũ.
“Cứ thả lỏng và cháu sẽ làm được thôi,” ông nói.
Nỗ lực của ông được Calpurnia bù đắp bằng cà phê và lời mời ăn tối, ông nhận cả hai. Bác sĩ Finch ở phòng khách một mình cả giờ đồng hồ cho tới khi Atticus và Jem về tới; cô cháu gái rút vào phòng tắm và ở miết trong đó để kì cọ và tập nhảy. Cô bước ra hớn hở, mặc nguyên áo choàng tắm để dùng bữa, và biến vào phòng ngủ của mình không biết tới chuyện cả nhà buồn cười vì cô.
Khi đang thay quần áo cô nghe bước chân của Henry trên hàng hiên trước nhà và nghĩ anh chàng tới đón cô quá sớm, nhưng anh đi dọc hành lang vào phòng của Jem. Cô thoa son Tangee màu cam lên môi, chải tóc, và ép chỗ tóc bò liếm xuống bằng thuốc bôi tóc Vitalis của Jem. Bố cô với bác sĩ Finch đứng bật dậy khi cô bước vào phòng khách.
“Trông con cứ như một bức tranh,” Atticus nói. Ông hôn vào trán cô.
“Coi chừng bố,” cô nói. “Bố làm rối tóc con hết.”
Bác sĩ Finch nói, “Mình làm một lượt thực tập cuối không?”
Henry vào khi họ khiêu vũ trong phòng khách. Anh chớp chớp mắt khi thấy vóc dáng mới mẻ của Jean Louise, và anh vỗ vào vai bác sĩ Finch. “Cháu thế chỗ được không, thưa bác?”
“Em trông xinh lắm. Scout,” Henry nói. “Anh có món này cho em.”
“Anh trông cũng đẹp lắm. Hank,” Jean Louise nói. Cái quần vải thô xanh vía của Henry gấp nếp đến độ sắc lẹm, áo khoác nâu của anh còn mùi nước giặt tẩy; Jean Louise nhận ra cái cà vạt xanh nhạt của Jem.
“Em nhảy đẹp lắm,” Henry nói, và Jean Louise vấp chân.
“Đừng nhìn xuống. Scout!” bác sĩ Finch gắt. “Chú đã bảo là giống như bưng tách cà phê. Nếu nhìn xuống cháu sẽ làm nó sánh tràn.”
Atticus mở đồng hồ ra. “Jem phải lên đường thôi nếu muốn đón Irene. Cái xe cùi của nó không chạy được quá ba mươi dặm một giờ đâu.”
Khi Jem xuất hiện, Atticus bảo anh vào thay cà vạt. Khi anh trở ra, Atticus đưa cho anh chìa khóa xe gia đình, một ít tiền, và một bài giảng về việc đừng chạy quá năm mươi dặm một giờ.
“Này,” Jem nói, sau khi ngắm nghía em gái một hồi đúng mực, “hai đứa có thể đi bằng chiếc Ford, và em khỏi phải đi với anh tới tận Abbottsville.”
Bác sĩ Finch đang mần mò trong túi áo khoác. “Chú thấy chuyện mấy đứa đi bằng cách nào cũng không quan trọng,” ông nói. “Cứ đi thôi. Mấy đứa làm chú căng thẳng khi đứng đây giữa những quần áo bảnh bao thế này. Jean Louise bắt đầu đổ mồ hôi kìa. Vào đi, Cal.”
Calpurnia đang đứng rụt rè ở hành lang, càu nhàu tán thưởng khung cảnh. Bà chỉnh lại cà vạt cho Henry, nhón một chút xơ vải vô hình trên áo khoác của Jem, và muốn Jean Louise vào trong bếp.
“Tôi nghĩ tôi phải khâu nó dính vào,” bà nói giọng nghi ngại.
Henry la lên đường thôi nếu không bác sĩ Finch sẽ bị đột quỵ.
“Cháu sẽ ổn mà, Cal.”
Trở ra phòng khách, Jean Louise thấy ông chú mình đang trong cơn lốc nóng ruột bị đè nén, tương phản rõ ràng với bố cô, người đang đứng thong dong với hai tay đút túi. “Các con nên đi đi,” Atticus nói. “Chốc nữa là bác Alexandra có mặt - lúc đó mấy đứa trễ mất.”
Ra đến hàng hiên trước Henry dừng lại. “Quên mất!” anh kêu, và chạy vào phòng Jem. Anh trở ra mang theo một cái hộp, đưa cho Jean Louise với động tác cúi người thật thấp: “Dành cho em, thưa cô Finch,” anh nói. Trong hộp là hai bông hoa trà màu hồng.
