Hòa Thân - Đại Thần Tham Nhũng (Tập I)

Lượt đọc: 13780 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
thơm hôi chung sọt không ai chịu ai

Lưu Dung lưng gù nhưng lòng ngay thẳng, gây cho Hòa Thân không ít rắc rối.

- Kỷ Vân đi cùng Hoàng thượng đến phủ Hòa Thân, nhân dịp sinh nhật phu nhân Hòa Thân. Kỷ Hiểu Lam vâng lệnh vua làm thơ rằng: “Người phụ nữ này không phải là người...

Trong lúc lòng còn vấn vương với không khí vui chơi ở đường phố mua bán trong vườn Viên Minh, Càn Long nhận được một tin khẩn cấp chấn động cả triều đình. Người Hồi và người Tát Lạp ở Cam Túc nổi loạn, do Tô Tứ Thập Tam và Hàn Nhị đứng đầu. Càn Long lệnh ngay cho Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn đi dẹp loạn.

Ở Cam Túc và Thanh Hải, thế lực của các giáo trưởng đạo I-xlam không ngừng phát triển, và dần dần trở thành những chúa đất đầy quyền lực. Họ sống nhờ địa tô, bóc lột tàn khốc giáo dân, làm cho địa vị khác nhau giữa giáo trưởng và giáo dân trở thành sự đối lập giàu nghèo một trời một vực. Trước tình hình đó, Càn Long năm thứ hai mươi sáu, Mã Minh Tân, người ở An Định, Cam Túc đứng ra lập tân giáo, chống lại chế đệ hà khắc của cựu giáo, được người nghèo thuộc dân Hồi và Tát Lạp hưởng ứng nhiệt liệt, tín đồ tân giáo tăng lên rất nhanh, ảnh hưởng của tân giáo lan nhanh đến hai tỉnh Thanh Hải và Cam Túc. Các nhà giàu có thuộc cựu giáo kịch liệt chống lại, dựa thế triều Thanh áp chế tân giáo, triều đình nhà Thanh cũng ra sức ủng hộ cựu giáo, áp chế tân giáo. Càn Long năm thứ bốn mươi sáu, giáo chủ tân giáo Mã Minh Tân bị bắt, khiến người Hồi và người Tát Lạp càng phẫn nộ. Họ cử Tô Tứ Thập Tam và Hàn Nhị làm thủ lĩnh, dựng cờ chống Thanh tại Tuần Hóa Sảnh, giết chết giáo trưởng cựu giáo Hàn Tam Thập Bát, tấn công vào người của cựu giáo, chiếm cứ Hà Châu.

Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn vội vàng điều quân bao vây quân nổi loạn của tân giáo, nhưng quân của tân giáo đã chiếm Hoa Lâm Sơn, nhiều lần đánh lui quân Thanh. Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn đành bó tay, quân tân giáo lại tiến công khắp nơi, bao vây Lan Châu, chiếm cứ cửa ải phía tây Lan Châu.

Tin khẩn cấp được báo về kinh thành, Càn Long triệu tập các đại thần văn võ đến điện Kim Loan. Càn Long ngồi trên bệ ngọc truyền:

- Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn bất tài, để giặc ngày càng mạnh, triệu ngay về kinh, cách chức và nghiêm trị.

Càn Long từ từ đứng dậy, vẻ mặt tự nhiên, nhưng rất uy nghiêm, lướt nhìn các quan văn võ, nói tiếp:

- Ngạch Phù Lạp Nhĩ Vương Tế!

- Có thần!

- Trẫm cấp cho khanh hai ngàn lính tinh nhuệ cùng vũ khí đi trước. Ngay hôm nay lên đường.

- Vâng lệnh!

- Hải Lan Tế, Ngạch Lâm Đặc?

- Có thần!

- Lệnh cho hai khanh làm hộ quân, cùng đi với Ngạch Phù, hãy đồng tâm hiệp lực, sớm dẹp xong quân phiến loạn.

- Vâng lệnh!

- Hòa Thân!

- Có nô tài.

- Trước đây khanh thay Trẫm đi tuần tra Thiểm - Cam, hiểu biết nhiều tình hình ở hai vùng đó, lệnh cho khanh làm Khâm sai, ban cho khanh thanh ngự kiếm, đôn đốc việc quân dẹp loạn, ai trễ nải việc quân nghiêm trị theo quân pháp!

- Vâng lệnh!

- Các khanh hãy đi đi !

- Vâng lệnh!

Mấy người vừa quay mình đi, Càn Long bỗng gọi lại:

- Hãy khoan! Truyền gấp cho đại học sĩ A Quế đến ngay Cam Túc thống lĩnh quân đội. Không được chậm trễ, Trẫm sẽ cử người thay thế A Quế lo công trình Hà Vụ.

Khi Càn Long nói đến A Quế, Hòa Thân giật mình, Hải Lan Tế mừng rỡ. Càn Long dặn thêm:

- Thượng thư Hòa Thân! Lệnh cho khanh hiệp trợ với A Quế, đợi khi A Quế đến nơi, khanh trao thanh bảo kiếm này cho A Quế.

- Nô tài tuân lệnh.

- Các khanh phải đồng tâm hiệp lực, ai trái lệnh, Trẫm sẽ nghiêm trị. Các ngươi đi đi.

Nghĩ đến A Quế, Hòa Thân lo buồn, vừa rồi trước bá quan văn võ trong triều, Càn Long chỉ định Hòa Thân đôn đốc việc quân, sau lại giao cho A Quế, như vậy Càn Long vẫn coi trọng A Quế hơn Hòa Thân. Hòa Thân cảm thấy đắng cay.

A Quế, tự là Quảng Đình, họ Oa Chương Giai, con của đại học sĩ A Khắc Đôn, xuất thân gia đình trâm anh thế tộc, sau khi thi đậu nhận chức Đại lý thị thừa, rồi làm Ngoại lang sử bộ viên. Sau đó theo Triệu Huệ đi bình định Chuẩn Ca Nhĩ, lập đồn điền xây dựng cơ sở ổn định được miền Tây, xoay chuyển được thế thua ở Miến Điện, làm yên lòng An Nam, bình định Kim Xuyên, nhiều lần có ảnh trong số ảnh các công thần ở Tử Quang Các, công lao rất lớn, ngoài Phó Hằng ra, không ai sánh nổi, hiện làm Võ Anh Điện đại học sĩ, đứng đầu quân cơ, đứng đầu hàng ngũ các quan trong triều.

Hòa Thân nghĩ bụng, người có công lớn địa vị cao, dưới một người trên vạn người, ta cũng chẳng kém gì ngươi, nhưng ngươi ngạo mạn với ta như vậy. Cùng làm trong Cục quân cơ, trước nay ngươi không đếm xỉa đến ta. Mỗi lần gặp ngươi, lúc nào ta cũng chủ động chào hỏi ngươi, ngươi chỉ gật đầu lấy lệ, thậm chí có lần từ xa ta đã chắp tay vái chào mà ngươi chỉ hừ một tiếng. Trong triều, trong điện Kim Loan, lúc nào ngươi cũng đứng cách xa ta những hơn hai mươi bước, quả thật là ngạo mạn! Nghĩ đến A Quế, Hòa Thân lúc nào cũng cảm thấy mình như cọng cỏ, A Quế như tảng đá lù lù trước mặt. Hòa Thân cho rằng: Hoàng thượng xem ta không như A Quế, để hắn thấy triều đình Đại Thanh này không chỉ có mỗi mình hắn biết cầm quân đánh giặc. Do đó, Hòa Thân đốc thúc đại quân tiến nhanh, sợ A Quế giành mất công lao.

Quân đến bên thành Lan Châu, Hòa Thân lệnh chém đầu Mã Minh Tân, treo đầu trên tường thành Lan Châu, sau đó tập hợp quân Tạng, quân Mông và quân của mình mang theo cả thảy hơn một vạn người. Được biết giặc chỉ có khoảng ba ngàn, Hòa Thân cho chỉ là bọn giặc cỏ, làm sao địch nổi quân tinh nhuệ của mình, số lượng lại đông gấp mấy lần, quét sạch lũ giặc này như trở bàn tay. Nghĩ rằng Hoàng thượng huy động quân lính đông là quá thận trọng, Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn quá bất tài. Ngày mai, ta ra quân, không để lão A Quế kia cướp công.

Hôm sau, ngồi trong trướng trung quân, tụ tập các tướng tá, lệnh:

- Hải Lan Tế!

- Có mạc tướng !

- Lệnh cho ngươi dẫn hai ngàn người đi trước, hành quân cấp tốc.

- Đại quân của ta mới đến, chưa kịp nghỉ ngơi chỉnh đốn, liên tiếp giữ thành, chiến đấu vất vả liền mấy ngày, binh sĩ mỏi mệt, làm sao tấn công được; hơn nữa, quân địch ẩn trốn trong rừng sâu, tình hình quân địch ta cũng chưa rõ, không thể mạo hiểm tiến công.

- Giặc chỉ có ba ngàn người, ta có đến vạn quân, đều là quân tinh nhuệ, vũ khí đầy đủ, đại quân ta đến đâu cũng như gió lốc quét sạch lá rụng.

- Mạc tướng khó tuân, xin đợi A Quế đại nhân đến.

Hòa Thân tức giận, quát:

- Có thượng phương bảo kiếm ở đây, ai chống lệnh, chém!

Hải Lan Tế chỉ còn biết tuân lệnh mà đi. Hòa Thân dẫn đại quân theo sau.

Quân phiến loạn tân giáo tuy chưa đến ba ngàn người, nhưng thông thạo từng gốc cây ngọn cỏ, từng viên đá, từng hang của rừng núi Hoa Lâm Sơn, khắp núi rừng đều là cạm bẫy, ai bước vào thì cung nỏ đồng loạt bắn ra. Anh muốn tìm họ, cũng chẳng biết họ ở đâu. Hải Lan Tế dẫn quân tiến lên, vừa được năm dặm, đến trước một sườn núi, cho quân leo lên được nửa sườn núi, bỗng nhiên xuất hiện mấy trăm quân giặc, lấp lánh gươm dao, tên bắn ra như mưa, trong chốc lát quân Thanh bị tử thương mấy trăm người. Hải Lan Tế vội ra lệnh rút lui xuống núi, bao vây bốn mặt, dùng đại bác bắn lên núi, những cột khói trắng tung bay trên không trung. Tiếng pháo vừa đứt, Hải Lan Tế một người một ngựa xông lên sườn núi, nhưng chẳng thấy một tên giặc nào? Liền ra lệnh ngừng tiến quân, chờ trung quân đến. Hòa Thân vừa thấy Hải Lan Tế đã cả giận quát:

- Không thấy tên giặc nào lại để cho mấy trăm người anh em tử thương, quan khâm sai này được phép chém không truy cứu, ta hỏi ngươi vì sao không tiến quân?

- Địch ẩn, ta lộ, sao có thể tiến quân mạo hiểm!

- Ai cũng nói ngươi là dũng tướng số một của triều đình, sao nhát gan như vậy?

- Ngài chỉ bàn việc quân trên giấy tờ, không được coi thường người khác.

- Ngươi hãy xem, ta sẽ quét sạch bọn quân phiến loạn. Nói xong, ra lệnh ngay cho đại quân tiến lên.

Đại quân tiến vào một khe núi. Khe núi vừa dài, vừa hẹp. Tổng binh Đồ Khâm Bảo nói:

- Địa thế nơi đây như thế này lại không có một tên địch, chắc có mai phục, không nên tiến quân, nên chiếm lĩnh trước hai bên sườn núi.

- Bọn giặc cỏ tép riu đó, không thể có mai phục, làm gì được ta. Hòa Thân nói và lệnh cho quân tiến lên.

Đại quân vừa mới tiến lên. Bỗng, từ hai bên sườn núi lăn xuống những bó lửa, trong phút chốc lửa cháy tràn ngập thung lũng, khói đen mù mịt, quân Thanh kêu la ầm ĩ, tranh nhau rút lui, nào ngờ phía sau là hào ngầm vừa sâu vừa rộng mấy trượng, quân Thanh không đường rút lui, Hòa Thân như kiến bò trên chảo nóng, đầu óc choáng váng, không biết đi theo đường nào. Đồ Khâm Bảo hô to: “Tập hợp quân lại đi theo tôi”, nói xong cầm dáo xông lên đỉnh núi, trên núi tên bắn ra như mưa. Đồ Khâm Bảo bị trúng mấy mũi tên, vẫn cố hô to: “Lên núi thì sống, lên không được thì chết, xông lên!”. Gươm dáo lấp lánh, tiến lên đỉnh núi, mấy tên giặc vừa xông đến đã bị giết ngay. Đổ Khâm Bảo vừa đạp chân lên đỉnh núi, bỗng bị dây thừng quấn chặt hai chân kéo ngã, mấy ngọn dáo đâm thủng người, máu chảy đầm đìa. Từ trên đỉnh núi, những viên đá thi nhau lăn xuống xua những tên lính Thanh xông lên tới đỉnh núi phải lùi lại. Trong lúc nguy cấp đó, bỗng có một hảo hán dẫn mấy mươi người từ đỉnh núi băng đến, vung dao đâm chém, quân phiến loạn tan tác. Một lát sau, từ đỉnh núi xuất hiện một đại đội người ngựa, quân giặc tan vỡ. Hòa Thân thấy có quân Thanh trên đỉnh núi, vội vàng leo lên, lên đến đỉnh núi, nhìn thấy Hải Lan Tế máu me đầy người. Hải Lan Tế thấy Hòa Thân mặt mày đen thủi, thân người tiều tụy.

Hôm sau, Hòa Thân ngồi trong trướng trung quân, nói:

- Các lộ quân của ta không thể tiến quân theo kiểu năm ngón tay chĩa ra, mà phải nắm thành một quả đấm, từ từ tiến quân.

Chẳng ai nghe ông ta. Hòa Thân gọi Hải Lan Tế, Hải Lan Tế không đáp, gọi Ngạch Lâm Đặc, Ngạch Lâm Đặc chẳng thưa. Ngạch Phò Lạp Nhĩ Vương Tế nói:

- Các lộ quân nên chọn nơi có địa hình tốt, cắm trại nghỉ ngơi và chỉnh đốn lại đội ngũ, canh gác nghiêm ngặt, đề phòng bọn giặc tập kích, quyết không được coi thường, ai lơ là sẽ bị chém, việc tiến quân sẽ bàn sau.

Các tướng đều vâng lệnh.

Hòa Thân nghĩ bụng, đại quân thất bại, nếu ta không trình báo, tất nhiên có người khác trình báo. Hòa Thân viết một bản tấu, gửi gấp về Bắc Kinh, nói Hải Lan Tế không tuân lệnh nên khiến đại quân thất bại. Hai ngày sau, được tin A Quế đến. Hòa Thân đi đón. A Quế hỏi Hòa Thân:

- Tình hình chiến sự thế nào?

- Quân ta thất trận.

- Sao lại cắm trại thế này mà không nhanh chóng tấn công?

- Các tướng đều không nghe lệnh chỉ huy, hành động tuỳ tiện, đó là nguyên nhân bại trận.

- Trong quân ai không nghe lệnh, chém không tha.

Các tướng ngang ngược, cùng nhau xin chờ đợi, thăm dò tình hình.

- Ai không tuân lệnh cứ chém không bàn.

Sáng hôm sau, A Quế truyền lệnh các tướng tụ tập đông đủ. Các tướng sắp hàng đứng nghiêm dọc hai bên. A Quế truyền :

- Hải Lan Tế! Lệnh cho ngươi cầm cánh quân bên phải trung quân, vừa thăm dò vừa tiến lên.

- Mạc tướng tuân lệnh!

- Ngạch Lâm Đặc! Lệnh cho ngươi cầm cánh quân bên tả trung quân, mở đường tiến lên.

- Mạc tướng tuân lệnh!

- Tất cả số còn lại theo trung quân của bản soái tiến lên công kích. Mỗi cánh quân cách nhau năm dặm tiến lên theo hình chữ phẩm, tiếp ứng lẫn nhau, liên lạc với nhau, tất cả hiểu rõ chưa?

- Rõ! Các tướng đồng thanh đáp.

A Quế lệnh:

- Ngạch Phù hãy dẫn một ngàn người ngựa, tập trung lương thảo, liên lạc trong ngoài.

- Thuộc hạ vâng lệnh.

- Nhổ trại hành quân. A Quế ra lệnh.

Hòa Thân nhục nhã xấu hổ. A Quế đập thanh thượng phương bảo kiếm lên bàn nói:

- Hòa đại nhân, các tướng không hề có chút ngang ngược, vậy thanh kiếm này nên rơi vào đầu ai?

Hòa Thân mặt tái xám, một lát sau vòng tay cúi người nói:

- Không biết sau đây quân ta nên bố trí thế nào nhỉ?

A Quế nực cười mà không thể cười được.

Đại quân hành quân cấp tốc, suốt cả ngày đến tối, ba cánh quân hợp lại, đóng doanh trại, đang đào lò làm bếp nấu cơm, bỗng A Quế ra lệnh:

- Nhanh chóng dời trại lên mảnh đất cao trên sườn núi phía tả, không được chậm trễ.

Các tướng đều nói:

- Cả ngày hành quân, người ngựa mỏi mệt, trời lại tối như mực, bếp đã chuẩn bị sẵn, sao lại rắc rối như vậy? Trên đỉnh núi cũng đã có bố trí canh gác, đại quân ở đây nhất định an toàn, chẳng có gì phải lo, hà tất phải di chuyển.

A Quế rút thanh thượng phương bảo kiếm ra, chém đứt đôi cây cột của doanh trại, cả giận nói:

- Nếu ai còn nói nữa sẽ như khúc gỗ này.

Các tướng vẫn xì xào bàn tán, miễn cưỡng tuân lệnh. Hòa Thân cười thầm, nghĩ bụng: A Quế ! trước mặt ta, người làm oai quá đáng đấy, như vậy có hay cho người không?

Bất ngờ nửa đêm mưa to như trút nước. Cả vùng đóng trại trước đó bị chìm ngập dưới nước sâu gần một trượng. Hòa Thân đờ đẫn. Các tướng sĩ đều đến trướng trung quân ca ngợi A Quế tính toán như thần. A Quế chân thành,cười nói:

- Khi ta đi kiểm tra binh sĩ đào hầm làm bếp, thấy kiến dời tổ, biết trời sắp mưa; nhìn lên bầu trời thấy mây đen kéo đến, nhất định sắp có mưa to. Nơi đóng trại thấp trũng, mới buộc lòng rời trại, không cần phải bàn cãi.

