Hồ Sơ Quyền Lực Younger Pitt

Lượt đọc: 287 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
pitt mất dần quyền lực

NHỮNG NGHI NGỜ VỀ KHẢ NĂNG CỦA MỘT CON NGƯỜI LÀM TẤT CẢ NHỮNG GÌ MÌNH MUỐN

Từ đầu năm 1798 đến giữa năm 1800, Pitt đứng trên đỉnh cao của quyền lực và uy tín. Ông dường như được toại nguyện khi North mất chức vào năm 1782 “và phô bày trước con mắt thế giới những gì ông đọc với niềm say mê, nhưng thật ra là rất thất vọng khi thấy một ông vua yêu nước nắm quyền điều hành một dân tộc đoàn kết hòa hợp”. Ông đã thuyết phục Vua Anh đi tiên phong trong hoạt động đóng tiền quyên góp yêu nước để cổ vũ toàn dân tự giác làm theo. Trước họa xâm lăng, người dân tập trung tham gia trung đoàn dân quân tự nguyện. Các đội dân quân còn xung phong đến Ireland để trấn áp cuộc nổi dậy nổ ra vào năm 1798. Năm 1799, hàng nghìn dân quân luôn sẵn sàng tham gia lực lượng chính quy để chuẩn bị cho cuộc xâm chiếm Hà Lan. Cuộc nổi dậy ở Ireland mặc dù được cảnh báo trong nước nhưng không lan rộng như nhiều người từng lo lắng nên nhanh chóng được trấn áp. Số ít các nghị sĩ đối lập còn lại hầu hết là vắng mặt trong các phiên họp Nghị viện nên Pitt dễ dàng thành công trong việc thông qua các biện pháp nhạy cảm liên quan đến thuế thu nhập vào năm 1799 và thống nhất Ireland vào năm 1800. Tất cả những gì Pitt cần để nâng cao uy tín của mình hơn những người tiềm nhiệm đó là chiến thắng trong cuộc chiến lại tái diễn vào tháng 3/1799. Tuy nhiên, một lần nữa chiến thắng lại tuột khỏi tay Pitt. Thay vào đó, vị trí đầy quyền lực của Pitt dần bị mất mà không gì có thể bù đắp nổi.

Không giành được chiến thắng quyết định để bảo vệ mình, Pitt phải đối mặt với âm mưu của các cá nhân câu kết với tập thể nhằm lật đổ ông vào tháng 2/1801. Sau nhiều năm nắm quyền lực trong tay, cả Pitt và các đồng sự đều mất hết lạc quan khi đối mặt với những áp lực liên tục từ công việc. Đặc biệt, Pitt còn bị căng thẳng bởi sự cô đơn trong chính quyền lực của ông. Trong năm 1796, Pitt có cảm tình với cô gái Eleanor Eden, 20 tuổi, là con gái của nghị sĩ Auckland. Nhưng đầu năm 1797, ông phản đối những ý kiến đề cập đến vấn đề cưới xin, điều đó chứng tỏ có những trở ngại lớn không thể vượt qua trong đời sống cá nhân của ông. Tất nhiên, tình hình tài chính tồi tệ của Pitt đã ngăn cản ông tiến tới ổn định gia đình. Mặt khác, ông đã bị cuốn sâu vào công việc. Sau này ông đã nói với cô cháu gái Hester Stanhope rằng không ai đi lấy một người đàn ông không có thời gian dành cho vợ mình.

Mặc dù đã thề là sẽ sống độc thân, song ông nhận thấy những người bạn độc thân của mình, đặc biệt là hai người đã cùng đi nghỉ với ông ở Pháp, ngày càng rời xa ông. Những nhận thức về tôn giáo của Wilberforce khiến ông ta phản đối việc cuộc chiến tiếp diễn vào năm 1795 và chuyên tâm theo đuổi phong trào chống chế độ buôn bán nô lệ. Tình bạn sau này giữa Pitt và Wilberforce được phục hồi song không bao giờ lấy lại được sự thân thiện như đầu những năm 1780.

Pitt càng thấy sốc hơn trước cái chết của Edward Eliot vào năm 1797. Eliot là người bạn lâu năm nhất của Pitt ở Cambridge và là người khiêm tốn, trung thành mà Pitt yêu mến. Trước khi Eliot cưới người chị gái yêu quý của Pitt là Harriot, Pitt ban cho ông ta chức nhân viên thu nợ ở Bộ Tài chính (một chức vụ “ngồi mát ăn bát vàng“, với mức lương 1.400 bảng mỗi năm). Ông cho rằng “đây là một sự lạm dụng quyền hành, dù không công bằng nhưng cũng hợp lý“. Họ đã chuyển đến sống với Pitt. Sau khi Harriot mất năm 1786, Eliot tiếp tục sống với Thủ tướng tại phố Downing “như anh em ruột”. Hai người cũng ở cùng nhau tại các dinh thự ở ngoại ô, như biệt thự của Eliot ở Battersea Rise ở Clapham, hay ở Holwood và Walmer. Trong khi Wilberforce đang thăm Pitt tại Walmer vào tháng 10/1792 thì Eliot đến và ông nhận thấy “Pitt thể hiện rõ tình cảm trên nét mặt khi Eliot đi đến gần. Tôi đã lén đi ngủ lúc 11 giờ và ra về vào sáng thứ bảy khi thấy sự có mặt của mình không còn quan trọng. Eliot vẫn sống cùng với Pitt ở phố Downing ngay cả khi hai chàng trai Jenkinson và Canning đến ăn tối cùng họ vào tháng 4/1794, không có bằng chứng nào chứng tỏ tình cảm của họ hoàn toàn là tình ái, tuy nhiên sự gần gũi này lại rất quan trọng đối với Pitt và ông đã tuyệt vọng khi Eliot đột nhiên qua đời vào tháng 9/1797. Rose, người cùng sống với Pitt, đã nói với Wilberforce rằng ông chưa bao giờ nhìn thấy và không bao giờ mong thấy những điều như vậy. Wilborferce đã nói: “Đối với Pitt, Eliot ra đi thật sự là một mất mát”. Sau sự việc đó, ngài Thủ tướng càng trở nên cô đơn.

Quan hệ của Pitt với Grenville cũng chưa bao giờ gần gũi sau khi Grenville lập gia đình năm 1792 và phải dành nhiều thời gian cho vợ tại ngôi nhà mới ở Dropmore. Những nguyên tắc nhàm chán trong việc điều hành một bộ lớn đã khiến Grenville nghĩ đến việc nghỉ hưu. Năm 1794, ông đã nói ý rằng mình muốn nghỉ hưu khi cuộc chiến kết thúc. Dundas cũng cảm thấy mệt mỏi. Năm 1797, ông nói đến chuyện nghỉ hưu và muốn một tước vị quý tộc. Tháng 11/1797 và tiếp tục vào tháng 4/1800, ông xin được từ chức, viện lý do bị mắc chứng mất ngủ và tình trạng sức khỏe không tốt, song Pitt tuyên bố không cho phép. Tệ hơn, năm 1800, Pitt chứng kiến hai đồng sự thân cận nhất, trước những bế tắc của cuộc chiến dai dẳng, đã đả kích lẫn nhau vì mâu thuẫn nghiêm trọng trong nhóm lãnh đạo về chiến lược chiến tranh. Grenville cho rằng sẽ an toàn khi hợp tác với khối đồng minh châu Âu. Còn theo Dundas, an toàn chỉ có được khi đảm bảo lợi ích của Anh ở nước ngoài.

Pitt cố gắng kiềm chế các cuộc cãi cọ này. Tuy nhiên, thất bại của kế hoạch tấn công lớn mang tính chiến lược và sự rút chân của Nga khỏi cuộc chiến đã khiến Pitt, trong năm 1800, rất dao động về mục đích của chiến lược. Ông không thể tự quyết định và cũng không thể phối hợp hỗ trợ chính sách của các đồng sự thân cận đưa ra. Các kế hoạch đưa ra, bàn bạc rồi lại bác bỏ và sáng kiến được các nhà lập kế hoạch chiến tranh ở London thông qua. Trong các bức thư liên tục chuyển tới Grenville vào ngày 1 và 2/6, Pitt chuyển từ kế hoạch này sang kế hoạch khác và lại rút lại khi nhận được thông tin tình báo mới. Kết quả là, mâu thuẫn ngày càng gia tăng. Đến tháng 10, Dundas cho biết trong Nội các có năm ý kiến về chính sách hòa bình và bốn ý kiến về chiến lược. Hơn nữa, không ai điều hành chiến tranh lại dám chắc có thể dựa vào Thủ tướng. Trong tháng 7, cuộc chiến với các cường quốc trung lập ở Baltic bị đe dọa, đặc biệt là một tàu khu trục của Hà Lan đã kháng cự khi đoàn tháp tùng tàu chiến này bị kiểm tra. Grenville đã ổn định lại Nội các. Tuy nhiên, Thứ trưởng của ông là Hammond đã viết thư cho người bạn Canning để cầu khẩn ông ta thuyết phục Pitt không lay chuyển trong việc này. Khi việc ngưng chiến tạm thời với hải quân Pháp đang được đưa ra xem xét, Bộ trưởng Hải quân Nepean nhờ bạn mình là Huskisson kêu gọi thượng cấp của ông ta là Dundas không đi an dưỡng tại Scotland theo kế hoạch bởi vì ở đó, Dundas sẽ không thể tác động đến Thủ tướng vốn đang rất dao động.

Lúc này, Pitt thể hiện rõ là có triệu chứng của căn bệnh căng thẳng. Một số người biết rõ về ông thì cho rằng sức khỏe của ông bị ảnh hưởng trông thấy là vào mùa thu năm 1793, sau thảm họa Dunkirk. Canning nhận thấy Pitt ngày càng căng thẳng vào năm 1795, khi các bữa tiệc thân mật ở phố Downing ngày càng thưa dần. Cũng trong năm 1795, các họa sĩ biếm họa bắt đầu đi sâu khai thác các cuộc nhậu nhẹt thường xuyên của Pitt với Dundas tại Wimbledon. Cũng vào năm này, lần đầu tiên ông đã gọi bác sĩ Walter Farquhar đến khám vì thấy tình hình sức khỏe suy giảm. Farquhar cho rằng thể lực của ông giảm sút như vậy là do làm việc quá sức và yêu cầu ông phải nghỉ ngơi, tránh những công việc vất vả để phục hồi sức khỏe. Còn Pitt nói rằng điều này không thể được. Tháng 2/1797, Tổng Giám mục Canterbury nói rằng “giọng ông khàn khàn, mặt bị phù và trông không được khỏe”. Tháng 9/1797, cái chết của Eliot cộng với sự đổ vỡ của cuộc đàm phán hòa bình và nhu cầu cần phải có một hệ thống tài chính mới đã khiến Pitt mắc chứng suy nhược có liên quan đến căng thẳng. Ông thổ lộ với Canning: “Lúc này, giữa chúng ta với nhau tôi cảm thấy khỏe hơn và không có gì đáng phàn nàn về tình trạng sức khỏe trầm trọng. Tôi thấy không được khỏe vào những lúc cảm thấy không thoải mái vì nghĩ rằng mình không đủ khả năng làm tất cả những gì mình muốn”.

Có thể tâm trạng căng thẳng khiến ông phát ra những lời lẽ cay đắng như vậy và ông từ chối rút lại những câu nói đó. Đấy cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc đọ súng tay đôi với George Tierney vào tháng 5/1798. Chỉ trong một tuần ông đã bị “ốm nghiêm trọng”, mặc dù sau đó nhanh chóng hồi phục. Ông nói với Pretyman: “Tôi biết hậu quả của việc cố gắng quá sức trong một thời gian dài và tôi cũng biết rằng mình không đủ khả năng làm tất cả những gì mình muốn trong cùng một thời điểm, đó có thể là yếu tố trước tiên làm chậm chễ tiến trình của tôi”. Tháng 10, Pitt bị ốm lại và hồi phục sau ba tuần nghỉ tại nhà của Addington ở Woodley, sau đó Grenville đã viết thư cho bạn của họ, Mornington, rằng “Pitt đã phục hồi sau trận ốm nặng, tuy nhiên thể trạng của ông ấy bị ảnh hưởng rõ ràng là do lao lực; tôi cảm thấy hy vọng Pitt lại có được sức khỏe cường tráng và năng động như trước đây là điều hão huyền”.

