SỨC HẤP DẪN ĐỐI VỚI DÂN CHÚNG
Là Bộ trưởng không hề dính líu tới tham nhũng của triều đình và các đảng phái, Pitt cần sự ủng hộ của dân chúng để duy trì sức mạnh chính trị. Trong bài diễn văn ngày 21/2/1783, ông đã trực tiếp kêu gọi dân chúng ủng hộ và lên nắm quyền trong cuộc khủng hoảng diễn ra đầu năm 1784. Trong tiềm thức, Pitt nhận thấy phe của ông cần phải chiếm được “ấn tượng và tình cảm của đông đảo dân chúng” và ông cho rằng đây cũng là yếu tố cần thiết đối với một chính phủ. Lòng tin và sự ngưỡng mộ của dân chúng dành cho ông trong những năm 1780 đã giúp ông vượt qua giai đoạn khó khăn. Khi đó, chính khả năng vận động, quyết tâm giành sự ủng hộ của dân chúng và những thành công trong hoạt động này đã giúp ông trở thành Bộ trưởng đáng gờm nhất đối với các đối thủ, những người cũng đang tìm kiếm sự ủng hộ như ông.
Pitt vào Nghị viện với vai trò là đại diện của một thành phố nghèo nàn, không mấy tiếng tăm. Do vậy, ông không được tiếp xúc rộng rãi với dân chúng cho đến khi tham gia cuộc đấu tranh đòi cải tổ Nghị viện. Ngay sau đó, ông nổi danh là một nhà cải tổ và được Christopher Wyvill – vị lãnh đạo đầy uy quyền của Hiệp hội Yorkshire − ủng hộ. Mục tiêu của Pitt, như ông từng tuyên bố khi trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên đưa ra Dự luật Cải tổ Nghị viện tháng 4/1785, là tạo ra “một Nghị viện mà ở đó nghị sĩ và nhân dân đều có chung lợi ích và có sự đồng cảm cao nhất”. Ông cho rằng thời kỳ vẻ vang nhất của lịch sử một đất nước là thời kỳ mà nhân dân đặt trọn niềm tin vào các nghị sĩ và các nghị sĩ đặt trọn niềm tin vào các bộ trưởng. Sự trong sạch của các nghị sĩ chính là yếu tố đáng tin cậy nhất để dân chúng đặt niềm tin.
Ông thừa nhận vẫn có những người với nhân cách đạo đức và bản lĩnh chính trực đã vượt lên trên tình trạng tham nhũng và suy đồi chung của xã hội, khiến cả Nghị viện và nhân dân đều ngưỡng mộ. Ông luôn khắc ghi hình ảnh người cha và mong muốn có được vai trò như cha. Cả cuộc đời, lúc nào ông cũng cố gắng duy trì phẩm chất ấy và coi đó là cách thức hiệu quả giúp ông nhận được sự ủng hộ từ nhân dân. Thái độ coi thường địa vị và tiền bạc là điểm cốt yếu trong nhân cách của ông. Ông ít quan tâm đến giới quý tộc cũ. Điều này thể hiện rõ ràng qua nhãn quan của ông về giới thượng lưu với việc phong tước mới. Cháu gái ông cho biết ông đã tuyên bố rằng cuộc cách mạng Tom Paine 1 hoàn toàn là vì quyền lợi của giới thượng lưu. Khi Abercorn – một người bạn của ông − với thái độ ngạo mạn huênh hoang nói rằng sự hoàn hảo nhất của con người không nằm trong tầng lớp lao động mà thuộc về giới quý tộc, ông đã mỉa mai cắt ngang: “Liệu đó có phải thuộc về giới quý tộc mới chăng”! Ông đã để lại cấp tước Ga-tơ mà nhiều người mơ ước cho anh trai mình. Trước đây, cha ông nổi danh là một “người bình dân đáng kính” và ông xác định mình cần phải là một “ông Pitt” vừa giản dị, vừa dân dã. Warawall viết rằng “thái độ khinh thường tiền bạc” khi ông không thèm đếm xỉa đến chức thư ký năm 1784 đã “nhận được sự tán dương của đông đảo dân chúng theo ông suốt cả cuộc đời, thậm chí khi ông đã sang thế giới bên kia”. Năm 1789, một sử gia ca ngợi: “Với lòng yêu nước chân thành, ông chẳng nhận được một chút tiền bạc, quyền lợi và danh vọng, không địa vị và không một chút hứa hẹn trong Hoàng gia.”
Suốt cuộc đời, Pitt sống trong nợ nần song không phải do ông chi tiêu hoang phí hay không chú tâm đến lao động. Gia sản nghèo nàn của Pitt khiến ông ghê sợ sự cám dỗ của cờ bạc và tránh xa trường đua ngựa – hai thú tiêu khiển xa xỉ của giới thượng lưu mà Fox, đối thủ của ông, rất đam mê. Khi lên làm Thủ tướng, ông không cho dựng cung điện như Walpole từng làm ở Houngton, thay vào đó, ông chỉ xây dựng một biệt thự khiêm tốn ở vùng quê xứ Kent. Bản kê khai chi tiêu của ông cho thấy đua ngựa là thú vui rất tốn kém của ông, còn Ehrman cho rằng số tiền trong bản kê khai có thể bị ghi tăng lên (thế nhưng sau này Mornington nhớ lại là Pitt rất thích cưỡi ngựa, những giai thoại về các cuộc phi nước đại của Pitt trong những năm 1780 cho thấy sở thích tốc độ đã làm hao tổn không ít tiền bạc). Không quan tâm đến khoản thu nhập rất eo hẹp, Pitt luôn gửi tiền về cho mẹ trong khi điều kiện tài chính của ông còn đang chật vật. Vậy mà khi bị đe dọa mất chức trong cuộc Khủng hoảng chế độ nhiếp chính, ông đã từ chối đề nghị của các thương gia thành phố xin được hỗ trợ một khoản tiền giá trị 100.000 bảng. Có người nói rằng ông đã trở lại nghề luật sư để duy trì cuộc sống. Chỉ đến năm 1792, ông mới làm theo nguyện vọng của Vua Anh và nhận chức Quản lý Cụm cảng Cinque. Thu nhập 3.000 bảng từ vị trí này đã giúp ông bớt khó khăn tài chính (năm sau ông đã gửi chủ ngân hàng Coutts mức lương 4.000 bảng được nhận từ cương vị Thủ tướng Anh). Tuy nhiên, lúc này ông có động cơ lớn hơn là muốn giành được biểu hiện ủng hộ rõ rệt của Hoàng gia để khẳng định chiến thắng trước đối thủ Thurlow. Mặc dù rất lo lắng về phản ứng của dân chúng trước những thuận lợi mà ông đã mang lại cho người thân, Pitt vẫn cố gắng thể hiện bản chất chính trực, không tham tiền bạc và địa vị trong chính phủ. Khi Dundas bị kết tội tham ô tài chính năm 1805, cháu của Pitt nghe thấy người dân xứ Kent nói về ông là “người trung thực nhất trong số các nhà lãnh đạo và là người duy nhất có bàn tay sạch”.
Bên cạnh bản chất liêm chính, tuổi trẻ của Pitt cũng là yếu tố mà công luận chú ý. Năm 1789, ông chưa đến tuổi 30. Các bức tranh và các bản balat thời kỳ đầu thường mỉa mai tuổi tác của ông và gọi ông là “cậu bé Billy”, còn người dân gọi ông là “Billy Pitt”. Vào những năm 1790, nhiều người biết đến thói quen uống rượu của ông và nó đã trở thành đề tài trong các bức tranh và thơ ca châm biếm. Tuy nhiên, may mắn cho ông là những thói xấu và hoạt động chính trị thiếu thận trọng của Fox đã trở thành mục tiêu bị các ấn phẩm công kích nhiều hơn. James Sayers được nhận chức “ngồi mát ăn bát vàng” là phụ trách công việc hoàng gia, vị trí thuộc Bộ Tài chính vì đã loại bỏ Fox trong cuộc khủng hoảng Dự luật Ấn Độ. James Gillray đã tặng Pitt bức biếm họa đặc sắc của mình. Pitt dán nó lên tường tòa biệt thự ở Kent và trao cho ông ta một khoản trợ cấp của chính phủ vào năm 1797. Có lẽ Pitt là người may mắn lên nắm quyền lực trong thời đại hoàng kim của nghệ thuật biếm họa chính trị 2 , do đó ông trở thành vị Thủ tướng được các ấn phẩm đề cập nhiều nhất trong thế kỷ và được dân chúng biết đến nhiều nhất.
UY TÍN CỦA PITT
Các ấn phẩm vẫn nhắc nhiều đến ông. Mặc dù rất mong được dân chúng ủng hộ, song ông không để mình trở thành công cụ của dư luận. Năm 1784, ông đã cố gắng và giành được một vị trí độc lập mà không phải phụ thuộc nhiều vào dân chúng (đó là trường đại học Cambridge, nơi ông đã gắn bó đến tận cuối đời). Ông đưa ra phương thức lãnh đạo độc lập và không mấy phụ thuộc vào dân chúng. Đây chính là yếu tố quan trọng để dân chúng đặt niềm tin vào ông. Ngay từ những ngày đầu tiên làm Bộ trưởng, ông đã xác định quan điểm sẵn sàng đánh mất uy tín với dân chúng trong một thời gian ngắn để giành lại những thuận lợi lâu dài về sau. Grenville cho rằng để có được suy nghĩ như vậy là không dễ chút nào đối với một thanh niên đang rất phấn chấn trước sự ngưỡng mộ và lòng tin của dân chúng. Năm 1785, một cuộc biểu tình ở Westminster đã xảy ra nhằm chống lại quyết định của ông về vấn đề thuế và tháng 11 năm đó, ông bị nhóm người biểu tình ném đá. Tuy nhiên, ông xem nhẹ việc này và cho rằng đó là việc khó tránh khỏi đối với những người mới bước vào hoạt động chính trị. Ông coi những cuộc biểu tình kích động này là một chướng ngại vật của hệ thống chính trị Anh và phải kiên trì giải quyết bằng những quyết định cứng rắn. Trước sự phản đối của dân chúng về việc ông quyết định tăng thuế định mức năm 1797, ông đã cương quyết “nguyên tắc hiến pháp chưa bao giờ quy định rằng những người đại diện cho dân nên xoay chuyển theo mọi mong muốn của dân”. Khi bàn về trách nhiệm của nhân dân, ông không đồng tình với quan điểm cho rằng “cơ quan lập pháp nên tham khảo ý kiến của dân chúng để đổi lấy sự an toàn của xã hội”.
Quan điểm này được nhiều người ngưỡng mộ, song nó đã khiến ông mất đi sự ủng hộ của người dân. Đầu tiên phải kể đến tín đồ đạo Tin Lành không theo nhà thờ chính thống 3 từng ủng hộ ông vào những năm 1784 với hy vọng ông sẽ noi gương người cha ủng hộ chiến dịch đòi quyền công dân của họ năm 1772. Pitt không có niềm tin mãnh liệt vào tôn giáo. Wilberforce, người theo phái Phúc âm, cho biết: “Pitt đam mê chính trị đến nỗi ông không bao giờ dành thời gian suy nghĩ kỹ lưỡng về vấn đề tôn giáo”. Ông không có tình cảm sâu sắc đối với Giáo hội Anh giáo, coi những đòi hỏi thăng cấp của linh mục là điều phiền toái nhất và quyền mà họ được hưởng thuế thập phân tính bằng hiện vật là cản trở lớn nhất đối với sự phát triển nông nghiệp. Giống như cha mình, quan điểm của ông là cần đảm bảo đầy đủ quyền chính đáng và hợp pháp cho tín đồ đạo Tin Lành. Tuy nhiên, công bằng hơn cha, bất chấp sự cảnh báo của Anh giáo, Pitt đã vận động để Đạo luật của Mitford được thông qua, đem lại quyền công dân đầy đủ và quyền được sinh hoạt tôn giáo cho tín đồ Công giáo Anh. Ở Ireland, ông còn sẵn sàng tiến hành các biện pháp mạnh hơn để ủng hộ đại đa số giáo dân Công giáo.
Tuy nhiên, năm 1787, khi các tín đồ Tin Lành tiến hành chiến dịch đòi xóa bỏ các Đạo luật Thử nghiệm và Hợp nhất nhằm hạn chế hợp pháp các buổi Thánh lễ của Anh giáo, Pitt tuyên bố phản đối và ba lần, vào các năm 1787, 1789, 1790 Pitt ngăn cản được nỗ lực đòi xóa bỏ dự luật này. Ông thừa nhận đây là hành động mang động cơ cá nhân vì ông tin vào sự hữu ích của Nhà thờ được thừa nhận là quốc giáo Chính thống. Năm 1787, khi ông tham khảo ý kiến của các giám mục, chỉ có hai người ủng hộ, do vậy ông không muốn làm ảnh hưởng đến Giáo hội Anh giáo và những người ủng hộ Giáo hội. Năm 1794, trước đề nghị của Canning về vấn đề xóa bỏ việc kiểm tra tôn giáo đối với các sĩ quan trong lực lượng vũ trang, Pitt khuyên:
Pitt phải đối mặt với một trong hai phía. Khi Pitt chịu nhượng bộ trước sự chống đối của các giám mục nhằm bãi bỏ đạo luật và tiếp đó là với các đề xuất của ông về thay thế thuế thập phân 4 bằng thuế tiền mặt, ông đã đánh mất sự ủng hộ trước đó của tín đồ đạo Tin Lành. Tuy nhiên, quyết định này đã mang lại nhiều thuận lợi trong những năm 1790. Khi đó giới tăng lữ của Giáo hội Anh giáo đi đầu trong chiến dịch vận động chống lại tư tưởng cách mạng và đóng vai trò là lực lượng tập hợp những tấm lòng yêu nước ở địa phương vào năm 1798, còn các tín đồ đứng về phía “Giáo hội và Vua Anh” chống lại những người không theo tôn giáo chính thống bất mãn đòi cải tổ Nghị viện và tán dương thành quả của Cách mạng Pháp trong việc gỡ bỏ rào cản của tôn giáo đối với hoạt động chính trị.