Hòa Thân thấy A Quế khiêm tốn, chân thật, lòng dạ bộc trực như vậy, bất giác thở phào.

Mưa mấy ngày liền, đại quân không thể hành quân, A Quế cấp báo lên Hoàng thượng, vì sợ Càn Long bắt tội vì kéo dài cuộc hành quân. Sau đó một tuần, A Quế triệu tập các tướng nói:

- Trong núi đầy rẫy cạm bẫy, địch ẩn, ta lộ, không thể tiến công mạnh. Các ngươi phải đợi đến lúc, các hố nước bị lấp kín, các khe suối bị chặt đứt, không cho thông vào núi, xây rào lũy xung quanh, chỉ cần thủ không cần công, từ từ áp sát, không được tiến nhanh đánh thẳng, hiểu rõ chưa?

- Rõ!

A Quế lệnh cho Tuần phủ, cấm dân chúng vào núi.

Một hôm cơm trưa xong, A Quế nói:

- Hòa đại nhân, đại nhân hỏi tôi, bước tiếp theo bố trí quân thế nào. Tôi muốn đại nhân và tôi cùng đi quan sát địch tình, rồi sẽ định đoạt. Chẳng đợi Hòa Thân đáp A Quế đã dẫn ngay mười kỵ binh tiến lên trước, Hòa Thân không thể không đi theo. Mặt trời đỏ chói từ từ ngả về tây, A Quế và đoàn người đi theo đã tiến vào rừng được hai ba mươi dặm, A Quế nói: “Đợi khi chúng ta lên trên đỉnh núi này, mới nhìn thấy kỹ hơn”. Đoàn người vừa lên đến đỉnh núi, quân địch phát hiện và mấy trăm kỵ binh địch bao vây bốn mặt. A Quế ra lệnh: “Cởi nhanh áo quần, càng nhanh càng tốt, và xé rách áo quần”. Hòa Thân chẳng hiểu mô tê, cũng chỉ biết theo lệnh, cùng mọi người cởi hết áo quần, xé rách và buộc lên cây cao. “Chúng ta tiến tới doanh trại quân địch, đến quả đồi kia, không được lên tiếng, nghe khẩu lệnh của ta”. Khi đến quả đồi nọ, A Quế bảo: “Tản ra và nằm xuống, khi ta bảo hô lên, mọi người phải đồng thanh hô to”. Tất cả tản ra nằm xuống.

Lúc này màn đêm buông xuống, quân địch tiến lên đỉnh núi, nhìn thấy những mảnh áo rách lay động trước gió, giống như hình người di động hành tung bí hiểm, tưởng đó là viện binh, hoặc quân Thanh lén đánh úp doanh trại. Trong lúc chúng đang nghi hoặc, A Quế ra lệnh: “Mọi người cùng lúc thét to”. Mọi người đồng thanh thét lớn: “Giết, không để chúng thoát !”. Mấy trăm kỵ bịnh địch sợ khiếp vía, vội vàng tháo chạy. Hòa Thân lạnh toát mồ hôi, nhìn thấy A Quế, nhảy lên lưng ngựa, lệnh: “Đi nhanh !”.

Quân địch chạy được một lúc, không thấy quân Thanh đuổi theo, biết là trúng kế. Quay trở lại chỉ thấy mấy mảnh áo quần rách rưới. Về đến doanh trại báo cáo với Tô Tứ Thập Tam. Tô Tứ Thập Tam và Hàn Nhị bàn bạc: “Hôm nay quân địch quan sát doanh trại chúng ta, chúng ta bị vây khốn trong núi, lương thực thiếu chút ít không sao, nhưng không có nước tuyệt đối không được. Chúng ta không thể ngồi chờ chết, phải tìm cách quyết chiến. Ngày mai, quân Thanh sẽ tấn công ta. Chúng ta sẽ mai phục tại hẻm núi này, địch đến sẽ không đường về”. Hàn Nhị nói:

- Nếu địch không tiến vào đây thì làm thế nào?

- Chúng ta vờ thua dụ địch tiến vào đây. Tô Tứ Thập Tam đáp.

Hai ngày trôi qua, A Quế không hề động tĩnh, Hòa Thân nói:

- Hôm trước, chúng ta trinh sát doanh trại địch, thấy chúng nằm giữa thung lũng, nếu cho đại quân bao vây bốn phía, chẳng khác nào bắt cá trong chậu, sao đại nhân không xuất quân, để lỡ thời cơ?

- Đại nhân chớ nói nhiều, ta đã có cách. A Quế đáp.

Hòa Thân thầm nghĩ: Lão này rõ là sai rồi, vậy mà còn ngạo mạn, hậm hực bỏ đi.

Bỗng có tin báo, một toán người ngựa địch xuất hiện. A Quế nói:

- Tốt! Ta đang chờ chúng. Nói xong mặc giáp trụ ra trận, dẫn quân lính đuổi theo bọn địch được ba mươi dặm. Địch rút vào khe núi. A Quế cho quân tiến gấp. Hòa Thân nói:

- Địch đến khiêu chiến, chưa hao binh tổn tướng, đã vội bỏ chạy, tất có âm mưu quỷ kế, sao có thể tiến vào khe núi?

- Ta là chủ soái, đại nhân chớ nhiều lời, lệnh cho đại quân tiến vào khe núi. A Quế đáp.

- Ở đây hai bên núi cao, khe núi ở giữa, lần trước tôi đã bị thất bại, sao chủ soái không nghe lời khuyên của tôi.

- Dù có mai phục, nhưng bọn giặc cỏ đó làm gì được ta?

- Chủ soái không nên khăng khăng làm theo ý mình, để đại quân thất bại.

- Nếu Hòa đại nhân sợ, xin ở lại cửa khe núi này.

Nói xong, A Quế dẫn quân tiến lên, để lại Hòa Thân ở lại cửa khe núi.

Đến đoạn giữa khe núi, trên hai bên sườn núi bỗng xuất hiện đoàn người đông nghịt, la ó ầm ĩ vang động một góc núi. Quân địch chưa kịp bắn phá. Hai bên đỉnh núi xuất hiện vô số quân Thanh, từ trên đánh xuống. Phía dưới núi, A Quế lệnh cho quân lính không được tiến lên núi. Hai mặt sắp thành mấy hàng, phía trước đao búa, phía sau là cung tên, súng đạn, sẵn sàng chờ địch.

Tô Tứ Thập Tam thấy A Quế tiến vào khe núi, hết sức mừng, bò theo con đường bí mật ẩn dưới cỏ tranh, bỗng phát hiện phía sau có quân Thanh, biết quân Thanh đã chiếm đỉnh núi, liền dẫn tín đồ tân giáo tấn công xuống khe núi, hi vọng đánh từ trong khe núi ra cửa khe núi. Nhưng vừa xuống lòng khe thì bị tên đạn bắn ra như mưa, quân lính tân giáo không chết cũng bị thương, trước mắt không lối thoát, cùng với Tô Tứ Thập Tam liều mạng chống chọi với quân Thanh, lấy một chọi mười, cố tiến về phía trước. Cuối cùng, chỉ có hơn hai trăm người chạy thoát, để lại hơn hai ngàn xác chết nằm rải rác khắp sườn núi và khe núi, trong đó có cả Tô Tứ Thập Tam.

A Quế lệnh cho Hải Lan Tế truy kích, còn mình quay lại cửa khe núi. Ngạch Lâm Đặc nói:

- Chủ soái mưu trí thần diệu, quân ta ở phía sau núi sắp nguy khốn, nếu không có lệnh của chủ soái, làm sao giữ vững được hai đầu.

- Các tướng sĩ vất vả. Trước hết chúng ta nên cám ơn Ngạch Phù đã chuẩn bị cho chúng ta lương khô và túi nước. A Quế lên tiếng.

- Phải cám ơn dân chúng Lan Châu, chỉ trong một ngày đã chuẩn bị cho bao nhiêu là lương khô và túi nước bằng da dê. Ngạch Phù đáp.

Hòa Thân lúc đó mới hiểu ra, bất giác thở phào.

May mà A Quế, con người ngay thẳng không mưu mô thủ đoạn. Nếu không thì đời ta đi tong. Đúng lúc cuống cuồng lo sợ, bỗng có chiếu của Hoàng thượng. A Quế xem xong đưa cho Hòa Thân. Mặt Hòa Thân bỗng tái nhợt. Chiếu nói Hòa Thân dấu việc Đồ Khâm Bảo chết, vu cho Hải Lan Tế, Ngạch Lâm Đặc không tuân lệnh, đổi trắng thay đen. Chiếu còn nói, A Quế cầm quân, bố trí định đoạt như vậy là hợp lý, một mình cũng đủ dẹp giặc, Hòa Thân còn ở đó việc quân sẽ không được thống nhất, Hải Lan Tế và những người khác dưới sự chỉ huy của A Quế, Hòa Thân về kinh gấp.

- Thượng thư Hòa Thân! Lệnh cho đại nhân về kinh ngay hôm nay. A Quế ra lệnh.

- Hạ quan tuân lệnh. Hòa Thân đáp.

Nghĩa quân tân giáo bị Hải Lan Tế đuổi chạy vào một ngôi đền ở Hoa Lâm Sơn, vẫn anh dũng chống trả. Hải Lan Tế cho phóng lửa đốt đền, toàn bộ nghĩa quân hi sinh oanh liệt, không một ai đầu hàng. Mãi đến tháng tư, Càn Long năm thứ bốn mươi chín, người Hồi dưới sự lãnh đạo của A Oanh Điền Vương, phái tân giáo, tại Thạch Phong Bảo, Thông Vì, Cam Túc, nêu lên khẩu hiệu phục thù cho Mã Minh Tân và Tô Tứ Thập Tam... dựng cờ khởi nghĩa. Càn Long cử Phúc Khang An, Hải Lan Tế đi dẹp loạn. Và lệnh cho đại học sĩ A Quế dẫn hai ngàn quân tinh nhuệ, vũ khí đầy đủ đi trấn áp, dùng thủ đoạn vây hãm, cắt đứt nguồn nước, tấn công Thạch Phong Bảo. Hơn một ngàn nghĩa quân đều bị tiêu diệt.

Hòa Thân về đến Bắc Kinh, yết kiến Càn Long và tâu rằng:

- Nô tài đi đánh giặc lại cảm thấy béo ra.

- Đúng, lòng dạ khanh béo ra.

- Nô tài chỉ muốn dốc hết tài hèn của thân trâu ngựa phục vụ Hoàng thượng, nhằm báo đáp ân tri ngộ, không ngờ phụ lòng mong đợi của Hoàng thượng. Hòa Thân lại hít một hơi thở.

- Trên đường hành quân Trẫm có nhiều chiếu chỉ cho khanh nhưng đều chưa thấy tâu báo, há không biết Trẫm ở xa hàng ngàn dặm lo âu như thế nào ư? Hôm nay phải tâu hết tình hình trên đường hành quân, và những việc khanh làm để Trẫm hiểu rõ.

Hòa Thân vâng vâng, dạ dạ, vô cùng lo sợ. Càn Long nói tiếp:

- Trẫm biết giữa khanh và A Quế có mối bất hòa, lần này Trẫm chỉ định khanh trước, rồi chỉ định A Quế sau, chẳng qua vì nơi trận mạc khanh không thể bằng A Quế và cũng để cho cả hai sống hòa thuận nhau. Nhưng khanh không cam chịu.

- Nô tài hổ thẹn với Thánh thượng. Nô tài đáng chết.

- A Quế tấu báo, ở Cam Túc mưa lớn suốt cả tuần, đại quân không hành quân được, lý do như vậy đúng hay sai?

- Đúng là mưa lớn suốt mấy ngày, giặc ở trong núi, nếu tấn công thì bất lợi. Hòa Thân không dám nói sai.

Không ngờ Càn Long đứng phắt dậy, nhíu mày, bước tới mấy bước, đứng trước mặt Hòa Thân giận dữ thét to:

- Hòa Thân, tội không thể dung tha!

Hòa Thân quỳ ngay xuống đất, run rẩy tâu:

- Nô tài hoảng hốt. Nô tài không biết tội ở chỗ nào?

Càn Long tức giận:

- Khanh đã phụ lòng mong đợi của Trẫm. Cam Túc bị hạn hán mất mùa, rõ ràng là không đúng. Năm trước, Trẫm cử khanh đi điều tra xem xét, khanh đã tâu việc giám lương là có thật, không phải là tội khi quân ư?

Tim Hòa Thân như ngừng đập.

Vừa rồi, Hoàng thượng hỏi việc mưa to suốt tuần ở Cam Túc để kiểm chứng A Quế là giả, khảo sát Cam Túc là thật. Càn Long vẫn còn sáng suốt không thể bịp được. Lặc Nhĩ Cẩn năm nào cũng tâu báo hạn hán, nhưng quân tiến vào Hoa Lâm Sơn lại gặp mưa to cả tuần. Vậy đó không phải là giả thì là cái gì. Từ việc nhỏ đó, có thể hiểu được sự việc giả dối ở Cam Túc. Hoàng thượng quả là sáng suốt. Hòa Thân vẫn kèo nhèo:

- Nô tài đến Cam Túc, tới từng châu từng phủ kiểm tra kho lương, đối chiếu sổ sách. Kho lương đầy ắp… sổ sách... sổ sách... Nói đến đấy, đầu gật như giã gạo, nốt ruồi đỏ trên trán biến thành màu tím thẫm, rồi nói tiếp: - Nô tài đáng chết, bây giờ nô tài mới biết là bị lừa. Nghĩ rằng các kho lương đó chắc gì là các kho lương quyên giám thật.

- Khanh có nhận hối lộ không?

- Nô tài có nhận của Lặc Nhĩ Cẩn bốn viên ngọc xanh miền tây, nô tài nghĩ rằng các viên ngọc đó đeo lên người công chúa thì rất đẹp. Do vậy, nô tài mới nhận, hiện nay đang ở nơi công chúa. Nô tài có tội, quá ư cuồng vọng. Cam Túc đón tiếp tưng bừng, khắp nơi ca hát chào đón, quan lại toàn tỉnh kéo đến chúc tụng, nô tài nhẹ dạ cả tin, các kho lương và sổ sách đó chắc chắn là giả...

Càn Long thấy Hòa Thân như vậy, lòng không nỡ, cho đó cũng là thực tình. Hòa Thân trẻ tuổi, được Trẫm cất nhắc quá nhanh, tất kiêu ngạo, các quan lại địa phương xảo quyệt, đã làm hỏng Hòa Thân. Càn Long truyền Hòa Thân:

- Khanh đứng dậy!

- Nô tài đã phụ ân nâng đỡ của Hoàng thượng, phụ lòng trọng vọng của Hoàng thượng, nô tài xin Hoàng thượng ban cho cái chết.

- Đứng dậy, khanh định chọc tức ta ư? Càn Long mềm lòng.

- Nô tài xin Hoàng thượng cho nô tài một cơ hội, để nô tài đến Cam Túc, điều tra trừng trị bọn tiểu nhân gian tà bịp bợm đó, sau khi quay về xin Hoàng thượng ban cho cái chết.

- Khanh hãy đứng dậy.

Hòa Thân đứng dậy. Nhìn thấy dáng vẻ Hòa Thân, Càn Long thương hại nói:

- Khanh lấy đó răn mình, không được tái phạm. Công việc Cam Túc, A Quế vẫn còn ở đấy, Trẫm truyền chỉ ngay cho A Quế điều tra.

Hòa Thân nghe nói A Quế điều tra, hoảng sợ, nhưng mặt tỉnh bơ, bước tới, dìu Hoàng thượng ngồi vào ghế nhẹ nhàng đấm bóp lưng vai Hoàng thượng và nói:

- Hoàng thượng dẫu sao cũng không nên tức giận, để tránh hao tổn sức khỏe.

- Làm sao mà không giận?

Hòa Thân về nhà, bảo Lưu Toàn phi ngựa đến ngay Lan Châu.

Không bao lâu, A Quế tâu báo: cái gọi là “giám lương”, là giả dối. Càn Long cả giận, triệu tập các quan đến điện Kim Loan tuyên bố:

- Trẫm bình sinh rất ghét tham ô, Cam Túc dựng cớ thiên tai để tham ô của cứu tế, phép nước không tha. Trẫm phải nghiêm trị để răn thiên hạ, điều tra ra một giết một, điều tra ra hai giết hai, quyết không dung tha.

Các quan ai nấy đều kinh hoàng. Càn Long truyền:

- Hòa Thân! Bây giờ giáng khanh hai bậc, đợi đến khi làm rõ vụ việc, sẽ xử trí. Càn Long nói tiếp:

- Đưa Lý Thị Nghiêu trong ngục ra đây gặp Trẫm ngay.

Các quan nhìn nhau chẳng rõ mô tê. Hòa Thân đoán được tám chín phần, nghĩ bụng: Sau này nên cẩn thận hơn trước mặt Càn Long, không nên có sơ hở. Càn Long lệnh cho Lý Thị Nghiêu là người sẽ bị chém sau mùa thu, nên không có chuyện thiên vị, người chờ chết không sợ bất cứ cái gì, không sợ bất cứ liên luỵ nào. Lần này, nếu Lý Thị Nghiêu ra sức làm rõ vụ việc may ra tìm được con đường sống. Hơn nữa, Lý Thị Nghiêu lại thông thạo và không có đối thủ ở hai tỉnh Thiểm - Cam. Nếu ta không cho Lưu Toàn phi ngựa đến ngay Lan Châu, e rằng, mạng ta đi đời.

Quả nhiên, Càn Long lệnh cho Lý Thị Nghiêu làm quyền Tổng đốc Thiểm - Cam, đội tội mang chức đi điều tra vụ việc, làm tốt sẽ tha tội chết, làm không tốt, sau mùa thu sẽ xử trảm. Và lệnh cho A Quế tạm ở Lan Châu, đôn đốc Lý Thị Nghiêu điều tra vụ việc, và kiểm tra công trình Hoàng Hà. Lý Thị Nghiêu nói: “Sẽ không phụ ân thánh thượng”, rồi nhận lệnh ra đi.

Chiếc xe của Lý Thị Nghiêu băng nhanh trên thảo nguyên, cố tranh thủ thời gian.

