Càn Long băng hà, trước lúc nhắm mắt vẫn chỉ tay về hướng tây nam, phải chú ý giặc đạo ...
- Hoà Thân quỳ trước linh cữu Càn Long khóc, Gia Khánh thét: ngươi đã biết tội chưa?
- Một giải lụa trắng cướp đi Hòa Thân, hai người thiếp đẹp của ông cũng..
- Kiểm tra gia sản Hòa Thân thu được 900 triệu lạng bạc trắng. Gia Khánh từ sợ hoá mừng...
Mười hai tuổi nay đã thành tám sáu,
Bốn lần tối sáng với thất tuần.
Trăng thanh gió mát nào có đổi,
Buồn vui vẫn thế có gì đâu?
Ngoài êm trong ấm ngẫm chuyện xưa,
Dẹp Mẹo bình Sở cứ bận hoài
Thư phòng cửa sổ vẫn ngồi đó
Thái Thượng hoàng thẹn với người đời
Đây là bài thơ Càn Long viết vào mùa xuân năm Gia Khánh thứ nhất. Càn Long nhớ lại cảnh năm 12 tuổi theo Hoàng tổ đại đế Khang Hy đến nha môn tạm nghỉ, lúc ấy sao huy hoàng thế. Càn Long nhớ lại lúc ông 74 tuổi, vào mùa xuân đến tạm nghỉ ở hành cung Chùa Hoa Đào, vọng nhìn về phía tây nam, ngóng chờ tin thắng trận cuối cùng của chiến dịch Kim Xuyên. Lúc đó một bóng cờ hồng từ xa vụt đến, phấp phới dưới bóng liễu ngoài tường, rồi phóng vút vào hành cung. Đó là lá cờ báo tin mừng tướng quân A Quế đã bình định được Kim Xuyên. Nhưng mùa xuân này, ông vẫn ngồi bên cửa sổ, vọng nhìn về phía tây nam xa xăm ngóng chờ tin mừng diệt Mẹo bình Sở, thế mà chẳng thấy. Thật là “Thái Thượng hoàng thẹn với người đời”.
“Thiên cổ giang sơn, anh hùng chẳng thấy, mưu lược cũng không, vui chơi ca hát, thế nào cũng bị, gió dập mưa vùi”. Ở nhiều tỉnh phía nam. Tháng 8 năm Gia Khánh thứ 3, khi tổng đốc Tứ Xuyên là Lặc Bảo tấu báo đã bắt sống thủ lĩnh giặc đạo, Vương Tam Hòe, Thái Thượng hoàng mừng rỡ, ra chỉ dụ:
“ Từ ngày Trẫm lên ngôi đến nay, hết lòng kính trời yêu dân. Nay tuổi đã gần 90, công lao trọn vẹn. Năm ngoái, sau khi giao quốc ấn, vẫn luôn luôn chăm lo việc triều chính, không dám lơ là nghỉ ngơi. Mấy năm qua, giặc vào quấy rối. Trẫm đã dốc lòng suy nghĩ đối phó, cũng may tinh thần còn sáng suốt. Nay Lặc Bảo tuân theo chỉ dụ, bắt sống được đầu lĩnh giặc đạo, Vương Tam Hòe ở tỉnh Tứ Xuyên. Dư đảng của chúng đang bi truy đuổi, không bao lâu nữa sẽ dẹp xong. Tin vui đến trong lúc Trẫm và Hoàng đế đang ở Sơn Trang, các vương công Mông Cổ đến chúc mừng, mọi người đều hân hoan. Trẫm ngoài chiến công hiển hách, còn được mắt thấy những công lao to lớn diệt giặc thế này”.
Sau khi tự khen, ngày 13 tháng 8 Càn Long dự lễ mừng thọ 88 tuổi tại khu nghỉ mát Sơn Trang, rồi trở về kinh, đến vườn Viên Minh. Đến lập đông quay về Tử Cấm Thành, sắc phong thêm một quý phi và một vương phi. Tháng 11, Hoàng đế Gia Khánh cùng với các vương công đại thần và tổng đốc tuần phủ các tỉnh nhiều lần xin tổ chức “lễ mừng thọ 90 tuổi” vào năm Gia Khánh thứ 5, Thái thượng hoàng bảo: “Trẫm đồng ý, chuẩn bị như lễ mừng thọ Hoàng tổ Khang Hy 60 tuổi và Càn Long 80 tuổi”, và chỉ định Hòa Thân tổng phụ trách.
Nào ngờ, bước vào mùa đông, sức khoẻ của Thái thượng hoàng ngày càng kém sút, dễ bị cảm cúm. Một ngày đầu tháng chạp, bị ngất đi, tuy chóng khỏi, nhưng từ đó thường hôn mê, bệnh tình không ổn định, có lúc rên suốt đêm, ban ngày trở lại bình thường; có lúc, buổi sáng hôn mê, chiều tối lại tỉnh táo. Ngày 28 tháng 12, tại chùa Hồng Lư, Thái Thượng hoàng dự buổi lễ sứ thần Triều Tiên và Xiêm La đến chào triều đình nhà Thanh. Ngày 29, tại Thấu Phương Trai trong Trùng Hoa Cung, Thái Thượng hoàn truyền sứ thần Triều Tiên và Xiêm La đến nghe Hòa Thân truyền dụ: “Quý Quốc vương có được bình an không?” Các sứ thần đáp: “Bình an”. Sau đó mở tiệc, xem tuồng. Ngày 30, lại tổ chức bữa tiệc cuối năm thật linh đình tại điện Bảo Hòa.
Sáng sớm ngày 2, Thái Thượng hoàng vẫn trông chờ tin mừng chiến thắng diệt giặc, hy vọng lá cờ thắng trận hiện ra trước mắt ông. Ông làm bài thơ “vọng tiệp” (mong tin chiến thắng - ND):
Ba năm kéo quân đi,
Chẳng biết là bao nhiêu.
Chớ kinh bọn tà đạo,
Quan quân cứ đánh hoài.
Cầm quân nhiều lần thấy,
Máu đỏ hoạ cứ còn.
Chờ tin mà phát chán,
Chẳng thấy mang địch về.
Không ngờ bài thơ này lại là bài thơ chấm dứt cuộc đời Càn Long. Chiều ngày 2 khi mặt trời vừa lặn xuống, Đại đế Càn Long sắp đi đến đầu mút cuộc đời. Mặt ông phù lên, cứ co giật hoài, chắc chắn là muốn mở mắt nhưng mở không được, muốn nói nhưng chẳng nói ra lời, hai tay túm chặt lấy đôi vai Gia Khánh đang quỳ bên cạnh, ngự y cũng đành bó tay. Phải chăng Càn Long còn nghĩ đến ngày lễ mừng thọ 90 tuổi? Phải chăng ông còn nghĩ đến những chiến công hiển hách vang lừng của ông? Phải chăng ông nghĩ đến việc mất toi 70 triệu lạng bạc quân lương mà chẳng tiêu diệt được giặc đạo? Phải chăng ông nghĩ đến hoàng hậu chết sớm và Hương phi bướng bỉnh? Đúng vậy, Càn Long đang nghĩ đến tất cả những điều đó trong giờ phút hấp hối. Càn Long đắm say trong dĩ vãng, và nuối tiếc với hiện tại.
Một đêm trôi qua, mặt trời sắp mọc. Các hoàng tử đang quỳ hầu bên Càn Long.
Bỗng nhiên, Càn Long nắm chặt tay Gia Khánh, mở to cặp mắt, nhìn thẳng về hướng tây nam. Gia Khánh hiểu ý Càn Long muốn nói, nên tâu: “Thái Thượng hoàng có điều gì cần dặn dò, con dù thịt nát xương tan, hoặc xông vào khói lửa cũng không hề từ nan”. Càn Long buông tay ra, chỉ về phương nam, một hồi lâu, miệng mấp máy, chẳng nói ra lời.
Gia Khánh lòng đau như cắt, nước mắt dàn dụa, tâu: “Phụ hoàng an tâm, nhi thần nhất định sẽ tiêu diệt bọn giặc Bạch Liên giáo”. Tiếp đó, Hoàng đế Gia Khánh cùng mọi người có mặt ở đây, kể cả Hòa Thân, quỳ xuống thề: “Trên có trời dưới có đất chứng giám, chúng con nhất định sẽ tiêu diệt bọn giặc, lòng này có thần và người làm chứng. Thái Thượng hoàng hãy yên tâm, nhi thần quyết ra sức bình định miền tây nam, sớm báo tin vui thắng trận với Thái Thượng hoàng, nếu có ai không dốc lòng dốc sức sẽ bị trời đất trừng phạt”. Nghe xong, Càn Long mới hạ tay xuống, nhắm mắt lại, mồm ngậm chặt. Càn Long tắt thở lúc sáng sớm ngày mùng ba.
Ngày 7-2-1799, Thái thượng hoàng Càn Long băng hà tại cung Càn Thanh trong kinh thành đế quốc Trung Hoa.
Càn Long được tôn vinh là: Hoàng đế bậc thánh, văn võ toàn tài, nhân từ hiếu thảo. Miếu hiệu là “Cao Tôn”.
Sau khi Càn Long băng hà, cục diện chính trị bắt đầu có những biến động long trời lở đất. Ngày 2, trước ngày Càn Long băng hà, đã ban bố “di cáo” của Thái Thượng hoàng được chuẩn bị sẵn từ lâu.
Sáng ngày 3, Hoàng đế Gia Khánh đang định ra chỉ dụ cáo thị với thiên hạ, nhưng thấy một số từ ngữ trong “di cáo” không thoả đáng. Di cáo của Thái Thượng hoàng nói: “Đã bắt được thủ lĩnh phản nghịch, bè đảng của chúng chạy trốn sẽ bị tóm nay mai, công việc sắp hoàn thành”. Thực tế, đó chỉ là những lời khoe khoang hợm hĩnh. Hiện nay, ta đang phải gấp rút chỉnh đốn quân đội quét sạch giặc đạo, làm thế nào trong chỉ dụ đầu tiên khi ta cầm quyền lại có những câu chữ tự dối mình và dối người? Nhưng xác cha chưa lạnh, nếu vội vàng hạ chiếu dụ vạch rõ sự thật này ra, thay đổi lời nói của Thái Thượng hoàng, e rằng thiên hạ cho là bất nghĩa. Hơn nữa các tướng soái đều thuộc về Hòa Thân, binh quyền trong kinh thành đều trong tay Hòa Thân, việc này làm quá vội e gặp bất trắc. Vậy, kế bây giờ là phải trước tiên ổn định Hòa Thân, tiếp đến nắm giữ binh quyền của ông ta, thanh trừng bè cánh của ông ta ở kinh thành, sau đó mới có thể hành sự. Việc rất nhiều, phải có sự giúp đỡ của các thân tín, đức cao trọng vọng mới được, nếu A Quế còn sống, với uy tín của ông ta, lấy đầu Hòa Thân dễ dàng và ổn định được ngay triều đình , quân đội và các địa phương. Đáng tiếc A Quế đã mất, trong triều không có ai như A Quế có thể ổn định được tình hình.
Vậy, ai là đại thần có thể tin tưởng ? Trước nhất có thể dùng Đổng Hạo, con người này am hiểu triều chính, cương trực không a dua nịnh hót, rất ghét Hòa Thân. Nghe nói ông ta thường một mình trong phòng suy nghĩ, có lần ở trong phòng trực cầm hốt ngà đập lên bàn, khiến hốt ngà nứt làm đôi, rõ ràng ông ta tức giận vì bị Hòa Thân chèn ép.
Ông ta đã cứu ta thoát khỏi nguy hiểm về chuyện Chu Khuê năm ấy, nếu không có lời tâu khôn khéo của ông ta, ta đã bị Thái Thượng hoàng quở trách, thậm chí có thể dẫn đến sự thể khó lường. Ngoài ra, sử dụng Đổng Hạo, còn có một điểm lợi nữa, trước nay ông được Thái Thượng hoàng tín nhiệm; được vị đại thần phụ hoàng tin cậy đứng ra lo liệu việc lớn, có thể làm yên lòng các nguyên lão trong triều, thể hiện tính liên tục về chính trị của phụ hoàng, khiến người ta không dễ gì phát hiện những lúc tròng trành khi chiếc xe đang lăn bánh. Giống như Đổng Hạo, đại thần trước sau được phụ hoàng trọng dụng còn có Vương Kiệt và Lưu Dung. Những người này cũng cương trực không nịnh bợ, được triều đình ngưỡng mộ, phải sử dụng những lão thần này, ổn định tình hình. Sau khi ổn định xong tình hình, dần dần sử dụng người mới từ trung ương đến địa phương.
Trong hoàng thất cũng phải được ổn định. Thành thân vương Vĩnh Tinh, Định thân vương Miên Ân, thường ngày hoà hợp với ta nhất, và rất hận Hòa Thân, có thể đảm nhiệm việc lớn. Các hoàng tử hoàng tôn khác, có thể qua khen thưởng để họ an tâm.
Người được Hoàng đế Gia Khánh tín nhiệm nhất đương nhiên là Chu Khuê. Gia Khánh nghĩ rằng, tuy những người nói trên là đáng tin tưởng, nhưng không thể nói là tâm phúc của ta. Người mà có thể thổ lộ tâm sự trao đổi bàn bạc công việc chỉ có thể Chu Khuê mà thôi. Nhưng đang lúc quốc tang, nếu ta triệu ông ta về kinh ngay, liệu người ta có cho mình là bất nghĩa không ? Trong và ngoài triều có dị nghị bàn tán gì không? Hoàng đế Gia Khánh suy nghĩ rất lâu và cuối cùng tự hỏi mình: “Trong giờ phút quan trọng này, có nên do dự không, suy nghĩ mãi không? Có nên câu nệ theo phép tắc quy định mà để lỡ việc lớn không?”
Chu Khuê là người trợ thủ trung thành nhất của ta, là cố vấn, là túi khôn của ta, vậy ta còn nghi ngờ gì nữa, muốn thực hiện thuận lợi sự nghiệp lớn, nhất định phải gạt bỏ mọi trở ngại.
Thế là, Hoàng đế Gia Khánh viết thư ngay, triệu tập Tuần phủ An Huy, Chu Khuê cấp tốc về kinh.
Sau khi suy xét cẩn thận, Hoàng đế Gia Khánh ra chỉ dụ: “Các bậc đế vương xưa nay, công đức hiển hách, danh tiếng lẫy lừng, chiếu sáng muôn đời sau. Tiên hoàng trị vì được 60 năm, yên định bốn phương, giữ vững kỷ cương phép nước, gặp những ngày lễ lớn, không ngại xa xôi, đích thân đến các chùa đền lễ bái; một lòng hiếu kính thờ phụng Hoàng tổ và Hoàng hậu; thu phục nhân tài, yêu thương dân chúng, chăm lo việc nước, đã 5 lần miễn giảm thuế, 3 lần khỏi nộp lương thực. Những lúc gặp thiên tai hạn hán, lũ lụt thì miễn thuế, cứu tế; ngoài ra còn chi ngân sách hàng tỉ để đắp đê ngăn mặn, đào hồ chứa nước. Phê duyệt tấu chương, nhắc nhở quan lại, phổ biến pháp luật, bảo vệ an ninh, tôn thờ họ tộc, giáo dục bồi dưỡng nhân tài. Không ngại chinh chiến, mới bình định được bộ lạc Hồi, Chuẩn Thoái, mở rộng đất đai hơn hai vạn dặm, dẹp yên đại, tiểu Kim Xuyên, ...”
Tất cả các đại thần đều nhìn vào hành động của Hoàng đế Gia Khánh, đương nhiên điều quan trọng là chỉ dụ đầu tiên. Vương công tôn tôn nhất, bá quan văn võ, sứ thần các nước, thấy đạo dụ này, đều cho rằng Hoàng thượng vẫn đi theo con đường của Thái Thượng hoàng, trong triều sẽ không có gì biến động, có người thất vọng, có người vui mừng.
