Vào lúc bình minh, Tử Cấm Thành đôi lúc có hiện tượng kỳ lạ, ở trong thâm cung nhưng vẫn nghe thấy những tiếng động xa xa ngoài đường phố. Có tiếng rao lanh lảnh của trẻ con đi bán hàng, có tiếng lóc cóc của bánh xe vận tải bằng gỗ, có lúc còn nghe thấy tiếng hát của quân lính. Các thái giám gọi đó là tiếng “Vang thành”, sau khi rời khỏi Tử Cấm Thành tôi thường nhớ lại hiện tượng “Vang thành” khiến tôi kinh ngạc này. Tiếng “Vang thành” để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất là mấy lần nghe thấy đội quân nhạc hoà tấu trong Trung Nam Hải.
Viên Thế Khải ăn cơm, thái giám tổng quản Trương Khiếm Hoà một lần nói với tôi: “Viên Thế Khải khi ăn cơm còn tấu nhạc, thật là “Chuông kêu tiệc mở”, so với Hoàng thượng còn oai vệ hơn”. Môi Trương Khiếm Hòa mím lại, nét mặt hầm hầm giận dữ. Khi đó tôi mới khoảng chín tuổi nhưng qua giọng nói và nét mặt của ông ta tôi cũng đã cảm thấy đắng cay chua xót. Tiếng quân nhạc đưa tôi vào cơn mê nhục nhã không sao chịu nổi. Những thức ăn bày ra trước mặt Viên Thế Khải so với Thái hậu còn nhiều hơn, rõ hàng đoàn người vây quanh hắn, tấu nhạc, phe phẩy quạt...
Tuy nhiên cùng có tiếng “Vang thành” khác dần dần khiến tôi cảm thấy vô cùng phấn khởi. Tiếng vang thành này là tôi nghe thấy từ miệng các thầy học ở cung Dục Khánh. Đó là những truyền thuyết có liên quan đến việc phục tích.
Phục tích - theo cách nói trong Tử Cấm Thành là “phục hồi cơ nghiệp của tổ tiên”, theo cách nói của các di lão và cựu thần là quang phục cố vật, trả lại chính quyền cho nhà Thanh”, những hoạt động này không chỉ bắt đầu từ “sự kiện Đinh Tỵ” mà mọi người đều biết, cũng không phải kết thúc từ “Âm mưu Giáp Tý” đã bị phát giác vào năm thứ 13 Dân quốc. Có thể nói, từ khi công bố chiếu thoái vị đến khi thành lập “đế quốc Mãn Châu” việc phục tích không bao giờ ngừng. Mới đầu, tôi được người lớn chỉ đạo đúng vai diễn, về sau, tôi hoạt động theo bản năng giai cấp của mình. Khi tôi còn nhỏ, trực tiếp chỉ đạo tôi là các thầy học, phía sau họ tất nhiên còn có các đại thần phủ nội vụ cũng như “cha Vua” (họ gọi cha tôi như thế) người được sự đồng ý của Tổng thống Dân quốc mời đến chăm sóc hoàng thất. Tinh thần hăng hái của họ không kém bất cứ ai ở ngoài Tử Cấm Thành song về sau tôi dần dần biết rõ lực lượng thực tế để thực hiện lý tưởng phục tích không phải là bản thân họ. Ngay chính họ cũng hiểu rõ điều này. Nói ra có vẻ khôi hài nhưng lại là sự thật: hy vọng của Tử Cấm Thành đặt vào các nhà quý tộc mới thay nhà Thanh thống trị thiên hạ. Nhân vật đầu tiên được gửi gắm ảo tưởng này là Đại tổng thống Viên Thế Khải. Cho đến nay, tôi vẫn còn nhớ rõ trong Tử Cấm Thành đã từ chỗ tuyệt vọng đến chỗ cảm thấy hy vọng, khiếp sợ biến thành vui mừng như thế nào? Trong một thời gian ngắn đó không khí trong cung thay đổi đột ngột như vậy khiến đứa trẻ chín tuổi như tôi cũng rất kinh ngạc.