Nhiều nhà cải tổ Nghị viện cũng hụt hẫng khi Pitt từ bỏ quyết tâm cải tổ Nghị viện. Còn dân chúng thì hoàn toàn thất vọng. Nếu như năm 1783, ông đã nhận được 35 thỉnh nguyện thư ủng hộ thì vào năm 1785, ông chỉ nhận được 12 đơn. Năm 1787, Wywil đã thừa nhận rằng sau thất bại năm đó, đất nước thịnh vượng nhờ những thành công lớn mà ông đạt được trong hoạt động cải tổ kinh tế đã khiến “cả nước không mấy ai quan tâm đến vấn đề thay đổi Nghị viện”. Vài năm sau, Pitt đấu tranh đòi từng bước cải tổ thông lệ bầu cử dưới các hình thức như: ủng hộ biện pháp rút ngắn thời gian bầu cử và khảo sát bầu cử vào năm 1785, cho phép dân cư tạm trú ở các hạt và thành phố được tham gia bầu cử vào năm 1786, thông qua dự luật của Mahon (giờ là Bá tước Stanhope) vào năm 1788 sau khi đã ba lần bị Viện Quý tộc bác bỏ, giúp hoạt động điều hành bầu cử của đất nước trở lên tốt hơn. Tuy nhiên, năm 1789, dự luật này lại bị hủy bỏ vì vấp phải sự phản đối kịch liệt của các cử tri, đặc biệt bị 24 thỉnh nguyện thư từ các hạt thân phe đối lập phản đối, khiến toàn bộ nhiệt huyết mà ông đã dốc vào đó tiêu tan. Từ năm 1790 trở đi, ông phản đối những đề xuất mới và kiên trì với ý tưởng cải tổ Nghị viện.
Pitt hy vọng sẽ có một thời điểm mà tất cả đều nhất trí với mức độ cải tổ vừa phải, lúc đó những người đối lập sẽ vượt qua được mối lo đổi mới. Tuy nhiên, nó không giống với sự thay đổi trong cuộc Cách mạng Pháp nổ ra năm 1789 mà theo một hướng khác, đó là giành lại quyền bầu cử toàn dân mà trước đây ông từng bác bỏ. Năm 1785, khi đề nghị bổ sung những chủ sở hữu đất theo đạo luật cũ vào danh sách cử tri của hạt, ông đã tính đến việc tăng thêm đại diện cho Viện Bình dân bằng cách tăng thêm số ghế chứ không phải là mở rộng quyền bầu cử. Các nhà cải tổ bực tức vì ý tưởng của mình không thành đã buộc tội Pitt là sớm bỏ cuộc. Ông giải thích rằng ông làm thế nhằm tăng cường và bình ổn hiến pháp cũ. Tuy nhiên, nhiều người theo khuynh hướng cải tổ trong những năm 1790 xem đây là cơ hội để thay thế hiến pháp hiện hành bằng hiến pháp theo kiểu cộng hòa của Pháp hoặc Mỹ. Thông thường, những cuộc cải tổ không có cách mạng muốn thành công phải được sự nhất trí cao của các chính trị gia. Song, những năm 1790 không có những dấu hiệu này bởi sự phản đối của số đông đối với đề nghị của Grey trong năm 1793 và 1797. Pitt khẳng định: nếu đem áp đặt nhu cầu cải tổ của thiểu số đối với đa số sẽ khiến họ mất tinh thần, kích động các phần tử cực đoan và xa hơn nữa, có thể dẫn tới các bước cách mạng khác. Đây là quan điểm của Wyvill, người từng cắt quan hệ với Pitt trong những năm 1790 và cũng là quan điểm của đa số chính khách. Quý bà Holland, cháu dâu của Fox, cho biết: Pitt luôn được lòng dân ngay cả khi ông phản đối đề nghị cải tổ của Grey vào năm 1797 cũng như khi ông đưa ra đề nghị này vào những năm trước đó.
Pitt rất nhạy bén trước các vấn đề quốc gia, tuy nhiên điều này có được là nhờ bản năng hơn là kinh nghiệm giao tiếp. Năm 1800, ông thú nhận rằng mình “thiếu kinh nghiệm trong các vấn đề quốc gia”, do đó trong lĩnh vực này thường “mình ông một kiểu suy nghĩ”. Ông thiếu va chạm trong việc điều hành các cuộc tụ họp và luôn cảm thấy mất tự tin trước các buổi lễ có sự tham gia của đông đảo dân chúng. Hester Stanhone, cháu gái Pitt, cho biết vào những năm cuối nhiệm kỳ, đôi lúc Pitt yêu cầu cô phải giữ chặt cánh tay mình để tránh vấp phải những biểu hiện không lịch sự trước dân chúng; ông cũng rất căng thẳng trước sự nghênh đón của đám đông. Trên đường đi qua một thị trấn để gặp Vua Anh ở Weymouth, xe ngựa của ông đã bị một đoàn người hò reo lôi kéo đến mức sau đấy ông phải thốt lên: “Ta sợ kinh khủng!” Tuy nhiên, rất may mắn là chức Bộ trưởng Tài chính đã tạo cho ông cơ hội được thường xuyên tiếp xúc với các đại diện kinh tế trong nước. Song sự khởi đầu trong hoạt động này lại không mấy tốt đẹp bởi ông bị các nhà nắm Dự luật Hải quân, các ông chủ đua ngựa và các nhà sản xuất sợi ở Glasgow và Manchester phàn nàn về thái độ “khinh khỉnh”, “thiếu lịch sự” và “kiêu căng” khi các đại diện của họ phản đối ngân sách năm 1784 của ông. Tiếp theo, ông đã phải nhượng bộ cả ba nhóm này mặc dù không kịp ngăn cản các nhà sản xuất sợi tham gia Liên minh Sản xuất của phe đối lập và bị cảnh báo về nguy cơ cạnh tranh trong Đề xuất Thương mại ở Ireland. Ông cũng bị mất uy tín khi vừa thông báo là sẵn sàng xem xét các quyền lợi cố định thì lại bị một làn sóng thỉnh nguyện thư phản đối khiến ông lại một lần nữa buộc phải nhượng bộ trước sự phẫn nộ của các nhà sản xuất.
Tuy nhiên, ông đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ những thiếu sót của mình. Ông thận trọng chuẩn bị cơ sở lý luận khi tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với Pháp năm 1786, khi tham khảo ý kiến của từng nhà doanh nghiệp về vấn đề nhạy cảm này và cố ý không để Liên minh Sản xuất biết vì e rằng đây là sự liên kết không hợp lệ. Ông rất vui mừng vì liên minh đó đổ vỡ do mâu thuẫn nội bộ về hiệp ước thương mại Anh-Pháp. Ngay sau đó, ông tích cực khai thác thời cơ này bằng việc sẵn sàng tiếp đón các phái đoàn từ các tổ chức thương mại tư nhân ở phố Downing. Có lẽ ông đã thật sự trở thành một Thủ tướng có khả năng nhất trong lĩnh vực vận động thương mại của thế kỷ XVIII. Năm 1796, nghị sĩ Charles Abbot cho biết: “Trong những lần tiếp các chuyên gia, ông luôn thể hiện rằng những biện pháp mà mình thực hiện là hợp lý. Ngài Hawkesbury (Bộ trưởng Thương mại) thì thu hút các nhà kinh doanh qua việc thể hiện những kiến thức hiểu biết của mình về hoạt động kinh doanh thay vì lắng nghe họ nói”.
Pitt là người rất thẳng thắn. Năm 1795, trong cuộc họp với Thống đốc Ngân hàng Anh quốc, khi được hỏi về lượng vàng dự trữ quốc gia, ông thấy rất hổ thẹn vì đã đưa ra những đánh giá chưa thật chuẩn xác do chưa tự trang bị kỹ càng những kiến thức về vấn đề này. Các nhà doanh nghiệp rất ấn tượng trước cách ăn mặc giản dị và phong cách bình dân của Pitt. Trưởng phái đoàn kinh doanh rượu nhận xét: “Không có ‘khái niệm mốt’ đối với một người như Pitt. Trông ông như đến từ một trường đại học”. Ông có thói quen mím môi khi đang tập trung một vấn đề gì đó. Pitt yêu cầu các nhà doanh nghiệp thường xuyên thông báo cho ông về tình hình công việc và nhu cầu của họ. Một nhà sản xuất sợi đã thật sự ấn tượng trước lượng kiến thức khổng lồ của ông, với trí nhớ đặc biệt phi thường: “Người ta cứ ngỡ ông đã sống ở vùng đất Thánh”. Khi phái đoàn phản đối đề nghị tăng thuế sợi vào năm 1796, ông ứng phó hoàn toàn khác những gì mà đối tác của họ từng làm vào năm 1784: “Ông đã đặt ra câu hỏi và trả lời, đồng thời tuyên bố phản đối rất thuyết phục và cuối cùng kết luận rằng ông không đánh thuế ngành sản xuất dệt may, cũng không đánh thuế nhiên liệu thô mà chỉ đánh thuế đối với mặt hàng sợi”. Pitt đã nhận thấy hạt Lancaster rất ủng hộ chính phủ.
Những thành quả trong kinh doanh đã giúp quan hệ của Pitt với thành phố London trở nên thuận lợi hơn, nhất là lại được trợ giúp thêm từ hoạt động của những người trung gian có thế lực. Pitt không có bạn thân ở trung tâm chính trị của thành phố giống như quan hệ của cha ông với William Beckford. Tuy nhiên, bạn bè ông lại có những mối ràng buộc rất chặt chẽ với thành phố. Dundas là chỗ thân quen với cộng đồng thương mại dệt len Scotland ở London, con gái thứ hai của Dundas có hai đời chồng làm chủ ngân hàng Scotland. Dundas cũng là người mang lại vai trò quan trọng cho nhóm Scotland trong hoạt động điều hành của Ban giám đốc Công ty Đông Ấn những năm 1790. Quan trọng hơn là ông có quan hệ thân thiết với London và Robert Smith − chủ ngân hàng Nottingham. Hai người quen nhau ở Câu lạc bộ Goosetree và trở nên thân thiết khi có chung quan điểm cải tổ Nghị viện vào đầu những năm 1780. Khi Pitt làm Quản lý Cụm cảng Cinque, ông đã đưa Smith lên làm chủ lâu đài Deal ngay cạnh nơi ở của Pitt tại Walmer. Cháu gái của Pitt cho biết ông từng tâm sự là “rất cần có ai đó ở bên cạnh để giúp ông tiếp đón những người khách đến từ London − một công việc vừa nhàm chán, vừa tốn kém”. Ngay cả khi không còn làm việc ở ngân hàng và được Pitt phong cấp quý tộc ở Ireland năm 1796, sau đó là ở Anh (là nghị sĩ Carington) năm 1797, Smith vẫn duy trì các mối quan hệ ở London theo yêu cầu của Pitt. Uy tín của Pitt ở London ngày càng gia tăng khi ông sẵn sàng hạn chế cơ hội của các chủ ngân hàng và các doanh nhân lâu năm để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ doanh nghiệp mới bước vào nghề. Ông mời gọi các nhà kinh doanh mới tham gia cạnh tranh. Giữa những năm 1790, khi nhận được sự ưu đãi này, Walter Boyd − cựu Giám đốc Ngân hàng Paris, người Scotland, một nhân vật mới trong làng kinh doanh − đã đứng lên thành lập tập đoàn. Người này có tiềm lực tài chính rất lớn, có thể đáp ứng được nhu cầu cấp bách của Pitt trong chiến tranh. Mặc dù giữ cương vị là người bảo vệ Công ty Đông Ấn, ông vẫn gặp phải những cuộc va chạm với các cơ sở lớn ở London. Quyền lực độc lập và tối cao của Pitt đối với các cơ sở này qua vụ việc bôi nhọ Warren Hastings (1786) và qua Đạo luật Giải thích năm 1788 đã cho thấy “lợi ích của Ấn Độ” trước đây trong Công ty Đông Ấn. Trong khi đó, Ngân hàng Anh quốc lại bất bình trước việc Pitt chiếm dụng tiền lãi cổ phần chưa được công bố trong những năm 1790 và hậu quả của việc chuyển tiền ra nước ngoài để cân bằng giá vàng mà Pitt đã thực hiện giữa năm 1790. Tuy nhiên, nhờ sự ổn định về kinh tế và chính trị vào thời điểm này mà Pitt đã lấy lại được lòng tin của dân chúng. Khi có tin đồn ông sắp từ chức, trong 25 phút, thị trường chứng khoán đã giảm 3,5%. Suốt một năm sau cuộc Khủng hoảng chế độ nhiếp chính, William đã ghi lại “tâm trạng của mọi người tại Royal Exchange 5 và Lloyd’s Coffee-rooms 6 , chưa bao giờ chính quyền Anh lại được giới thương mại và tiền tệ đánh giá cao như vậy. Cả thành phố đều lo sợ ngành tài chính mà mất Pitt thì như ngai vàng mất Vua Anh“.