Hoà Thân, Phúc Trường An, Tô Lăng A, Ngô Tỉnh Lan, v. v… cùng nhau mưu tính, theo dõi từng cử chỉ hành động của Gia Khánh. Họ thống nhất với nhau: là trước nhất, duy trì mối quan hệ về mọi mặt với bên ngoài, sau đó, chú ý đến mọi cử chỉ hành động của Gia Khánh, đặc biệt là chiếu dụ đầu tiên. Mặt trời vừa mọc, chỉ dụ được ban bố, mọi người thấy chiếu dụ chỉ là sự lặp lại bản “di cáo” của Thái Thượng hoàng. Phúc Trường An nói: “Trong chỉ dụ chẳng có một từ nào đề cập đến bọn giặc đạo vậy có ý gì không?” Ngô Tỉnh Lan nói: “Theo tôi, Hoàng thượng chưa định ra phương lược dẹp loạn, không tiện nói đến bọn Bạch Liên giáo, Hoàng thượng chưa định ra phương lược dẹp loạn vì chưa biết nên định ra như thế nào. Chắc còn phải thăm dò các mặt rồi mới bàn định. Hơn nữa, việc cấp bách hiện nay là lễ tang, chứ không phải bọn Bạch Liên giáo”. Phúc Trường An nói. “Xem đại thần nào được Hoàng thượng cử phụ trách lễ tang thì có thể hiểu được lòng dạ của Hoàng thượng”. Mọi người bàn tán xem tiếp chiếu dụ của Gia Khánh: “ Phụ hoàng giao trách nhiệm nặng nề, tất cả đều làm theo như trước đi, đi theo chí hướng người trước, thực hiện trách nhiệm nhỏ bé của mình. Tiếp tục muốn nghe lời dạy bảo ân cần, há không được ư? Một mình áy náy lo âu, mà ngày tháng còn dài, chỉ biết trông chờ vào các đại thần văn võ lớn bé trong ngoài triều, chung sức chung lòng vì sự nghiệp chung, giúp Trẫm, đó là báo ân Tiên đế. Các tướng soái thống lĩnh quân đội của Người cũng nên bày tỏ lòng biết ơn đối với sự uỷ thác của Người, nhắc nhở nhau làm tròn trách nhiệm, sửa chữa sai lầm, xoá bỏ tật xấu, an ủi linh hồn người quá cố, khiến lương tâm không mờ ám. Về lễ tang, tất cả đều giao cho Nhuệ thân vương Thuần Đỉnh, Thành thân vương Vĩnh Tinh, Nghị quận vương Vĩnh Toàn, đại học sĩ Hoà Thân, Vương Kiệt, Thượng thư Phúc Trường An, Đức Minh, Khánh Quế, quyền Thượng thư Đổng Hạo, Thượng thư Bành Nguyên Thuỵ, Tổng quản phủ nội vụ đại thần Ôn Bố, đổng lý Thạch Trú, tra cứu tham khảo các nghi lễ để thực hiện, và thông báo chiếu dụ này cho mọi người trong và ngoài triều đều biết”.
Hoà Thân và mọi người cả mừng, vì trong chiếu dụ thể hiện rõ, Hoàng đế Gia Khánh vẫn dựa vào các đại thần văn võ do Thái Thượng hoàng cất nhắc để lại. Điều làm Hoà Thân và bọn họ càng yên tâm hơn là danh sách các đại thần phụ trách lễ tang.
Nói chung, các đại thần được cử phụ trách lễ tang, tất nhiên phải là các sủng thần của Hoàng thượng, Hoà Thân và Phúc Trường An không những là một trong 12 đại thần phụ trách lễ tang mà Hoà Thân còn là đứng đầu các đại thần nói trên, Phúc Trường An đứng đầu các thượng thư. Lòng dạ Hoà Thân và bọn họ cảm thấy nhẹ nhõm. Hoà Thân càng mừng thầm, cảm thấy ân đức của Hoàng thượng thật mênh mông, và nhất định sẽ được Hoàng đế Gia Khánh trọng dụng, trở thành sủng thần của hai Hoàng đế.
Hoàng đế Gia Khánh triệu Hoà Thân và Phúc Trường An đến bàn việc. Thượng thư phòng trở thành nơi làm việc tạm thời của Gia Khánh, bên trong đã có mặt đầy đủ các vương công và đại thần văn võ. Gia Khánh thấy mọi người đã đông đủ tuyên bố.
- Hoà Thân nghe chỉ dụ
Hoà Thân quỳ xuống tâu:
- Có nô tài.
- Khanh là thân thần và cận thần của Thái Thượng Hoàng, lại là đại thần đứng đầu Cục quân cơ, là trụ cột của đất nước, Trẫm vừa cầm quyền, mọi việc nhờ vào khanh. Lễ tang là việc quan trọng nhất của đất nước, đặc cử Hoà Thân chủ trì mọi việc, trong thời gian chủ trì lễ tang, tạm thời không giữ chức đại thần quân cơ và thống lĩnh quân đội, chỉ lo mỗi việc lễ tang.
- Nô tài lĩnh chỉ.
- Phúc Trường An. Gia Khánh gọi
- Có nô tài. Phúc Trường An đáp.
- Khi phụ hoàng còn sống, khanh đã hết lòng phục vụ Trẫm vô cùng cảm kích, mong khanh hết lòng lo việc tang lễ.
- Nô tài lĩnh chỉ.
Hoàng đế Gia Khánh còn dặn dò thêm:
- Hoà Thân và Phúc Trường An vẫn là cận thần của Thái Thượng hoàng, mấy mươi năm qua, hưởng được ân dày của Thái Thượng hoàng, là đại thần được Thái Thượng hoàng sủng ái và tin cậy, đặc cử khanh ngày đêm túc trực bên linh cữu, mong rằng hai khanh không phụ ân dày của Thái Thượng hoàng trong mấy chục năm qua.
Hoà Thân và Phúc Trường An cảm thấy Hoàng đế Gia Khánh sắp đặt như vậy thật hợp tình hợp lý. Các quan văn võ trong triều, người được Càn Long sủng ái nhất trong mấy chục năm qua là Hoà Thân và Phúc Trường An, không ai được Thái Thượng hoàng ban ân dày và yêu mến họ, vậy đương nhiên phải túc trực bên linh cữu. Hai người chẳng ai nghi ngờ gì việc Gia Khánh tạm đình chỉ chức vụ của mình, bởi vì theo quy định của triều Thanh, thời gian quốc tang sau khi được tin Hoàng đế qua đời, các cơ quan từ trung ương đến địa phương đều đóng cửa nghỉ ba ngày. Do vậy, trong những ngày quốc tang, tại kinh thành, không ai để ý đến việc công. Trước đây, trong thời gian quốc tang cũng thấy có trường hợp đại thần phụ trách lễ tang được tạm nghỉ chức vụ. Vì thế, Hoà Thân và Phúc Trường An đều không thấy được ý nghĩa thật của việc tạm đình chỉ chức vụ của mình.
Hoàng đế Gia Khánh đàng hoàng lấy cớ, giam lỏng Hoà Thân và Phúc Trường An, không cho hai người tiếp xúc với bên ngoài, không cho bất cứ ai trao đổi tin tức với họ.
Cũng hôm đó, Hoàng đế ban chỉ, cử Thành thân vương Vĩnh Tinh, Đại học sĩ Đổng Hạo, Thượng thư Khánh Quế đại thần quân cơ; Na Nhan Thành, Đới Cù Hưởng vẫn ở lại Cục quân cơ; quyền thượng thư bộ Công, Thạnh Trú, Bảo Ninh Thành làm đại học sĩ Anh Vũ Điện; Khánh Quế là đại thần ngự tiền, đại học sĩ hiệp trợ; Thư Lân làm Thượng thư bộ Lại, Tùng Quân làm Thượng thư bộ Hộ, Phúc Nhuệ làm Thượng thư bộ Binh. Còn một chức vụ cực kỳ quan trọng - Thống lĩnh quân bộ và đô thống lực lượng tinh nhuệ và lực lượng hoả khí vẫn chưa bổ nhiệm ai.
Với những người nhạy bén chính trị, cảm thấy để Thành thân vương làm đại thần quân cơ, nhất định sẽ có việc cải cách triều chính.
Tiếp đó, Hoàng đế Gia Khánh phong Nghi quận vương Vĩnh Toàn làm thân vương, bối lặc Vĩnh Lân làm Khánh quận vương, Miên Ức làm Phúc quận vương, các thành viên khác trong hoàng thất đều được phong thưởng.
Cũng trong ngày hôm đó, tối ngày 3 tháng giêng Hoàng đế Gia Khánh triệu Nghi thân vương Vĩnh Toàn; Thành thân vương Vĩnh Tinh, Định Thân vương Miên Ân đến tuyên bố.
- Trẫm cử Định thân vương Miên Ân làm Đô thống quân bộ, kiêm chỉ huy lực lượng tinh nhuệ và lực lượng hoả khí. Miên Ân phải cấp tốc điều l.000 lính trong phủ Hoà Thân và nha môn thống lĩnh quân bộ, và bắt các đầu mục của 5 doanh.
- Thần hiểu ý của hoàng thúc, quyết không để xảy ra sơ suất. Miên Ân đáp.
- Hoàng đế phải bắt cho được con ba ba trong lọ. Vĩnh Toàn nói.
- Nên sớm một tí, cần đào sẵn mương trước khi nước đến. Bây giờ phải cấm Hoà Thân liên lạc với bên ngoài, cắt đứt mọi liên hệ của hắn với bên ngoài. Gia Khánh nói.
- Thần phải tự tay cho hắn biết tay. Vĩnh Tinh nói.
- Khanh hành động phải cẩn thận, không nên sơ suất.
Đêm đó, thị vệ trong cung đều bị Miên Ân điều động thay đổi. Quân phòng thủ kinh thành đều nằm trong tay Miên Ân.
Mọi việc bố trí xong, hôm sau ngày mồng bốn, tức ngày thứ hai Càn Long băng hà, Hoàng đế Gia Khánh lại ra một chỉ dụ. Chỉ dụ lần này như sét đánh trời quang, rung chuyển cả kinh thành Bắc Kinh. Chỉ dụ này khác với chỉ dụ lần trước, câu chữ nghiêm khắc, khiến trong lẫn ngoài đều kinh sợ. Đến đây mọi người mới thấy rõ mặt thật của Gia Khánh.
Mấy năm qua, Gia Khánh giả câm giả điếc, im hơi lặng tiếng, chịu đựng, chờ đợi. Cuối cùng, ngày đó đã đến, ngày mở mày mở mặt đã đến! Nói được những gì mình muốn nói, làm được những gì mình muốn làm!
Bản chiếu dụ đầu tiên thể hiện tiếng lòng thật sự của Gia Khánh như sau:
“Tiên đế trị vì 60 năm, uy danh lừng lẫy, võ công trọn vẹn. Mỗi khi đem quân chinh phạt là dẹp yên giặc giã. Mỗi khi trong nước có loạn lạc bất an, chỉ trong vòng mấy tháng là dập tắt ngay. Chưa bao giờ để lâu mấy năm mà không cấp phát hàng chục triệu lạng bạc quân lương. Tất cả đều do đại thần và tướng soái cầm quân không quan tâm đến việc quân, chỉ biết cầm quân đùa giỡn với giặc, tìm cách báo công khen thưởng, không biết liêm sỉ, chỉ lo đầy túi riêng. Ngay đến Am Đạt, thị vệ, Chương Kinh ở kinh thành mỗi khi nghe có việc quân đều xin ra mặt trận. Họ là những người nghèo, hoàn cảnh gia đình khó khăn; nhưng sau khi từ mặt trận về kinh, họ đều xin nghỉ phép với lý do về quê sửa chữa mồ mả, cúng bái tổ tiên. Thực ra, vì họ đã tích lũy được ít vốn liếng xin về quê để mua sắm tài sản. Trẫm biết tất cả. Như vậy có thể thấy, các quan tướng ở các bộ cố ý kéo dài việc dẹp giặc để trục lợi. Thử nghĩ, tiền của đó đều do địa phương cung cấp, quan lại địa phương phải bổ vào đầu dân, dân chúng mấy ai giàu có, để thoả mãn yêu cầu vô hạn đó? Từ đó nảy sinh ra giặc đạo, tất cả đều do quan lại địa phương gây nên. Nhiều lần tấu báo bắt giết được giặc, té ra họ đều là con dân của Trẫm, rốt cục là tiếp tay cho giặc. Nếu bị chèn ép thêm, họ tất phải theo giặc, không dẹp được giặc, chuyển sang đánh đuổi dân, càng lợi cho giặc, chẳng trách giặc ngày càng đông, quanh đi quẩn lại truy bắt mãi mà chẳng được. Từ ngày dùng binh, Tiên hoàng đã mất bao nhiêu công sức vì việc quân, ăn ngủ không yên. Trước khi nhắm mắt, Tiên hoàng vẫn nhiều lần hỏi tin thắng trận. Mãi đến lúc xuôi tay mới thôi nhắc đến. Ý của Tiên đế là đất nước đã có người phó thác, Tiên đế không phải nói nữa, duy chỉ có việc quân chưa xong, nên chưa yên tâm. Trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề trước đất nước tổ tiên, ngày nào việc quân chưa xong, ngày ấy Trẫm có tội với Tiên đế. Lẽ nào, bên trong là đại thần quân cơ, bên ngoài là các tướng soái cầm quân đều là những kẻ bất trung, không xứng với vong linh của Tiên đế? Lẽ nào họ bất chấp tất cả, đẩy Trẫm vào bất hiếu, tự liệt mình vào chỗ bất trung?
Tiền bạc nhà nước không thiếu, sao có thể ngồi đó để hao phí vô ích? Ngày lại ngày cứ thế mãi sao? Lẽ nào lại bổ thêm lên đầu dân nghèo? Mấy năm qua, Tiên hoàng tuổi thọ ngày càng cao, mọi việc đều khoan dung nhân hậu, tấu báo trong quân dù thắng trận nhỏ cũng ưu ái khen thưởng; đều đó gây ảnh hưởng xấu trong quân đội, cứ hơi vất vả một tí lại khen thưởng. Tuy đã có nhiều lần khuyên răn, nào cách chức, nào trị tội, nhưng chẳng có ai bị trừng phạt. Nhiều năm qua, chỉ có Vĩnh Bảo bị giao cho bộ Hình trị tội, nhưng mới một năm đã được thả ra. Thực ra, hiện tượng các lộ để cho giặc tự do hoành hành, đâu chỉ có riêng một mình Vĩnh Bảo, và cũng đâu một lần? Họ mỗi lần tấu báo tình hình đánh giặc, ít nhất cũng kể lể chém giết được một số giặc để bổ sung vào thành tích; dù có nói đến thương tích cũng chỉ để tô điểm thêm cho lời tấu báo, chứ không đúng thực tế. Ý của bọn họ là, Tiên hoàng tuổi cao nên chỉ đưa vào tấu báo những lời tốt lành. Nhưng việc quân là rất quan trọng, không được che dấu mảy may sự thật, bọn họ nhiều lần tấu báo, lúc thì giết được hàng ngàn tên địch, lúc thì hàng trăm tên, có gì chứng thực không? Đều là tấu báo láo. Nếu thấy hơi có bất lợi, đáng lẽ phải báo đúng sự thật để có biện pháp thích đáng. Thế nhưng lại lấy bại làm thắng, chẳng phải làm hỏng việc lớn sao? Tệ nạn đó trong quân đội không phải chỉ một ngày. Trẫm quản nhiều việc, bận rộn quanh năm, chỉ nghỉ ngơi nhân lúc được mùa, dân yên, không giặc. Việc quân, có thưởng có phạt, không dám lơ là. Nhân đây cần nói rõ: Tướng soái nhỏ cầm quân ở các lộ đều nên từ bỏ thói hư tật xấu, ra sức phấn đấu. Mùa xuân đến nhất loạt dẹp xong quân giặc, bình định các nơi. Nếu theo vết xe cũ, lừa dối, lười nhác, vượt quá giới hạn cho phép của chỉ dụ này, thì cứ xử theo quân pháp. Pháp luật đi theo lời nói, chớ nghĩ rằng có thể bắt nạt được vua con”.
