Cuối mùa mưa năm ấy, trời đã có nắng nhiều hơn. Đi lại đỡ vất vả và điều kiện tắm giặt cũng thuận lợi hơn. Không còn cảnh ngót tháng trời mới được tắm một lần nữa. Mà kể cũng lạ, mùa mưa lâu không được tắm, quần áo cứ lúc cứng lúc dẻo và đất bám đầy người bẩn như thế mà sao không thấy khó chịu lắm. Cứ đêm xuống dù người có ướt, quần áo có ẩm thì cũng chỉ sau vài phút ngả lưng là giấc ngủ đã đến rồi. Nhưng cảnh chiến trường đã tạo nên thói quen bản năng, chẳng bao giờ có thể ngủ say như chết được. Dễ ngủ, ngủ nhanh đấy nhưng lại rất tỉnh. Một tiếng đề pa của pháo địch hay tiếng gọi thay gác nhè nhẹ của đồng đội đều nghe thấy được trong giấc ngủ và có thể bật dậy được ngay. Bây giờ bắt đầu sang mùa khô thì khi hành quân xa hay mang vác gùi cõng cả buổi, mồ hôi ra nhiều nên ghét trên người cũng bở theo, da thịt bứt rứt chỉ muốn được tắm. Cũng may là khi trời không mưa thì quần áo phơi trong lán cũng mau khô, thậm chí mặc ngay quần áo ướt vào sau khi tắm thì cũng chỉ một hai tiếng sau đã có vẻ khô khô rồi.
Trung đoàn quyết định đánh tiêu diệt một tiểu đoàn quân Thái Lan đang đóng căn cứ tại khu vực ngã ba Lào Ngam, chắn giữ hai con đường 23 và 231. Nhổ được căn cứ này cũng có nghĩa là sẽ mở ra một thế trận mới: Giải phóng hoàn toàn tuyến đường 231 và lấn dũi tiếp theo đường 23 vào Pakse, hướng tới sào huyệt cuối cùng của quân phái hữu Phumi ở tỉnh cực nam này. Và nếu như thế thì coi như đã giải phóng xong toàn bộ vùng đất Nam Lào, càng tiến dần đến ngày hết chiến tranh. Dù chẳng biết là đến bao giờ nhưng vẫn cứ hy vọng, chiến tranh dù kéo dài đến đâu rồi cũng sẽ có ngày phải kết thúc chứ. Nếu như đến ngày đó không còn mình nữa thì niềm vui an ủi vẫn là những đứa em mình ở nhà sẽ không còn phải cầm súng ra trận nữa. Cũng bởi vậy nên cứ nghe nói chuẩn bị đánh lớn, đánh sâu vào phía địch là lính ta thấy rất háo hức và hăng hái.
Trinh sát trung đoàn, rồi trinh sát tiểu đoàn cùng các cán bộ từ trung đoàn cho đến cấp đại đội liên tục đi trinh sát căn cứ địch và địa hình để lên phương án tác chiến. Đánh căn cứ, nhất là căn cứ lớn cấp tiểu đoàn địch thì công tác chuẩn bị bao giờ cũng rất chu đáo và cẩn thận, có khi phải hàng tháng trời. Cán bộ và trinh sát cứ đi nắm địch, còn cánh chiến sĩ ở hậu cứ thì lo đi chuyển gạo đạn, lo chuẩn bị súng ống đạn dược và tập tành chiến thuật, nhất là khi có đánh hiệp đồng binh chủng. Lần này đánh căn cứ có một tiểu đoàn địch thì phải dùng tới hai tiểu đoàn của ta. Lần lượt bao giờ cũng có ba cửa mở trong đó có một cửa phụ và hai cửa mở chính. Rồi còn chia ra một bộ phận làm quân dự bị và đánh bọn tiếp viện hay đón lõng bọn rút chạy từ căn cứ ra. Tóm lại là rất nhiều chuyện phải làm. Có lẽ cả địch lẫn ta đều biết rất rõ về chiến thuật “tiền pháo hậu xung” của quân ta khi đánh căn cứ và “đánh điểm diệt viện” khi bố trí quân. Có thể đánh ban ngày hay đánh đêm và cụ thể bố trí quân như thế nào thì tùy trận đánh và xử trí của chỉ huy trong chiến trận. Nghe phổ biến lần này trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 đánh căn cứ này. Ngoài pháo chi viện, sư đoàn còn tăng cường cho một đại đội xe tăng T-54 phối hợp tạo mũi đột kích nữa. Sau mấy tháng mùa mưa vất vả đánh địch lắt nhắt, bây giờ chuẩn bị được đánh to, khí thế bộ đội hăng lắm.
Đại đội 6 và Đại đội 7 được giao nhiệm vụ đón và dẫn xe tăng từ thị trấn Paksoong về nơi tập kết. Đường 23 qua một mùa mưa quang cảnh lại không khác gì so với năm trước Đại đội 6 đánh phục kích bọn quân Thái Lan ở gần khu vực bản Vườn Lê. Cây xấu hổ và cây mâm xôi mọc tràn ra gần lấp kín con đường 23. Xe tăng đi từ thị trấn Paksoong tới nơi tập kết để vào trận cũng gần ba chục cây số. Chỉ có mỗi đường 23 để đi là tiện nhất, còn nếu luồn rừng bên bắc đường thì không thể có lối đi qua huội Champi được. Nếu để xe tăng nghiến nát cây xấu hổ và mâm xôi mà đi thì cái vệt xích xe tăng rõ mồn một sẽ là dấu hiệu cho máy bay địch phát hiện và đánh tan cả đại đội xe tăng trước khi vào trận không sót một chiếc nào. Bàn mãi rồi cấp trên chọn giải pháp cho bộ binh mang sào vén cao các mảng cây xấu hổ và mâm xôi lên tạo lối cho xe tăng đi qua rồi trả lại vệt cây như cũ. Vậy là gần trăm người của hai đại đội bộ binh mỗi người phải đẵn một đoạn sào dài chừng ba mét mang theo ra đường 23 để công binh hướng dẫn thao tác. Khó hơn nữa là không phải xe tăng đi ban ngày mà toàn đi ban đêm. Mỗi lần cả đoàn quân nối đuôi nhau nâng cây xấu hổ cho xe tăng đi qua cũng chỉ được vài trăm mét. Một đêm dài từ chập tối đến mờ sáng vất vả như thế cũng chỉ đi được năm sáu cây số. Còn phải xóa dấu vết trước khi trời sáng bảnh đề phòng máy bay L-19 săm soi phát hiện. Tới sáng lại phải tìm chỗ nào có rừng cây to cho xe tăng rẽ vào trú ẩn ban ngày. Công việc tưởng chừng đơn giản mà cũng tốn rất nhiều công sức. Cả đơn vị chỉ thầm mong xe tăng vào trận sẽ đột kích mạnh, áp đảo địch để bớt thương vong cho cánh bộ binh. Cuối cùng thì sau một tuần, bốn chiếc xe tăng cũng vào được nơi tập kết nhưng rồi do ngụy trang không tốt nên lại bị máy bay T-28 đánh bom phá hỏng mất một chiếc. Tin về tổn thất này không được phổ biến và cánh bộ binh chỉ biết sau khi trận đánh đã kết thúc.
Hai đại đội còn lại của Tiểu đoàn 2 là Đại đội 5 và Đại đội 8 cũng phải làm nhiệm vụ khác hỗ trợ cho xe tăng. Từ nơi tập kết vào trận địa, xe tăng sẽ đi công khai vào hôm nổ súng nhưng đó không phải là đường rừng bằng phẳng nên cánh bộ binh lại phải làm đường. Chỗ có cây nhỏ thì chặt bớt, chỗ có cây to thì phải cưa sẵn nửa thân để xe tăng có thể dễ dàng húc đổ khi vào trận. Ngay cả đường đi cũng phải bạt bớt nhiều đoạn gồ ghề, nhất là những chỗ có gờ sống trâu. Bởi theo phổ biến thì nếu đi vào một cái sống trâu cứng gồ lên đội vào bụng xe tăng thì xe cũng bị mắc cạn lại không chạy được. Lúc vào trận mà bị mắc cạn thì cũng không có thời giờ để xe khác kéo giải cứu. Đúng là có được đánh trận cùng xe tăng mới biết có nhiều thứ khó khăn và phức tạp thật, không đơn giản như xem phim Liên Xô thấy xe tăng lao ầm ầm húc đổ tường đổ nhà tiến quân như vũ bão.
Xong việc với xe tăng, quay về hậu cứ là đã có lệnh chuẩn bị ngay cho trận đánh. Ngày N cũng chỉ còn vài hôm nữa. Không có sa bàn mà chỉ có bản đồ phổ biến đến từng trung đội trưởng. Các tiểu đội tổ chức chặt gỗ và bó bao cát để đem theo làm nắp hầm cá nhân. Trung đội trưởng Quân về phổ biến, Đại đội 6 chúng ta sẽ làm nhiệm vụ đón lõng đánh địch bỏ chạy hoặc đánh quân tiếp viện. Nhiệm vụ này sẽ đỡ ác liệt hơn so với các đại đội đánh căn cứ. Tiểu đội trưởng Nhạn bảo anh em trong tiểu đội, lúc này chỉ còn Tháo và Hoài, trận đánh này sẽ gần giống như đánh phục kích. Tất cả lại lao vào hùng hục chuẩn bị. Đến lúc này Tháo mới hiểu tại sao trong những ngày mùa mưa vừa qua đại đội phải thường xuyên cử lính ra các căn cứ cũ của địch dỡ công sự lấy bao cát đem về giặt sạch tích trữ lại. Bọn địch khi xây dựng công sự sử dụng những cái bao dứa hoặc bao vải ni lông nhỏ để dựng đất vào đó chất lên nóc hầm, giống như các bao đất đắp kè trên bờ đê. Nay chiến sĩ ta tận dụng cách đó để làm công sự cá nhân có nắp cho nhanh. Hơn chục cây tre hoặc gỗ nhỏ cỡ cổ tay rải trên nắp công sự chữ L có chiều rộng 60 phân, dài 80 phân rồi xếp lên đó chục bao đất là đã có một chiếc hầm cá nhân chống được đạn M79.
Ngày N-1, các đơn vị bộ binh hành quân tiềm nhập vào trận. Trinh sát dẫn đường đưa các đơn vị hỏa lực 12 ly 7 và ĐKZ của tiểu đoàn và bộ binh vào khu vực cửa mở. Trong khi cánh hỏa lực và bộ binh đào công sự chiến đấu ngoài hàng rào theo hình rẻ quạt thì công binh trung đoàn phối hợp với trung đội bộ binh đánh cửa mở bò vào cắt rào và đặt mìn định hướng. Căn cứ của tiểu đoàn quân Thái Lan này có ba lớp rào bao quanh, trong đó hàng rào trong cùng là loại rào gai bùng nhùng. Nhiệm vụ của bộ phận mở cửa là phải phá rào tạo độ rộng tới 8 mét để xe tăng có thể dễ dàng lao nhanh vào trận địa địch. Do đã trinh sát kỹ nên các đơn vị đã triển khai đặt mìn định hướng và đào xong hầm mà địch vẫn không phát hiện được. Đất ẩm qua một mùa mưa nên cũng dễ đào hầm và trời không mưa nên việc giá mìn và kết nối dây nổ không lo bị ướt. Tất cả hai phía cửa mở của Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 bí mật chờ đợi giờ nổ súng.
5 giờ sáng ngày N, khi tiếng đề pa của pháo binh sư đoàn bùng bùng cũng là lúc công binh trên hai cửa mở đồng loạt bấm mìn định hướng. Những giá mìn ĐH-10 ba quả một đồng loạt nổ vang đã thổi bay cả ba lớp hàng rào của địch, lẫn trong tiếng pháo 105 ly của sư đoàn và cối 120 ly của trung đoàn nổ dữ dội vào căn cứ địch. Hỏa lực tại chỗ của tiểu đoàn và đạn B-40, B-41 của Đại đội 5 cũng dập vào cửa mở, bắn phá lô cốt đầu cầu. Sau chừng 10 phút, tất cả cối pháo dừng bắn mà địch cũng chưa có phản ứng gì. Khác với những trận đánh căn cứ thông thường, khi pháo cấp trên bắt đầu chuyển làn bắn sâu vào căn cứ địch thì cũng là lúc bộ binh xung phong đánh chiếm lô cốt đầu cầu, nhưng trận này do chờ xe tăng đến tối mới vào tới được, nên nhiệm vụ của bộ binh là giữ vững cửa mở không cho địch ra lấp lại trong suốt ban ngày.
Đêm N-1, Đại đội 6 cũng có trinh sát tiểu đoàn dẫn đường đến vị trí phục kích đón lõng địch. Đường đi của Đại đội 6 xa hơn vì phải đi vòng qua căn cứ địch nên tất cả phải xuất phát sớm, ngay sau bữa cơm chiều. Đoạn đường đi trong rừng rậm an toàn nhưng vất vả vì lắm bụi rậm và những đám dây rừng, nhất là khi có vác gỗ đè trên vai. Nhiều lúc phải chui qua cả một bụi cây và dây rừng chằng chịt với tư thế lom khom có lúc như bò, Tháo mới thấy anh Nhạn nhắc anh em lấy bao cát bọc hai đầu vác gỗ là một kinh nghiệm thật quý báu. Nếu không làm như thế, dây rừng dai chắc mắc vào giữa những thanh gỗ thì thật khó gỡ và khi đó quân ta không thể bám sát nhau mà đi được. Thật may là khi trời tối hẳn thì đội hình cả đại đội đã đi qua rừng già và ra ngoài bãi cỏ trống và rừng thưa. Đêm không trăng sao nhưng đi trên bãi trống đã có thể nhìn thấy bóng người đi trước nhờ nhờ trên nền trời mà bám theo. Đôi lúc đội hình tiềm nhập phải dừng lại một chút để bộ đội không bị lạc do vác gỗ nghềnh ngàng rất mỏi và phải trở vai liên tục không bám kịp. Thêm một vất vả nữa là đường tiềm nhập của Đại đội 6 lại phải qua một bãi lầy nhỏ, bùn ngập đến gần đầu gối, phải giãn cách cự ly. Cuối cùng thì tới gần nửa đêm, trinh sát cũng đã dẫn được bộ đội vào đúng vị trí triển khai đào công sự. Nơi này là một vùng cây lúp xúp lẫn cỏ tranh và bông lau trắng gần một con đường xe bò đã bỏ từ lâu. Bình thường thì tiểu đoàn quân Thái Lan ở căn cứ này được tiếp tế qua con đường ô tô chạy từ ngã ba Lào Ngam vào, nhưng khi bị quân ta bao vây đánh căn cứ thì con đường đó bị chặn nên địch sẽ phải chọn con đường xe bò men theo nam đường để chạy sâu vào bên trong mới có lối rẽ ra ngoài đường 23.
Xa căn cứ địch nên bộ đội đào hầm thoải mái hơn. Tuy vậy các trung đội trưởng sau khi chỉ vị trí cho từng người vẫn phải chạy qua chạy lại kiểm tra. Đây là lần đầu tiên Tháo tự mình đào và làm một cái hầm cá nhân có nắp nên Tiểu đội trưởng Nhạn vừa đào hầm của mình, vừa phải thỉnh thoảng chạy qua kiểm tra và chỉ dẫn thêm cho Tháo. Cần đào hầm đủ rộng rãi vì phải chui vào đó chờ đợi cả ngày chứ không phải chỉ một thời gian ngắn. Hơn nữa nơi này trống trải phải ngụy trang rất cẩn thận vì cả một ngày trời máy bay trinh sát L-19 của địch có thể phát hiện ra và gọi không quân đánh bom. Buổi sáng ngày N, sau khi phía căn cứ địch ùng oàng pháo của ta bắn vào rồi im lặng, Đại đội trưởng Khâu biết ở hướng đó quân ta đang chốt giữ bảo vệ cửa mở đến tối để chờ xe tăng vào theo kế hoạch. Còn ở đây sẽ là một ngày chờ đợi, có thể rất căng thẳng nhưng có khi cũng nhàn nhã. Nơi phục kích địch của Đại đội 6 nằm độc lập không thể rải dây hữu tuyến nên được tiểu đoàn tăng cường cho một máy thông tin 2 oát.
Qua kinh nghiệm chiến đấu của mình trên chiến trường này, Đại đội trưởng Trần Khâu phán đoán nhiều khả năng địch sẽ không ứng cứu bởi vì cả ngày hôm nay quân ta vẫn chưa tiến công vào căn cứ. Điều đó cũng có nghĩa là bọn quân Thái Lan trong căn cứ chưa phán đoán ra ý đồ của ta, chưa thấy nguy cấp nên cũng sẽ không yêu cầu tiếp viện giải vây. Đại đội 6 sẽ phải giữ bí mật trận địa là chính để đêm nay đánh bọn rút chạy. Còn bên phía trận địa chính, anh em trên cửa mở chỉ vất vả ngày hôm nay chống địch thôi, còn đến tối có xe tăng công kích thì chắc chắn sẽ đánh chiếm được căn cứ địch. Vì thế khi trời đã sáng rõ, Đại đội trưởng Khâu tự mình cùng các trung đội trưởng kiểm tra lại lần cuối ngụy trang của bộ đội, thấy đảm bảo rồi mới yên tâm lệnh cho tất cả ngồi im tại vị trí chờ đến tối.