“Ha-ank,” Jean Louise nói. “Anh mua à!”
“Gửi mua mãi tận Mobile,” Henry nói. “Nó theo chuyến xe buýt sáu giờ tới đây.”
“Em đeo nó vào đâu?”
“Ôi Chúa ơi, đeo vào chỗ của nó chứ đâu!” bác sĩ Finch gắt. “Lại đây nào!”
Ông giật lấy hai bông hoa trà của Jean Louise và ghim nó lên vai cô, nhìn nghiêm khắc vào phần ngực giả của cô. “Bây giờ làm ơn rời khỏi tòa nhà này được chưa?”
“Cháu quên cái ví.”
Bác sĩ Finch móc khăn tay ra và phẩy qua cằm. “Henry,” ông nói, “đi khỏi động cái thứ ghê tởm đó đi. Chú sẽ gặp con trước nhà cùng với nó.”
Cô hôn chúc bố ngủ ngon, và ông nói, “Vui chơi cho thỏa thích nghe.”
Nhà thi đấu của trường trung học hạt Maycomb được trang hoàng đẹp đẽ với những bong bóng và những băng giấy nhún màu trắng xen đỏ. Một cái bàn dài nằm ở cuối phòng đàng kia; những ly giấy, những đĩa bánh mì sandwich, và khăn ăn xếp quanh hai cái vại lớn chứa đầy rượu punch màu tía. Sàn nhà thi đấu mới được vuốt sáp, những bảng gắn vòng bóng rổ được gấp lên trần nhà. Hoa lá vây kín mặt trước sân khấu, và ở giữa, chẳng vì lý do gì cụ thể, có những mẫu tự lớn đỏ chói bằng bìa cứng: TTHHM.
“Đẹp chứ, phải không?” Jean Louise nói.
“Coi đẹp dữ,” Henry nói. “Không phải nó coi lớn hơn khi không có thi đấu sao?”
Họ nhập vào một nhóm anh chị em của học sinh đứng quanh hai cái vại lớn. Đám đông rõ ràng rất có ấn tượng với Jean Louise. Mấy đứa con gái cô gặp hằng ngày hỏi cô mua cái váy đó ở đâu, cứ như không phải cả bọn chúng đều mua váy ở đó. “Ginsberg. Calpurnia chọn đấy,” cô nói. Mấy đứa con trai nhỏ mà chỉ vài năm trước cô từng có mối quan hệ như móc mắt nhau ra cũng rụt rè nói chuyện với cô.
Khi Henry đưa cho cô một cốc rượu punch cô thầm thì, “Nếu anh muốn nói chuyện với mấy người cuối cấp hay bất cứ gì thì em cũng ổn mà.”
Henry mỉm cười với cô. “Em là bạn đi chơi với anh mà. Scout.”
“Em biết, nhưng anh không cần thấy có nghĩa vụ…”
Henry bật cười. “Anh không cảm thấy có nghĩa vụ phải làm gì cả. Anh muốn đưa em đi mà. Mình nhảy đi.”
“Được, mà nhảy thoái mái nghe.”
Anh quay cô ra giữa sàn nhảy. Loa trong phòng ầm vang lên một điệu slow, và thầm đếm một cách có hệ thống, Jean Louise nhảy hết bài đó mà chỉ vướng một lỗi.
Khi buổi tối dần trôi qua, cô nhận ra mình là một thành công khiêm tốn. Nhiều cậu trai xin thế chỗ để nhảy với cô, và khi cô tỏ dấu hiệu trở nên khó xử, Henry luôn ở kề bên.
Cô đủ khôn ngoan để ngồi yên cho qua những bản nhạc kích động và tránh loại nhạc có âm hưởng Nam Mỹ, và Henry nói rằng khi nào học được cách vừa nhảy vừa nói chuyện cùng lúc cô sẽ rất thành công. Cô mong đêm cứ kéo dài mãi.
Việc Jem và Irene xuất hiện gây một sự náo động. Jem từng được bầu chọn là chàng đẹp trai nhất khối cuối cấp, một đánh giá hợp lý: anh có cặp mắt nâu giống mắt bê của mẹ, đôi mày rậm của họ nhà Finch, và đường nét cân đối. Irene là đỉnh cao của vẻ tinh tế. Chị mặc một cái váy lụa mỏng màu xanh lá cây ôm sát người với đôi giày cao gót, và khi khiêu vũ cả chục sợi dây chuyền trên cổ tay chị kêu lanh canh. Chị có đôi mắt xanh dịu và mái tóc đen óng, và nụ cười dễ dãi, là loại thiếu nữ mà Jem say mê một cách thường xuyên đến phát chán.