Chiếu dụ ban ra, mọi người đều hiểu rõ, đây là lời cổ vũ hiệu triệu trong và ngoài triều cùng nhau quất vào mặt Hoà Thân, vạch mặt Hoà Thân. Chiếu dụ còn nói, đại thần và tướng soái cầm quân mà không xem quân đội là sự nghiệp thì sao có quyền vênh váo như vậy? Đó chẳng phải là vạch mặt Hoà Thân là người hậu thuẫn của họ? Nói “họ lấy cớ Tiên hoàng tuổi cao nên chỉ đưa vào tấu báo những lời tốt lành”, “họ” không phải Hoà thân thì ai? Mọi người đoán rằng Hoàng thượng vô cùng tức giận, lúc này Gia Khánh đã 40 tuổi, mà còn có người khinh miệt là “vua con”, câu nói đó đã đẩy cơn giận lên cực điểm, nghĩ xem có ai dám khinh miệt “vua con” ? khi Thái Thượng hoàng cầm quyền mọi công việc đều do Hoà Thân điều khiển, ai không biết việc đó? Thái Thượng hoàng càng tin yêu Hoà Thân bao nhiêu, Hoàng Thượng càng hận Hoà Thân bấy nhiêu, Thái Thượng hoàng càng cho Hoà Thân công lớn; Hoàng thượng càng cho Hoà Thân tội nặng. Không trừ khử Hoà Thân thì tai hoạ khó lường, không trừ khử Hoà Thân thì thiên hạ khó được yên lành, không trừ khử Hoà Thân thì chi phí cho quân đội trong công việc dẹp giặc Bạch Liên Giáo như thế nào? Thái Thượng hoàng đã băng hà, Hoàng thượng còn băn khoăn lo lắng nỗi gì? Chẳng qua lúc này Hoàng thượng cần nhất là có người vạch mặt Hoà Thân để ông trị tội Hoà Thân hợp tình hợp lý mà thôi. Do đó để Vương Niệm Tôn, người trong cuộc đứng ra tố cáo Hoà Thân trước tiên, để những người khác trong cuộc như Quảng Thái; ngự sử đạo Giang Nam, Quảng Hưng; đại học sĩ Lưu Dung lần lượt tấu báo vạch rõ tội trạng của Hoà Thân.
Tiến thêm một bước, Hoàng đế Gia Khánh vứt bỏ gánh nặng tư tưởng cho các đại thần văn võ, ra chỉ dụ sau đây:
“Từ nay về sau nha môn các bộ viện, đại thần văn võ, cho đến các tướng soái cầm quân ở các đốc phủ, phiên, niết tại các tỉnh, nếu có việc gì cần tấu báo đều phải chuyển thẳng đến ngự tiền, không cần gửi bản sao cho Cục quân cơ, việc xét xử, cử chọn người làm quan đều phải có văn bản tấu báo”.
Đến đây, mọi người chẳng còn gì phải lo lắng, tấu báo vạch tội, Hoà Thân và Phúc Trường An tới tấp gửi đến Hoàng đế Gia Khánh nhiều như tuyết rơi.
Hoàng đế Gia Khánh cho thời cơ đã chín muồi. Ngày 8, tức là ngày thứ năm sau khi Càn Long băng hà. Hoàng đế Gia Khánh, với danh nghĩa xét xử các tội phạm bị tố cáo, ra chỉ dụ bắt nhốt Hoà Thân và Phúc Trường An vào ngục, tước bỏ mọi chức vụ của đại học sĩ Hoà Thân và Thượng thư Phúc Trường An. Lệnh cho Nghi thân vương Vĩnh Hoàng, Thành thân vương Vĩnh Tinh đi bắt Hoà Thân; lệnh cho Đô thống hộ quân Chánh Hồng Kỳ, An Lan Bảo đem quân canh giữ; lệnh cho Vĩnh Hoàn, Vĩnh Tinh, Miên Ân, ngạch phò La Vượng Đa, Nhĩ Lễ và Lưu Dung, Đổng Hạo thẩm vấn Hoà Thân và Phúc Trường An; lệnh cho Vĩnh Tinh, Miên Ân, Thuần Đỉnh, Ôn Bố, Cát Tiên đi kiểm tra tài sản của Hoà Thân, Phúc Trường An và người nhà của họ.
Lúc này, Hoà Thân và Phúc Trường An vẫn an tâm túc trực bên lĩnh cữu Càn Long.
Triều Thanh, lễ tang Hoàng đế gọi là “đại tang nghi”. Trình tự chủ yếu của “đại tang nghi” là: tiểu liễm, thành phục, đại liễm, triều điện, ân điện, khải điện, phụng di, dịch tế, đại tế, trừ phục, chu nguyệt tế, thượng tôn thuỵ miếu hiệu, chí tế, bách nhật tế, tổ điện, khải hành, yết lăng, an phụng v.v... Thủ tục cụ thể hết sức phức tạp rườm rà, không thể kể hết. Bá quan văn võ, quân dân trong kinh thành, trong 27 ngày, không được đội mũ, phải mặc áo tang, hàng ngày sớm tối hai lần đến khóc trước linh bài của Hoàng đế quá cố.
Lễ tang Hoàng đế phức tạp và long trọng như vậy, tất nhiên phải có người suốt ngày túc trực bên linh cữu, và thời gian này các nha môn đều không làm việc. Hoà Thân và Phúc Trường An suốt ngày ở trong cung Càn Thanh túc trực bên linh cữu, bận khá nhiều việc, và cũng chẳng nghi ngờ gì bên ngoài. Hơn nữa Hoàng đế Gia Khánh đã cắt tóc bận tang phục, nghỉ ngơi ngay tại Thượng thư phòng ngay bên trái cung Càn Thanh. Hoàng đế Gia Khánh ăn ngủ tại đấy, đến giờ lại đến thắp hương cúng bái khóc than trước linh cữu. Hoà Thân hàng ngày nhìn thấy Hoàng thượng khóc than, và rất kính trọng mình, nào ngờ, chỉ trong vòng ba bốn ngày, bên ngoài đã xảy ra những biến động long trời lở đất !
Ngày thứ tám, Hoàng đế Gia Khánh vẫn như thường lệ đến thắp hương, lạy khóc trước linh cữu. Hoà Thân và Phúc Trường An quỳ làm lễ thỉnh an trước Hoàng thượng. Hoàng thượng vẫn như trước nay, nhận lời chúc tụng của họ rồi quay về Thượng thư phòng.
Gia Khánh vừa bước đi một lát, mấy thị vệ bước vào, Hoà Thân mắng:
- Sao lại vô lễ trước linh cữu Thái Thượng hoàng, cút đi ngay!
- Hoà Thân không được vô lễ, có thánh chỉ đây. Thị vệ nói.
Hoà Thân giật mình, dự cảm có việc chẳng lành, nhưng vẫn bình tĩnh nghiêm giọng:
- Ngươi cả gan dám gọi thẳng tên ta ư?
Nào ngờ, thị vệ nọ rút thánh chỉ ra. Nhìn thấy thánh chỉ, Hoà Thân đành quỳ xuống và bảo thị vệ đọc:
“Hoà Thân chuyên lừa dối, ức hiếp, tội rất nặng, giao cho bộ Hình xét xử, Khâm thử !”.
Hoà Thân sợ quá, trợn mắt, há mồm, hồn vía lên mây, chưa kịp hoàn hồn đã bị thị vệ dẫn đi. Phúc Trường An cũng sợ mất cả hồn vía và cũng bị thị vệ điệu đi.
Trong lịch sử, đại thần bị bắt, ngay tại nơi quàn linh cữu của Hoàng đế vừa mới băng hà năm ngày là chuyện chỉ có Hoàng đế Gia Khánh làm mà thôi. Không biết, dưới suối vàng, Càn Long nghe được sẽ nghĩ thế nào.
Hoàng đế Gia Khánh bắt Hoà Thân nhanh như chớp.
Cùng thời gian đó, sáng sớm ngày 8, thống lĩnh quân bộ Định thân vương Miên Ân, đem quân bao vây phủ Hoà Thân. Người nhà Hoà Thân ngăn lại, bị thị vệ bắt trói. Vĩnh Bảo đọc thánh chỉ. Cả nhà Hoà Thân rối loạn, có người đang ăn, sợ quá nôn ra, quân lính tranh nhau ăn số cơm cháo còn lại, họ nói như vậy để kéo dài thêm tuổi thọ, và khiến người ta sáng mắt thính tai. Có tì thiếp đang trang điểm, nghe tin sợ quá run như cầy sấy, không chải được mái tóc; có người nhanh chân chạy đến phủ công chúa. Phong Thân Ân Đức sợ hồn vía lên mây, khi trấn tĩnh lại, chỉ biết khấu đầu lạy công chúa, van nài công chúa tìm cách cứu thoát, sau đó Phong Thân Ân Đức cũng bị giải đi.
Công chúa Cố Luân Hoà Hiếu tương đối bình tĩnh. Công chúa biết rằng trước sau gì ngày này cũng đến, nhưng không ngờ, phụ hoàng mới băng hà năm ngày, Hoàng đế Gia Khánh đã ra tay. Công chúa đến điện Gia Lạc Đường. Lúc này, Vĩnh Tinh đã có mặt ở đấy, Công chúa quỳ hai gối, Vĩnh Tinh vội đỡ dậy, nói.
- Em Cố Luân hãy đứng dậy, có gì cứ nói.
Công chúa đứng dậy nói:
- Hoà Thân đáng tội, nhà cửa cũng đáng tịch thu, nhưng em xin vương huynh đối xử tốt với người nhà và thuộc hạ của Hoà Thân, không nên có gì thái quá.
- Đúng là như vậy, em cứ yên tâm
Lúc này Miên Ân bước vào, thấy công chúa Cố Luân Hoà Hiếu, vội quỳ xuống làm lễ. Vĩnh Tinh bảo Miên Ân không được để quân lính làm càn. Miên Ân tuân lệnh. Vĩnh Tinh nói:
- Ai đáng bắt thì bắt, ai đáng giam lỏng thì giam lỏng, nhưng tất cả người nhà và bà con thân thích không được tự tiện đi lại, không được liên lạc với nhau, chờ sau khi xét hỏi xong, do Hoàng thượng xử lý.
Khánh Lân, Đậu Khấu,v.v... đến quỳ xin công chúa che chở, Công chúa lên kiệu, cùng với bốn thị nữ vào cung. Thị vệ trong cung thấy công chúa Hoà Hiếu, không dám ngăn lại. Công chúa đến Thượng thư phòng, quỳ trước Gia Khánh, khóc nức nở:
- Xin hoàng huynh hãy nể mặt phụ hoàng vừa qua đời, cân nhắc xử lý khoan dung Hoà Thân.
- Công chúa Cố Luân, chẳng lẽ công chúa không biết Hoà Thân tham lam vô độ, giàu sang hơn hoàng thất sao? Chẳng lẽ công chúa không biết ông ta dựa thế Thái Thượng hoàng sủng ái, kiêu căng hợm hĩnh làm bừa chẳng coi phép nước ra gì cả? Chẳng lẽ không biết ông ta giăng lưới người cùng cánh để hãm hại những ai không ăn cánh với mình ư? Chẳng lẽ không biết ông ta đã ăn chặn quân lương, dấu kín tấu báo của quân đội, để mặc các tướng soái cầm quân dẹp giặc làm bừa làm bãi ư? Con người đại gian đại ác đó, nếu không trừ khử sớm, liệu đất nước có được bình yên không? Liệu sự nghiệp to lớn mà Thái Thượng hoàng giao phó trước lúc lâm chung có hoàn thành được không?
Một loạt câu hỏi đưa ra, khiến công chúa không thể nói thêm gì được nữa, nước mắt đầm đìa, chỉ còn cách cầu xin hoàng huynh đối xử tốt với những người giúp việc cho Hoà Thân.
Cùng lúc bắt giam Hoà Thân, Hoàng đế Gia Khánh dượng cao ngọn cờ tấn công Hoà Thân, ra thêm chỉ dụ: “Hoà Thân được hưởng đặc ân của Thái Thượng hoàng, từ chỗ thị vệ được đề bạt lên đại học sĩ, làm hành tẩu Cục quân cơ trong nhiều năm, nói một đàng làm một nẻo, chẳng ai như ông ta. Trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề. Lại gặp đại tang, mỗi lần nghĩ đến lệ ba năm để tang không được thay đổi, Thái Thượng hoàng chọn dùng trọng thần, không dễ gì thay đổi. Giờ đây, tội Hoà Thân rất nặng, các đại thần đã tra xét, tài sản đã được kê khai, khó có thể tha thứ. Chỉ dụ ban bố cho mọi người biết, ngoài việc giao cho các vương công đại thần ở kinh thẩm định việc cách chức và liệt kê tội trạng của Hoà Thân ra, các đốc phủ phải tấu báo những tội trạng khác của Hoà Thân và xem nên định tội như thế nào? Tấu báo đúng sự thật nếu thấy có tội”.
Các quan trong triều thấy Hoà Thân đã mất thế, tranh nhau tố cáo tội của Hoà Thân, một số người trước đây nịnh bợ Hoà Thân, giờ cũng cũng thừa gió bẻ măng, thế là tội lỗi của Hoà Thân cứ thế tăng lên.
Cùng thời gian này, Miên Ân đã dẫn quân đi lục soát khắp nơi khắp chốn, kiểm tra nhà cửa tài sản của Hoà Thân, Phúc Trường An và những người trong gia đình. Các tấu báo kiểm tra tài sản của Hoà thân và Phúc Trường An tiếp tục chuyển lên Hoàng đế Gia Khánh.
Vĩnh Tích, Miên Ân, Vĩnh Lai tấu báo:
Hiện đã kiểm tra vườn hoa (vườn Thục Xuân) của Hoà Thân, nội phòng có 1003 gian, hành lang lầu đài có 357 gian.
Có 10 nội giám trông nom vườn hoa, người nhà có 28 người kể cả nam nữ.
Bảng kê đồ dùng bằng vàng bạc trong vườn hoa.
Một cặp như ý nạm vàng, 9 mâm bằng vàng, 13 chậu bằng vàng, 2 chậu tùng thạch nạm vàng, 20 chậu bằng bạc, 3 lọ bằng bạc, 15 đấu bằng bạc, 2 cây đèn bằng bạc, 5 khay trà bằng bạc, 4 đĩa trà bằng bạc.
