Hoàng Đế Cuối Cùng

Lượt đọc: 11495 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II - (5)
vú nuôi tôi

Trong bản “ghi sinh hoạt” ngày 15 tháng giêng năm thứ năm Tuyên Thống, Lương Đỉnh Phần có đoạn ghi chép: “Hoàng thượng thường đánh thái giám, gần đây vin lỗi nhỏ đánh 17 người, thần và Trần Bảo Lương cùng những người khác can, không nghe”. Đó là nói khi tôi đã mười một tuổi, đánh mắng thái giám đã thành cơm bữa trong nhà.

            Mỗi lần tôi cáu giận hoặc không vui, thái giám liền gặp tai hoạ, còn nếu tôi bỗng nhiên phấn khởi, muốn bày trò vui thái giám cũng có thể ăn đòn. Khi còn nhỏ, tôi có nhiều ham thích quái gở. Ngoài thú chơi lạc đà, nuôi kiến, nuôi giun, xem súc vật cắn nhau... thú vui lớn hơn của tôi là hay bày trò chơi ác. Trước khi tôi biết dùng “Phòng kính sự” để đánh người, nhiều thái giám đã khốn khổ vì những trò chơi ác của tôi. Một lần, khi khoảng tám chín tuổi, tôi bỗng ra oai với những người thái giám cung cúc vâng lời ấy, muốn thử một chút xem họ có thật vâng lời “Thánh thiên tử” hay không, tôi chọn một thái giám, trỏ một vật nhơ bẩn trên mặt đất và bảo: “Ngươi hãy ăn đi giúp ta”, viên thái giám đã qùy phục xuống đất ăn hết vật nhơ bẩn đó.

            Một lần tôi dùng vòi chữa cháy phun nước chơi. Đúng lúc đó, một thái giám già từ phía trước đi tới. Tôi bỗng nảy trò chơi ác, dùng vòi nước lạnh chết người phụt vào ông ta, sau đó phải qua một cuộc cấp cứu mới cứu sống viên thái giám già.

            Trước những người luôn luôn nghênh đón, cung cúc vâng lời đó, tạo cho tôi một thói xấu là hành hạ người khác để mua vui. Các thầy dạy học cũng can ngán, giảng giải cho tôi về đạo nhân hoà, nhưng cũng chính họ đã thừa nhận uy quyền của tôi và giáo dục uy quyền đó cho tôi. Mặc dù họ đã dùng biết bao nhiêu chuyện về “thánh quân, anh chúa” trong lịch sử để giáo dục tôi, nói đi, nói lại, tôi vẫn là vị hoàng đế “khác biệt người thường”, nên sự khuyên dạy của họ chẳng có mấy hiệu quả.

            Trong cung chỉ có một người có thể ngăn cản tôi bày trò tai ác, đó là Vương Tiêu thị, vú nuôi tôi. Vú nuôi là người đàn bà không biết một chữ nào, không biết nói về “đạo nhân từ”, về chuyện “thánh quân anh chúa” trong lịch sử nhưng khi bà can, tôi cảm thấy không thể trái lời bà.

            Một lần, một thái giám biết trò chơi múa rối, biểu diễn cho tôi xem một cảnh múa rối. Tôi xem rất thích thú, quyết tâm thưởng cho y một miếng bánh trứng gà. Lúc đó, cái thú chơi ác của tôi bỗng hứng lên, định trêu y một cái. Tôi mở cái túi đựng mạt sắt, bốc một nhúm nhét trong miếng bánh, Vú trông thấy liền hỏi: “Ông lớn nhét mạt sắt vào thì người ta ăn làm sao được?”.

            - Tôi muốn xem hắn nhai bánh trứng gà ra sao?

            - Thế thì có gẫy răng không? Răng gãy thì còn ăn thứ gì được nữa. Người không ăn có được không?

            Tôi nghĩ, bà nói đúng nhưng tôi không mua vui được. Tôi nói:

            - Tôi muốn xem răng hắn gẫy thế nào, để xem một chút thôi.

            - Thế thì dùng đậu xanh, nhai đậu xanh cũng buồn cười dấy .