Tôi còn nhớ khi Thái hậu còn sống trong cung rất khó nhìn thấy một nét mặt tươi cười. Các thái giám đều nơm nớp sợ hãi, hầu như tai họa giáng xuống bất cứ lúc nào. Khi đó tôi chưa chuyển đến điện Dưỡng Tâm, còn ở trong cung Trường Xuân của Thái hậu. Khi tôi đến thỉnh an Thái hậu, thường thấy bà lau nước mắt. Có một lần, tôi đi dạo ở đường Nhị Trường phía Tây, thấy hàng đoàn thái giám đang chuyển vận các thứ bày trong điện Thể Nguyên như chuông tự kêu, những chiếc lọ lớn... Trương Khiếm Hòa mặt nhăn nhó than thở:
- Đây là Thái hậu bảo chuyển đến Di Hoà Viên. Đến Di Hoà Viên không biết sẽ ra sao?
Khi đó, thường xảy ra việc thái giám bỏ trốn. Các thái giám đều bảo nhau: đến Di Hoà Viên, bọn chúng ta đến sẽ không thể sống nổi. Cả ngày Trương Khiếm Hoà ca cẩm về việc này. Mỗi lần ca cẩm tất nhiên lại nói an ủi tôi: “Bề trên đến đó, kẻ tôi tớ này sẽ đi theo bảo giá, quyết không như bọn nhát gan”.
Năm mới Dân quốc năm thứ hai, không khí lại bắt đầu thay đổi. Ngày trừ tịch Tết dương lịch, thầy Trần đến cung Dục Khánh, thái độ khác thường, không cầm lấy bút, sách, trái lại mỉm cười nhìn tôi một lúc rồi nói:
- Ngày mai tết nguyên đán, Dân quốc đến chúc mừng năm mới Hoàng thượng, đó là người đại tổng thống cử tới.
Phải chăng đây là lần đầu tiên ông chỉ dẫn tôi về công việc chính trị, tôi không còn nhớ nữa, nhưng vẻ đắc ý của ông hôm đó có thể là lần đầu tiên tôi phát hiện. Ông bảo tôi: lần tiếp lễ quan Dân quốc này dùng nghi lễ triều kiến bề tôi bên ngoài, không cần nói chuyện, đã có Thiệu Anh, đại thần phủ nội vụ sắp xếp mọi việi, tôi chỉ cần ngồi ở sau long án chứng kiến là được.
Đến ngày nguyên đán, tôi mặc long bào, đội mũ miện, ngồi đàng hoàng trên ngai ở cung Càn Thanh. Đứng hai bên là đại thần ngự tiến, Ngự tiền hành tẩu và ngự tiền thị vệ mang đao. Lễ quan Chu Khởi Linh do tổng thống cử đến tiến vào cửa điện, sênh sang vái tôi một vái, bước lại phía trước mấy bước và đứng lại, lại vái một vái, tiến đến trước ngai tôi lại kính cẩn vái ba vái. Sau đó đọc lời chúc mừng tôi. Mừng xong, Thiệu Anh tiến lên đài, quỳ trước mặt tôi, từ chiếc hộp gỗ thếp vàng đặt trên án thư trước mặt, tôi lấy ra bản lời đáp đã viết sẵn đưa cho y. Thiệu Anh đứng lên, quay mình về phía Chu Khởi Linh đọc một lượt, sau khi đọc xong trao lại cho tôi. Lúc đó Chu Khởi Linh lại vái lạy, lui ra khỏi điện.
Sáng sớm hôm sau, không khí càng thay đổi hơn. Trước hết là giọng rõ ràng của Trương Khiếm Hoà cạnh giường tôi, tiếp đến là trong cung Dục Khánh thầy Trần mỉm cười vuốt chòm râu bạc phơ gật gù nói:
- Điều kiện ưu đãi treo ở phủ được các nước công nhận, ngay ông tổng thống cũng không thể nhắm mắt làm ngơ.
Qua năm mới không lâu, gần tới ngày sinh nhật của tôi, ngày 13 tháng giêng đại tổng thống Viên Thế Khải lại cử lễ quan đến chúc mừng theo nghi lễ. Qua sự kính trọng như vậy của Viên Thế Khải, các vương công đại thần năm Dân quốc nguyên niên một dạo đã im hơi lặng tiếng lại cân đai mũ, mãng, thậm chí khôi phục cả gióng ngựa mở đường đi kiệu có nghi trượng. Trước Thần Vũ môn và Tử Cấm Thành nhộn nhịp tấp nập một thời gian. Năm thứ nhất Dân quốc khi đến Tử Cấm Thành phần lớn những người này đều mặc thường phục, sau khi vào trong thành mới đổi mặc triều phục. Từ năm thứ hai Dân quốc, họ lại dám mặc triều phục đàng hoàng đi trên đường phố lớn.