Miên Ân, Thuần Đỉnh, Ôn Bố tấu báo:
Chúng thần đã kiểm tra tài sản của Hoà Thân và Lưu Toàn. Nhà của Hoà Thân có tất cả: 33.551 lạng vàng, 3.041.095 lạng 3 tiền 3 phân bạc trắng, tất cả đều giao cho quan quản trữ thu giữ. Tiếp tục kiểm tra 12 cửa hàng cho vay tiền và cầm đồ của Hoà Thân, và 8 cửa hàng cầm đồ của Lưu Toàn, Lưu Ấn, Lưu Cái, Hồ Lục, Kể từ ngày mùng 8 chúng thần đã kiểm tra 1.001 gian rưỡi nhà đặt khế ước cho vay, 1.266 khoảnh ruộng thu tô của Hoà Thân tổng cộng giá bạc là 203.300 lạng, giá tiền là 6.100 điếu (l điếu bằng 1.000 đồng tiền đúc - ND), ngoài ra, Hoà Thân cho vay thu lãi 26.315 lạng bạc, có 80 chiếc xe loại lớn (mỗi chiếc giá 120 lạng bạc, cộng là 9.600 lạng bạc) giao cho các hộ trông giữ. Nay truy tìm ở các hộ được 3.960 lạng bạc, số chưa giao là 5.640 lạng, xin tấu trình Hoàng thượng. Chúng thần sẽ lần lượt chuyển giao số tài sản nói trên cho bộ Hộ, phủ nội vụ quản lý. Những thứ khác sẽ lập danh sách chuyển cho phủ nội vụ truy tìm. Những người quản lý công việc nhà Hoà Thân gồm có Lưu Toàn, Lưu Ấn, Lưu Cái, Phương Nhị, Vương Bình, Hồ Lục, thái giám Hô Thập Đồ, đã bị xét hỏi điều tra ra một số vàng bạc, tiền đúc và tiền bằng bạc, ... Hoà Thân còn cho Trần Thiên Nhi (người nhà Hoà Thân chuyên lo việc thu tiền thuê nhà), Phó Minh (người nhà Hoà Thân, đã mất, con là Hoa Sa Bố tiếp tục nợ), Hưng Nhi (người nhà Hoà Thân), Minh Bảo (cậu Hoà Thân), vay tất cả là 19.560 lạng bạc, với lợi tức 6.809 lạng, tổng cộng cả vốn lẫn lãi là 26.315 lạng bạc.
Kiểm tra nhà cửa, ruộng đất của Hoà Thân cho thuê:
Nhà cho thuê ở nội ngoại thành là 35 ngôi nhà, theo giấy tờ gồm cả thảy 1.001 gian rưỡi, trị giá 49.486 lạng bạc, giá tiền là 2.325 điếu. Mỗi năm thu 12.068 lạng 3 tiền bạc trắng.
Có 72 khoảnh đất ở huyện An Túc, trị giá 118.065 lạng 1 tiền 2 ly, mỗi năm thu tô 2.546 lạng bạc.
Ở Kê Châu có 19 khoảnh đất, trị giá 28.922 lạng 4 tiền, mỗi năm thu 3.519 điếu tiền.
Ba khoảnh ở Cổ Bắc Khẩu, trị giá 6.850 lạng bạc, mỗi năm thu tô 953 lạng 4 tiền bạc trắng.
Tất cả 94 khoảnh đất trên, trị giá 153.837 lạng 5 tiền 2 ly, mỗi năm thu tô 3.489 lạng 4 tiền. Tổng cộng tiền đất và nhà trị giá 2.033.323 lạng 5 tiền 2 ly, mỗi năm thu tô 4.766 lạng 7 tiền.
Tờ trình của phủ nội vụ:
“Kiểm tra gia sản Hoà Thân, thấy có 59.126 điếu 718 đồng tiền. Đã tấu xin cho phép dùng khoản tiền này vào việc ăn uống, phu phen khuân vác, mua thừng, đòn, phương tiện vận chuyển,... nay đối chiếu từng khoản chi tiêu, đã dùng cả thảy 23. 553 điếu 580 đồng tiền, hiện còn 35.573 điếu 134 đồng tiền. Kiểm tra nhà Lưu Toàn có 1.302 điếu 200 đồng tiền, tìm thấy tên của 20 người còn nợ Lưu Toàn 48.050 điếu tiền. Cộng tất cả số nói trên, thực còn là 77.725 điếu 334 đồng tiền, đã nộp cho kho bạc của quan quản trữ”.
Tổng quản Nhiệt Hà kiểm tra nhà nghỉ của Hoà Thân:
Có 3 khu nhà kế cận, 2 nơi có chuồng ngựa, tổng số 165 gian rưỡi nhà ở; một ngôi nhà 53 gian ở tại phía trong hàng rào đỏ cổng cung; một ngôi nhà 30 gian ở bên trong ngõ Bắc Đầu đường Bì Áo; một ngôi nhà 30 gian mặt phố, toạ lạc tại phố mới, hiệu là Đức Hưng; 7 chuồng ngựa, 19 trại ngựa, 63 gian rưỡi các phòng lớn nhỏ tinh tinh toạ lạc tại dưới chân dốc đường Bì Áo; 17 gian nhà lá trong đó có 5 gian cho thuê chất hàng hoá, toạ lạc lạc tại phía trong Tây Khẩu, cửa Tiểu Nam; năm gia nhà lá liền nhau toạ lạc tại phía Tây ngoài cửa Bắc Đại; 9 gian nhà và 2 gian nhà lá, toạ lạc ở phía Đông, 26 gian nhà và 5 gian nhà lá toạ lạc ở tiểu Nam; 6 gian nhà mặt phố, 3 gian nhà lá, toạ lạc ở dưới dốc đường Bì Áo, 2 gian nhà lá bên ngoài tường vây chuồng ngựa. Từ ngôi nhà 2 gian đến 8 toà nhà của A Mục Hô Lang Đồ gồm 176 gian, kể cả 17 gian nhà lá. Có 25 gian nhà lá toạ lạc ở phía dưới ngôi nhà 2 gian, 23 gian nhà lá toạ lạc ở phía dưới Trường Sơn Dụ, 31 gian nhà ngói nằm phía dưới Ca La Hà Đồn, 14 gian nhà ở phía dưới Trung Quan, 21 gian nhà ở phía dưới Tương Tam Thanh, 22 gian toạ lạc phía dưới Cát Nhi Cáp.
Trong khu nhà ở Nhiệt Hà có vô số đồ trang trí mĩ nghệ phẩm bằng vàng, bạc, ngọc, sứ, đồng xanh như tượng phật, tượng người, tượng thú, lư hương, lọ hoa, bình rượu, chậu rửa v.v... Có cả những thứ của các nước phương Tây như đồng hồ, pha lê v. v... , bàn ghế bằng gỗ quý, v v ... Tổng cộng 2.543 thứ, giao cho quan địa phương ở Nhiệt Hà định giá.
Theo trình báo từ các nơi gửi cho phủ nội vụ:
Tại Nhiệt Hà khu nhà của Hoà Thân có 386 gian, tại Thừa Đức có 350 khoảnh đất, tại Tứ Tuyền thuộc huyện Loan Bình, có 29 khoảnh 9 mẫu 2 phân đất, tại Quý Khẩu có 8 khoảnh 69 mẫu, 16 con ngựa, 3 hộ người giúp việc gồm 10 nhân khẩu. Có 550 món đồ bằng ngọc, 1 hộp đựng trầu bằng vàng, 25 món trang sức bằng ngọc, 40 món trang sức bằng vàng, 50 món trang sức bằng bạc, 170 thanh như ý, 77 cái đồng hồ treo, 13 đồng hồ đeo tay, 310 thứ đồ bằng đồng, 720 thứ bằng sứ, 50 bức liễn treo, 42 tấm gương, 160 quần áo nữ bằng vải, lụa, 210 chiếc đệm, 230 thứ đồ gỗ, 90 cặp đèn treo bằng pha lê.
Ngoài ra còn kiểm tra thấy: 70 áo da, 1.308 chiếc triều phục, mãng bào, đơn sa; 1711 bộ sách (861 bộ mang tên Hoà Thân, 850 mang tên Phúc Trường An); lương thực giữ ở các huyện Dung Thành, Tiên Tân, Tĩnh Hải... là 11.065 thạch 4 đấu 2 thăng. Đó là chưa kể hơn một vạn thạch ở các huyện khác như Tam Hà, Thông Xuyên,... tìm ra được 20 vạn lạng tiền bạc và hàng hoá tại các cửa hàng cầm đồ ở Tam Hà, Đẳng Châu, Hưng Dương; 200 chiếc xuyến gắn ngọc, và không biết bao nhiêu vàng bạc châu báu.
Một số dưới đây có liên quan đến gia nô Hoà Thân:
79 hộ gia nô ở kinh thành gồm 308 người, đã phân ra bán. Chu Huệ người Kê Châu và Hỉ Nhi người Nhiệt Hà chạy trốn chưa bắt được. 18 hộ gia nô khác đang đợi xét xử.
Hoàng đế Gia Khánh xem các bản tấu báo nói trên, cảm thấy rợn người và càng kinh ngạc hơn khi xem bản kiểm kê đánh giá tài sản của Hoà Thân. Bản kiểm kê tài sản gồm 109 mục, ngoài vàng, bạc, tiền đồng ra có 26 mục ước giá 200.003.389 lạng, còn 38 mục chưa đánh giá được. Nếu đánh giá theo kiểu tương tự có thể đến 900 triệu lạng. Cả nước, mỗi năm thu nhập chỉ có 70 triệu lạng. Tài sản của Hoà Thân tương đương với một nửa thu nhập của triều đình trong 20 năm.
Thế đấy ai mà chẳng kinh ngạc?
Nhưng sau khi xem bản kiểm kê tài sản của Phúc Trường An và người nhà của Hoà Thân, Gia Khánh kinh ngạc đến nỗi không còn tin vào mắt mình nữa.
Bản kiểm kê tài sản của Phúc Trường An:
Nhà ở có tất cả 607 gian. Người nhà kể cả nam nữ là 348 người. Nhà cho thuê có 82 nơi gồm 393 gian rưỡi, mỗi tháng thu tô 35 lạng 6 tiền bạc trắng, 325 điếu tiền đúc. Đất cho thuê là 749 khoảnh 27 mẫu, thu tô hàng năm là 7.771 lạng bạc 4.292 điếu tiền. Ba cửa hàng cầm đồ gồm 178 gian, vốn là 7 ngàn lạng bạc, 145.500 điếu tiền. Nhà ở của người nhà, chuồng ngựa, nhà để xe kiệu cả thảy 340 gian. Vàng 33 lạng, bạc 16.320 lạng, tiền đúc 480 xâu, đồ bằng ngọc 1.060 thứ, hộp đựng tẩu thuốc bằng ngọc phỉ thúy trắng 24 hộp. Đồ dùng bằng vàng 1.428 thứ, nặng hơn 12 ngàn lạng. Tiền vàng tây 63 đồng. Cốc đĩa bát bịt vàng 15 cái, 8 thanh như ý nạm vàng. Thìa, đĩa bịt vàng 18 cái. Đồng hồ để bàn 37 cái, đồng hồ đeo tay 34 chiếc. Ngọc Triều Châu 47 viên. Quần áo mãng bào nam lót da 3.960 chiếc. Quần áo mãng bào nữ lót da 1.010 chiếc. Gấm vải lụa đoạn mầu 3.880 xúc. Nhân sâm 2 củ. Tổ yến 36 hộp và 62 bao. Bàn, ghế, tủ bằng gỗ tử đàn 349 cái và nhiều loại dụng cụ gia đình, v.v...
Kiểm tra nhà của gia nhân, nội giám cư trú ngoài hoa viên của Hoà Thân: Nhà nội giám Vương Tường có 9 gian tự làm, nhà nội giám Vương Đắc Hỷ có 10 gian tự làm, nhà nội giám Trần Tường có 10 gian tự làm, nhà của gia nhân Quách Đức Lộc có 9 gian tự làm, nhà của Lý Thuận có 5 gian tự làm; Trương Phúc tự xây một quán trà hiệu Đồng Hưng. Nội giám Vương Đắc Hỷ có người em là Vương Đắc Thắng cùng với Lương Tánh Hoả chung nhau mở cửa hàng đổi tiền. Vương Đắc Thắng góp 300 điếu tiền vốn, bọn chúng khai không phải vốn của Vương Đắc Hỷ.
Gia nhân Lưu Toàn, Lưu Ấn, Lưu Cái, Hồ Lục tự khai có 8 cửa hàng cầm đồ, đã có bản tấu báo ...
Nay kiểm tra nhà Lưu Toàn thấy có: vàng 109 lạng 8 tiền, bạc 15.924 lạng, tiền đúc 90 xâu, bạc cho vay 12.770 lạng (hiện đã truy ra 6.200 lạng bạc, số còn lại chưa truy ra). Tiền đúc cho vay 950 xâu (đã truy ra 700 xâu, số còn lại chưa truy ra). Tự mở cửa hàng tiền Hằng Nghĩa với số vốn là 6000 lạng bạc cửa hàng tiền Hằng Trạch với số vốn là 6000 lạng (ở Thông Châu). Cùng góp vốn với nhau mở cửa hàng thuốc Đồng Nhân Đường với vốn là 4000 lạng bạc (ngoài Chánh Dương Môn); cửa hàng lều vải Vĩnh Nghĩa, vốn là 1 vạn lạng (tại Quảng Kiều).
Nhà Lưu Ấn, con trai của Lưu Toàn: Bạc 50 lạng, tiền đúc 7 xâu 500 đồng, tiền đúc cho vay 300 xâu (đã truy ra)
Lưu Cái, con trai thứ của Lưu Toàn: tiền đại tự, 1 vạn xâu (đã truy ra)
Tôn Nhi tức Phương Nhi : tiền đúc 7 xâu 500 đồng, bạc cho vay 700 lạng (đang truy), tiền đúc cho vay 3.750 xâu (đang truy).
Vương Bình tức Vương Cừu: Bạc 35 lạng, tiền đúc 75 xâu, bạc cho vay 1.290 lạng (đã truy ra 740 lạng), tiền đúc cho vay 625 xâu (đã truy ra).
Hô Thập Đồ (tức nội Lưu): Bạc 1.500 lạng.
Bảy nhà nói trên cộng lại: vàng 109 lạng 8 tiền, Bạc 22.280 lạng 7 tiền, tiền đúc 12.165 xâu. Số còn lại tất cả là 33.820 lạng bạc, 4000 xâu tiền đúc (hiện đang truy).
Đã kiểm tra ra số lương thực của Hoà Thân và Lưu Toàn cất giữ, không kể bảy huyện Đại Thành, Dung Thành, Tân Thành, Thiên Tân, Tĩnh Hải, huyện Thanh, Giao Hà, có đến hơn 1 l.060 thạch gạo, ngũ cốc. Ngoài ra còn tìm được hơn 1 vạn thạch lương thực ở một số nơi khác như Tam Hà, Thông Châu, Kê Châu, v.v... Tìm thêm được 2 cửa hàng cầm đồ Hoà Hưng, ở huyện Tam Hà, hơn 20 vạn lạng bạc bằng bạc trắng và hàng hoá.
Kiểm tra nhà Lưu Trung ở huyện Bát Châu, Tam Hà; thái giám Hô Thập Đồ, Lưu Bảo Kỷ (em trai Hô Thập Đồ) Lưu Bảo Ngô, Lưu Bảo Du, Mã Bát Thập Tam, v.v... có không biết bao nhiêu nhà ở, bạc vàng, đất đai, lương thực, v.v...
Hoàng đế Gia Khánh tính sơ bộ đã thấy chỉ riêng 2 nhà Lưu Toàn và Mã Bát Thập Tam đã có nhà ở 182 gian; đồ cổ bằng vàng bạc trị giá 3.686.000 lạng bạc; quần áo, đồ trang sức, dụng cụ gia đình trị giá 1.403.000 lạng bạc; gấm vóc, đồ da, hàng ngoại trị giá 30.000 lạng bạc; nhân sâm trị giá 4 vạn lạng bạc; ruộng đất hơn 600 khoảnh trị giá 68 vạn lạng bạc; 4 cửa hàng cầm đồ với số vốn 140 vạn lạng bạc; tiệm đồ cổ trị giá 4 vạn lạng bạc; 27 quầy trị giá 25 ngàn lạng bạc.