Lý Thị Nghiêu đến gặp ngay A Quế.

A Quế ra lệnh cho quân đội bao vây ngay trụ sở các châu phủ, tuần tra nghiêm ngặt các ngả đường quan trọng, các thị trấn làng xã. Trụ sở, nhà riêng của phủ Tổng đốc và Bố chánh sứ đều bị bao vây canh giữ càng chặt chẽ không để một khe hở.

Khắp phố phường dán đầy thông báo của Lý Thị Nghiêu, yêu cầu dân chúng tố giác bọn gian tà lưu manh, nếu nhân dịp cơ quan chính phủ tạm ngừng làm việc mà quấy rối, gây sự, sẽ chém ngay.

Trên tường thành một số nơi treo lủng lẳng mấy chiếc đầu lâu của bọn trộm lưu manh.

Cả tỉnh yêu tĩnh.

Tuần sau, Lý Thị Nghiêu đã làm rõ vụ việc và tâu báo.

Tổng đốc Lặc Nhĩ Cẩn giả mạo tạo cớ Cam Túc và các nơi khác bị nạn hạn hán, báo về triều đình xin được phép thu “giám lương”, dân chúng nộp thóc đậu, học sinh có thể đi thi làm quan hoặc miễn thi làm quan. Thực tế, Cam Túc không có hạn hán, Lặc Nhĩ Cẩn, Vương Đảm Vọng thậm chí các châu huyện đã đổi “giám lương” thành bạc trắng bỏ túi riêng và nói dối rằng số lương thực đó được đem cứu tế. Số bạc đó đều chia cho từ Tổng đốc trở xuống. Vương Đảm Vọng nhận được nhiều hơn, chỉ trong nửa năm đầu thu nộp “giám lương”, y đã bỏ túi số bạc bằng hai vạn thạch lương thực. Y còn báo cáo láo xây dựng kho tàng để nhận của triều đình mười sáu vạn lạng bạc cho vào túi riêng. Năm Càn Long thứ bốn mươi bốn, đại thần quân cơ Hòa Thân được cử đến kiểm tra, các châu phủ huyện đều báo cáo láo và lấy sổ sách giả đánh lừa. Nay kiểm tra nhà của Vương Đảm Vọng, có dư triệu lạng vàng bạc, nhà cửa vật dụng còn chờ đánh giá ra tiền bạc. Cùng trong vụ này, có đến 102 người tham ô trên một ngàn lạng, ba mươi người tham ô từ một ngàn đến một vạn lạng, mười một người từ một vạn đến hai vạn lạng, hai mươi người từ hai vạn lạng đến mười vạn lạng, mười người tham ô trên mười vạn lạng. Quan lại trong toàn tỉnh Cam Túc đều có dính líu.

Càn Long ra lệnh xử chém ngay Vương Đảm Vọng, con đày đi Y Lê. Năm mươi sáu người khác cũng bị xử trảm, bốn mươi sáu người bị lưu đày. Xử trị những quan lại cấp dưới tùy theo tội nặng nhẹ. Lệnh Lý Thị Nghiêu làm Tổng đốc Thiểm - Cam, xây dựng lại cơ cấu địa phương. Hòa Thân giáng xuống hai cấp lưu dụng. Chỉ có một tội phạm tham ô lớn nhất lọt lưới.

Lúc bấy giờ Cam Túc có bài hát dân gian như sau:

Cam Túc hàng năm hạn hán to,

Kiệu quan qua lại mọi người lo.

Vén màn nhìn thử xem ai đó,

Chễm chệ bên trong kẻ tham ô

Chém trước rồi sau hãy luận bàn,

Bảo đảm ngàn lần chẳng thể sai.

Điều an ủi lớn của Hòa Thân là Càn Long cho ông ta làm tùy tùng cùng đến Nhiệt Hà, vẫn ưu ái ông ta và cho ông ta làm tổng tài “Khâm định Nhiệt Hà chí”. Lúc này, Hòa Thân không dốc sức ra thì còn đợi lúc nào, mấy tháng sau, cuốn “Khâm định Nhiệt Hà chí” được đặt trước mặt Càn Long. Càn Long hết sức vui mừng, lại ban thưởng cho Hòa Thân. Càn Long đã hơn bảy mươi tuổi, Hòa Thân càng chăm sóc, hầu hạ chu đáo hơn trước đây, đôi lúc cùng ngủ chung giường với Hoàng thượng.

Công chúa thứ mười càng quyến luyến Càn Long và Hòa Thân. Mẹ công chúa là Đôn Vượng Thị do đánh chết cung nữ, tí nữa bị Càn Long giết chết, nhưng vì rất yêu thương công chúa nên miễn tội chết, giáng xuống làm thiếp. Hòa Thân cũng rất yêu mến công chúa, thường đưa công chúa dạo chơi, săn bắn. Hòa Thân luôn luôn tìm kiếm thú vui cho công chúa, đồ chơi công chúa thích.

Hòa Thân dần dà quên đi nỗi buồn phiền trong lòng. Càn Long càng quyến luyến Hòa Thân và cất nhắc lên làm đại học sĩ kiêm Thượng thư bộ Lại.

Hòa Thân là Thượng thư bộ Lại, Tô Lăng A làm Viên ngoại lang của bộ Lại. Như vậy chẳng phải người trong nhà cùng làm quan trong một bộ ư? Thế là Hòa Thân tâu với Càn Long, đặc cách đề bạt Tô Lăng A kiêm nhiệm Thị lang bộ Công và bộ Binh. Trong lúc Tô Lăng A và bố chồng công chúa chìm đắm trong niềm vui được thăng quan tiến chức, thì tại điện Kim Loan, Lưu Quốc Thái bị tố cáo.

Tạ Chính, huyện lệnh huyện Lịch Thành, tỉnh Sơn Đông, xuất thân là tiến sĩ, vốn là học trò của Trịnh Bản Kiều, một trong tám quái kiệt Dương Châu, được Trịnh Bản Kiều truyền dạy sau mười năm cố công rèn luyện, chữ đẹp, vẽ đẹp, thơ hay, chẳng kém gì thầy. Tính khí chính trực, luôn luôn lấy Trịnh Bản Kiều làm mẫu mực, không a dua quyền quý, càng không tham. của. Vừa lên làm huyện lệnh là cho giảm tô miễn thuế, được dân chúng hoan nghênh, không bao giờ ngồi kiệu, suốt ngày đến thăm nhà dân.

Một hôm, Tạ Chính mang theo rượu thịt, bước đi trên cánh đồng, miệng ngâm nga mấy câu thơ của Vương Ung:

“Dấu xưa in bóng chiều tà.

Cùng đường hết lối ngựa trâu quay về

Chủ nông trông ngóng mục đồng.

Cậy quyền ỷ thế sẵn sàng rầy la”.

Đến trưa bước vào một gia đình, đặt bình rượu lên bàn, móc gói thịt trong túi ra, cùng với chủ nhà ăn uống, sau một giờ mới đứng dậy cáo lui. Bác nông dân nọ thấy Tạ Chính bước đi lảo đảo bèn nói:

- Tôi đưa ngài về huyện nhé.

- Không hề gì. Tôi uống ngàn chén không say mà!

Rồi ngâm nga mấy cây thơ của Mạnh Khiết Nhiên:

Kẻ thù có sẵn thóc gà.

Biếu ta mang đến tận nhà cho ta.

Cây xanh liền với thôn trang.

Non xanh chênh chếch ngoài thành xa xa”

Bác nông dân nọ thấy ông ngâm thơ, nên quay về nhà. Trong ngoài thành huyện Lịch Thành ai cũng biết quan huyện này có bốn cái giỏi: giỏi rượu, giỏi thơ, giỏi vẽ, giỏi chữ. Càng uống nhiều, thơ; họa, chữ càng hay hơn. Nếu không ngâm thơ, không vẽ tranh, không viết chữ thì chắc chắn là ông đã say. Do đó, bác nông dân nọ thấy ông bước đi lảo đảo, nhưng vẫn ngâm thơ, nên yên tâm quay về.

Tạ Chính lảo đảo bước vào thành, từ xa nhìn thấy một nhóm người vây quanh một cửa hiệu, miệng lẩm bẩm bước đến. Nhìn thấy một cậu bé quỳ giữa đám đông, đầu tóc rối bù, lẫn với mấy cọng cỏ khô, quần áo rách rưới, đất bụi lấm lem. Đang định hỏi xem, thì một người mắt sắc như dao cất tiếng nói: “Quan huyện ơi” Mọi người rẽ ra nhường lối, người chủ quán bước đến trước mặt Tạ Chính, cười híp mắt, cung kính vái chào, nói:

- Mời quan huyện vào trong nhà ngồi, mời vào trong nhà ngồi.

Tạ Chính hỏi:

- Đây… đây xảy ra.... chuyện gì vậy?

- Hắn đánh cắp con gà luộc của tôi.

- Có lẽ… hắn đói! Định quay mình bước đi. Chủ quán thưa:

- Một con gà giá mấy đồng bạc trắng. Nhà hắn ở gần đây, tôi phải buộc người nhà hắn bồi thường.

Tạ Chính nói:

- Ta... biết nhà.. hắn... bố hắn bệnh nặng, không bồi thường nổi.

- Vậy phải đánh nó một trận. Chủ quán nói.

- Được được! Ngươi mang chiếu và mấy tờ giấy ra đây, ta phải cảnh cáo hắn trước mọi người.

Chủ quán vội gọi người nhà mang chiếu ra và đặt giấy lên bàn. Tạ Chính cầm bút vẽ một bụi cỏ, bên dưới viết mấy câu thơ, gọi người mang hồ đến, dán bức tranh lên tấm chiếu, rồi buộc tấm chiếu lên người cậu bé, để cậu bé đứng trước cửa hiệu.

Dân chúng nhìn bụi cỏ như mọc trong khe núi; chứ không phải trên tấm chiếu cói, nét chữ tự nhiên phóng khoáng, tấm tắc khen ngợi. Một lát sau, dân chúng khắp thành biết chuyện, tranh nhau đến xem bức tranh, vây kín cửa hiệu, không chịu rời bước. Khổ sở cho chủ quán nọ, buôn bán chẳng được, mà quầy hàng phía trước cũng bị sụp đổ. Chủ quán đành xin Tạ Chính: “Xin ngài tha hắn”. Tạ Chính cười ha hả, thả cậu bé đi.

Năm đó, hạn hán mất mùa, dân chúng buộc phải giết gia súc. Tạ Chính khuyên bảo: “Giết gia súc lấy gì sản xuất. Bà con hãy đợi đấy, bản quan viết tờ trình lên quan Tri phủ xin mở kho lương cứu tế”. Nào ngờ Lữ Nhĩ Xương, Tri phủ Tế Nam đã không cho mở kho lương cứu tế mà còn đòi “vay” tiền Tạ Chính và gạ ông lên gặp Tuần phủ Lưu Quốc Thái. Tạ Chính xem thư trả lời của Lữ Nhĩ Xương, tức giận, bất chấp, mở kho lương và lệnh cho các nhà giàu lần lượt mở kho thóc gia đình cứu tế. Các nhà giàu chẳng ai dám trái lệnh, răm rắp tuân theo.

Tri phủ Lữ Nhĩ Xương gọi Tạ Chính đến Tế Nam, nói:

- Bản quan không trách ngài, hôm nay có tiệc mời Tuần phủ Lưu Quốc Thái, ngài thừa hưởng ba cái tuyệt thi - thư - họa của ngài Bản Kiều, nếu có thể múa may bút mực trước buổi tiệc, khiến buổi tiệc càng thêm vui, và như vậy cũng rất có lợi cho tiền đồ của ngài. Tạ Chính vâng.

Tối đến, Tạ Chính đến Bao Đột Tuyền, nhìn thấy mấy trăm chiếc bàn bày sẵn. Lữ Nhị Xương thấy Tạ Chính đến, hết sức vui mừng nói:

- Nơi đây là chỗ ở cũ của Thanh Chiếu, đang cần có người như ngài. Mời Tạ Chính ngồi, rồi nói tiếp:

- Xin quý vị yên lặng, bản phủ chuẩn bị bữa tiệc đơn sơ kính mời ngài Tuần phủ Lưu Quốc Thái đến dự, giờ xin mời ngài phát biểu.

Một tràng vỗ tay vang lên, hết sức nồng nhiệt, tựa hồ ai cũng cho mình vỗ kêu to hơn cả và được Lưu Quốc Thái nhìn thấy. Lưu Quốc Thái đứng dậy, hai bàn tay béo mập giơ lên rồi đặt xuống hai lần, tỏ ý muốn mọi người không nên vỗ tay nữa, ông đã nhìn thấy ai vỗ kêu to nhất rồi. Tất cả yên lặng. Lưu Quốc Thái nói:

- Các vị dù là quan chức cấp bậc nào, đều là thần tử của Hoàng thượng, mong mọi người tiếp tục cố gắng! Nói xong ngồi xuống, một tay ôm cô kỹ nữ. Rượu say, đêm đã khuya, Lữ Nhĩ Xương nói:

- Mời Tạ Chính, huyện lệnh huyện Lịch Thành, người được ngài Bản Kiều truyền dạy hãy vẽ tranh, ngâm thơ cho chúng ta thưởng thức. Nói xong bảo mang bàn ghế và bút mực giấy đến.

Mọi người lại vỗ tay. Tạ Chính cấm cốc rượu bước đến trước mặt Quốc Thái nói:

- Tuần phủ đại nhân, đại nhân không biết đấy thôi, chân giò lợn đại nhân ăn toàn là chân giò lợn có bệnh.

Mọi người nghe nói như vậy đâm hoảng, có người nôn tháo ra. Tạ Chính đến trước bàn viết một bài thơ, rồi quay mình bước đi.

Quốc Thái thấy bài thơ có ý châm chọc mình và Tạ Chính bỏ đi, bèn nói to:

- Mẹ kiếp ! Thế mà cũng làm quan, cả gan dậy người.

Mấy hôm sau, Tạ Chính trở về huyện nha mới biết mình đã bị cách chức. Điều này không ngoài dự kiến của ông, nhưng điều bất ngờ là, trong lúc ông chưa ra khỏi thành huyện, bạc trong kho huyện đã bị lấy sạch. Ngay lúc đó, ông giao lại công việc, chuẩn bị ba con lừa, lên đường về Dương Châu. Không ngờ, đi chưa được bao xa, có mấy người đuổi theo, té ra họ cũng là mấy viên huyện lệnh. Tạ Chính xuống lừa hỏi:

- Mấy người anh em đuổi theo tôi có việc gì vậy?

- Chúng tôi cũng bị cách chức rồi! Các huyện lệnh đáp.

- Vì sao?

- Quan trên muốn vay bạc của kho huyện, chúng tôi cho vay hơi ít. Hơn nữa, chúng tôi chẳng có tiền biếu xén.

Mấy người đuổi theo Tạ Chính, vì họ hợp tính với Tạ Chính, muốn Tạ Chính viết một lá thư cho Ngự sử Tiền Phong. Họ biết Tạ Chính và Tiền Phong không những là bạn bè, mà còn đậu tiến sĩ cùng khoa thi năm Càn Long thứ ba mươi sáu. Tiền Phong nổi tiếng là người cương trực, không a dua nịnh bợ.

Tiền Phong, tự là Đông Chú, người Côn Minh, tỉnh Vân Nam, đậu tiến sĩ năm Càn Long thứ ba mươi sáu và được chọn làm Ngự sử giám sát đạo Giang Nam năm Càn Long thứ bốn mươi sáu. Tiền Phong nổi tiếng sau vụ án Vương Đảm Vọng. Ông cho rằng Vương Đảm Vọng cùng tội với Tổng đốc Thiểm - Cam Lặc Nhĩ Cẩn, nhưng trong số quan lại tỉnh Cam Túc còn lọt lưới Tất Nguyên, Tuần phủ Thiểm - Tây, ông tâu rằng: “Lúc Vương Đảm Vọng làm Bố chánh sứ, Tất Nguyên ở Đồng Thành gần đấy, lẽ nào không nghe biết? Nếu Tất Nguyên sớm phát hiện việc làm gian dối của Vương Đảm Vọng, thì đâu để xảy ra tội ác tày trời thế này. Thần không dám nói Tất Nguyên vì lợi mà mê muội, cam tâm nhận hối lộ, nhưng biết mà không ngăn can, nghe mà không báo thì chưa tròn bổn phận của bậc đại thần”. Càn Long quở trách Tất Nguyên, giáng xuống hạng tam phẩm. Từ đó, trong và ngoài triều đình ai cũng biết Tiền Phong chánh trực không xu nịnh.

Tiền Phong nắm chắc những chứng cớ xác thực trong vụ tham nhũng ở Sơn Đông, tâu lên Hoàng thượng:

- Tuần phủ Sơn Đông, Lưu Quốc Thái tham ô hối lộ hiện có nhiều huyện lệnh bị mất chức tố cáo.

Càn Long nói:

- Quốc Thái là viên quan do Trẫm cất nhắc. Trẫm tận mắt thấy dân chúng Tứ Thủy rất yêu mến Quốc Thái. Năm ngoái, Trẫm nghe nói Quốc Thái làm bậy, đã hỏi Vu Dị Giản. Vu Dị Giản tâu rằng Quốc Thái đã răn bảo thuộc hạ, nên sai lầm không xảy ra nữa. Bây giờ có mấy viên huyện lệnh mất chức viết đơn tố cáo, cần điều tra cho đúng thật giả. Và nói tiếp: - Hòa Thân! Lệnh cho khanh và Tiền Phong đến Sơn Đông điều tra việc này, mong khanh thận trọng.

- Thưa vâng!

Không ngờ Tiền Phong lại tâu:

- Bệ hạ, thần cho rằng vụ này rất quan trọng, thần lại bất tài, chỉ có thần và Hòa đại nhân thì khó làm rõ vụ án. Thần đề nghị Lưu ngự sử cùng đi, vụ án nhất định sẽ được làm rõ.

Càn Long chuẩn tấu.

Tiền Phong biết rằng, chỉ có Lưu Dung và ông ta cùng đi mới khống chế được Hòa Thân. Không thế thì không buộc tội được Tuần phủ Sơn Đông, mà bản thân sẽ mất chức. Tuy Ngự sử có quyền lực, giám sát bá quan, lấy nghiêm để trị, nhưng nếu lần này không tìm được chứng cớ xác thực, Hòa Thân đâu có chịu để ta yên. Do đó, Tiền Phong muốn có Lưu Dung hỗ trợ, việc mới thành.