Pitt luôn thể hiện là người bảo vệ lợi ích của London. Năm 1793, ông đã thuyết phục Nghị viện thực hiện một bước chưa từng có trong tiền lệ là đề nghị cấp vốn giúp các thương gia là nạn nhân của cuộc khủng hoảng tiền tệ sau cuộc chiến với Pháp. Ông rất trân trọng sự ủng hộ của London với mình. Mặc dù không hoàn toàn giống như những gì Disraeli viết sau này, rằng Pitt được lòng tất cả các nghị sĩ “từ ngõ hẻm của thành phố Lombard đến các tòa nhà ở Cornhill”, song Pitt rất nâng niu những tình cảm này. Khi giới thiệu chức Bá tước cho James Sanderson vào tháng 11/1794, ông đã thuyết phục Vua Anh rằng “điều này rất có lợi cho London”. James Sanderson (Thị trưởng London từ 1792-1793) và William Curtis (Thị trưởng London từ 1795-1796) đều là những nhân vật quan trọng duy trì sự trung thành của London với Pitt trong năm 1795 đầy khó khăn. Quan hệ giữa Pitt và London là quan hệ rất có ý nghĩa. Nó mang lại thuận lợi cho cả hai bên, đặc biệt trong cơn sốt giá vàng tháng 2/1797, khi đó tại cuộc họp ở Viện Mansion, quyết định hoãn đổi tiền lấy vàng của ông đã được các thương gia hàng đầu tán thành và nhất trí rằng tiền mặt là đơn vị trao đổi hàng hóa hợp pháp, từ đó đã mở ra lối thoát về chính trị cho ông và về tài chính cho các thương gia.
Đối với Pitt, London không chỉ có ý nghĩa về sức mạnh tài chính mà còn về ảnh hưởng của nó đối với cộng đồng thương mại trên cả nước. Bạn bè và những người ủng hộ của Pitt cũng thường sử dụng ảnh hưởng của họ ở địa phương. Do đó, giống như những người tiền nhiệm, Pitt đã dùng hệ thống thông tin đại chúng để truyền tải những nội dung đã công bố đi khắp cả nước. Ông cho rằng cần tuyên truyền rộng rãi những thông tin chính phủ đã công bố. Ông khuyến khích Viện Bình dân tăng cường hoạt động in ấn các dự luật do nghị viện ban hành và báo cáo của các ủy ban − một nhiệm vụ đã được Viện Bình dân đảm trách từ cuối những năm 1770. Báo Thương mại Ireland năm 1785 đã trở thành tờ báo đầu tiên có đầy đủ các số báo về các phiên họp của Viện Bình dân được in gần giống với phong cách hiện đại. Pitt rất lạc quan cho rằng: “Phe đối lập và những kẻ có mưu đồ xấu khó có thể tìm ra những chủ đề chạy theo thị hiếu của công chúng nếu các vấn đề được trình bày đều đúng sự thật và được giải thích xác đáng”. Báo cáo đầu tiên của Ủy ban Cơ mật về các tổ chức cấp tiến năm 1794 bán rất chạy và được Debrett tái bản. Có 14 báo cáo về tệ buôn bán nô lệ được ra mắt năm 1790, cộng thêm bốn báo cáo nữa trong năm 1791; hai báo cáo, một phụ lục, một phụ trương của Ủy ban Cơ mật trong năm 1794; sáu báo cáo, một phụ lục về tình trạng tăng giá gạo trong năm 1795-1796 (đến năm 1800 thêm sáu báo cáo nữa) và 36 báo cáo của Ủy ban Tài chính trong năm 1797-1798. Thông tin được tuyên truyền rộng rãi trong thế kỷ XVIII là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao nhận thức chính trị cho công chúng và tạo cơ hội để họ tham gia đóng góp ý kiến. Mọi người đều cho rằng khi xuất bản một dự luật nghĩa là đã kêu gọi công chúng cùng bàn thảo về dự luật đó. Trong những năm 1790, Viện Bình dân được lệnh in hầu hết các dự luật đã ban hành. Sau khi Dự luật Tế bần của Pitt được công bố vào tháng 12/1796, hàng loạt thỉnh nguyện thư phản đối đã khiến ông phải hủy bỏ dự luật này.
Ông nhận thấy Nghị viện là một công cụ hữu ích để gây ảnh hưởng đối với dư luận. Bức thông điệp của Vua Anh tại phiên khai mạc Nghị viện hay báo cáo về ngân sách của Pitt là những nội dung mang tin vui tới khắp cả nước. Trái lại, mùa thu năm 1793, khi cuộc chiến với Pháp diễn biến theo chiều hướng xấu, Pitt đã nói với Chủ tịch Viện Bình dân rằng ông hy vọng sẽ không phải triệu tập cuộc họp Nghị viện trước Giáng sinh, tuy nhiên “nếu các âm mưu gây rối của lực lượng phản động thành công, chúng ta sẽ phải tổ chức họp bằng mọi giá”. Nghị viện là một diễn đàn để thảo luận, qua đó ông có thể tăng cường ảnh hưởng của mình. Khi diễn ra cuộc khủng hoảng lương thực vào cuối năm 1800, ông cho rằng “chỉ có triệu tập Nghị viện mới có thể ngăn cản được sự phát triển của mâu thuẫn và bất đồng nội bộ và khiến dân chúng phải kính phục. Thậm chí có thể không thực hiện được giải pháp quan trọng nào về lập pháp, song chất vấn và thảo luận Nghị viện bao giờ cũng có hiệu quả hơn nhiều so với việc xoa dịu dư luận và ngăn chặn tư tưởng sai trái”. Khi tiến hành họp Nghị viện, ông quyết định thành lập một ủy ban điều tra nhằm ghi lại toàn bộ những gì chính phủ đã làm được để giải quyết khủng hoảng. Trên thực tế, những người đứng đầu phe đối lập đã tính đến chuyện sẽ đưa ông vào thế bất lợi với việc tạo ra khoảng cách giữa ông với Nghị viện trong năm 1797. Họ cho rằng nếu làm được điều này sẽ khiến ông mất đi nơi mà ở đó ông có thể bảo vệ các biện pháp của mình, đồng thời tước đi cơ hội để ông tạo dư luận và khẳng định mình.
Kỹ năng thảo luận đã đem lại cho Pitt rất nhiều thuận lợi khi các cuộc thảo luận ở Nghị viện được tự do công bố nhờ vào thắng lợi của chiến dịch tự do báo chí mới giành được trong thời gian gần đó. William Windham mô tả phong cách thảo luận của ông rất rõ ràng và đạt đến mức “dường như ông là đối tượng duy nhất giảng giải vấn đề ông đã trình bày cho mọi người qua phương tiện truyền thông”. Như mọi chính phủ khác, Pitt rất quan tâm đến hoạt động báo chí. Việc đầu tư 1.239 bảng vào báo chí để đảm bảo thắng lợi của ông trong tám tháng đầu năm 1784, trong đó 229 bảng cho chủ hãng in Stockdate phụ trách “xuất bản các cuốn sách mỏng bàn về vấn đề thời sự và các ấn phẩm khác nhau”, 200 bảng cho tác giả các bài báo, số còn lại đầu tư cho ba trong tám nhật báo và ba trong chín tuần báo của London. Theo William Woodfall, nghị sĩ Mahon, anh rể của Pitt và là chủ hãng in, dù rất mệt mỏi song không thể từ chối in các bài phát biểu của Pitt. Năm 1788, Woodfall đã xuất bản một bài phát biểu quan trọng của Pitt về cuộc Khủng hoảng chế độ nhiếp chính trước năm ngày so với Fox, 100.000 bản sao được in và phát tán khắp cả nước. Trong cuộc chạy đua báo chí vào thời điểm diễn ra Khủng hoảng chế độ nhiếp chính và cuộc bầu cử năm 1790, trong số 14 nhật báo London, Nội các đã tài trợ cho bảy tờ, phe đối lập tài trợ cho sáu tờ trong năm 1792. Các khoản đầu tư vào hoạt động báo chí của Nội các bao gồm tiền trả cho người viết báo và sách tuyên truyền. Walpole ước tính trong mười năm cuối, mỗi năm Nội các đã phải chi trả gần 5.000 bảng. Vì lý do này, Nội các đã thay đổi chiến thuật. Cuối năm 1792, Nội các thành lập hai nhật báo mới là Sun và True Briton để dễ điều hành và không phải trực tiếp trả tiền cho các báo khác. Cùng với ba tuần báo, hai nhật báo này thường xuyên được gửi qua bưu điện tới các tòa soạn có uy tín của tỉnh bằng kinh phí của Nội các để phổ biến thông tin rộng rãi.
Pitt thường để người khác điều hành hoạt động báo chí. Sau này, Grenville viết rằng các bài phát biểu về Quỹ chìm năm 1786 và lời đối đáp với đề nghị hòa bình của Bonaparte năm 1800 là hai bài viết duy nhất mà Pitt đã hiệu đính cho báo. Mặc dù vậy, Montague − một phóng viên rất năng động − tiết lộ rằng ông được Grenville và Mornington yêu cầu viết lại bài phát biểu về ngân sách năm 1792 của Pitt, nhưng sau đó bài này đã được chính Pitt hiệu đính (được đăng trên báo và xuất bản thành sách mỏng). Một vài người cho biết, trong số các bài viết được in dưới dạng sách mỏng, Pitt đã sửa bài phát biểu ngày 31/11/1799 theo chiều hướng ủng hộ sự thống nhất giữa Anh và Ireland. Vì vậy, bài phát biểu này xuất hiện dưới hai phiên bản khác nhau, trong đó có một phiên bản được in ít nhất bảy lần. Pitt có vai trò rất quan trọng đối với người viết sách. Cả Burges vào năm 1792 và Auckland năm 1795 đều được Pitt giúp đỡ và góp ý về những cuốn sách của họ.
Thông qua Nghị viện và báo chí, những bài viết về quyết tâm cao độ của Pitt nhằm khôi phục lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tài chính nhà nước, đối với ngành thương mại và uy tín của Anh đối với quốc tế giữa những năm 1784-1787 đã khiến ông nổi danh hơn. Dân chúng nồng nhiệt ủng hộ các biện pháp cắt giảm các vị trí không cần thiết của Pitt. Mâu thuẫn giữa ông với các nhà sản xuất sợi của Glasgow đã tan biến khi ý tưởng thành lập Quỹ chìm để trả nợ quốc gia của ông có triển vọng. Cả thành phố London hết lời ca ngợi tác động của nó đối với việc tăng giá trị cổ phiếu, đem lại sự ổn định cho ngành tín dụng. Cùng với những thành công về ngoại giao trong việc lật đổ sự cai trị của Pháp, phục hồi chế độ ủng hộ Anh ở Hà Lan vào mùa thu năm 1787, Wraxall đã viết rằng “từ trước tới giờ chưa có ai có được uy tín với dân chúng như Pitt”. Năm 1788, Pitt gặp khó khăn do phải đối mặt với cuộc suy thoái kinh tế và các cuộc biểu tình chống lại Đạo luật Giải thích về Đông Ấn. Tuy nhiên, cuộc Khủng hoảng chế độ nhiếp chính tiếp theo vào tháng 9 năm đó lại là cơ hội để dân chúng thấy rõ ông xuất sắc hơn so với những vị thủ tướng khác. Trong khi giải quyết khủng hoảng, ông đã khéo léo thể hiện mình vừa là người bảo vệ Vua Anh vừa là người bảo vệ Nghị viện, đặc biệt khi Vua Anh đã hồi phục sức khỏe, như quý bà Stafford viết: “Ngài Pitt rất có uy tín đối với dân chúng trong suốt năm năm qua, song chưa bao giờ ông được mến mộ như lúc này”.
Sự mến mộ của dân chúng là điều hết sức quan trọng giúp ông vượt qua hàng loạt các sự kiện bất trắc dẫn đến sự thay đổi rõ rệt về mặt chính trị trong những năm 1790: luồng tư tưởng ủng hộ quan điểm cấp tiến được Cách mạng Pháp thổi bùng; khủng hoảng kinh tế trầm trọng do hậu quả của chiến tranh; lạm phát; mất mùa vào năm 1792, 1794-1795 và 1799-1800. Chỉ cần riêng những sự kiện đơn lẻ này đã có thể gây ra sự bất ổn định trật tự xã hội và luật pháp. Vậy mà chúng lại diễn ra đồng thời, khiến những năm 1790 trở thành một giai đoạn khủng hoảng nối tiếp khủng hoảng có thể đánh gục bất cứ một chính phủ nào. Tuy nhiên, cũng từ đây, những người có quan điểm bất đồng với ông về vấn đề xã hội và kinh tế tìm thấy lối thoát chính trị. Sau mỗi cuộc khủng hoảng họ đều kích động và làm tăng số người yêu cầu cải tổ Nghị viện, chấm dứt chiến tranh và chấm dứt Nội các của Pitt. Cuối năm 1795, sự bất mãn của dân chúng lên tới đỉnh điểm khi một nhóm người cực đoan đã tấn công vào xe chở Vua Anh, trước phiên khai mạc Nghị viện. Mùa xuân năm 1798, một cuộc nổi dậy đã nổ ra ở Ireland.