Xem xong các bản tấu báo và kiểm kê, Hoàng đế Gia Khánh đích thân thẩm vấn Hoà Thân.
Hoàng đế Gia Khánh ngồi trên cao trong công đường bộ Hình, bồi thẩm hai bên có thân vương Vĩnh Hoà, Vĩnh Tinh, và Miên Ân, ngạch phò La Vượng Đa Nhĩ Tế, Đại học sĩ Vương Kiệt, Đổng Hạo, Lưu Dung.
Hôm nay thẩm vấn Hoà Thân, Gia Khánh vô cùng vui mừng, muốn tự mình nhìn thấy bộ mặt xấu xa, thê thảm của con người khét tiếng gian tham một thời dương dương tự đắc, vênh váo ngạo mạn, chẳng coi ai trên đời ra cái thá gì, nay phải phủ phục dưới chân mình.
Vĩnh Tinh cũng như Gia Khánh. Trước đây mấy anh em họ và con họ, tuy là hoàng tử hoàng tôn, nhưng luôn bị Hoà Thân quản thúc, làm nhục, muốn đánh ai, muốn trị ai là tuỳ ý. Hôm nay, Hoà Thân là tên tội phạm phải làm nhục hắn một phen.
Vương Kiệt, Đổng Hạo, Lưu Dung, mấy chục năm nay đấu đá với Hoà Thân, cuối cùng đã thắng lợi, ngồi trên cao bên cạnh Hoàng thượng. Không biết A Quế, Vĩnh Quý, nếu còn sống tâm tình có giống họ không, liệu có vui mừng trước thất bại của địch thủ không.
Hoà Thân được dẫn vào. Mọi người có mặt ở đây đều kích động. Hoà Thân vừa bước vào, cả công đường như bừng lên. Hoà Thân không đội mũ, mái tóc đuôi sam đen nhánh rối tung, xoã xuống sau lưng, ông chỉ mặc chiếc áo chẽn, càng lộ rõ thân hình chắc nịch. Ông ngước mặt đứng thẳng, tuy đã 50 tuổi, nhưng không có vẻ gì già nua, chỉ có điều thành thạo hơn, uy nghiêm hơn trước. Mặt ông không một nếp nhăn, vẫn trắng hồng, dáng vẻ phú quý hơn trước, nốt ruồi trên trán vẫn đỏ tươi. Hoà Thân cứ đứng thẳng ở đấy, ngạo nghễ nhìn đám người trước mặt, không cam tâm làm kẻ tù tội quỳ dưới chân họ, đương nhiên ông càng không tỏ ra sợ sệt trước mặt kẻ địch của mình. Ông không thể để bọn họ khoái chí trước thất bại của mình, khoái chí về lòng đam mê phụ nữ và sự hời hợt sơ suất trước đây của mình.
Những người trong công đường bị chững lại trước vẻ ngạo nghễ uy nghiêm toát ra từ con người của Hoà Thân. Một lát lâu, Hoàng đế Gia Khánh mới thét to:
- Hoà Thân ! Ngươi muốn làm phản phải không? Vì sao thấy Trẫm không quỳ?
Hoà Thân quỳ xuống vái ba lạy, lên tiếng:
- Nô tài bái kiến Hoàng thượng, mừng Hoàng thượng đã lên cầm quyền, chúc Hoàng thượng vạn thọ vô cương, càng khâm phục Hoàng thượng hành động mạnh mẽ nhanh chóng, xử sự anh minh quyết đoán. Nô tài nghĩ rằng, Thái Thượng hoàng ở trên trời có linh thiêng, nhất định sẽ sung sướng vui mừng vì Hoàng thượng.
Hoàng đế Gia Khánh vô cùng tức giận. Ông rất sợ người ta nói ông bất chấp lễ nghi, bắt thẩm vấn Hoà Thân ngay trong thời gian quốc tang. Ông thấy Hoà Thân nói đúng chỗ yếu của mình. Ông cười nhạt nói:
- Hoà Thân ! Ngươi tham lam phá hoại phép nước, phạm nhiều tội ác không sao kể xiết, không chịu thành thật nhận tội, không chút hối hận, là kẻ tù tội, vẫn còn ngạo mạn, thật vô liêm sỉ hết chỗ nói.
Hoà Thân vẫn quỳ thẳng đuỗn ra đó. Bỗng mắt ông rực sáng, nhìn thẳng vào Hoàng đế Gia Khánh cho đến khi thấy Hoàng đế Gia Khánh nguôi giận mới nói:
- Hoàng thượng muốn nô tài nói “nô tài đã thất bại”, đúng thế, nô tài đã thất bại. Các người đã đến lúc ăn mừng thắng lợi được rồi đấy.
- Thị vệ đâu? Thị vệ lên tiếng bước vào. Miên Ân lệnh: - Vả vào mồm hắn!
Thị vệ bước tới trước Hoà Thân tát trái tát phải, bốp bốp vào mồm Hoà Thân, mặt ông ta lắc qua lắc lại giữa công đường rộng lớn. Hoà Thân vuốt sợi máu ở mép mồm, mỉm cười. Để lộ hàm răng đen nhánh, hỏi:
- Hoàng thượng, nô tài có tội gì ? Các người hãy xử tội ta đi.
Miên Ân hỏi :
- Kiểm tra tài sản của ngươi, thấy phủ đệ nhà ngươi làm bằng gỗ nam mộc, làm quá quy định, lại còn bao nhiêu lâu đài sang trọng, xây dựng giống cung Ninh Thọ. Như vậy là coi thường luật pháp, có ý đồ gì?
Hoà Thân biết không thể chối cãi được nên trả lời :
- Lẽ ra phủ đệ của nô tài không nên, nhà làm bằng gỗ nam mộc, không nên xây nhiều lâu đài sang trọng như thế, nhưng do nô tài bảo thái giám Hô Thập Đồ vào cung Ninh Thọ xem mẫu phỏng theo đó mà làm. Còn gỗ nam mộc do nô tài mua. Tất cả là do nô tài hồ đồ đáng chết.
Hoàng đế Gia Khánh hỏi:
- Kiểm tra nhà ngươi có rất nhiều châu báu, hơn 200 chuỗi đeo tay bằng ngọc trai. Trong đại nội chỉ có hơn 60 chuỗi, vậy là nhà ngươi có hơn 3 lần của hoàng gia. Ngươi còn có một viên ngọc lớn to hơn cả viên ngọc nạm trên mũ của Trẫm. Ngươi còn có 10 viên đá quý thuộc loại ngươi không được dùng, vì sao cất dấu nhiều như vậy? Nhà ngươi còn có vô số đá quý nguyên khối, ngay cả phủ nội vụ cũng không có. Chẳng lẽ những thứ đó không phải là bằng chứng của lòng tham bẩn thỉu của ngươi?
Hoà Thân ngẫm nghĩ, nếu nhận những thứ đó, là phạm tội mưu nghịch, ta phải gán nó cho các đại thần đã chết, chết rồi chẳng còn ai đối chứng. Ông đáp:
- Chuỗi ngọc trai đeo tay là của Phúc Khang An, Hải Lan Sát, Lý Thị Nghiêu tặng. Ngọc nạm mũ nô tài chỉ nhớ có mỗi một viên, cũng là Hải Lan Sát tặng. Có thể còn một số ít nữa đã trao cho Phong Thân Ân Đức mấy viên. Viên ngọc lớn là đo nô tài mua hộ với giá 4000 lạng bạc cho Phật Ninh Ngạch Nhĩ Đăng Bố. Vành đai đầu nạm ngọc là của Mục Đằng Ngạch tặng. Vành đai đầu bằng sa-phia là do Phúc Cương tặng.
- Kiểm tra nhà ngươi có rất nhiều bạc trắng, sơ bộ đã phát hiện có hơn 33 ngàn lạng vàng, hơn 3 triệu lạng bạc, lại có rất nhiều cửa hàng, cửa hiệu. Vậy không phải nhận của hối lộ thì lấy đâu ra? Lưu Dung hỏi.
Hoà Thân liếc nhìn Lưu Dung, nghĩ bụng, những thứ “thu nhập bất minh” đó, cái nào vu được thì vu, chối được thì chối, không vu không chối được thì nhận, nên đáp:
- Số bạc trong nhà, khi vợ nô tài mất, Lang Trung và Tinh Ngạch bộ Lại đưa đến 500 lạng, Thái Thượng hoàng ban thưởng một số. Ngoài ra, Diễn Trứ, Ý Linh A đều có gửi đến không biết con số bao nhiêu, số người đưa bạc đến rất nhiều, từ 1 trăm lạng đến 1 ngàn lạng hơn, thực ra khó nhớ được. Khi thân vương Vĩnh Tích được phong tước, đã tặng nô tài hai căn nhà mặt phố Tiền Ngoại. Còn những thứ khác không nhớ được.
- Hoà Thân! Trước khi Thái Thượng hoàng sắc phong thái tử, ngươi có tặng Trẫm ngọc như ý. Vậy có dụng ý gì? Gia Khánh hỏi.
Hoà Thân mặt mày nhợt nhạt người như co lại. Không phải ông sợ trước sự uy nghiêm của Gia Khánh mà hận mình bất tài, hận mình nông cạn không nhìn thấy âm mưu của Gia Khánh.
Hoàng đế Gia Khánh đanh giọng:
- Trẫm hỏi ngươi có dụng ý gì?
Hoà Thân, lúc này, tinh thần sụp đổ hoàn toàn. Cặp mắt đờ đẫn, mặt trắng nhợt, nốt ruồi đỏ trên trán tím xanh. Ông hận mình, ngay Gia Khánh mà cũng không đấu nổi. Ông đáp:
- Ngày 2 tháng 9 năm 60, lúc Thái thượng hoàng sắc phong Hoàng Thái tử, nô tài chọn tặng ngọc như ý là tiết lộ thánh chỉ. Đúng như vậy.
- Lúc Thái thượng hoàng ốm nặng ngươi đã tuỳ tiện tiết lộ bệnh tình cho người ngoài biết, và cười nói bất kính. Có việc đó không?
Hoà Thân điếng người. Gia Khánh lúc nào cũng ngấm ngầm theo dõi mình, thế mà mình lại cho ông ta chỉ là một thư sinh ngây ngô khờ khạo, còn ông ta biết mình như trong lòng bàn tay. Ta tìm mọi cách để dò biết chỗ sâu kín trong lòng ông ta mà không được. Ta thật ngu xuẩn, ngu xuẩn! Hoà Thân uể oải đáp:
- Lúc Thái Thượng hoàng bệnh, nô tài tiết lộ chuyện bí mật trong cung ra bên ngoài. Đúng có vậy.
Hoà Thân nhớ lại vẻ đắc ý của mình trong linh đường, giấc mộng đẹp của mình suy nghĩ bên linh cữu Càn Long, nghĩ đến mình không hề phát hiện ra tí gì trong lúc đó ông vò đầu vò tóc, xé toang ngực áo ra, hận quá muốn ngoạm mình một miếng thật đau. Gia Khánh thấy thế lệnh cho thị vệ giữ chặt Hoà Thân lại.
Hoàng đế Gia Khánh hoàn toàn thắng lợi. Ông ngẫm nghĩ: “Ai cười cuối cùng, người ấy cười khoái nhất”.
Dưới đây là lời cung của Hoà Thân:
“Chỉ dụ của Thái Thượng hoàng phê duyệt, do nét chữ khó nhận ra, nên nô tài đã cắt đầu cắt đuôi thêm bớt ý kiến của mình vào đó. Đúng là vậy.
“Vì thích con gái xuất cung đẹp, nên nhận làm thiếp, đúng là vậy.
“Ngày 14 tháng giêng năm ngoái, khi Thái Thượng hoàng triệu kiến, lúc đó vội quá, nô tài cưỡi ngựa vào Tả Môn, đến cổng Thọ Sơn, nghe chỉ dụ, không chỉ một lần, thật là bất kính. Tội nô tài đáng chết vạn lần.
“Tài sản, vàng bạc, nhà cửa của nô tài, hiện đã kiểm tra tịch thu, có thể tìm được cả. Còn bạc trắng ước đến mấy chục vạn, thực ra không có đến ngàn thỏi bạc, và cũng không có ký hiệu riêng gì cả?
“Vương tôn Mông Cổ nhận được chỉ dụ: “không bệnh đậu, đừng đến kinh”. Nô tài chữa thành. “Có bệnh đậu hay không có bệnh đậu, đều không đến kinh”. Nô tài có thể chưa hiểu được ý của Thái Thượng hoàng. Suốt 60 năm qua, Thái Thượng hoàng luôn luôn quan tâm đến các nước láng giềng, vô cùng nhân nghĩa. Lẽ ra Mông Cổ đến. Tất cả là do nô tài hồ đồ, đáng chết.
“Do bệnh đau lưng nhức xương tái phát, nô tài có lúc ngồi kiệu đi thẳng vào đại nội. Đúng có vậy.
“Tấu báo việc quân chuyển về triều đình, nô tài không đệ trình ngay mà cứ giữ chậm lại. Đúng có vậy.
“Tô Lăng A tuổi ngoài 80, nặng tai, trong nhiều năm qua đã được đề bạt từ thị lang, lên đại học sĩ, rồi quyền Thượng thư bộ Hình, nô tài thật hồ đồ.
“Lặc Bảo là người của A Quế, không liên can đến nô tài. Việc Bảo Ninh cầm quân ở Y Lê được thăng lên Viện hiệp đại học sĩ, nô tài cho rằng biên cương là nơi quan trọng, nên có tâu rõ không nên gọi về kinh. Chu Khuê trước đây là Tổng đốc Lưỡng Quảng bị giáng chức điều đi là do Khôi Luân tấu báo việc giặc Tây xâm phạm, quả thực nô tài không dám can ngăn.
“Năm trước nô tài phụ trách bộ Hình, sau đó nhận chỉ dụ phụ trách thêm bộ Hộ. Lẽ ra nên quản lý những việc lớn quan trọng, nô tài lại thâu tóm tất. Thật là hồ đồ đáng chết. Việc Phúc Trường An đề nghị bổ sung thư lại ở Sơn Đông, quả thực nô tài không nhớ.
“Ngô Tỉnh Lan, Lý Hoàng, Lý Tiên Vân đều là thầy dạy của nô tài. Thanh danh xấu xa của Ngô Tỉnh Lan, quả thật nô tài chẳng biết, hãy xin hỏi ông ta vậy”.
*
Trong quá trình thẩm vấn Hoà Thân, Gia Khánh ý thức được rằng, Hòa Thân và Thái Thượng hoàng có mối liên hệ chằng chịt rắc rối, vấn đề của Hòa Thân càng nhiều, cũng khó có lời buộc tội ông ta. Do đó Hoàng đế Gia Khánh vừa chỉ dụ cho các đại thần trong ngoài triều tiếp tục tố giác, vừa chỉ dụ nhấn mạnh:
“Nếu vấn đề Hòa Thân sớm có người tố giác. Thái Thượng hoàng nhất định sẽ xử tội nặng Hòa Thân, ràng buộc ông ta vào pháp luật. Nhưng nhiều năm qua, chẳng có ai tố giác Hòa Thân, chẳng có ai trực diện tấu báo việc của Hòa Thân. Như vậy, bề ngoài như là không muốn bận tâm với Thánh thượng, nhưng thực tế là sợ Hòa Thân, e ngại Hòa Thân, nên câm mồn câm miệng”.
Hoàng đế Gia Khánh giũ bỏ trách nhiệm của Càn Long, bảo vệ sự tôn nghiêm của quyền lực hoàng đế, đẩy trách nhiệm cho các đại thần. Ngươi ta sẽ hỏi “Hoàng thượng, Hoàng thượng suốt ngày bên cạnh Thái thượng hoàng, ba năm tập cầm quyền, lẽ nào không biết Hòa Thân là con người như thế nào ư? Là vua kế vị, càng dễ tố cáo Hòa Thân, vậy sao không tố cáo Hòa Thân với Thái thượng hoàng. Hay là sợ Hòa Thân?”