Jem nhảy một bài nghĩa vụ với Jean Louise, bảo rằng cô nhảy ổn nhưng mũi cô đang bóng mồ hôi, và cô trả lời rằng môi anh đang dính son. Bản nhạc kết thúc và Jem bỏ cô lại cho Henry. “Em không tin được là tháng Sáu tới anh nhập ngũ,” cô nói. “Nghe có vẻ như anh già quá rồi.”
Henry mở miệng định trả lời, chợt mở to mắt, và siết lấy cô ôm chặt.
“Có chuyện gì vậy. Hank?”
“Em có thấy trong đây nóng không? Mình ra ngoài đi.”
Jean Louise cố tách ra, nhưng anh giữ chặt cô và vừa nhảy vừa dẫn cô về phía cửa hông bước ra trời đêm.
“Cái gì làm anh rối vậy. Hank? Em có nói điều gì…”
Anh cầm tay cô và dẫn cô đi vòng ra phía trước tòa trường học.
“À…” Henry nói. Anh cầm cả hai tay cô. “Cưng à,” anh nói. “Nhìn trước ngực em đi.”
“Tối như mực ấy. Em chẳng thấy gì cả.”
“Vậy sờ đi.”
Cô sờ, và hết hồn. Ngực áo giả bên phải của cô đã chạy tới giữa ngực còn cái bên kia đã chui gần tới nách. Cô giật cho nó trở về chỗ cũ và bật khóc.
Cô ngồi xuống bậc thềm; Henry ngồi xuống cạnh cô và quàng tay ôm vai cô. Khi hết khóc cô hỏi, “Anh nhận ra lúc nào?”
“Vừa lúc đó thôi, anh thề đấy.”
“Anh nghĩ chúng nó nãy giờ có cười em không?”
Henry lắc đầu. “Anh nghĩ chẳng đứa nào để ý thấy đâu, Scout. Nghe này, Jem nhảy với em rồi tới anh liền, và nếu anh ấy thấy chắc chắn anh ấy đã cho em biết.”
“Đầu óc Jem chỉ nghĩ tới Irene. Nếu có lốc xoáy thổi tới anh ấy cũng không thấy.” Cô lại khóc, nho nhỏ. “Em sẽ chẳng bao giờ nhìn mặt chúng nó được nữa.”
Henry siết vai cô. “Scout, anh dám chắc là nó tuột đi khi tụi mình nhảy với nhau. Suy nghĩ hợp lý coi - nếu có ai thấy người ta chắc sẽ bảo em, em biết thế mà.”
“Không, em không nghĩ thế. Chúng chỉ xì xầm và cười cợt. Em biết chúng nó cư xử làm sao mà.”
“Dân cuối cấp không vậy đâu,” Henry nói nghiêm trang. “Em toàn nhảy với đội bóng từ khi Jem tới.”
Quả là vậy. Cả đội bóng, từng người một, đã yêu cầu hân hạnh đó: đó là kiểu Jem thầm lặng bảo đảm cho cô có một đêm vui.
“Với lại,” Henry nói, “dù sao anh cũng không thích món đó. Em không giống mọi ngày khi mặc món đó.”
Bị nhói đau, cô nói, “Ý anh là em trông buồn cười khi mặc thứ đó à? Không có món đó em trông cũng buồn cười luôn mà.”
“Anh muốn nói là em không còn là Jean Louise nữa.” Anh nói tiếp, “Em trông không buồn cười gì cả, với anh em trông rất tuyệt.”
“Anh nói vậy thật tử tế. Hank, nhưng cũng chỉ là nói vậy thôi. Em mập ú những chỗ không nên mập, và…”
Henry hú lên phản đối. “Em mấy tuổi rồi? Mới sắp mười lăm. Em chưa hết phát triển mà. Thí dụ, em nhớ Gladys Grierson không? Nhớ tụi nó vẫn gọi cô ấy là ‘Mông Phong Phú’ không?”
“Ha-ank!”
“Bây giờ nhìn cô ấy đi.”
Gladys Grierson, một trong những món trang trí hấp dẫn của lớp cuối cấp, đã từng khổ sở ở một mức cao hơn vì chính nỗi đau của Jean Louise. “Bây giờ cô ấy thanh thoát hẳn, phải không?”
Henry nói với vẻ am hiểu, “Nghe nè. Scout, nó sẽ làm em lo lắng đến hết đêm. Em tháo nó ra thì hơn.”
“Thôi. Mình về đi.”
“Mình không về, mình sẽ trở vô và vui chơi thoải mái.”
“Không!”
“Chết giẫm. Scout à, anh nói mình sẽ trở vô, nên tháo cái đó ra đi!”