Mặc dù đứng trên đỉnh cao quyền lực, cứ vào mỗi dịp thu kể từ năm 1797, trừ năm 1799 có triển vọng hơn, “những lo lắng có căn nguyên từ những công việc chung” cộng với công việc của Nghị viện ngày càng chồng chất sau mỗi kỳ họp mới đã khiến sức khỏe của Pitt thường xuyên bị suy sụp. Mùa thu năm 1800 là thời điểm sức khỏe của ông xuống cấp nhất và ông lại phải điều trị tại nhà của Addington. Đây là hậu quả của một số thói quen xấu của Pitt, như uống rượu, hay việc ông thường để những công việc không ưa thích “nước đến chân mới nhảy” để rồi lại ngủ dậy muộn. Ông thường “ngồi rất khuya và không bao giờ đứng dậy trước 11 giờ, sau đó cưỡi ngựa trong công viên”. Dundas nói: “Ông lười nhác không kém gì Charles Fox. Ông ngủ 8-12 tiếng mỗi ngày. Ông không bao giờ bắt đầu công việc trước 12 giờ hoặc 1 giờ. Trong công việc, ông không đi vào chi tiết, người khác làm những phần đó và ông chỉ lấy kết quả”.

Năm 1800, tại Westminster, người ta thấy gương mặt Pitt rất rệu rã và bủng beo do thiếu sinh khí, đồng thời Pitt bắt đầu mắc phải nhiều sai lầm. George Rose đã vội vã đưa ra dự luật sửa chữa những thiếu sót về thuế thu nhập của Pitt, nó đã được thừa nhận là sai vào tháng 4 do bản phác thảo sai sót, cá nhân Pitt đã đứng ra chịu trách nhiệm song nó chỉ được thông qua vào tháng 5 khi không còn tác dụng. Tháng 6, Pitt khuyến khích Hawkesbury đưa ra dự luật tăng cường cạnh tranh trong kinh doanh bột bằng việc ban đặc quyền cho Công ty Bột mỳ London, song việc vắng mặt trong buổi họp mặt giữa các viên chức cao cấp của ông với phe đối lập đã dẫn tới dự luật không thành. Tháng 11/1800, Nội các quên không ra thời hạn mới đối với Điều luật Tụ tập gây kích động trước khi nó hết hiệu lực.

Sự vui vẻ lạc quan của Pitt phụ thuộc vào tình hình cuộc chiến. Tháng 9/1799, Grenville vui mừng viết: “Sức khỏe và tinh thần của Pitt đã phục hồi nhờ sự thành công trong mỗi quý”. Mặc dù khi Nga để lại cuộc chiến phía sau, Pitt vẫn hy vọng chiến thắng nhờ vào quân đội Áo và chỉ vỡ mộng khi vào tháng 6/1800 trước sự mở rộng lãnh thổ của Napoleon, tuy nhiên vẫn giành thắng lợi quyết định ở Marengo. Ông có tiền bạc trong tay để mở thêm một chiến dịch Lục địa nữa song đã bị thất bại. George Rose cho biết ngài Thủ tướng đã chịu đựng tin này “với sự can đảm”. Tuy nhiên, một tháng sau đó, sức khỏe của ông lại không được tốt. Bác sĩ Farquhar nhất trí với quan điểm của Rose là bệnh của Pitt là bệnh tư tưởng chứ không phải vì bất cứ lý do gì khác.

Tuy nhiên, Pitt vẫn là một chính trị gia đáng kính nể. Lại một lần nữa, vào mùa thu năm 1800, ông bình phục và thể hiện mình không mất đi khả năng trên chính trường và không hề giảm bớt sự nhạy bén về chiến thuật đối với Nghị viện và dân chúng, những người đã ca ngợi ông là vị Thủ tướng và là nhà lãnh đạo đất nước không ai có thể so sánh được. Ông đã quyết định là người đi đầu trong chiến lược chiến tranh, với đàm phán hòa bình có thể đạt được trong tương lai gần, ông quyết định nâng cao vị trí thương lượng của Anh bằng kế hoạch của Dundas đưa Pháp ra khỏi Ai Cập trước sự phản đối kịch liệt của Grenville và Windham cũng như sự tức giận của Vua Anh. Lần này sự mưu trí và linh hoạt đã được ông sử dụng thay cho “sự cương quyết và chắc chắn” của năm 1797. Nghị sĩ Liverpool nhớ lại:

Cuộc khủng hoảng trong nước lại bùng phát bởi vụ mất mùa nghiêm trọng và bạo loạn về lương thực lại tiếp tục diễn ra ở mức độ mà ông chưa từng gặp phải trước đây. Ngày 8/10, ông tâm sự với Addington rằng vấn đề về hòa bình và chiến tranh chỉ đáng lo ngại bằng một nửa so với nạn đói. “Trước tai họa và sự nguy hiểm ngày càng tăng mà tôi đã trực tiếp chứng kiến, tôi thấy chưa có phương sách đầy đủ nào để giải quyết vấn đề này”. Ông nói “dự đoán này gây ra ức chế”. “Tôi đã ngồi thừ ra lo lắng về sự việc này trong suốt vài tuần qua”. Tuy nhiên, hai ngày sau, Pitt đã sẵn sàng chịu đựng sức ép từ công chúng và triệu tập các thành viên Nghị viện. Sau ba tuần phục hồi sức khỏe tại nhà của Addington ở Berkshire, ông đã sẵn sàng bác bỏ đề nghị thị trường tự do của Portland và Grenville bằng việc để cho Ủy ban Viện Bình dân điều khiển thông qua các biện pháp can thiệp vừa phải. Đây là giải pháp tạm thời để ngăn chặn nạn đói. Tuy nhiên nó vẫn không làm cho giá cả hạ thấp. Do vậy, vài tháng sau đó, ngành công nghiệp lại rơi vào trường hợp tương tự, yêu cầu đòi chấm dứt chiến tranh lan rộng và cuối cùng lại xuất hiện sự phản đối có tổ chức bên ngoài Nghị viện. Bạo loạn đã tạm thời lắng xuống, lòng tin đã được khôi phục đối với giới khá giả ở các địa phương. Họ đã đắn đo tuân theo những lời kêu gọi duy trì pháp luật và mệnh lệnh mà không cần gì từ chương trình cứu trợ nhằm xoa dịu sự bất mãn.

Khi Pitt dường như đã ngự trị cả Nội các và Nghị viện, ảnh hưởng của ông đối với Hoàng gia giảm sút. Đáng ra Pitt cần phải chú ý đến những dấu hiệu dự báo. Sự thành công của ông trước Fox đã khiến Vua Anh bớt lo lắng hơn về Fox và ít phụ thuộc vào Nội các của ông ta. Vua Anh không hạn chế con trai mình là Bá tước Clarence chỉ trích Viện Quý tộc về các biện pháp của Pitt: Dự luật ngăn chặn buôn bán nô lệ ở bờ biển Sierra Leone năm 1799 hay Dự luật ly dị năm 1800. Pitt đã thấy rõ sự ảnh hưởng của việc Triều đình căm ghét trong dự luật thứ nhất, còn nghị sĩ Bathurst phát hiện thấy âm mưu gây phiền toái tạo ra “một kiểu ảnh hưởng của Vua Anh” trong Viện Quý tộc đối với dự luật thứ hai. Mùa hè năm 1800, Vua Anh trở nên ngày càng khó chịu trước sự điều hành chiến tranh của Nội các do Pitt nắm quyền. Ngài đặc biệt không ưa những đề nghị tạm ngưng chiến hải quân để cùng Áo đàm phán hòa bình, và khi chưa có sự tham khảo ý kiến từ trước, Vua Anh được mời đến Nội các để bàn về cuộc tấn công Ferrol vào cuối tháng 7, lúc đầu ngài đã phản đối. Malmesbury sau này mới nhận ra rằng khi Vua Anh triệu tập ông ta và Windham tới Weymouth vào tháng 8, ngài đang cân nhắc bổ nhiệm Windham làm Thủ tướng và Malmesbury làm Bộ trưởng Ngoại giao vì đã từ lâu ngài không hài lòng với Pitt, đặc biệt là với “kiểu quyền thế” của Grenville. Tuy nhiên, thay vào đó, George III chấp nhận phản đối cuộc viễn chinh tới Ai Cập.

VẤN ĐỀ CÔNG GIÁO VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA NỘI CÁC

Đây gần như không phải là thời điểm Pitt đưa ra đề nghị về hiến pháp tiến bộ nhất đối với Vua Anh, như xóa bỏ Đạo luật Thử nghiệm về tôn giáo để thay thế bằng một Đạo luật Thử nghiệm về chính trị nhằm chống lại chủ nghĩa Gia-cô-banh, nhưng đó là những nỗ lực mong muốn đạt được sự ổn định toàn diện về vấn đề Ireland. Đáng lẽ ông đã tìm ra cách giải phóng cho tín đồ Công giáo ở Ireland dưới nhiều mức độ qua một quá trình lâu hơn, song do sự cần thiết của chiến tranh và hòa bình có thể có được sau đó đã khiến Pitt đẩy nhanh tiến trình này, như ông đã giải thích với Vua Anh là:

Tuy nhiên, Đồng minh coi việc hủy bỏ Đạo luật Thử nghiệm là biện pháp dành cho Vương quốc Anh chứ không phải cho Ireland. Khi Nội các thảo luận về vấn đề này vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10/1800, tất cả đều dự đoán được những trở ngại từ phía Vua Anh, Giáo hội và có lẽ là cả pháp luật. Ba yếu tố kết hợp chặt chẽ và Pitt đã nhận ra “Công giáo là một lực lượng lớn ở Anh” và “giá trị mà họ mang lại đối với vấn đề hợp nhất thật to lớn”. Ông cho rằng “đó mới là chỉ đề cập đến khía cạnh nhỏ”. Bộ trưởng phụ trách vấn đề Ireland cho biết “Pitt dường như nghĩ rằng vấn đề Công giáo là cấp bách hơn cả việc Giáo hội La Mã lật đổ giáo phái Tin Lành”.

Trước đây Pitt phản đối việc xóa bỏ Đạo luật Thử nghiệm là vì động cơ cá nhân, đồng thời muốn giành sự ủng hộ của tín đồ Tin Lành. Tuy nhiên, việc làm đó cũng không giúp ông giành được đa số phiếu ủng hộ ở Nghị viện Ireland, Quan đại diện nhà vua đã đề cập tới việc thông qua đạo luật của Nội các nếu điều này là cần thiết để giành được sự ủng hộ của Công giáo. Mặc dù cuối cùng Cornwallis và vị Bộ trưởng Castlereagh đã tìm ra cách giải quyết mà không phải đưa ra lời hứa hẹn chính thức nào, song họ cảm thấy đủ tự tin để yêu cầu Pitt chấp nhận thông qua đạo luật này khi đồng minh được thống nhất. Pitt mong đưa ra vấn đề này trong buổi họp đầu tiên của Nghị viện diễn ra tại Westminster vào đầu năm 1801. Vì trong điều kiện chiến tranh nên đây không phải là thời điểm để thổi phồng vấn đề Ireland.

Để vượt qua làn sóng phản đối mạnh mẽ, Pitt và các đồng sự thân cận nhất đã tập trung thực hiện những biện pháp mà họ hy vọng sẽ giải đáp được tất cả các mối quan tâm. Việc xóa bỏ Đạo luật Thử nghiệm, giảm thuế thập phân là nhằm tích lũy tiền cấp lương cho tín đồ Công giáo Ireland và giới tăng lữ không theo nhà thờ chính thống để có thể kết thúc quá trình hòa giải của những người không theo Giáo hội Anh. Giảm thuế thập phân cũng mang lại lợi ích do những tăng lữ không theo nhà thờ chính thống sẽ phụ thuộc hơn vào nhà nước và chịu sự kiểm soát nhiều hơn của nhà nước, bởi vậy có thể hy vọng xoa dịu những người theo Giáo hội Anh. Giáo hội Anh sẽ được tăng cường bảo vệ bởi một điều khoản trong lời tuyên thệ mới, trong đó bắt buộc giới viên chức phải ủng hộ giới quyền uy trong Giáo hội và Nhà nước, và bởi các biện pháp mới củng cố quyền lực của Tổng Giám mục Giáo hội đối với giới tăng lữ của họ và tăng tiền trợ cấp cho tăng lữ nghèo không có khả năng cư trú trong giáo xứ. Hiểm họa trước đây vẫn thường được nhấn mạnh là từ Công giáo La Mã nay đã chuyển sang chủ nghĩa Gia-cô-banh. Do vậy, một tuyên thệ mới phù hợp cho giới công chức, người thuyết giảng Công giáo và Tin Lành cùng tất cả giáo viên đòi hỏi phải có sự bác bỏ chi tiết trong học thuyết quyền tối cao độc lập của con người.