Người sáng mắt đã nhìn thấy mặt khác của tính cách Hoàng đế Gia Khánh. Ông cũng chỉ là bản sao của Càn Long, tuy ông tạm thời dùng đao to búa lớn trừng trị kẻ tham ô đồi trụy.
Hoàng đế Gia Khánh cảm thấy không nên kéo dài vấn đề Hoà Thân, phải tốc chiến tốc quyết, không nên moi móc sâu thêm. Do đó, ngày 15 tháng giêng, đã vội vàng tổng hợp các tấu báo của các đốc phủ và căn cứ vào tài liệu thẩm vấn, kiểm kê gia sản Hòa Thân, công bố 20 tội lớn của Hòa Thân như sau:
Một, ngày 3 tháng 9 năm Càn Long thứ 60, biết Thái thượng hoàng sắc phong Hoàng thái tử, nhưng chưa công bố, thì ngày mùng 2 Hòa Thân đã tặng Trẫm một thanh ngọc như ý, bày tỏ ân với Trẫm, có quyền ủng hộ suy tôn Trẫm.
Hai, cưỡi ngựa đi thẳng vào Tả môn vườn Viên Minh, qua điện Chánh Đại Quang Minh, đến cổng Thọ Sơn, xem như không có Hoàng đế.
Ba, ngồi kiệu đi thẳng vào Đại Môn, rồi thẳng vào Thần Vũ Môn .
Bốn, lấy gái xuất cung làm thê, thiếp.
Năm, tấu báo việc quân từ các lộ đưa về, tự tiện dấu đi hoặc trì hoãn tấu báo, cố ý che đậy lừa dối.
Sáu, Thái Thượng hoàng tuổi cao, viết chữ vất vả, mắt kém, phê duyệt tấu chương, nét chữ nguệch ngoạc không rõ, Hòa Thân thường nói “chi bằng xé đi viết lại cái khác” .
Tám, Hòa Thân chủ quản bộ Lại, bộ Hình, Viện Lý, lại tự mình ôm đồm mọi việc của bộ Hộ, tự mình xử lý, tuỳ tiện thay đổi, không cho các đại thần khác trong bộ tham dự thảo luận.
Chín, năm ngoái Khuê Thư tấu báo giặc Phiên ở Tuần Hoá, Quý Đức cướp bóc vùng Thanh Hải, Hoà Thân bác bỏ, dấu nhẹm không tấu báo.
Mười, khi Thái Thượng hoàng băng hà, Trẫm dụ, vương công Mông Cổ, ai không bệnh đậu, không nhất thiết phải đến kinh. Hòa Thân đã tự tiện ra lệnh ai có bệnh hoặc không có bệnh đậu mùa đều không được đến kinh.
Mười một, đại học sĩ Tô Lăng A sức yếu, nặng tai, dấu diếm không tâu. Thị lang Ngô Tỉnh Lan, Lý Hoàng, Thái bộc tư khanh Lý Vân Quang, dạy học ở nhà Hòa Thân. Hòa Thân tấu xin bảo đảm cho họ vào hàng công khanh, kiêm học chính.
Mười hai, tự tiện loại bỏ, điều động nhân viên ở Cục quân cơ.
Mười ba, khi kiểm tra nhà, phát hiện trong phủ Hòa Thân có nhà làm bằng gỗ nam mộc, phù hoa xa xỉ, vượt quá quy định của triều đình; nhiều đền đài lầu các kiểu dạng giống như cung Ninh Thọ; nhà cửa vườn hoa, trang trí không khác gì bồng đảo và quỳnh đài trong vườn Viên Minh.
Mười bốn, phần mộ ở Kê Châu, xây dựng theo kiểu cung điện, có đường ngầm, người ta gọi là “Hòa Lăng”.
Mười lăm, trong nhà cất giữ hơn 200 chuỗi ngọc trai đeo tay, nhiều hơn mấy lần so với đại nội, viên ngọc to nạm trên mũ còn to hơn của Hoàng đế.
Mười sáu, có mấy mươi viên đá quý thuộc loại Hòa Thân không được dùng. Đá quý nguyên khối rất nhiều, nhiều hơn trong đại nội.
Mười bảy, bạc trắng và quần áo cất giữ trong nhà vượt quá 10 triệu.
Mười tám, vàng dấu trong tường hơn 26.000 lạng, dấu trong kho 6.000 lạng ; bạc cất dưới hầm hơn 3 triệu lạng.
Mười chín, vốn ở các tiệm tiền, cửa hàng cầm đồ tại Thông Châu, Kế Châu trên 10 vạn, tranh lợi với dân.
Hai mươi, tài sản của gia nô Lưu Toàn vượt quá 20 vạn, có cả vòng đeo tay bằng ngọc trai.
Sau khi công bố 20 tội lớn của Hòa Thân, các đại học sĩ, cửu khanh... tấu báo đề nghị xử Hòa Thân tội chết lăng trì theo luật pháp; Phúc Trường An xử trảm theo luật tòng đảng. Trừng trị ngay. Hoàng đế Gia Khánh hận Hòa Thân tận xương tuỷ, mấy chục năm qua, nhất là ba năm lên ngôi vừa qua, lúc nào cũng muốn giết chết Hòa Thân. Bây giờ đã nắm quyền, mọi việc tiến hành gọn gàng thuận lợi. Gia Khánh định xử cực hình Hòa Thân, giết chết phanh thây, phơi xác ngoài đường.
Phong Thân Ân Đức và Phong Thân Nghi Miên đều bị cách ly để xét hỏi. Nghe tin Hòa Thân sắp bị xử chết lăng trì, cả hai vô cùng hoảng sợ, nhưng đành bó tay, và cảm thấy bản thân sống trên đời này không còn bao lâu nữa.
Tin Hòa Thân bị xử lăng trì truyền đến phủ Hòa Thân. Khanh Lân đầu tóc rũ rượi, hết hồn hết vía, như điên như cuồng. Đậu Khấu và công chúa Hoà Hiếu thì bình tĩnh lạ thường. Trong lúc cả nhà này đang sụp đổ tan tành, như ngọn đèn sắp tắt, chỉ có công chúa Hoà Hiếu ung dung xử lý mọi việc trong gia đình. Phẩm chất kiên cường và hiền đức của công chúa thật khó gì so sánh, người ta khó tưởng tượng được công chúa là con người xuất thân trong gia đình đế vương.
Công chúa Hoà Hiếu dẫn thị nữ cùng đi vào cung, quỳ trước Hoàng đế Gia Khánh khóc than cầu xin:
- Hoàng huynh, Hòa Thân tuy tội ác tày trời, chết cũng đáng tội, nhưng là tể phụ đứng đầu triều đình, sủng thần số 1 của phụ hoàng, lại là cha chồng của muội, nếu xử chết lăng trì, phơi thây ngoài chợ, xin hoàng huynh nghĩ kỹ, có thoả đáng chăng?
Những lời đó của công chúa, thực sự là “nếu xử chết lăng trì Hòa Thân mà Hòa Thân là sủng thần của phụ hoàng, là người thân của Thái Thượng hoàng, vậy để phụ hoàng ở đâu?”
Đại học sĩ Lưu Dung và Đổng Hạo thấy tình cảnh ấy, nhân đó tâu xin:
- Hòa Thân tội ác tày trời, dẫu phanh thây ngàn mảnh vẫn còn nhẹ, nhưng như công chúa đã nói, Hòa Thân từng là tể phụ đứng đầu triều đình, hơn nữa Thái Thượng hoàng vừa mới băng hà, nếu xử chết lăng trì, phơi thây ngoài chợ, sẽ ảnh hưởng không tốt đến triều đình và Hoàng thượng, chi bằng giảm nhẹ tội hình cho ông ta. Xin Hoàng thượng quyết định.
- Để Trẫm suy nghĩ kỹ.
Hoàng đế Gia Khánh tuyên bố 20 tội lớn của Hòa Thân và xử tội Hòa Thân đúng vào ngày 15 tháng giêng.
Hôm đó, một trận tuyết lớn tung bay khắp bầu trời, tuyết trắng phủ kín mặt đất, hai bên đường phố cây cối xanh tươi, đúng như câu thơ của Sàm Tham:
Đêm qua như có gió xuân về,
Sáng nay hoa nở khắp rừng lê.
Bầu trời về đêm, không một gợn mây, trăng sáng vằng vặc. Thành Bắc Kinh khoác bộ áo tang màu trắng bạc trong những ngày quốc tang, im lìm, lặng lẽ phơi mình dưới ánh sáng lạnh lẽo mênh mông của thần trăng.
Hòa Thân bên trong cửa sắt, nhìn vừng trăng sáng trên bầu trời, nhớ lại cảnh phồn hoa náo nhiệt của Bắc Kinh vào ngày này năm ngoái. Ngày đó trên khắp đường phố, hàng trăm trò chơi, tuồng kịch được biểu diễn, nào Nam thập phiên, ương ca, nào đại đầu hoà thượng, cửu khúc hoàng hà đăng, nào đã thập bất gián, bàn hoành tự, nào bào trúc mã, đả thái bình cỗ, khắp thành treo đèn kết hoa, tiếng trống dồn dập như triều dâng thác đổ. Bên này tiếng trống ếch vang tận trời xanh, bên kia các đội ương ca áo xanh quần đỏ nhảy múa liên hồi.
Hòa Thân lại nghĩ đến ngày này hàng năm, ông cùng với hoàng đế Càn Long đứng trước lầu Sơn Cao Bắc Trường nhìn cảnh đèn sáng, đi cạnh Càn Long, tiếp kiến vương công đại thần, quý tộc Mông Cổ, sứ thần nước ngoài. Địa vị của mình được tôn sùng biết bao. Bao nhiêu việc cũ như hiện lên trước mặt, dưới vành trăng sáng, khó mà quay ngược lại.
Ánh trăng lạnh lẽo trùm lên phủ Hòa Thân. Công chúa cũng đang nhớ lại tết nguyên tiêu trước đây.
Đêm rằm tháng giêng, chị em phụ nữ khoác chiếc áo cánh màu xanh nhạt, gọi là “dạ quang y”, đi thành từng nhóm năm ba người dưới ánh trăng trong, đến “Tẩu Tam Kiều”, thướt tha như tiên nữ:
Tóc mây đen nhánh ngọc thuý cài,
Lụa là xanh nhạt bắt cầu sang.
Đêm khuya kết bạn qua cửa trước,
Gió xuân bệnh khỏi đến Tẩu Kiều.
Các cô gái Mãn đeo vòng, mặc áo dài tay đuôi én, từng nhóm từng đoàn kéo nhau đến Mạc Đinh.
Đèn hoa trăm ngọn chiếu mỹ nhân,
Người đẹp tóc mây kéo thành hàng.
Tay thì vén áo tay cầm khăn,
Háo hức vui mừng dưới ánh trăng.
Phong Thân Ân Đức lúc này cũng vô cùng đau khổ. Cha là tể phụ đầu triều, mình lại là phò mã, rõ ràng vô cùng cao quý thế mà, ngay trong đêm tết nguyên tiêu này, khi mọi nhà điền viên, mình lại bị giam chặt tại đây.
Ân Đức nhớ lại ngày này năm ngoái, không, ngày 3 tháng giêng cơ, mình cùng với công chúa đi xem cảnh đèn hoa ở phường Tây Khoác, ngựa xe như nước, người xem chen nhau, ánh đèn khắp nơi đua nhau chiếu sáng như ban ngày. Dân chúng, quan viên lớn nhỏ, đủ cỡ, tụ tập tại đấy xem bắn pháo hoa, đeo mặt nạ, múa ương ca, múa rồng, con trai xướng con gái đối, ôi, phồn hoa náo nhiệt! Lại còn biết bao nhiêu loại đèn đua sắc khoe màu như đèn lụa vẽ tranh, đèn màu có cạnh, đèn mai kết, đèn thông thảo, đèn trăm hoa, đèn chim thú, đèn trùng - ngư, đèn thuỷ mặc, đèn kéo quân,.v.v... xem loá cả mắt.
Thế mà hôm nay, cô đơn một mình trong lao tù, tiền đồ chẳng lường được, cuộc đời còn có ý nghĩa gì? Phong Thân Ân Đức lại nhớ lại cha, nhớ công chúa, lòng càng buồn thương.
Công chúa lúc này nhớ lại niềm vui sướng thời thơ ấu, hưởng những phút giây êm ấm bên phụ hoàng trong ngày tết nguyên tiêu. Trong cung, trong ba ngày tết sau tết nguyên tiêu đều ăn bánh nguyên tiêu, bánh nguyên tiêu do nhà bếp của hoàng phụ chuẩn bị, có hai loại mặn và ngọt. Loại ngọt nhân bằng đường trắng, hạnh đào, vừng, sơn tra, nhân đậu, nhân táo, công chúa rất thích ăn loại ngọt. Rằm tháng giêng, phụ hoàng bao giờ cũng ăn tiệc với cả nhà tại cung Càn Thanh, công chúa luôn luôn ngồi bên cạnh phụ hoàng. Mấy lần, công chúa gắp không được, phụ hoàng cầm tay công chúa, đặt bánh vào mồm công chúa ... Ôi phụ hoàng! Nếu ta là con trai thì phụ hoàng cho ta đến chức Trữ quân, thế nhưng phụ hoàng có biết không, con gái phụ hoàng ngay trong ngày tết nguyên tiêu này, đang cô đơn một mình, một mình nhìn trăng, cô đơn trơ trọi, chỉ hình với bóng nhìn nhau.
Công chúa lệ rơi lã chã. Công chúa lại nghĩ, dẫu Hòa Thân tội không thể tha, nhưng Ân Đức có tội gì đâu. Hiện giờ Ân Đức rất cần được an ủi, thế nào ta cũng phải đi thăm Ân Đức. Lúc đó, Ân Đức nhất định sẽ vững vàng, không để tinh thần suy sụp!
Công chúa đem theo thị nữ, đi thẳng vào ngục cùng hưởng tết nguyên tiêu với Phong Thân Ân Đức.
Điều Hòa Thân quan tâm nhất cũng là Phong Thân Ân Đức. Tất cả hy vọng của ông ta là ở đấy!
Ánh trăng như dòng suối, tuôn ánh sáng qua cửa sắt. Hòa Thân quỳ dưới đất, không ngớt vái lạy trăng, luôn mồm cầu khấn: “Xin ông trăng phù hộ cho con trai tôi, xin ông trăng nói lại nỗi lòng của tôi cho nó biết, nó phải vững vàng, không để tinh thần suy sụp! Ông trời ơi! Thần Trăng ơi? Đã hậu đãi cả đời tôi, nay xin thoả mãn lời cầu xin cuối cùng của tôi? Phù hộ cho con tôi bình an vô sự, tinh thần vững vàng, thân thể khoẻ mạnh”.
Sau khi cầu khấn cho con, Hòa Thân nhìn lại cuộc đời mình: ta phải mạnh, phải phấn đấu, ta gian khổ cùng cực nhưng, chính tài năng của ta đã hại ta rồi! Vợ ta, con ta, đều khuyên ta, tìm mọi cách thức tỉnh ta, đến hôm nay ta mới hiểu, đời người là một giấc mộng.
Dưới ánh trăng lạnh lẽo, thấy nay nhớ xưa, Hòa Thân cảm khái, cầm bút viết: “Đêm nguyên tiêu trong ngục nhìn trăng”.
1. Màn đêm sáng thế đó,
Than ôi bị bó mình.
Trăm năm vốn là mộng,
Hai mươi tội thần chịu.
Bóng tối khó đổi sáng,
Tường cao chẳng thấy xuân.