“Đưa em về đi, Henry.”
Với những ngón tay giận dữ, thẳng thắn, Henry thò tay vào trong cổ áo của chiếc váy, lôi cái món phụ tùng gây bực mình đó ra, và ném hết sức mình vào bóng đêm.
“Bây giờ mình vào được chưa?”
Không ai có vẻ nhận ra sự thay đổi trong vẻ ngoài của cô, điều đó chứng tỏ, Henry nói, rằng cô phù phiếm như con công, nghĩ rằng mọi người lúc nào cũng nhìn mình.
Hôm sau là ngày phải đi học, nên buổi vũ hội giải tán lúc mười một giờ. Henry thả chiếc Ford chạy vào đường dẫn tới nhà Finch và đậu lại dưới bóng cây xoan. Anh cùng Jean Louise bước tới cửa trước, và trước khi mở cửa cho cô, Henry nhẹ nhàng vòng tay ôm cô và hôn cô. Cô cảm thấy má mình nóng bừng lên.
“Một lần nữa để lấy hên,” anh nói.
Anh hôn cô lần nữa, khép cửa lại sau lưng cô, và cô nghe anh huýt sáo khi chạy băng qua đường về phòng mình.
Đói bụng, cô rón rén đi dọc hành lang vào bếp. Đi ngang phòng của bố, cô thấy một vệt ánh sáng dưới cánh cửa. Cô gõ cửa và bước vào. Atticus đang nằm trên giường đọc sách.
“Vui chơi thoải mái không?”
“Một tối tuyệt vời,” cô nói. “Atticus này?”
“Hử?”
“Bố có nghĩ là Hank quá già so với con không?”
“Cái gì?”
“Không có gì. Chúc bố ngủ ngon.”
Sáng hôm sau cô ngồi hết giờ điểm danh lòng nặng trĩu khối tình cảm dành cho Henry, chỉ tập trung chú ý trở lại khi thầy giáo lớp cô thông báo rằng sẽ có cuộc họp đặc biệt của khối cơ sở và khối phổ thông ngay sau tiếng chuông vào tiết thứ nhất.
Cô đến hội trường mà chẳng nghĩ gì trong đầu ngoài viễn cảnh gặp lại Henry, và chút tò mò về chuyện cô Muffet định nói gì. Có lẽ một đợt vận động mua trái phiếu chiến tranh nữa.
Hiệu trưởng trường trung học hạt Maycomb là một ông Charles Tuffett, và vì muốn bù đắp cho cái tên của mình ông thường mang một vẻ mặt khiến ông trông giống người da đỏ trên đồng năm xu. Tính cách của ông Tuffett thì ít gây hứng thú hơn: ông ta là người đáng thất vọng, một giáo sư nản chí của ngành sư phạm không có chút thương cảm gì cho giới trẻ. Quê ông ở vùng đồi núi Mississippi, điều đó khiến ông rơi vào thế bất lợi ở Maycomb: dân miền núi cứng rắn không hiểu được những con người mơ mộng ở đồng bằng duyên hải, và ông Tuffett cũng không là ngoại lệ. Khi đến Maycomb ông lập tức nói với phụ huynh rằng con cái họ là đám cư xử kém cỏi nhất mà ông từng thấy, rằng chúng chỉ nên học môn nông học hướng nghiệp thôi, rằng bóng bầu dục và bóng rổ chỉ lãng phí thời gian, và rằng ông ta, may thay, không cần các loại câu lạc bộ và sinh hoạt ngoại khóa bởi vì nhà trường, giống như cuộc đời, là một vấn đề nghề nghiệp.
Khối học sinh của ông, từ đứa lớn nhất tới nhỏ nhất, đã đáp trả tương tự: ông luôn được chấp nhận, nhưng nói chung là bị phớt lờ.
Jean Louise ngồi cùng lớp của cô ở dãy giữa trong hội trường. Lớp cuối cấp ngồi phía sau ở dãy bên cạnh, và thật dễ quay đầu nhìn thấy Henry. Jem, ngồi cạnh anh ta, vẫn nheo nheo mắt, âm u, và câm lặng, như trong mọi buổi sáng khác. Khi ông Tuffett đối diện chúng và đọc mấy thông báo, Jean Louise thấy khoan khoái vì ông thầy ấy đang tiêu hết tiết thứ nhất, thế có nghĩa là khỏi phải học giờ toán. Cô quay người khi ông Tuffett đi vào những điểm quan trọng:
Trong đời ông đã gặp đủ loại học sinh, ông ta nói, một số trong đó còn mang súng tới trường, nhưng chưa bao giờ trong kinh nghiệm ông từng chứng kiến một hành vi hư hỏng đến như thứ đập vào mắt ông khi ông bước lên lối đi trong trường sáng nay.