Vua Anh đã thể hiện sự phản đối sâu sắc đối với việc hủy bỏ Đạo luật Thử nghiệm và bác bỏ đề nghị của Fitzwilliam vào năm 1795 mà ngài cho là “Nội các của các bộ trưởng không thể quyết định được” và đây là điều rất nguy hiểm khi đưa ra điều luật mà không có sự nhất trí từ trước của những người đứng đầu ở mọi cơ quan nhà nước. Năm 1798, Vua Anh cảnh báo không được tăng thêm sự ưu đãi đối với Công giáo và đến năm 1799, ngài tuyên bố sẽ là kẻ thù của đồng minh nếu thấy nó đi kèm theo bất cứ sự thay đổi nào về vấn đề Công giáo. Khi các bộ trưởng có mặt ở London để thảo luận về trở ngại này vào tháng 9/1800, trong lúc Vua Anh không có mặt ở Weymouth, Pitt được “đảm trách việc thuyết phục Vua Anh về vấn đề này khi ngài trở về, đồng thời trong thời gian đó thăm dò ý kiến của người dân trên cả nước và sử dụng mọi biện pháp để giải quyết vấn đề sao cho hợp lý nhất“. Ông đã không làm được điều này. Bệnh tật, sự bất đồng ý kiến về cuộc viễn chinh tới Ai Cập, nạn đói và nạn tranh giành lương thực cộng với sự phản kháng của các nước trung lập Baltic bị kích động bởi Nga trước giới hạn Anh đưa ra về thương mại hàng hải đối với các nước này, tất cả đã làm hỏng ý đồ của Pitt. Cho đến tận tháng 1/1801, khi biết sắp có cuộc họp của Nghị viện liên hiệp, Pitt trở lại tập trung vào vấn đề Công giáo.

Một vài đồng sự của Pitt đổ lỗi cho ông không chuẩn bị đối phó với Vua Anh. Camden cho rằng ông đã nhận ra sự cần thiết phải đảm bảo sự ủng hộ của đại đa số thành viên trong Nội các để khiến Vua Anh đổi ý. Mặc dù vậy, Camden vẫn phê bình Pitt thờ ơ trong quan hệ với Vua Anh, ví dụ như ông thường ở lại London trong sáu tuần mà không đến thăm cung điện hoàng gia Levée. Mặc dù đã có những lời cảnh báo như vậy, vị Thủ tướng vẫn tỏ ra là ảnh hưởng của ông đương nhiên lớn hơn ảnh hưởng của Vua Anh. Thậm chí, ngay trong vấn đề Công giáo Ireland vào năm 1793 và việc Vua Anh phản đối xóa bỏ Đạo luật Thử nghiệm vào năm 1795 cho thấy ông có thể vẫn thay đổi nếu những người đứng đầu các cơ quan nhà nước đều tán thành. Pitt vẫn chưa nhận thấy sự băn khoăn của Vua Anh khi ngài thấy những gì mình làm là trái với lời tuyên thệ trong lễ đăng quang. Xét ở góc độ khác, Pitt đã quen với việc cuối cùng bao giờ Vua Anh cũng chịu thua từ sức ép của các bộ trưởng, từ việc ngài hy sinh các bang nhỏ của Đức vào năm 1796, chấp nhận các cuộc đàm phán với Pháp vào các năm 1796, 1797 và 1800. Năm 1800, Vua Anh đã phản đối gay gắt các vấn đề liên quan đến cuộc viễn chinh tới Ferrol và Ai Cập.

Thắng lợi to lớn mà Pitt giành được cho thấy ông đã được Nội các ủng hộ. Tuy nhiên, trong vấn đề Công giáo, Nội các lại bị chia rẽ. Chủ tịch Viện Quý tộc Loughborough, Liverpool và Westmorland và sau cùng là Portland và Chatham, tất cả đều phản đối. Tháng 1/1801, Pitt đã cố gắng điều khiển khéo léo để đưa đến sự thống nhất chung bằng các chiến thuật mà Windham đã đưa ra trong năm 1799: nhanh chóng tiến hành cuộc bàn thảo không chính thức trong Nội các để tránh bỏ phiếu và tạo ra hoàn cảnh để tổ chức các cuộc thảo luận ngoài lề khiến các phần tử đối lập không có cơ hội đưa ra quan điểm riêng của mình. Pitt tuyên bố tổ chức một cuộc họp vào ngày 11/11 và tiến hành một cuộc họp khác vào ngày 25/11 (các thành viên được triệu tập trong thời hạn một ngày) dẫn tới một tuyên bố trống rỗng với các ý kiến riêng rẽ và vắng bóng phần tử đối lập hoặc những người đang dao động như Liverpool (bị ốm), Chatham (không được Pitt triệu tập vì bị cho rằng trong cuộc đàm luận trước, ông không đưa ra ý kiến nghiêng về hướng nào) và đặc biệt là cả Chủ tịch Viện Quý tộc, người mà các thành viên có mặt trong cuộc họp đều cảm thấy nên được nghe quan điểm của ông. Camden cho biết Pitt đã hứa sẽ gặp mặt Chủ tịch Viện Quý tộc và triệu tập một cuộc họp khác để đưa ra các ý kiến mà không có bình xét, tranh luận về sự ủng hộ hay chống đối. Cuối cùng, Pitt tuyên bố ông sẽ gặp Chủ tịch Viện Quý tộc và triệu tập cuộc họp khác nếu Chủ tịch muốn. Còn nếu Chủ tịch không muốn, có nghĩa là ông đã nhận được sự tán thành của Nội các về vấn đề này.

Trên thực tế, Pitt xem cuộc thăm dò ý kiến không chính thức của Nội các vào ngày 25/11 là cơ hội để Nội các tiến hành các bước cần thiết tiếp theo nhằm giành được sự ủng hộ của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước. Trong bữa ăn tối sau đó, ông ủy quyền cho Bộ trưởng phụ trách vấn đề Ireland là Castlereagh thông báo cho Thủ tướng Ireland Clare biết cuộc thảo luận và quyết định của chính phủ. Có lẽ Pitt đang cố gắng tạo ra động lực để những người đứng đầu các cơ quan nhà nước làm theo quyết định của chính phủ và số còn lại trong Nội các sẽ đổi ý sau khi biên bản chính thức được nhất trí gửi lên Vua Anh mà theo tiền lệ Vua Anh có thể sẽ miễn cưỡng chấp nhận. Ngày 31/1, ông nói với Vua Anh rằng ông đã làm theo các ý kiến chung của đa số thành viên Nội các.

Sau đó, kế hoạch bị ngăn cản khi quyết định này được tiết lộ cho Vua Anh, trước khi Pitt sẵn sàng thực hiện. Hai thành viên Nội các phản đối kế hoạch này là Loughborough và Westmorland bị tình nghi là người tiết lộ kế hoạch và làm tư tưởng của Vua Anh bị nhiễm theo họ. Nếu đúng như vậy, hai người này có thể đã xem đây là cách duy nhất để đánh bại âm mưu của Pitt đối với Nội các. Ngày 28/1, tại cung điện Levée, người không may là Dundas, ông đã phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Hoàng gia (lần này Pitt lại vắng mặt), khi Vua Anh bừng bừng tuyên bố: “Ta nói với ngươi rằng ta coi tất cả những kẻ đưa vấn đề này ra đều là kẻ thù của ta”. Ngài nói thêm: “Ta hy vọng những người bạn của ta sẽ không bỏ mặc ta”.

Cùng ngày hôm đó, Pitt đã triệu tập cuộc họp Nội các khẩn cấp. Sau những chiến thuật mà Pitt đã dùng khi ban đầu Vua Anh phản đối cuộc viễn chinh tới Ferrol trước đó 6 tháng, ông quyết định bình tĩnh đề cập về trường hợp này với Vua Anh và nói với các đồng sự rằng ông sẽ phải ra đi nếu kế hoạch này không thành. Ông và Grenville đảm trách việc phác thảo các ý quan trọng trong kế hoạch và sẽ đưa ra trước Nội các vào ngày hôm sau, sau đó Pitt sẽ trình lên Vua Anh. Một lần nữa Vua Anh đã chặn trước khi ngài kêu gọi Chủ tịch Viện Bình dân Addington dùng ảnh hưởng của mình để thuyết phục Pitt dừng vận động kế hoạch đó. Sáng hôm sau, Addington gặp Pitt với vai trò là trung gian cho Vua Anh. Tình huống đã thay đổi ở mức Nội các chưa bao giờ gặp phải (thực tế Pitt đã hành động mà không cần tham khảo ý kiến của các bộ trưởng). Một lượng thông tin tối thiểu được tiết lộ cho các bộ trưởng - những người đến gặp ông, thêm một chút thông tin nữa được hé mở cho Grenville và có thể là cả Dundas, nhưng nhìn chung, ông đã tự mình quyết định số phận của Nội các.

Khi thấy báo cáo đầu tiên của Addington trình lên Vua Anh có thể hy vọng đạt được kết quả như ý, Windham đã tìm đến gặp Pitt vào ngày 30/1 và thấy tất cả đã thay đổi so với cuộc họp Nội các lần trước, đồng thời ông cảm nhận là Pitt sẽ phải nhượng bộ. Có lẽ Pitt có ý tránh sự vận động của hai bên đối với vấn đề mà ông đã đề cập trong lá thư gửi Vua Anh vào ngày 31/1. Nhưng trước khi bức thư được viết ra, ông đã nhận được thêm thông tin khẳng định mức độ phản đối của Vua Anh, giúp ông củng cố lập trường vững chắc hơn. Có thể đó là tin tức về việc những người xung quanh Vua Anh thường xuyên vận động để Tổng Giám mục Ireland không tiếp tục ủng hộ việc thay thế nghị sĩ Armagh, người phản đối kịch liệt chiến dịch giải phóng cho Công giáo, bằng người có tư tưởng ủng hộ Công giáo.

Trong bức thư gửi Vua Anh ngày 31/1 (điều này Pitt chỉ nói với các đồng sự sau khi bức thư đã được gửi đi), vị Thủ tướng đã giảng giải rất dài về vấn đề giải phóng cho lực lượng Công giáo và đề nghị tránh đưa vấn đề này ra Nghị viện nếu Vua Anh chưa cân nhắc các đề nghị của Pitt, đồng thời ông yêu cầu được từ chức nếu Vua Anh vẫn không tán thành. Trước sự bất ổn tiếp tục diễn ra trong nước và kết quả của cuộc viễn chinh Baltic và Ai Cập chưa rõ ràng, Pitt sẽ không rời cương vị nếu Vua Anh cảm thấy những nỗ lực của ông vẫn có giá trị. Ông mong muốn tiếp tục giữ cương vị cho đến khi những khó khăn chủ yếu của cuộc khủng hoảng trước mắt qua đi hoặc giảm bớt rõ rệt. Ông cũng có thể giữ cương vị lâu hơn nữa nếu cần thiết để ngăn cản sự vận động hoặc bàn luận về vấn đề Công giáo, mặc dù ông có quyền đưa ra nguyên tắc riêng của mình vào thời điểm thích hợp (như từng làm vào năm 1785 đối với vấn đề cải tổ Nghị viện) và có thể yêu cầu Vua Anh không gây ảnh hưởng đến vấn đề này trong thời gian gián đoạn.

Vua Anh tham khảo ý kiến của Addington để đưa ra câu trả lời và nhấn mạnh Addington sẽ lên lãnh đạo chính phủ nếu thỏa thuận với Pitt không đạt được. Vua Anh đưa ra câu trả lời vào ngày 1/2, với nội dung tuyên bố ngài hoàn toàn phản đối việc giải phóng cho Công giáo và đó là quyết định bất di bất dịch. Ngài yêu cầu Pitt không từ chức và nhất trí sẽ tránh đề cập vấn đề Công giáo. Đối với Pitt, tuyên bố cuối cùng này là điều không thể chấp nhận. Ngày 3/2, ông viết thư xin từ chức gửi tới Vua Anh, đồng thời bày tỏ sự ủng hộ việc Addington lên nắm chính quyền.