Tinh tú quanh trăng lạnh,
Xích khóc thần cô đơn.
Nhìn cảnh đau việc trước,
ôm tài hỏng thân này.
Sống chẳng còn mấy chốc,
Đã phụ tấm lòng nhân.
2. Chiều nay chiều nào đây,
Nguyên tiêu lại xuân nữa.
Tội nghiệp trăng đêm nay,
Soi tỏ lòng người buồn.
Suy nghĩ suốt năm canh,
Ân nghĩa còn mới hoài.
Thần minh đến u ám,
Xiềng xích với mình thần.
Bộ Hình chuyển bài thơ của Hòa Thân lên Hoàng đế Gia Khánh xem. Gia Khánh phê: “Hắn có tài nhưng không hiểu đạo lý làm người quân tử” .
Ngày 18 tháng 5, sau ba ngày đêm suy nghĩ, Hoàng đế Gia Khánh quyết định cho Hòa Thân chết toàn thây.
Hôm đó, Gia Khánh ban cho Hòa Thân một giải lụa trắng, tự treo lên xà nhà tự vẫn, và lệnh cho Phúc Trường An quỳ xem Hòa Thân tự vẫn.
Phúc Trường An đến nhà ngục giam Hòa Thân, ôm Hòa Thân khóc thất thanh:
- Lúc sống tôi theo đại nhân, lúc chết tôi cũng theo đại nhân, đại nhân đi trước tôi theo sau, đại nhân không cô độc đâu.
- Chúng ta hãy chết một cách vui vẻ, không nên đau buồn, không được để rơi một giọt nước mắt nào. Hòa Thân vừa nói vừa lau nước mắt cho Phúc Trường An.
Phúc Trường An quỳ tại đấy, nhìn Hòa Thân vắt giải lụa trắng lên chiếc xà nhà. Hòa Thân nói:
- Phúc Trường An nhìn ta đây.
Phúc Trường An trố mắt nhìn Hòa Thân, Hòa Thân mỉm cười bước đến bên giải lụa trắng, làm bài thơ:
Năm mươi năm giấc mộng thật hư,
Sáng nay vén áo giũ bụi trần
Ngày ấy mồm rồng đầy những nước,
Khói hương nhận lấy kiếp sau này.
Người đời có thể tin bài thơ tuyệt mệnh của Hòa Thân là có thật. Nhưng mấy trăm năm qua chưa ai giải thích được. Có mấy cách giải, tuy vu vơ hoang đường, nhưng ảnh hưởng rất lớn, mang ý nghĩa sâu sắc, xin giới thiệu dưới đây:
Càn Long khi còn là Bảo thân vương, trêu ghẹo ái phi của Ung Chính là Mã Giai Thị, Mã Giai Thị vô ý chạm phải mi mắt Bảo thân vương, bị Hoàng hậu Nữu Hộ Lộc Thị trông thấy, rồi lệnh cho Mã Giai Thị tự vẫn tại Nguyệt Hoa Môn. Bảo thân vương đến Nguyệt Hoa Môn, cắn ngón tay lấy máu chấm lên trán Mã Giai Thị, nói: “Ta đã hại nàng rồi, nếu nàng linh thiêng, 20 năm sau chúng ta lại gặp nhau, lúc đó ta sẽ nhận nàng qua nốt ruồi đỏ này”. Quả nhiên 26 năm sau ngày Mã Giai Thị chết, Hòa Thân cũng đúng 26 tuổi, sung vào thị vệ, gặp Càn Long. Càn Long nhìn thấy nốt ruồi đỏ trên trán Hòa Thân, lại đúng 26 năm, cho rằng Mã Giai Thị tái thế, nên vô cùng sủng ái Hòa Thân. Khi Càn Long lên ngôi hoàng đế đã nói với Hòa Thân: “Trẫm và khanh có duyên nợ với nhau. Trẫm sủng ái khanh suốt đời, nhưng sau khi Trẫm trăm tuổi, người khác nhất định sẽ không dung thứ cho khanh, khanh nên sớm lo liệu”.
Trên đây là lời giải thích cho hai câu thơ: “Năm mươi năm giấc mộng thật hư. Sáng nay vén áo giũ sạch bụi trần”.
Hai câu sau, “Ngày ấy mồm rồng đầy những nước” là dùng điển tích Hạ Hậu Long Si .
Tương truyền, khi triều Hạ suy vong, có hai con rồng thần bay xuống sân điện của Hạ đế vương, nói: “Chúng ta là vua của vùng này”. Hạ đế vương xem quẻ bói, nếu giết hoặc đuổi hai con rồng đi, đều là việc không lành. Nếu xin được “Si” (nước giải) của chúng thì rất là tốt lành. Do đó, cầu xin hai con rồng cho nước giải cất kỹ trong hộp. Sau khi nhà Hạ tiêu vong, chiếc hộp đó được truyền cho nhà Ân, nhà Ân tiêu vong, lại truyền cho nhà Chu, không ai dám mở chiếc hộp ấy ra. Đến thời Chu Lịch Vương, Chu Lịch Vương mở hộp ra xem, nhìn thấy một chất nhầy nhụa. Chất này chảy ra ngoài sân, hoá thành con giải đen và bò vào cung của Hoàng hậu. Một cung nữ nhìn thấy..., bỗng nhiên có thai, sinh ra một cô gái, tên Bao Tự. Bao Tự lớn lên, gây tai họa cho đất nước, khiến Tây Chu diệt vong. Đời sau dùng từ Long Si (Giải rồng - ND) để chỉ tai hoạ đất nước do đàn bà gây nên. Thời nhà Đường, trong hịch đánh đuổi Võ Tắc Thiên có dùng từ “long si” là để chỉ Võ Tắc Thiên.
“Ngày ấy mồm rồng đầy nước” là chỉ ngày xuất hiện “long si”, lại liên hệ đến hai từ “khói hương” (cha truyền con nối) trong câu sau, có người giải thích rằng, Hòa Thân chết sẽ hoá thành một cô gái như Bao Tự trả thù triều Thanh, cho triều Thanh diệt vong. Người con gái đó là Từ Hy. Hòa Thân chết không được bao lâu, đầu thai thành con gái, tức là Thái hậu Từ Hy sau này.
Một cách giải thích khác. Hai câu đầu giải thích như nói trên, hai câu sau có khác.
Vua Kiệt nhà Hạ, hoang dâm bạo ngược, sủng ái hai người đàn bà, một là Muội Hỷ, còn người kia nguyên là con giao long lúc biến thành con rồng nhe nanh múa vuốt, lúc thành cô gái tuyệt thế giai nhân. Cô gái yêu tinh này được vua Kiệt gọi là “Giao Thiếp”. Giao Thiếp và Muội Hỷ cùng nhau làm loạn trong cung, đòi vua Kiệt lấy thịt đắp đê, đem thịt phơi khô giữa rừng, đổ rượu thành hồ để bơi thuyền. Sau đó gọi 3.000 cung nữ, cởi hết áo quần. Khi hồi trống thứ nhất nổi lên, 3.000 cung nữ bò lên đê, chổng mông uống rượu trong hồ, như một bầy trâu đang uống nước, để lộ ra phần dưới cơ thể. Hồi trống thứ hai vang lên, các cung nữ đó vào rừng ăn thịt khô, một chân đặt xuống dưới đất, một chân đặt lên thân cây, để lộ cả âm vật. Vua Kiệt cùng Muội Hỷ và Giao Thiếp thấy thế cười thích thú. Giao Thiếp, ngoài ăn chơi xa xỉ cực độ, còn đòi ngày nào cũng ăn thịt người tất nhiên vua Kiệt đáp ứng đầy đủ. Hai người đàn bà làm loạn, nhà Hạ diệt vong.
Có người giải thích rằng, hai câu thơ sau của Hòa Thân là để nói sau này ông sẽ biến thành người con gái, làm cung phi. Sau nhiều năm, Hòa Thân đầu thai thành công làm cung phi đó là Từ Hy. Từ Hy ăn chơi xa hoa lãng phí hơn nhiều so với Hòa Thân - kiếp trước của bà, học đòi “Giao Thiếp” của vua Kiệt ngày xưa, khiến Đại Thanh mục nát để báo thù Đại Thanh, đưa Đại Thanh đến chỗ diệt vong.
Lại một cách giải thích khác: hai câu trước cũng giải thích như trên, nhưng hai câu sau thì khác. “Mồm rồng đầy những nước” là nước dâng tràn thì gây tai hoạ. Tháng 8 năm Gia Khánh thứ 3, khúc đê sông Hoàng Hà vùng Tuy Châu, tỉnh Hà Nam bị vỡ, nước ngập phần lớn các vùng Dự (Hà Nam), Hoãn (An Huy) ,Lỗ (Sơn Đông). “Mồm rồng đầy nhưng nước” là nói chờ đến lúc nước dâng tràn như năm ấy dìm ngập một số tỉnh giống ngày 8 năm Gia Khánh thứ 3.
Từ “khói hương” là chỉ khói thuốc phiện. Lúc Hòa Thân còn sống, suốt ngày hút thuốc lá Tây, người đời sau nói hay là ông ta nghiện thuốc phiện.
Ý của câu ba và bốn là nói chờ đến năm xảy ra lũ lụt lớn, Hòa Thân sẽ tái thế. Ai là người nghiện thuốc phiện chính là kiếp sau của Hòa Thân.
Vậy kiếp sau của Hòa Thân là ai?
Năm Đạo Quang thứ 12, khúc đê Hoàng Hà ở vùng Phù Cường, phía tây bắc Tuy Châu tỉnh Hà Nam bị vỡ, một số tỉnh bị ngập, tháng 10 năm ấy, đúng là ngày sinh của Diệp-Hách Na-la-thị Từ Hy. Năm ấy, cả nước có đến hơn 27.000 hòm nha phiến. Sau đó Hàm Phong Đế Dịch Ninh cùng với cung phi của mình là Diệp Hách Na-la-thị hút thuốc phiện đâm nghiện. Vì thế Na-la-thị đúng là kiếp sau của Hòa Thân.
Hòa Thân chết, đầu thai thành cung phi, để trả thù hai lần bị giết, hoá thành Từ Hy, sau thành Hoàng hậu, độc chiếm triều đình, xa hoa cực độ, gây họa cho đất nước, khiến Đại Thanh diệt vong. Người đời vẫn tiếp tục hỏi: “Hòa Thân có kiếp sau thật không?”. Lẽ nào những cách giải thích trên đây lại là vu vơ sao?
Ngày 18 tháng giêng, Hòa Thân treo cổ tự vẫn, Đậu Khấu nghe tin, vô cùng đau xót, làm hai bài thơ tự điếu như sau:
1. Ai nói ân vua chẳng đổi thay,
Luật rộng mà sao khó với thần.
Gác vắng trống không chí chẳng còn,
Lầu kia khó chứa mạng chết này.
Một giải lụa kia đời kết liễu,
Sầu thương vương vấn thiếp sao đây.
Hoàng hôn buông xuống bao luyến tiếc,
Gặp nhau trong mộng tỉnh còn đâu.
2. Che mặt lên xe lệ tuôn trào,
Đã biết thu về lá vàng rơi.
Anh vũ trong lồng về Tần Tắc,
Tỳ bà lưng ngựa khỏi Hán Quan.
Cái số đào hoa thường bạc mệnh,
Hận vì gặp phải duyên bèo bọt.
Ruột gan tan nát theo dòng nước,
Chảy thẳng về đông chẳng trở về.
Làm xong thơ, Đậu Khấu tung người nhảy xuống lầu chết. Chẳng rõ sang thế giới bên kia, bà theo Uông Như Long hay Hòa Thân.
Sau Đậu Khấu, giờ ngọ, ngày 20 tháng giêng, năm Gia Khánh thứ 4, Khanh Lân cũng thắt cổ tự vẫn. Trước lúc chết, làm 10 bài thơ tuyệt mệnh.
1. Trâm rơi tóc rối ôi hãi hùng,
Mười hai lầu gác lượn quanh hồ.
Trấn tĩnh đau thương nhìn cảnh vật,
Hồ kia nước chảy đã cạn rồi.
2. Quả thơm kề mồm đã vội nôn,
Sơn hào hải vị đã chán rồi.
Nga Mi bấm đốt đã bao năm,
Biển dâu biến đổi biết đâu lường.
3. Hát hay múa đẹp khó vẽ nên,
Trăng chiếu lâu đài lạnh yếm thêu.
Suốt đêm với chàng sao chẳng chán,
Sáng ngày mỏi mệt nhờ người nâng.
4. Sen nở là do có ngó sen
Ngày tháng thoi đưa hai chín xuân.
Quay đầu luyến tiếc thời múa hát,
Hai lần mới gỡ ý trung nhân.
5. Đêm trăng cứ ngỡ ban ngày,
Hương thơm lan toả oán hờn vương tôn
Mái nhà én đến rồi đi,
Giết người, cũng chính dáo này không sai.
6. Bạch vân chốn ấy mãi thân thương,
Mười lăm năm trước nói cười vui.
Cảnh mộng lướt qua gần khó tả,
Tiếng hò mái đẩy vọng vào sân.
7. Thôn nữ cười vui chẳng biết nghèo,
Áo dài váy nhẹ thắt lưng dài.
Ba mươi sáu năm Tần Nữ hận,
Khanh Lân nông cạn vẫn là người
8. Đêm lạnh tái tê gạt lệ rơi,
Năm nào biến động đỗ quyên kêu
Lần bước kêu than đến Chương Hà,
Xuân về cánh én nương Đồng Tước.
9. Vua ban áo mũ rạng công danh.
Khi cần truyền gọi quý cận thần.
Hôm nay trước cửa sao vắng lặng,
Mới rõ cuộc đời đâu có thật.
10. Cả triều ghen ghét lang quân tài,
Hiên ngang chí lớn chẳng kém ai.
Nước chảy hoa trôi xuân cũng biến,
Sự nghiệp của chàng nay còn đâu.
Nhờ công chúa Hoà Hiếu mấy lần vào cung cầu xin, Phong Thân Ân Đức và Phong Thân Nghi Miên được tạm tha, lo liệu việc tang. Hai anh em gặp nhau, người nào cũng mắt thâm quầng sưng húp, ôm nhau khóc than thảm thiết.
Xác Hòa Thân chỉ để tại phủ Hòa Thân một ngày, cho vào quan tài, bỏ lên xe đi chôn. Xe tang chạy trên cánh đồng hoang hiu quạnh, chỉ có hai anh em Phong Thân Ân Đức và Phong Thân Nghi Miên tiễn đưa.
Mồ mả nhà họ Hòa tại Sa Hà, Kê Châu, do xây dựng quá quy định đã bị buộc phá huỷ. Phong Thân Ân Đức và Phong Thân Nghi Miên đành tìm một nghĩa địa khác tại thôn Lưu ở Kê Châu. Chôn cất qua loa Hòa Thân, hai anh em lại dời mồ mả Phùng Thị - vợ Hòa Thân và Hòa Lâm đến đấy.
Dưới suối vàng, Hòa Thân gặp lại người vợ thân yêu, và người em thân mến. Cảnh ấy diễn ra thế nào nhỉ?
Sau khi chôn cất sửa sang mồ mả người thân, Phong Thân Ân Đức và Phong Thân Nghi Miên lại bị Gia Khánh bắt về kinh.
Định thân vương Miên Ân kiểm tra vườn hoa Thục Xuân của Hòa Thân, phát hiện chuỗi ngọc Chính Châu và Triều Châu. Gia Khánh giật mình, bởi vì những thứ đó là vật chỉ có Hoàng đế mới được dùng mà thôi, nên lệnh cho Miên Ân xét hỏi người nhà Hòa Thân và Phong Thân Ân Đức.