Jean Louise nhìn qua lại với mấy đứa ngồi cạnh. “Thầy ấy bị chuyện gì vậy?” cô thì thào. “Có Chúa mới biết,” đứa ngồi bên trái đáp.
Chúng có nhận ra độ nghiêm trọng của hành vi xúc phạm như thế không? Ông muốn cho chúng biết rằng đất nước này đang có chiến tranh, rằng trong khi các chàng trai của chúng ta - những anh em và con trai - đang chiến đấu và chết vì chúng ta, lại có người hướng một hành vi thô tục ô uế vào những người lính, một hành động mà kẻ thực hiện nó thật đáng khinh bỉ.
Jean Louise nhìn quanh một rừng những khuôn mặt hoang mang, thông thường cô dễ dàng nhận ra những phần tử có tội trong những dịp tụ hội đông người, nhưng hôm nay cô chỉ gặp sự ngạc nhiên hoàn toàn ở mọi phía.
Hơn nữa, trước khi chúng tan buổi họp để về lớp, ông Tuffett nói ông ta biết ai đã làm việc đó, và nếu mong muốn được khoan hồng người đó hãy trình diện tại văn phòng của ông muộn nhất là hai giờ chiều với một bản tường trình.
Cả hội trường đè nén tiếng càu nhàu bực bội trước việc ông Tuffett thích thú với thủ pháp cũ nhất từng được ghi nhận của các ông hiệu trưởng, đứng dậy và theo ông ta ra phía trước tòa nhà.
“Chẳng qua là ông ấy thích những tự thú bằng văn bản,” Jean Louise nói với mấy bạn đi cùng, “ổng nghĩ như thế làm nó có giá trị pháp lý.”
“Ờ, ổng không tin vào bất cứ thứ gì trừ phi nó được viết ra giấy,” một đứa nói.
“Rồi khi nó được viết ra ông ta luôn tin vào đó đến từng chữ,” đứa khác nói tiếp.
“Chắc là có người sơn chữ thập ngoặc trên lề đường hén?” đứa thứ ba nói.
“Cũ rồi,” Jean Louise nói.
Chúng đi vòng qua góc tòa nhà và đứng lặng. Không có gì có vẻ bất thường; lề đường sạch bong, các cửa trước vẫn đâu vào đấy, khu trồng cây bụi không bị phá phách.
Ông Tuffett chờ cho đến khi cả trường tập hợp lại, rồi khoa trương chỉ lên cao. “Xem kìa,” ông ta nói. “Nhìn đi, tất cả các cô cậu!”
Ông Tuffett là người yêu nước. Ông ta là chủ tịch mọi đợt vận động mua trái phiếu; ông có những bài nói chuyện tẻ ngắt và gây lúng túng trong cuộc họp về Nỗ lực Chiến tranh; dự án mà ông thúc đẩy và nhìn ngắm với lòng tự hào lớn nhất là một tấm bảng khổng lồ dựng ngay sân trước của trường tuyên cáo rằng những học sinh đã tốt nghiệp sau đây của trường THHM đang phục vụ tổ quốc. Các học sinh nhìn tấm bảng của ông Tuffett bằng con mắt rầu rĩ hơn: ông ta đã thu mỗi đứa hăm nhăm xu và nhận công trạng về mình.
Theo ngón tay của ông Tuffett, Jean Louise nhìn lên tấm bảng. Cô đọc, ĐANG PHỤC VỤ TỔ QUỐ. Che mất mẫu tự cuối cùng và đang phất phơ dịu dàng trong gió nhẹ buổi sáng là bộ ngực áo giả của cô.
“Tôi bảo đảm với các em,” ông Tuffett nói, “rằng tốt hơn hết là có một tờ tường trình được ký tên rõ ràng nằm sẵn trên bàn của tôi lúc hai giờ chiều nay. Tôi đã có mặt ở khuôn viên này tối qua,” ông ta nói, nhấn mạnh từng từ một. “Bây giờ các em về lớp đi.”
Đó là điều đáng suy nghĩ. Ông ta luôn rình mò loanh quanh ở các vũ hội của trường để cố bắt gặp những đứa hôn hít nhau. Ông ta nhìn vào những chiếc xe đậu và đập vào những bụi cây. Có lẽ ông ta đã thấy chúng. Tại sao Hank phải ném nó đi chứ?
“Ông ấy đón gió thôi,” Jem nói vào giờ ra chơi. “Nhưng cũng có thể ông ấy biết thật.”