Vào thời điểm rối ren này, khi các phần tử chống đối chính trị cũ và các phần tử cấp tiến mới thuộc tầng lớp thượng lưu và trung lưu đang tìm cách lôi kéo sự ủng hộ của dân chúng để chống lại Pitt, họ vẫn thấy Pitt luôn sẵn sàng vận dụng năng lực và kinh nghiệm của mình để vận động dư luận chống lại họ.
KÊU GỌI DÂN CHÚNG THAM GIA HOẠT ĐỘNG CHÍNH TRỊ
Khác với các chính phủ trước, Pitt đã thành công trong việc giành được sự ủng hộ của các khu vực cử tri lớn trong các cuộc bầu cử. Fox từng tuyên bố “Yorkshire và Middlesex, hai khu vực này làm nên cả nước Anh”. Vậy mà trừ một ghế ở Middlesex bị mất trong khoảng thời gian giữa năm 1790-1794, Pitt đã giành thắng lợi và nắm cả bốn ghế ở hạt. Năm 1784, Pitt đã rất sốt sắng ủng hộ nỗ lực của Wilberforce giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử dân biểu ở hạt Yorkshire, với việc cung cấp thông tin cho ông ta về cuộc họp quyết định của hạt vào ngày 25/3, đồng thời tích cực vận động những người có ảnh hưởng đến cuộc bầu cử ở hạt. Ông đã tạo ra được vai trò quan trọng đặc biệt đối với 12 ghế của hạt và khu vực hành chính thuộc London khi góp 14.000 bảng trong số 31.847 bảng mà Vua Anh đã chi cho các cuộc bầu cử năm 1784 và đã giành được chín ghế. Mặc dù bị mất hai ghế vào tháng 9/1788, ông vẫn giành lại được một ghế vào năm 1790 và nắm tám ghế vào năm 1796. Mong muốn của ông là giành được số ghế tối đa ở Wesminster, một hạt có uy thế và lớn nhất cả nước. Năm 1784, nghị sĩ Hood, vị anh hùng hải quân, ứng cử viên của Pitt và cũng là người có quan hệ họ hàng với ông đã dễ dàng đứng đầu trong cuộc bầu cử, còn Fox chật vật tái đắc cử ở vị trí thứ hai trong cuộc ganh đua không lành mạnh (tiêu tốn 9.000 bảng trong khoản chi phí cho bầu cử của Vua Anh). Pitt miễn cưỡng từ bỏ cơ hội giành chiến thắng tuyệt đối, thay vì tiếp tục tham vọng này, ông bắt đầu xét lại cuộc bầu cử tốn thời gian mà vẫn thất bại trong việc loại bỏ Fox ra khỏi vị trí quyền lực. Tuy nhiên, Wesminster vẫn là mục tiêu quan trọng đối với Pitt. Khi ghế của Hood bị mất trong một cuộc bầu cử lộn xộn khác – một phần do dự luật đánh thuế cửa hàng của ông không được ủng hộ, Pitt đã từ bỏ ghế này vào năm sau. Trước cuộc tổng tuyển cử năm 1790, Pitt đã đi đến thỏa thuận với phe đối lập để mỗi bên có một ghế ở Wesminster nhằm chấm dứt cuộc tranh giành tốn kém này.
Pitt tiến bộ hơn các vị Thủ tướng khác ở chỗ ông luôn kêu gọi sự ủng hộ của dân chúng ngay cả thời điểm giữa các cuộc bầu cử. Ông là Thủ tướng đầu tiên lấy ý kiến của dân chúng để gây áp lực đòi cải tổ Nghị viện thông qua hình thức thỉnh nguyện thư, trong đó ông giữ vai trò là người chủ trì. Ông đã hai lần làm điều này. Lần đầu liên quan đến vấn đề cải tổ Nghị viện năm 1788. Lần thứ hai là trong cuộc vận động bãi bỏ luật buôn bán nô lệ, khi đó ông đã phải đứng lên làm thay Wilberforce đang nghỉ ốm và ông đã vận động được hơn 100 thỉnh nguyện thư yêu cầu Nghị viện phải xem xét lại vấn đề này. Trên cương vị của mình, Pitt đã cung cấp thông tin từ các cuốn sổ đăng ký ở phòng thuế cho dân chúng thông qua báo cáo của ủy ban thuộc Hội đồng Tư vấn Thương mại. Phong trào bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ được triển khai thông qua mạng lưới các cơ quan và ủy ban địa phương phối hợp với ủy ban trung ương ở London. Các bài tuyên truyền của phát thanh viên lưu động, các bài báo và thỉnh nguyện thư đã kích động công chúng. Đây là hình thức mới lần đầu tiên được áp dụng cho các tổ chức cải tổ ở thế kỷ XIX. Sự ủng hộ bằng cả lời nói và hành động của Thủ tướng đã giúp phong trào bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ phát triển nhanh chóng và rộng rãi. Mỗi khi diễn ra các cuộc thảo luận Nghị viện về phong trào này trong các năm 1789, 1791 và tháng 4/1792, Pitt đều lên tiếng ủng hộ và đã được 514 thỉnh nguyện thư đại diện cho 400.000 người tán thành. Trong dịp này, ông đã có một bài phát biểu nổi tiếng nhất trong đời mình, sau này được nhà xuất bản ủng hộ việc bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ phát hành thành sách mỏng. Năm 1792, Viện Bình dân nhất trí từng bước bãi bỏ chế độ buôn bán nô lệ, mặc dù vẫn bị những người ủng hộ hình thức này phản đối trước Viện Quý tộc. Số lượng thỉnh nguyện thư phản đối buôn bán nô lệ tăng nhanh chưa từng có và được trình Nghị viện vào bất cứ thời điểm nào có thể khiến Pitt cảm thấy rất bất ngờ. Khi phong trào cải tổ chính trị cấp tiến lại nổi lên, Pitt đã phải thừa nhận rằng đây là “một tiền lệ xấu”. Tuy nhiên, khi đưa ra “Hai luật” để hạn chế các hình thức biểu tình của dân chúng năm 1795, ông vẫn duy trì quyền gửi thỉnh nguyện thư đến Nghị viện của nhân dân.
Tuy vậy, thỉnh nguyện thư là một cách mà Pitt ít vận dụng nhất để vận động sự ủng hộ của dân chúng. Trong lĩnh vực này, ông thường thành công hơn ở hình thức kêu gọi Vua Anh. Ông học được kinh nghiệm này từ nghị sĩ North. Chỉ với một tuyên bố của Hoàng gia đã có 158 lời kêu gọi ủng hộ chính sách đối với Mỹ mà ông ta đưa ra trong năm 1775. Với Pitt, cách làm này đã đem lại cho ông thành công lớn nhất trong năm 1784. Cuộc đấu tranh chống lại Dự luật Ấn Độ của Fox mà Pitt đã thực hiện là cơ hội quan trọng kích động dân chúng. Lần đầu tiên ông nhận được sự ủng hộ của cả thành phố London khi tấn công vào đặc quyền của Công ty Đông Ấn. Các ông chủ Đông Ấn thành lập ủy ban bảo vệ quyền lợi và vận động các tập đoàn có đặc quyền trong công ty trên khắp cả nước ủng hộ. Vào thời điểm đó, London là nơi đầu tiên đưa ra lời kêu gọi ủng hộ quyết định thay thế các bộ trưởng của Vua Anh và khơi mào cho phong trào này trên cả nước. Những người theo Pitt đã vận động dân chúng ở địa phương ủng hộ ông. Phong trào này lại được tiếp thêm sức mạnh và trở nên mạnh mẽ hơn khi có sự bảo vệ của hiến pháp chống lại liên minh các đảng phái tham nhũng. Năm sau đó, Thị trưởng Cartwright, một nhà cải tổ, phải kết luận rằng liên minh Fox North đã bị đánh gục bởi “tiếng nói của những người dân” ủng hộ Pitt vì họ hy vọng sẽ thấy nhân cách của một con người tài hoa và trung thực. Có tất cả 191 tuyên bố ủng hộ Vua Anh và Pitt kể từ lời kêu gọi đầu tiên của thành phố London vào tháng 1/1784 đến những lời kêu gọi cuối cùng vào ngày 7/4, “từ những đối tượng trung thành nhất của Vua Anh đến những ông chủ đất ở quần đảo Orkney”, tất cả đều được in trên báo chí London để đối chọi với tám tạp chí đứng về phía Liên minh. Vũ khí này đã được Pitt sử dụng thành công vào thời điểm cần thiết nhất và sau này nó cũng được Pitt vận dụng trong những giờ phút hiểm nguy. Suốt cuộc Khủng hoảng chế độ nhiếp chính năm 1788-1799, các bộ trưởng đã tìm kiếm làn sóng kêu gọi mới nhằm “đòi đại diện của mọi bộ phận đều được tham gia nhiếp chính để tiếp tục duy trì chính phủ”. Kể từ những lời kêu gọi đầu tiên ngày 26/12/1788 đến ngày 19/1/1789, đã có 45 lời kêu gọi ủng hộ Pitt đến từ các thị trấn và hạt cùng nhiều bản khác đang tiếp tục được chuẩn bị, trong khi đó các đối thủ vẫn đang vận động, thậm chí mới bắt đầu vận động. Lại một lần nữa Pitt giành được chiến thắng áp đảo trong cuộc chiến giành giật sự ủng hộ của dân chúng. Ông cảm thấy rất vinh dự khi nhận được 756 lời kêu gọi trung thành với Vua Anh với nội dung bày tỏ thái độ hân hoan trước việc ngài phục hồi sức khỏe vào mùa thu năm 1789. Có lẽ thành công này cùng với sự phục hồi kinh tế nhanh chóng sau Chiến tranh Hoa Kỳ đem lại thịnh vượng cho đất nước đã khiến Pitt rất kiêu hãnh vì Anh đã không bị ảnh hưởng chút nào từ cuộc Cách mạng Pháp trong suốt ba năm kể từ khi nó bắt đầu nổ ra. Tháng 5/1791, Pitt phát biểu trước Viện Bình dân rằng ông không nghĩ Cách mạng Pháp hay bất kể một hiến pháp mới nào lại có thể đem áp dụng ở quốc gia này. Đến tháng 9, ông khẳng định với Burke, một người rất hay tung tin đồn xấu: “Rút kinh nghiệm từ Cách mạng Pháp, chúng ta sẽ đi theo hướng của chúng ta cho đến một ngày nào đó xã hội sẽ phán xét”. Tuy nhiên, khi phải đối mặt với sự lớn mạnh của các tổ chức cấp tiến dẫn tới các cuộc biểu tình hỗn loạn làm dân chúng bị kích động, việc đầu tiên ông làm là phát đi tuyên bố của Hoàng gia vào ngày 21/5/1792 chống lại “diễn biến có xu hướng trở thành bạo loạn” và kêu gọi chống bạo loạn. Một lần nữa ông lại được dân chúng hưởng ứng ngay lập tức. Ngày 13/6, Grenville tuyên bố: “Mọi việc đang diễn ra rất suôn sẻ”. Ngày 1/9, có 71 lời kêu gọi từ các hạt và 315 lời kêu gọi từ các thành phố và thị trấn ủng hộ tuyên bố của Hoàng gia. Xét từ các góc độ khác nhau, cách Pitt giải quyết khó khăn trong những năm 1790 đều dựa trên kinh nghiệm ông tích lũy được từ những thập kỷ trước. Pitt luôn ý thức rằng chính phủ sẽ không thể đứng vững nếu không được nhân dân ủng hộ. Chỉ có một vài biện pháp cưỡng bức là không cần phải có sự tham gia của dân chúng. Năm 1785, nỗ lực thiết lập lực lượng cảnh sát London của chính phủ không thành. Năm 1786, Pitt có ý định thành lập lực lượng cảnh sát ở Dublin, nhưng cuối cùng ông áp dụng hình thức giảm nhẹ hơn đối với riêng thành phố này khi vận động Nghị viện thông qua Đạo luật Phán xét Middlesex vào năm 1792. Tuy nhiên, xét cho cùng, chính phủ vẫn phải phụ thuộc vào dân chúng nhằm thu thập thông tin để khởi tố và có vai trò như là lãnh đạo địa phương, dân quân hay Ban bồi thẩm. Đầu năm 1784, ông đã nói với Bộ trưởng Ireland rằng “chính phủ sẽ không bao giờ đạt được bất cứ mục đích cao đẹp nào nếu chính phủ đơn thuần chỉ được điều hành bởi các nghị sĩ trong Nghị viện mà không được dân chúng thường xuyên ủng hộ. Chúng ta có thể duy trì được Nghị viện nhưng sẽ mất nhân dân”. Năm 1800, ông nói với các hạ nghị sĩ: “Nếu đại đa số nhân dân không trung thành, mọi biện pháp của Nghị viện sẽ vô ích”. Ông nhận thấy mình cần phải có được sự ủng hộ của dân chúng và ông có đủ lòng tin để làm được điều này.