Lưu Dung, tự là Sùng Như, người huyện Chư Thành, tỉnh Sơn Đông. Đậu tiến sĩ năm Càn Long thứ mười sáu. Trước đây đã từng làm Biên tu, Thị giảng, Học công ở An Huy, Tri phủ ở Thái Nguyên, Sơn Tây, Tri phủ Giang Ninh, án sát sứ Thiểm - Tây, học sĩ nội các Thị lang bộ Hộ và bộ Lại, hiện làm Tả đô ngự sử, về sau làm Thượng thư bộ Công, Đại học sĩ Thể Nhân Các và kiêm Thái tử Thái bảo.

Cũng cần phải nói thêm, Lưu Dung là con trai của Đại học sĩ Lưu Thống Huân.

Lưu Thống Huân là viên quan người Hán được Càn Long tin yêu nhất. Càn Long tin yêu ông ta vì ông ta trung chính liêm minh, không kết bè kết đảng. Ở thời đó, quan lại thường bè cánh đấu đá nhau, a dua nịnh hót, kéo bè kéo cánh, sát phạt lẫn nhau. Nếu làm được việc gì hay cũng chỉ vì tiền đồ và danh dự của mình, mưu cầu cho bản thân được tăng tiến nhiều hơn. Thế nhưng, Lưu Thống Huân không hề dựa dẫm vào ai, không kết bè kết đảng. Càn Long lúc mới lên ngôi, cần những đại thần như vậy, do vậy chưa đầy một năm, Lưu Thống Huân đã được liệt vào hàng tể tướng.

Lưu Thống Huân thanh - chánh - liêm - minh, trở thành một ngọn cây đơn độc trong chốn quan trường chỉ biết chạy theo công danh lợi lộc lúc bấy giờ.

Một lần, con trai người bạn của Lưu Thống Huân làm Tuần phủ tỉnh Hồ Bắc, nhân dịp năm mới cử người nhà mang ngàn lạng vàng đến biếu và nói với Lưu Thống Huân: “Cha tôi và ngài, tình như anh em, lúc gia đình tôi nghèo đói, dù gia đình của ngài cũng đang khó khăn, nhưng luôn giúp đỡ gia đình tôi. Giờ đây nhà tôi sung túc, xin báo đáp ơn ngài” và dặn thêm: “Nếu ngài Lưu Thống Huân không nhận, ngươi thay ta khấu đầu vái lạy”. Khi người nhà mang vàng đến biếu, Lưu Thống Huân nghiêm sắc mặt nói:

- Chủ ngươi nhớ ân báo ân là đúng nhưng bản quan đang nắm quyền hành, không tiện nhận lễ vật, hơn nữa nhà ta cũng dư dật, nhận quà biếu, tạo ra thói xấu xa hoa lãng phí. Ngươi về nói lại với chủ ngươi, đem vàng này biếu cho những người bạn cũ còn đói nghèo.

Người nhà lẩm bẩm nói:

- Lúc đi chủ nhân tôi có dặn: “Nếu ngài không nhận số vàng này, tôi... thay chủ nhân tôi khấu đầu lạy tạ ngài” . Nói xong quỳ xuống khấu đầu lạy tạ Lưu Thống Huân.

Lưu Thống Huân nói:

- Tấm lòng này còn quý trọng hơn bao nhiêu lễ vật. Ta xin nhận vậy.

Một lần khác, một viên quan phụ trách thuế vụ, nửa đêm đến gõ cửa xin gặp. Lưu Thống Huân không tiếp. Hôm sau, ông cho gọi viên quan đến công đường nhắc nhở: “Nửa đêm đến gõ cửa, người ngay không ai làm như vậy. Ngươi có việc gì bẩm báo, thì nói trước mọi người trên công đường, dù đó là lỗi của ta, ta coi đó là lời khuyên răn”. Viên quan nọ ậm ừ, ngượng ngùng rút lui.

Năm Càn Long thứ ba mươi sáu, Lưu Thống Huân qua đời. Càn Long đến phủ Trung Đường viếng, khóc than. Khi trở về cung nói với bá quan văn võ trong triều: “Lưu Thống Huân quả không thẹn là một Tể tướng chân chính”. Càn Long thường nói “Tể tướng hiền năng”, và nói trị nước dựa vào Tể tướng, vậy mà còn gọi Lưu Thống Huân là “Chân Tể tướng”. Qua đó thấy Càn Long tín nhiệm Lưu Thống Huân chừng nào.

Tiền Phong nghĩ rằng: ta để Lưu Dung, con trai của Lưu Thống Huân cùng ta đi điều tra vụ này, Hòa Thân sẽ chẳng dám làm gì. Hơn nữa giữa Hòa Thân và Lưu Dung có mối bất hòa.

Càn Long định đề bạt Lưu Dung làm Thị lang bộ Lại. Hòa Thân nghĩ bụng: Bộ Lại phụ trách tuyển chọn quan lại toàn quốc, ta để Tô Lăng A làm Thị lang, cắm người của ta ở khắp nơi, nếu để Lưu Dung vào sẽ gây trở ngại, nên tâu với Càn Long:

- Hoàng thượng, triều đình trước nay có quy định những người mặt mày xấu xí, tướng mạo kỳ dị, không được vào triều. Nếu để Lưu Dung làm Thị lang bộ Lại e trở ngại cho Hoàng thượng, nước ngoài nhìn vào cho Đại Thanh ta không có người tài. Lưu Dung thân hình thấp bé, lưng gù, trông xấu xí.

Không ngờ Lưu Dung lại tâu:

- Hoàng thượng, Hòa đại nhân nói sai rồi. Từ xưa đã có người mắt lác, diện mạo xấu xí từng làm quan trong triều, và là một quan thanh liêm chính trực, tiếng thơm lưu truyền.

- Trẫm chưa biết người đó là ai?

- Liễu tiên sinh. Hoàng thượng thấy phong cách Liễu tiên sinh Đào Uyên Minh như thế nào?

- Phong cách ông ấy như hoa cúc.

- Ông ấy mắt lác. Lưu Dung nói.

- Trẫm chưa hề được biết, vậy ai nói?

- Có câu thơ chứng minh:

Dang tay hái cúc bên đông.

Tự nhiên lại thấy núi rừng phương nam

(Nguyên văn: Thái cúc đông li hạ.

Du nhiên kiến nam sơn)

Nếu Ngũ Liễu tiên sinh không lác mắt thì làm sao có thể hái hoa cúc bên giậu phía đông mà lại nhìn thấy núi phía nam.

Bá quan văn võ trong triều cười ồ. Hòa Thân cũng ôm bụng phì cười, rồi bất ngờ lên tiếng:

- Đó là chuyện bông đùa mua vui. Thật ra là bất kính với Hoàng thượng.

- Dẫu là ngụy biện, nhưng cũng thấy tài đối đáp nhanh trí, đúng là chuyện khôi hài, nhưng không có gì bất kính. Càn Long nói.

- Lưu Dung có tài đối đáp nhanh trí, muốn để ở điện Kim Loan, xin bắt chước câu chuyện Tào Thực ngâm thơ trong vòng bảy bước đi.. Lấy cái lưng gù của ông ta làm đầu đề. Nếu làm được thơ thì nhận là Thị lang bộ Lại, ngược lại, lâu dài thì xem ông ta là một tên hề khôi hài. Trước mắt cho làm tên quan nhãi nhép. Hòa Thân đề nghị.

- Như vậy nhé. Ngươi làm thơ đi nào?

Lưu Dung đọc:

Lạc đà đèo càn khôn,

Ngực cao đầy kinh luân

Nhìn qua biết ngay gian,

Một chân vượt Long Môn.

Lòng son phò xã tắc,

Đem sức tạ ơn vua.

Trông mặt nhận người tài,

Phải chăng người hiền đức.

Càn Long cả cười, nói: “Kỳ tài, kỳ tài, nhận làm Thị lang bộ Lại”. Từ đó, Lưu Dung và Hòa Thân càng bất hòa.

Mùng một Tết, Hòa Thân nhất định sẽ đến hoàng cung chúc mừng năm mới Càn Long, tặng lễ vật cho công chúa. Lưu Dung khoác một bộ áo quần cũ nát, dầu mỡ dính đầy người, ra khỏi nhà. Bên ngoài, tuyết vừa tan, mặt đất bùn lầy. Lưu Dung cho người đổ nước bẩn lên trên mặt đất, đứng bên cổng đợi, người nhà chẳng hiểu làm sao. Một lát sau, kiệu Hòa Thân đi ngang qua trước cổng, Lưu Dung vội gọi người nhà đến trước kiệu Hòa Thân nói to:

- Đại nhân đến tệ phủ chúc mừng năm mới, thật là quý hiếm, chủ tôi xin kính chúc. Rồi nói tiếp: - Lưu đại nhân! Hòa đại nhân đến chúc mừng năm mới.

Lưu Dung vội vàng ra đón:

- Hòa đại nhân đến tệ phủ chúc mừng năm mới hạ quan rất hân hạnh. Xin mời xuống kiệu.

Hòa Thân đành phải xuống kiệu, nghĩ bụng ta sẽ nói chuyện với hắn vài câu rồi đi. Nào ngờ, Lưu Dung vừa thấy Hòa Thân xuống kiệu, đã quỳ mọp xuống đất Theo lễ tiết của triều Thanh, chức quan ngang nhau thì lễ tiết ngang nhau. Hòa Thân cũng phải quỳ đáp lễ. Hôm nay, Hòa Thân đến bái kiến Hoàng thượng, lại là ngày mùng một Tết, nên mặc áo gấm kép màu đen, quần lông cáo, khi đứng dậy, cả người bẩn thỉu. Hòa Thân đến cửa cung, khóc than trước mặc Càn Long:

- Lưu Dung đã hại nô tài thế này, Hoàng thượng cũng chẳng hỏi han một câu nào.

Không ngờ Càn Long cười ha hả:

- Hai khanh ngày thường hay trêu đùa nhau quen rồi, khanh không nên để bụng.

Hòa Thân bắt đầu chịu phép Lưu Dung

Tiền Phong đề cử Lưu Dung, không những có thêm một đồng minh mà còn có thêm một túi khôn.

Tiền Phong tìm gặp Lưu Dung bàn bạc, hai người quyết định: Lưu Dung cùng đi với Hòa Thân, theo dõi mọi động tĩnh của Hòa Thân. Tiền Phong đi trước, chỉ mang theo một thị vệ, thường xuyên liên hệ với Lưu Dung. Tiền Phong tâu với Càn Long:

- Hòa Thân đại nhân, gần đây nhiều việc, thần xin đi trước, Lưu đại nhân đi cùng với Hòa đại nhân.

Càn Long chuẩn tấu.

Thời tiết đã sang thu, khí trời bắt đầu lạnh. Tiền Phong đội chiếc nón rách, khoác lên mình chiếc áo bông rách hở mấy chỗ, sợi bông lòi phất phơ ra ngoài, bên dưới mặc chiếc quần vải bố, đũng quần sờn rách, mỗi khi gió thổi lộ cả vật quí ra ngoài. Tay trái cầm một cái bát gốm miệng còn dính đất cát, dầu mỡ; tay phải kéo lê một chiếc roi, áo quần lem luốc bẩn thỉu. Chiếc roi đó là ám hiệu liên lạc với người tùy tùng. Chiếc roi đặt lên vai, người tùy tùng phải từ xa theo sát ông, không được để người khác biết hai người là một nhóm.

Tiền Phong ra khỏi Bắc Kinh, thư thả đi trên con đường cái lớn.

Hòa Thân được lệnh của Hoàng thượng, muốn lùi lại ngày đi để bàn với Tô Lăng A. Tô Lăng A là người không có chính kiến, mọi việc y làm đều do Hòa Thân sắp đặt. Hòa Thân nói: “Ta đã đón Nạp Lan về nhà ta, vật phẩm đắt tiền trong cửa hàng da của Quốc Thái đã bí mật chuyển về cửa hàng nhà ta. Bây giờ ta chuẩn bị hai bản tấu, một bản vạch tội Lưu Dung và Tiền Phong, một bản vạch tội Quốc Thái, ngươi ký tên vào đấy chờ ta cấp báo. Nếu đến Sơn Đông điều tra chẳng có gì, lần này ta quyết không tha hai lên Lưu Dung, Tiền Phong, phải diệt trừ chúng. Nếu có chuyện không hay, sẽ cho người báo ngay với ngươi, ngươi cầm bản tấu này tâu lên Hoàng thượng, trước khi Lưu Dung và Tiền Phong vạch tội Quốc Thái, thí tốt cứu xe. Ngươi ở lại kinh đô, luôn theo dõi tình hình trong triều, lúc cần thiết có thể tự lo liệu. Bây giờ ta cho người mang thư đến Quốc Thái, để Quốc Thái chuẩn bị đầy đủ, ta kéo dài thêm mấy ngày ở đây, để Quốc Thái ung dung sắp đặt”. Tô Lăng A ậm à ậm ừ, chỉ sợ vơ việc vào người.

Tiền Phong đến Lương Hương, không đi nữa, vào quán bên đường xin ăn, tối ngủ ngay bên lề đường. Đây là con đường độc đạo đến Sơn Đông, người buôn bán qua lại tụ tập ở đây, huyện lỵ không lớn, nhưng rất náo nhiệt. Một hôm, Tiền Phong đưa tay ra xin cơm của một chủ quán. Chủ quán vểnh râu trợn mắt quát:

- Ngươi xin, hắn xin, ai cũng xin, hôm nay xin, ngày mai xin, lúc nào cũng xin.

- Xin một ít ăn thôi mà!

- Ăn xin còn hay hơn nhiều. Mùa xuân, quyên tiền chống hạn, một giọt nước chẳng thấy; mùa hè, quyên tiền đắp đường, hố mương càng nhiều, hiện nay trời hạn không mưa, mẹ kiếp, lại quyên tiền đào sông. Quyên, quyên, góp, góp...

- Bác quyên góp như vậy, có thu được lợi gì không?

- Ngươi chỉ biết xin cơm ăn, nhàn rỗi chẳng việc làm, nên hỏi chuyện này. Có đếch gì mà lợi với lộc. Họ viết biên lai, theo đó thu tiền.

- Bác cho tôi số biên lai đó tôi đang cần giấy vệ sinh đây.

Chủ quán chẳng hơi đâu mà nói, liền lấy tập biên lai ghim trên tường vứt cho người ăn mày.

Tiền Phong xem tập biên lai, thấy ghi các loại thuế tạp nham và các loại quyên góp kinh người như: tiền xây cầu đắp đường, tiền trị thuỷ, tiền quản lý cây cối bên đường, tiền cứu tế, tiền nuôi trẻ mồ côi người già, tiền sửa chữa quan nha kho phủ... Cả thảy có đến ba bốn mươi loại, có thứ đã tính trong thuế còn phải nộp thêm.

Một người ăn xin khác hỏi Tiền Phong:

- Bác cũng bị những thứ này mà phải đi ăn xin phải không?

- Chẳng qua nhà tôi bị lũ lụt.

- Nạn quan còn ghê gớm hơn nạn lụt. Tập biên lai bác đang cầm chỉ là một. phần thôi. Có những khoản tiền thu hai ba lần, năm nào cũng phải nộp. Ví như tiền sửa chữa quan nha kho phủ, hôm nay sửa, ngày mai chữa, năm nào cũng sửa, năm nào cũng góp. Tại sao sửa chữa mãi mà không xong?

- Có cái chữa xong lại chữa nữa, có cái chưa định chữa thì bỗng hỏng rồi.

- Chẳng lẽ không ai trị nổi các quan lại như vậy ư?

- Bác thật ngây thơ, không biết gì sất. Quan phủ bây giờ, có ai tốt đâu, anh đến đâu mà kêu kiện, ngay Sơn Đông đây, Tuần phủ Lưu Quốc Thái, vốn tưởng là người tốt, nào ngờ toàn dân Sơn Đông và cả Hoàng thượng cũng bị ông ta lừa. Từ khi làm tuần phủ, ông ta hôm nay nói mở kênh, ngày mai nói đào sông, hôm nay nói anh... Nói đến đấy hình như vô cùng hoảng sợ, rồi chẳng dám nói thêm. Tiền Phong nói thế nào, anh ta cũng không mở mồm. Chờ đến khi anh ta trấn tĩnh lại Tiền Phong hỏi:

- Bác nói do sưu cao thuế nặng bác phải đi ăn xin như vậy là thế nào?

- Ông anh chẳng biết đấy, ngoài tô thuế, còn phải nộp thuế nhà, thuế nuôi lợn, bán lợn, thuế nuôi bò, bán bò, thuế nuôi gà, bán gà, tính đầu con mà nộp thuế. Cái cày, cái bừa, cái cuốc cũng tính thuế theo từng cái, hạt lúa mọc mầm cũng tính thuế quản lý, hoa màu lúc chín thu hoạch phải nộp thuế bảo vệ. Kể không sao hết các loại thuế. Quan không tiền muốn uống rượu, đặt ra một thứ thuế, bày ra một khoản quyên góp. Khổ thay, vì tôi bệnh nặng, chẳng lấy đâu ra tiền nộp thuế... Nói xong nghẹn ngào, rơi nước mắt, bò lăn trên đất khóc than.

Sáng hôm sau, Tiền Phong cầm bát đến một nhà dân, thấy một ông lão ngồi trước cửa, bưng một bát cháo loãng, tay run lẩy bẩy. Tiền Phong định lên tiếng, thì ông lão đã nói:

Nhúm gạo nấu thành bát cháo nóng

Gió thổi gợn lên ngàn đợt sóng.

Tây Hồ như thể liền trời đất,

Mặt nước thuyền câu đâu thấy bóng.

Ông lão nói bát cháo của ông quá loãng. Tiền Phong bước tới nói:

- Thưa cụ, tôi có thể chữa lại bài thơ của cụ được không?

- Nếu bác chữa hay thì cứ chữa. Tôi có mấy học trò, nay không dạy nữa, vậy bác dạy tiếp.

Tiền Phong đọc:

Hạt gạo nấu thành bát cháo nóng,

Mũi thở phì phò hai làn sóng.