Chúng đang ở sảnh ăn trưa của trường. Jean Louise cố cư xử bình thường. Cả trường như muốn vỡ tung vì tiếng cười, nỗi kinh hãi, và tò mò.
“Em nói lần cuối đấy, hai anh, để em nói với thầy ấy,” cô nói.
“Đừng có ngốc thế, Jean Louise. Em biết ông ấy cảm thấy thế nào về chuyện này mà. Sau cùng, chính anh mới là người làm việc đó,” Henry nói.
“Hừ, chúng là của em Chúa ạ!”
“Anh biết Hank nghĩ gì. Scout,” Jem nói. “Nó đâu để em làm vậy được.”
“Em không hiểu tại sao không để được.”
“Nói lần thứ bao nhiêu không biết nhưng anh không để vậy được, vậy thôi. Em không hiểu à?”
“Không.”
“Jean Louise, đêm qua em là bạn đi chơi với anh…”
“Chừng nào còn sống là em không hiểu được đàn ông con trai,” cô nói, không còn thấy yêu Henry nữa. “Anh không cần phải bảo vệ em. Hank à. Đến sáng nay em không phải là bạn đi chơi với anh. Anh biết là anh không thể nói với thầy ấy.”
“Chắc chắn vậy rồi. Hank,” Jem nói. “Ông ấy sẽ giữ bằng tốt nghiệp của mày lại.”
Tấm bằng quan trọng với Henry hơn hầu hết những bạn bè của anh. Với một số đứa, bị đuổi học cũng không sao; cùng lắm, chúng có thể chuyển tới trường nội trú.
“Mày làm ông ấy tổn thương quá, mày biết mà,” Jem nói. “Đúng kiểu ông ta là sẽ đuổi học mày hai tuần trước khi tốt nghiệp.”
“Vậy thì để em,” Jean Louise nói. “Em muốn bị đuổi học đây.” Cô muốn lắm. Trường học làm cô chán đến không chịu nổi.
“Đó không phải vấn đề. Scout à. Đơn giản là em không làm thế được. Anh có thể giải thích… không anh cũng không giải thích được luôn,” Henry nói, khi những hậu quả hành động bốc đồng của anh hiện rõ hơn. “Anh không giải thích được gì cả.”
“Được rồi,” Jem nói. “Tình hình là thế này. Hank, tao nghĩ ông ấy đón gió thôi, nhưng rất có thể không phải như vậy. Mày biết là ông ấy vơ vẩn khắp nơi. Ông ấy có thể nghe hết tụi bay nói chuyện, tụi bay gần như ở ngay dưới cửa sổ văn phòng ông ấy…”
“Nhưng văn phòng thầy ấy tối thui,” Jean Louise nói.
“… ông ấy thích ngồi trong bóng tối. Nếu Scout nói với ông ấy, chuyện sẽ khó chịu, nhưng nếu mày khai ra, ông ấy sẽ đuổi mày chắc chắn như chuyện mày đã ra đời vậy, mà mày phải tốt nghiệp, nhóc ạ.”
“Jem,” Jean Louise nói. “Là triết gia thì dễ thương đó, nhưng mình chẳng đi tới đâu cả…”
“Vị thế của mày như tao thấy, Hank,” Jem nói, lặng lẽ phớt lờ đứa em, “là mày làm thì khốn nạn mà không làm cũng khốn nạn luôn.”
“Em…”
“Thôi im đi. Scout!” Henry nói bực bội. “Em không thấy rằng nếu để em làm vậy thì anh chẳng bao giờ ngẩng đầu lên được à?”
“Khù-ù-ng, em chưa bao giờ thấy mấy anh hùng như này!”
Henry nhảy bật dậy. “Khoan đã!” anh la lên. “Jem, đưa tao chìa khóa xe và che giùm tao trong giờ tự nghiên cứu. Tao sẽ trở lại học giờ kinh tế.”
Jem nói, “Cô Muffet sẽ nghe thấy mày chạy khỏi trường. Hank.”
“Không ông ấy không nghe thấy đâu. Tao sẽ đẩy xe ra đường. Với lại, ông ấy sẽ ở trong sảnh tự học.”
Thật dễ vắng mặt trong giờ tự học do ông Tuffett coi sóc. Ông ta không quan tâm lắm đến học sinh của mình, chỉ biết tên những đứa thiếu kỷ luật. Chỗ ngồi được chia sẵn trong thư viện, nhưng nếu có đứa nói rõ rằng nó không muốn có mặt giờ đó, hàng ngũ sẽ dồn lại, đứa ở đầu dãy ghế đặt cái ghế trống trong sảnh ra ngoài và khi hết giờ sẽ đưa nó về chỗ cũ.