Có ba sợi dây liên kết với nhau tạo nên chính sách của Pitt trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng những năm 1790. Tất cả các yếu tố này đều xuất hiện từ những năm 1780. Chúng được thể hiện qua lời khuyên của ông đối với Quan đại diện nhà vua ở Ireland, khi xảy ra cuộc nổi loạn của dân chúng tại đây vào năm 1784-1786 hoặc trong cách ông vận động sự ủng hộ của họ. Một là, chính phủ sẽ không thể đứng vững nếu không có quan điểm đúng đắn. Ông khuyên Rutland đầu hàng vì những lý do hợp lý, thậm chí có thể chịu tiếng là yếu kém. Cần phải làm rõ những thiếu sót và quyết tâm sửa sai, đồng thời xác định không mắc phải những sai lầm đó nữa. Hai là, khi xảy ra bạo loạn, phải tăng cường thực thi luật pháp và nghiêm trị những âm mưu vi phạm pháp luật. Ba là, huy động sự ủng hộ của dân chúng đối với vai trò lãnh đạo mà chính phủ giao phó.
XÁC ĐỊNH QUAN ĐIỂM ĐÚNG ĐẮN
Năm 1784, Pitt nhận thấy nhiệm vụ quan trọng lúc này không phải là đấu tranh mà là phải xác định một quan điểm đúng đắn. Khác với những năm 1780, quan điểm đúng lúc này không phải là cải tổ Nghị viện. Pitt coi đây là nhu cầu của bộ phận thiểu số và giống như ở Pháp và một số nơi khác, nó được chấp nhận vì phải nhượng bộ chứ không phải là thành tâm. Do sự phản đối ầm ĩ của những người có khuynh hướng cải tổ, đề nghị của Grey vào tháng 5/1793 chỉ nhận được 36 thỉnh nguyện thư ủng hộ, trong đó chỉ có 12 thỉnh nguyện thư từ Anh (không nhiều hơn số lượng Pitt có được trong năm 1785), số còn lại là từ Scotland. Pitt đặt ra câu hỏi: “Liệu để hài lòng số ít người này, chúng ta có đáng phải mạo hiểm để cho cả tập thể lớn bị kích động và căm ghét chúng ta hay không?” Tuy nhiên, trong các năm 1792, 1793, 1797, trong khi kiên trì phản đối cải tổ Nghị viện ở Anh thì ông vẫn phải chấp nhận cải tổ Nghị viện ở Ireland khi gây sức ép đối với những tín đồ Tin Lành chấp nhận quyền bầu cử của đa số tín đồ Công giáo La Mã vào năm 1793. Bị các tín đồ Công giáo phản đối, ông đã tâm sự với Dundas rằng ông bị rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, đe dọa cũng không được mà nhượng bộ cũng không xong. Có quá nhiều lý do để nghĩ rằng những người theo giáo phái này bị kích động và sẽ tiếp tục bị kích động vì họ không được nhượng bộ hợp lý. Pitt cũng kiên trì với chân lý tự do như luật pháp cần phải thay đổi để đảm bảo công bằng cho xã hội. Ông ủng hộ các luật đòi quyền công dân cho tín đồ Công giáo Anh (1791) và Ireland (1792), trong đó luật năm 1792 kích động nhu cầu bầu cử của tín đồ Công giáo. Cũng trong năm 1791-1792, ông ủng hộ điều luật của Fox chuyển tội phỉ báng sang bồi thẩm nhân dân thay vì xét xử ở tòa án như trước, đây cũng là mục tiêu mà cha Pitt từng đấu tranh.
“Quan điểm đúng đắn” theo Pitt lúc này là sự thịnh vượng và phát triển kinh tế và nó đã làm phai mờ nhu cầu cải tổ Nghị viện ở thập kỷ trước. Trong bài phát biểu về ngân sách tháng 2/1792, ông đã liên hệ sự lớn mạnh của đất nước với sự tự do của hiến pháp Anh. Khi sự thịnh vượng của đất nước bị suy tàn do ảnh hưởng của cuộc chiến với Pháp và tình trạng khan hiếm lương thực, Pitt đủ nhanh nhạy để nhận thức được giá trị lâu dài trong thuyết tự do thương mại của Adam Smith. Cần phải có sự can thiệp chính trị để xoa dịu tình hình. Khác với những người cứng nhắc chỉ theo chủ nghĩa duy ý chí về kinh tế trong chính phủ như Grenville và Portland, ông sẵn sàng thử các biện pháp ngắn hạn chọn lọc như: cấp vốn nhà nước cho các thương gia chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc Khủng hoảng tiền tệ năm 1793; chính phủ mua lương thực từ thị trường quốc tế để xoa dịu nạn đói năm 1795; thành lập Công ty Bột mỳ London dưới sự bảo trợ của nhà nước nhằm ổn định giá cả thị trường vào năm 1800. Pitt áp dụng các biện pháp truyền thống để giải quyết cuộc khủng hoảng lương thực thông qua việc cấm xuất khẩu lương thực, đề nghị tặng thưởng để động viên tăng năng suất hoặc bảo đảm giá cả ở mức tối thiểu nhằm khuyến khích việc nhập khẩu lúa gạo.
Thậm chí, ngay cả ở những lĩnh vực mà ông áp dụng lý thuyết mới về thị trường, ông cũng tìm cách dung hòa giữa yếu tố lợi nhuận và nhân đạo. Nội các của ông đã bảo vệ được nguồn tài chính của phong trào hội ái hữu − một tổ chức tự lực lớn nhất của tầng lớp lao động trong thế kỷ XVIII, XIX (đông hơn gấp nhiều lần so với tổ chức công đoàn) khi George Rose, Bộ trưởng Tài chính của Pitt, vận động để Luật hội ái hữu được thông qua vào năm 1793. Ông phản đối việc đặt ra mức lương tối thiểu đối với người lao động vào năm 1796 và năm 1800, nhưng thay vào đó, ông lại tìm ra giải pháp toàn diện giải quyết khó khăn cho những người dân có thu nhập thấp với việc “tham khảo ý kiến mở rộng của nhiều người” để đưa ra Luật Tế bần mới. Ông ủng hộ chủ trương bổ sung tiền lương từ khoản cứu trợ mà các thẩm phán đã bàn tính. Vấn đề này được đưa ra trong cuộc họp mặt các thẩm phán Berkshire tại Speenhamland năm 1795. Ông muốn duy trì trợ cấp gia đình, “các trường công nghiệp” đào tạo nghề cho những người có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo, người cao tuổi hay bị đau yếu được nhận tiền trợ cấp bổ sung của giáo xứ cùng với nhiều lợi ích khác do hội ái hữu mang lại. Tuy nhiên, ý tưởng này không thành do chi phí cho hoạt động này quá cao, đúng vào thời điểm thuế nhà nước và thuế địa phương tăng.
Các hoạt động được gọi là “sửa sai” của Pitt dường như có hiệu quả hơn vào thời điểm trước hoặc sau khi cuộc chiến bắt đầu vào năm 1793. Còn sau đó, các dự án cải tổ kinh tế và xã hội thường thất bại vì vấn đề kinh phí và sự phức tạp của hoạt động này đều vượt quá khả năng mà thực tế cho phép, trong khi Pitt đang cần phải tập trung vào chiến tranh. Cụ thể, ông dành khoản trợ cấp hàng năm với số tiền 5.000 bảng để thành lập Ban Cố vấn Nông nghiệp vào năm 1793, đồng thời tiếp tục xem xét việc thay đổi thuế thập phân trong các năm 1786, 1792, 1795, 1798, 1800-1801 và hiến pháp kèm theo trong các năm 1796, 1800 nhằm thúc đẩy năng suất và hiệu quả cho ngành nông nghiệp. Song, ngay sau khi nạn đói kém được khắc phục với các vụ mùa bội thu năm 1793 và 1796-1798, ông lại dành ưu tiên cho chiến tranh. Giải pháp kinh tế lâu dài cuối cùng lại phụ thuộc vào khả năng điều hành chiến tranh và xóa bỏ quốc nợ của Pitt.
SỰ CÂN BẰNG GIỮA LUẬT PHÁP VÀ TỰ DO
Những giải pháp lập pháp hạn chế để giải quyết các vấn đề của những năm 1790 đã khiến Pitt rất thận trọng khi thực hiện việc chống bạo loạn bằng cưỡng chế pháp luật nghiêm ngặt – đây là yếu tố thứ hai trong chính sách giải quyết khủng hoảng của Pitt. Đã có thời gian dài người ta tranh luận về vấn đề liệu các biện pháp hà khắc mà Pitt đưa ra trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến với Pháp có mạnh mẽ quá hay không. Phe đối lập Fox và các phần tử có tư tưởng cải tổ cũng như những người quan niệm mục tiêu của phong trào cải tổ cấp tiến là hòa bình, ái quốc, mang lại tương lai dân chủ cho đất nước cho rằng Pitt đã quá tay. Sau này, có người viết rằng trước thế kỷ XX, các biện pháp hà khắc mà chính phủ Anh đưa ra là nằm ngoài ý định của Pitt. Những người chỉ trích Pitt luôn thể hiện phòng trào cấp tiến ở Anh không giống với Cách mạng Pháp, song Pitt cho rằng chúng là một. Bởi lẽ tổ chức cấp tiến này luôn bày tỏ sự cảm thông đối với Cách mạng Pháp. Họ gửi lời chúc mừng thành công của quân đội Pháp năm 1792 và lớn tiếng phản đối chiến tranh vì cho rằng đây là sự đàn áp tự do của Pháp. Có lẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Pitt không tốn thời gian vào việc tìm hiểu sự khác biệt giữa tổ chức cấp tiến ở Anh với phong trào cách mạng Pháp.
Tuy nhiên, Pitt nhận thấy rất rõ sự cần thiết phải dung hòa giữa tự do và pháp luật sao cho Hiến pháp vẫn phải đảm bảo được sự tự do cần thiết. Là người từng có quan niệm rằng Hiến pháp Anh chỉ có thể hiệu quả khi nó dựa trên “sự thống nhất giữa tự do và pháp luật”, rằng cuộc chiến với Pháp thành công hay thất bại phụ thuộc vào luật pháp, tự do và tôn giáo của đất nước, ông không thể dùng luật pháp để đàn áp tự do. Ông cần phải cân đối giữa hai khía cạnh này, coi đây là sự hy sinh tạm thời và cần thiết để bảo vệ tự do cho nước Anh về lâu dài.
Trước đây Pitt tin rằng sự bất bình cuối cùng sẽ được kiềm chế bởi chính giới hạn của nó và bởi sự vững chắc của chính phủ. Sự khủng bố của lực lượng trung thành với chính phủ chống lại các phần tử cấp tiến ở địa phương còn dữ dội hơn sự trấn áp của Bộ Nội vụ và các quan chức tòa án của Hoàng gia ở London. Các bộ trưởng kinh hoàng trước cuộc bạo loạn của “Giáo hội và Vua Anh” chống lại những người không theo nhà thờ chính thống cấp tiến tại Birmingham vào năm 1791, họ vội vã đưa quân đến để ổn định tình hình. Sau đó, các quan chức pháp luật đã tiến hành khởi tố các phần tử gây bạo động (có 18 vụ xét xử và 3 vụ hành hình). Pitt dường như rất bối rối trước phán quyết mạnh mẽ của quan tòa Scotland. Do vậy, sau một hồi chần chừ, ông đi đến quyết định bảo vệ họ trước cuộc công kích ở Viện Bình dân năm 1794 và cho rằng mình làm như vậy là theo đúng quy định của luật pháp chứ không phải vì đồng ý với cách giải quyết của họ. Ông cũng rất phẫn nộ trước hành động tàn sát dã man của nhóm cực đoan đạo Tin Lành ở Ireland đối với các tín đồ Công giáo có thái độ bất mãn. Năm 1798, khi nghị sĩ Clare, một thành viên trong nhóm cực đoan, cố thanh minh cho hành động của nhóm này trước Viện Quý tộc, Pitt quay về phía Wilberforce và “với cái nhìn nảy lửa, ông hùng hổ bước ra khỏi Nghị viện”. Ông không muốn binh lính được đưa đến Ireland để dẹp loạn trong năm 1798 lại dính líu đến hành động khủng bố tàn bạo của những người trung thành với chính phủ chống lại các phần tử nổi loạn, điều mà ông từng cảnh báo Quan đại diện nhà vua ở quận tránh để xảy ra trường hợp này.