Nhiều người rất sửng sốt trước việc Pitt đột ngột rút khỏi vị trí của mình sau khoảng thời gian dài đến vậy, nhất là khi ông vẫn đang ở trên đỉnh cao của quyền lực. Ngày 5/1, ông đã thừa nhận với anh trai: “Tôi không thể hình dung được hậu quả của vấn đề này sẽ đến mức nào trong tuần này”. Nhiều lý giải được đưa ra, rằng Pitt muốn từ chức giống các bộ trưởng khác như Dundas, hoặc Pitt muốn thoát khỏi những đồng sự khó tính như Grenville, Spencer hay Windham. Nghị sĩ Malmesbury là người đưa ra lý giải hợp lý hơn cả khi cho rằng Pitt kiếm cớ để từ chức, bởi lẽ ông không thể đưa cuộc chiến đến thắng lợi mà cũng không thể tiến tới thỏa hiệp. Tuy nhiên, ngày 10/1, trong bức thư gửi Canning, Pitt đã thể hiện mong muốn sẽ đạt được thỏa hiệp khi cuộc viễn chinh tới Baltic và Ai Cập thành công. Ngày 31/1, Pitt gửi thư cho Vua Anh xin tiếp tục đảm trách chức vụ của mình cho đến khi cuộc khủng hoảng chấm dứt.

Cả Grenville và Dundas đều nhấn mạnh rằng vấn đề Công giáo mới là lý do chính. Trong khi với họ, đó chủ yếu là vấn đề về nhận thức, danh dự và nguyên tắc, thì Pitt cũng có quan điểm riêng về sự dính líu giữa chính trị và quyền lực trong cuộc khủng hoảng. Pitt không chỉ nhấn mạnh vào sự đối lập về quan điểm với Vua Anh mà còn cả sự tích cực mà ông từng làm đối với vấn đề này… và cả mức độ quá đáng mà Vua Anh đã dùng danh tiếng để áp đặt, thậm chí là thường xuyên không thông qua ông. Sau khi gặp Pitt, Canning đã nói với Malmesbury rằng “nếu không đưa ra quan điểm rõ ràng đối với trường hợp cụ thể này thì Pitt sẽ chỉ duy trì quyền lực trên danh nghĩa, trong khi đó quyền lực thật sự được trao vào tay người có ảnh hưởng từ xa đối với suy nghĩ và quan điểm của Vua Anh”, rằng “Pitt đã nói là sẽ ra đi – đó không phải chỉ đơn giản là cách ông phản đối vấn đề Công giáo mà nó là phong cách của ông từ trước tới nay. Nếu ông tán thành thì ông sẽ làm một bộ trưởng khác hoàn toàn với những gì trước đây ông từng làm trong Nội các”.

Có lẽ chiến thắng sẽ khiến Pitt không thể dừng lại, nhưng cuộc chiến không thành đã khiến ý định này của Pitt bị thất bại. Cuộc khủng hoảng tiếp diễn ngăn cản nỗ lực thúc đẩy đề xuất của ông tới thành công vì ông sợ gây ra bất ổn cho đất nước vào thời điểm nhạy cảm. Castlereagh giải thích với Quan đại diện nhà vua rằng nếu đưa vấn đề này ra vào lúc này sẽ chỉ khiến dân chúng phản đối và chống lại nó, họ sẽ không có cơ hội thành công trong Viện Quý tộc, thậm chí ngay cả khi lưỡng viện thông qua thì Vua Anh sẽ vẫn bác bỏ. Cố tình ép điều này sẽ làm mất đi điều kiện thuận lợi trong việc tạo ra một Vương quốc Anh thống nhất. Đưa vấn đề này ra trước Nghị viện sẽ khuấy động tín đồ Công giáo Ireland. Pitt đã yêu cầu kiềm chế để có thể giành thắng lợi về lâu dài. Tuy nhiên, Pitt cảm thấy mình không thể nhượng bộ các phương pháp đi ngược với quan điểm của mình. Đây là điểm khác biệt so với cuộc đối thoại tương tự trước đây với Vua Anh về vấn đề cải tổ Nghị viện, khi đó không có ai đứng về phía Vua Anh chống lại ông. Hơn nữa, một khi Vua Anh tìm ra người có quan hệ tốt đẹp với ngài thay thế vị trí của Addington thì Pitt không thể mua chuộc được Vua Anh và việc ông dọa từ chức sẽ đến tai Fox. Do ông không thể đánh bại được đối thủ của mình trong triều đình hoặc không dám chiến đấu trong Nghị viện, từ chức dường như là lựa chọn duy nhất.

PITT RỜI KHỎI CƯƠNG VỊ

Trong lá thư cuối cùng kết thúc mối quan hệ thư từ với Pitt, Vua Anh bắt đầu bằng những câu như: “Pitt yêu quý của ta” (đây là lần duy nhất ngài biểu lộ như vậy), “Ta rất tiếc khi ngài kết thúc sự nghiệp chính trị của mình”. Coutts, chủ ngân hàng của Pitt, rất lo lắng trước tình trạng tài chính của ông, đã đề nghị ông nhanh chóng quay trở lại nghề luật sư, nghề có thể mang lại cho ông 3.000 bảng một năm và đảm nhiệm cương vị lãnh đạo Viện Quý tộc trong thời gian vài năm. Pitt sẽ tự đặt tương lai mình ở đâu? Trong khi một số người cho rằng về hưu sau 17 năm đứng đầu chính phủ là rất hợp lý, nhưng chưa ai nằm trong hoàn cảnh này khi ở tuổi 41 và chưa có dấu hiệu thể hiện rằng Pitt coi sự nghiệp chính trị của mình đã chấm hết. Việc sử dụng quyền lực đã ăn vào máu của ông và trong hành động, ông vẫn thể hiện mong muốn trở lại làm Thủ tướng dù sớm hay muộn. Ông vẫn cố gắng bảo đảm là người yêu nước có phẩm chất chính trị khi đề nghị Addington chấp nhận sự lựa chọn của Vua Anh và hứa sẽ ủng hộ ông ta. Ông thuyết phục nhiều người trong Bộ của mình chấp nhận sự điều hành của Addington.

Pitt đã nói với người anh trai rằng đã từ lâu ông coi Chủ tịch Viện Bình dân là người mà Vua Anh sử dụng khi có nhu cầu. Trên thực tế, chính Pitt đã xem xét việc để Addington tạm thời thay thế ông vào năm 1797. Nhưng chưa hẳn ông đã coi người bạn có quan hệ họ hàng và được ông thúc đẩy sự nghiệp chính trị lại là người thay thế ông vào lúc này. Ông đã nghĩ đến điều này vào ngày 24/12 khi nói với Pretyman về ý định cam kết không trở lại vị trí nếu không được phép chính thức đưa ra vấn đề Công giáo. Tuy nhiên, ông đã nhanh chóng thay đổi suy nghĩ khi căn bệnh loạn trí của Vua Anh đột ngột tái phát, việc chuyển giao quyền lực tạm thời phải dừng lại.

Vua Anh đổ lỗi rằng Pitt là nguyên nhân dẫn đến sự tái phát này. Đầu tháng 3, Pitt đảm bảo với Hoàng gia (và đã cho phép George Rose khẳng định trong bài viết một vài tháng sau đó) rằng “trong suốt thời gian Vua Anh trị vì, Pitt sẽ không bao giờ đề cập đến vấn đề Công giáo cho dù có nắm chính phủ hay không”. Câu này có hàm ý rõ ràng là ông sẽ ở lại vị trí hoặc sẽ trở lại sau này. Trước khi trả lại con dấu của chính phủ lần cuối, ông đã bị thất vọng trước những lời thúc giục của Dundas, Camden và một số người khác yêu cầu thông báo cho Addington biết rằng nếu Addington và Vua Anh muốn khôi phục chính phủ cũ, Pitt sẽ sẵn sàng đàm phán. Tuy nhiên, khi Addington thể hiện rõ quyết tâm tiếp tục chính phủ cũ, Pitt nhanh chóng từ bỏ ý định của mình.

Khi Addington bắt đầu yêu thích vị trí mới của mình thì cũng là lúc Pitt thấy mình đã tự giam hãm trong một cuộc chơi phải chờ đợi lâu đến thế nào. Hứa ủng hộ Addington mà lại có ý định trục xuất ông ta là một hành động phản bội. Ông cần sự chấp thuận của cả Vua Anh và Addington để trở lại, ông cũng cảm thấy lý do chính đáng để chờ đợi lúc này là được cả nước kêu gọi ông lên nắm quyền. Tuy nhiên, Pitt phản đối ý định của Canning về việc khuấy động lên lời kêu gọi như vậy. Ông muốn tránh bị mang tiếng “lập mưu giành quyền lực” và nói với phụ tá của mình: “Tôi không ngại thừa nhận rằng mình là người tham vọng, nhưng tôi tham vọng nhân cách chứ không phải chức vụ.” Có lẽ đây cũng là điều phi thực tế khi ông tách rời việc theo đuổi nhân cách ra khỏi sự theo đuổi quyền lực bởi lẽ đối với một chính trị gia không theo đảng phái nào như ông, nhân cách là con đường chắc chắn duy nhất để dẫn tới quyền lực, thậm chí nó còn cần thiết hơn đối với một chính khách đang mong muốn được dân kêu gọi trở lại làm Thủ tướng.

Cái giá phải trả cho sự chờ đợi này là rất đắt bởi lẽ việc ông thờ ơ trước tình hình tài chính cá nhân trong suốt một thời gian dài bây giờ mới gây hậu quả. Bị mất lợi nhuận, uy tín và chức vụ cao cấp, ông nhận thấy các chủ nợ không sẵn lòng chờ ông thêm giờ phút nào nữa. Sau khi từ chức, ông chỉ nhận được khoản tiền 3.000 bảng một năm từ chức vụ Quản lý Cụm cảng Cinque. Nhưng năm 1800, khi George Rose xem xét tài khoản của Pitt, ông thấy nợ nần và hóa đơn chưa trả của Pitt lên tới 46.000 bảng. Vì muốn duy trì sự độc lập về chính trị, Pitt đã từ chối nhận khoản tiền 30.000 bảng mà Vua Anh đề nghị để trả nợ cho ông và cũng không nhận chức thư ký do Addington đề nghị. Tất cả những gì ông chấp nhận là một khoản tiền quyên góp cho vay trị giá 11.700 bảng từ phía bạn bè thân thiết và những người ủng hộ. Ông đã bán quà tặng của các hoàng thân nước ngoài và của các công ty trong thành phố được 4.000 bảng. Ông còn bán cả tài sản thuộc quyền thừa kế nằm trong khoản trợ cấp của mẹ mình (bà mất năm 1803) và chức vị Bá tước mà Nghị viện ban cho Chatham (anh trai Pitt không có con) nhưng vẫn không đủ để trang trải. Cuối cùng, năm 1802, ông lại phải bán đấu giá ngôi nhà Holwook yêu quý với giá 15.000 bảng. Khi ở London, ông sống khổ hạnh trong một căn nhà thuê. Ông không đủ tiền để có thể mời bạn bè đi ăn tối ở London và chỉ tiếp một vài người bạn thân ở Lâu đài Walmer.

Tuy nhiên, cuộc sống của Pitt không hề cô đơn bởi lẽ ông là người luôn được đón tiếp nồng hậu trong vòng tay bè bạn. Năm 1803, ông đã khiến mọi người trong gia đình có những giây phút vui vẻ khi ông đứng ra bảo vệ các cháu trai của Stanhope những lúc chúng trốn người cha nghiêm khắc và cô chị cả mạnh mẽ là Hester. Hester trở thành bạn, người trong nhà và là người chăm sóc ông trong những năm cuối đời. Do thích thay đổi, Pitt đã thuê một khu đất ở gần Walmer vào năm 1802. Tuy nhiên, cuộc sống sau khi rời chức vụ Thủ tướng của Pitt là một cuộc sống nghèo khó, thanh tịnh và do ông tự sắp đặt.