Jean Louise không chú ý gì tới giáo viên tiếng Anh của mình, và năm mươi phút bồn chồn sau đó kết thúc khi Henry đi về phía phòng học môn công dân của lớp cô.
“Nghe nè,” anh nói ngắn gọn. “Làm đúng như anh bảo nghe: em sẽ khai với ông ấy. Viết đi…” anh đưa cô một cây bút chì và cô mở vở ra.
“Viết, ‘Thầy Tuffett kính mến. Cái đó trông giống như của em.’ Ký tên em đầy đủ. Tốt hơn em nên chép lại bằng mực để ông ấy tin. Bây giờ, ngay trước lúc nghỉ trưa em tới và đưa cho ông ấy. Hiểu chưa?”
Cô gật đầu. “Ngay trước lúc nghỉ trưa.”
Khi bước vào giờ công dân cô biết chuyện đã lộ ra.
Những nhóm học sinh tụ lại trong sảnh lầm bầm và cười. Cô chịu đựng những cái cười toe toét và những cái nháy mắt thân thiện với sự bình thản - chúng còn làm cô cảm thấy dễ chịu hơn. Chính những người trưởng thành lại luôn tin vào điều tồi tệ nhất, cô nghĩ, tin tưởng rằng những bạn cùng trang lứa đã tin những điều Jem với Henry đã lan truyền, không hơn không kém. Nhưng tại sao họ lại kể ra? Họ sẽ bị chọc ghẹo mãi: họ có thể chẳng quan tâm vì họ sắp tốt nghiệp, nhưng cô sẽ phải ngồi lại đây ba năm nữa. Không, cô Muffet sẽ đuổi học cô và Atticus sẽ gửi cô đi đâu đó. Atticus chắc sẽ rất giận khi cô Muffet kể cho ông nghe câu chuyện giật gân này. Ồ, cũng được, làm thế sẽ kéo Hank khỏi rắc rối. Anh ấy với Jem lúc nãy đã rất lịch thiệp nhưng sau cùng ý cô mới đúng. Đó là giải pháp duy nhất.
Cô viết lời thú tội bằng mực, và khi buổi trưa tới gần, tinh thần của cô chùng xuống. Thông thường không có gì làm cô thích thú hơn một cuộc đối đầu với cô Muffet, một người trì độn đến độ học sinh có thể nói hầu như bất cứ gì với thầy ấy miễn là nó cẩn thận giữ một vẻ mặt buồn rầu và nghiêm trang, nhưng hôm nay cô không có hứng biện bác. Cô cảm thấy căng thẳng và cô tự khinh mình vì chuyện đó.
Cô thấy hơi nôn nao khi bước dọc hành lang tới văn phòng hiệu trưởng. Thầy đã gọi vụ đó là tục tĩu và hư hỏng trong buổi họp; thầy ấy sẽ nói gì với cả thị trấn? Maycomb rất thích chuyện đồn đại, sẽ có đủ loại câu chuyện truyền đến tai Atticus…
Ông Tuffett đang ngồi sau bàn giấy, bực bội nhìn vào mặt bàn. “Em muốn gì?” ông ấy hỏi, không nhìn lên.
“Em muốn đưa cho thầy cái này, thưa thầy,” cô nói, lui lại theo bản năng.
Ông Tuffett cầm tờ giấy, vo nó lại mà không hề đọc, rồi ném vào giỏ giấy vụn.
Jean Louise có cảm giác như bị đánh gục bằng một cọng lông.
“A, thầy Tuffett,” cô nói. “Em vào để thưa với thầy giống như thầy đã nói. Em… em mua nó ở Ginsberg,” cô nói thêm một cách vô cớ. “Em không cố ý làm bất cứ…”
Ông Tuffett ngước lên, mặt ông ta đỏ bừng lên vì giận dữ. “Đừng có đứng đó mà nói với tôi em không cố ý làm cái gì! Trong kinh nghiệm một đời tôi chưa từng gặp…”
Bây giờ cô gặp rắc rối là cái chắc.
Nhưng khi lắng nghe cô có ấn tượng rằng những nhận định chung của ông Tuffett được nhắm vào toàn bộ học sinh hơn là riêng cô, những lời đó là tiếng vang từ những cảm xúc của ông ta sáng sớm nay. Ông ta đang kết thúc bằng một tóm lược về thái độ không lành mạnh do hạt Maycomb đẻ ra thì cô chen vào:
“Thầy Tuffett, em chỉ muốn nói rằng mọi người không đáng bị khiển trách vì việc em làm; thầy không cần phải trút giận vào mọi người.”
Ông Tuffett bấu vào cạnh bàn và nói rít qua kẽ răng, “Vì chút hành vi bừa bãi đó em có thể ở lại trường một giờ sau khi tan học, quý cô ạ!”