Nhìn xa trông tựa bát thủy tinh,

Bát cháo lão ông nhìn thấy bóng.

Ông lão vội vàng nói:

- Mời vào nhà, mời vào nhà.

- Tôi là kẻ ăn xin, làm sao có thể bước vào nơi dạy học của cụ?

- Chắc chắn bác là một tú tài, bị bức nên nay đến nông nỗi này, mấy hôm nữa tôi cũng sẽ đi xin ăn. Hãy vào nhanh.

Tiền Phong bước theo vào nhà. Ông lão bưng ra một bát cháo loãng cho Tiền Phong, mời Tiền Phong ngồi ăn. Tiền Phong cũng chẳng khách khí, ngồi ngay trước cửa bên lề đường, vừa ăn vừa nói:

- Tôi không phải là tú tài, chỉ vì không đóng nổi thuế, nên nghèo khổ chán chường thế này. Không biết vì sao cụ gặp khó khăn thế này?

- Tôi vốn giàu có, nhưng đo tên gian tặc Lưu Quốc Thái hại tôi, khiến tôi đến nông nỗi này.

- Xin cụ nói rõ thêm.

- Lúc đầu mới đến Sơn Đông, Lưu Quốc Thái bày ra một số việc để mua danh bán tước, lừa bịp dân chúng Sơn Đông, vừa hối lộ, vừa có Hòa Thân vận động bên trong, nên leo thẳng lên chức Tuần phủ Sơn Đông. Vừa nhận chức đã lộ rõ bộ mặt vốn có, đặt ra lắm sưu cao thuế nặng. Chú tôi là một hương chánh, tính ngay thẳng, vì nói nhiều nên bị tri huyện bắt đi, đúng lúc ấy, Lưu Quốc Thái có mặt ở đấy, nhìn thấy đầu chú tôi cạo trọc, hắn tức giận quát:

- Ngươi cả gan dám cắt bỏ bím tóc đuôi sam ư?

- Đầu tôi mọc chốc, chỉ cạo tạm thời... Chú tôi trình bày chưa hết lời. Lưu Quốc Thái nói:

- Còn chống chế ư? Và sai nha dịch giam chú tôi vào nhà giam, ngày hôm sau lột da rút gân, da phơi trên tường thành, gân treo trên gậy, cả nhà chú tôi bị xử trảm, gia sản bị tịch thu, có mấy người đứng ra xin tha đều bị vu là đồng đảng “cắt bím tóc đuôi sam” và bị giết cả. Lúc ấy tôi ở nơi khác nên tránh được tai hoạ, sau đó giao nộp hết tài sản cho tri huyện mới may giữ được mạng sống này.

- Tên giặc ấy, dám lừa dối Hoàng thượng, lấy vụ cắt tóc để tranh thủ lòng tin của Hoàng thượng, nhân đó cưỡng bức đe dọa thuộc hạ và dân chúng, quả thật đáng ghét.

- Đáng ghét thật, năm ấy trên tường thành treo đầy đầu lâu ai không nộp tiền sưu thuế, đều bị vu là dư đảng của “đảng cắt tóc”, hứng lấy tai họa. Ái dà! Mấy năm nay Lưu Quốc Thái tha hồ làm mưa làm gió.

- Hằng nào quan lại Sơn Đông im thin thít.

- Xưa nay quan lại tốt không nhiều.

- Theo tôi, cụ không nên im lặng như vậy, hãy nhớ tôi người ăn xin này, chưa mất ý chí đâu.

Ông lão lại đọc bài Hồng Tú Hài của Trương Dưỡng Hạo để trả lời:

Muốn cho thiên hạ biết cơ mưu.

Gõ cửa ông trời ý chí tan.

Buồn cháu ngao du khắp bốn phương.

Lùi xa thiên cổ phía sau lưng.

Đón đợi vạn năm bày phía trước.

Sức này liệu có được gì không?

Tiền Phong lê đôi giày rách bước đi, vừa đến trước một quán rượu, nhìn thấy một con ngựa từ phía tây phi đến như bay, người ngồi trên ngựa mặt béo phị, tiến vào cửa quán, quất một roi lên đầu Tiền Phong:

- Đồ thối, sao dám cản đường ta!

- Tôi ở bên này đường, có làm trở ngại gì ngài đâu?

- Mẹ kiếp, còn dám cãi ư?

- Con đường này đâu phải của ngài. Tiền Phong hạ giọng.

- Con đường này là của nhà ta. Nói xong quất một roi nữa. Tiền Phong né vào chân tường. Hắn bước vào quán rượu bảo: - Mang rượu thật ngon, đồ nhắm thật ngon ra đây!

Nhìn dáng vẻ hắn, biết hắn chỉ là một tên tôi tớ núp dưới bộ áo quần bảnh bao. Nhà hàng mang thịt, rượu đặt trước mặt hắn. Hắn quát to:

- Thứ này đem cho tên ăn xin ngoài kia còn được, sao lại cho ta dùng thứ này. Nói xong đập bàn thét - Mang đi ngay!

Chủ quán chạy ra nhìn thấy hắn, gượng cười nói:

- Tiểu Nhị có mắt như mù, xin ngài lượng thứ, xin ngài lượng thứ. Tiểu Nhị mau mang rượu thịt loại thật ngon ra đây.

Hắn chẳng khách khí, chắc là đi gấp, đã đói, nên một nhoáng đã chén sạch rượu thịt trên bàn. Ăn uống no nê, bước đi thẳng, chẳng thèm ngoảnh lại. Tiểu Nhị vội giữ hắn lại, bị hắn đẩy ngã nhào. Chủ quán nói:

- Làm gì có chuyện ăn quỵt! Nói xong gọi mấy người giữ hắn.

- Mẹ kiếp! Ông đi khắp nơi, ăn uống chẳng phải trả tiền, đặc biệt ở địa phận Sơn Đông này, các ngươi cút đi!

Chủ quán đâu chịu. Hắn lại thét to:

- Đi đến huyện nha nói chuyện, xem có bị lột da không. Nói xong cùng đi với chủ quán đến huyện nha.

Tiền Phong nhìn thấy rõ ràng, theo sát phía sau, đến cổng huyện nha, nhìn vào bên trong, thấy hắn nói mấy câu gì đó, viên huyện lệnh liền cho chủ quán một tát tai và vội vàng cúi đầu khúm núm trước hắn. Chủ quán bị đánh, quỳ dưới đất, lạy như tế sao, cầu khẩn viên huyện lệnh và tên sai dịch tha tội, cố nài nỉ mời họ đến quán để biếu quà cáp. Lập tức, viên huyện lệnh khuyên tên tay sai nhận lời. Hắn vênh vênh váo váo, đứng giữa viên huyên lệnh và chủ quán đang khúm núm cúi đầu.

Ra khỏi huyện nha, hắn ngồi lên kiệu, huyện lệnh cưỡi ngựa, chủ quán bước theo. Đến cửa quán, chủ quán vội quỳ xuống trước kiệu, tên sai dịch xuống kiệu, chẳng nói năng, bước thẳng vào quán.

Tiền Phong nhìn thấy quá rõ ràng, đi loanh quanh trước cửa quán một lát thì màn đêm buông xuống. Hai chiếc kiệu đặt xuống trước cửa, hai người đàn bà bước ra khỏi kiệu, mặt bự phấn son, bước vào quán. Nhìn qua khe trống, vừa thấy cậu bé hầu bàn bước vào bếp, Tiền Phong nhanh chân bước vào quán, bên trong vang lên tiếng cười dâm đãng. Tiền Phong rón rén bước đến trước một cửa phòng, nghe tên sai dịch nói:

- Tiểu nhân theo Hòa đại nhân nhưng chưa gặp cô gái nào như thế này, nếu không có ngài, tiểu nhân làm sao có được hai cô này.

- Đây là hai hoa khôi nổi tiếng nhất của huyện nhà. Viên huyện lệnh nói xong, đưa ra hai thoi bạc: - Ngài đi đường vất vả, có chút ít để ngài làm lộ phí. Chủ quán cũng đưa ra một nén bạc. Tên sai dịch chẳng khách khí, bỏ ngay vào túi, nói:

- Ngày mai ta đến Tế Nam, sẽ nói tốt cho các ngươi với Tuần phủ.

- Ngài tốt như vậy, hạ quan vô cùng cám ơn, vô cùng cám ơn, không biết lúc nào ngài từ Tế Nam trở lại đây, hạ quan nhất định đến đây hầu hạ ngài.

- Ta mang thư mật của Hòa đại nhân gửi Lưu đại nhân, chờ Lưu đại nhân có thư hồi âm, ta quay về ngay, không dám chậm trễ dọc đường. Tên sai dịch hạ giọng nói nhỏ.

Đúng lúc ấy, có tiếng kêu ngoài cửa:

- Ai vào đây nhỉ?

Tên sai dịch đang nói, nghe có người to tiếng, vội mở cửa ra, nhìn thấy người ăn xin đang chổng mông để lộ cả của quý nơi đũng quần, hai tay vồ lấy vỏ dưa như bắt được vàng, bỏ vào mồm gặm lấy gặm để. Tên sai dịch thở phào; cười hì hì, cầm cái đùi gà đã gặm dở một nửa ném cho người ăn xin và nói:

- Chắc là cả đời ngươi chưa biết thưởng thức món này, ông cho ngươi, cầm lấy đi đi.

Người ăn xin như suốt đời chưa được ăn, cầm cái đùi gà nhai ngấu nghiến. Tên sai dịch nói:

- Vẫn chưa chịu đi ư?

Người ăn xin chẳng nói chẳng rằng, cúi đầu gặm khúc xương gà, lững thững bước đi.

Người ăn xin chính là Tiền Phong. Tối đó, Tiền Phong ngủ ngay trước cửa quán rượu. Tên sai dịch từ trong quán đi ra, viên huyện lệnh và chủ quán quỳ xuống đất tiễn đưa. Hắn chẳng thèm đáp lễ, phóc lên lưng ngựa, cho ngựa chạy như bay.

Lúc này, Tiền Phong đặt cây gậy đen bóng lên vai, theo con đường lớn đi gấp về hướng đông. Đi được hơn một dặm, dừng chân lại ở chỗ vắng người đợi tùy tùng đến, hỏi:

- Các ngươi thấy rõ người cưỡi ngựa ngạo mạn kia không?

- Thấy rõ. Đám tùy tùng đáp.

- Ngày mai hắn từ Tế Nam trở lại đây, các ngươi mai phục tại đây bắt hắn, không để hắn thoát. Tiền Phong lệnh.

Tiền Phong và mấy người tùy tùng hóa trang thành nông dân. Trưa ngày hôm sau, quả nhiên tên sai dịch cưỡi ngựa phóng về, vừa đến đoạn vòng bên chân núi, một dây thừng tung ra, cả người và ngựa tên sai dịch ngã nhào. Tiền Phong sai tùy tùng bịt miệng hắn, giải hắn vào sâu trong rừng, sau đó tháo dẻ bịt miệng. Hắn van xin:

- Nếu các đại vương cần tiền, tôi có đây, xin tha mạng, tôi còn mẹ già hơn tám mươi tuổi. Tiền Phong đưa ấn quan ra, thét.

- Bản quan là Ngự sử Tiền Phong, ngươi đến Tế Nam làm gì? Nói thật, nếu có gì gian dối, sẽ lấy đấu ngươi.

- Tôi là Lưu Nhị, tùy tùng trong tướng phủ Hòa Thân, vâng lệnh Tướng phủ mang thư Tướng phủ đến Tế Nam giao cho Tuần phủ Lưu Quốc Thái. Ngài Lưu Quốc Thái đích thân viết bức thư này giao cho tiểu nhân mang về Tướng phủ, không ngờ đến đây bị các ngài bắt giữ.

- Đưa thư đây !

Lưu Nhị rút lá thư từ trong tay áo, trao cho Tiền Phong, đúng là chữ Lưu Quốc Thái viết. Thư viết, việc kiểm kê kho bạc và số bạc quyên góp ở Sơn Đông đã sắp xếp thỏa đáng, trong thư dùng nhiều từ ngữ ẩn ý. Những ẩn ngữ này không nói rõ ý gì nhưng càng chứng minh tội lỗi của họ. Tiền Phong vô cùng phấn khởi, bỏ bức thư đó vào phong bì đặc biệt đóng dấu ngự sử, lệnh cho một tùy tùng:

- Ngươi phi ngựa về kinh đưa thư này cho Hoàng thượng, nếu có sai sót gì, chặt đầu ngươi. Rồi gọi hai tùy tùng khác áp giải Lý Nhị về kinh. Ông và hai tùy tùng vào thành thay quần áo, hóa trang nhà buôn, đến Tế Nam.

Đến Tế Nam, đi ngang qua cổng phủ nha, thấy vắng tanh, chỉ có mấy người làm việc ra vào, nên bước vào cổng. Hai nha dịch ngăn lại hỏi:

- Các ngươi vào có việc gì?

- Tệ nhân là nhà buôn ở kinh thành, bạn cũ của Tuần phủ đại nhân, có việc cần đến gặp, xin ngài bẩm báo hộ.

- Nếu là nhà buôn ở kinh thành và là bạn cũ của Tuần phủ đại nhân thì nên hẹn trước với Tuần phủ đại nhân. Mấy hôm nay Tuần phủ đại nhân rất bận, không thể gặp được.

- Nếu vậy, xin ngài cho biết, chúng tôi đến đâu thì tìm gặp được Tuần phủ đại nhân?

- Là nhà buôn lớn ở kinh thành và là bạn cũ của Tuần phủ, tiểu nhân xin mách, ngài đến Hồ Đại Minh, nếu không gặp thì đến nhà Hàn Đại Phát.

Tiền Phong đến một cửa hiệu bên hồ Đại Minh, hỏi dò:

- Xin cho hỏi, Tuần phủ đại nhân thường đến hồ Đại Minh?

Tên tiểu nhị định trả lời, chủ quán vội nói ngay:

- Việc của đại nhân, dân chúng tôi làm sao biết được.

Tiền Phong thấy cách cải trang thế này không ổn, nên cải trang lại thành người ăn xin như trước, đến quán trà bên hồ. Vừa định bước vào, đã bị đẩy ngay ra. Tiền Phong ngồi ngay dưới cửa sổ, vờ sưởi nắng. Một lát sau, nghe bên trong vọng ra lời bàn tán của mấy người khách:

- Nghe nói Hoàng thượng cho người đến kiểm tra Lưu Quốc Thái.

- Nói nhỏ !

- Kiểm tra được cái gì, xưa nay quan che cho nhau, có đến cũng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa.

- Nghe nói Lưu Dung đại nhân và Tiền Phong đại nhân đến đây. Hai vị ấy là quan tốt nổi tiếng:

- Trong đoàn có Hòa Thân là người đứng đầu. Lưu Quốc Thái là thân tín của Hòa Thân, lần kiểm tra này chắc chắn toi công mà thôi.

- Lại không thật ư? Hai hôm trước, Lưu Quốc Thái còn bố trí ở khắp nơi, đặc biệt là huyện Lịch Thành, hôm nay lại khoe khoang uy phong.

- Thật ư! Lại đi nhà thổ à!

- Sao lại không đi. Đó là nơi làm việc của ông ta.

- Không sai tí nào. Từ Tuần phủ cho đến Tri phủ, Huyện lệnh đều bắt chước ông ta, lấy nhà thổ làm nơi làm việc.

Tiền Phong nghe rõ, lại ra bờ hồ, thay đổi áo quần, hóa trang một nhà giàu có, mang theo tùy tùng, đến nhà thổ bên bờ hồ Đại Minh.

Đến nhà thổ, chẳng gặp ai, nhìn thấy giữa hồ có một thuyền hoa, rực rỡ màu sắc, không bình thường, bèn lấy ra một đĩnh bạc, nói:

- Ta cần một thuyền hoa trong đêm nay.

Mụ chủ nhà thổ thấy ông có vẻ rộng rãi, vội nói:

- Chỉ còn một chiếc, may phúc cho ngài. Nói xong, gọi mấy cô kỹ nữ cùng lên thuyền.

Tiền Phong bảo cho thuyền ra giữa hồ, đến gần chiếc thuyền hoa phía trước. Quả nhiên, ở xa đã nhìn thấy một người cao to béo tròn núc ních đang to tiếng:

- Ta là Sơn Đông, Sơn Đông là ta. Sơn Đông này là của ta, ai dám làm gì nào? Nói xong bước đến trước mặt một người, vừa đánh vừa quát: - Mẹ kiếp, bảo ngươi đưa thêm ít bạc, cũng không chịu, ta nuôi các ngươi, những con chó vô dụng!

Lúc này thuyền đã đến gần, nghe người bị mắng nói:

- Quả thực bản phủ đi từng nhà thúc ép, cũng chỉ tóm được mấy tên có máu mặt, nhưng chẳng có gì. Mong xem hạ quan như con đẻ của đại nhân, luôn luôn hiếu kính đại nhân, xin tha tội cho hạ quan.

Người to béo sờ vào mặt tên tri phủ hỏi:

- Đau không?

- Không đau, không đau.

- Sao lại không đau. Không phải ta muốn đánh ngươi, nhưng vì Lưu Dung và bọn họ đến đây kiểm tra, tuy chẳng có gì to tát, nhưng cũng phải ứng phó. Nếu ngươi đã cố hết sức rồi, thì thôi vậy, lại đây, ngồi xuống, chơi xúc xắc.

Viên tri phủ và hai người nữa ngồi xuống. Người to béo nói:

- Cô mẽo phị, lại, lại, lại đây, bụng mẽo to, lại đây!

Một kỹ nữ tuột hết áo quần. Người to béo lại bảo:

- Nằm xuống... lại, lại, lại đây, chúng ta rải xúc xắc lên bụng mẽo này.

Mấy người vây quanh cô kỹ nữ chơi xúc xắc. Một người nói:

- Hôm nay, Tuần phủ đại nhân mát tay lắm!

Tiền Phong nghĩ bụng: người đó đúng là Lưu Quốc Thái, chẳng biết sỉ nhục. Tên tham quan ô lại này đúng là con của nhà thổ, hắn chẳng biết sỉ nhục là gì. Bạn cho điều đó là sỉ nhục, nhưng hắn lại lấy đó để khoe khoang với người khác . Tiền Phong bứt rứt khó chịu, muốn giết ngay tên gian tặc đó.