Pitt cũng có những bù đắp ban đầu khi nghỉ hưu. Canning miêu tả Pitt “thật sự dồi dào tinh thần trong giai đoạn nghỉ ngơi mới, ông như một đứa trẻ vừa trở về nhà sau kỳ nghỉ”. Ông làm cố vấn cho Bộ mới trong thời gian ngắn, đặc biệt khi bắt đầu cuộc đàm phán hòa bình với Pháp, ông tích cực vận động mọi người ủng hộ cuộc đàm phán sơ bộ được ký kết tại London vào tháng 10/1801. Nhiều người e rằng tất cả những vùng đất ở nước ngoài mà Anh từng chinh phục được sẽ bị trả lại, trừ Trinidad và Ceylon. Cá nhân Pitt thừa nhận ông rất thích mũi Hảo Vọng, tuy nhiên ông chấp nhận đây là kết quả tốt nhất có thể có được trong hoàn cảnh này, khi hòa bình là cần thiết để khôi phục sự thịnh vượng của đất nước và nguồn tài chính của chính phủ.

Nhưng mỉa mai thay, hòa bình mà nhờ Pitt mới có được lại khiến Addington không phụ thuộc vào ông nữa. Kể từ khi bắt đầu ký kết Hiệp ước Sơ bộ cho đến khi ký Hiệp ước Thân thiện cuối cùng vào tháng 3/1802, hai người chỉ ăn tối với nhau hai lần. Ngày càng ít được tham khảo ý kiến hơn, Pitt trở nên giận dữ và vỡ mộng trước chính sách của người từng được ông bảo hộ. Khi Napoleon không thể hiện dấu hiệu gì cho thấy ông ta đã tạm dừng tham vọng của mình, Pitt đã lên án gay gắt những gì ông coi là sự xử lý yếu kém của Nội các trong việc kết thúc điều kiện hòa bình bằng Hiệp ước Thân thiện. Ông cảm thấy Addington không đủ khả năng bảo vệ danh tiếng của Nội các cũ trước cuộc tấn công của phe đối lập. Cuộc điều tra các vấn đề của Bộ Hải quân do Bá tước St Vincent − Bộ trưởng Hải quân, người có tư tưởng không phụ thuộc Addington − đề xướng lại đưa ra kết luận với ý phê bình cách điều hành của Bộ dưới thời Pitt. Pitt cảm thấy bị xúc phạm khi Addington không thông báo cho ông về việc người bạn cũ của ông là Dundas được đề nghị và chấp nhận một tước vị quý tộc, Huân tước Melville. Ông khó chịu về khoản vay rất lớn mà Addington dùng vào ngân sách thời bình đầu tiên của ông ta. Trận ốm nặng vào mùa thu năm 1802 – một biến cố lớn đáng buồn đầu tiên giáng xuống khiến ông suy sụp − đã giam chân ông ở Walmer. Sau khi hồi phục tại Bath, thành phố phía tây nam nước Anh, Pitt không thể đến dự các buổi họp Nghị viện (vì điều này mà ông bị Times − tờ báo do chính phủ tài trợ − chỉ trích). Tuy nhiên, lúc này ông quyết tâm không bị Nội các kéo vào các cuộc hội đàm bí mật.

Khi quan hệ giữa Anh và Pháp ngày càng trở nên tệ hơn và dẫn tới nguy cơ xảy ra một cuộc chiến mới, Addington và những người ủng hộ ông ta cảm thấy cần phải củng cố Nội các để đối phó với cuộc khủng hoảng mới vào đầu năm 1803. Cuối cùng họ đã cần đến Pitt. Mỗi bên đều xử sự gay gắt. Addington đề nghị cho Pitt một vị trí, thực tế chỉ là chức Bộ trưởng Tài chính bù nhìn; lúc đầu Pitt phản đối, sau đó ông cương quyết chỉ trở lại nếu được làm Bộ trưởng Tài chính kiêm Thủ tướng. Khi Addington và Nội các của ông ta miễn cưỡng chấp nhận yêu cầu này, Pitt lại táo bạo đòi hỏi những đồng sự cũ của ông như Grenville, Spencer và Windham – những người kịch liệt phê phán cách điều hành của Addington và các bộ trưởng của ông ta − và cả Melville trở lại Nội các, Addington chuyển sang làm Bộ trưởng Ngoại giao kiêm một chức vụ mới là Chủ tịch Viện Bình dân, còn một số người khác − trong đó có cả Hobart, bạn của Thủ tướng thì nghỉ hưu. Tất cả những người này phải làm việc theo yêu cầu của Nội các và theo ước nguyện của Vua Anh. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các đồng sự của Addington đều rất chán nản trước sự đầu hàng nhục nhã đó, cuộc đàm phán đổ vỡ.

Ý tưởng trở lại nắm quyền lực của Pitt là tái lập Nội các cũ đã tồn tại trong một thời gian dài thông qua hiệp ước chung. Bằng cách này, ông có thể khôi phục vị trí đầy quyền lực của mình vào cuối những năm 1790, trong khi đó, nếu ông thực hiện được lời hứa về vấn đề giải phóng Công giáo thì sẽ ngăn ngừa được kết cục của năm 1801. Đó là một cái nhìn lạc quan, ông không hề để ý đến sự chia rẽ trong Nội các vào những năm cuối nắm quyền (có lẽ ông có ý định cải tổ các cơ quan chính phủ để tránh sự chia rẽ này). Chiến lược thụ động quay trở lại chính phủ của ông là theo đuổi “nhân cách” của một chính khách yêu nước và có đạo đức đứng trên vấn đề chính trị, trông chờ công chúng kêu gọi trở lại nắm quyền, chính điều đó đã khiến ông bị mất quyền lực. Theo yêu cầu của ông, nhiều người trong chính phủ cũ đã ở lại cùng với Addington và đàm phán hòa bình. Năm vị bộ trưởng là Dundas, Camden, Grenville, Spencer và Windham đã theo ông rời Nội các. Tuy nhiên, trong khi Dundas và Camden trung thành chấp nhận sự giúp đỡ của Pitt trong cuộc đàm phán sơ bộ, ba người còn lại kịch liệt tấn công họ để rồi những người ủng hộ ông trước đây đã chia thành ba phe rõ rệt. Sự rạn nứt ngày càng lớn sau khi Addington thất bại trong việc đàm phán với Pitt vào đầu năm 1803 đã quay trở về phía phe đối lập cũ kêu gọi sự giúp đỡ và lôi kéo đối thủ của Pitt là Tierney vào chính phủ với chức Thủ quỹ cho Hải quân Anh.

Do vậy, Nội các của Addington chứng minh là có khả năng phục hồi nhanh hơn Pitt tưởng. Thậm chí sau khi chiến tranh với Pháp tiếp tục nổ ra vào ngày 18/5/1803, Pitt phải mất thêm một năm nữa mới khiến Addington nhất trí từ bỏ ý định tham gia nắm chính phủ. Trong năm đó, Pitt lung lay hy vọng giành chiến thắng trong việc khôi phục Nội các cũ, khi mà các thành viên của Nội các đã tan rã vì việc tiến hành cuộc chiến. Pitt nỗ lực tìm cách chống đỡ cuộc ẩu đả chính trị bằng cách ủng hộ cuộc chiến với tinh thần yêu nước. Tới dự phiên họp Nghị viện lần đầu trong giai đoạn khủng hoảng kéo dài hơn một năm, ông đã có một bài phát biểu nổi tiếng nhất vào ngày 23/5, như một khán giả đã nói: “Một kết cục rất bất ngờ về sự cần thiết và tầm quan trọng của những nỗ lực trong tương lai của chúng ta”. Tuy nhiên, những hạn chế của Pitt đã bộc lộ rõ khi ông thất bại nặng nề trong việc cố tránh sự chỉ trích của phe đối lập, thậm chí cả một số người ủng hộ ông cũng bỏ phiếu chống lại ông.

Tuy nhiên, Pitt vẫn không nản lòng nhờ nỗ lực tích cực trong việc thúc đẩy chiến tranh. Ông háo hức muốn sử dụng cuộc chiến làm phép thử. Khi đất nước đối mặt với họa xâm lăng vào tháng 7, ông đã buộc các bộ trưởng đồng ý để tập hợp lực lượng tình nguyện vũ trang mà ông đã gương mẫu đi đầu khi thành lập ba tiểu đoàn tình nguyện của Cụm cảng Cinque và chấp nhận là chỉ huy quân tình nguyện của Sở Quản lý Hàng vụ. Cuối năm đó, 380.000 người đã đăng ký vào danh sách lực lượng tình nguyện viên bảo vệ đất nước. Chưa kể đến giá trị về mặt quân sự, lời kêu gọi cả nước tham gia lực lượng vũ trang đã khiến tinh thần yêu nước dâng cao và Pitt lại đặt mình vào vai trò của một người lãnh đạo phong trào yêu nước thống nhất toàn dân tộc. Điều này đã giúp ông phục hồi sinh lực. Cháu gái ông miêu tả: “Pitt hoàn toàn vượt qua cái mệt mỏi của một trung sĩ huấn luyện. Hết đoàn diễu hành này đến đoàn diễu hành khác, mỗi đoàn cách nhau 25-30km. Tôi thường để ý đến ông và tôi có thể đảm bảo rằng ông rất khỏe.” Một lần nữa tinh thần lạc quan của ông lại làm cháy lên tham vọng về tương lai. Wilberforce miêu tả ông “là thành lũy để đem lại quyền lợi cho châu Âu sau khi đã đảm bảo an toàn của chính mình”.

Giờ đây Pitt mong muốn trở lại nắm chính phủ trong tương lai gần. Ông đã quan tâm tới những điều kiện tốt nhất để có thể đảm bảo quyền lực của mình. Ông rất để tâm đến triển vọng mà Grenville đã đặc biệt đưa ra cho ông, đó là một chính phủ yêu nước thống nhất trên toàn quốc – tương xứng với số quân tình nguyện đã tập trung được, trong đó tập trung tất cả nhân tài từ mọi phe cánh trong Nghị viện, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ với châu Âu về khả năng điều hành của Anh trong chiến tranh. Chỉ có Addington bất tài và phe cánh của ông ta − những người điều hành chiến tranh chậm chạp, không dứt khoát làm cho Pitt bực bội là sẽ bị loại bỏ. Tuy nhiên, Pitt rất thận trọng tránh tạo khoảng cách đối với Vua Anh, người mà ông rất cần sự ủng hộ, người vẫn có mối liên hệ với Addington, trong khi đó thái độ thù địch của ngài đối với Fox vẫn không giảm. Do vậy, ông từ chối tham gia Liên minh Đối lập chính thức giữa Grenville và Fox để lật đổ Addington.

Việc tiếp tục theo đuổi cách giải quyết lý tưởng đã khiến ông rơi vào tình trạng bất lợi nhất. Ông không thể ngăn cản được sự tấn công của liên minh Grenville và Fox nhằm vào Addington. Nhưng khi Bộ của ông suy yếu mà vẫn chưa tan vỡ, ông quyết định không đợi một cuộc kêu gọi tự phát của cả nước đề nghị ông trở lại chính phủ. Lo lắng vì sợ điều này sẽ gây cản trở đối với nỗ lực cho cuộc chiến cuối cùng cũng khiến ông tham gia vào cuộc tấn công để nhanh chóng kết thúc bế tắc. Khi lực lượng ủng hộ tan rã, Addington suy yếu và phải từ chức vào ngày 29/4/1804, Vua Anh không có người thay thế nên buộc phải yêu cầu Pitt thành lập chính phủ.

CHIẾN THẮNG KHÔNG HOÀN HẢO CỦA NĂM 1804

Có sự khác biệt rõ rệt giữa sự trở lại nắm quyền vào năm 1804 so với lần đầu tiên ông nhậm chức Thủ tướng 20 năm trước. Thứ nhất là quan hệ của ông với Vua Anh, thứ hai là tình hình sức khỏe của ông.