Cô hít một hơi dài. “Thầy Tuffett,” cô nói. “Em nghĩ có một sai lầm ở đây. Em thực sự hoàn toàn không…”
“Em hoàn toàn không hả, đúng chưa? Vậy tôi sẽ cho em thấy!”
Ông Tuffett bốc lên một chồng dày những tờ giấy vở rời và vung vẩy vào mặt cô.
“Em, thưa quý cô, là đứa thứ một trăm lẻ năm!”
Jean Louise xem xét những tờ giấy ấy. Chúng hoàn toàn giống nhau. Trên tờ nào cũng có viết “Thầy Tuffett kính mến. Cái đó trông giống như của em” và ký tên mọi đứa con gái trong trường từ lớp chín trở lên.
Cô đứng đó một lát chìm trong suy nghĩ; không nghĩ ra được điều gì để nói ra giúp cho ông Tuffett, cô lặng lẽ rút khỏi văn phòng của ông ta.
“Ông ấy bị gục hoàn toàn,” Jem nói, khi chúng ngồi xe về để ăn trưa. Jean Louise ngồi giữa anh trai và Henry, anh chàng này ngồi nghiêm nghị nghe cô kể lại tâm trạng của ông Tuffett.
“Hank, anh là thiên tài số một,” cô nói. “Cái gì khiến anh nghĩ ra ý này?”
Henry kéo một hơi thuốc lá dài và búng nó ra cửa sổ. “Anh đi tham vấn luật sư của anh,” anh nói một cách long trọng.
Jean Louise đưa tay che miệng.
“Dĩ nhiên,” Henry nói. “Em biết là bác ấy đã coi sóc mọi việc của anh từ hồi anh mới cao cỡ đầu gối, nên anh chỉ cần vào thị trấn và giải thích mọi chuyện với bác ấy. Anh chỉ xin bác ấy lời khuyên.”
“Bộ Atticus xúi anh làm chuyện này hả?” Jean Louise hỏi khâm phục.
“Không, bác ấy không xúi anh làm. Đó là ý tưởng của anh. Bác ấy lần lữa một hồi, bảo rằng đây chỉ là vấn đề cân bằng các yêu sách hợp lý hay cái gì đó, rằng anh đang ở trong một tình cảnh thú vị nhưng bấp bênh. Bác ấy đu đưa trên ghế và nhìn ra cửa sổ rồi nói rằng bác ấy luôn cố gắng đặt mình vào vị trí của khách hàng…” Henry dừng lại.
“Nói tiếp đi.”
“À, bác ấy bảo do tính chất cực kỳ tế nhị trong vấn đề của anh, và bởi vì không có bằng chứng về ý định phạm tội, nên bác sẽ không quá kiêu hãnh đến độ không tung hỏa mù chút đỉnh vào mắt bồi thẩm đoàn - bất kể điều ấy nghĩa là gì - và rồi, ồ anh không biết nữa.”
“Ôi Hank, anh biết mà.”
“Ờ, bác ấy nói gì đó về sự an toàn nhờ số đông và nếu là anh bác ấy sẽ không mơ đến chuyện qua mặt dựa trên làm chứng gian nhưng theo bác ấy biết mọi bộ ngực áo giả trông đều giống nhau, và bác chỉ làm được đến thế cho anh thôi. Bác ấy bảo sẽ gửi hóa đơn tính tiền cho anh vào cuối tháng. Chưa ra khỏi văn phòng bao nhiêu anh đã nghĩ ra ý đó!”
Jean Louise nói, “Hank, bố có nói gì về chuyện sẽ nói gì với em không?”
“Nói với em à?” Henry quay sang cô. “Bác ấy sẽ chẳng nói quái gì với em cả. Bác ấy không được nói. Em không biết rằng mọi chuyện người ta nói với luật sư của mình đều phải giữ bí mật sao?”
Bẹp. Cô ép phăng cái cốc giấy xuống bàn, làm vỡ tan hình ảnh họ. Mặt trời đứng ở vị trí hai giờ, như nó đã đứng hôm qua và sẽ đứng ngày mai.
Địa ngục là sự chia cách vĩnh viễn. Cô đã làm gì mà phải dành hết phần còn lại đời mình vươn tay ra mong mỏi gặp được họ, làm những hành trình bí mật về xa xưa, mà không làm hành trình nào về hiện tại? Mình là máu và xương của họ, mình đã đào sâu vào đất này, đây là quê nhà mình. Nhưng mình không phải máu của họ, đất không quan tâm ai đào vào nó, mình là một kẻ lạ trong bữa tiệc cốc tai.