Đúng như phán đoán của Đại đội trưởng Khâu, suốt ngày N bên khu vực cửa mở của căn cứ chính là một ngày vất vả của bộ đội. Sau khi pháo ta dừng bắn, bọn địch chờ đợi để đánh quân ta xung phong vào, nhưng chờ mãi chẳng thấy gì ngoài sự tĩnh lặng như chưa có gì xảy ra. Kiểu đánh này của bộ đội ta cũng không giống những trận đánh vây ép. Phải rất lâu sau, địch mới cho quân ra sửa lại các lô cốt đầu cầu và bố trí lại quân tại nơi đó. Sau khi lò dò ra kiểm tra hàng rào bị đánh tung, bị quân ta bắn cho mấy loạt, chúng tụt vào trong và không ra nữa. Hàng rào ở cửa mở không bị lấp nên các hầm hỏa lực sát hàng rào cửa mở cần phải giữ bí mật cho đến tối. Các đơn vị ở thê đội hai phía sau tiếp tục củng cố công sự và cũng phải giữ bí mật lực lượng. Một điều may nhất mà cấp trên luôn lo lắng cho những trận đánh không dứt điểm ngay như thế này là địch không cho máy bay ném bom. Chúng chỉ tập trung bắn cối 81 ly từ trong căn cứ ra ngoài khu vực cửa mở nhằm sát thương đối phương. Cứ độ nửa giờ lại bắn ra ngoài chừng chục trái kiểu cầm canh như thế. Buổi chiều thêm một đợt pháo 105 ly vài chục quả của địch từ trong phù Chiêng bắn ra các khu vực cửa mở, có lẽ chúng định lấy điểm bắn chuẩn trước mà thôi. Tuy vậy bên hướng của mở phía đông của Tiểu đoàn 2 cũng có vài chiến sĩ bị thương, một người hy sinh. Chiến sĩ thông tin hữu tuyến tiểu đoàn phải đi nối lại dây điện thoại bị đứt đến mấy lần. Suốt một ngày quân ta trên cửa mở thấp thỏm và chờ đợi, càng đến chiều càng bớt lo lắng hơn. Đến chập tối cán bộ Đại đội 5 đã có thể thở phào vì cửa mở vẫn thông, đảm bảo xe tăng có thể tiến công vào căn cứ mà không vướng víu gì.
5 giờ chiều khi nắng vừa tắt, cũng là lúc trên trời không còn máy bay trinh sát L-19 lượn lờ nhòm ngó, đội hình xe tăng bắt đầu xuất kích. Các xe tăng để chân dầu nhỏ, lịch xịch tiến về phía căn cứ địch theo con đường đã mở sẵn của công binh trung đoàn. Từng đoạn vẫn có công binh đứng làm hoa tiêu chỉ dẫn. Tuy đã được lệnh sẵn sàng nhưng tiếng xe tăng rất nhỏ nên khi chỉ còn cách căn cứ vài trăm mét, bộ đội trên cửa mở mới biết xe tăng đang vào. Lúc này trời tối rất nhanh. Tất cả bộ binh được lệnh chuẩn bị bám theo xe tăng. Căn cứ của tiểu đoàn quân Thái Lan xây dựng trên một khu vườn cà phê lâu năm rất rộng, phía ngoài hàng rào vài chục mét là những vạt cây rừng tái sinh nên khi xe tăng vào sát đến lớp hàng rào đầu tiên, bộ binh phải dùng đạn lửa bắn vào khu cửa mở chỉ đường cho xe tăng. Cùng lúc chiếc xe tăng đi đầu dịch đít chỉnh lại hướng và nổ to máy lao qua cửa mở, các loại hỏa lực tại chỗ của bộ binh cũng đồng loạt khai hỏa bắn vào căn cứ địch. Chớp lửa của B-40, B-41, ĐKZ -75 và 12 ly 7 nhoang nhoáng nhằng nhịt hòa cùng các loại súng bắn ra từ chiếc xe tăng T-54 đang xông vào. Theo hai vệt xích xe tăng, bộ binh lao theo vọt qua cửa mở. Theo hiệp đồng, xe tăng đi đầu lao thẳng chọc sâu vào trung tâm căn cứ còn hai xe tăng sau rẽ ngang đánh sang hai bên. Những bánh xích xe tăng đè và day nát các công sự của địch. Bộ binh từng tốp bám theo xe tăng tung thủ pháo xuống các giao thông hào hai bên và bắn găm AK vào bất cứ chỗ nào nghi ngờ. Bọn quân Thái Lan lần đầu tiên gặp xe tăng ta nên rất kinh hoàng và lúng túng. Lúc xe tăng ta lao qua cửa mở, chúng chỉ kịp bắn trung liên và các loại đạn thẳng vào xe tăng, thành xe tăng liên tiếp tóe lửa cùng tiếng va chát chúa nhưng chẳng hề hấn gì. Về sau lúc xe tăng đã lọt vào căn cứ, bọn địch mới kịp bắn ra mấy quả M72, nhưng do vội nên không có quả nào trúng xe tăng. Những vệt lửa da cam của đạn M72 vạch những vệt sáng trong đêm vượt qua cả đầu bộ binh chạy sau xe tăng. Tiếng súng các loại của quân ta nổ vang trong căn cứ, áp đảo những tiếng súng thưa thớt của địch.
Ngoài vài phát đại bác bắn thị uy ban đầu, xe tăng chủ yếu chỉ bắn 12 ly 7 và đại liên trên xe, nhưng uy lực về khối thép khổng lồ quần nát hầm hào mới khiến địch khiếp sợ không chống cự được bao nhiêu. Chỉ sau chừng nửa giờ tiến công, các mũi của Tiểu đoàn 2 hướng đông và Tiểu đoàn 3 hướng nam đã bắt tay được với nhau và dấn thêm một bước tảo thanh về phía tây. Hướng đó có cửa chính của địch để ra vào căn cứ và một bộ phận địch đã rút chạy qua đó. Nhiệm vụ cuối cùng của bộ binh bây giờ là chia nhau tảo thanh làm chủ toàn bộ trận địa, bắt tù binh, kiểm tra thu hồi vũ khí và đưa thương binh tử sĩ ra. Đêm tối đen lại nằm giữa vườn cà phê tươi tốt nhưng mọi việc đều diễn ra thông suốt, nhìn mọi thứ trong đêm có lẽ đã thành một thứ bản năng của bộ đội trong chiến trường. Trung đoàn nghe báo cáo quân ta làm chủ căn cứ đã phát lệnh cho bộ đội khẩn trương rút nhanh ra ngoài, đề phòng địch dập pháo hủy diệt căn cứ. Rút nhanh và vội vã, vậy mà ngoài một số vũ khí thu được, quân ta kể cả bộ binh và lực lượng tăng cũng đã kịp thu chiến lợi phẩm của địch. Cứ lấy cái đã, ra ngoài rừng xem xét sau. Mấy chiếc xe tăng lúc rút ra chạy từ từ và bật đèn gầm để khỏi chẹt vào bộ binh.
Trên trận địa phục kích đón lõng của Đại đội 6, từ lúc sẩm tối mọi người đã nghe thấy tiếng súng nổ ran phía căn cứ địch. Những chớp sáng loáng nhoáng xen trong nhiều tiếng nổ. Thỉnh thoảng lại nghe bùng một tiếng rất to kèm theo quầng sáng hất lên trời, có vẻ như từ một trái đạn hỏa tiễn bắn vung lên nào đó. Đại đội trưởng Khâu lệnh cho toàn đại đội chuẩn bị đánh địch rút chạy. Cũng chẳng phải chờ lâu, từ lúc nghe tiếng pháo của xe tăng ta bắn vào căn cứ địch đến khoảng chừng nửa giờ sau đã nghe tiếng những bước chân rậm rịch chạy. Đêm tối nhưng giữa khoảng trống nên cũng đã nhìn thấy những bóng đen lố nhố, chừng khoảng vài chục tên. Theo đúng hiệp đồng khi những tên chạy đầu sắp vượt qua đội hình phục kích, Trung đội trưởng Quân lệnh cho nổ súng chặn đầu. Tháo đã kiểm tra rất kỹ càng quả đạn B-40 được đẩy vào khấc sẵn sàng từ trước và giương súng lên nhắm vào giữa những bóng đen. Thấy Tiểu đội trưởng Nhạn nằm sát bên trái mình phẩy tay ra hiệu Tháo liền bóp cò. Đây là quả đạn B-40 bắn đầu tiên trong đời của Tháo. Tiếng ùng oàng vang to trong đêm cùng chớp lửa màu da cam chết chóc lao vào giữa những bóng đen phía trước. Ngay lúc đó tất cả các chiến sĩ Đại đội 6 cũng đồng loạt nổ súng xả tất cả các loại đạn vào đội hình địch. Tiếng đạn xen ríu vào nhau không còn phân biệt được ai bắn và từ đâu bắn ra nữa. Trận đánh diễn ra rất nhanh, chỉ chừng hai phút. Ta hoàn toàn chủ động nên địch không bắn lại được phát đạn nào. Tháo cũng đã kịp bắn xong quả đạn B-40 thứ ba. Ở phía khóa đuôi của Trung đội 6, đội hình của địch vẫn còn nhưng chúng không bắn trả mà tìm cách tháo lui và tìm đường khác chạy trốn. Anh Ngự, Trung đội trưởng Trung đội 6 lệnh cho bộ đội truy kích ngắn và cho nã thêm B-41 cùng cối cá nhân M79 về phía đội hình phía sau của địch. Trận chiến đấu kết thúc, tiếng súng ngừng lại cũng nhanh như lúc phát hỏa. Trung đội 6 bắt được năm tên tù binh. Phía Đại đội 6 không có thương vong. Đại đội trưởng Khâu báo cáo kết quả về tiểu đoàn rồi lệnh cho bộ đội khẩn trương thu vũ khí rút nhanh về vị trí tập kết được giao lúc trước theo lệnh tiểu đoàn. Vẫn sợ pháo địch bắn chi viện gây thương vong không cần thiết cho quân ta nên công tác kiểm tra cũng kết thúc nhanh. Thu vội vũ khí và đếm nhanh, diệt được chừng hai chục tên, bắt sống năm tên. Có thể vẫn còn sót lại vũ khí chiến lợi phẩm và nhiều ba lô của địch chưa kiểm tra hết, nhưng lúc này không thể tự ý chần chừ được. Ngay trong đêm, Đại đội 6 về đến vị trí tập kết được phân công là một rẻo rừng sát con suối lớn nằm ở phía đông nam căn cứ địch ở khoảng cách non cây số. Các đơn vị đánh căn cứ lúc này cũng rút hết ra bên ngoài đóng quân rải rác trong các khu rừng gần căn cứ địch. Trong căn cứ đêm nay chỉ còn Đại đội 7 nằm sát ngoài hàng rào canh chừng.
Về tới nơi tập kết trong đêm, Đại đội trưởng Khâu phân công vị trí cho các trung đội, cho anh em rải ni lông ngủ quanh các gốc cây. Cả đại đội chỉ bố trí một vọng gác. Thật ra trong lúc như thế này không lo có địch hay thám báo mà chỉ sợ địch bắn pháo vu vơ trong đêm, còn canh gác chính là trông chừng mấy tên tù binh, dù lúc này chúng đã bị trói cả tay lẫn chân và trói dính vào nhau. Ngày mai tiểu đoàn mới tiếp nhận tù binh của các đại đội nộp lên và cử được người giải về hậu cứ của trung đoàn. Nhạn gọi Hoài và Tháo trong tiểu đội mình lại cùng mở mấy cái ba lô chiến lợi phẩm ra xem. Trong ba lô nào của địch cũng có gần tút thuốc lá “To A” hay Salem. Trong một ba lô còn có hai hộp thịt. Nhạn cho tiểu đội đục hai hộp thịt chia nhau ăn lấy sức, vì bữa cơm tối đã tiêu đi đâu hết rồi qua gần một đêm vất vả. Nhạn lại lấy một tấm ni lông che tạm ánh sáng để mấy anh em cùng hút thuốc. Đã lâu ngày không được hút thuốc “thẳng” mà chỉ toàn thuốc rê quấn sâu kèn hôi rình, bây giờ được hút điếu thuốc đầu lọc thấy khoan khoái và tỉnh cả người sau khi đã giải quyết xong hai hộp thịt dằn bụng. Đứng thẳng người lên nhìn ngó xung quanh thấy đâu đó cũng lập lòe đốm đỏ thuốc lá và mùi thuốc thơm cả góc rừng, Nhạn biết anh em các tiểu đội và trung đội khác cũng vớ được các thứ giống tiểu đội mình. Cẩn thận hơn, Nhạn cầm nửa tút Salem sang cho Trung đội trưởng Quân, nhưng thấy anh cũng đang nằm ngả lưng cạnh một gốc cây to, điếu thuốc thơm có đốm đỏ lập lòe trên môi. Thấy Nhạn lại gần đưa ra mấy bao thuốc, anh Quân cười bảo:
“Mày về ngủ đi, tao cũng có gần tút thuốc đây rồi. Nhớ nhắc anh em ngủ ngay đi, mai còn dậy sớm đấy nhé”.
Hôm sau cả đại đội thức dậy lúc trời vừa nhìn rõ mặt người. Một lô công việc cần làm được triển khai. Một tiểu đội được giao dẫn giải tù binh lên vị trí tập kết của tiểu đoàn, nằm không xa khu cửa mở liền cùng với Đại đội 7. Số còn lại của các trung đội tập trung tổ chức đào hầm chữ A vì toàn tiểu đoàn có lệnh trụ lại, chưa rút về hậu cứ. Một bộ phận khác được lệnh vào căn cứ địch tổ chức thu vũ khí và chiến lợi phẩm. Suốt đêm qua địch không có động tĩnh gì với căn cứ bị mất này và nghe qua đài kỹ thuật từ trên báo về, địch không có ý định tái chiếm lại căn cứ. Gần trưa, nhóm chiến sĩ được vào căn cứ quay về nơi tập kết của đại đội kể chuyện thu chiến lợi phẩm khiến cánh chiến sĩ cứ nháo cả lên. Thế là buổi chiều tạm dừng đào hầm để vào căn cứ thu chiến lợi phẩm đã. Có vẻ như tiểu đoàn quân Thái Lan này vừa được tiếp tế hậu cần thì bị ta đánh. Trong căn cứ có một kho gạo Thái phải cỡ vài tấn. Ngoài ra các thứ như đồ hộp, đường trắng, nước mắm và các thứ linh tinh khác rất nhiều. Còn trong các ba lô của địch bỏ la liệt trong các hầm hào thì cái nào cũng có thuốc lá đầu lọc và nhiều thứ hay hay. Buổi sáng trước khi rút về căn cứ của sư đoàn, cánh xe tăng đã kịp lái xe quay vào căn cứ tranh thủ thu chiến lợi phẩm. Có xe tăng cõng hộ không phải mang vác, mỗi kíp xe lấy cả tạ gạo và nhiều thứ khác rồi mới rút đi. Các Tiểu đoàn 2 và 3 cho các đại đội tùy sức lấy gạo và thực phẩm theo khả năng. Tiểu đoàn cũng cử một bộ phận gùi thuốc lá, đồ hộp, đường, sữa và cả gạo về nộp cho trạm xá trung đoàn để phục vụ cho thương binh.
Nhạn cùng Tháo và Hoài cũng được vào căn cứ gùi hàng về vào buổi chiều. Ngoài những thứ lấy chung cho đại đội như gạo và thực phẩm. Nhạn cũng nhắc anh em thay một vài thứ quân trang của địch. Trước tiên là xanh-tuya-rông của Mỹ. Loại này làm bằng chất liệu pha ni lông và có thớ ngang nên không bị ngấm nước, bền và nhất là không bị bị vặn vỏ đỗ khi gắn nhiều thứ vào đó. Mấy cái xanh-tuya-rông vải của Trung Quốc được phát từ ngoài Bắc bị vứt bỏ không thương tiếc. Tiếp theo là mỗi người lấy vài đôi tất sợi pha ni lông của địch. Loại tất này cũng vô địch, bền, giặt nhanh khô và nhẹ, đi dép cao su không thể thiếu đôi tất chân, bất kể mùa nào. Một thứ nữa cũng rất tốt là chăn dù thám báo và vải dù làm võng. Tất cả mấy thứ đó vo lại nhét trong ba lô rất gọn, nặng chưa tới một cân, ấm và bền. Nhạn bảo hai chiến sĩ trong tiểu đội mình:
“Đây là cơ hội hiếm có đấy vì bọn quân Thái Lan là con nhà giàu được trang bị toàn đồ tốt của Mỹ và rất đầy đủ. Đánh bọn Phumi không mấy khi có những thứ này đâu. Anh em mình phải tranh thủ khua ngay chứ chậm một chút nữa cũng chẳng còn”.