Vua Anh không muốn bỏ rơi Thủ tướng, người đã trung thành hưởng ứng lời kêu gọi giúp đỡ của ngài năm 1801. Mặc dù cuối cùng Pitt đã chấp nhận sự thay đổi để được trọng dụng, ông vẫn buộc phải hy sinh nhu cầu cá nhân cần thiết để mang lại sức mạnh cho Bộ mới. Giải pháp cuối cùng là Pitt sẽ chấp nhận Grenville và những người lãnh đạo khác của Liên minh Đối lập, tuy nhiên không thể chấp nhận Fox vào Nội các. Pitt cố gắng xoa dịu tình hình bằng cách viết thư giải thích với Vua Anh về lý do mà cuối cùng ông đã phải tấn công vào Bộ, trấn an Vua Anh về vấn đề Công giáo và việc quyết tâm buộc Vua Anh không chấp nhận đối thủ Fox đáng gờm vào Nội các. Tuy nhiên, kể từ khi ông từ chức, giữa hai người đã có nhiều khoảng cách. Ông không làm theo ước nguyện của George III là tiếp tục xem xét những vấn đề ở ông có thể bị hiểu nhầm. Chính nhờ định kiến của gia đình Chatham đối với ảnh hưởng bí mật của Vua Anh đã giúp ông tránh được những lời buộc tội tương tự có thể đặt ra nhằm chống lại ông. Tuy nhiên, Pitt lại thận trọng đến mức độ tối đa nên kể từ khi từ chức cho đến khi quay trở lại, ông vẫn chưa gặp Vua Anh lần nào. Hậu quả là “tình cảm thật sự” mà George III đã dành cho Pitt khi ông lên nắm quyền lần đầu tiên bộc lộ rất ít trong giai đoạn này. Vua Anh không sẵn lòng hy sinh vì nhu cầu của vị Thủ tướng mới. Điều này được thể hiện rõ nhất không chỉ ở việc ngài từ chối chấp nhận Fox mà còn ở việc bổ nhiệm những gia đình hoàng tộc mới. Ngài đã thực hiện mà không quan tâm tới nhu cầu cần bảo trợ của Pitt. Ngoài ra, Vua Anh còn sa thải những người ủng hộ Pitt như Bá tước Amherst (vì đã bỏ phiếu chống Addington) và bổ nhiệm Huân tước St Helens, người mà Pitt cho là có ảnh hưởng không tốt.

Thậm chí, ngay cả khi Pitt có thể giành lại trọn vẹn sự tin tưởng của Vua Anh, thì trên thực tế, George III đã già hơn 20 tuổi so với năm 1784 và lại mắc bệnh thần kinh vào tháng 3 khiến sự ủng hộ của Hoàng gia là nhân tố ít ảnh hưởng. Tháng 4/1804, Melville đã thừa nhận một chính phủ không thể vững mạnh và bền lâu nếu chỉ dựa vào tình hình sức khỏe và đời sống của Vua Anh. Bá tước Richmond cũng chỉ ra rằng với ông vua 66 tuổi, suy yếu cả về thể chất lẫn tinh thần, trong khi đó Thái tử xứ Wales lại ở tuổi 42, nhiều người sẽ phải “tạm thời lấy lòng mặt trời đang mọc”. Pitt đã thử vượt qua trở ngại với việc đề nghị những người ủng hộ Thái tử đưa ông lên ngôi, song nỗ lực này đã thất bại bởi Vua Anh và con trai đã hòa giải với nhau.

Hậu quả là, sự tự do hành động của Pitt trong Nghị viện bị giới hạn. Trong khi tương lai của Pitt có thể chỉ được đảm bảo bằng việc tập trung sự ủng hộ mạnh mẽ giúp Pitt không phụ thuộc vào vị vua đang xế chiều thì sự phụ thuộc trước mắt vào Vua Anh khiến ông không thể làm được gì. Pitt hy vọng Fox sẽ nhất trí với đề nghị mà Hoàng gia đã tán thành là để Fox tham gia Nội các với nhiệm vụ tại đại sứ quán St Petersburg, Anh nhằm tranh thủ sự ủng hộ của Nga đối với cuộc chiến. Bạn bè của Fox từ chối tham gia chính phủ nếu Fox không tham gia, sau đó Grenville và nhóm bạn của ông ta tự cảm thấy cần phải giữ danh dự cho Liên minh Đối lập và quyết định đứng ngoài Nội các.

Kết quả là Pitt không thể có được một cơ quan điều hành hùng mạnh để tập trung được cả nước và đế chế châu Âu. George Rose, người bạn trung thành của Pitt, đã chỉ ra ba khó khăn cụ thể là: thiếu các Bộ trưởng Nội các nặng ký, thiếu Chủ tịch Viện Bình dân có năng lực và thiếu những người ủng hộ với quyết tâm cao trong Nghị viện của Addington. Tình huống này không khác so với những gì mà Pitt gặp phải khi lần đầu lên nắm quyền vào cuối năm 1783. Những lời nói của vị tân Ngoại trưởng, Huân tước Harrowby (thuộc cấp trong Viện Bình dân cũ rất trung thành với Pitt, Dudley Ryder) đã gợi lại những lời nói của Carmarthen và Sydney năm 1783. Harrowby thổ lộ với Malmesbury rằng ông ở trong hoàn cảnh không hề mong muốn. Tuy nhiên tình bạn giữa ông và Pitt khiến ông không hề do dự khi chấp nhận chức vụ đó. Không phải do sức khỏe, cũng không phải do thói quen, mà bởi vì đã ba năm nay ông không hề quan tâm đến hoạt động xã hội.

Nội các mới chỉ có năm thành viên thuộc Nội các trước đây của Pitt, trong đó chỉ có hai thành viên nặng ký là Melville (Bộ trưởng Hải quân) và Portland (Chủ tịch Viện Cơ mật) hiện đã sử dụng hết lực lượng của mình. Đến tháng 10, tân Bộ trưởng Chiến tranh Camden nói với Melville rằng “không có chút biến chuyển nào” do áp lực và lo lắng từ phía công việc, ngay sau đó ông ta đã chứng tỏ trách nhiệm chính trị, còn Portland lại ở trong tình trạng sức khỏe không tốt. Camden đã thú nhận “chưa có được bước quyết định và chín chắn trong phương sách chung”. Không có được các thành phần quan trọng từ phía phe đối lập, Pitt buộc phải đưa những người bạn cũ là Mulgrave và Montrose, đồng thời bổ sung Hawkesbury và Westmorland vào danh sách những người được giữ lại từ bộ của Addington (Eldon, Portland, Chatham và Castlereagh).

Trong Nội các chỉ có Castlereagh − Chủ tịch Viện Bình dân, người từng làm việc cùng Pitt ở Viện Bình dân − là có quan điểm trung lập. Canning, người ủng hộ Thủ tướng có năng lực nhất, lại là người tỏ ra thất vọng về sự liên minh với Grenville. Ông miễn cưỡng chấp nhận chức Thủ quỹ Hải quân Anh để giúp người thầy thông thái của mình. Tuy nhiên, ông thấy khó có thể không gây ảnh hưởng đến những thành viên cũ thuộc bộ của Addington và vào tháng 6, Pitt gần như phải đích thân xoa dịu và giữ lại Bộ trưởng Nội vụ Hawkesbury. Bạn của Canning là Granville Leveson-Gower và Hầu tước Morpeth từ chối tham gia Nội các. Như vậy là trong nhiệm kỳ thứ hai làm Thủ tướng, Pitt đã không thành công trong việc thu hút những tài năng trẻ về phe mình. Điều này cho thấy thái độ của mọi người đối với khả năng thành công lâu dài không chắc chắc của Pitt và việc gần đây ông vắng mặt khá lâu trong Viện Bình dân có tác động như thế nào đối với cơ hội thu hút tài năng. Phiên họp Nghị viện kéo dài cho đến cuối tháng 7/1804 là quãng thời gian đầy lo lắng. Luật Bổ sung lực lượng của Pitt nhằm tăng cường thế tấn công đã không được cả Liên minh Đối lập Fox Grenville lẫn những người theo Addington ủng hộ. Cuối cùng, trong chính phủ, số người ủng hộ Pitt chỉ còn 28 (ít hơn cả của Addington khi ông này từ chức), trong khi đó cần phải tập trung 42 người để luật này được thông qua trước Viện Bình dân.

Năm 1784, Pitt đã vượt qua được những khó khăn này nhờ vào nỗ lực tích cực của bản thân và sự ủng hộ mạnh mẽ của Vua Anh. Vào thời điểm này, ông đã cố gắng làm điều tương tự nhưng lại trong hoàn cảnh bệnh tật và thiếu sự ủng hộ tích cực của Vua Anh. Việc Pitt bổ nhiệm hai người thiếu kinh nghiệm và có quan điểm đối lập là Harrowby và Camden làm Ngoại trưởng điều hành chiến tranh đã thể hiện ý định của ông là tự mình điều hành chiến tranh.

Ông ở vị trí cô lập hơn nhiều so với trước đây, không còn nhận được sự trợ giúp vui vẻ của những người bạn cũ. Grenville đang ở phe đối lập. Pepper Arden, vốn là anh hề trong triều đình, giờ là Huân tước Alvanley, đã mất vào tháng 3/1804. Quan hệ giữa Pitt với Dundas cũng nguội đi từ sau vụ Dundas được Addington phong Bá tước, mối quan hệ này trở nên tồi tệ tới mức Wilberforce phải công nhận là “họ hiếm khi nói chuyện với nhau”. Wilberforce miêu tả bữa ăn tối giữa Pitt và những người bạn cũ của ông trong tháng 7 là “một buổi tối tẻ nhạt và Pitt không hề vui vẻ”. Họa sĩ Lawrence đã phác họa một bữa ăn tối của Pitt và những thành viên trong Nội các vào tháng 11/1804 rằng “Pitt xuất hiện ở tầm cao trước con mắt của những người tham dự buổi tiệc. Điều này không ngăn cản những cuộc đàm thoại về xã hội, song ấn tượng của tất cả mọi người là sự thán phục đối với ông. Đôi lúc đó dường như là quan hệ của những cậu bé với ông chủ của mình”. Thủ tướng dựa vào những vị ngoại trưởng năng lực như Hawkesbury và Castlereagh, cũng như trước đây ông đã dựa vào Grenville và Dundas, tuy nhiên, mối quan hệ giữa ông và họ đã khác trước. Trong một bức phác họa mô tả buổi gặp giữa họ, William Napier đã mô tả Grenville và Dundas “khúm núm như chó cụp tai”, còn Pitt ngả đầu ra phía sau, đôi mắt đăm chiêu dường như nhìn thấu cả bầu trời và không hề để ý đến những người đang khúm núm quanh ông. Ông lắng nghe rồi cắt ngang những cuộc hội thoại ngắn ngủi và bất ngờ kết thúc đối thoại theo quan điểm cá nhân mà không cần nhìn xuống”.

Pitt chấp nhận vị trí của một người nổi tiếng nhưng cô lập. Eldon, người đứng đầu Viện Quý tộc, nhớ lại phản ứng phẫn nộ của Pitt trước việc Grenville từ chối tham gia chính phủ cùng ông nếu không có Fox, rằng “ông sẽ dạy cho con người kiêu ngạo ấy biết, với sự tin tưởng của Vua Anh, ông có thể làm được mà không cần ông ta, mặc dù khi nghĩ đến sức khỏe của mình, ông biết để làm được điều này có thể phải trả giá bằng cả mạng sống”. Một người cháu đã miêu tả tình trạng căng thẳng của Pitt:

Để vơi đi nỗi buồn, Pitt quay sang kết bạn và vui đùa với những thành viên trẻ tuổi hơn trong đoàn tùy tùng, như Hester Stanhope và bạn của họ là William Napier. Ông lại tìm đến rượu. Napier miêu tả: “Pitt trở về nhà ăn tối với dáng vẻ mệt mỏi và đầy hơi rượu, ông đã uống một chai hoặc ít ra cũng gần một chai, uống ừng ực hết cốc này đến cốc khác. Tuy nhiên, khi đã hồi phục sức khỏe sau trận ốm vì rượu, ông dừng uống rượu”. Hester Stanhope cũng miêu tả ông “uống quá nhiều rượu vào bữa tối”.