Hoàn toàn khôi phục không khí phồn vinh trong thành là ngày mừng thọ và ngày lễ tang Long Dụ thái hậu; 15 tháng 3 là ngày mừng thọ. Sau bảy ngày thì bà qua đời. Trong ngày mừng thọ, Viên Thế Khải cử bí thư trưởng Lương Sĩ Thai đến đọc lời chúc mừng, quốc thư viết rành rọt: “Đại tổng thống đại Trung Hoa Dân quốc kính gửi Đại Thanh Long Dụ thái hậu bệ hạ!” Sau khi Lương Sĩ Thai ra về, thủ tướng quốc vụ Triều Thừa Quân dẫn đầu toàn thể các thành viên nội các đến làm lễ chúc mừng. Sau khi Long Dụ thái hậu qua đời, cử chỉ của Viên Thế Khải càng cảm động. Ông ta tự đính giải lụa đen trên áo và ra lệnh cho toàn quốc treo cờ rủ nửa ngày, quan chức văn võ để tang 27 ngày, còn cử toàn thể thành viên quốc vụ viện đến tế. Tiếp đó tại điện Thái Hoà đã cử hành cái gọi là lễ truy điệu của lục quân toàn quốc, điều khiển là thượng tướng Đoàn Kỳ Thụy, tâm phúc của Viên Thế Khải. Trong Tử Cấm Thành, trong tiếng khóc cử ai của thái giám, triều phục màu tím của nhà Thanh sát cánh ra vào với âu phục đại lễ của Dân quốc. Những người thân thích được thưởng mặc hiếu phục một trăm ngày khi đó lộ rõ vẻ mặt đắc ý. Điều khiến họ cảm thấy phấn chấn nhất là Từ Thế Xương cũng từ Thanh Đảo về, tiếp nhận nhà Thanh thưởng đeo hai giải mũ hoa lông công.
Sau khi tôi thoái vị, vị thái phó nhà Thanh này chạy xuống Thanh Đảo, nơi người Đức bàn cứ, lấy biệt hiệu “Đông Hải” với ý tứ và có quan hệ với cả hai bên. Ý nghĩa của việc ông ta xuất hiện ở Bắc Kinh tôi sẽ nói ở phần sau.
Tang lễ Long Dụ thái hậu chưa kết thúc, phía Nam đã phát động phong trào trừng phạt. Viên Thế Khải tức là “cuộc cách mạng lần thứ hai”. Không bao lâu, cuộc chiến tranh này kết thúc bằng thắng lợi của Viên Thế Khải. Tiếp đó, Viên Thế Khải huy động quân cảnh bao vây Quốc hội, buộc Quốc hội bầu ông ta làm tổng thống chính thức. Khi đó, ông viết một báo cáo gửi cho tôi bày tỏ sự tuân thủ điều kiện ưu đãi để “Dân quốc được củng cố, năm dân tộc được thuận hoà và để an ủi vong linh của Long Dụ thái hậu đại Thanh trên trời”.
Do một loạt tin tức như vậy, trong các di báo đã có nhiều lời bàn tán.
- Phải chăng Viên Thế Khải là Tào Tháo?
- Năm trước Hạng Thành đã từng nói với Từ, Phạm, Đoàn (Từ Thế Xương, Phạm Ngọc Tường, Đoàn Kỳ Thụy): đối với Dân quốc chỉ có thể dùng trí chứ không thể dùng lực được. Từ, Phạm, Đoàn đáp ứng làm cộng hoà! Có lẽ đó cũng là dùng trí?
- Tôi đã nói từ lâu, chữ “từ” trong “từ vị” trong điều kiện ưu đãi là có ý tứ. Tại sao không dùng thoái vị? Viên Cung Bảo chỉ yêu cầu viết thành từ vị? Người từ vị là tạm thời từ biệt vậy.
- Đại tổng thống nói: “Làm cộng hoà”, làm như thế nào? Cố nhiên làm tức là ý thử làm.