Nhạn là chiến sĩ cũ, đánh trận nhiều ở chiến trường này nên rất có kinh nghiệm kiểu “láu cá” ấy. Quả như lời Nhạn nói với anh em trong tiểu đội, cánh chiến sĩ khác chỉ nhăm nhăm tìm thuốc lá và đồ ăn, đến khi về chỗ tập kết mới ớ ra khi nhìn thấy mấy thứ linh tinh của tiểu đội Nhạn, lần sau được vào lại căn cứ để gùi hàng tiếp thì chẳng còn kiếm đâu ra. Thuốc lá và đồ hộp thì sớm muộn cánh nào cũng lục tìm được kha khá, có lấy nhiều thì sau này tiểu đoàn cũng cho kiểm kê và thu bớt lại để nộp lên trung đoàn. Các thứ ăn và hút trước sau rồi cũng hết, còn những đồ dùng của địch thuộc loại cho phép lấy để sử dụng cá nhân thì bền mãi. Nhạn còn tìm trong ba lô của địch lấy được một chiếc đèn pin “cổ ngoéo” bằng nhựa cứng và một chiếc địa bàn pháo binh. Hai thứ này đều là của quý và hiếm, rất ít khi gặp. Đèn pin “cổ ngoéo” nắp vặn có gioăng cao su nên không thấm nước, có rơi xuống suối cũng chẳng sao. Đặc biệt là nó có thêm một mắt kính mờ. Khi lắp mắt kính này vào thì có ngồi ngay trong hàng rào bật xem bản đồ, thằng địch đứng gác cách đó chục mét cũng không phát hiện ra. Nhạn dùng chiếc địa bàn mới còn nguyên nước sơn quân dụng trên vỏ, đưa chiếc cũ đang dùng cho cậu Hoài. Cánh bộ binh tuy không thường xuyên phải dùng địa bàn như trinh sát, nhưng thằng nào cũng thích có một cái để đến nơi dừng chân là có thể biết được phương hướng. Nhỏ nhẹ và gọn, cái địa bàn đút vừa túi áo ngực của chiến sĩ. Tháo cũng lọ mọ kiếm được một bộ bài tú-lơ-khơ mới tinh và một cuốn vở chỉ mới ghi có hai ba trang chữ Thái cùng hai cây bút bi. Vô tình mà lại hợp vì đôi lúc Tháo cũng muốn ghi chép một cái gì đấy. Chẳng để làm gì cả, nhưng cứ ghi lại, đánh dấu mốc cho những bước chân của mình trong đời quân ngũ, biết đâu còn có lúc được xem lại. Nhạn cầm bộ tú-lơ-khơ lên, lật mặt sau xem thấy vẽ hình hoa văn rất đẹp còn mặt trước chỉ là hình rô cơ nhép bích, bảo Tháo:
“Bộ bài này được đấy. Có lần tớ lục ba lô địch cũng lấy được một bộ nhưng mặt nền của lá bài toàn ảnh con gái cởi truồng. Mới nhìn thấy tò mò, sau ngượng bỏ mẹ, thấy nó cứ thế nào ấy lúc chơi bài. Sau chính trị viên nhìn thấy, bắt đem đốt bỏ, còn cho thêm một bài chính trị nữa. Chuyện kết nạp Đảng của tớ bị kéo dài thêm tới nửa năm cũng do cái chuyện dở hơi ấy”.
Hôm đầu lấy được gạo về nơi tập kết, anh nuôi nấu thả phanh cho mỗi suất gần cân gạo. Chưa cần mở thịt hộp chiến lợi phẩm, chỉ rưới nước mắm cũng là thứ vừa lấy được của địch trong căn cứ mà mỗi thằng chén tới sáu, bảy bát cơm hết bay. Gạo Thái hạt dài, nhìn đã thích, nấu lên lại thơm lừng. Rất nhiều người lần đầu tiên biết đến thứ gạo hạt đẹp và nấu lên thơm như thế. Mấy tháng qua tiêu chuẩn gạo có năm lạng một ngày lúc nào cũng thấy đói, nay được nấu ăn thả phanh chả tính vào tiêu chuẩn nào, từ cán bộ đến lính tráng, anh nuôi mặt ai cũng phởn phơ. Ăn no nên làm khỏe, mấy cái hầm chữ A làm xong chỉ trong một ngày. Lại thêm cái khoản thuốc lá thơm xông xênh nên chả ai chịu chui xuống hầm, lúc nghỉ cả đêm lẫn ngày cứ chặt ít lá rải ni lông nằm mà hút thuốc và tán chuyện với nhau. Chỉ tiếc là trong ba lô của bọn địch không có cà phê và chè mạn, có một ít quân ta hái về tự làm được thì đã dùng hết từ khi còn ở hậu cứ rồi. Càng nghĩ càng thấy bọn địch sướng thật, cứ như con nhà giàu. Trung đội trưởng Quân, người đã từng tham gia đánh Mỹ ở mặt trận Trị Thiên hồi năm 1967 - 1968 hứng chí còn kể thêm chuyện lính Mỹ. Chúng nó được phục vụ hậu cần tới tận chân răng. Đào công sự trên núi có máy bay trực thăng cẩu ụ súng đúc sẵn bằng bê tông lên. Còn mùa hè nóng bức thì không phải mò ra suối tắm mà có máy bay đem nước lên phun xuống cho tắm như mưa nhân tạo. Hèn gì chúng nó không chịu nổi khắc nghiệt khí hậu của Việt Nam, thua quân ta là phải.
Mấy ngày dừng chân quanh căn cứ đã bị nhổ bỏ của tiểu đoàn quân Thái Lan, không gian và cảnh vật thanh bình như nơi này chưa hề có chiến tranh. Không một tiếng pháo, không một tiếng máy bay trinh sát L-19 ò è và vè vè trên trời. Mọi sự tĩnh lặng vô cùng. Nhìn qua khe lá lên, thấy bầu trời như cao hơn, xanh hơn với những làn mây trắng nhẹ trôi. Rừng cây lá xanh rì rào, tiếng suối chảy róc rách phía xa xa, sáng sớm và chiều tối nghe tiếng chim ríu rít trên những tán cây cao. Lính tráng thay nhau vào căn cứ địch, lấy hết những thứ cần thiết cho mình rồi thì gùi hàng về cho trung đoàn. Súng ống từ nhỏ đến to, máy thông tin, đạn dược rồi đủ thứ linh tinh khác được gùi về nộp lên trên mà xem ra vẫn còn nhiều thứ hay hay nhưng chả mấy khi dùng, ôm vào chỉ nặng lúc hành quân nên bỏ. Thời gian rất nhiều, chả sinh hoạt hay họp hành gì. Vậy nhưng mỗi đêm vẫn phải ngồi canh gác, nghe tiếng lũ côn trùng thi nhau hòa tấu và đếm hết một giờ gác để gọi người khác thay. Ngày nào nhà bếp cũng nấu rất nhiều cơm. Anh nuôi bảo, gạo không tiêu chuẩn, tao cứ nấu nhiều cho đến khi nào chúng mày không ăn được nữa thì thôi. Vậy mà cánh chiến sĩ vẫn cứ ăn rào rào, mỗi ngày cả cân, dù thức ăn bây giờ chỉ còn mỗi nước mắm hay món canh lá chua.
Được chừng một tuần sống trong cảnh sung túc như mơ ấy thì có lệnh hành quân. Lệnh phát ra từ buổi trưa, chiến sĩ ta có một buổi chiều chuẩn bị. Súng đạn và quân tư trang thì vẫn vậy rồi. Ai lấy thêm cái gì lặt vặt thì tự cố gắng mang. Nghe phổ biến sẽ hành quân đi rất xa, tới một địa bàn mới và phải tác chiến luôn. Mỗi chiến sĩ tự trang bị thêm hai quả lựu đạn US của địch. Mỗi tiểu đội phải nhận thêm một ống súng chống tăng M72 để tăng thêm hỏa lực hỗ trợ cho B-40, B-41, vì cơ số đạn của họ chỉ có sáu quả. Chiến sĩ giữ M79 cũng phải tự bổ sung đạn cho mình lấy ngay từ căn cứ địch, nâng cơ số đạn từ 40 lên 50 quả. Các loại đạn của ta như đạn AK, cối 60, B-40, B-41 đã được đem từ hậu cứ ra bổ sung từ mấy hôm trước. Nhìn chung thế là mọi thứ trên vai đã rất nặng. Về lương thực, mỗi người phải mang bảy cân gạo và bắt đầu được tính ăn theo tiêu chuẩn năm lạng một ngày bắt đầu từ hôm sau. Đóng gạo cho từng người xong, nhìn đống gạo Thái thu được từ mấy hôm trước còn lại, ai cũng tiếc, nhưng làm sao ôm được. Đại đội trưởng Khâu bảo: “Chúng mày đứa nào mang thêm được cứ mang, được tự nấu tự ăn thêm không ai quản”. Nghe thì thế nhưng có cố cũng mang thêm được mỗi người một ký, bảo nhau thôi để ăn thêm một ngày nữa vậy. Dù sao sau mấy ngày nghỉ ngơi anh em được lại sức, khỏe ra và đang hăng. Anh nuôi Châu vun đám gạo bỏ lại vào một tấm ni lông để gọn bên gốc cây, nói với anh em như để tự giải tỏa sự tiếc rẻ của mình:
“Số gạo này cũng chỉ mấy hôm nữa thôi, đám chim muông và thú rừng sẽ về đây giải quyết nốt. Thôi cũng coi như món quà tặng của chúng ta cho chúng”.
Đội hình hành quân theo đại đội, nhưng cả đoàn quân của Tiểu đoàn 2 cùng lần lượt xuất quân từ ngay chập tối. Sau khi vượt qua đường 23 cả tiểu đoàn theo trinh sát dẫn đường nhằm hướng bắc mà đi. Chỗ nào chưa có đường thì đạp rừng, chỗ nào có đường xe bò thì tận dụng đi theo. Trinh sát chọn chỗ nông ở huội Champi cho bộ đội vượt qua, vì lúc này đã sang mùa khô, không còn mưa nữa rồi. Leo qua mấy cây cầu bằng cây đổ cũ làm mấy tháng trước vừa cao chênh vênh, vừa nguy hiểm. Sáng ra cả đại đội được nghỉ bên một cánh rừng, cách xa đường xe bò dân sinh. Anh nuôi triển khai nấu cơm còn bộ đội mắc võng hoặc nghỉ luôn trên mặt đất, không được đi ra xa. Như vậy đợt hành quân này sẽ là ngày nghỉ đêm đi, chắc cần phải giữ bí mật với dân, dù dân Lào nói chung thường có thái độ trung lập. Ngủ nửa ngày đã mắt, sau bữa cơm trưa, cánh chiến sĩ lại tụm ba túm năm với nhau, đốt nốt những điếu thuốc lá thơm chiến lợi phẩm cuối cùng. Các “tham mưu con” phỏng đoán nhiệm vụ mới trong lúc cán bộ đại đội lên tiểu đoàn họp. Sắp đánh nhau thì chắc chắn rồi, vì chuẩn bị súng đạn đầy đủ thế cơ mà, lại còn tăng thêm cả cơ số đạn. Nhưng tại sao lại đi lên hướng bắc, ngược với đường ra tuyến trước mọi khi. Tháo nhớ lại đợt đi mua lợn, rõ ràng đi lên hướng bắc là ra Saravan, vùng giải phóng của ta. Còn nếu đi sang phía tây, hướng tới đường 13 thì mới ra vùng có địch ở Khoong-sê-đôn. Tiểu đội trưởng Nhạn theo dõi địa bàn suốt từ hôm qua cũng xác nhận đơn vị đang đi theo hướng bắc. Chắc có một cái gì đó đặc biệt vì hành quân đợt này có vẻ vội vã và bí mật. Đêm ấy hành quân tiếp, nhưng nhiệm vụ là gì vẫn chưa được phổ biến.
Ngày nghỉ thứ hai, gần trưa Trung đội trưởng Quân đi họp giao ban đại đội về mới phổ biến cụ thể. Bây giờ mới hiểu tại sao sau trận đánh căn cứ Thái Lan ở ngã ba Lào Ngam, địch không phản ứng gì và Tiểu đoàn 2 có cả tuần nghỉ xả hơi trong cảnh thanh bình ở đó. Trong tuần vừa qua, địch không tiến quân đánh vỗ mặt quân ta ở ngã ba Lào Ngam mà đổ quân nhảy cóc ra Saravan là vùng giải phóng của ta, sau lưng Trung đoàn 9. Con đường 231 chạy từ ngã ba Lào Ngam vòng qua Keng Nhao, Lào Ngam (cũng tên là Lào Ngam nhưng nằm trên đường 231, không phải ngã ba Lào Ngam trên đường 23) rồi giao nhau với đường 23 tại ngã ba bản Bèng là địa danh thuộc tỉnh Saravan. Một trung đoàn địch chiếm giữ Khoong-sê-đôn còn hai trung đoàn nhảy ra Saravan, vùng đất nằm phía bắc đoạn đường 231 từ Lào Ngam đến bản Bèng. Cả thị xã Saravan có dòng sông Sê Đôn uốn lượn bao quanh. Nếu địch vượt được qua sông Sê Đôn ở đoạn nằm về phía đông thị xã Saravan thì chúng sẽ uy hiếp con đường vận tải chiến lược Trường Sơn có tuyến xe chạy gần đó. Vậy là sư đoàn lệnh cho Trung đoàn 9 ra đánh địch ở thị trấn Khoong-sê-đôn, còn Trung đoàn 9 ra đánh địch ở Saravan. Lúc này địch đã đóng quân dã ngoại ở nhiều nơi thuộc Saravan. Có chỗ chúng đóng quân cạnh bản dân nhưng cũng có chỗ chúng đóng giữa rừng. Trinh sát trung đoàn và tiểu đoàn đi bám địch suốt lượt đã có báo cáo về trung đoàn và tiểu đoàn. Saravan là vùng đất bình nguyên, bằng phẳng không có suối sâu và núi. Các bản dân ở rất thưa nhau như trên cao nguyên Boloven nhưng họ làm ruộng cấy lúa một mùa chứ không có nương rẫy. Rừng nối rừng bao quanh các bản và ruộng lúa, tràn ra dọc hai bên sông, nhưng là một dạng rừng đặc biệt khác mọc trên các vùng đất khô cằn. Chủ yếu là cây khộp, một loại cây có dầu lá to và thưa. Cà boong, một loại đuốc thắp sáng của dân Lào dùng loại nhựa cây khộp này. Cây cao, to nhưng thân không thẳng, cành mọc ngang nguềnh ngoàng, không có tán. Trong rừng khộp có rất nhiều ụ mối to cao tới hai mét và đường kính tới ba bốn mét. Đi trong rừng khộp tầm nhìn được rất xa và lúc nào cũng có nắng dội xuống đầu nếu là mùa khô. Nhiều chỗ trong rừng khộp chỉ có thể đào được một cái hố toen hoẻn làm công sự chứ không thể làm được hầm chữ A, phần vì đất rất rắn và hơn nữa không thể tìm đâu ra gỗ để làm nắp. Có lẽ vì thế nên ở vùng bình nguyên Saravan này, các bản làng làm rất thưa ở những chỗ đất tốt có thể làm ruộng, kiểu như các thung lũng ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam.
Địch không đóng quân tập trung cỡ tiểu đoàn mà chia ra thành các đại đội độc lập. Trinh sát chỉ phát hiện vị trí đóng quân của địch như thế chứ chưa biết được sở chỉ huy cỡ trung đoàn của chúng ở đâu. Đặc biệt hơn nữa là chúng không đóng quân cố định mà di chuyển liên tục. Trinh sát phát hiện, quân ta chưa kịp đánh thì chúng đã di chuyển đi nơi khác. Địch không lập phòng tuyến nên rất khó phân biệt ranh giới địch - ta một khi đã xảy ra tác chiến. Bọn địch nhảy cóc ra đây nên không có pháo lớn, hỏa lực bản thân của chúng cũng chỉ có đến cối 106,7 ly là cao nhất, còn lại là ĐKZ và cối 81 ly. Trợ lực cho chúng mạnh nhất là máy bay ném bom T-28 lúc nào cũng sẵn sàng chờ khi máy bay trinh sát L-19 phát hiện ra quân ta. Trong chiến trường Nam Lào, bộ đội ta không có pháo cao xạ nên có thể coi như địch hoàn toàn làm chủ bầu trời.
Sau ba ngày hành quân từ cao nguyên Boloven ra Saravan, bộ đội ta đã chạm địch. Đại đội 5 đã đánh một trận trong điều kiện quân ta không có hầm hố. Mỗi bên tổn thất một ít và địch rút luôn. Hôm sau Đại đội 6 phát hiện địch và nổ súng đánh nhau trong một cánh rừng khộp. Chả bên nào có hầm hố gì, cứ nhằm hướng có tiếng súng đối phương mà bắn. Sau mỗi đợt nổ súng như thế, địch rút thì quân ta cũng rút vì chẳng thể biết phải tiến công theo hướng nào. Sau đấy quân ta lại co về một khu rừng nào đó chia quân ra thành ba cụm vòng tròn, canh gác và cảnh giới cẩn thận. Liền trong hơn tuần như thế, hai bên đánh nhau cứ như đèn cù. Bình nguyên rừng khộp dễ di chuyển qua nên trước mặt, sau lưng và hai bên hướng nào cũng có thể có địch. Trinh sát bám địch vất vả nhất còn bộ binh thì căng ra, lúc nào cũng sẵn sàng tác chiến. Không còn cái gọi là phía trước phía sau nữa nên tiểu đoàn bộ luôn phải bám sát cùng một đại đội bộ binh để cùng chiến đấu. Không có nơi nào ở quá hai ngày nên thông tin hữu tuyến của tiểu đoàn mất tác dụng, chỉ còn liên lạc qua thông tin vô tuyến hoặc liên lạc chạy chân. Công tác hậu cần trở nên rất khó khăn vì cả đạn và gạo cứ vơi dần.