Trong một khoảng thời gian của năm 1804, các hoạt động dường như không có gì mới. Luật Bổ sung Lực lượng đã được buộc phải thông qua. Pitt thực hiện biện pháp mới để giải quyết khoản nợ dân sự bằng cách tăng thu nhập và chuyển thêm tiền vào Quỹ Ngân khố. Biên bản cuộc họp ngày 19/8/1805 của Bộ Tài chính đã hoàn tất việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức và cơ chế giám sát của Bộ Tài chính, thiết lập cơ chế giám sát liên tục từ trên cho tới “Thư ký luật và Thứ trưởng”. Khi việc hòa giải giữa Vua Anh và Thái tử Wales không thành, Pitt đã khôn khéo giảng hòa với Addington vào tháng 12. Mặc dù đã đề nghị tăng gấp đôi số ghế trong Nội các do phải đảm bảo cho cả Addington và bạn của ông ta là Hobart (hiện là Bá tước vùng Buckinghamshire), song ông không cho họ vị trí điều hành nào. Addington được thuyết phục nhận tước vị Huân tước Sidmouth để xóa bỏ tầm ảnh hưởng trong Viện Bình dân. Những người theo Addington được nhận cấp thấp hơn. Nhiều người chỉ nhận được lời hứa suông vì đã hết vị trí. Được bổ sung thêm 40 nghị sĩ của Addington, sự ủng hộ của chính phủ đối với Pitt tăng lên khi Nghị viện được tái cơ cấu vào tháng 1/1805. Đại đa số thành viên chính phủ chống lại phe đối lập với 207 phiếu vào ngày 11/2, 146 phiếu vào ngày 21 và 140 phiếu vào ngày 6/3.

Pitt lại đến với cuộc chiến bằng tinh thần đấu tranh bền bỉ. Sau đề nghị đưa ra với Nga vào ngày 26/6/1804, ngày 24/7, Pitt đề nghị thương lượng hòa bình với Áo, Phổ và Thụy Điển. Đến tháng 9, ông quyết định tiến hành một cuộc tấn công phủ đầu Tây Ban Nha với lệnh bắt giữ tàu chở vàng từ Mexico vào Tây Ban Nha để ngăn cản việc vũ trang lại cho lực lượng hải quân Tây Ban Nha và trợ cấp cho Pháp. Sau hành động đánh chặn vào tháng 10, ngày 12/12, Tây Ban Nha tuyên bố chiến tranh. Giờ đây, nước Anh sẽ có những đồng minh mới cũng như xuất hiện thêm những kẻ thù mới, bởi trên cơ sở những nỗ lực trước đó của bộ Addington, Pitt đã thuyết phục được St Petersburg ủng hộ, nhưng Napoleon đã trắng trợn coi thường luật pháp quốc tế khi bắt giữ và hành xử Bourbon Duc d’Enghein. Tháng 11/1804, đặc phái viên Nga đến London để tìm hiểu khả năng liên minh.

Cuộc đàm phán được Harrowby thực hiện nhưng đổ vỡ, sau đó đến Mulgrave thực hiện, tuy nhiên lại có đủ bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng của Pitt trong cuộc đàm phán này. Những gì mà Pitt bổ sung vào chính sách của Anh hiện giờ là sự sẵn sàng hỗ trợ tài chính ở mức độ lớn cho nỗ lực lớn. Ông sẽ cấp 5 triệu bảng cho chiến dịch Lục địa mới. Tính đến thời điểm hiện tại, trợ cấp cho chiến tranh chỉ vượt quá 1 triệu bảng mỗi năm, vào năm 1794 (2,5 triệu bảng), năm 1799 (1,5 triệu bảng) và năm 1800 (2,5 triệu bảng). Tuy nhiên, lợi nhuận mang lại từ nguồn thuế thu nhập mới (được Addington cải cách) và sự phát triển liên tục của thương mại Anh đã cho phép Pitt vượt qua những khó khăn trước đó và định nghĩa về chiến tranh nhân dân là phải có một lực lượng lớn cần thiết để đánh bại Pháp, dẫn đến việc Pitt hủy bỏ chính sách cung cấp tài chính có chọn lọc và có điều kiện hơn. Nếu Nga có thể bằng những cách này giành được sự ủng hộ của Áo và Phổ, Pitt dự tính tập trung 500.000 quân chống lại Pháp. Sự sẵn sàng nghĩ đến việc lớn thể hiện trong cách nhìn của ông về hiệp ước an ninh lâu dài và ổn định trật tự cho tương lai của châu Âu. Quốc thư nổi tiếng mà ông gửi cho Nga ngày 19/1/1805 có sử dụng những điểm dựa trên ý kiến của Grenville năm 1798 và những gợi ý mới của Hầu tước Mulgrave, tuy nhiên những cơ sở này vẫn mang dấu ấn của ý tưởng về an ninh tập thể của ông vào cuối những năm 1780 và bản phác thảo cuối cùng là của chính ông.

QUÁ MUỘN ĐỂ THỰC HIỆN BẤT CỨ ĐIỀU GÌ: BI KỊCH CỦA NĂM 1805

Nếu như năm 1804 mang đến hy vọng cho Pitt thì năm 1805 lại là năm thất bại bởi những mối quan hệ của Pitt trở nên rệu rã. Đây là năm bắt đầu bằng một cuộc tranh cãi giận dữ với Vua Anh bởi ngài không chấp nhận việc Pitt bổ nhiệm người thầy cũ của mình là Pretyman làm Tổng Giám mục xứ Canterbury. George III cho rằng Pretyman còn non kém cả về mặt xã hội lẫn giáo hội, do đó không tham khảo ý kiến của Pitt, Vua Anh đã vội vã bổ nhiệm Pretyman làm Giám mục xứ Norwich. Pitt coi đây là sự xem thường cá nhân, phơi bày cho cả thế giới thấy lòng tin hạn chế của Hoàng gia đối với Nội các. Lần đầu tiên, tác phong nghi lễ đến lạnh lùng của Pitt trong phòng họp hoàng gia đã khiến ông trở nên xa lạ và những người ở bên ngoài nghe thấy giọng ông vang lên rất giận dữ. Pitt nói với giọng tự cao khi Vua Anh cương quyết giữ quyết định của mình.

Giữa lúc đó, sự liên kết bất ngờ với Addington và cái giá phải trả của nó đã khiến lòng tin của những người ủng hộ ông bị lung lay trước chiến thuật và quyết định của ông. Pitt đã mất Hầu tước Stafford, con trai của đồng sự cũ trong Nội các, vợ là nữ Bá tước vùng Sutherland có ảnh hưởng lớn đối với sự trở lại của ít nhất sáu nghị sĩ. Mặc dù Canning và Hawkesbury đã năn nỉ, song Pitt không thể xoa dịu được Stafford. Pitt đã không thông báo cho ông ta biết về việc mình giảng hòa với Addington và lờ đi yêu cầu xin được nhận cấp tước Ga-tơ. Việc không giải thích về vấn đề này thậm chí làm mất đi sự ủng hộ của các đồng môn ở Cambridge như George Villiers và William Lowther (hiện là Huân tước) − người tiếp quản chín đơn vị bầu cử ở Lowther. Hơn nữa, những lợi ích do liên minh với Addington đã sớm bị đe dọa khi Ủy ban Điều tra Hải quân đã phát ra báo cáo thứ mười vào tháng 3/1805 buộc tội Melville, khi ông này giữ chức Thủ quỹ Hải quân Anh trong nhiệm kỳ trước của Pitt, cho phép Alexander Trotter − người phát lương − đầu cơ nguồn công quỹ. Melville đã sử dụng ngân sách hải quân vào mục đích khác mà ông từ chối tiết lộ vì lý do bí mật quốc gia. Pitt cảnh giác trước mối đe dọa này. Wilberforce − người ở bên Pitt khi bản sao báo cáo được chuyển đến, viết: “Ông cho rằng điều này sẽ làm rung chuyển cả chính phủ” và không bao giờ quên cảnh Pitt tóm lấy bản báo cáo, khao khát xem xét nó đến mức nào. Pitt đứng cạnh Melville, người đang bị tiếng là “bỏ tiền công quỹ vào túi cá nhân”. Danh dự của Melville và của cả bộ mà Pitt nắm quyền nhiệm kỳ đầu đang gặp nguy hiểm. Tuy nhiên, xét ở khía cạnh khác, danh dự của bộ Addington, người thành lập Ủy ban Điều tra Hải quân cũng bị ảnh hưởng. Do đó, liên minh chính phủ mới cũng bị chia rẽ.

Vụ việc Melville cũng khiến phe đối lập bị rạn nứt khi Grenville rất bối rối trước những lời chỉ trích của Whitbread và của phe Fox vào ngày 8/4. Pitt cũng rất khổ sở. Harrowby thông báo sức khỏe của Pitt rất yếu trong tuần xảy ra tranh luận. Còn Camden cho biết ông bị mắc bệnh nặng. Wilberforce làm đúng lương tâm, phát biểu chống lại Pitt, trực tiếp tác động đến 40 phiếu. Do đó, kết quả là 216 phiếu mỗi người. Một lần nữa Pitt lại thất bại trong sự nghiệp của mình, phải dựa vào phiếu quyết định của Chủ tịch Viện Bình dân. Hy vọng duy nhất của Pitt là giảm thiểu mức độ ảnh hưởng nên đã cố kéo dài thời gian để sự giận dữ nguội đi. Melville phải từ chức ở Bộ Hải quân vào ngày 9/4 và ở Hội đồng Tư vấn một tháng sau đó. Tuy nhiên, Pitt đã chống lại những yêu cầu đòi kết án đối với Melville bằng việc gửi bản chứng thực lên Ủy ban Thẩm tra của Viện Bình dân. Thông qua bỏ phiếu kín, cuối cùng bản án đã được phán xét dựa vào lời kết tội ở Viện Quý tộc (đã tuyên bố Melville trắng án vào năm 1807). Trong khi đó, trước buổi thẩm tra của Ủy ban Thẩm tra Viện Bình dân, Melville bị khởi tố trách nhiệm hình sự. Pitt cũng chống lại cuộc tấn công vào hoạt động điều hành quỹ hải quân của ông được đưa ra trong báo cáo thứ 11 của Ủy ban Điều tra Hải quân. Cũng bằng hình thức bỏ phiếu kín ở Ủy ban Thẩm tra Viện Bình dân, những lời giải thích của ông đã được chấp nhận.

Liên minh với Addington cuối cùng bị tan vỡ khi Pitt bổ nhiệm cố vấn hải quân chính của Melville, ngài Charles Middleton đã trên 80 tuổi, thay thế Melville ở Bộ Hải quân, với cấp bậc quý tộc là Huân tước Barham. Sidmouth và những người bạn của ông cho rằng họ từng được hứa ở vị trí đó và dọa sẽ từ chức. Ngay lúc đó, Pitt phải giữ ông ta ở lại bằng cách đảm bảo rằng việc bổ nhiệm Middleton chỉ là tạm thời. Tuy nhiên, những cuộc tấn công liên tiếp vào Melville của những người ủng hộ Sidmouth đã buộc Pitt phải loại trừ họ ra khỏi chính phủ, cuối cùng Sidmouth và những người theo ông ta đã phải chấm dứt quan hệ với Nội các vào ngày 4/7. Một lần nữa, Pitt lại thể hiện sự khéo léo trong việc giảm tối đa mức độ ảnh hưởng với việc giữ chân họ cho đến tận khi còn tám ngày nữa là kết thúc kỳ họp Nghị viện. Khi đó, việc vi phạm có thể gây ra mức độ ảnh hưởng trước mắt ít nhất − khiến Fox thất vọng hơn.

Kỳ họp Nghị viện kết thúc, Pitt có sáu tháng củng cố Nội các trước khi diễn ra đợt triệu tập cuộc họp mới vào tháng 1. Camden, người thay thế Sidmouth làm Chủ tịch Viện Cơ mật tin tưởng: “Không có sự ủng hộ trong Nội các cũng như trong Viện Bình dân, ông sẽ không thể thành công”. Pitt bắt đầu dò ý Grenville. Giữa tháng 9, ông đã đến Weymouth để cố gắng thuyết phục Vua Anh cho phép ông đàm phán về việc liên minh với phe đối lập. Tuy nhiên, lần này ông đã gặp phải sự phản đối cương quyết của Vua Anh, một người vừa ốm yếu lại vừa bảo thủ, ngài không chỉ phản đối Fox mà còn cả với Grenville nên cuộc đàm phán đã thất bại. Với tình trạng sức khỏe sa sút, Pitt cần sự hỗ trợ của những người ở hàng ghế lãnh đạo trong Viện Bình dân, nhưng hiện giờ ông buộc phải đưa hai người ủng hộ ông là Canning và Yorke vào Nội các.