Mùa đông năm đó, an táng Quang Tự và Long Dụ, tại rạp đặt linh cữu ở Lương Cách Trang đã diễn ra một màn kịch sống. Chủ diễn là Lương Đỉnh Phần, con người rất khéo biểu lộ tình cảm. Khi đó ông ta chưa vào cung làm thầy dạy tôi. Vai phụ là Lao Nãi Tuyên, tự coi là Cô thần. Năm thứ ba Tuyên Thống là phó đại thần Bộ học kiêm giám đốc đại học đường Bắc Kinh. Sau Tân Hợi, ông ta trốn ở Thanh Đảo lập ra “Tôn khổng Văn xã” và chủ trì tổ chức này, ở nơi mà người Đức chuyên tập hợp và che giấu họ. Trong màn kịch này, người đóng vai hề làm trò là Tôn Bảo Kỳ, Tuần vũ tỉnh Sơn Đông triều Thanh, thành viên trong Chính phủ Viên Thế Khải, khi đó mới làm tổng trưởng ngoại giao. (Cha Tôn Bảo Kỳ là Tôn Trị Kinh, được các di lão coi là một trong những danh thần thời đại Quang Tự). Ngày hôm đó, một đám thành viên quốc vụ do Triệu Thừa Quân dẫn đầu đã tới. Trước khi tế, Triệu Thừa Quân cởi bỏ lễ phục, đổi sang áo bào triều Thanh, cử hành ba lần quỳ, chín lần vái.
Cô thần Lương Đỉnh Phần rất phấn chấn, cũng chẳng biết tại sao, trong những thành viên quốc vụ đến không mặc áo bào triều Thanh ông ta đã nhìn thấy Tôn Bảo Kỳ. Ông ta chạy tới trước mặt thành viên quốc vụ này, chỉ vào mũi hỏi :
- Ông là ai? Ông là người nước nào?
Bị ông bạn cũ hỏi, Tôn Bảo Kỳ ngây người, những người xung quanh cũng chẳng hiểu ra sao? Tay Lương Đỉnh Phần run run, chỉ Tôn Bảo Kỳ giọng nói càng to:
- Ông quên mình là con Tôn Trị Kinh! Ông đã làm đại thần triều đại Thanh, hôm nay ông mặc quần áo này làm lễ tiên đế, tiên hậu, ông có liêm sỉ không? Ông... là cái thứ gì?
- Câu hỏi hay! Ông là cái thứ gì? - Lao Nãi Tuyên cùng chạy tới. Kẻ hô người ứng dẫn tới như đám đông vây quanh ba người. Tôn Bảo Kỳ tái mặt cúi đầu hốt hoảng nói:
- Đúng, đúng, tôi chẳng ra cái thứ gì! Tôi chẳng ra cái thứ gì!
Sau này thầy Lương mỗi khi nói đến màn kịch đó đều miêu tả có thanh có sắc. Câu chuyện này cùng với “Kết cỏ giữ lăng”, “hiên ngang đuổi thích khách” được coi là những sự tích đắc ý nhất trong cuộc đời ông. Ông đã kể với tôi không biết đến bao nhiêu lần mà mỗi lần kể tình tiết càng hoàn chỉnh, càng giàu tính ly kỳ.
Đến năm thứ ba dân quốc, có người gọi năm đó là năm phục tích. Những sự việc cảm thấy phấn chấn về cô thần ngày càng nhiều. Viên Thế Khải tế Khổng Tử, dùng quan bậc Tam Khanh sĩ đại phu, lập Thanh sử quán, dùng cựu thần nhà Thanh. Đặc biệt điều làm người ta bối rối là việc Triệu Nhĩ Soạn, nguyên tổng đốc Đông Tam Tỉnh được cử làm Trưởng quán Thanh sử. Thầy Trần và nhiều người khác coi hắn là tặc thần. Triệu Nhĩ Soạn cũng tự xưng: “Tôi là quan triều Thanh, tôi viết sử triều Thanh, ăn cơm triều Thanh, làm việc triều Thanh”. Tại Thanh Đảo, Lao Nãi Tuyên, người phụ vai kịch với Lương Đỉnh Phần ở Lương Cách Trang công nhiên viết bài tuyên truyền “Trả lại chính quyền cho nhà Thanh” đồng thời viết thư gửi Từ Thế Xương đề nghị ông ta khuyên Viên Thế Khải. Khi đó, Từ Thế Xương vừa là thái phó triều Thanh đồng thời là Quốc vụ khanh Chính phủ Dân quốc đã đưa bài của Lão Nãi Tuyên cho Viên Thế Khải xem. Viên Thế Khải sai người mang thư gửi Lao Nãi Tuyên, mời ông ta đến Bắc Kinh làm tham nghị, Lương Đình Thám, nguyên giám đốc Đại học đường Bắc Kinh cũng viết một bài “Phục lễ chế quán thư”, lại có một vị làm Hiệp tu Quốc sử quán là Tống Dục Nhân công bố bài nói “trả chính quyền cho nhà Thanh”. Những việc như thế loan truyền một dạo ở các nơi. Nghe nói, trong năm phục tích đó, một tên thổ phỉ nổi tiếng ở Từ Xuyên gọi là Thập Tan ca cũng mặc áo bào triều Thanh, đi kiệu, nghênh ngang tự coi là di lão, chuẩn bị chia hưởng thành quả phục tích.