Bây giờ không thể tác chiến theo tiểu đội nữa mà phải theo trung đội. Trung đội trưởng Quân nhận lệnh rồi giao nhiệm vụ trực tiếp cho từng cụm hoặc kéo cả trung đội đi, chẳng phân biệt tiểu đội nào với tiểu đội nào. Có khi đang chốt giữ một hướng, địch vào là nổ súng ầm ầm một lúc cho đến khi địch rút, không cần truy kích. Cây khộp dù to cũng không đủ che chắn thân mình nên quân ta thường hay dựa vào ụ mối. Địch tiến công ta cũng dựa vào ụ mối làm chỗ nấp trong lúc di chuyển. Trong rừng khộp, hỏa lực B-40 và B-41 có tác dụng hơn cả cối cá nhân M79, vì trên mỗi ụ mối thường có nhiều cây lẫn dây leo, không hiếm trường hợp đạn M79 nổ ngay trên lùm cây cao, hắt mảnh xuống ít có tác dụng.
Sáng bây giờ cũng được giao thường xuyên giữ súng B-41. Tháo vẫn phải giữ khẩu B-40 còn lại duy nhất của đại đội. B-40 bắn chỉ được xa nhất 150 mét, tiếng nổ đầu nòng to hơn, Tháo phải căn để bắn ở cự ly gần và phải di chuyển liên tục để tránh địch phản hỏa lực. Mỗi lần đụng địch, Trung đội trưởng Quân thường chú ý bố trí để hai khẩu hỏa lực phối hợp nhau được tốt nhất. Đạn có hạn nên mỗi trận như thế, thường mỗi khẩu cũng chỉ bắn độ hai đến ba trái. Hậu cần tiểu đoàn rất vất vả, không biết họ vận chuyển đạn được bằng cách nào, nhưng cứ ít hôm là đại đội phải cử người đến một vị trí tập kết mới nhận đạn. Đánh bọn Phumi dã ngoại như thế này, mỗi trận chỉ diệt được vài tên, rất hiếm khi lấy được lựu đạn hay đạn M79 của chúng. Buồn nhất là mấy cái ba lô thu được của địch hầu như chả có gì đáng lấy. Chúng nó cũng gặp khó khăn về tiếp tế hậu cần nên cứ đánh loanh quanh một lát rồi rút và biến đi rất nhanh.
Sau chừng một tháng tác chiến, mặc dù vị trí địch, ta vẫn xoay quanh nhau lẫn lộn, nhưng địch cũng bị tổn thất nhiều và chúng đã lui dần về khu trung tâm thị xã, bám quanh khu vực từ sân bay Saravan đến vùng ven bờ tây sông Sê Đôn. Các đại đội của Tiểu đoàn 2 cũng đã có tổn thất. Đại đội 6 mất thêm bảy người trong đó có hai tiểu đội trưởng, cộng với ba người bị thương phải đưa về trạm xá trung đoàn trong cao nguyên Boloven. Các trung đội trưởng phải trực tiếp chỉ huy đến từng chiến sĩ. Số tay súng AK giảm nhưng trung đội nào cũng phải duy trì hai khẩu B-40, B-41 và một khẩu M79. Vẫn phải chuyển vị trí hành quân và bám đánh địch như đèn cù. Một lần Đại đội 5 tổ chức một trận đánh vận động vào một đại đội địch tại một cánh rừng khộp thưa ở khu vực phía tây sân bay Saravan lúc ban chiều đã bị hai chiếc máy bay ném bom T-28 của địch ném chặn bốn quả bom phát quang gây thương vong cho cả một nửa trung đội. Không ghê gớm như ném bom trong cao nguyên Boloven nhưng ở bình nguyên Saravan này không có rừng che chắn và ẩn nấp, dễ gây thiệt hại nên sau đó tiểu đoàn tập trung cho bộ đội đánh địch ban đêm. Có trận đánh được, nhưng có trận khi nổ súng tiến công thì chỉ còn khu đất trống cùng một số công sự, địch đã rút từ lúc chập tối rồi.
Hoạt động của địch bây giờ đã có nhiều điểm mới. Trú quân quanh khu vực các bản Đông Noong, Na Thon, quân ta nhiều đêm thấy trên bầu trời phía sân bay thị xã có những chùm pháo sáng ba quả thả hình tam giác suốt đêm của máy bay C-130. Có vẻ như chúng cảnh giới cho một vị trí đóng quân quan trọng nào đó của bọn dưới đất. Mấy tuần sau, khi chiến sự đã lùi sâu vào khu sân bay, Nhạn cùng anh em trong trung đội đi lùng sục qua một khu đất trống đã phát hiện ra những cái dù hàng bằng vải ca rô xám của địch cuộn tròn vứt lăn lóc bên bờ cỏ. Mỗi cái dù nhấc lên nặng tới cả chục cân. Chả có nhu cầu nên không ai lấy, nhưng Nhạn nói với anh em:
“Hóa ra độ trước chúng mình nhìn thấy máy bay địch thả pháo sáng ban đêm không phải để chúng canh chừng mà là để thả dù hàng tiếp tế cho bọn dưới đất các cậu ạ. Nó sợ thả ban ngày quân ta phát hiện được đánh cho thì lại mất hàng”.
Sáng nghe thế cũng gật đầu tán thưởng ý của tiểu đội trưởng Nhạn:
“Đúng là chúng phải thả dù tiếp tế chứ đánh nhau bao ngày như thế, đạn và gạo đem ra từ trước cũng phải hao mòn chứ. Chúng chỉ có mỗi cách tiếp tế thả dù thôi, tôi nghĩ cảnh này cũng giống như bọn Pháp ở Điện Biên Phủ hồi xưa ấy”.
Về nhà báo cáo lại cho ban chỉ huy đại đội, Chính trị viên Cẩm cũng gật gù:
“Kiểu này thì chả bao lâu nữa chiến dịch này cũng sẽ phải kết thúc thôi. Vừa hao quân, vừa bị thu hẹp địa bàn thì rồi cũng đến lúc chúng không còn chỗ mà thả dù xuống nữa. Cạn kiệt lương thực và đạn dược tất sẽ phải rút chạy hoặc bị đánh cho không còn một mống. Chúng ta cùng cố gắng nhé, sắp bắt được địch rồi”.
Cứ thế mà tán thêm, khí thế bộ đội lên cao lắm. Ai cũng muốn đi nhanh đến trận cuối cùng. Nhưng chiến thắng nào mà không phải trả giá bằng sự hy sinh của bộ đội. Thêm một tháng nữa, Đại đội 6 tham gia đánh hai trận lớn. Trận đánh vào sân bay thị xã, hy sinh và bị thương phải loại ngũ gần hết một trung đội. Nửa chừng có một đợt tân binh Nghệ An vào, Đại đội 6 được bổ sung chín chiến sĩ. Ít ngày sau đánh trận cuối cùng, vây ép bọn tàn quân cùng ban chỉ huy của một trung đoàn địch trong hai ngày, bom giội xuống tơi bời trong cảnh công sự chỉ là hố chiến đấu không nắp, thêm bốn chiến sĩ hy sinh. Những ngày chiến đấu ở Saravan là những ngày liên tục di chuyển tác chiến và mệt mỏi của bộ đội ta để đi đến kết quả cuối cùng là chiếm lại được toàn bộ vùng giải phóng. Rồi nghe tin Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết ngay trước Tết Quý Sửu. Mừng cho nhân dân miền Bắc nước ta được đón một cái tết hòa bình đầu tiên không còn lo máy bay và bom đạn. Mừng cho các đồng đội ở miền Nam không phải đánh nhau nữa.
Bên chiến trường Nam Lào, có lẽ cũng chuẩn bị cho một điều gì đó tương tự mà chỉ có cấp trên rất cao mới biết, hai Trung đoàn 9 và 19 lại dồn quân tập trung đánh mạnh vào các đơn vị quân Thái Lan và Phumi đang đóng giữ trên đường 23 từ Paksoong đến ngã ba Lào Ngam để chiếm lại tất cả những vùng đất đã bị lấn chiếm. Trong mấy tháng trời Trung đoàn 9 ra Saravan đánh địch nhảy cóc, cao nguyên Boloven bị bỏ ngỏ nên mấy tiểu đoàn quân Thái Lan đã lấn ra đến tận thị trấn Paksoong. Chúng dựng căn cứ có cả rào bao quanh, lập cứ điểm trên mấy quả đồi phía đông, còn các đại đội Phumi rải quân đóng dọc hai bên đường 23. Không thể để mất phần đất lớn như vậy, nên bây giờ quân ta phải đánh để lấy lại. Chiến sự ác liệt kéo dài non một tháng trời, quân ta đuổi được địch trở lại vùng đất cũ gần ngã ba Lào Ngam. Ngày 21 tháng 2 năm 1973 có tin Hiệp định Viên Chăn về đình chiến ở Lào được ký kết. Thế là cũng chung cảnh đình chiến như ở miền Nam, không phải đánh nhau nữa. Sau ngày đó, bộ đội ta rút về phần đất của Pathet làm công tác cắm cờ giữ đất rồi xây dựng hậu cứ để đóng quân lâu dài. Vẫn phải giúp bạn chứ cả cái đất Nam Lào có vài đại đội Pathét độc lập chỉ đủ làm công tác dân vận, cự sao được nếu địch trở mặt.
Cả Trung đoàn 9 rút ra làm hậu cứ ở Saravan, dọc theo các khu rừng bên đường 23 kéo dài từ ngã ba bản Bèng đến ngã ba Tha Teng. Ở cánh rừng sâu trong bản Tùm Nho, Đại đội 6 tổ chức chặt tre nứa làm nhà có hầm thùng, không phải đào thêm một chiếc hầm chữ A nào. Qua bốn tháng trời chiến đấu kể từ ngày bắt đầu ra Saravan, Đại đội 6 bây giờ chỉ còn 25 tay súng bộ binh. Hy sinh mất một trung đội trưởng và bốn tiểu đội trưởng. Không còn đủ quân số để biên chế sắp xếp lại như cũ, bây giờ đơn vị sinh hoạt theo từng trung đội. Ba trung đội làm ba lán, mỗi lán đủ cả dãy sạp nằm cho cả trung đội tám hoặc chín người. Tiểu đội cối 60 ly có bốn người, nhóm quản lý, y tá, anh nuôi có bảy người, ban chỉ huy đại đội cùng liên lạc có sáu người, mỗi bộ phận này làm chung một lán. Đại đội còn cho dựng chung một khu bếp cho anh nuôi và làm một hội trường rộng lớn có ghế ngồi cho cả đại đội rất khang trang.
Vài tháng trôi qua, nghe cấp trên phổ biến, ở miền Nam chiến sự đã trở lại, địch mở chiến dịch “Tràn ngập lãnh thổ” nên bộ đội giải phóng phải tiếp tục đánh địch để giành dân giữ đất. Lại có hy sinh và đổ máu, hòa bình tưởng đã nhìn thấy trong tầm ngắm mà hóa ra không phải. Bây giờ xem ra ở Nam Lào tình hình yên ổn hơn. Suốt mấy tháng trời không còn đạn bom và chiến trận. Sinh hoạt của quân ta lúc này có nhiều vẻ giống như thời huấn luyện ngoài Bắc. Được ăn đủ định lượng bảy lạng gạo một ngày và có đủ muối. Thỉnh thoảng được cấp thịt hộp nhưng chủ yếu là cấp trên phát tiền mua lợn trong dân, quân số còn ít nên mỗi lần cấp lợn là hai đại đội chung nhau. Chỉ có món mắm tôm khô đựng trong những cái giỏ đan bằng tre phết xi măng là có vẻ rủng rỉnh. Riêng món rau xanh không có nên vẫn phải tổ chức đi cải thiện, xin dân hoặc kiếm rau rừng, măng rừng. Ổn định hậu cứ được một thời gian, tiểu đoàn còn cho phép các đơn vị tổ chức săn bắn để cải thiện thêm chất đạm. Nhiều nhất là bắn lợn rừng, có những khi bắn được nhiều phải gọi chia cho các đại đội khác và nấu nướng ăn như liên hoan.
Cuộc sống vật chất đầy đủ nhưng không phải là ngồi chơi. Trước tiên là phải xây dựng hậu cứ như doanh trại. Công binh trung đoàn tổ chức lấy nhíp xe ô tô cũ rèn dao tông phát cho các đại đội rất đầy đủ. Rừng là thiên nhiên, chỉ có bộ đội làm chủ nên muốn chặt bao nhiêu gỗ hay tre nứa tùy thích để làm nhà đẹp và chắc chắn. Cánh xuất thân nông thôn đủ ngành đủ nghề trước khi khoác áo nhà binh thi nhau trổ tài để làm nhà. Đủ các kiểu nhà cột gỗ cột tre, vách đan bằng nứa. Mái nhà là đa dạng nhất. Không phải dùng lá trung quân tốn thời gian mà làm mái lợp bằng cỏ tranh hay lá cọ rừng lấy bên các khe suối. Trung đội 6 có chiến sĩ người dân tộc còn trổ tài làm mái nhà bằng những nửa ống bương úp ngược nhau rồi buộc chặt lại trông rất độc đáo và hoành tráng. Đường đi lối lại trong hậu cứ được phát quang, làm rộng, những chỗ dốc làm thành bậc có lát gỗ hẳn hoi. Đêm đêm vẫn phải tổ chức gác theo trung đội dù chỉ có chưa đến chục người. Chả ai nghĩ đến chuyện có địch hay thám báo, nhưng canh gác vốn là một việc có tính nguyên tắc của quân đội, cần phải rèn luyện cho thành một thói quen bản năng. Mỗi người từng chứng kiến sau này nhớ lại, sẽ thấy rằng đếm thời gian những ngày mình không phải gác trong đời quân ngũ dễ hơn là đếm những đêm phải gác.
Suốt thời gian chiến đấu chẳng bao giờ thấy ngồi học chính trị mà chỉ có phổ biến thời sự và động viên của chính trị viên trước mỗi lần ra quân. Những ngày ấy chiến đấu là chính. Không có thời gian để tụ họp đơn vị cả buổi, cũng chẳng có chỗ để ngồi. Trong thời gian chiến trận, kỵ nhất là tập trung đông người vào một nơi với thời gian lâu lâu, bởi như thế mà bất thình lình bị bom tọa độ hay pháo địch bắn vu vơ trúng phải là có nguy cơ cả đơn vị bị xóa sổ. Bây giờ thì vào hội trường ngồi nghe chính trị nửa ngày cũng chả có vấn đề gì. Không những thế còn về từng trung đội tập trung thảo luận và thu hoạch nhận thức, có khi kéo dài tới hai ba ngày, nhất là gặp những ngày mưa dai dẳng. Mà không phải chỉ học có một lần, có khi vài tháng sau lại học. Cái chủ đề của các bài chính trị lúc đầu nghe lạ, nhưng mãi rồi cũng quen và thuộc lòng. Đó là “Ta thắng lớn địch thua to. Miền Bắc được mùa miền Nam thắng lớn”. Nhưng không phải vì thế mà tưởng ta sắp chiến thắng hoàn toàn đến nơi rồi, sắp kết thúc chiến tranh rồi. Cuối bài học chính trị và nghe những tin tức thời sự đầy lạc quan như thế là lời kêu gọi như một khẩu hiệu của chính trị viên: “Đi lâu, đi sâu, đi đến ngày toàn thắng”.
Không phải học chính trị thì ngoài chuyện gùi cõng và làm những công việc sinh hoạt thường ngày, đơn vị tập trung phát thao trường để học tập. Học về sử dụng các loại vũ khí của địch, ta, học về chiến thuật cấp phân đội nhỏ. Thừa thời gian thì đi làm đường. Con đường 23 chạy từ ngã ba bản Bèng về ngã ba Tha Teng chả hiểu đã có khi nào được rải nhựa chưa, nhưng nhìn hiện tại thì chỉ là đường đất pha đá vụn nhiều đoạn lam nham. Đôi chỗ có những phiến đá to lởm chởm cạnh đường có vẻ như ngày xưa chỗ này đã bị bom khiến đá trồi lên, xe tải đi qua đó phải lách rất khéo và rất lâu mới vượt được. Thế là cả tiểu đoàn bỏ ra một tháng tập trung sửa lại cả chục cây số đường. Cuối cùng xong rồi thì lại về hậu cứ quay sang tập xạ kích, tập bắn bài một ngắm bia số 3 và bắn găm bắn gần. Nghĩ lại cũng thấy buồn cười, ngắm bắn bia đạn thật bây giờ thì thằng nào cũng 25 điểm trở lên, điểm xạ loạt nào ra loạt ấy, thế mà cuối năm ngoái đánh nhau ở Saravan, có trận bốn, năm tay súng AK cùng nhắm bắn một thằng địch ở khoảng cách 50 mét mà nó cứ chạy xa dần, xa dần rồi mất hút. Trung đội trưởng Quân bắn tới bốn điểm xạ mới diệt được tên địch nằm cách có hai chục mét.