Hôm sau, Tiền Phong đến các phủ huyện.

Hòa Thân đang đợi sai dịch mang thư về, muốn lui ngày đi, mấy hôm nữa. Lưu Dung muốn giục Hòa Thân đi sớm, nên tâu với Càn Long:

- Hòa đại nhân cố tình tìm cớ trì hoãn, tất có điều gì ẩn khuất.

Càn Long hỏi. Hòa Thân đáp:

- Việc tuyển dụng quan lại phủ huyện ở Cam Túc rất quan trọng, hiện nay là thời kỳ đang tiến hành, thần là đại học sĩ kiêm Thượng thư bộ Lại, làm việc suốt đêm, vất vả vì nước, chậm lại mấy ngày, đâu phải vì việc riêng tư.

- Đều vì đất nước, không tranh cãi nữa, lên đường ngay, không được chậm trễ.

Hòa Thân đành cùng với Lưu Dung cấp tốc đi Sơn Đông.

Trên đường đi, Hòa Thân tính toán lộ trình của người sai dịch, sẽ gặp nhau tại vùng Trực Lệ, dẫu tên sai dịch có chậm một ngày, thì cũng gặp nhau tại vùng Lương Hương, nơi giáp giới địa phận Sơn Đông và Trực Lệ. Do vậy, dọc đường Hòa Thân luôn luôn vén màn cửa xe. Lưu Dung nói:

- Ở kinh sư lâu, muốn ngắm cảnh núi non đồng ruộng, đó là lẽ thường. Nhưng ngài cứ nhìn trước ngó sau theo dọc đường đi, tựa hồ có điều gì lo lắng, phải chăng bực bội vì chuyện mua bán đi lại chưa làm sứt mẻ mấy lạng bạc của ngài?

- Ngài không nên tiểu nhân đắc chí.

- Năm nay không làm tiểu nhân, thì làm sao đắc chí, không phải tất cả tiểu nhân đều đắc chí. Như tôi làm tiểu nhân thì có thể đắc chí, còn ngài không phải làm tiểu nhân thì có thể đắc chí hơn.

Hòa Thân vừa buồn bực vừa nghi hoặc cùng Lưu Dung đến Tế Nam. Lưu Quốc Thái dẫn các quan viên lớn nhỏ ở Sơn Đông ra đón. Hòa Thân hỏi:

- Sao không thấy Tiền đại nhân?

- Tiền đại nhân nào? Quốc Thái hỏi lại.

Hòa Thân giật mình, nét mặt không thay đổi, nói:

- Khâm sai ngự sử Tiền Phong đại nhân.

- Không thấy Khâm sai đại nhân đến bản phủ. Lưu Quốc Thái cả kinh.

- Mấy hôm nay, Lưu đại nhân đều ở nha môn chứ?

Lưu Dung hỏi.

- Đây… Quốc Thái lúng túng.

- Tìm Tiền Phong ngay! Hòa Thân lệnh.

- Không phải đi tìm. Chúng ta ở Tế Nam đợi, chẳng lẽ Tiền đại nhân không đến gặp chúng ta ư? Lưu Dung nói.

Quả nhiên vừa đến nha môn Tế Nam, Tiền Phong đã đợi ở đấy. Quốc Thái vội chào hỏi:

- Hạ quan thất kính, mong đại nhân thứ lỗi.

- Không nên khách sáo. Tiền Phong nói tiếp: - Chúng ta phụng mệnh Hoàng thượng, là Khâm sai đại thần, hôm nay đến kiểm tra ngân khố.

- Hãy nghỉ một hôm, không hề gì. Hòa Thân đề nghị.

- Hòa đại nhân còn rất nhiều việc trong triều, há có thể nghỉ ngơi lâu ở Sơn Đông. Bản quan cho rằng, nên kiểm tra ngay hôm nay. Lưu Dung lên tiếng. Hòa Thân đành chịu, nói:

- Hai vị đại nhân nói như vậy cũng được. Tuần phủ Sơn Đông, theo đại nhân nên bắt đầu kiểm tra từ đâu?

- Huyện lệnh Lịch Thành tố cáo, vậy xin kiểm tra Lịch Thành trước. Quốc Thái đề nghị.

- Chúng ta lên đường. Hòa Thân nói.

- Chúng ta ở Tế Nam, vì sao không bắt đầu từ Tế Nam, lại bắt đầu từ Lịch Thành?

- Tuần phủ Sơn Đông nói có lý. Tố cáo vụ này là huyện lệnh Lịch Thành cũ, nên bắt đầu từ huyện đó trước. Nói xong, chẳng cần bàn bạc, Hòa Thân ra lệnh lên đường ngay.

Tối hôm ấy, Tiền Phong sắp đi ngủ, bỗng có người báo: Hòa đại nhân muốn gặp. Tiền Phong đành đến chỗ Hòa Thân hỏi:

- Không biết đại nhân gọi thuộc hạ có việc gì?

Hòa Thân vội nắm tay Tiền Phong nói:

- Ngài và tôi đều là quan cùng triều, hai ta tình cảm rất đẹp. Hàng ngày công việc rất nhiều, khó nắm hết. Hôm nay quả là dịp may hiếm có. Nào! tôi đã chuẩn bị thức ăn ngon, xin cùng lão đệ nhấm nháp.

Nói xong, kéo Tiền Phong đến trước bàn tiệc, mấy cô gái đã chờ sẵn, vừa thấy hai người bước đến đã bắt đầu nhảy múa. Tiền Phong theo Hòa Thân ngồi xuống. Một cô gái tuyệt đẹp thướt tha bước đến, ngồi cạnh Tiền Phong chuốc rượu, toàn thân sực nức mùi thơm, khiến người ta mê mẩn tâm thần. Tiền Phong chẳng nói lời nào, chỉ uống rượu với Hòa Thân . Hòa Thân nói:

- Cô gái này là do Quốc Thái đưa đến cho Tiền lão đệ. Lão đệ thích không?

- Hạ quan xưa nay xem đàn bà như bít tất, mang vào là thối.

- Bít tất mới thì tốt chứ!

- Bít tất mới, hạ quan đốt ngay.

- Thôi uống, uống đi! Nói xong. Hòa Thân bảo người đưa đến một cái hòm, bên trong có chiếc áo khoác, và nói tiếp: - Chiếc áo này làm bằng da rái cá vùng núi Trường Bạch, loại rái cá này sống trên những ngọn núi cao hơn ba ngàn thước, cứ ba năm sinh con một lần, mỗi lần một con, cực kỳ quý hiếm, lông dày và ấm, lạ nhất và quý nhất là lông nó rất mềm, chọc vào mắt không thấy cảm giác gì. Quốc Thái nhờ tôi chuyển cho lão đệ.

Nào ngờ Tiền Phong đáp:

- Hạ quan nghèo khổ túng thiếu, đâu dám nhận của quý hiếm này? Nếu đại nhân không có việc gì, hạ quan xin cáo lui. Nói xong đứng dậy đi ngay.

Hòa Thân tức giận ngồi tại chỗ, mặt tái xám, lần đầu tiên không cảm thấy hứng thú trước đàn bà.

Hôm sau, đến huyện mở kho xem, bạc đầy kho, đối chiếu với sổ sách không thiếu tí nào, trọng lượng không sai. Hòa Thân nói:

- Kiểm tra đủ cả, chúng ta về nghỉ, viết tấu tâu Hoàng thượng.

Tiền Phong định lên tiếng, Lưu Dung nháy mắt, nên không nói, lòng nghi hoặc. Lưu Dung lệnh:

- Huyện lệnh Lịch Thành niêm phong kỹ kho bạc, nếu để sơ suất, sẽ lấy đầu nhà ngươi.

Huyện lệnh Lịch Thành biết Lưu Dung và Tiền Phong rất lợi hại, vội nói:

- Hạ quan quyết không giám sơ suất, nhất định niêm phong cẩn thận. Xin vâng lời Khâm sai đại nhân.

Mọi người la về.

Tiền Phong vội tìm gặp Lưu Dung, nói:

- Tôi thấy bạc trong kho là bạc nhà buôn. Bạc cất trong kho, quy định môi đĩnh là năm mươi lạng, nhưng bạc trong kho huyện Lịch Thành mỗi gói chỉ có hai lạng, chất lượng không đồng đều, quy cách khác nhau, chắc là mượn của nhà buôn.

- Tôi cũng thấy như vậy, nhưng chưa đủ chứng cớ, ngài nghĩ nên làm thế nào, không thì khó đấy!

- Vậy làm sao đây?

- Tôi có một kế, đảm bảo toàn tỉnh Sơn Đông sẽ rõ sự thật.

- Xin nói nhanh lên!

- Phải làm thế này...

Hôm sau, trước cổng nha môn huyện Lịch Thành, nha môn tri phủ và tuần phủ Tế Nam đều có dán cáo thị:

“Ta Khâm sai đại thần, thấy bạc trong kho bạc đều là bạc nhà buôn, nếu nhà buôn nào cho mượn, xin đến nhận, chậm trễ sẽ nhập kho sung công.

Khâm sai đại thần

Tả ngự sử Lưu Dung

Đô sát ngự sử Tiền Phong”

Các nhà buôn thấy cáo thị của hai vị Khâm sai đại thần, tranh nhau đến kho nhận, thế là kho trống rỗng.

Lưu Dung đưa Hòa Thân đến kho phủ, nhìn thấy các nhà buôn xếp hàng rồng rắn trước kho để nhận bạc.

Hòa Thân thấy vậy, ngao ngắn thở dài, nghĩ bụng, đến nước này đành thí tốt. Lập tức đanh giọng quát: “Mau bắt Tuần phủ Lưu Quốc Thái, Bố chánh sứ Vu Hành Giản, huyện lệnh Lịch Thành. Quan viên các đạo phủ, châu, huyện không được tự tiện hành động”. Lưu Dung và Tiền Phong nhìn nhau.

Hòa Thân vội tâu lên Hoàng thượng: “Kiểm tra kho huyện Lịch Thành thiếu bốn vạn lạng, kho các châu phủ huyện khác như Khâu, Hiên... đều thiếu hụt. Tuần phủ Sơn Đông Lưu Quốc Thái tội tày trời, thần Hòa Thân đã bắt giam xét hỏi”.

Lúc này Lưu Dung và Tiền Phong mới thấy Hòa Thân đúng là một con cáo già.

Càn Long nhận được bản tấu, lệnh ngay cho các Khâm sai đại thần Hòa Thân, Lưu Dung, Tiền Phong:

“Việc xảy ra không thể không trừng trị.Vụ án ở tỉnh Cam Túc xảy ra năm qua đã nghiêm trị như thế, năm nay lại xảy ra ở tỉnh Sơn Đông. Trẫm thật không muốn mở rộng nhà tù như ở Cam Túc. Các tỉnh đều xảy ra tệ nạn hối lộ, kẻ hối lộ không chịu tố cáo, người tham ô hối lộ biết rõ là phạm pháp, nhưng có ai thừa nhận và tố cáo? Dù có tiến hành điều tra hay không thì tệ tham ô hối lộ đã phổ biến khắp nơi, không ai đứng ra tố cáo trước tiên, trừ khi có oan khúc. Lưu Quốc Thái tham nhũng, không thể không trừng trị, nặng nhẹ theo tội danh”.

Hòa Thân, Lưu Dung, Tiền Phong xem xong, hiểu ý Hoàng thượng. Rõ ràng Hoàng thượng muốn họ nên xử lý nhẹ tay. Hòa Thân mừng thầm: nếu vậy ta có thể tha tội cho Quốc Thái. Quả nhiên trong vụ tham ô này, ông ta lại tham ô rất nhiều. Lưu Dung và Tiền Phong thì chán ngán. Lưu Dung nghĩ: Hoàng thượng cũng khổ tâm, không lẽ giết hết quan lại trong cả nước. Tiền Phong thấy: Dù giết sạch, giết lớp này đến lớp khác, chẳng khác nào lửa cháy đồng cỏ, mùa xuân đến rồi lại mọc lên.

Qua xét hỏi, khi Lưu Quốc Thái mới đến nhận nhiệm vụ, tri phủ Tế Nam Lữ Nhĩ Xương đã lấy mười vạn lạng bạc của kho phủ biếu Quốc Thái, xây hoa viên; tri phủ Phùng Dĩnh biếu tám vạn lạng bạc để Quốc Thái ăn chơi; các châu phủ khác đều có quà biếu. Bố Chánh sứ Vu Dị Giản cấu kết với Quốc Thái, tha hồ làm bậy, tham ô hối lộ, cưỡng ép các châu huyện hối lộ cho họ. Quốc Thái thô bạo ngang ngược với thuộc hạ, tàn bạo hung ác với dân chúng.

Kiểm tra kho bạc các châu huyện tỉnh Sơn Đông, thiếu hơn hai triệu lạng bạc trắng.

Càn Long lệnh: Tử hình ngay Quốc Thái và Vu Dị Giản.

Ba vị Khâm sai đại thần yết kiến Càn Long. Càn Long gọi:

- Hòa Thân!

- Có nô tài!

- Khanh biết tội chưa?

Hòa Thân quỳ tâu:

- Xin Hoàng thượng minh xét, lần này thần đến Sơn Đông chăm lo công việc, không chút vị nể tình riêng, cẩn thận từng li, chỉ sợ phụ lòng mong đợi của Hoàng thượng, xin Hoàng thượng minh xét.

Càn Long lấy ra một phong thư, đặt trước mặt Hòa Thân. Vừa nhìn thấy thư Quốc Thái tự viết gửi cho mình, Hòa Thân chột dạ, nhưng trấn tĩnh ngay tâu:

- Thần không nhận được thư này, nếu nhận được, tất phải nghiêm trị.

- Ngự sử Lưu Dung, trong khi giam giữ thẩm vấn Lưu Quốc Thái, Hòa Thân có gây trở ngại gì không?

Càn Long hỏi.

- Không gây trở ngại, Hòa đại nhân xét hỏi không chút vị tình. Lưu Dung và Tiền Phong đều tâu.

Vậy là trước đó Tô Lăng A có tấu trình, tờ tấu có chữ ký của Hòa Thân và Tô Lăng A tố cáo Quốc Thái tham ô hối lộ, hà hiếp áp bức dân chúng. Bản tấu nhận được sau hai ngày đến Tế Nam, chắc bản tấu này Hòa Thân viết trước khi đi. Như vậy, Quốc Thái tự làm theo ý mình, Hòa Thân không vì tình riêng. Càn Long nói.

Lưu Dung nghĩ bung: tên Hòa Thân này quả là cáo già, là bố cáo già nữa cơ.

Hòa Thân thoát được cơn sóng gió, lòng buồn, nghĩ bụng: Tô Lăng A, cám ơn ngươi, về nhà vui vẻ với Nạp Lan thôi.

Chẳng bao lâu, Tô Lăng A được đề bạt làm Thị lang bộ Binh và bộ Công, Lưu Dung có công trong vụ án Sơn Đông được thăng chức Thượng thư bộ Công. Tiền Phong được Càn Long khen thưởng, được đề bạt làm Thông chánh tư tham nghị, sau đó không lâu được thăng là Thái thường tự thiếu khanh, rồi thăng lên chức Thông chánh tư phó sứ phụ trách học chính Hồ Nam, từ đổ tên tuổi Tiền Phong nổi lên trong thiên hạ.

Hòa Thân nhận thấy sức khỏe Càn Long dần dần giảm sút, mắt mờ, tai nặng, lại thích ca ngợi công đức. Lúc này A Quế ở xa; Hòa Thân nhân cơ hội đó thao túng quyền bính, việc to việc nhỏ đều chõ mũi vào, ra sức nịnh bợ Càn Long, tâng bốc Càn Long là đệ nhất thiên tử xưa nay hiếm có, là vị Hoàng đế vĩ đại nhất mà chưa có vị Hoàng đế nào trong lịch sử sánh kịp. Hòa Thân nhận thấy Càn Long rất thích xa hoa dâm dật, nên cố sức thỏa mãn mọi đòi hỏi và dục vọng của Càn Long. Hòa Thân lại càng được Càn Long sủng ái. Năm ấy được đề bạt làm Thái tử thái bảo, tuy còn dưới A Quế, nhưng thật sự là hoàng đế thứ hai “dưới một người trên vạn người”.

Năm Càn Long thứ bốn mươi mốt, Hòa Thân được nhập vào Chánh hoàng kỳ. Càn Long ban tặng ông một khoảnh đất, ở Đức Thắng Môn. Sau hai năm xây dựng, Hòa Thân chuyển từ ngõ Lư Nhục đến nhà mới. Hòa Lâm vẫn ở nhà cũ. Đến ở rồi, nhưng khuôn viên nhà mới vẫn tiếp tục xây.

Ngôi nhà của Hòa Thân nằm ở phía bắc Bắc Hải và phía nam Thập Sát Hải. Nước xanh của hai hồ phía nam và phía bắc phản chiếu ánh sáng lên cả tòa nhà. Xung quanh nhà, vườn, là rừng bách cổ thụ và cây hoa bốn mùa.

Năm Càn Long thứ bốn mươi bảy, bộ “Tứ Khố Toàn Thư” đã biên soạn xong, công trình nhà ở cũng hoàn thành, Hòa Thân nhân dịp ngày sinh của vợ Phùng Thị, mời Càn Long ngự giá đến nhà để tăng thêm vinh dự ngày sinh của vợ. Càn Long cho rằng Phùng Thị vốn là cháu gái của Tể tướng Anh Liêm, lại là vợ của Hòa Thân, sủng thần của mình, nên vui vẻ nhận lời. Càn Long định đưa Lưu Dung cùng đi, nhưng ngại Lưu Dung và Hòa Thân hay cãi cọ nhau nên chỉ mang Kỷ Vân theo. Kỷ Vân là bậc đại tài số một dưới trướng Càn Long. Càn Long rất thích tài trí mẫn tiệp của ông, học rộng biết nhiều, bận rộn với việc biên soạn bộ “Tứ Khố Toàn Thư”, nay đã soạn thảo xong, để ông đi theo rất thích hợp. Hòa Thân nghe Kỷ Vân đi theo Càn Long, vô cùng phấn khởi, thiên hạ ai không biết tên tuổi Kỷ Vân, được ông ta đến dự cùng vui, chẳng phải là gấm thêu hoa sao?