Trong Tử Cấm Thành, khi đó không ai nói đến việc chuyển nhà nữa. Thế Tục, đại thần Phủ nội vụ, con người cẩn thận, vững trãi muốn làm rõ hơn sự việc còn đặc biệt một lần tìm đến Viên Thế Khải, người anh em kết nghĩ của ông ta. Phấn khởi vì Viên Thế Khải đã nói với ông ta: “Đại ca vẫn chưa rõ, những điều đó chẳng là đối phó với phía Nam hay sao? Thái miếu ở trong thành, Hoàng thượng làm sao rời đi được”. Lại nói: “Ngoài Hoàng thượng còn bảo ai ở hoàng cung?”. Những chuyện này đều do một vị di lão đã làm việc ở Phủ nội vụ mãi sau này mới nói với tôi. Khi đó, Thế Tục và cha tôi hoàn toàn không nói với tôi những việc như vậy, muốn nói thì cũng qua thầy Trần. Cách nói của thầy khi đó là: “Xem ra, tổng thống của họ có vẻ như ưu đãi Đại Thanh, bản diều kiện ưu đãi treo ở minh phủ…”.
Lời các thầy, có vẻ như chưa nói hết. Nay nhớ lại, đó chính là thái độ “thận trọng” có căn cứ. So với các di lão bên ngoài Tử Cấm Thành, sự lạc quan một thời gian biểu hiện bên trong Tử Cấm Thành rõ ràng là thận trọng và có bảo lưu. Mọi cử động của Viên Thế Khải - từ công khai không quên “Vong linh” của Long Dụ đến nhận định riêng tư: “Hoàng thượng không thể rời hoàng cung và thái miếu”, những điều đó cố nhiên mang lại cho những người ngoài Tử Cấm Thành có thể thấy được từ “Viên Cung Bảo” cũng chỉ giới hạn ở đó. Vì vậy, người Tử Cấm Thành không thể biểu hiện phấn chấn quá mức. Đến cuối năm phục tích, khi Bắc Kinh bắt đầu đổi gió, chứng minh sự “thận trọng” ấy rõ ràng có căn cứ.
Luồng gió thay đổi bắt đầu từ một viên quan chính sử đòi tra xét những tin đồn về phục tích. Viên Thế Khải phê án giao bộ Nội vụ “tra xét rõ và xử lý”, tiếp đó Tống Dục Nhân, người diễn giảng về trả lại chính quyền cho nhà Thanh bị thống lĩnh quân bảo vệ bắt giải về nguyên quán. Tin này vừa đưa ra, nhiều người đã hoảng sợ, không còn thấy những bài khuyến khích trả chính quyền cho nhà Thanh nữa. Tuy nhiên mọi người vẫn có chút hoang mang khó hiểu vì Viên Thế Khải đã phê những lời kỳ lạ trên bán cáo của Bộ dân chính về tra xét và xử lý phục tích: “Nghiêm cấm đồn đại phục tích, vụ đã qua không xét”, còn Tống Dục Nhân khi bị giải về quê quán, Viên Thế Khải đã gửi cho 3.000 lạng bạc, dọc đường lại được quân hảo vệ tiệc tùng tiễn đưa khiến người ta không rõ ông ta bị phạt hay được khen thưởng. Mãi đến năm thứ tư Dân quốc, Frank J. Goodnow, cố vấn Mỹ tại Phủ tổng thống phát biểu một bài nói chế độ cộng hoà không phù hợp tình hình Trung Quốc (39) sau đó lại xuất hiện “Trù an hội” (cơ quan thực hành đế chế của Viên Thế Khải), chủ trương cử Viên Thế Khải làm hoàng đế đế quốc Trung Hoa. Điều đó mới quét sạch mây mù, khiến mọi người hiểu rõ Viên Thế Khải muốn phục tích cái gì. Làn gió đã rõ, không khí trong Tử Cấm Thành cũng thay đổi.