Không phải đánh trận, không có hy sinh mất mát đe dọa từng ngày thì dù có làm công việc gì vất vả bao nhiêu, hay phải ngồi học chính trị nghe lại nhiều lần mỗi một nội dung thì cũng có thể coi là cuộc sống thần tiên của lính tráng trong chiến trường. Vì cùng là cảnh lính trận với nhau, cùng một chế độ tiêu chuẩn nên từ quan tới lính tình cảm như anh em, rất thân thiết và bình dị. Điều này mới nghe tưởng đơn giản nhưng chính đó lại là nhân tố quan trọng để làm nên sức mạnh của đơn vị, để mỗi người đều có thể sẵn sàng hy sinh vì nhau. Thời gian tập tành không phải đánh nhau này, hậu cần được cấp đủ nên các cán bộ đại đội rất quan tâm tăng cường sức khỏe cho đám lính, tìm cách cải thiện và chế biến thức ăn. Nhất là những hôm được cấp lợn để mổ hay săn bắn được thú rừng là tăng cường người giúp anh nuôi để nấu ăn. Một lần được tiểu đoàn cấp lợn để mổ, Tháo được cử xuống giúp anh nuôi và có dịp trổ tài thịt lợn của mình. Không cần phải đến hai, ba người trói và giữ con lợn để chọc tiết, Tháo chỉ làm một mình. Trói bốn chân con lợn và buộc mõm nó lại, Tháo treo ngược con lợn lên một cái chạc cây, đầu chúc xuống cách đất chừng hai chục phân. Sau khi dội nước rửa sạch con lợn, Tháo dùng lưỡi lê mài sắc vào cổ con lợn rồi đưa xoong hứng tiết. Đầy xoong, chỉ ngoáy thêm dao một đường nữa vào tim con lợn là xong. Đặt con lợn trên cái vỏ bao tải, hai anh nuôi dội nước sôi cho Tháo cạo lông, cứ vèo vèo lia dao đến đâu sạch trơn đến đấy. Tới đoạn nó pha con lợn ra thì cứ như làm xiếc, lòng ruột gan tim lôi ra rồi từng tảng thịt phanh cắt gọn gàng trông rất đẹp và ngon. Ba anh nuôi cùng quản lý Thiết và các anh y tá chỉ đứng xem mà buông lời khen nó. Y tá Cơ còn bảo: “Thằng này sau mà được cử đi học y tá thì bạo tay mổ xẻ tốt phải biết”. Chẳng là ở chiến trường trong những hoàn cảnh đặc biệt, chỉ là y tá thôi mà có lúc phải mổ hay cắt lọc vết thương cho thương binh ngay tại trận chứ không thể chờ đưa về trạm phẫu cho bác sĩ. Còn anh nuôi Châu tổ trưởng nuôi quân thì sau đấy cứ gạ nó, hỏi: “Mày có muốn xuống làm anh nuôi không”. Anh Châu hỏi thế vì trong đơn vị sau một thời gian dài lại có anh nuôi được điều lên làm tiểu đội trưởng. Tháo biết anh nuôi Châu thương mình mà gạ thế, vì làm anh nuôi ít ra phải nơi nguy hiểm hơn, nhưng nó cười bảo:
“Thôi, cứ để em ở lính, em thích đánh nhau hơn. Em sợ cảnh gánh xoong nồi đi công tác lẻ lắm. Sợ cả phải chia cơm lúc tiêu chuẩn ít nữa”.
Ngoài chăm lo vật chất, tiểu đoàn còn tổ chức cho bộ đội xem phim nhiều tối và tổ chức liên hoan văn nghệ giữa các đơn vị trong tiểu đoàn. Cuối cùng là mục động viên anh em viết thư về nhà. Có đến hai năm qua chiến trận liên miên, dù đơn vị có hòm thư mà chẳng mấy ai nhớ vì có viết được thư gửi về nhà đâu. Đơn giản là chả có chế độ quân bưu ở đây, gửi thư ai đem ra Bắc bây giờ. Khả năng hy vọng nhất là gửi thư qua thương binh, nhưng anh nào khỏe lại thì đã phải về đơn vị chiến đấu tiếp, anh nào bị thương nặng hơn đưa về trạm xá trung đoàn chạy chữa rồi chuyển về tuyến sau xa hơn là đi thẳng luôn, không có cơ hội quay lại thăm anh em trước khi ra Bắc. Bởi vậy chả ai nghĩ đến chuyện viết thư về nhà trong suốt cả thời gian dài dằng dặc ấy. Bây giờ cấp trên phổ biến cho viết thư, nhắc lại số hiệu hộp thư của đơn vị và nói sẽ tập trung thư đưa lên tiểu đoàn, trung đoàn, còn đem ra Bắc cách nào không ai biết. Thế là hầu như chiến sĩ trong đơn vị, ai cũng viết gửi về nhà ít nhất là một lá thư. Viết xong rồi thì chờ đợi bởi lúc này tuy không còn chiến trận nhưng vẫn đang là mùa mưa. Đường Trường Sơn 559 dù không còn bị ném bom, nhưng xe chạy chắc cũng còn nhiều khó khăn. Còn quân bưu đeo thư đi đường bộ thì chắc một, hai tháng mới ra đến đất Bắc.
Cuối mùa mưa năm 1973, những cánh thư hậu phương đầu tiên bắt đầu vào đến tay anh em. Thế là bắt đầu có cảnh cả tiểu đội rồi trung đội xem chung thư chia sẻ tình cảm cùng đồng đội. Chuyện quê hương dù có khác tỉnh cũng giúp cho chiến sĩ hiểu thêm tình hình hậu phương. Những ngày chiến tranh là những ngày cả nước dồn cho tiền tuyến, “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” nên tình cảnh hậu phương không quá khác nhau. Đến cả chuyện riêng tư buồn vui, anh em cũng không ngại chia sẻ. Kể cả những thằng có thư tình của người yêu cũng cho đồng đội cùng xem, chia sẻ niềm vui và nghe bạn bè tán có khi là rất bậy bạ mà vẫn cười. Không sao cả, đời lính là vậy, trêu nhau đấy, bôi bác nhau đấy nhưng khi vào trận là hết lòng chia lửa cùng nhau.
Nhạn và Sáng nằm trong số những người của Trung đội 5 nhận được thư nhà đầu tiên. Trung đội trưởng Quân vốn tếu táo với anh em rất thoải mái, nhưng chả quan tâm đến chuyện mình có thư hay không. Anh bảo ở nhà chỉ còn mạ thôi nhưng mù chữ, chị gái thì đã đi lấy chồng. Anh chỉ gửi một lá thư cho ủy ban xã, thông báo anh vẫn khỏe, chiến đấu tốt và nhờ địa phương quan tâm đến mạ anh. Viết thư về kiểu như thế nên anh chẳng cần chờ có thư trả lời. Chính quyền xã anh ra sao, anh chẳng lạ. Anh chỉ quan tâm thăm hỏi thư của anh em trong trung đội để cùng tán chuyện thôi. Bây giờ thấy Nhạn và Sáng sau khi nhận thư bóc ra xem lướt rồi bỏ ra suối đọc riêng, chẳng nói với ai câu nào, anh cũng lạ đoán có chuyện buồn. Trung đội trưởng Quân hiểu bây giờ chưa nên hỏi vội, nếu như có chuyện buồn hay gì đó, tự anh em sẽ có lúc phải giãi bày. Anh hiểu chiến sĩ của mình dù anh không phải cán bộ chính trị. Mấy ông cán bộ chính trị dù sao cũng không thể gần gũi với anh em như cán bộ trung đội, tiểu đội được.
Sáng giữ vẻ mặt lầm lì không nói chuyện với ai, chỉ cắm đầu vào làm được một tuần thì quyết định tâm sự cùng Nhạn vì thấy bạn cũng hay cắn môi rồi thở dài sau khi nhận thư. Sáng đoán chắc Tiểu đội trưởng Nhạn cũng gặp chuyện buồn, không biết có giống như mình không, nên chia sẻ trước. Một buổi trưa Sáng cùng Nhạn ra con suối phía sau lán Trung đội 5, chọn một phiến đá khuất rồi ngồi nói chuyện. Nhạn cầm lá thư của Sáng đưa cho, đọc và thấy thật đau lòng cứ nghèn nghẹn trong cổ. Cha Sáng viết thư báo tin Bừng anh trai của Sáng đã hy sinh trong chiến trường B2, xã gửi giấy báo tử sau khi Sáng lên đường vào Nam được vài tháng. Nhưng tin báo thứ hai còn buồn hơn. Chả biết lấy tin từ đâu, nhưng ủy ban xã thông báo cho gia đình biết, Sáng đã chiêu hồi đầu hàng theo địch. Xã đã cắt khoản trợ cấp đi B mỗi tháng mười đồng của mình từ mười tháng nay và đưa gia đình vào diện “lưu tâm theo dõi”. Danh dự của gia đình Sáng bị xúc phạm, làng xóm coi thường, xì xào nhỏ to, ít ai muốn gặp gỡ và như vậy là em trai Sáng, thằng Lên chẳng còn cơ hội được đi học đại học. Đang từ diện sẽ được quan tâm ưu tiên vì có hai anh trai là bộ đội ở chiến trường, bây giờ thành ra phần tử thuộc gia đình chậm tiến bộ, còn ai duyệt cho đi học đại học nữa. Trả lại lá thư cho Sáng, Nhạn giận sôi lên và bảo:
“Mẹ kiếp, sao hồ đồ thế nhỉ. Lấy đâu ra thông tin bố láo ấy. Bây giờ mày định thế nào?”.
Nhạn cũng thấy tức như chính mình bị thế, nhưng nghiến răng qua đi qua lại một lúc thì thấy bình tĩnh, bảo Sáng:
“Tao cũng tức như mày nhưng là cái lỗi thực hiện chính sách hậu phương của mấy tay cán bộ xã mày. Nhưng cái gì cũng phải có nguồn cơn, không dễ bịa đặt. Bây giờ mày báo cáo đơn vị, yêu cầu gửi thông tin của mày về xã để thanh minh là tốt nhất. Các thủ trưởng trong trung đoàn cũng phải có trách nhiệm thực hiện chính sách hậu phương cho lính mình chứ”.
Nghe Nhạn phân tích, Sáng cũng thấy nguôi ngoai và đem lá thư của mình cho Chính trị viên Cẩm xem, kèm theo lời yêu cầu giải quyết. Thủ trưởng Cẩm xem thư của Sáng, thấy đây cũng là vấn đề bức xúc thật, nên hứa sẽ đem thư của Sáng báo cáo lên tiểu đoàn, trung đoàn để giải quyết. Không giải quyết được khâu này, chuyện riêng của Sáng có khi còn ảnh hưởng đến tư tưởng của những anh em khác. Anh Cẩm còn nghĩ xa hơn, nếu như không phải chỉ có riêng Sáng mà trong trung đoàn biết đâu cũng có chuyện tương tự do sự quan liêu của vài địa phương thì quả là có vấn đề chứ chẳng chơi. Anh cũng khuyên Sáng bình tĩnh, cứ tham gia học tập và công tác như bình thường, nhất định cấp trên sẽ có cách gửi thông tin về minh oan cho Sáng.
Vẫn nghĩ về chuyện của Sáng, một hôm Nhạn bỗng hỏi:
“Hôm trước tao xem thư của mày chưa kỹ, nhưng hôm nay chợt nhớ ra. Sao cha mẹ mày không đem lá thư của mày viết về chìa cho xã xem để họ biết mày đang ở đơn vị chiến đấu chứ đâu có hàng địch?”.
“Ôi giời ơi. Cuối lá thư ấy cha tôi chả viết là đã đem thư của tôi cho xã xem làm bằng chứng nhưng họ bảo không chấp nhận, không tin được à”.
Rồi dần dà, Sáng kể cho Nhạn nghe chuyện của gia đình mình.
Trong kháng chiến chống Pháp, quê Sáng là vùng tề. Địch có bốt canh đóng ngay sát chợ huyện cạnh con đường quốc lộ. Làng Sáng có tên lý trưởng Hạ rất gian ác, dưới tay hắn có cả một tốp lính dõng. Đêm nào hắn cũng tổ chức canh gác hoặc đi phục kích, lùng bắt Việt Minh, gây khó khăn rất nhiều cho ta. Làng cũng có một đội du kích nhưng chủ yếu là hoạt động nửa hợp pháp nửa bí mật, chưa đánh đấm được gì. Ngay cả chuyện trinh sát để bộ đội địa phương vào đánh bốt giặc cũng khó khăn. Lúc ấy ông Phát bố đẻ của Sáng cũng tham gia du kích, cùng tổ có ông Lấp người cùng xóm. Thực hiện kế hoạch của cấp trên phải trừ khử tên lý trưởng Hạ, đội du kích bố trí cho ông Phát gia nhập đội lính dõng của lý trưởng. Ông Phát khỏe mạnh, nhanh nhẹn lại rất chăm chỉ và chịu khó, làm được cả việc công lẫn việc nhà cho tên Hạ nên hắn rất thích và tin cậy. Lính dõng được phát súng nên đây sẽ là cơ hội để Phát có thể diệt được tên Hạ. Một lần tên Hạ đi ăn cỗ ở làng bên, theo thông lệ chỉ đem theo có hai tên lính dõng. Đội du kích ra lệnh cho Phát thừa lúc tên Hạ chủ quan dùng súng trừ khử hắn. Để đảm bảo thành công, đội du kích cử thêm Lấp đem theo thanh mã tấu nấp ở rìa ao cạnh đó giúp sức, đề phòng nếu tên Hạ bị bắn mà chưa chết thì sẽ xông ra dùng mã tấu hạ thủ. Đội du kích lên phương án chặt chẽ nhưng sự việc lại diễn ra không được như mong muốn. Lúc ở nhà ăn cỗ đi ra tới cổng, lừa cơ hội tên Hạ vừa chia tay chủ nhà bước đi một đoạn tới rặng tre, Phát chĩa súng vào nó bóp cò nhưng đạn không nổ. Tên Hạ xanh mắt túm tên lĩnh dõng thứ hai dúi vào người Phát cho cả hai cùng ngã rồi co cẳng chạy. Lấp nấp ngay gần đó thấy nó thu thu cái tay, nghĩ nó có súng ngắn nên nằm im trong bụi, không dám xông ra chém. Tên Hạ cứ thế chạy thoát. Còn Phát giằng co với tên lính dõng một lúc, đẩy nó lăn xuống ao rồi cũng nhắm hướng khác ù té chạy. Sau vụ đó, Phát bị lộ phải trốn đi rồi gia nhập bộ đội địa phương. Lấp về nhà báo cáo là Phát không dám bắn tên Hạ và nó có súng lại chạy hướng khác nên không chém được nó. Lấp không bị lộ nên vẫn hoạt động bán công khai ở làng.
Sau ngày hòa bình, Phát được giải ngũ về quê làm dân cày. Trớ trêu sao Lấp lại đã trở thành cán bộ nòng cốt ở địa phương và sau này được làm trưởng công an xã. Phát vẫn bị cái tiếng ở xã là năm xưa hèn nhát không dám bắn tên lý trưởng Hạ mà phải bỏ trốn bán xới khỏi làng, bây giờ chẳng biết thanh minh cùng ai, đành an phận trở thành xã viên hợp tác xã trong nền sản xuất mới của đất nước. An phận làm ăn, nhưng Phát không ngờ chuyện anh tường trình lại câu chuyện ám sát hụt tên Hạ năm xưa với tổ chức, tuy không được ai đoái hoài tới, nhưng lại bị Lấp để bụng thâm thù. Quá dễ để trả thù, vì là một trưởng công an kiêm phó chủ tịch xã. Ông Phát cũng biết vậy nên sau đó lặng lẽ và cố gắng không va chạm với nhà ông Lấp. Nhà Sáng có ba anh em trai là Bừng, Sáng và Lên, mỗi người cách nhau vài tuổi. Anh Bừng của Sáng học xong lớp bảy là bỏ học về làm ruộng cùng cha. Anh cũng biết cảnh nhà mình “tam nam bất phú” nên muốn gánh vác việc nhà cùng cha mẹ và cố gắng để hai em mình được học hành tử tế vì xem ra Sáng và Lên cũng rất sáng dạ, cả hai cùng có mấy năm được giấy khen của nhà trường. Nhưng chỉ vài năm sau, trong cảnh đất nước có chiến tranh, nhà ba anh em trai thì chỉ hơn 17 tuổi, xã đã có giấy gọi Bừng nhập ngũ. Sau ít tháng huấn luyện ngoài Bắc, đơn vị Bừng được lệnh hành quân vào Nam chiến đấu, ngày đó gọi là đi B. Gia đình ông Phát được cấp một cái bằng “Gia đình vẻ vang” và được nhận khoản trợ cấp mỗi tháng 10 đồng tiêu chuẩn đi B của Bừng. Đơn vị Bừng hành quân vào tít tận chiến trường B2, nghe nói là mạn Tây Ninh. Xa quá nên chỉ sau một, hai lá thư Bừng viết trên đường hành quân Trường Sơn gửi về nhà rồi thôi. Suốt từ đó cho đến ngày Sáng nhập ngũ, không có một lá thư nào của Bừng gửi về. Bây giờ thì biết anh ấy đã hy sinh.