Hòa Thân mời cả tổ phụ vợ và cậu em Hòa Lâm, Tô Lăng A, Phúc Khang An. Vì có mời Hoàng thượng đến, nên Hòa Thân không mời nhiều khách, chỉ mời mấy ông bạn chí thân.

Hôm đó, Càn Long vừa đến phủ Hòa Thân, Hòa Thân đã dẫn Hòa Lâm, Phúc Khang An... ra trước cổng quỳ đón tiếp. Trước cổng hai con sư tử đá cực to ngồi chầu cao hơn đầu người, cột cổng sơn trắng, xà ngang dát vàng, phía trên tô vẽ sặc sỡ. Cánh cửa đóng bảy hàng đinh sắt, bên cạnh treo sáu chiếc đèn lồng thật to.

Sau khi Càn Long bảo bình thân, Hòa Thân cùng mọi người đứng dậy và đưa Càn Long vào nhà. Qua cổng lớn, đến cổng thứ hai, tiếp đến là bức tường bình phong, sau tường bình phong là tiền điện. Tiền điện nguy nga đồ sộ, mái hiên cong vút lên không trung. Trong điện, bức tường giữa treo bức hoành phi lớn màu xanh đề ba chữ: “Trung Quân Điện” khảm vàng. Phía trước hoành phi là một cái bàn gỗ đỏ chạm rồng lượn trong mây gió, trên bàn đặt lư hương và chuông, hai bên bàn có bốn ghế tựa.

Càn Long ngồi tại đấy một lúc, rồi bước vào hậu điện. Trên cửa chính hậu điện, treo bức hoành phi màu xanh nhạt, trên đề ba chữ “Gia Lạc Đường” dát vàng, trong điện đặt văn phòng tứ bảo và các bộ sách kinh sử.

Mọi người qua khỏi Gia Lạc Đường, nhìn thấy hai bên đường hành lang, hai dãy nhà đông tây, mỗi dãy gồm năm nhà cách nhau bởi một cái sân. Men theo hành lang phía phải đi vào một cái sân gặp ngay cửa Thùy Hoa Môn, treo tấm hoành phi đề bốn chữ: “Thiên Hương Đình Viện”. Bước vào sân, nhìn thấy gian phòng chính treo tấm hoành phi đề ba chữ to: “Tích Phổ Trai”, hai bên là hai gian phòng phụ. Vừa đến đây, Hòa Thân vội vàng nói:

- Hoàng thượng, nơi này vừa mới làm xong, chưa chắc chắn, xin mời Hoàng thượng trở lại “Thiên Hương Đình Viện”.

Càn Long thấy nơi này mới làm xong, còn ẩm ướt nên quay lại Thiên Hương Đình Viện.

Hòa Thân nói với Càn Long như trên, thực ra vì sợ Càn Long trách mắng, bởi lúc xây dựng Tích Phổ Trai, Hòa Thân bảo viên Thái giám Hô Thập Đồ dùng bột giấy phục chế kiểu kiến trúc của Ninh Thọ Cung và kiểu cách trang trí bên trong. Tích Phổ Trai xây dựng giống y Ninh Thọ cung, nếu Hoàng thượng nhìn thấy, kiến trúc vượt quy cách, thì sao được. Vườn hoa phía sau Tích Phổ Trai cũng giống vườn Viên Minh, có Bồng Đảo, có Quỳnh Đài, Hoàng thượng thấy chắc hẳn không vừa lòng.

Càn Long nhìn thấy phía trước “Thiên Hương Đình Viện” có một lối đi dẫn đến tòa nhà chính, phía trên đề ba chữ “Bảo Quang Thất”, có năm gian phòng, hai bên đều có hành lang; sau Bảo Quang Thất, là hai dãy lầu dài treo hoành phi “Thọ Xuân Lâu”.

Qua khỏi Thọ Xuân Lâu là một hoa viên, có ba con đường tả, giữa, hữu. Càn Long theo hướng dẫn của Hòa Thân vào con đường giữa, có chiếc cổng xây kiểu phương Tây. Toàn cảnh như một khu rừng hòa hợp với thiên nhiên rất tinh xảo, rất ăn khớp. Qua khỏi cổng là một ngọn giả sơn xây bằng đá Thái Hồ, đỉnh núi vút cao, sừng sững giữa hồ nước xanh bát ngát, cuối con đường giữa là một cái đình, mái tròn như chiếc ô, đẹp lạ thường, mọi người dừng chân nghỉ tại đấy.

Hòa Thân mời Càn Long ngồi vào chiếc ghế tựa có đệm mềm, còn mình thì ngồi đối điện Càn Long. Hòa Thân nâng hai chân Càn Long đặt vào lòng mình, xoa bóp nắn nót một hồi, rồi nói:

- Hôm nay Kỷ đại nhân đến đây thật là vinh dự cho hạ quan, lẽ nào Kỷ đại nhân không đề cho cái đình này mấy chữ làm hoành phi, giúp vui mọi người và tăng phần vinh dự cho đình và hoa viên.

- Như vậy cực hay. Càn Long nói.

- Hạ quan dĩ nhiên muốn mọi người vui mừng, chỉ sợ phụ lòng mọi người trông đợi. Kỷ Vân nói và cầm bút mực đến.

Càn Long đứng dậy vui vẻ nhìn con người tài ba viết. Kỷ Vân cầm bút viết hai chữ rõ to “Trúc Bao”. Hai chữ đó có nghĩa là giàu sang phúc hậu, mọi người hết lời khen ngợi. Hòa Thân thấy hai chữ đó trích từ câu “Trúc bao tùng mậu”, ý của từ “Trúc Bao” rất hợp với cảnh đình này, nên hết sức thích thú. Nào ngờ, Càn Long sau một hồi suy nghĩ, bỗng ôm bụng cười ngặt nghẽo. Mọi người chẳng hiểu. Hòa Thân hơi nghi hoặc. Càn Long nói:

- Các khanh đã thấy ẩn ý của hai chữ đó chưa?

Mọi người đều không biết. Càn Long nói:

- Hòa Thân, Kỷ Vân đang chửi khanh đấy, khanh hãy chiết tự hai chữ đó ra xem, đó là bốn chữ gì.

Hòa Thân chiết tự hai chữ đó ra thành bốn chữ “Cá cá thảo bao” (đều là lều cỏ - ND), mặt đỏ tía tai, nhưng không dám cáu gắt. Kỷ Vân nói:

- Hòa đại nhân, thật ra hạ quan không có ý chửi đại nhân, đó chỉ là ý của Hoàng thượng, hôm nay giúp vui muốn thưởng bạc cho đại nhân đấy.

Hòa Thân nghe vậy, lòng cảm thấy dễ chịu. Càn Long lại nói:

- Khanh làm sao biết ta thưởng bạc cho Hòa Thân.

- Hoàng thượng đã lấy cớ này phong danh hiệu cho Hòa đại nhân, há không phải là thưởng bạc ư. Kỷ Vân đáp.

Vốn đã có quy định, Hoàng thượng phong danh hiệu cho ai thì nhất định có kèm theo thưởng bạc. Do đó Kỷ Vân nói như vậy, chính là ý của Hoàng thượng bảo chiết tự hai chữ “Trúc bao” thành bốn chữ “Cá cá thảo bao”. Hòa Thân vừa bắt đầu mừng bỗng sa sầm lại. Càn Long lại nói:

- Ý của Trẫm, không ngờ có lợi cho Hòa Thân. Vậy thì thưởng.

Càn Long thưởng cho cả nhà Hòa Thân mỗi người một lạng bạc, phu nhân Hòa Thân mười chuỗi trân châu, hai viên ngọc minh nguyệt, Hòa Thân hai lông chim công. Lúc này Hòa Thân hết sức vui mừng. Hai lông chim công là tiêu biểu cho sự sủng ái của Hoàng thượng, là tiêu biểu cho địa vị cao sang của mình, đó là danh dự cao nhất. Hòa Thân tuy hận Kỷ Vân, nhưng thấy Hoàng thượng thưởng nhiều như vậy, ưu ái như vậy nên có phần cảm kích đối với Kỷ Vân, việc xấu biến thành việc tốt.

Đến trưa, Hòa Thân thiết tiệc tại Thiên Hương Đình Viện, mọi người an toạ. Kỷ Vân cầm bình điếu thật to, rít mạnh mấy hơi nói:

- Những món trân châu hải vị này, hạ quan không có phúc được hưởng, xin cho hạ quan một khay thịt lợn một bình chè đậm.

Hòa Thân cho người đi chuẩn bị. Mọi người đều biết ngày thường Kỷ Vân có một cái khoái. Một là đọc sách, từ khi lên bốn tuổi, ngày nào cũng vùi đầu trong đống sách, ông làm cho mình một câu đối: “Phù trầm hoạn hải như âu điểu. Sanh tử thư tùng tợ đố trùng” (tạm dịch: Chìm nổi chốn quan trường như hải âu. Sống chết cùng tủ sách như sâu mọt - ND); Hai là hút thuốc, ông đi đứng ngồi nằm đều không rời bình điếu, nõ điếu đặc biệt chứa độ bốn lạng thuốc lá. Ba là ăn thịt, hàng ngày chỉ cần ăn thịt không cần ăn ngũ cốc, và luôn mồm uống trà; bốn là háo sắc, một ngày không có gái, da thịt muốn toát ra, gân cốt muốn gãy nát, hai mắt đỏ ngầu, đôi má đỏ tía. Do vậy, khi nghe ông ta cần thịt, Hòa Thân cho người đi lấy ngay một khay thịt đùi lợn luộc chín, độ hai ba cân và một ấm chè đậm. Ai ngờ, trong nháy mắt, Kỷ Vân đã chén sạch khay thịt. Mọi người đều biết ông có tật ăn thịt, nhưng không ngờ thực lượng của ông ghê gớm như vậy.

Ăn xong, Anh Liêm đưa cô cháu gái đến chào Hoàng thượng. Anh Liêm già lụ khụ. Càn Long miễn cho khỏi quỳ. Phùng Thị quỳ chào Hoàng thượng. Càn Long cho ngồi, rồi nói:

- Hôm nay là ngày mừng thọ, chẳng lẽ không có bài thơ chúc thọ. Nói xong gọi Kỷ Vân:

- Hôm nay đến đây dạo hoa viên, lại nhân ngày sinh của Hòa phu nhân, khanh làm bài thơ chúc thọ.

- Thần cũng có ý ấy. Nói xong đọc ngay một câu:

“Cô nương kia đâu phải là người”

Mọi người cả kinh, Càn Long cũng chột dạ. Kỷ Vân ung dung đọc tiếp:

“Là cô tiên nữ xuống phàm trần”

Mọi người cảm thấy nhẹ nhõm. Càn Long tươi cười nhìn Kỷ Vân. Bất ngờ Kỷ Vân lại đọc:

“Đẻ ra một nhóc đi làm giặc”

Càn Long giật mình, con trai Hòa Thân chính là con rể Trẫm sao lại nói câu xấc xược đại nghịch như vậy, nhưng nhìn thấy Kỷ Vân mỉm cười, biết Kỷ Vân nhất định có câu tiếp sau, nên bình tĩnh lại. Mọi người lo sợ Kỷ Vân mất đầu. Kỷ Vân đọc tiếp:

“Đánh cắp bàn đào tặng mẫu thân”

Càn Long cười to vang khắp nhà, Hòa Thân từ bực bội chuyển sang vui mừng.

Càn Long vui vẻ dạo chơi trong vườn, bên cạnh có Hòa Thân và Kỷ Vân nên càng thêm phấn khởi, càng thêm vui thích, chiều tà buông xuống, một cánh nhạn trắng bay qua bầu trời. Càn Long nói:

- Kỷ Vân, khanh hãy làm câu thơ đầu đề là chim nhạn trắng.

Kỷ Vân đọc:

Bầu trời vạn dặm một nhạn bay,

Lấy tuyết làm áo, non làm nhà”.

Càn Long muốn thử tài Kỷ Vân, nhìn thấy chim nhạn bay tận chân trời, chỉ còn là một chấm đen, bèn nói:

- Khanh xem kìa, rõ ràng là một chim nhạn đen.

Kỷ Vân đọc ngay:

Mãi miết tìm mồi về quá muộn,

Nhầm bước vào hồ chứa mực đen”.

Hòa Thân đứng bên cạnh, thầm nghĩ mình khổ công học tập, tự cho là tài cao, nhưng so với Kỷ Vân còn kém xa, nhìn thấy Càn Long vui vẻ, lòng cảm thấy chua xót.

Hòa Thân thấy Kỷ Vân giúp Càn Long soạn bộ “Tứ Khố Toàn Thư”, khiến Càn Long trở thành con người trước nay chưa từng có, công lao chính trị lưu muôn đời, tự thấy hổ thẹn, nên nghĩ bụng: Ngươi tuy tài ba nhất thiên hạ, nhưng ta muốn ngươi phải là thuộc hạ của ta. Ta cũng sẽ giúp Hoàng thượng lập nên sự nghiệp văn trị, ta xin Hoàng thượng cho ta làm các chức Chánh tổng tài Quốc sử quán, Văn uyên các đề cử các sự Tổng tài Thanh học vị tổng quán, trở thành quan cao nhất của văn hóa chủ quản: Kỷ Vân dưới quyền ta. Hòa Thân vô cùng phấn khởi.

Năm Càn Long thứ bốn mươi tám, Hòa Thân ba mươi bốn tuổi, ông vợ Anh Liêm bệnh nặng qua đời. Hòa Thân buồn rầu, nghĩ rằng, mình có ngày nay, đều nhờ mối quan hệ phía vợ. Đặc biệt lúc khó khăn trước đây ông vợ đã cưu mang, để mình được vào học ở Trường Hàm An Cung học, gả cô cháu gái hiền thục cho mình, xóa đi nỗi lo không người nội trợ đỡ đần.

Tang lễ xong, đã vào giữa mùa hè. Một hôm, Hòa Thân vào Quốc sử quán, nghĩ ra một kế.

Trưa hôm sau, Hòa Thân tâu với Càn Long:

- Hoàng thượng, biên soạn quốc sử, biểu dương văn trị võ công của Đại Thanh chúng ta, ca ngợi công đức Đại Thanh, cực kỳ quan trọng. Hôm nay Hoàng thượng nhàn rỗi, nô tài xin đưa Hoàng thượng đi xem.

Càn Long cũng muốn gặp Kỷ Vân nên nói:

- Rất tốt.

- Trời rất nóng, Hoàng thượng cứ ăn bận áo quần thường đến đấy.

- Rất hợp ý Trẫm.

Hai người ăn bận thường phục bước vào Quốc Sử Quán, vừa bước qua cửa, Kỷ Vân đã nhìn thấy. Kỷ Vân vì nóng bức nên cởi trần, nom thấy Hoàng thượng đến, vội vàng chui trốn dưới bàn, bàn phủ một tấm vải rủ sát đất, vừa che đủ người. Không ngờ Hòa Thân nhìn thấy, dẫn Hoàng thượng đến ngay trước bàn, mời ngồi. Những người khác trong Quốc Sử Quán định đến bái chào Hoàng thượng. Hòa Thân bảo họ cứ làm việc bình thường không được lên tiếng nói năng gì. Hòa Thân cầm quạt, quạt cho Càn Long. Kỷ Vân núp dưới bàn, mồ hôi ướt đẫm cả lưng, nghe trong phòng im lặng, bèn nói:

- Lão đầu nhi (ông già - ND) đã đi rồi ư? Nói xong thò đầu ra. Nào ngờ, nhìn thấy Càn Long đang ngồi trước mặt.

- Kỷ Vân không được vô lễ. Càn Long lên tiếng.

Kỷ Vân vội chui ra, khoác áo lên, quỳ tâu với Càn Long:

- Nô tài đáng chết, mạo phạm Hoàng thượng.

- Vì sao khanh gọi Trẫm là “Lão đầu nhi”. Giải thích được thì sống, không được thì chết.

Mọi người trong Quốc Sử Giám sợ run cầm cập, toát cả mồ hôi, lo cho Kỷ Vân. Hòa Thân thì mừng thầm: lần này Kỷ Vân nhà ngươi có tài trời cũng khó thoát chết. Không ngờ Kỷ Vân vẫn bình tĩnh ung dung trả lời:

- Người sống vạn thọ vô cương là lão, đứng trên thiên hạ là đứng đầu, nhi là con của cha trời mẹ đất.

Nghe xong, Càn Long đổi giận thành vui. Không ngờ Hòa Thân lại nói:

- Vừa rồi ta nghe rõ ràng, đại nhân nói “Lão đầu tử “ (lão già - ND) chứ không phải “Lão đầu nhi”, đại nhân không thể đánh lừa Hoàng thượng.

- Đúng? Ba chữ “Lão đầu tử” là nghĩa gì? Càn Long hỏi.

- Trong kinh thành đều gọi Hoàng đế là “Lão đầu tử” gọi Hoàng đế là Đức Vạn Tuế, vậy không phải là già sao? Hoàng đế đứng trên thiên hạ, há không phải đứng đầu? Hoàng đế là thiên tử cho nên gọi là tử.

Càn Long vuốt râu cười:

- Khanh đúng là Thuần Vu Khôn tái thế, Trẫm tha tội chết cho khanh, hãy đứng dậy.

- Tạ ơn Hoàng thượng. Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế vạn vạn tuế!

Hòa Thân ngậm đắng nuốt cay.

Hôm sau, được tin cấp báo Tân giáo người Hồi ở Cam Túc đựng cờ nổi loạn. Càn Long tức giận lệnh cho Tổng đốc Thiểm - Cam Lý Thị Nghiêu, Đề đốc Cam Túc Cương Tháp đưa quân trấn áp, quyết diệt cỏ tận gốc.

Năm Càn Long thứ bốn mươi sáu, A Quế đem quân trấn áp nghĩa quân Tân giáo người Hồi, tàn sát tín đồ Tân giáo, nhiều người vô tội bị họa lây, người Hồi sống lầm than cực khổ, oán hận tột cùng, lửa cháy đồng cỏ âm ỉ, gặp gió lại bùng lên. Tháng năm, năm Càn Long thứ bốn mươi tám, người Hồi dưới sự lãnh đạo của A Oanh Điền Ngũ, dựng cờ nổi dậy tại Thạch Phong Bảo, Thông Vi, Cam Túc, thề báo thù cho Mã Minh Tân, báo thù cho Tô Tứ Thập Tam, báo thù cho những người anh em Tân giáo bị tàn sát.