            Thế là viên thái giám biết múa rối ấy thoát được tai nạn.

            Một lần khác tôi chơi súng hơi, dùng dạn chì bắn vào các cửa sổ nhà thái giám, thấy giấy dán cửa sổ thủng lỗ tôi thích lắm, không biết ai đã đưa Vú đến.

            - Ông lớn ơi, trong nhà có người, bắn vào sẽ làm người ta bị thương đấy.

            Chỉ có vú bảo tôi: người khác và tôi đều là người. Không những tôi có răng, người khác cũng có răng. Không những chỉ răng tôi không nhai được mạt sắt, người khác cũng không nhai được. Không phải chỉ tôi ăn cơm, người khác không ăn sẽ đói. Người khác cũng có cảm giác, da thịt người ta bị đạn chì bắn vào cũng đau như thế. Những lời nói giản dị ấy không phải tôi không hiểu nhưng trong hoàn cảnh ấy, tôi không dễ dàng nghĩ tới vì điều căn bản tôi nghĩ rằng mình không thể đem so với người khác, càng không thể đem mình và người khác để nói. Từ nhỏ đến lớn tôi ở trong cung, chỉ khi có vú, tôi mới được nghe bà nói những lời giản dị khiến tôi nghĩ đến lẽ phải là tôi cũng như mọi người khác.

            Tôi lớn lên trong lòng vú, bú sữa bà cho đến năm chín tuổi. Chín năm đó tôi không thể rời bà như con không thể rời xa mẹ. Năm tôi lên chín, các thái phi đã phản tôi đuổi bà đi. Khi đó, tôi thà bỏ cả bốn bà mẹ trong cung đế đổi lấy bà vú “quê mùa” của tôi. Nhưng mặc tôi gào khóc, các thái phi không tìm vú về cho tôi. Nay xem ra, từ sau khi vú đi, cạnh tôi không còn một người nào hiểu “tính người”. Nếu như trước chín tuổi, tôi còn hiểu được chút “tính người” từ sự nuôi dạy của vú thì chút “tính người” đó từ sau cũng dần dần mất hết.

            Sau khi lấy vợ, tôi cử người đi tìm thấy bà vú, có khi đón bà ở chơi ít ngày. Cuối thời ngụy Mãn, tôi đón bà đến Trường Xuân nuôi nấng cho đến khi tôi rời Đông Bắc. Bà chưa hề lợi dụng địa vị đặc biệt của mình để đòi hỏi một điều gì. Tính bà hiền hoà, không hề cãi cọ với ai bao giờ. Bà ít nói, cũng có thể nói bà thường trầm lặng. Nếu không có người khác chủ động nói với bà, bà thường luôn luôn trầm lặng mỉm cười. Lúc nhỏ, tôi thường cảm thấy lạ lùng về kiểu mỉm cười đó. Mắt bà hình như chăm chú nhìn vào một nơi rất xa xôi. Tôi thường nghi ngờ hay là bà nhìn thấy vật gì thú vị, trên trời hoặc trong tranh vẽ trên tường ngoài cửa sổ. Bà chưa bao giờ nói về lai lịch, thân thế của mình. Mãi tới khi tôi được đặc xá, hỏi thăm người con kế của bà mới biết người đàn bà dùng sữa của mình nuôi vị “hoàng đế Đại Thanh” đã phải chịu đựng biết bao gian khổ và tủi nhục của triều “Đại Thanh” như thế nào.