Sáng ở nhà yên ổn học cho đến năm lớp 10. Vì học giỏi thuộc nhóm đứng đầu lớp, lại khỏe mạnh và khá điển trai nên dĩ nhiên được nhiều bạn gái mến mộ. Ở nông thôn người ta dựng vợ gả chồng sớm nên chuyện trai gái mười bảy, mười tám yêu đương là chuyện thường tình. Có điều người ta rất kín đáo và nhẹ nhàng. Trong lớp của Sáng có Nụ là người thôn Đoài nhưng cùng xã, hai người đã học cùng nhau cả ba năm cấp ba. Năm lớp tám và lớp chín thì cả Sáng và Nụ chỉ thi thoảng để ý đến nhau, nhưng đến năm lớp 10 thì có vẻ gần gũi nhau hơn. Thôn Đông của Sáng và thôn Đoài của Nụ cách nhau cánh đồng, nhưng ra khỏi xã đi lên trường cấp ba của huyện thì chung đường liên xã. Ngày nắng thì bụi, ngày mưa thì lội, gặp nhau trong cảnh xắn quần xách guốc xách dép là thường xuyên. Lúc đi ít gặp nhau, nhưng lúc về là có đến mấy đứa cùng chung đường líu ríu chuyện trò. Nông thôn ít nhà có điều kiện cho con theo học đến lớp 10. Ước mơ đại học lại còn coi là chuyện xa vời không phải của mình, nên bạn học cấp ba cùng xã cũng chỉ có vài người. Vui nhất là những ngày học sinh phải đi gặt lúa giúp xã hay làm thủy lợi đào đắp kênh mương theo kế hoạch của nhà trường với địa phương. Con nhà nông, đứa nào lao động cũng giỏi, cũng dẻo. Sáng nổi tiếng trong những đợt làm thủy lợi, đợt nào cũng được đoàn trường biểu dương khen thưởng. Sáng và Nụ có cảm tình với nhau, nhưng vẫn còn dè dặt. Oái oăm là trong cùng lớp có thằng Lánh là con cả của ông Lấp - trưởng công an xã. Thằng này học hành thường thôi, lao động thì mồm miệng đỡ chân tay, nhưng có cái mác con nhà cán bộ có chức có quyền nên cũng khá vênh vang. Lánh cũng thích Nụ và rất cố gắng tìm cách làm quen tán tỉnh. Tụi học sinh cả xã đi học cuốc bộ, chỉ riêng thằng Lánh có cái xe đạp Thống Nhất mới cóng của bố nó cho mượn. Nó lượn đến trường dựng chung cùng mấy đứa nhà ở thị trấn có xe đạp, sang trọng một góc sân trường. Nhiều lần nó rình lúc Nụ đi học không gặp ai, gạ đèo. Nụ không thích thằng Lánh nên thường từ chối, nhưng cũng có đôi lần đi học hơi muộn, thấy nó cứ lẵng nhẵng bám theo đành nể nang mà ngồi ghé đít chênh vênh lên cái gác-ba-ga sau yên xe, nhưng chỉ đến phía ngoài cổng trường là nhảy vội luôn xuống. Những lần ấy, thằng Lánh cười vang rất khoái trá. Nhưng cũng chỉ đôi lần thế thôi, đi học về thấy Sáng bóng gió nói dỗi chuyện ấy thì về sau Nụ cương quyết đi bộ tới tận trường. Đến cuối năm lớp 10 tình cảm giữa Sáng với Nụ gắn bó hơn, hai đứa thường xuyên hẹn rủ nhau đi học cùng thì thằng Lánh hết có cơ hội. Lánh căm tức Sáng lắm, lúc nào cũng muốn tìm cách hại Sáng để chiếm được Nụ. Tất nhiên chuyện này ông Lấp bố nó có biết. Làng quê quanh quẩn sau mấy lũy tre làng bất cứ chuyện gì dù to nhỏ đến đâu cả làng đều biết. Có những chuyện người ta bàn tán xôn xao nhưng cũng có rất nhiều chuyện biết chỉ để mà biết. Trưởng công an kiêm phó chủ tịch xã Lấp biết Nụ là đứa con gái xinh đẹp, đảm đang việc nhà nên cũng muốn nó về làm dâu nhà mình. Ông có ba đứa con, chỉ có Lánh là con trai. Hai đứa con gái rồi sẽ đi lấy chồng làm dâu con nhà khác. Có con dâu như cái Nụ cũng làm thêm vững dòng họ nhà ông. “Con gái là con người ta/ Con dâu mới thật mẹ cha mua về”. Gì chứ cái chuyện cho thằng Sáng đi tong chỉ là chuyện nhỏ trong tầm tay ông. Ông sẽ lo cho tương lai của thằng Lánh con ông sáng ngời ngời thì làm gì con bé Nụ chả phải theo.
Năm ấy đang là thời kỳ chiến tranh phá hoại bằng không quân Mỹ ra miền Bắc, Nhà nước có chính sách bỏ các kỳ thi đại học, thay vào đó là xét điểm tuyển theo học bạ và đặc biệt là xét lý lịch gia đình. Ở nông thôn, ưu tiên nhất của xã là góp đủ thanh niên nhập ngũ theo chỉ tiêu nên cứ phải cho đi bộ đội trước đã. Những trường hợp chính sách khác như con liệt sĩ, con một hay trong nhà đã có nhiều anh trai nhập ngũ rồi thì mới được xem xét.
Sáng biết nhà mình có ba anh em trai, chắc chắn phải có ít nhất hai người nhập ngũ. Anh Bừng đi rồi, giờ tới lượt Sáng vừa đủ tuổi tòng quân, phải nhập ngũ kỳ tới là cái chắc. Chẳng bao giờ có chuyện người ta “tha” cho Sáng đi học đại học rồi chờ thằng Lên lớn đủ tuổi rồi gọi đi. Sáng phải đi bộ đội thì may ra đến lượt em Lên sau này mới có thể được xã cho đi học. Nhưng Sáng thấy tưng tức thế nào ấy, chưa muốn chấp nhận số phận đã hiển hiện trước mắt là chuẩn bị nhập ngũ. Sáng sang nhà Nụ chơi mấy lần và ngỏ lời yêu Nụ, được cô đồng ý. Một tối sang chơi, Sáng kéo Nụ ra một góc vườn đứng sát bên cây bưởi đang nở hoa thơm ngát, cầm tay Nụ và bảo:
“ Đợt gọi quân tới, chắc anh sẽ phải nhập ngũ. Còn em chắc sẽ được xã cho đi học đại học. Yên tâm mà cố gắng học nhé. Sau này hết chiến tranh, nếu anh còn sống, chúng mình sẽ nên vợ nên chồng. Em chờ anh nhé”.
“Vâng, em sẽ chờ anh, nhất định chờ anh. Em sẽ đợi anh về”.
Nụ đáp khẽ rồi bỗng nhiên cuối câu lại đọc đúng giọng câu thơ trong bài thơ “Đợi anh về” của nhà thơ người Nga là Xi-mô-nốp, giọng nhỏ xúc động và nép đầu vào ngực Sáng. Sáng vòng tay ôm chặt Nụ vào lòng. Hai người im lặng để nguyên như thế rất lâu, rồi họ hôn nhau. Những làn mây mỏng nhẹ trôi trên trời cao khiến cho ánh trăng đêm rằm chiếu xuống lúc mờ lúc tỏ trên bờ vai áo hai người. Thời gian bỗng chốc như ngừng trôi.
Nhưng Sáng không nhập ngũ năm ấy. Đang bình thản chờ đến ngày xã gọi đi khám sức khỏe thì một hôm có người bạn anh Bừng tên là Hẳn đến nhà chơi. Anh Hẳn là người xã bên đang làm nghề sơn tràng tự do. Anh đang tìm người để lập tốp cho chuyến lên mạn ngược sắp tới, qua nhà Sáng cũng chỉ là tiện thể để hỏi thăm tin tức của Bừng. Anh nói chuyện với Sáng rất lâu, thấy Sáng khỏe mạnh lại đang có tâm sự ưu tư về chuyện sắp đi bộ đội, liền rủ:
“Anh đang lập tốp để lên mạn ngược khai thác tre gỗ, đang còn thiếu một chân sào. Hay mày nhập vào tốp với anh đi. Thoát ly vài năm làm ăn kiếm một cái vốn kha khá rồi về nhà muốn làm gì thì làm. Chuyện đi bộ đội là chuyện của cả xã hội, nhà cậu có anh Bừng đi rồi. Bây giờ ở nhà để cho mấy lão cán bộ xã o ép làm gì cho thêm bực vào thân. Cứ đi đi, nếu số mày có phải nhập ngũ thì sau này đi cũng được. Chiến tranh còn dài cơ mà”.
Sáng nghe anh Hẳn nói thấy ngang ngang nhưng cũng bùi tai. Anh bảo anh Hẳn hượm cho mấy hôm để xin phép thầy mẹ. Anh Hẳn đặt tay lên vai Sáng rồi nói luôn:
“Cần gì phải mấy hôm. Chuyện cần làm phải làm ngay. Mày đi với anh, coi như vô tình đi làm ăn mà lỡ đợt nhập ngũ, thầy mẹ mày cũng dễ ăn nói. Để lâu nhỡ mai xã nó tống cho cái giấy, mày bỏ đi hóa ra mắc tội chống đối à? Thôi thế này nhé. Tối nay mày xin phép thầy mẹ đi. Được thì trong đêm nay khăn gói sang nhà anh luôn. Giả như sáng mai xã nó có đưa giấy gọi, gia đình cứ bảo họ sang xã bên mà tìm, ngay lúc đó anh em mình phắn luôn”.
Anh Hẳn dúi mảnh giấy ghi địa chỉ nhà mình đưa cho Sáng rồi đi luôn. Tối hôm ấy cơm nước xong, Sáng xin phép thưa chuyện với cha mình. Sáng kể hết những tâm tư suy nghĩ của mình và cả những điều anh Hẳn căn dặn. Trong lúc Sáng nói, ông Phát chỉ ngồi im nhìn như vô định ra xa, thỉnh thoảng lại cầm bát nước vối chiêu một ngụm và bắn điếu thuốc lào. Khi Sáng thưa xong hết mọi chuyện, ông mới nhìn thẳng vào mắt con và bảo:
“Con bây giờ đã lớn rồi. Cuộc đời con phải do con tự lo, thầy không quyết thay con được. Nếu con đã quyết định như vậy thì con cứ đi đi. Với lý do vô tình bỏ nhà đi làm ăn xa như thế trước khi xã gọi nhập ngũ thì không phải là chống đối, không phải là phạm pháp. Cùng lắm xếp vào loại lạc hậu chậm tiến thôi. Thầy mẹ cũng chẳng vì thế mà đắc tội với ai. Còn chuyện có người trù úm nhà ta thì con có thế nào họ cũng vẫn trù úm”.
Nghe vậy, Sáng nắm chặt tay thầy, thầm cảm ơn ông đã hiểu và chấp nhận quyết định của mình. Lúc ấy anh chưa biết một điều ấm ức mà cha anh giữ kín không nói với ai. Ít tháng trước, dù Bừng không có thư về, nhưng ở đơn vị anh có người về tận xã thẩm tra lý lịch gia đình để xét kết nạp Đảng cho anh. Thay mặt ủy ban xã, ông Lấp đã ghi vào phiếu điều tra lý lịch của Bừng là xã không đồng ý cho kết nạp Đảng với lý do có bố đẻ ngày trước đi lính dõng cho thực dân. Ngày trước ở xã, ông Lấp đã rêu rao chuyện này rồi nhưng ông Phát không thanh minh được vì ông đội trưởng du kích thôn, người đã cử ông Phát vào lính dõng để tìm cơ hội diệt tên lý trưởng Hạ cũng đã hy sinh trước ngày hòa bình ở miền Bắc. Còn tại sao lại biết chuyện ông Lấp phê vào phiếu thẩm tra lý lịch của anh Bừng như thế thì ông Phát dứt khoát giữ kín. Ông đồng ý với Sáng xin đi làm ăn ở xa với anh Hẳn vì ông hiểu con ông có ở nhà thì cũng sẽ nhập ngũ đợt tới thôi chứ chả bao giờ xã ký giấy cho đi học đại học, dù Sáng có giỏi cỡ nào đi chăng nữa.
Ngay đêm hôm ấy Sáng khăn gói tìm đến nhà anh Hẳn ở xã bên và nhập vào tốp sơn tràng của anh. Anh Hẳn đã đưa Sáng đi khắp các nẻo rừng sông suối Việt Bắc để khai thác gỗ và tre nứa đem về xuôi bán trong hơn hai năm trời. Nhiều lần về xuôi, anh Hẳn có về nhà và đảo sang thăm gặp riêng ông Phát rất nhanh, gửi cho ông chút tiền của Sáng rồi đi, không kể nhiều và cũng không nghe nhiều. Trở lại báo cho Sáng biết thầy mẹ và cậu em ở nhà vẫn bình thường là đủ. Anh Hẳn dứt khoát không cho Sáng về thăm nhà một lần nào, dù Sáng có lần năn nỉ xin chỉ về bí mật trong một đêm thôi. Không ai ở xã này biết Sáng đi theo anh Hẳn làm ăn và cũng chẳng ai biết anh thì còn giữ kín được. Kiểu sống làng xóm rất “tai vách mạch rừng” nên nếu cho Sáng tạt về qua nhà dù chỉ một đêm cũng không thể giấu mãi được và người chịu thiệt nhất lúc này chính là ông Phát. Anh Hẳn nói với Sáng:
“Mọi chuyện ở nhà mày yên ổn là được rồi. Mãi không thấy mày, bọn ở xã chắc cũng chán chả buồn nhắc. Cứ làm ăn với anh đi, bao giờ chán thì về gửi ít vốn cho cha mẹ rồi ra xã chịu trận. Anh đoán chúng nó cũng chỉ trả thù bằng cách tống ngay mày đi bộ đội thôi, chứ mày là thường dân thì phạt kiểu gì”.
Tạm yên tâm về gia đình, Sáng cứ theo anh Hẳn đi miết như thế, rồi quen sông nước, quen rừng núi và những bản làng người dân tộc. Kinh nghiệm và vốn sống của Sáng vì thế mà dần tích lũy được, tạo cho Sáng có một chút bản lĩnh nào đó. Nhưng Sáng không có ý định bỏ làng cả đời làm nghề sơn tràng hay biệt xứ đi nơi khác. Thằng Lên ở nhà đã học lên cấp ba rồi, không thể để nó gánh cái suất bộ đội thay cho Sáng được. Sáng sẽ phải về nhà để nhận cái trách nhiệm của người anh thứ hai trong gia đình. Vì thế sau chuyến xuôi bè nứa cuối mùa thu năm ấy, Sáng nói với anh Hẳn:
“Em phải về nhà anh Hẳn ạ. Anh đã cưu mang và giúp đỡ em rất nhiều, nhưng em phải trở về, đi lính để cho thằng Lên nhà em được xã cho đi học hoặc thoát ly. Nó đã học lên cấp ba rồi”.
Anh Hẳn biết Sáng cũng đã suy nghĩ kỹ và có chủ đích nên không ngăn cản. Anh tổ chức một bữa liên hoan anh em trong tốp, nằm một đêm tâm sự cùng Sáng trên bè gỗ và hôm sau đưa nó một món tiền rồi chia tay.
Sáng về đến nhà buổi trưa thì ngay chiều cả xóm đã ồn lên. Người ta đến thăm hỏi chuyện theo tình làng nghĩa xóm. Còn ủy ban xã sáng hôm sau đã gọi Sáng lên, thông báo Sáng sẽ chuẩn bị nhập ngũ đợt tới, không được đi đâu khỏi xã nữa. Ông Lấp tỏ thái độ gay gắt ra mặt, nặng lời mắng Sáng bỏ làng đi xa không báo cáo, có ý trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Sáng đã có chủ đích rồi nên lặng im cho ông Lấp nói, chẳng phân bua giải thích gì, coi như chuyện đã xảy ra ai muốn hiểu thế nào cũng được. Sáng đã sẵn sàng lên đường tòng quân đợt tới.
Bây giờ có thời gian rỗi, về nhà Sáng mới hỏi thăm tới những việc khác. Anh Bừng suốt hai năm qua cũng vẫn không có thư về nhà. Thằng Lánh con ông Lấp - phó chủ tịch kiêm trưởng công an xã đã được đi học đại học ở nước ngoài ngay từ mùa hè khi Sáng theo anh Hẳn đi bè. Sau khi Sáng mất tăm ở xã, ông Lấp bực mình nhưng thằng Lánh lại mừng ra mặt. Nó coi đây là cơ hội để ve vãn tán tỉnh Nụ. Nó bóng gió chuyện nếu Nụ yêu nó, có thể xã cũng ký giấy cho Nụ đi học đại học, nhưng Nụ bỏ ngoài tai. Sang nhà Sáng hỏi thăm nhưng ông Phát dứt khoát nói cũng không hay biết Sáng đi đâu nên Nụ vừa hoang mang, vừa khinh ghét thằng Lánh hơn. Nụ có lên xã hỏi xin cho mình đi học đại học nhưng ông Lấp với vẻ mặt khinh khỉnh và nụ cười đểu cáng trả lời xã không được thông báo chỉ tiêu. Hơn nữa bây giờ đang thời chiến, phụ nữ phải ở nhà đảm đang gánh vác cho thanh niên ra trận chứ. Ức mà không làm gì được. Thế là đầu năm sau Nụ xin đi thanh niên xung phong. Tính đến hôm nay cũng gần hai năm rồi. Nghe thầy mẹ của Nụ nói em đã được tuyển vào bộ đội Trường Sơn, chỉ có hòm thư chứ không biết cụ thể ở đâu. Mà cô ấy đi, nửa năm mới có thư về nhà một lần. Có vẻ như ai ra trận cũng hăng hái với nhiệm vụ mà quên đi chuyện những người ở hậu phương lúc nào cũng lo lắng trông mong. Ngay trong một, hai lá thư đơn lẻ gửi về nhà ấy, Nụ cũng không một lần hỏi thăm thầy mẹ mình về tin tức của Sáng. Cô ấy có giận mà quên Sáng rồi chăng?