Khi tranh luận về vấn đề đình chỉ lệnh đình quyền giam giữ vào tháng 5/1794, Pitt cho rằng “khởi tố không cần phải vượt quá những gì mà vụ án thật sự cần”. Tuy nhiên, những người trung thành yêu cầu chính phủ phải có các biện pháp quyết liệt chống lại quân bạo loạn, nếu không họ sẽ bị nhụt chí hoặc sẽ tự giải quyết. Họ sợ rằng nếu không làm được điều này chính phủ sẽ mất khả năng kiểm soát tình hình. Trước lo lắng này, mùa thu năm 1792, Pitt nói với Dundas rằng cảm giác sợ hãi xuất hiện khắp mọi nơi, do đó cần phải để cho họ biết rằng chúng ta đang rất quan tâm đến họ. Tuy nhiên, Pitt cũng nhận thấy nếu phản ứng quá mạnh sẽ khuấy động sự cảm thông và ủng hộ đối với các phần tử cấp tiến cực đoan. Một chiến dịch công khai bàn về vấn đề đình chỉ lệnh đình quyền giam giữ, thậm chí là cả việc áp dụng lệnh này với những nghi can phạm tội phản quốc và giới hạn chỉ trong 9 tháng được bắt đầu vào năm 1794 dựa trên báo cáo của Ủy ban Cơ mật. Trên thực tế, việc đình chỉ này chỉ được thực hiện cho đến ngày 1/7/1795, sau đó bị bãi bỏ cho đến ngày 21/4/1798 và lại được thực hiện từ đó cho đến tháng 3/1800. Đạo luật Chống tụ họp gây bạo loạn và phản quốc, một đạo luật khét tiếng năm 1795, cũng được yêu cầu sửa đổi sau ba năm thực hiện.
Pitt vẫn quan tâm đến việc thu hút sự ủng hộ của dân chúng, nghĩa là ông vẫn làm chủ được các biện pháp của mình chứ không phải vì quá lo lắng mà mất hết tự chủ. Tháng 12/1792, Pitt đã bàn với Grenville và Dundas về hầu hết các biện pháp dự định sẽ áp dụng trong bảy năm, song kế hoạch này bị hoãn lại và được đưa vào thực hiện từng phần mỗi khi có dịp cần. Đến tận tháng 5/1794, lệnh đình quyền giam giữ mới được đình chỉ. Sau đó, quyết định đình chỉ lại bị hủy bỏ và đến tháng 4/1798 thì được thực hiện lại. Các hình phạt đối với tội phỉ báng gây mất ổn định không tăng cho đến tháng 11/1795. Pitt không ưa các tổ chức cấp tiến mới trong những năm 1790 và ông đã tính đến chuyện ngăn cấm hoạt động của tổ chức này vào tháng 11/1792. Ông cho rằng mục tiêu giành được quyền phổ thông bầu cử và tiến hành bầu cử mỗi năm một lần mà các tổ chức đưa ra là “hão huyền và gây mất ổn định”. Pitt coi các tổ chức này tiềm ẩn mối nguy hiểm lớn vì chúng thường xuyên tuyên truyền với những người thuộc tầng lớp thấp kém, ít có khả năng đánh giá đúng đắn các vấn đề xã hội do trình độ, lối sống và phương tiện thông tin hạn chế. Hơn nữa, hội viên của các tổ chức cấp tiến nằm ngay trong tầng lớp này là điều kiện giúp việc mở rộng tổ chức được thực hiện dễ dàng. Pitt nghi ngờ tên cầm đầu tổ chức theo chủ nghĩa cộng hòa và có tư tưởng Gia-cô-banh. Do vậy, ông đã gửi người do thám đi thu thập tin tức xung quanh các cuộc họp của chúng. Chính phủ đã dẹp được hội nghị quốc gia mà chúng lên kế hoạch tiến hành vào năm 1794, kiểm soát được tụ điểm hội họp trong năm 1795, nhờ đó hạn chế được các phương thức biểu tình của chúng. Thủ lĩnh các tổ chức cấp tiến bị bắt và bị xét xử bất cứ khi nào chúng hoạt động quá phạm vi cho phép. Tuy nhiên, Pitt cũng không ngăn cấm hoạt động của bất cứ tổ chức nào cho đến tháng 4/1799, khi đó, dựa vào kết luận của Ủy ban Tình báo thuộc Viện Bình dân, ông đã đích danh chỉ ra năm tổ chức bất hợp pháp có liên quan đến cuộc nổi loạn ở Ireland năm 1798 và câu kết với Pháp phản bội tổ quốc.
Pitt có khả năng nhạy bén để xác định những gì mình có thể hoặc không thể làm được. Ông chưa bao giờ thực hiện kiểm duyệt công khai đối với hoạt động báo chí. Tháng 11/1972, ông viết cho Dundas:
Tuy nhiên, đến tận năm 1798-1799 điều này mới được thực hiện. Duy trì tự do báo chí kéo theo việc phải giữ nguyên một số điều khoản khác nằm trong điều luật này. Vì vậy, định nghĩa về tội bạo loạn và hình phạt đối với tội danh này không tăng cho đến tận tháng 11/1795. Ngay cả Vua Anh cũng phải thừa nhận có sự độc quyền trong lĩnh vực báo chí, do vậy cần khéo léo khắc phục điểm tồn tại này.
Pitt cũng rất nhanh nhạy điều chỉnh các điều luật bị dân chúng phản đối mà theo ông là có lý. Để hạn chế các cuộc đình công thường xuyên diễn ra trong những năm 1790, ông đã đưa ra một đạo luật chung chống liên kết (đối với các nghiệp đoàn) vào năm 1799. Biện pháp này có dụng ý về kinh tế hơn là về chính trị. Đã có rất nhiều đạo luật quy định riêng đối với từng doanh nghiệp, song đây là đạo luật chung cho tất cả các doanh nghiệp, có quy mô lớn hơn Đạo luật về Thợ làm giấy năm 1796. Để đối phó với hàng loạt thỉnh nguyện thư của người lao động phản đối Đạo luật Chống liên kết năm 1799, năm 1800, ông đã viết lại nó, trong đó kết hợp các điều khoản về giải quyết khiếu nại với tăng cường chống liên kết giữa các chủ nhà máy và đã được Ủy ban Quản lý Người lao động gửi thư cảm ơn.
Pitt tuyên bố thực hiện “chính sách khoan dung, ôn hòa để phân biệt sự lầm lạc với tội phạm”. Ông tách những người có quan điểm ôn hòa không liên quan đến bạo lực ở Pháp và chấp nhận những hoạt động hạn chế mà Nghị viện cho phép với những phần tử cực đoan không chịu dung hòa − những người sau năm 1795 tổ chức hoạt động bí mật, có mưu đồ riêng, theo tư tưởng cộng hòa, trông chờ vào sự giúp đỡ của Pháp và đứng đằng sau cuộc bạo loạn ở Ireland năm 1798. Theo đánh giá của các phần tử cấp tiến, cách giải quyết tình trạng khủng bố của Pitt là nhằm ngăn chặn chứ không phải trừng phạt. Bởi lẽ dưới sự hà khắc của pháp luật Anh thế kỷ XVIII, mức án chung thân trở nên quá phổ biến. Song dưới sự điều hành của Pitt, chỉ có hai người bị hành hình vì tội phản quốc ở Anh và Scotland, không ai bị khởi tố theo Đạo luật Phản quốc năm 1795. Tháng 10/1794, khi xét xử những tên cầm đầu tổ chức cấp tiến ở London về tội lên kế hoạch tổ chức hội nghị bất hợp pháp, ông đã chấp nhận đề nghị của Parson Horne Tooke − đồng minh cải tổ cũ − đến dự với vai trò là nhân chứng bảo vệ và để cho tổ chức này đưa ra dẫn chứng là bản thân ông cũng đến tham dự cuộc họp về vấn đề cải tổ trong năm 1782. Trước những yêu cầu chặt chẽ của Đạo luật Phản quốc − tội danh công khai chống lại Vua Anh, ba người đầu tiên bị buộc tội được tuyên bố trắng án và sau đó chính phủ xóa án cho các tội phạm khác. Đây là sự khác biệt lớn nhất giữa vụ xử tại tòa án Old Bailey và phiên tòa Cách mạng Pháp diễn ra tại Pari. Sau này, nếu quy định về tội phản quốc trở nên chặt chẽ hơn và các hình phạt đối với tội nổi loạn tăng thì nhiều người vẫn lấy đây làm cơ hội chỉ trích các chính sách của ông, do đó ông đã nhấn mạnh rằng luật bị cho là tước đoạt quyền tự do ngôn luận của ông vẫn duy trì quyền gửi thỉnh nguyện thư đến Nghị viện. Chính điều này đã khiến ông phải đối phó với các cuộc công kích nhằm vào chính sách chiến tranh của ông, trong đó có cả một chiến dịch thỉnh nguyện thư mới đòi hòa bình đầu năm 1797.
KÊU GỌI LÒNG TRUNG THÀNH
Pitt nhận thấy cần phải duy trì và vận động sự ủng hộ của dân chúng, coi đây là một yếu tố quan trọng trong chính sách giải quyết tình trạng lộn xộn trong nước và chống lại phong trào cách mạng ở nước ngoài. Đầu tiên, ông tìm đến sự ủng hộ của những người lãnh đạo các cộng đồng địa phương và sau đó là chính nhân dân trong vùng đó. Chiến lược này được bắt đầu với tuyên bố vào tháng 5/1792. Sau đó, Pitt, Dundas và Grenville liên tiếp khẳng định cần phải vận động sự ủng hộ của dân chúng trong việc bảo vệ hiến pháp và đất nước. Tháng 11/1792, Pitt chắc chắn một điều là “phần lớn dân chúng, đặc biệt là tầng lớp trung lưu và thượng lưu, đều bày tỏ thái độ vui vẻ và nhiệt tình khi được góp sức vào hoạt động bảo vệ đất nước”. Tháng 5/1793, ông cho biết 99% người Anh nồng nhiệt ủng hộ Hiến pháp và “không có nguyện vọng đổi mới Hiến pháp nên họ sẵn sàng bảo vệ nó trước mọi cuộc tấn công”. Theo cách nói của Dundas, cần phải có một phương pháp để cơ quan pháp luật có thể tham gia kiểm tra nhằm phát hiện ra những dấu hiệu đầu tiên của một cuộc bạo loạn, cởi mở và công khai. Như vậy, cần phải biết khai thác khả năng tập hợp quần chúng của Pitt, một trong những thế mạnh mà ông đã được thừa hưởng từ người cha để trở thành người duy nhất trong số các nhà lãnh đạo của thế kỷ XVIII có được sức mạnh này.
Pitt thể hiện rõ nét nhất sự khéo léo trong vận động quần chúng khi ông thành lập Phong trào Liên kết vào tháng 11/1792. Khi hoạt động của các tổ chức cấp tiến mạnh dần khiến những người trung thành với chính phủ bị kích động và hoang mang, Pitt nhanh chóng đưa tin về việc thành lập “Hiệp hội Bảo tồn tự do và thịnh vượng chống phần tử cộng hòa và trung lập” trên mục quảng cáo của báo chí London, đồng thời khuyến khích các nơi thành lập các tổ chức tương tự. Sau khi tờ báo này được xuất bản, ông đã triệu hồi John Reeves, người sáng lập hiệp hội, đến phố Downing và thuyết phục ông ta đưa ra những đề nghị mới − những cơ sở cho phong trào vận động sự trung thành của nhân dân trên cả nước, đồng thời hiệp hội này sẽ được chính phủ bí mật tài trợ. Ý định của Pitt là thiết lập các tổ chức tương tự ở London, Westminster và Southwark, xung quanh đó lại có các tổ chức nhỏ hơn, sau đó nhân rộng hoạt động này ra các hạt và thị trấn lớn ở Anh. Ông yêu cầu Dundas làm tương tự như vậy ở Scotland. Khi vận động anh trai mình ở Buckinghamshire, Grenville nói rằng chính phủ đặc biệt quan tâm đến giai cấp trung lưu: “Một vài người thuộc tầng lớp này không thể đứng ngoài hiệp hội, ngoài ra chúng tôi muốn có cả thương gia và luật sư tham gia như ở London. Nên làm tương tự ở các hạt và quận huyện để thu hút sự tham gia của đông đảo nông dân và chủ đồn điền”.
Vận động lòng trung thành của dân chúng theo cách này là một bước mới quan trọng đòi hỏi phải thận trọng trong quá trình tiến hành. Nếu như kêu gọi dân chúng là hình thức đặc biệt thường được lãnh đạo các giáo hội và chính quyền địa phương thực hiện, thì các hiệp hội mới này lại là các tổ chức tồn tại lâu hơn với mục đích phát hiện và truy tố hành vi kích động, nổi loạn, đồng thời hoạt động của chúng lại nằm ngoài phạm vi giám sát của các nhà lãnh đạo địa phương. Pitt rất thận trọng không để cho phong trào vận động lòng trung thành của dân chúng nằm ngoài khả năng kiểm soát của mình. Ông muốn duy trì, “chứ không muốn làm giảm quyền lực của chính phủ”. Một bài quảng cáo về hiệp hội của Reeves, do Pitt và Grenville soạn thảo, có đưa ra quy định cụ thể và chặt chẽ về đối tượng tham gia phong trào, trong đó không tiết lộ sự bảo trợ của chính phủ. Pitt nói với Dundas: “Chúng ta sẽ không để ai biết hiệp hội này có chính phủ đứng đằng sau”. Các tổ chức này cần phải hoạt động dưới sự điều hành của thẩm phán và chính phủ, chỉ nhận trợ cấp từ hai nơi đó mà thôi. Theo đề nghị ban đầu, hội sẽ tiến hành họp hai lần một tuần như các tổ chức khác. Song trên thực tế, hội đã bầu ra một ủy ban nhỏ để giải quyết mọi công việc thường nhật. Do đó, chỉ sau một thời gian dài hội mới phải tổ chức họp chính thức để nghe ủy ban này báo cáo về tình hình, thông qua các khoản thu chi và thông báo hội phí mới nếu cần. Pitt giải thích: “Với cách này, chúng ta hy vọng sẽ tránh được những bất tiện khi đưa vấn đề ra thảo luận trước dân chúng mà vẫn đảm bảo gây được ấn tượng và ảnh hưởng của số đông đối với phe của mình”.