Lý Thị Nghiêu, Cương Tháp, tiếp chỉ xong đem quân đi dẹp loạn. Cương Tháp điều tra biết Điền Ngũ đang giảng đạo trong một ngôi đền, bèn đem một ngàn quân lặng lẽ bao vây ngôi đền, rồi tấn công giết chết Điền Ngũ.

Các tín đồ Tân giáo: Mã Tứ Khuê, Trương Văn Khánh lên làm thủ lãnh, lãnh đạo dân chúng ra sức chống trả. Lúc này, lửa giận tích tụ từ lâu của người Hồi bùng lên. Quân khởi nghĩa lớn mạnh nhanh chóng, ai cũng tỏ rõ quyết tâm thà chết dưới ngọn cờ chống Thanh. Cương Tháp lúc đầu thắng trận, được thể đem quân càn quét, không ngờ cả một ngàn quân bị nghĩa quân Tân giáo bao vây, Phó Đô thống Tây An, Trình Thiện bị giết. Lý Thị Nghiêu không dám tiến quân, Cương Tháp đành bó tay. Tấu báo gấp về triều. Càn Long cả giận, lệnh bắt Lý Thị Nghiêu và Cương Tháp, cử người khác đi dẹp loạn.

Hòa Thân nghĩ bụng: ta tuy được Hoàng thượng hết sức ân sủng, nhưng không được các quan kính phục. Càn Long tuy sủng ái ta nhưng coi ta không bằng A Quế. Mấy năm lại đây Hoàng thượng rất coi trọng ta, việc quân việc nước đều giao ta xử lý, A Quế thường xuyên ở xa, nay đánh đông, mai đánh tây, nay đi cứu thiên tai, mai đi đào sông đắp đường, nếu A Quế về triều, sẽ đứng đầu triều, công huân nổi bậc, Càn Long sẽ xem ông ta là rường cột của đất nước, ta chịu lép ông ta ư? Nếu lần này đến Cam Túc dẹp xong loạn, về triều, giành được chiến công, sẽ chứng minh cho Hoàng thượng ta đây chẳng kém gì A Quế. A Quế và các quan hết xem thường. Hơn nữa, lần đến Cam Túc trước đây, đã học được bản lĩnh của A Quế, nay đủ sức đối phó với bọn quân ô hợp Cam Túc. Do đó, Hòa Thân xin Càn Long cho đi dẹp loạn.

Càn Long tuổi đã xế chiều, tinh lực mòn mỏi, trí nhớ kém, nhưng lại thích khen ngợi, thích hưởng lạc, không thích nghe những lời trái tai, cố chấp bảo thủ. Về mặt sinh hoạt, thích được chăm sóc chu đáo. Về mặt tình cảm rất thích được an ủi chiều chuộng. Hòa Thân đáp ứng được những cái đó. Càn Long càng không thể rời Hòa Thân. Do đó, mỗi khi A Quế có ý nói đến Hòa Thân không tốt, Càn Long đều lờ đi. Càn Long cho rằng, Hòa Thân còn trẻ như vậy, được đề bạt quá nhanh, không tránh khỏi sự bàn tán trong các quan. Lần trước cho Hòa Thân đi dẹp bọn Tân giáo là muốn để Hòa Thân và A Quế dung hòa với nhau, lập chiến công, nhưng sự việc không thành. Lần này Hòa Thân lại muốn đến Cam Túc, cho rằng Hòa Thân muốn vì nước lập công, Càn Long đồng ý trước mặt bá quan trong triều. Lần này cấp nhiều quân lính vũ khí hơn, nhất định đại thắng và cử thêm dũng tướng Hải Lan Sát, bọn giặc Tân giáo ở Cam Túc sẽ bị tiêu diệt.

Càn Long ra lệnh: Phúc Khang An, Hải Lan Sát nhận quân lệnh đi dẹp loạn. Hòa Thân là Khâm sai đại thần lãnh hai ngàn tinh binh cấp tốc đến Cam Túc. Và căn dặn Hải Lan Sát, xem Khâm sai đại thần như Trẫm, lấy việc nước làm trọng, nghe lệnh Hòa Thân.

Nghĩa quân Tân giáo Cam Túc chưa đầy hai ngàn người. Hòa Thân hội quân mấy nơi về một chỗ, bao vây nghĩa quân đang ở trong Hoa Lâm Sơn, và áp dụng phương pháp năm trước của A Quế, lấp giếng ngăn suối, đoạn tuyệt nước uống, canh giữ khắp nơi, không bao lâu đánh chiếm được Thạch Phong Bảo, hơn một ngàn quân của Mã Tứ Khuê bị tiêu diệt.

Hòa Thân ra lệnh: thà giết nhầm ngàn người, không để sót một tên. Chém đầu tất cả bọn giặc sống sót. Máu chảy đầu rơi khắp ba tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Thanh Hải. Tân giáo kiệt sức không sao dậy nổi.

Càn Long vui mừng. Chiếu dụ Hòa Thân làm Đại học sĩ kiêm Thượng thư bộ Hộ và Thượng thư bộ Lại, xóa bỏ tội phải giáng cấp ngày trước, trở lại chức vị Tướng phụ. Phúc Khang An, Hải Lan Sát... đều được khen thưởng đề bạt.

Ra khỏi điện, Hòa Thân cố ý chờ Phúc Khang An, vừa thấy Phúc Khang An bước ra, Hòa Thân tươi cười hớn hở bước tới, khom người vẫy tay áo, chào hỏi:

- Chúc mừng đại soái, xin mời đại soái đến tệ phủ một chuyến, bỉ nhân rất vinh hạnh.

Không ngờ Phúc Khang An nói:

- Hạ quan chức thấp, tuổi trẻ, không dám nhận đại lễ của Đại học sĩ. Còn đến quý phủ, đó là việc cao xa.

Nói xong, ung dung bước đi.

Hòa Thân căm lắm, nhưng tuyệt đối không để lộ ra ngoài. Đối với A Quế, Phúc Khang An, Kỷ Vân, Lưu Dung, họ là sủng thần của Càn Long, là rường cột của đất nước, tuyệt đối không được để lộ sự bất mãn, oán hận, thậm chí trên nét mặt, trước mặt họ phải nhẫn nại, dẫu họ có làm nhục mình, cũng không nên giận ghét họ trước mặt Hoàng thượng, cần tìm cơ hội để diệt trừ họ. Dù không diệt được họ, thì cũng phải gạt bỏ quyền lực của họ, dần dần thâu tóm quyền lực của họ, cứ để họ kiêu ngạo, cái ta cần là quyền lực, ta không tranh cãi với họ. Nếu họ kiêu ngạo không tuân lệnh, thì dựa vào lệnh của Hoàng thượng mà cưỡng ép. Chỉ cần ta có được quyền lực từ nơi Hoàng thượng, sẽ khống chế được họ.

Hòa Thân nắm quyền lớn trong tay, dựa vào Hoàng thượng, ra lệnh cho thiên hạ. Chế độ chuộc tội được thực hiện rộng khắp, hầu bao của Hoàng thượng đầy, hầu bao của Hòa Thân càng đầy. Hòa Thân tu sửa cung điện cho Càn Long, mở rộng Di Hòa Viên, suốt ngày đưa Hoàng thượng đi tuần du, đến nỗi các hoàng tử rất ít có dịp gặp Càn Long. Cứ như vậy, ngoài công chúa thứ mười ra, Càn Long rất ít tiếp xúc với người trong gia đình. Hòa Thân dốc lòng thỏa mãn mọi yêu cầu mọi dục vọng của Càn Long, trong đó có phần của ông ta. Chỉ việc xây dựng cung điện mới và mở rộng vườn Viên Minh, Hòa Thân đã bỏ túi riêng mấy mươi vạn lạng bạc trắng.

A Quế không ở trong triều, càng thuận lợi. Hòa Thân tâu lên Càn Long nên cải cách chế độ trợ thủ đối với việc tấu báo, dần dần nắm hết quyền về tay mình. Các tấu báo của các đại thần, bản chính đưa lên Hoàng thượng, bản sao đưa lên Cục Quân cơ; đại thần Quân cơ tự mình xem, không cần xin phép Hoàng thượng. Đại thần đứng đầu Cục Quân cơ là A Quế suốt năm ở xa không về triều. Hòa Thân trên thực tế đã khống chế toàn bộ Cục quân cơ, khống chế tất cả những tấu báo gửi cho Hoàng thượng. Quan ngự sử có nhiệm vụ chuyển trực tiếp tấu báo lên Hoàng thượng, lệ đó không thể thay đổi. Hòa Thân tâu với Càn Long dùng người cao tuổi vì họ thận trọng, tỉ mỉ, hiểu việc, nên quy định, thiếu ngự sử thì bổ sung những lão thần trên sáu mươi tuổi. Những lão thần này, như mặt trời sắp lặn, già nua lụ khụ, cả đời chỉ biết học đạo lý, giữ mình trong sạch, chỉ biết quét rác trước nhà mình, làm sao nghĩ đến rác bẩn trên nhà người khác. Thế là ông ta kiểm soát tất cả các bản tấu báo của Cục Quân cơ và sử dụng các ngự sử già nua lẩm cẩm, thiên hạ đâu còn người tố cáo Hòa Thân?

Mặc dù, Càn Long vô tình để A Quế quanh năm ở nơi xa xôi, Hòa Thân độc chiếm quyền bính trong triều, nhưng Hòa Thân lúc nào cũng nghĩ rằng A Quế luôn luôn đe dọa ông ta, A Quế làm tướng nhiều năm, cất nhắc khá nhiều người, họ và A Quế làm ra vẻ phục tùng mình nhưng thực tình là chống lại. Hòa Thân theo dõi từng động tác, cử chỉ của A Quế, tìm mọi cơ hội.

Một hôm, Hòa Thân đang trực ở Cục Quân cơ, như thường lệ, đọc xem các bản tấu báo của các địa phương, bỗng nhiên như phát hiện ra điều gì, ông suy nghĩ, và cầm xem lại một bản tấu đã vứt đi. Bản tấu này phát hiện Hải Thăng hiện là Chương kinh viên ngoại lang Cục Quân cơ đã giết vợ. Bản tấu viết: Quân cơ Chương kinh viên ngoại lang Hải Thăng giết vợ, nhưng lại báo là vợ thắt cổ tự vẫn. Thần Hàn lâm học sĩ Hàn Quí Ninh là em vợ của Hải Thăng, lúc liệm thi hài chị, phát hiện dấu ngón tay bóp cổ. Trước hôm chị mất, thần có đến thăm, chị thần đang bận lo việc hôn nhân cho thần, nhất định không phải tự sát. Thần Hàn Qúi Ninh cho rằng Hải Thăng giết vợ, tội không thể dung tha.

Hòa Thân rất thích thú không phải vì vụ án giết vợ mà là vì giữa Hải Thăng và A Quế có mối quan hệ với nhau. Hải Thăng là người do A Quế đề bạt cất nhắc, là kẻ sẵn sàng chết vì A Quế. Nếu điều tra vụ này có quan hệ với A Quế, thì tốt biết bao. Hơn nữa, Hàn Quí Ninh là con của Hàn Đại Phát, thuộc hạ quen biết của Hòa Thân, nếu bảo Hàn Quí Ninh đưa ra chứng cớ thế nào đi nữa lẽ nào hắn không chịu? Hòa Thân tâu với Càn Long. Càn Long nói:

- Kỷ Vân đi khai quật quan tài khám nghiệm thi thể.

Lúc này, Kỷ Vân kiêm chức Tả đô ngự sử, lẽ ra ông không phải đi, nhưng Càn Long thấy ông là bậc kỳ tài, nhất định sẽ làm rõ vụ án. Kỷ Vân kính trọng tài đức của Hải Thăng, biết ông ta ngay thẳng chất phác, rất thông cảm với người yếu hèn, không thể phạm tội giết vợ. Do đó, khi khai quật quan tài chỉ xem qua loa, thấy cổ không có dấu vết gì khác lạ, nên cho vụ án là tự sát. Càn Long định cho qua vụ này. Hòa Thân gân cổ tâu:

- Nếu tự sát, tất phải có nguyên nhân, hãy để Hải Thăng tự nói, vì sao vợ tự sát?

Càn Long hỏi, thấy Hải Thăng ấp a ấp úng, biết có chuyện gì đây, nên ra lệnh điều tra lại vụ án. Lệnh cho Thị lang Tào Văn Trực điều tra cụ thể, không được sai sót tội lớn không tha. .

Thị lang Tào Văn Trực xem xét tỉ mỉ thi hài, thấy phía dưới cổ có bốn dấu ngón tay lờ mờ, phía trên cổ hai dấu ngón tay rõ hơn. Qua thẩm vấn Hải Thăng và thị nữ của vợ. Vụ án được sáng tỏ.

Rõ ràng vợ Hải Thăng bị Hải Thăng bóp chết.

Tào Văn Trực chuyển biên bản vụ án lên Cục Quân cơ, vừa quay mình bước đi đến gặp Hoàng thượng tấu báo, Hòa Thân vội nói:

- Tào đại nhân, khoan đã.

- Đại nhân có gì sai bảo?

- Chúng ta đều là quan trong triều, có gì mà sai với bảo. Tôi chức tuy cao hơn, nhưng ít tuổi hơn, không như đại nhân, phá được nhiều vụ án khó, thiên hạ đều biết tiếng.

- Đại nhân quá khen.

- Thực ra là như vậy, có gì là quá khen, tài năng như Tào đại nhân, đáng được thăng chức từ Thị lang lên Thượng thư mới đúng.

- Hạ quan tuổi cao sức yếu, làm sao gánh vác được công việc nặng nhọc như vậy. Nếu đại nhân không có việc gì, hạ quan xin đến tâu với Hoàng thượng.

- Không vội, không vội, hôm nay Cát Lâm vùng Đông Bắc có biếu mấy con phi long, tôi đang buồn vì không có bạn cùng vui, may mà có ngài cùng nhậu, mời đến tệ phủ.

- Vụ án này chưa kết thúc, làm sao có thể ăn uống, xin tha cho hạ quan khỏi đến quý phủ.

- Như vậy, xem thường Hòa Thân này rồi.

Tào Văn Trực không còn cách nào khác, đành đi với Hòa Thân.

Quả nhiên trong thức ăn trên bàn có mùi phi long núi Trường Bạch. Hòa Thân nói:

- Loại phi long này sống trên núi Trường Bạch, chỉ ăn lộc non của cây, mùi vị thơm ngon, mời đại nhân thưởng thức.

- Đại nhân không phải khách khí, xin mời. Tào Văn Trực nói.

Chủ khách mời nhau, hết cốc này đến cốc khác, hai người trò chuyện, dần dần hợp ý nhau. Hòa Thân nói:

- Tào đại nhân, Hải Thăng là đệ tử của A Quế, do A Quế cất nhắc đề bạt, tôi cho rằng A Quế không thể gây áp lực với đại nhân để gỡ tội cho Hải Thăng.

- Không có chuyện đó đâu.

- Tôi cho là không có chuyện đó. Nhưng tôi thấy, Kỷ Vân xét nghiệm thi thể không rõ ràng, hình như có ý gì ấy chắc là được ý kiến của A Quế. Còn Tào đại nhân thì ngay thẳng, tuy A Quế ra sức cản trở, nhưng không khuất phục, làm rõ sự thật, tính cương trực không a dua nịnh hót. Hoàng thượng biết được sẽ nhất định khen thưởng.

- Rõ ràng A Quế không nói với tôi một lời nào, hạ quan không thể, không nói có.

- Ông anh nghĩ kỹ, nghĩ kỹ xem, tôi cho rằng nhất định có việc ấy, nào, cạn chén. Nói xong, nâng cốc uống cạn, nói tiếp: Hoàng thượng rất thích người trung chính cương trực dám nói dám làm, nhưng rất ghét ai che dấu không tâu trình, nếu biết được sẽ không dung tha. Ngài xem con phi long này, sống ở vùng có tuyết, ăn lộc non, rất trong sạch, còn tươi sống đặt trên bàn của tôi.

- Nhật nguyệt mãi mãi trên bầu trời, luôn luôn soi sáng, sông suối xưa nay vẫn thế, sự thật là sự thật. Nhật nguyệt tuy có lúc mờ nhưng thật ra vẫn soi sáng, sông suối tuy bị ngăn chặn nhưng vẫn chảy về hướng đông. Lòng chúng vẫn thế, tính chúng vẫn thế, có ai thay được lòng chúng, có ai đổi được tính chúng. Nói xong, không khách khí, ăn càng cảm thấy ngon miệng.

Hòa Thân tức giận, nghĩ rằng đây là dịp tốt đả kích A Quế, nhưng lại đụng phải con người không biết điều, một bàn thức ăn sang trọng coi như cho chó. Cây gậy đánh chó đã giơ lên, ta sẽ đánh cho nó sống dở chết dở.

Nào ngờ trong lúc ông ta đang sầu não, A Quế đã đến trước cửa. A Quế từ vùng cửa sông Hoàng Hà vội vàng về tâu:

- Thần nghe Hải Thăng giết vợ, ăn ngủ không yên, giết vợ, dấu diếm, tội nặng. Nhưng Hải Thăng tính tình trung hậu, vợ thì ngỗ ngược, nên có thể dung thứ, xin Thánh thượng minh xét.

- A Quế đã đọc nhiều sách vở, chức quan cao nhất, không biết việc giết vợ, dấu diếm, tội không thể tha, A Quế tâu xin vì Hải Thăng là đồ đệ thuộc hạ của ông ta, như vậy là thiên vị không công bằng. Tướng phụ mà như thế, thiên hạ sẽ loạn mất. Xin Hoàng thượng nghiêm khắc với A Quế, để làm gương thiên hạ.

- A Quế bao che cho Hải Thăng, phạt hai năm lương. Càn Long nói.

Hòa Thân hởi lòng hởi dạ, nghĩ bụng: Hoàng thượng vẫn nhẹ tay với A Quế.

Tào Văn Trực viết một bản tấu, đại ý nói là mẹ già, bản thân sức yếu, nhiều bệnh, công việc ở bộ Hình rất quan trọng, khó đảm đương, xin nghỉ về quê. Càn Long cố lưu giữ, nhưng Tào Văn Trực quyết tâm xin nghỉ, cuối cùng được Càn Long đồng ý.

« Lùi
Tiến »