Từ hôm biết được tất cả mọi chuyện quan trọng ở xã trong thời gian mình đi theo anh Hẳn làm ăn như thế, Sáng chỉ mong chóng đến ngày lên đường vào bộ đội. Nhập ngũ rồi lại mong sớm được vào chiến trường. Sáng hy vọng những ngày hành quân trên Trường Sơn sẽ gặp được Nụ ở một binh trạm nào đó. Không biết người yêu đang làm nhiệm vụ gì, giao liên, công binh hay thông tin. Qua nhiều binh trạm, Sáng cũng đã dò hỏi những anh giao liên dẫn quân khi có dịp, song chẳng có thêm tin tức gì. Buồn một nỗi là chỉ có Sáng biết Nụ đang ở Trường Sơn và mong tìm gặp mà về phía Nụ thì lại chẳng thể nghĩ Sáng đang ở trong một đoàn quân nào đó đi vào để mà trông ngóng. Ngày lại ngày, càng hành quân vào sâu trong phía Nam, Sáng lại càng ít dần cơ may gặp được Nụ, bởi những nữ chiến sĩ Trường Sơn chỉ ở đến binh trạm nào đó thôi, chứ không có ở tít những binh trạm cuối cùng của đường dây 559. Đến khi vào tới đơn vị chiến đấu ở vùng đất Nam Lào này thì những hy vọng mong manh vào một điều kỳ diệu thần tiên nào đó tắt hẳn. Chỉ còn chờ đến ngày chiến thắng, ngày kết thúc chiến tranh nếu còn sống để về gặp được nhau.
Sáng đã kể tất cả những chuyện của mình cho anh Nhạn, rồi cho cả Tháo cả Hoài và mấy anh em trong trung đội cùng nghe. Sáng biết cuối cùng thì cũng không thể nào giữ mãi trong lòng được. Sau cùng thì cả đại đội đều biết. Mọi người đều buồn và thông cảm với Sáng nhưng chả ai biết phải làm gì. Chỉ còn chờ đợi cấp trên về hậu phương làm việc với chính quyền để giải oan cho Sáng thôi.
Đến lượt Sáng hỏi chuyện của Nhạn:
“Anh cũng gặp phải chuyện buồn ở nhà phải không? Từ hôm anh nhận được thư, thấy anh không nói gì nhưng có vẻ buồn. Anh kể chuyện của anh đi, chắc cũng khuây khỏa được như em chăng”.
Nhạn đưa lá thư của mình cho bạn, Sáng mở ra nhìn qua thấy có chỗ bị nhòe. Hóa ra anh Nhạn cũng có lúc xem thư mà khóc riêng một mình ư. Từ ngày vào chiến trường, Sáng chưa bao giờ thấy ai khóc, kể cả những lúc có đồng đội hy sinh hay bản thân cực nhọc và có lúc mệt mỏi đến rã rời. Không ai muốn tỏ ra mình yếu đuối trước mặt đồng đội. Vậy mà bây giờ anh Nhạn khóc, dù chỉ là khóc riêng một mình. Sáng không xem lá thư nữa mà ngước mắt nhìn Nhạn chờ đợi. Nhạn hiểu ý, cầm lại lá thư, chậm rãi gấp lại bỏ vào túi ngực và nói một câu gọn lỏn:
“Vợ tớ bỏ đi theo trai rồi”.
Nhạn gần như là người nhiều tuổi nhất trong Trung đội 5, chỉ kém Trung đội trưởng Quân có một, hai tháng tuổi nhưng tuổi quân thì ít hơn nhiều. Ngày ở nhà Nhạn đã đi công nhân từ rất sớm. Học hết lớp 7 là bỏ học ở nhà cày ruộng rồi sau xin đi làm công nhân lâm nghiệp mãi tận Quảng Ninh. Công việc cực nhọc và vất vả, nhưng ngày đó hễ ai đi công nhân, thoát ly khỏi làng là thích thú lắm, như mình được đến một chân trời mới vậy. Chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ ra miền Bắc khởi đầu ở Quảng Ninh rồi mới lan ra Hải Phòng và các tỉnh Khu Bốn. Tự vệ lâm trường Quảng Ninh được thành lập, được phát súng và tập luyện ngày đêm. Họ vừa khai thác lâm nghiệp vừa trực tiếp tham gia bắn máy bay Mỹ rất nhiều lần. Không chỉ thế, công nhân lâm trường hàng năm vẫn có đợt gọi nhập ngũ. Làm lâm nghiệp được năm năm thì Nhạn có giấy gọi vào bộ đội. Anh được nghỉ phép về quê hơn nửa tháng trước ngày nhập ngũ. Nhà anh đông người nhưng chỉ có anh lớn nhất là trai, còn lại ba cô em gái là Yến, Giang và Mi. Cha mẹ anh hay tin anh sẽ đi bộ đội nên dứt khoát bắt lấy vợ trước ngày nhập ngũ. Nhà có mỗi một con trai, chiến tranh chả biết thế nào, cứ phải có tí gì để lại cho các cụ đã. Phận người thời đất nước có chiến tranh thật nhỏ bé và đơn giản. Đi bộ đội vào Nam chiến đấu xác định nhiều phần là không trở về, các cụ chấp nhận có thể mất con, nhưng phải có đứa cháu để sau này giữ giống. Các cụ đã nhắm sẵn cho rồi, cô ấy tên là Huệ người cùng làng kém anh bốn tuổi. Ngày anh đi công nhân lâm nghiệp, Huệ mới vừa hết tuổi quàng khăn đỏ. Hai người chỉ biết nhau sơ sơ nhưng các cụ bảo cứ lấy nhau đi, về ở với nhau rồi sẽ có tình yêu. Ở nông thôn các nhà biết rõ nhau, cần gì phải mất công tìm hiểu, vẽ chuyện. Nhìn mặt nhau cũng thấy ưng, thế là nên vợ nên chồng. Ở với nhau chưa được tuần lễ, Nhạn ra Quảng Ninh trả phép rồi nhập ngũ theo lâm trường ở đó. Huấn luyện bốn tháng trời xong là có lệnh đi Nam. Đơn vị linh động cho anh về phép ba ngày. Lúc ấy anh biết vợ mình đã có mang được mấy tháng. Chả biết con trai hay con gái nhưng như thế là hạnh phúc lắm rồi. Khối người lấy nhau chỉ ngủ được đúng đêm tân hôn là lên đường ra trận, còn chả biết có được cái gì hay không. Nhạn vào chiến trường thi thoảng cũng cố gửi được một lá thư về, nhưng thư vào thì tuyệt nhiên không, chung cảnh cùng anh em trong đơn vị suốt tháng ngày chiến đấu. Trong trung đội, chỉ có Nhạn là có vợ nên một nửa những chuyện quan tâm của anh em được xoay quanh anh, coi anh như nhà thông thái có thể giải thích được mọi câu hỏi của cánh lính trẻ.
Trừ chuyện chiến đấu là nhiệm vụ chính ra thì trong cuộc sống của những chiến sĩ ở chiến trường có hai điều được quan tâm và được nói đến nhiều nhất. Trước tiên là chuyện ăn. Điều này xuất phát từ việc cái đói luôn là mối đe dọa thường xuyên của chiến sĩ nên cứ hở ra là nghĩ đến ăn cái đã. Mùa khô vận chuyển được thuận lợi nên nghe tin được ăn sáu lạng gạo một ngày là lính tráng đã vui như trẻ con đón tết. Không còn chuyện được ăn bảy lạng như hồi huấn luyện ngoài Bắc nữa nên được thế là nhất rồi. Cuối mùa khô là bắt đầu được nghe thông báo rút ăn xuống còn năm lạng một ngày. Nếu giữ được mức này lâu dài là quá tuyệt, chịu khó cải thiện ca cóng thêm vào nữa là ổn. Nhưng thường thì cái mức năm lạng này không giữ được lâu. Nó cứ chập chờn nhảy xuống mức bốn lạng rồi lại nhảy lên năm lạng. Xấu hơn là có thời kỳ tụt xuống bốn lạng rồi chỉ còn được ba lạng một ngày là đói méo mặt. Khi ấy lúc nào cũng nghĩ đến ăn, nhìn cái gì cũng tưởng tượng ra xem liệu có ăn được không. Chiến sĩ vốn lạc quan tếu nên nhiều khi tự trêu nhau để làm khổ mình. Những đứa từng được ăn cái gì ngon thì nhè lúc bụng rỗng kể ra cho nhau nghe, thế là chảy nước dãi vì thèm cả lũ. Chảy dãi xong thì đói cồn cào. Có thằng còn mơ bây giờ mà có con voi thịt ra làm rồi mỗi người một khúc cỡ gang tay mới đủ. Đau khổ nhất là có tên nào đó kiếm được cái lá cơm nếp thì thôi rồi. Lá cơm nếp giữ mùi rất lâu, ép khô trong quyển sổ cả năm trời mà khi mở ra gặp làn gió nhẹ, cả lán cuồng lên nhớn nhác không hiểu người ta nấu cơm nếp ở đâu. Sau trung đội trưởng phát hiện ra phải bắt đem vứt cái lá ấy xuống suối, chứ “tra tấn dạ dày” anh em thế này thì có thể xếp vào loại “dã man”.
Những ngày dạ dày lưng lửng và rỗi rãi thì chiến sĩ ta thường nhắc đến chủ đề hấp dẫn thứ hai. Đó là chuyện về chị em. Thằng nào có bạn gái, có người yêu thì kể mãi đủ thứ chuyện, đến nỗi anh em trong trung đội thuộc cả tên bạn gái lẫn những đặc điểm hình thể, có đến mấy cái nốt ruồi và nằm ở đâu. Tò mò nhất là hình thù cái của chị em nó ra sao. Ngày ấy những người có bạn gái hoặc sĩ diện mà bịa ra mình có bạn gái, đến đoạn này là tịt vì chẳng biết nó ra làm sao. Thế là túm lấy Tiểu đội trưởng Nhạn, đưa bát cà phê hay bát nước chè đầy rồi quấn hộ điếu thuốc và châm cả lửa giùm để mong được nghe anh ấy tả thực. Chả cứ chiến sĩ mà đến đoạn này Trung đội trưởng Quân dù cố giữ thể diện cũng phải rón rén ghé đít ngồi vào gần để nghe hôi vì mang tiếng là nhiều tuổi nhất nhưng đã biết đến con gái là gì đâu. Tiểu đội trưởng Nhạn biết những lúc ấy mình cao giá nên mỗi hôm “són” ra một tí, lúc kể thế này lúc kể thế khác. Thực ra nếu nói cho cùng anh cũng chỉ gần vợ cả thảy hai lần nghỉ phép được có chục ngày, đã kịp khám phá gì đâu, vợ chồng mới lấy nhau do các cụ sắp đặt, cũng ngượng bỏ mẹ. Thôi thì cứ kể ra một phần, còn lại thì cho tất cả cùng tưởng tượng. Mà trò đời cái gì không thật rõ ràng mà cứ cố tưởng tượng ra thì rất phong phú, mỗi người một kiểu rồi cãi nhau và lại chờ Nhạn làm trọng tài. Thế mới có chuyện một đôi lần đóng quân gần bản, vài cậu liều mạng trốn tránh đơn vị đi rình xem gái bản tắm lúc chiều. Không dám vào gần mà thường chí ít cũng phải cách xa dăm chục mét nên về sau lại tưởng tượng để rồi lúc rỗi lại cãi nhau chí chóe.
Cán bộ chính trị như anh Cẩm sợ nhất những khi đơn vị được đóng gần dân bản. Cứ thỉnh thoảng lên lớp học chính trị lại quán triệt chính sách dân vận và quan hệ quốc tế. Vừa nhắc nhở anh em vừa cầu mong đừng xảy ra chuyện không hay bởi anh biết trong chiến tranh thì chuyện gì cũng có thể, không ai có thể đoán chắc được. Không ít lần anh ra suối tắm cùng anh em đồng đội lúc nắng trưa. Bên suối nước giữa rừng tụt quần áo ra thì tất cả chỉ còn là đàn ông với nhau, trần như nhộng cả lũ. Chả ngượng ngập gì, những chàng trai tồng ngồng vừa tắm vừa nghêu ngao hát bên suối, đôi lúc hứng lên cùng đứng trên những phiến đá to khoe nhau “nòng pháo ngẩng cao”. Những chuyện như có người mới sáng dậy đã vội thay quần đùi đem ra suối giặt vội, hay những vạt cỏ hoặc cành lá đầu lán nhiều lúc thấy kiến vống bu đầy không phải hiếm. Chuyện ấy thường thôi, sinh lý con người làm sao cưỡng lại được. Chỉ mong cánh chiến sĩ khi gặp những tình huống cụ thể phải tự làm chủ được mình và biết điểm dừng.
Sau những lần tán chuyện và phải làm trọng tài bất đắc dĩ với cánh chiến sĩ về sự tưởng tượng như thế, đêm về Nhạn nhớ vợ lắm. Nhớ một phần mà thương đến mấy phần. Thương vợ lấy chồng mà chẳng được ở gần chồng bao nhiêu, chẳng được chồng chăm sóc vuốt ve chiều chuộng. Nhất là đến ngày ở cữ lại phải vượt cạn một mình thì nỗi đơn côi và tủi thân tăng lên gấp bội phần. Người phụ nữ làm vợ bộ đội thời chiến tranh sao mà khổ thế, thiệt thòi cả trăm điều. Thương vợ rồi lại nghĩ đến đứa con mà mình chưa biết mặt. Không hiểu là con trai hay con gái. Nếu là con trai thì thầy mẹ mình rất vui mà vợ mình cũng vui. Đơn giản là vì con trai thường có nhiều nét giống bố, nhìn con thì cũng thấy bóng dáng chồng, đỡ chút tủi thân, bớt nhớ nhung.
Lá thư này là lá đầu tiên Nhạn nhận được từ nhà nhưng không phải của vợ mà là của cô em gái cận kề tên Yến. Nó kể chuyện chung trong gia đình loáng thoáng, nào là mọi người “vưỡn” thế, “vưỡn” khỏe và làm việc bình thường. Miền Bắc hết chiến tranh rồi nhưng vẫn như ngày anh ra đi từ mấy năm trước. Yến dành phần nhiều lá thư để kể về chị dâu Huệ trong nỗi day dứt buồn phiền hộ anh và thương cảm thằng Vọng. Vâng, vợ anh sinh con trai và ông nội đặt tên cho cháu là Vọng, là niềm hy vọng ấy mà. Thư Yến kể, “thằng cu Vọng xinh xắn, khỏe mạnh và ngoan, giống bố như đúc. Cu Vọng đã hơn hai tuổi rồi, đi rất vững, bi bô được đủ thứ dù nói chưa thật sõi. Mọi người trong nhà nhiều khi phải hòa chơi cùng nó mới đoán và hiểu nó đang nói gì vì chủ đề của nó cứ thay đổi bất chợt. Đang nói chuyện này, nghĩ hay nhìn sang cái gì khác là nó chuyển ngay sang líu ríu về cái đó nên nhiều khi mãi lâu sau mới biết điều nó đang nói. Cả nhà quý nó lắm, nhất là ông nội. Nhưng điều đáng kể cho Nhạn biết, phải đắn đo phân vân lắm rồi cuối cùng Yến mới đành phải nói. Cách đây một năm có đội công nhân làm đường về đóng ở xã để làm lại con đường lên tỉnh. Họ hay vào xóm mua thực phẩm về nấu ăn. Trong đội công nhân đó có anh Tình là đội phó. Không hiểu chị Huệ quen được anh ấy khi nào vì họ giấu kín lắm. Mấy tháng trước đội công nhân chuyển đi đã đem theo cả chị Huệ. Cả nhà chẳng ai biết đâu nếu như không có lá thư của chị Huệ để lại cho thầy mẹ. Chị ấy xin lỗi vì bỏ nhà, bỏ làng mà đi theo cái anh Tình ấy. Chị ấy nói gửi lại cu Vọng cho thầy mẹ nuôi đợi khi anh về, xin thầy mẹ cứ coi như chị ấy đã chết. Thầy mẹ giận lắm, chúng em cũng buồn. Còn cu Vọng khóc nhớ mẹ nhiều lắm, hơn tháng sau mới ngoai ngoai. Em và cái Giang cũng lấy chồng rồi, lấy người cùng xã. Chỉ còn cái Mi ở nhà cùng thầy mẹ và cu Vọng thôi”.
Thoạt đầu mới xem thư Yến, Nhạn thấy rất sốc. Anh không đọc ngay một lần hết được lá thư. Có một cái gì đó nghèn nghẹn như bóp chặt tim anh. Hình ảnh cu Vọng và vợ anh cứ đan xen vào nhau cùng cảm giác vừa sung sướng vừa rất đau khổ. Sung sướng vì có đứa con trai giống mình, đau khổ vì vợ anh đã bỏ đi, đứa bé đã không có bàn tay chăm sóc của bố, nay lại mất nốt cả mẹ thì sẽ ra sao. Rồi anh bật khóc không cầm được nước mắt, hàm răng cắn chặt mà cứ lập cập. Phải lâu lắm, Nhạn mới đọc được hết lá thư và rồi tĩnh tâm trở lại. Nhạn thấy em Yến kể chuyện về chị dâu trong thư có sự trách móc rất nhiều, nhưng tuyệt nhiên không có những lời lẽ thô tục hay diếc móc thậm tệ, vẫn gọi chị dâu là chị Huệ. Nhạn hiểu vợ mình đã sống và cư xử rất đúng bổn phận con dâu trong nhà và rất thương yêu cu Vọng. Chuyện quen và rồi bỏ đi theo cái anh Tình nào đó có lẽ diễn ra rất nhanh và không còn đường khác. Rất có thể vợ anh đã có mang với Tình cũng nên và Huệ phải quyết định bỏ làng theo anh ta. Nếu Tình chưa có vợ thì có thể họ sẽ lấy nhau. Lần này chỉ có thư của Yến mà không có thư của thầy, Nhạn hiểu thầy mình rất buồn nhưng cũng không có cách giải quyết nào mà tùy anh định đoạt. Chắc thầy cũng không muốn nói gì nhiều trong hoàn cảnh này sợ làm ảnh hưởng đến tư tưởng của anh, người lính đang cầm súng chiến đấu ở chiến trường.