Khi có tin đồn về âm mưu nổi loạn ở London, ngày 1/12, Pitt cho phát lời tuyên bố mới của Hoàng gia để huy động khẩn cấp lực lượng dân quân cần thiết. Sau tuyên bố này, có 64 lời kêu gọi ủng hộ được đăng trên tờ London Gazette (Công báo London) để cổ vũ dân chúng tham gia. Ngày 18/12, Burges, Thứ trưởng Ngoại giao, tự hào tuyên bố rằng “cả nước tham gia thành lập hiệp hội”. Theo Reeves, 2.000 hiệp hội đã được thành lập. Tuy nhiên, theo các dự đoán về sau, con số này nằm trong khoảng từ 1.000 đến 1.500. Chính phủ đã đạt được mục đích huy động các đối tượng thuộc tầng lớp trung lưu tham gia. Nghiên cứu gần đây cho thấy, sau này chính phủ đã mở rộng đối tượng ra cả tầng lớp thấp hơn trong xã hội. Nhờ sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng, chính phủ đã củng cố khả năng điều hành của mình trong cuộc chiến chống lại khủng hoảng trong nước cũng như ảnh hưởng của Cách mạng Pháp ở nước ngoài. Mặc dù năm 1793 nhiều hiệp hội đã đi theo mục đích riêng của mình và mất dần ý nghĩa, song cũng có nhiều hiệp hội vẫn tiếp tục hoạt động và một số hiệp hội khác sau này vẫn được thành lập. Ở Manchester, 8 hiệp hội mới được thành lập vào năm 1794 trước hiểm họa xâm lăng và hoạt động tăng cường của các tổ chức cấp tiến, tiếp đó là 5 hiệp hội vào năm 1795. Trong các cuộc bạo động chống tuyển quân ở London vào tháng 8/1794, các nhà lãnh đạo địa phương được chỉ đạo là cảnh báo cho chủ tịch các hiệp hội trong quận huyện sẵn sàng giúp đỡ khi có yêu cầu. Hiệp hội Hiến pháp Nottingham vẫn tham gia chiến dịch ủng hộ “Hai luật” vào tháng 1/1796. Hiệp hội dẫn đầu của Manchester Bull vẫn luôn đi đầu trong phong trào vận động tinh thần yêu nước vào năm 1798.
Pitt đã áp dụng hiệu quả kinh nghiệm của những năm 1780 trong chiến dịch vận động thông qua Đạo luật Gây rối và Phản quốc của năm 1795. Khi cả London rối ren vì sự kích động điên cuồng từ các tổ chức cấp tiến và phe đối lập, Pitt đã tập trung đủ quân để trấn áp và dẹp yên mọi cuộc tụ tập gây rối. Tuy nhiên, số lượng quân phải huy động từ lúc đó cho đến khi các dự luật được thông qua là quá lớn. Pitt hiểu rằng cần phải giành thắng lợi trong chiến dịch này bằng thuyết phục chứ không phải bằng cưỡng chế.
Hood − nghị sĩ đại diện cho những người ủng hộ Pitt, Belgrave cùng “nhiều bạn bè khác trong chính phủ” đã đến dự và làm trung gian cho một cuộc họp công khai do Fox và phe đối lập triệu tập vào ngày 16/11. Tại Yorkshire, lực lượng đối lập tiến hành khẩn cấp một cuộc họp cấp tỉnh. Pitt vội vã điều Wilberforce từ London tới dự với vai trò là đại diện của chính phủ. Pitt đã phải cho Wilberforce mượn xe và sau đó gửi thêm thông tin để Wilberforce chuẩn bị bài phát biểu. Hành động này rất quan trọng bởi lẽ Yorkshire là hạt lớn nhất và có tiếng tăm nhất trong nước. Không chỉ phái Wilberforce đến họp, Pitt còn trở về London để trình lên Nghị viện thỉnh nguyện thư với 7.000 chữ ký ủng hộ và gửi lên Vua Anh lời kêu gọi ủng hộ của các hạt và thị trấn như Leeds, Halifax, Bradford, Huddersfield và Barnsley. Các đối thủ gửi thỉnh nguyện thư phản đối lên Nghị viện, trong đó đưa ra những cơ sở lý luận rất thuyết phục và trên tạp chí của Viện Bình dân đã ghi nhận 88 thỉnh nguyện thư chống lại dự luật. Tuy nhiên, việc Thủ tướng Pitt tuyên bố sẵn sàng đàm phán hòa bình với chính phủ chính thức của Pháp về điều kiện danh dự đã xoa dịu làn sóng phản đối. Do vậy, trước lý do thuyết phục mà các đối thủ đưa ra, Pitt vẫn nhận được 70 thỉnh nguyện thư ủng hộ. Trong khi đó, các lời kêu gọi mới là yếu tố quan trọng quyết định đến thắng lợi của Pitt. Tuyên bố của Hoàng gia ngày 31/10 và ngày 4/11 đã kéo theo 530 lời kêu gọi ủng hộ Hoàng gia được đăng trên báo chí London bày tỏ thái độ căm ghét trước cuộc tấn công nhằm vào Vua Anh, đặc biệt trong đó có 169 lời kêu gọi thể hiện sự ủng hộ đối với hai dự luật của Pitt và không có bài nào chống lại chúng. Trước tiếng vang của phe đối lập, Pitt vẫn chiến thắng trong cuộc chiến giành sự ủng hộ của dân chúng. Nhiều năm sau, Francis Place, một người phản đối, đã phải thừa nhận: ”Những luật này rất khắt khe nhưng vẫn nhận được sự ủng hộ của dân chúng. Phần đông người lao động và người bán hàng đều tán thành mà không hiểu gì về chúng, chẳng hạn như tội giết vua Pháp và ủng hộ dân chủ bị coi là tội khủng bố.”
Trong cuộc chiến với Pháp, Pitt thấy cần phải khuấy động tinh thần đấu tranh trong dân chúng Anh vì người Anh từ trước tới nay luôn sợ phải tham gia quân đội. Năm 1792-1793, Pitt đã huy động thành công lực lượng dân quân Anh do việc đánh thuế dân quân đối với người Ireland. Các bộ trưởng cho rằng lực lượng Công giáo sẽ sẵn sàng tham gia sau khi họ phải nhượng bộ vào tháng 3/1972. Mặc dù ban đầu diễn ra biểu tình chống lại sự cưỡng bức nhập ngũ − một hình thức không được ưa chuộng ở thế kỷ XVIII, ở Ireland đã hình thành hệ thống dân quân bước đầu tham gia vào cuộc chiến chống bạo loạn vào năm 1798. Lúc đầu Scotland không có dân quân nhưng đã huy động được chín tiểu đoàn dân quân tình nguyện bảo vệ đất nước trước chiến tranh và họa xâm lăng. Đến năm 1794, Scotland huy động được thêm 16 tiểu đoàn nữa. Để đối phó với họa xâm lăng, tháng 3/1794, Pitt lên tiếng kêu gọi sự huy động từ các Quan đại diện nhà vua ở quận đến những người có tiềm năng kinh tế để thành lập thêm các đại đội bộ binh, kỵ binh tình nguyện và cung cấp tài chính cho họ nhằm tăng cường lực lượng dân quân tình nguyện tham gia chống xâm lăng và trấn áp các vụ lộn xộn trong nước. Đại đội bộ binh chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới đất nước. Lời kêu gọi của Pitt đã huy động được thêm 5.000 dân quân và 6.000 kỵ binh. Trong vòng một năm đã có 48 đơn vị kỵ binh và 119 đơn vị bộ binh tình nguyện được thành lập.
Trước đây, năm 1779, khi đất nước bị đe dọa xâm lăng, Bộ của North đã không dám kêu gọi sự tình nguyện ủng hộ của dân chúng vì e rằng điều này sẽ tăng cường sự ảnh hưởng của những người đứng đầu phe đối lập đối với địa phương và tạo ra các tổ chức đòi cải tổ hiến pháp. Còn Pitt thì không sợ điều này. Ông thăm dò kỹ lưỡng dư luận địa phương, đồng thời giao cho nghị sĩ Radnor nhiệm vụ nghe ngóng phản ứng của Berkshire Grand Jury trước khi công khai ý định này. Đầu cuộc chiến, Pitt muốn quản lý lực lượng dân quân bằng kỷ luật quân đội để có thể điều hành lực lượng này như quân chính quy chứ không phải là quân tình nguyện. Trong năm 1796-1797, các bộ trưởng đề nghị Nghị viện tăng lực lượng dân quân Anh lên gấp ba, tức là 90.000 quân và bổ sung 20.000 kỵ binh dự bị lấy từ những người đã trả thuế ngựa. Sau sự kiện này, Scotland thành lập hệ thống dân quân. Dundas đã chuẩn bị nền tảng cho việc này từ năm 1794, khi ông tiến hành lập Quan đại diện nhà vua ở quận theo kiểu Anh. Số quân này được tuyển mộ theo hình thức bỏ phiếu kín và được miêu tả là ”cuộc tuyển mộ lực lượng quân sự lớn nhất và dễ nhất mà nước Anh từng làm được”. Hoạt động này cuối cùng đã thành công mặc dù cuối năm 1796 diễn ra nhiều cuộc nổi loạn chống lại quá trình bỏ phiếu kín ở Lincohnshire và Đông Anglia, cùng một số địa phương ở Scotland vào năm 1797. Chỉ có bộ trưởng nào tin tưởng vào vị trí của họ trước công luận mới có thể làm được điều này và Pitt đã thành công nhờ khả năng vận động chính trị khéo léo của mình. Chiến tranh vẫn phải tiếp diễn khi thương lượng hòa bình sớm thất bại. Ông đã tham khảo ý kiến các nghị sĩ về đối tượng tham gia lực lượng dân quân tự vệ. Ông bác bỏ đề nghị tuyển những người canh rừng vào vị trí nhà thiện xạ. Năm 1798, ông đã xóa bỏ lực lượng kỵ binh dự bị, tuy nhiên vẫn bổ sung lực lượng dân quân Anh và Scotland. Đến tháng 4/1798, có 131.000 dân quân và kỵ binh tự vệ phục vụ trong quân đội.
Kết quả này có được là nhờ vào khả năng duy trì lòng tin đối với dân chúng của Pitt. Trong thời điểm 1795-1797 và 1784-1785, sự phân cực trong dư luận đã tạo ra những phản ứng công khai đối với hoạt động của Pitt: hoặc là căm ghét rõ rệt, hoặc là ủng hộ mạnh mẽ. Tháng 7/1795, lực lượng nổi loạn chống tuyển quân đã vây quanh ngôi nhà của Pitt tại phố Downing. Tuy nhiên, Pitt coi nhẹ tất cả và an ủi mẹ mình rằng đó chỉ đơn thuần là mấy viên đá ném qua cửa sổ và không đáng để báo chí phải quan tâm. Khi xe ngựa của Vua Anh bị tấn công vào tháng 10/1795, Pitt rít lên giận dữ và chửi rủa. Ông lo lắng hơn khi John Gale Jones − một nhà hùng biện cấp tiến − giả bộ đe dọa trước đám đông những người biểu tình phản đối “Hai luật” vào ngày 12/11 rằng các bộ trưởng sẽ đáp trả những kẻ cầm đầu phong trào phản đối bằng các biện pháp trừng trị. Trong tháng 12, khi sự kích động lên tới đỉnh điểm, Pitt đã bị một nhóm người ném bùn và cố giật dây cương khi ông đang cưỡi ngựa trong Công viên St James. Tháng 6/1796, phố Downing lại bị một đám đông tấn công và Pitt đã phải điều các kỵ binh đến trấn áp.
Để tiếp tục duy trì sự ủng hộ của dân chúng khi cuộc chiến ngày càng trở nên tồi tệ, cuối năm 1795, Pitt bắt đầu lập lờ đưa ra thông báo về việc ông sẵn sàng đàm phán với Pháp. Tháng 9/1796, ông giải thích với Chatham, anh trai của mình, rằng để thuyết phục dân chúng toàn tâm nỗ lực ủng hộ tiếp tục cuộc chiến, ông cần phải chứng minh cho cả nước thấy ông đã làm tất cả vì hòa bình. Đàm phán hòa bình với Pháp đã sớm thất bại vào tháng 2/1796, do đó chiến dịch năm 1796 lại bắt đầu. Cuộc thương lượng không thành tại Paris từ tháng 10 đến tháng 12 đã khiến Pitt dễ dàng bổ sung lực lượng dân quân và mang lại cho Pitt cơ hội trực tiếp kêu gọi dân chúng hỗ trợ 18 triệu bảng cho “Quỹ Yêu nước” vào tháng 12. Số tiền đó được quyên góp trong bốn ngày, trong đó Pitt, Dundas và Grenville, mỗi người góp 10.000 bảng, đi đầu trong phong trào quyên góp.