            Năm thứ 13 Quang Tự (1887), bà sinh ra trong một gia đình bần nông họ Tiêu ở nông thôn huyện Nhiệm Khâu, phủ Hà Gian, Trực Khang. Khi đó, bà có cha mẹ và một người anh lớn hơn bà sáu tuổi, cha bà khoảng năm mươi tuổi, trồng trọt mấy mẫu đất bài, trời không mưa thì hạn, mưa thì ngập úng, cộng với sưu cao thuế nặng nên năm nào cũng thiếu ăn. Năm bà lên ba (năm thứ 16 Quang Tự), phía bắc Trực Khang xảy ra nạn lụt lớn, cả nhà bà mấy lần định vứt bỏ bà, mấy lần lại được bỏ vào gánh sọt rách, một đầu là quần áo cũ, tài sản của cả gia đình,không có lấy một hạt gạo. Sau này kể chuyện với con mình, bà không hề oán trách cha mình về việc bà có nguy cơ bị vất bỏ trong cơn hoạn nạn, chỉ nói đi nói lại rằng cha bà đã đói đến mức không cử động được nữa vì không kiếm được thứ gì ăn. Những người gặp trên đường cũng trong tình cảnh ấy. Một nhà bốn người; cha, mẹ, con trai lên chín, con gái lên ba rõ ràng  khó mà tới được Bắc Kinh. Họ vốn định tìm đến một nhà người quen đang làm thái giám ở Bắc Kinh, không ngờ viên thái giám đó không chịu tiếp nên họ phải lang thang như những người ăn mày trên đường phố. Trong thành Bắc Kinh có hàng nghìn, hàng vạn dân chạy nạn sống vật vờ trên các đường phố. Cùng lúc đó, trong triều đình lại huy động của cải, nhân lực xây vườn Di Hoà cho Từ Hy thái hậu. Trong cuốn “Quang Tự triều Đông Hoa lục” có thể tìm thấy đoạn ghi chép như sau: năm đó, ông nội qua đời, Tây thái hậu cử đại thần ban lễ tang, cha tôi kế lập tước vương. Số bạc của Thuần vương phủ dùng tổ chức lễ tang như nước chảy. Cha tôi đội ơn tập tước bỏ số bạc do những người dân chạy nạn bằng mồ hôi nước mắt tạo ra mua mấy con hầu. Gia đình họ Tiêu muốn bán con gái nhưng không có ai mua. Khi đó, Phủ Doãn Thuận Thiên sợ dân nổi loạn nên đã mở một trạm tế bần nên họ tạm thời có chốn nương thân. Người con trai chín tuổi được một thợ cắt tóc nhận làm thợ học việc. Họ trải qua một mùa đông khó khăn như vậy. Mùa xuân tới, nông dân lưu lạc nhớ quê hương, trại tế bần đóng cửa nên đều lần lượt trở về quê nhà. Gia đình họ Tiêu về đến quê hương trải qua mấy năm đói rét. Tai hoạ liên quân tám nước năm Mậu Tý lại giáng xuống hai phủ Bảo Định và Hà Gian, cô bé lúc đó đã mười ba tuổi, lại chạy tới Bắc Kinh nương nhờ người anh làm thợ cắt tóc. Nhưng người anh cũng không còn cách nào nuôi nổi em. Đến năm cô mười sáu tuổi đã nửa gả, nửa bán cho sai dịch họ Vương. Chồng bị bệnh phổi, sống phóng túng. Cô chịu cảnh ba năm làm con ở,  chịu nhục đánh đập, vừa mới sinh được con gái thì chồng chết. Hai mẹ con cùng cha mẹ chồng, một nhà bốn miệng ăn lại lâm vào cảnh đường cùng. Khi đó, tôi mới ra đời, Thuần vương phủ đi tìm vú nuôi tôi, trong số mười hai người ứng tuyển, bà được trúng tuyển vì thể mạo đoan chính, sữa tốt. Vì cần tiền để nuôi sống con gái và mẹ chồng, bà phải nhận điều kiện khuất phục là không được về nhà, không được thăm con mình, mỗi ngày phải ăn một bát thịt nhạt. Hai lạng bạc biến một con người thành con bò sữa.

            Sau ba năm làm vú nuôi tôi, con gái bà chết vì không đủ dinh dưỡng. Để tránh việc bà vì thương cảm ảnh hưởng tới chất lượng sữa, Thuần vương phủ bịt kín tin này.

            Năm thứ chín, một thái giám cãi nhau với người ở gái, Thái phi quyết định đuổi họ, nhân thể đuổi cả vú nuôi tôi. Con người hiền thục chịu đựng tất cả, sau chín năm thường mỉm cười và trầm mặc ấy mới biết con gái mình không còn trên đời nữa.

« Lùi
Tiến »