Những thứ cấm kỵ đó tìm thấy trong đền Thiện Duyên ở vườn Thục Xuân. Hoa Hồng đen dấu những thứ đó dưới gầm giường nhưng vẫn bị phát hiện. Mấy hôm sau Hoa Hồng đen bóng lộn như ngọc đã như một cây lau bị đốt cháy trần trụi, đen thui, không còn rực rỡ nữa. Nàng thầm nghĩ, cuộc đời nàng quá ư bi thảm, nàng không muốn sống nữa, nhưng muốn chết cũng chẳng được, nàng bị quản thúc chặt chẽ, đề phòng mọi khả năng nàng tự sát Cuối cùng nàng mới nói ra: “Hòa Thân không dám đeo những thứ ấy vào ban ngày, chỉ đeo vào ban đêm mà thôi. Ông thường ngắm nghía mình trong gương dưới ánh đèn, thì thầm với mình trong gương, nói rất nhỏ chẳng hiểu nói những gì.”
Sau khi nghe lời tấu báo lại, Gia Khánh cả giận: “Đó chẳng phải là âm mưu phản nghịch ư, nếu phát hiện trước ngày 18 tháng giêng, không thể không xử lăng trì hắn. Bây giờ bới Hòa Thân lên, đánh cho tan xác”.
Công chúa Hoà Hiếu lại quỳ trước Gia Khánh cầu xin. Nể tình công chúa, Gia Khánh cho “tạm không quật xác giữ nguyên như cũ”. Nhưng ráo riết thẩm vấn Phong Thân Ân Đức, hết đợt này đến đợt khác, hết ngày này sang ngày khác. Thẩm vấn đủ mọi cách, chỉ trừ chưa dùng đến hình cụ. Dù thẩm vấn thế nào chăng nữa, Phong Thân Ân Đức chỉ trả lời mỗi một câu “không biết”.
Theo luật Đại Thanh, nhà nào cất dấu những thứ cấm kỵ, hoặc làm những thứ quá quy định, biết sự việc mà không khai báo, đều bị xử phạt theo tội đại nghịch. Hoàng đế Gia Khánh tha cho Phong Thân Ân Đức, vì dẫu sao cũng là chồng của em mình, nhưng tước bỏ tước bá và thân phận bối tử của Ân Đức, chỉ cho thừa hưởng chức khinh xa đô uý bậc ba do tổ phụ để lại.
Phong Thân Nghi Miên cũng bị tước bỏ mọi chức vụ, chỉ còn hưởng chức Khinh xa đô uý bậc ba do tổ phụ để lại.
Công chúa Hoà Hiếu thật cương nghị, thật kiên cường, một mình chèo chống trong biển cả đau buồn mênh mông. Nhà cửa, vườn Thục Xuân, kể cả ở Thừa Đức, một nửa để lại cho công chúa. Người nhà Hòa Thân, trừ mấy tên gian ác, đều được Gia Khánh ban tặng cho công chúa, nói cách khác nhờ sự che chở của công chúa.
Phong Thân Ân Đức, dù được công chúa Hoà Hiếu yêu chiều thế nào chăng nữa, lòng vẫn cứ băng giá, tinh thần đờ đẫn, mất đi tất cả niềm tin, và chẳng còn chút hy vọng nào vào tương lai.
Nghĩa trang tại thôn Lưu ở Kê Châu, không có tùng bách xanh tươi, chỉ có một cái sân nhỏ, mấy túp nhà cỏ thấp lè tè. Phong Thân Ân Đức lén lút đưa một tiểu thiếp và một thị nữ đến đấy. Đúng là Ân Đức tự dày vò mình .
Một hôm, Ân Đức ngồi trong sân nhìn thấy một chú chim sẻ ngúc ngắc cái đầu, rỉa cọng rơm trên mặt đất. Ân Đức từng bước một nhẹ nhàng bước đến, dang tay ra định bắt, đúng lúc ấy, chú chim sẻ vỗ cánh bay vút lên trời.
Ân Đức nhìn ra cánh đồng bốn phía, lúa xanh mơn mởn, hoa cải một màu vàng rực, chim chóc líu lo, ong bướm bay lượn, lòng Ân Đức bỗng tê tái, nước mắt tuôn rơi, và chẳng muốn ngắm nhìn cảnh vật, quay vào túp nhà cỏ, làm một bài thơ.
Tự vịnh
Sớm cùng đi theo bầy
Chiều cũng đi theo bầy.
Vinh hoa trong chớp mắt,
Cầu mong để làm gì?
Hình hài cùng áo mũ,
Tướng giả trên Sân tuồng.
Khác gì người nằm ngủ,
Mơ mà chẳng biết mơ.
Ân Đức đi một vòng, lại làm một bài thơ, nhưng viết đến câu “Công danh sự nghiệp như ảo ảnh. Xương thịt vùi sâu dưới nấm mồ”, thì không viết nữa. Ân Đức nhìn người tiểu thiếp và thị nữ bên cạnh, đang buồn rầu nhìn mình. Ân Đức bảo :
- Mang rượu đến đây.
- Ngạch phò, sao chàng tự dày vờ mình như thế ! Không nên uống nữa. Người tiểu thiếp rơi lệ.
Ân Đức ôm lấy bình rượu, uống điên cuồng, người tiểu thiếp không chịu được, giật lấy bình rượu.
Ân Đức nhìn trân trân nàng, cứ thế nhìn mãi, ánh mắt ngây dại, man rợ đó khiến nàng lo sợ, nàng lùi lại, dựa vào tường. Bỗng, Ân Đức ôm nàng vào lòng, xé toạc áo quần nàng, đè nàng lên mặt đất. Nàng sợ quá thét to :
- Không được, không được ! Tội chết đấy!
- Chết ! chết ! Ta muốn chết đây ! Ân Đức hậm hực, như điên như cuồng.
Người tiểu thiếp đành chịu, để cho Ân Đức mặc sức muốn làm gì thì làm.
Theo quy định của Triều Thanh, trong thời gian để tang Hoàng đế, người chịu tang không được đeo phù hiệu của gia đình, không được treo đèn kết hoa, không được cưới xin, không được quan hệ nam nữ, không được chơi, yến tiệc, nam không được mặc áo đỏ, nữ không được cài hoa trên đầu. Phong Thân Ân Đức là phò mã, trong thời gian để tang Càn Long, sao không kiêng cữ. Phong Thân Ân Đức lại còn chịu tang Hòa Thân, cha mình. Bao nhiêu triều đại, trong thời gian chịu tang tuyệt đối cấm gần nữ, tuyệt đối cấm đưa thê thiếp vào nghĩa trang. Phong Thân Ân Đức điên rồi, vứt bỏ mọi điều cấm kỵ, làm điều xằng bậy.
Suốt ngày, bầu bạn với rượu, cùng với tiểu thiếp, thị nữ dâm đãng, một đêm trăng, Ân Đức lệnh cho cả hai tiểu thiếp và thị nữ cởi tất cả áo quần, nhảy múa trong sân, vỗ vào mông hai người, lúc cười lúc khóc, lúc ngâm nga “hôm nay có rượu say”, lúc gào thét “Ngửa mặt cười to ra khỏi cửa, chẳng lẽ đời ta toàn rác rưởi”.
Một hôm Ân Đức nhận được thư người anh rể, lời lẽ uỷ mị yếu đuối. Anh ta là cháu họ của Càn Long, được phong làm bối lặc, bị mất chức tước trong vụ Hòa Thân. Ân Đức làm bài thơ an ủi anh rể là Vĩnh Vân. Bài thơ “Tặng anh rể Lệ Trai” (Lệ Trai là biệt hiệu của Vĩnh Vân).
Chớ chê miền núi quá đìu hiu,
Hơn hẳn thị thành ồn ào đấy.
Tự do tự tại thật thần tiên,
Chẳng việc gì làm vui với mộng
Nhà tranh rào trúc niềm vui thú
Gió mát trăng thanh chẳng phải mời.
Áo vải cơm rau ta tự nguyện
Có hoa có rượu đủ vui rồi.
Ân Đức tiếp tục phóng đãng, mượn rượu và đàn bà để huỷ hoại cuộc đời.
Một hôm, người tiểu thiếp bỗng vừa khóc vừa nói:
- Thiếp đã có mang, ngạch phò xem thế nào đây ?
Ân Đức nghe nói bụng nàng đang mang hạt giống của mình, lòng càng buồn thương gục đầu lên bụng nàng khóc đến quá nửa đêm, khóc đến ngủ lịm đi.
Ân Đức thở hổn hển, tay cầm cốc rượu, mồm khạc ra một bãi máu, đầu choáng, mắt hoa, tai ù. Ân Đức đã mắc bệnh hen và lao nặng, hai tai nghễnh ngãng. Người tiểu thiếp và thị nữ quỳ xuống khóc than: “Chàng hãy vì đứa con trong bụng mà thay đổi tính nết đi, phải chăng chàng muốn giết đứa con mà chàng chưa nhìn thấy mặt ư? “Choang”, cốc rượu rơi vỡ dưới đất. Ân Đức lúc ấy cũng hôn mê ngã nằm trên sàn nhà.
Từ đó về sau, không uống rượu nữa, lại trở lại làm thơ múa kiếm. Không lâu, người tiểu thiếp sinh ra một bé gái, nhìn thấy cốt nhục của mình, Ân Đức vui buồn lẫn lộn. Công chúa đã sinh ra một bé trai nhưng không lâu chết yểu. Bé gái này là cốt nhục duy nhất. Nhìn đứa con, Ân Đức dần dần kiên cường trở lại, cuộc sống dần dần tươi vui lên, còn hy vọng vào tương lai.
Tinh thần trách nhiệm khiến Ân Đức ý thức được rằng, mình có thể chết nhưng còn con, hãy vì máu mủ ruột thịt của mình, không thể chết được, không thể chết quá sớm được.
Năm Gia Khánh thú 8, người quản gia của phủ công chúa Hoà Hiếu là Khuê Phúc bị cho thôi việc. Khuê Phúc cho là do Phong Thân Ân Đức, nên căm tức, tố cáo với Ôn Bố, đại thần phủ nội vụ rằng, Phong Thân Ân Đức lén lút tập võ, mưu đồ phản nghịch, từng bỏ thuốc độc vào bát ăn của công chúa, định giết hại công chúa, trong thời gian quốc tang, đưa tiểu thiếp và thị nữ vào nghĩa trang và đã sinh được một cô con gái nay đã 4 tuổi.
Hoàng đế Gia Khánh lệnh cho đại học sĩ Đổng Hạo, đại thần phủ nội vụ Ôn Bố, đại thần Lưu Kinh Vương và Đường Quan bộ Hình xét hỏi. Kết quả xét hỏi làm rõ sự việc, Phong Thân Ân Đức âm mưu đầu độc công chúa là bịa đặt vu khống. Việc trong thời gian quốc tang, người tiểu thiếp sinh con gái, Ân Đức công nhận không chối, nhân việc này, Hoàng đế Gia Khánh ra một đạo dụ, công bố trước thiên hạ :
“Khi Ôn Bố tấu báo vụ án này, Trẫm biết ngay là bịa đặt vu cáo, nhưng mưu đồ phản nghịch là vấn đề rất quan trọng, nếu để lộ ý Trẫm, dù xét hỏi thấy rõ sự thực là vu khống, người ngoài không biết lại nghĩ sai, cho là Trẫm quá nhân từ, không cho giam ngay vào đại ngục; đại thần chịu trách nhiệm xét hỏi dường như có ý muốn làm vừa lòng; như vậy khó xoá bỏ nghi ngờ của mọi người một khi đã luận tội. Trẫm đã cử ngay Đổng Hạo và đại thần Lưu Kinh Vương cùng nhau thẩm vấn làm rõ sự thật. Theo tấu báo liên tiếp mấy ngày liền của đại thần Lưu Kinh Vương, thì Phong Thân Ân Đức thừa nhận trong thời gian quốc tang, người tiểu thiếp có sinh một bé gái; việc đầu độc công chúa là không đúng sự thật. Ngạch phò và công chúa sống hoà thuận như vậy rõ ràng là vu cáo. Việc tập luyện võ nghệ đã trở thành thói quen ren luyện thân thể bắt đầu có từ năm Càn long thứ 59, chứ không phải mới bây giờ. Còn việc làm thơ văn, Bảo Ngưng đã kiểm tra, thấy phần lớn bài viết trước năm Gia Khánh thứ ba, chỉ có bài “phú con nhặng xanh” làm vào lúc trồng cây trong nghĩa trang bỗng nghe có tiếng nói chuyện về công trình dội vào từ bên ngoài, bực tức mà làm bài thơ; kiểm tra kỹ không thấy có câu nào mang ý phản nghịch. Rõ ràng, Khuê Phúc, bị buộc thôi việc đem lòng oán hận, đặt chuyện vu khống. Nay xác định Phong Thân Ân Đức không có mưu đồ phản nghịch. Chỉ có mỗi tội mang tiểu thiếp và thị nữ vào nghĩa trang, sinh con trong thời gian quốc tang, thật vô liêm sỉ táng tận lương tâm. Trước đây đã tước bỏ mọi chức tước, quản thúc tại gia, lệnh phải đóng cửa nằm nhà suy nghĩ, trừng phạt như vậy đã đáng tội rồi, còn lại đều thuộc tội nhẹ không cần phải bàn nữa”.
Tháng 2 năm Gia Khánh thứ 15, Phong Thân Ân Đức do bệnh hen và lao quá nặng mất vào tháng 5, thọ 36 tuổi. Lúc chết, con gái đầu lòng 11 tuổi, con gái thứ mới 5 tuổi. Trước lúc lâm chung, Hoàng đế Gia Khánh nhớ lại lúc thường Ân Đức làm việc cẩn thận chu đáo, nên ban cho tước công. Trong thời gian bị bệnh, Gia Khánh cử đại thần đến thăm hỏi, ban cho trà rượu an ủi.
Khi Ân Đức qua đời, Gia Khánh cử Anh Hoà dẫn 10 thị vệ đến viếng và ban cho chăn đa-la-kinh; ban cho công chúa 5.000 lạng bạc, để lo liệu việc ma chay.
Linh cữu Phong Thân Ân Đức do Phong Thân Nghi Miên đưa về Kê Châu. Thấy anh họ mình đi trước Phong Thân Nghi Miên vô cùng đau buồn, làm hai bài thơ điếu sau đây:
1. Nối bước ông cha nghiệp sách đèn,
Rạng danh công đức tổ tông nhà.
Ai ngờ còn lại độc thân này,
Một mình gánh nặng cả hai vai.
2. Giá kia vạn cuốn chất thêm vào,
Cũng chỉ ngồi đây than với trời.
Đáng thương hai đứa con thơ dại,
Một còn xoã tóc một chạy chơi.
Phong Thân Nghi Miên cũng suốt ngày rượu gái để giải sầu, mấy năm sau, sức khoẻ sa sút, rồi chết, lúc chết, để lại một cô con gái và một cậu con trai còn thơ dại mới 4 tuổi.
Công chúa Cổ Luân Hoà Hiếu được sự quan tâm của hai triều vua, Gia Khánh và Đạo Quang. Ngày 10 tháng 9, năm Đạo Quang thứ 3, công chúa bệnh nặng qua đời, thọ 49 tuổi. Hoàng đế Đạo Quang cấp tiền lo liệu ma chay công chúa và đích thân đến linh đường viếng công chúa.
Công chúa có một con trai, tên là Phúc Ân, được triều đình quan tâm.
Con rể của Hòa Thân là bối lặc Vĩnh Vân, con cháu đầy đàn. Mãi đến những năm cuối triều Thanh, những người lớp sau mới hăng hái bước vào con đường chính trị. Con rể của Hòa Lâm là quận vương Miên Khánh chết lúc 25 tuổi, có con hay không không rõ.