Tuy nhiên, chính sách hòa giải rồi lại chiến tranh này cuối cùng đã làm dân chúng nhụt chí. Những thất bại ở châu Âu khiến Nghị viện nhận hàng loạt thỉnh nguyện thư đòi hòa bình vào mùa xuân năm 1797. Mặc dù sau đó, những người ủng hộ ông thường phản ứng lại với việc gửi thỉnh nguyện thư ủng hộ cuộc chiến, song ông buộc phải tiến hành một cuộc thương lượng khác với Pháp. Mùa hè năm 1797 đã diễn ra cuộc đàm phán hòa bình tại Lille. Đàm phán này lại thất bại vào tháng 9/1797 khiến lòng tin của dân chúng bị lung lay. Các biện pháp tài chính chặt chẽ mà Pitt đưa ra để tiếp tục duy trì cuộc chiến không được dân chúng tán thành đã dẫn tới hàng loạt cuộc họp phản đối các biện pháp này. Điều này cũng khiến những người trung thành với ông hoang mang. Lần này, một nghị sĩ ủng hộ Pitt thừa nhận: “Bạn bè của Pitt trong chính phủ không nỗ lực ủng hộ và cũng không tham dự các cuộc họp này”.
Pitt và các đồng sự phải nỗ lực rất lớn để khuấy động “tinh thần nhân dân”. Họ đã nắm đúng thời điểm hải quân Hà Lan thất bại tại Camperdown vào tháng 10 và biến thành lễ kỷ niệm mừng chiến thắng trên toàn quốc với một đội lính thủy giương cờ đi khắp thành phố và trịnh trọng dựng lên tại Thánh đường Paul trong ngày Lễ Tạ ơn ngày 19/12. Chính Pitt là người gợi ý nội dung cho bài thuyết giáo chỉ ra những gì cần phải được làm, trong khi xe ngựa của ông đang bị vây trong tiếng la ó và bị tấn công tại sân nhà thờ St Paul. Ông đã phải trở về nhà trên xe của một người bạn với hộ tống quân sự.
Nhờ tham khảo ý kiến của Pitt, Thứ trưởng Ngoại giao Canning đã đưa ra một kế hoạch mới để “gây sự chú ý của công luận qua các phương tiện báo chí”. Họa sĩ châm biếm Gillray đã tuyển chọn và trả giá 200 bảng một năm cho những người sáng tác tác phẩm chống xâm lược và chống phe đối lập. Để tăng cường lực lượng ủng hộ chính phủ vốn ngày càng giảm sút, chính phủ cho thành lập một tuần báo châm biếm lấy tên là Anti-Jacobin Review (Tạp chí chống Gia-cô-banh), trong đó Pitt bí mật đóng góp sáu bài báo và một số bài thơ châm biếm. Ba bài trong tháng 11, một bài vào tháng 1/1798 và bài thứ năm vào tháng 4/1798 đã làm rõ phương pháp tài chính của Pitt, bài còn lại vào ngày 2/7 đã chỉ rõ sự chuyển biến của cuộc chiến giữa mùa thu năm 1797 và mùa hè năm 1798. Một số thành viên của chính phủ cũng có bài đăng trên tạp chí. Grenville đã sung sướng thốt lên: “Đây là một cách hoàn toàn mới cho chúng ta có nhiều cơ hội để viết và đặc biệt là ở những bài châm biếm ngắn, chúng ta có thể đánh bại kẻ thù”.
Để Nghị viện thông qua những yêu cầu của mình về việc tăng thuế, Pitt đã chấp nhận đề nghị của Chủ tịch Viện Bình dân Addington kêu gọi những nơi có khả năng đóng góp nhiều nhất phải tình nguyện đóng góp cao hơn. Việc kêu gọi tình nguyện quyên góp trên khắp cả nước đã trở thành phương pháp khuyến khích tinh thần yêu nước của dân chúng. Pitt dốc toàn tâm toàn ý vào nỗ lực này. Ông đã thuyết phục thành công George III làm gương đóng góp 1/3 quỹ cá nhân của mình. Bản thân Pitt đóng 1/5 thu nhập với khoản tiền là 2.000 bảng và đề nghị các đồng sự cũng làm như vậy. Để tránh tin đồn cho rằng các quan chức chính phủ được hưởng nhiều lợi nhuận từ cuộc chiến, ông đã buộc hai người thu ngân được hưởng lợi nhiều nhất phải đóng góp khoản phí vượt trội chênh lệch giữa thời chiến và thời bình. Đúng như những gì Pitt mong đợi và nghị sĩ Auckland khẳng định, khoản đóng góp lớn từ các thành viên chính phủ có tác động không nhỏ giúp xoa dịu sự bực bội của những người phải đóng chưa đến 1/10 thu nhập cá nhân.
Tình hình lại thay đổi khi Pitt một lần nữa được dân chúng ủng hộ. Tinh thần yêu nước lại được nhen nhóm khi nước Anh phải tiếp tục đối mặt với họa xâm lăng và những người từng ủng hộ Cách mạng Pháp bị sốc khi Pháp đàn áp tự do của Thụy Sĩ, một nước trung lập. Tháng 4/1798, báo cáo của Grenville viết rằng “một sự thay đổi tuyệt vời đã diễn ra”, đó là nhờ tình huống ở Thụy Sĩ và hơn thế nữa là nhờ vào chính Pitt, người đã không ngại né tránh khi nói về hòa bình và thẳng thắn phản đối ý đồ xâm lược của Pháp. Những hành động tàn bạo của Pháp cuối cùng đã giúp Pitt có được động cơ đúng đắn dựa trên tinh thần yêu nước nồng nàn mà từ đó ông có thể xác định rõ lập trường của mình. Tháng 4, trong bài phát biểu ủng hộ thông điệp của Vua Anh kêu gọi sự phản kháng chống lại họa xâm lăng, Pitt tuyên bố nhân dân Anh ”đang đấu tranh vì tự do, trật tự, vì danh dự, luật pháp, tôn giáo và thậm chí vì sự tồn tại của đất nước”. Việc quyên góp thể hiện lòng yêu nước cuối cùng đã trở thành một hình thức để người giàu cũng như người nghèo tích cực tham gia cuộc chiến chống kẻ thù. Khi chiến dịch quyên góp kết thúc vào tháng 2/1799, số tiền thu được lên tới 2,2 triệu bảng.
Điều đáng nói là Pitt đã khuấy động tinh thần nhiệt tình tham gia quân đội trong dân chúng. Một nửa dân quân mới của Anh được tổng động viên để chống họa xâm lăng vào tháng 2/1798, nửa còn lại được huy động vào tháng 4. Trong cuộc khủng hoảng năm 1798, các vị chỉ huy dân quân đã đi tiên phong và tình nguyện bỏ qua những ưu tiên về thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự theo luật định để đến Ireland tham gia trấn áp nổi loạn. Cùng năm đó, Pitt và Dundas bắt đầu chú trọng hơn đến nhiệm vụ bảo vệ đất nước khi quy định chế độ dân quân tình nguyện là bắt buộc. Điều này đã được dân chúng nhiệt tình hưởng ứng. Tháng 4/1798, Dundas gửi thư tới các Quan đại diện nhà vua ở quận để nói về tầm quan trọng của việc mở rộng tối đa lực lượng dân quân, đồng thời nhấn mạnh rằng lòng tin của những chiến sĩ dân quân tham gia chiến trận đóng một vai trò tích cực trong hoạt động bảo vệ đất nước. Pitt kêu gọi đợt tình nguyện mới. Đạo luật Bảo vệ Quốc gia tháng 4/1798 quy định lập danh sách nam giới có tuổi đời từ 16 đến 60 chưa vào quân ngũ có nguyện vọng tham gia chiến đấu. Sau lời kêu gọi của Pitt, có 116.000 người tham gia, nhiều hơn gấp đôi so với số dân quân được huy động trong bốn tháng. Từ tháng 5 đến tháng 8/1798 có 264 đại đội tình nguyện, 80 quân kỵ binh, 275 tổ chức vũ trang được Hoàng gia phê chuẩn. Các đơn vị mới phần lớn được hình thành ở thị trấn. Nếu như năm 1794, lời kêu gọi chỉ được gửi tới “những người có tiền và có quyền” thì lần này, nó được chuyển tới mọi hộ gia đình, từ đó khơi dậy lòng yêu nước và tự hào quê hương bản xứ ở những người thuộc tầng lớp và địa vị thấp hơn. Thành phần tham gia chủ yếu trong các đơn vị ở thành thị là thương gia, công nhân và thợ thủ công lành nghề, còn các kỵ binh thì lấy từ tầng lớp nông dân làm thuê, người giao hàng ở nông thôn. Những người không theo tôn giáo chính thống giàu có trước đây luôn chỉ trích chính phủ và phản đối cuộc chiến nay đã tham gia với vai trò là những người lãnh đạo giáo phái của họ ở địa phương để bảo vệ đất nước. Nhóm “Giáo hội và Vua Anh” đã nhường quyền cho Vua Anh, nông thôn và thành thị lập thành một khối thống nhất từ các khối cục bộ địa phương. Nếu như tư tưởng cục bộ địa phương khiến những người ở thành phố luôn mang nét văn hóa và đặc thù riêng của tầng lớp thượng lưu, thì nay chủ nghĩa yêu nước đã khiến đại đa số họ tuyên bố sẵn sàng phục vụ ngoài vùng đất của mình, nhưng trong khuôn khổ quân khu, và khoảng 10% sẵn sàng phục vụ bất cứ nơi đâu trên đất nước Anh.
Nhờ vào hoạt động tăng cường lực lượng dân quân những năm 1796-1797 và đợt kêu gọi tình nguyện năm 1798 của Pitt, số dân quân trên khắp cả nước đã lên tới 25.000 người. Đây là một con số chưa bao giờ có trong dự tính và cao hơn rất nhiều so với trước. Con số dân quân tình nguyện đã lên tới 146.000 vào năm 1801 và 380.000 vào tháng 4/1803, thời điểm Anh có nguy cơ bị xâm lược cao nhất. Đây là một “phong trào huy động sức dân lớn nhất chỉ có được ở thời đại Hanover 7 ”. Pitt là người ủng hộ phong trào tuyển quân nhất. Khác với một số người ủng hộ ông và Nội các không quyết đoán của Addington trong giai đoạn 1801-1804, Pitt sẵn sàng kêu gọi lòng trung thành của nhân dân và không sợ phải thành lập các lực lượng dân quân. Năm 1803-1804, Pitt đã thành lập ba tiểu đoàn tình nguyện của Cụm cảng Cinque và trở thành chỉ huy của cả ba tiểu đoàn này. Ông không bao giờ mất niềm tin vào tinh thần yêu nước của nhân dân Anh.
THẤU HIỂU “CON NGƯỜI ANH”
Trong suốt cuộc đời Pitt luôn tin vào tầm quan trọng của việc được dân chúng ủng hộ. Cha ông là tấm gương cho thấy sự ủng hộ của dân chúng mang lại sức mạnh lớn như thế nào đối với các bộ trưởng và các chính trị gia. Những người không theo đảng phái sẽ giành được sự ủng hộ của dân chúng nhiều hơn là những người bị ràng buộc bởi danh dự của đảng. Chiến tranh đã mang lại cho Pitt cơ hội phát huy tối đa ưu điểm của một Bộ trưởng yêu nước, chí công vô tư và luôn hết mình vì lợi ích đất nước. Là một nhà yêu nước, ông đã khuấy động tinh thần yêu nước trong nhân dân. Những lời kêu gọi thống nhất đất nước của Pitt đã huy động được một nửa phe đối lập tham gia chính phủ vào tháng 7/1794 và tập trung được tinh thần yêu nước của toàn dân tộc vào năm 1798. Ông liên tục thay đổi phương pháp để lôi kéo dân chúng đứng về phía mình, từ việc kêu gọi mọi người tích cực tham gia hiệp hội đến quyên góp thể hiện lòng yêu nước và cuối cùng là tình nguyện tham gia quân đội. Điều quan trọng là Pitt luôn tin tưởng rằng nếu ông là tấm gương đi đầu trong phong trào yêu nước thì ông sẽ được nhân dân ủng hộ. Trong suốt những năm 1784, 1788-1789, 1792, 1795 và 1798, ông được nhân dân hưởng ứng làm theo.
Khác với những người dè dặt hay do dự, Pitt luôn tin tưởng ông có thể kêu gọi và nhận được sự ủng hộ của dân chúng. Năm 1803, Pitt phát biểu trước Nghị viện:
Ông luôn quan tâm đến những dao động tâm lý của người dân và luôn chú ý nắm lấy cơ hội để lái chúng theo hướng mình mong muốn (như Phong trào Liên kết năm 1792). Cũng phải thừa nhận rằng hoàn cảnh đã hỗ trợ cho ông. Cuộc Chiến tranh Hoa Kỳ thảm khốc đã khiến người dân thất vọng trước sự tranh giành của các phe cánh vào những năm 1760 và 1770. Người dân sẵn sàng hưởng ứng tinh thần lãnh đạo của Pitt, một người yêu nước độc lập, đặc biệt khi đất nước lại đứng trước họa xâm lăng vào những năm 1790. Tuy nhiên, bằng chính khả năng của mình, Pitt đã có được cả Nghị viện lẫn dân chúng. Năm 1797, quý bà Holland, cháu dâu của Fox, đã viết rằng Pitt “hiểu người Anh hơn bất cứ ai khác – đây là điểm khác biệt so với những người thông thái khác”.