Cùng ngồi trên một tảng đá có tàn cây lòe xòe bên suối, Sáng im lặng nghe Nhạn giãi bày, thỉnh thoảng mới liếc xéo sang như nhìn trộm mà không dám nhìn thẳng vào mắt Nhạn. Nhưng Sáng cũng nhận ra trong ánh mắt đó đượm vẻ buồn và có một cái gì đó như khinh mạn và bất cần. Sáng nhìn đám lá bị vặt vụn dưới chân Nhạn, hiểu được trong lòng Nhạn lúc này đang có rất nhiều tình cảm giằng xé nhau. Mãi sau, Sáng mới nói:
“Chuyện của anh sao cũng buồn quá vậy. Em cứ nghĩ người nhân ái như anh thì chẳng thể bao giờ phải gặp những chuyện như vậy. Thế anh định sao bây giờ?”.
Nhạn hơi nhếch mép cười:
“Mày bảo còn làm được gì nữa. Tao bây giờ cũng giống mày, muốn về nhà ngay mà không thể được. Ngót ngàn cây số chim bay, mình có cánh đâu mà bay về. Tao chỉ thấy buồn và bất lực. Chuyện của mày còn có thể báo cáo cấp trên nhờ can thiệp, chuyện của tao biết nói với ai, càng san sẻ càng thấy buồn. Nhưng nói thật, lúc này tao chẳng nghĩ gì đến vợ đâu mà chỉ nghĩ đến con thôi. Thương nó quá. Giá có tấm ảnh của nó…”.
Thời gian không chờ đợi ai cả, Sáng và Tiểu đội trưởng Nhạn vẫn đành phải nhét nỗi buồn riêng vào sâu trong lòng để tiếp tục công tác và học tập. Cán bộ đại đội biết chuyện cũng chỉ có mỗi cách an ủi rồi lại động viên để tiếp tục làm nhiệm vụ thôi. Chả thể có cách gì khác lúc này dù có cảm thông và thương chiến sĩ của mình. Chính trị viên Cẩm rất muốn mọi người quên đi, đừng nhắc lại chuyện này sợ các cậu ấy nghĩ quẩn làm liều gì đó, rồi lại sợ ảnh hưởng đến tư tưởng của các chiến sĩ khác trong đại đội. Dù chưa thật rõ ràng nhưng các cán bộ từ đại đội trở lên trong trung đoàn khi đi giao ban hoặc học chính trị đều mờ mờ nhận ra sắp tới sẽ có sự thay đổi nhiệm vụ. Hơn nửa năm trời chỉ học chính trị và tập quân sự, củng cố doanh trại trong khi theo tin tức thời sự thì ở miền Nam nước mình luôn có những trận đánh diễn ra và những đoàn tân binh vẫn liên tục vượt Trường Sơn vào bổ sung cho chiến trường. Làm sao cả mấy trung đoàn cùng nằm chờ nhàn nhã ở đây mãi được.
Trong Trung đội 5 chỉ có Tháo là không nhận được thư nhà. Chẳng buồn chẳng vui, Tháo bảo mình viết một lá thư về để gia đình đỡ mong thôi chứ cũng chẳng mong thư nhà. Tại sao vậy? Cậu ta tỉnh bơ trả lời, xem qua các thư của đồng đội thì cũng biết chuyện của hậu phương rồi, đâu chả thế. Còn chuyện gia đình riêng, có báo tin cũng chỉ để biết, chẳng làm gì được. Nói dại mồm như chuyện của Sáng hay anh Nhạn ấy, biết chỉ buồn thêm chứ có làm được gì đâu. Cái chuyện gì cần phải đến thì nó sẽ đến, vậy thôi. Đúng là đứa ngang, Nhạn nghĩ về Tháo thế, nhưng nếu nó cho là bình thường thì cũng kệ nó chả nên hỏi han làm gì. Nhưng Nhạn cũng như anh em khác biết, Tháo tỏ ra thờ ơ và dửng dưng mọi chuyện vậy thôi, nhưng nếu có gì cần đến nó là nó xắn tay lên lao vào ngay.
Nói là quên đi vì nhiệm vụ, nhưng ngày nghỉ, Sáng và anh Nhạn vẫn hay cùng nhau ra suối tắm. Có khi là kể chuyện vớ vẩn để an ủi nhau, có khi chỉ lặng lẽ tắm xong rồi về, có hôm tiện tay ngắt về một ôm lá và quả bứa cho anh nuôi. Bằng một linh cảm nào đấy, Sáng tin là anh Nhạn vẫn âm thầm nghĩ về vợ con và vẫn muốn chia sẻ tâm sự cùng mình. Có lẽ là chỉ với mình thôi vì trong trung đội cả Sáng và Nhạn đều cảm thấy người kia có cuộc sống nội tâm giống mình, rất sâu sắc. Những nỗi niềm thầm kín tận sâu trong đáy lòng, nếu nói ra được với người hợp ý với mình thì sẽ thấy nhẹ đi rất nhiều. Ngày ấy rồi cũng đến nhưng quả thật là Sáng thấy bất ngờ với những suy nghĩ của Nhạn về vợ khi anh nói ra.
“Cậu biết không, chuyện nhà tớ là chuyện buồn nhưng không hiểu sao tớ không thấy căm ghét vợ mình. Hành động của cô ấy là sai, nhưng suy cho cùng cô ấy không phải là người hoàn toàn có lỗi, mà chính là tớ. Tớ mới là thằng có lỗi. Cậu hiểu người vợ mong gì ở chồng không? Là tất cả cậu ạ. Mọi nhẽ, từ tình cảm yêu thương, chở che, đùm bọc, bảo vệ và giúp đỡ, tất tần tật đều mong nhận từ chồng. Thế mới là hạnh phúc, là cuộc sống. Người con gái là phận mưa sa, ai chẳng mong nhờ chồng. Thế mà lấy nhau vội vã, mang tiếng có chồng có con mà có khi cô ấy cũng chưa thuộc hơi chồng. Tất cả cuộc sống đều chỉ là khắc khoải trong chờ đợi, nhớ mong rồi lặng lẽ chịu dựng và phải làm tất cả, lúc buồn lúc khó khăn chả biết nói được với ai. Tớ làm chồng mà chẳng xứng làm chồng. Cái gì cũng bảo là do chiến tranh, đổ hết cho chiến tranh nhưng tớ nghĩ đó là ngụy biện. Tại sao tớ lại vội vã lấy vợ như thế. Sao không cố mà nhịn, chờ hết chiến tranh về hẵng lấy vợ và đem hết cuộc sống còn lại cho người ta có được không? Bây giờ vợ tớ bỏ đi, tớ không cho là vợ tớ nhẫn tâm bỏ con. Cô ấy gửi lại thằng cu vì nghĩ đơn giản nó thuộc quyền nhà nội. Chắc cô ấy đau đớn lắm nhưng không thể làm khác được thôi. Ngay cả cái thằng cha Tình gì đó, tớ cũng không thể căm thù nó. Bây giờ tớ chỉ còn nghĩ và mong thế này. Nếu tay Tình đó chưa có vợ và vợ tớ có thai với nó rồi, tớ mong họ lấy nhau và sống hạnh phúc. Khi nào có điều kiện thì cô ấy về thăm con để cho nó vẫn có mẹ. Còn nếu vợ tớ quay lại vì một lý do nào đó thì tớ cũng sẽ tha thứ. Khi đó nếu còn sống mà trở về, tớ sẽ chấp nhận tất cả và sẽ sống với vợ cùng con bình thường, kể cả vợ tớ có thêm đứa con riêng”.
Sáng im lặng ngồi nghe, đúng là không mấy ai có thể nghĩ được như thế trong hoàn cảnh của Nhạn. Phải là con người bao dung và giàu lòng nhân ái lắm mới nghĩ được như thế. Sáng nhớ lại nhiều lần tâm sự cùng anh em trong trung đội về những chuyện thường ngày, tiểu đội trưởng Nhạn cũng đã từng nói: “Khi có một chuyện không hay xảy ra, đừng vội tìm cách đổ lỗi cho người khác. Tranh công đổ lỗi là một điều rất đê hèn trong hoàn cảnh chúng mình nay sống mai chết. Hãy cứ bình tâm lại xem xét trước hết có phải lỗi tại mình không đã. Giải quyết cái gì cũng cần phải thấu tình đạt lý”. Bây giờ qua câu chuyện riêng của Nhạn, Sáng càng thêm khâm phục và quý mến anh ấy nhiều hơn. Quả thật là con người ta không thể sống bằng lòng thù hận. Càng thanh thản bao nhiêu thì càng dễ sống và sống tốt được hơn bấy nhiêu. Bây giờ thì Sáng tin chuyện của mình rồi cũng sẽ được giải quyết. Kẻ làm sai chính sách hậu phương rồi cũng sẽ bị vạch mặt và trừng phạt.
Trong khi mọi chuyện buồn tưởng như sẽ được quên đi và lùi vào dĩ vãng thì một chuyện buồn có vẻ ngớ ngẩn khác lại đổ lên đầu Nhạn một tháng sau đó. Đảng ủy cấp trên ra thông báo khai trừ Nhạn ra khỏi Đảng. Lý do, Nhạn đã không trung thực khi khai lý lịch xin vào Đảng. Chính trị viên Cẩm gặp gỡ riêng Nhạn, động viên anh cứ tiếp tục phấn đấu, lần sau viết lại lý lịch cho đúng thì chi bộ Đảng vẫn có thể kết nạp lại cho anh. Nhạn “vâng” rồi về nhưng buồn lắm. Không phải anh cố tình, nhưng lần này là anh có lỗi thật nên đành chấp nhận chứ sao. Nhưng Nhạn vẫn thấy lấn cấn. Anh là một người lính chiến đấu và công tác tốt trong đơn vị từ trước tới nay, chi bộ ghi nhận thành tích thì tuyên truyền rồi vận động giúp đỡ anh vào Đảng. Nay anh bị khai trừ bởi một lỗi không phải là do phấn đấu không tốt, vậy thì bây giờ bảo anh tiếp tục phấn đấu để lại vào Đảng thì phải hiểu như thế nào. Như rất nhiều anh em khác trong đơn vị, Nhạn chiến đấu và công tác tốt trước hết vì anh là chiến sĩ, có trách nhiệm với đất nước, với đồng đội chứ có phải đi chiến đấu để được vào Đảng đâu. Nghĩ vậy nhưng Nhạn không muốn nói với ai suy nghĩ ấy của mình, kể cả với Chính trị viên Cẩm. Bây giờ điều Nhạn còn quan tâm nhất chỉ là về đứa con của anh. Đó mới chính là mục đích và động lực cho cuộc sống của anh hôm nay. Cầm súng chiến đấu và sẵn sàng hy sinh cho đất nước, để đem lại tương lai cho dân tộc, cho nhân dân trong đó có người thân, có thằng cu Vọng của anh. Biết mình đã có đứa con trai, việc anh cầm súng chiến đấu hôm nay đã có thêm ý nghĩa rất sát thực, rất đáng để hy sinh. Vậy là được rồi. Còn có được vào Đảng hay không thì anh vẫn là anh, vẫn là người được đồng đội trong đơn vị quý mến và tin tưởng. Nhạn không nói với ai, nhưng anh thầm nhủ. Làm một người chân chính là đủ rồi.
Ngoảnh đi ngoảnh lại đã hết năm và cái Tết Giáp Dần đang ập đến. Bây giờ thì tất cả mọi người trong đơn vị đã biết là sẽ chuẩn bị chuyển về chiến trường miền Nam chiến đấu. Cấp trên chỉ còn giữ kín chuyện sẽ về chiến trường nào thôi, nhưng điều đó không quan trọng. Về đâu mà chẳng phải chiến đấu. Trung đoàn được bổ sung thêm ba đợt tân binh, bây giờ quân số mỗi đại đội đã tăng lên gấp đôi. Đơn vị được biên chế lại, đầy đủ các cán bộ trung đội và tiểu đội. Nhạn vẫn là tiểu đội trưởng, vì sau cái vụ lý lịch Đảng của anh, tiểu đoàn bỏ ý định đưa anh lên làm trung đội phó. Sáng tuy được đại đội có ý định cho làm tiểu đội trưởng, nhưng cũng lại vì cái vụ thất thiệt ở hậu phương, sợ còn ảnh hưởng tư tưởng nên lại thôi. Còn Tháo thỉnh thoảng phát biểu bất cần đời, tỏ ra tào lao chi khươn nên cũng chẳng ai chú ý. Hoài đã được lên làm tiểu đội trưởng tiểu đội của Sáng. Anh giữ luôn khẩu súng chống tăng B-41 của tiểu đội, để cho Sáng giữ AK.
Súng ống được cấp trên bổ sung đầy đủ, những khẩu AK cũ quá được thay mới. Thêm cả súng trung liên RPĐ nặng trịch có băng đạn tròn 100 viên cho các đại đội bộ binh. Tháo vẫn phải giữ khẩu B-40 duy nhất của đại đội, không có thay mới. Tất cả chiến sĩ cũ trong trung đoàn được phát mỗi người một bộ quân phục mới. Thế là các tiểu đội hùn nhau để tách ra được một, hai bộ còn tốt đem ra bản dân đổi rượu và gà về liên hoan tết, thêm vào cái khoản thịt tươi được tiểu đoàn cấp.
Một cái tết có đủ đồ ăn nhưng hết sức vội vã. Ngày 29 Tết, đang hì hục gói bánh chưng thì báo động chiến đấu di chuyển hậu cứ. Bánh chưng gói dở lại đổ ra nấu vội thành cơm nếp, có tí rau tăng gia cũng vặt trụi hết mang theo, còn thịt thì rang mặn tất. Các đại đội hành quân đến một cánh rừng rộng tập trung ngồi chờ đến chiều tối mới được tiểu đoàn thông báo đấy là báo động thử để kiểm tra tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Quá mệt mỏi và chán chường nhưng đời quân ngũ là thế biết làm sao, nhất là trong chiến trường. Quân lệnh như sơn, đến cán bộ đại đội còn không được biết là báo động thử nên mới ra nông nỗi ấy. Trở lại hậu cứ, anh em lăn ra ngủ như chết, chẳng buồn dọn dẹp gì. Sáng 30 Tết lại có lệnh các đại đội cử người lên tiểu đoàn nhận thịt lợn mới về gói bánh chưng, sẽ trừ vào tiêu chuẩn sau. Lại đổ gạo nếp ra ngâm, lại cử người ra các khe suối cắt lá dong để kịp buổi chiều gói cho mỗi người một cái bánh chưng. Chả lẽ tết truyền thống, không phải bò hàng rào đánh trận như tết năm trước mà lại không gói bánh chưng. Củi rừng không thiếu, thùng phuy thì đại đội nào cũng có, lấy từ trận địa cũ của địch về từ trước, thế là đêm 30 Tết anh nuôi nổi lửa đun bánh chưng, quân số còn lại tập trung văn nghệ cây nhà lá vườn đón giao thừa, có chè thuốc từ Bắc gửi vào, dù chỉ có ít dùng qua đêm nay là hết. Ngày mồng Một Tết được nghỉ, anh em đi loanh quanh khắp hậu cứ ngắm lại cái doanh trại được làm đàng hoàng và đã ở suốt mấy tháng qua để ghi vào ký ức nếu sau này có lúc gặm nhấm lại. Sáng mồng Hai có lệnh chính thức sẽ lên đường. Lần này thì thu gọn sạch sẽ thật, cái gì thuộc quân tư trang thì mang đi, còn lại sắp xếp rất đẹp đẽ và gọn gàng. Có tiểu đội chặt được cành mai rừng trang trí tết, nay cũng buộc lại chắc chắn nơi khung cửa. Trong nhà ngoài sân quét dọn sạch sẽ cứ như ngày mai sẽ quay lại. Biết rằng không phải thế, nhưng trân trọng công sức mình làm nên cùng những ngày tháng gắn bó đã qua mà làm vậy. Có chút lãng mạn trong người, Sáng dành ra cả giờ buổi chiều ngắm nắng vàng rải trên tán cây cao, cố tìm nghe tiếng chim hót. Sáng hình dung, từ ngày mai thôi những chiếc lá vàng sẽ rơi rụng dần dần phủ đầy trên những mái lán, trên sân rồi những con thú không thấy hơi người sẽ lại mò vào đây. Qua một mùa mưa nữa, những căn nhà tre mái gianh này sẽ ẩm mốc dần rồi đổ xuống, rừng già sẽ trở lại cảnh của rừng già. Những dấu vết con người rồi sẽ không còn nữa. Người đời sau đến đây liệu có biết nơi này từng là doanh trại của những người Việt Nam sang làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn Lào hay không. Ờ, mà lúc ấy liệu mình còn sống không. Và hơn nữa, chiến tranh liệu đã đến hồi kết thúc?
Đêm mồng Hai Tết Giáp Dần, nằm trong đội hình của cả Trung đoàn 9, Đại đội 6 của Đại đội trưởng Trần Khâu cùng ngót trăm người lên đường hành quân theo hướng đông. Ở đó đã có cả một trung đoàn xe ô tô vận tải của Binh đoàn Trường Sơn chờ sẵn để chở họ về chiến trường miền Nam.