Trước sức ép ngày càng gia tăng đối với chính trị gia kiệt xuất như Pitt, cơ hội duy nhất để ông có thể nhanh chóng thoát khỏi bế tắc này chính là cuộc chiến thành công. Hy vọng lớn trong tháng 1 về sự tham gia của Nga đã không đạt được vì Nga không muốn Anh tăng cường tiềm lực hải quân hơn nữa. Pitt tích cực chống lại những nỗ lực của Nga nhằm đưa quân Anh ra khỏi Malta, vùng đất mà Anh đã chiếm được năm 1800 nhưng không khôi phục được hòa bình. Với chiến dịch mùa hè đang đến gần, khi ông đang định từ bỏ căn cứ chiến lược đó thì tham vọng của Pháp đã cứu nguy cho ông. Trong tháng 3, khi Napoleon thành lập Vương quốc Italy, tự phong là Quốc vương và mở rộng Genoa vào tháng 6, thì Nga và Áo đều thấy rằng chống lại Pháp là điều cần thiết. Nga đã bác bỏ yêu cầu đối với Malta và hiệp ước giữa Nga và Anh cuối cùng đã được thông qua vào ngày 28/7; ngày 8/8, Áo đồng ý tham gia hiệp ước. Đến tháng 9, cuộc chiến lại bắt đầu ở châu Âu.

Tương lai chính trị của Pitt cũng như của châu Âu lúc này phụ thuộc vào chiến dịch Lục địa mà Pitt đã dốc hết nỗ lực song ông không thể quyết định. Mọi đàm phán với Áo đều do Nga thực hiện, đặc phái viên của Anh tại Áo không được tham gia đàm phán hay thông báo trước. Anh đóng góp vào cuộc chiến với số tiền mặt là 2,5 triệu bảng cho Áo (nước này cần 6 triệu bảng), cho Nga và Phổ mỗi nước 1 triệu bảng nếu hai nước này đồng ý tham gia cuộc chiến và 500.000 bảng để thuê binh sĩ của các quốc gia nhỏ hơn. Anh cũng đã giành được chiến thắng hải quân trước hạm đội liên minh Pháp-Tây Ban Nha ở Trafalgar vào ngày 21/10. Tuy nhiên, Anh vẫn thiếu lực lượng tác chiến hiệu quả trên bộ. Thành công của Pitt trong việc huy động được một lực lượng dân quân hùng mạnh để bảo vệ đất nước lại cản trở việc tuyển chọn một đội quân chính quy để có thể tham gia tấn công. Pitt đã giải quyết vấn đề này bằng cách đưa ra Đạo luật Bổ sung Lực lượng vào năm 1805, song đạo luật này lại không thành công bằng Đạo luật Quân dự bị năm 1803 của Addington mà Pitt từng kịch liệt phản đối. Mỗi người đều tìm cách lập ra đội dự bị để từ đó có thể tuyển chọn đội quân chính quy. Addington sử dụng phương pháp bỏ phiếu kín và huy động được 45.492 người (37.136 người đủ tiêu chuẩn tòng quân), trong số này có 19.533 quân tình nguyện. Mặc dù Pitt đề ra định mức đối với từng địa phương và áp dụng các hình phạt đối với địa phương nào không đủ quân, song chỉ đạt được chưa đến một nửa chỉ tiêu là 13.000 quân. Tháng 1/1805, Pitt thất vọng quay trở lại tuyển quân chính quy trong số dân quân tình nguyện.

Quân chính quy vẫn thiếu. Tháng 5/1806, Bộ trưởng Chiến tranh của Pitt là Castlereagh tuyên bố tổng lực lượng trong nước là 47.500 quân và đơn vị đồn trú thuộc địa là 10.000 quân, cả hai lực lượng này vẫn chưa đủ. Lực lượng tấn công nhỏ lẻ chỉ có thể được triển khai chậm chạp từ Anh và sau đó tiến vào điểm yếu nhất của kẻ thù, tuy nhiên ở điểm yếu này còn quá xa để có thể gây ảnh hưởng đến điểm trọng yếu. Tháng 4/1805, 4.000 quân được đưa đến Địa Trung Hải, nâng tổng số quân ở đây lên thành 5.000 quân và cùng với 11.000 quân Nga đổ bộ vào Naples vào tháng 11. Tháng 6, 6.500 quân tiến đến chiếm giữ mũi Hảo Vọng và vào tháng 10, 11.000 quân Anh-Đức đã được đưa đến Bắc Đức, sau đó thêm 12.000 quân vào tháng 12. Tuy nhiên, mùa thu năm 1805 lại là ước mơ và hy vọng cuối cùng của Pitt.

Trước báo cáo rất lạc quan là Phổ cũng đang kích động, vào tháng 10, Pitt cử Harrowby đến Berlin với đề nghị hỗ trợ 2,5 triệu bảng phục vụ cho 200.000 quân. Kế hoạch được đặt ra là phải tăng cường số quân lên 65.000 quân Anh và lính đánh thuê ở miền Bắc Đức trong năm 1806 để phối hợp với quân Nga, Thụy Điển và lực lượng Phổ. Con trai của Malmesbury nhớ lại lần đi dạo với Pitt ở công viên vào tháng 11: “Bản tính Pitt rất lạc quan, kế hoạch của ông rất lớn và đầy đủ, trong suy nghĩ của người đàn ông uy lực này tràn đầy hy vọng và khả năng thiết lập được một liên minh châu Âu có thể đánh thắng Pháp”.

Thế giới mộng tưởng của Pitt sụp đổ vào chủ nhật ngày 3/11 khi báo chí Hà Lan đưa tin chi tiết về việc quân đoàn tiên phong của Áo đầu hàng có điều kiện ở Ulm. Hôm đó, các văn phòng thông tin đại chúng không có ai, Pitt và Mulgrave sốt sắng đi tìm Malmesbury dịch bài báo cho họ. Malmesbury khẳng định: “Tôi thấy quá rõ tác động của bài báo đối với Pitt, mặc dù ông đã cố gắng che giấu.” Đêm ngày mồng 7, tin về cái chết của Nelson đến từ Trafalgar khiến ông vui đến mức không thể ngủ được. Ông đã bật dậy mặc dù mới 3 giờ sáng. Cho dù có chiến thắng ở Trafalgar, tình hình hiện tại vẫn tuột khỏi tay Pitt. Ý định cổ vũ Phổ tham gia cuộc chiến đã buộc ông phải hứa hỗ trợ tài chính với số tiền vượt quá dự định ban đầu, tổng lên đến 7-8 triệu bảng. Tuy nhiên, điều này cũng không làm cho Berlin thay đổi. Nga tìm cách nghiêng về Phổ, song vẫn nhượng Hanover cho Berlin − điều mà Pitt ngay lập tức tuyên bố là hoàn toàn không thể và tìm cách che giấu Vua Anh. Cuối cùng, ngày 3/1/1806, có tin Pháp đã đánh bại hoàn toàn lực lượng của Áo-Nga ở Austerlitz vào ngày 4/12.

Không khí thảm kịch bao quanh năm cuối cùng Pitt làm Thủ tướng nhiệm kỳ thứ hai. Vị Thủ tướng ốm yếu đang phải đấu tranh chống lại một lực lượng vô cùng mạnh với một sự ủng hộ không lớn, khiến ông không thể kiểm soát nổi hai nhân vật quan trọng từng ủng hộ ông trong nhiệm kỳ đầu là Dundas và Grenville, mỗi người theo cách riêng của mình đều làm suy yếu tai hại vị trí của Pitt trong năm 1805. Những nhân vật quan trọng có triển vọng làm Thủ tướng trong tương lai như Perceval, Hawkesbury (Liverpool) và Canning cùng những bộ trưởng quan trọng như Castlereagh vẫn đang làm việc như những người tập sự trong Nội các của Pitt. Sự đổ vỡ nhanh chóng của Nội các ngay sau cái chết của Pitt chứng tỏ Nội các này phụ thuộc quá nhiều vào ông. Ông vẫn thể hiện là người am hiểu về chiến thuật, song sức khỏe không tốt đã khiến ông không thể giữ vững được nguồn sinh lực và tinh thần cương quyết để có thể đảm bảo hiệu quả vị trí của mình như ông từng làm cách đây 21 năm. Ông luôn trì hoãn công việc khi ông chưa đi đến quyết định. Tháng 6/1805, Wilberforce phàn nàn rằng Pitt hay chần chừ mọi việc đến mức nó trở thành bản tính của ông. Mặc dù đã hứa từ rất lâu nhưng mãi đến tháng 9/1805, Castlereagh mới được phong chức Bộ trưởng Ngoại giao, và chỉ lúc đó chế độ buôn bán nô lệ ở các thuộc địa của Anh mới được chấm dứt.

Tháng 2/1805, một người bạn của Pitt là Pretyman, người đã an ủi George Rose khi cả hai người cùng thất vọng, ghi nhận:

Theo Walter Farquhar, bác sĩ của ông, thì từ năm 1803 đến mùa thu năm 1805, mọi vấn đề nghiêm trọng trong tâm trí Pitt đều tạo ra những tổn hại tương đương đối với sức khỏe của ông. Farquhar yêu cầu ông nghỉ ngơi nhưng ông từ chối và khẳng định rằng nước Anh cần sự cống hiến của ông và ông thà chết ở vị trí của mình còn hơn phải rời bỏ nó. Tuy nhiên, tình trạng sức khỏe tồi tệ của Pitt cũng khiến chính phủ chịu tổn hại. Tháng 9/1805, Rose cảnh báo Vua Anh rằng “nếu Pitt vẫn mắc chứng sưng khớp hoặc bất cứ căn bệnh nào khác, chỉ trong hai hoặc ba tuần nữa, Nội các của chúng ta sẽ không còn tồn tại”. Vào tháng 10 và tháng 11, Pitt bị đau dạ dày và đau đầu, kém ăn cộng thêm chứng đau bàn chân và các khớp. Tháng 12, ông đi tắm suối khoáng ở Bath để hồi phục sức khỏe, chuẩn bị cho phiên họp Nghị viện vào tháng 1. Vừa mới có dấu hiệu hồi phục thì tin tức đến từ Austerlitz lại khiến căn bệnh của ông tái phát và trở nên trầm trọng hơn. Vì thế, ông quyết định trở về London.

Ông đã không thể củng cố được Nội các sau sự phản bội của Sidmouth và phải nhanh chóng giải trình trước Nghị viện khoản chi phí hàng triệu bảng mà không mang lại hiệu quả, trình bày nguyên nhân cuộc chiến thất bại và lý do phải rút quân ở nước ngoài trở về. Khi chia tay Melville ở Bath, ông cay đắng nói: “Giá mà Vua Anh từ chối lời khuyên của tôi ở Weymouth sớm hơn thì ngài đã không phải sống trong hối hận.” Gầy yếu và kiệt sức, ông rời xa ngôi nhà thuê từ năm 1803, chạy trốn khỏi thành phố Putney Heath. Ngày 15/11, George Rose thấy Pitt nằm trên ghế sô-pha, gầy mòn đến mức không thể nhận ra… Sắc diện của ông đã hoàn toàn thay đổi, giọng ông rất yếu, gần như mất hết sinh lực. Tay chân ông không cử động được. Pitt đã hoàn toàn kiệt quệ và ngày 23/1, ông qua đời. Câu nói cuối cùng mà ông trăng trối đúng là lời của một nhà chính trị yêu nước, lý tưởng ông đã phấn đấu suốt đời: “Ôi đất nước thân yêu của ta! Ta phải rời xa thật sao?”

Bác sĩ của ông nói với Malmesbury: “Pitt ra đi ở tuổi 46 mà cơ thể dường như là của một cụ già 90.” Cái chết của ông liệu có phải do công việc của chính phủ quá căng thẳng hay do bệnh viêm khớp như Farquhar đã vội vàng kết luận, hay bị ung thư đường ruột, viêm dạ dày theo như đánh giá của y học hiện đại? Tất cả đều chưa rõ ràng. Trớ trêu thay, ngày ông mất cũng là ngày ông bước chân vào Viện Bình dân đúng tròn 25 năm. Trong 25 năm đó, ông đã lãnh đạo chính phủ 18 năm 11 tháng.

« Lùi
Tiến »