Từ lúc tôi nghe thấy tiếng quân nhạc trong tiếng “Vang thành”, ở Trung Nam Hải đang tiến hành sơn phết ba toà diện lớn, từ thềm điện Dưỡng Tâm có thể nhìn rõ những hoạt động của các công nhân trên dàn giáo sơn phết. Trương Khiếm Hoà bảo tôi: đó là để chuẩn bị cho Viên Thế Khải lên ngôi. Sau đó “Du bối tử” (Phổ Luân) đại biểu hoàng thất và tám kỳ đăng biểu khuyến khích Viên Thế Khải, Viên Thế Khải đã hứa thưởng cho y “song phụng thân vương” (ý nói: thân Vương của Tuyên Thống và thân vương của Viên Thế Khải), tiếp đó ông ta lại vào cung hướng thái phi đòi nghi trượng và ngọc tỷ. Những tin này khiến tôi cảm thấy đau lòng, căm giận cũng khiến tôi hoảng sợ. Tuy thầy Trần không muốn nói rõ, tôi cũng hiểu câu nói xưa nay rằng “trời không có hai mặt trời, nước không có hai vua”. Viên Thế Khải tự làm hoàng đế, há còn để một hoàng đế thừa tồn tại ư? Những ví dụ trên lịch sử đã quá nhiều rồi. Thái sử Công đã thống kê “trong thời Xuân thu giết ba mươi sáu vua” cơ mà”.
Trong những ngày đó, động tĩnh của ba điện lớn ngoài cửa Cấm Thành liên quan đến nỗi sợ thầm kín của mỗi người trong Cung. Bất cứ ai đi lại trung tâm đều quan tâm nhìn một chút vào phía đó xem công trình đang sơn phết có quan hệ đến số phận của mình đã xong chưa. Hàng ngày, các thái phi đều đốt hương lễ phật, cận thần hộ quốc “Hiệp thân đại đế quan thánh đế quân” bảo trợ các đại Thanh. Nghi trượng thì cực chẳng đã để Phổ Du mang đi, ngọc tỷ do Hán - Mãn hợp bích không phù hợp với yêu cầu của Viên Thế Khải nên không bị lấy đi.
Khi đó, sự thay đổi ở cung Dục Khánh là rõ nhất, đó là các thầy đặc biệt hoà nhã với Dục Sùng, không thấy ai còn đối xử với anh ta như Bá Cầm. Ở chỗ thái phi, anh ta còn trở thành người tin cậy thường được gọi tới ban thưởng những thứ đồ chơi. Mỗi khi ai nói đến Viên Thế Khải, các thầy dạy đều lừ mắt, ám hiệu tôi im miệng không để Dục Sùng nghe thấy chuyền đến tai cha hắn là Phổ Du.
Có một hôm, Dục Sùng được gọi tới nơi các thái phi, Trần Bảo Thám nhìn ngoài cửa không có bóng anh ta, từ trong áo lấy ra một tờ giấy nói với tôi một cách thần bí:
- Hôm qua xem bói được quẻ dịch, hoàng thượng hãy xem.
Tôi cầm lấy thấy một hàng chữ:
“Kẻ thù của ta tật, không thể thay ta, tốt”.
Ông giải thích: điều đó nói rằng kẻ thù Viên Thế Khải tiền đồ xấu không thể nguy hại tới tôi. Đó là quẻ tốt ông còn đốt mai rùa, sạo cỏ thi, tất cả đều tốt lành, bảo tôi có thể rất yên tâm. Vì vận mệnh của tôi, ông già này đã sử dụng mọi biện pháp đoán mệnh của thời nguyên thuỷ. Vì vậy ông đưa ra kết luận một cách lạc quan:
- Trời gây tai hoạ có thể chống, tự gây tai hoạ không thể sống. Viên Thế Khải hung hăng gây ác như vậy, ắt không thể tốt lành! Kẻ thù của ta có tật, cuối cùng không đáng lo! Huống chi điều kiện ưu đãi cất ở Minh phủ, được các nước công nhận, Viên Thế Khải làm sao dám làm hại tôi?
Để “không thể thay ta” và giữ vững điều kiện ưu đãi, các thầy, cha tôi và các đại thần Phủ nội vụ ngoài hoạt động bói toán, họ tuy không nói với tôi, tôi cũng biết một ít. Họ tiến hành một số giao dịch với Viên Thế Khải, nói một cách đơn giản là do nhà Thanh ủng hộ Viên hoàng đế, Viên hoàng đế thừa nhận điều kiện ưu đãi Phủ nội vụ gửi Viên Thế Khải một công văn chính thức nói: “Hiện quốc thể quân chủ lập hiến do đại biểu quốc dân toàn quốc quyết định và cử đại tổng thống làm đại hoàng đế đế quốc Trung Hoa, vì kế sách bỏ cũ đổi mới, mưu tính trị an lâu dài, hoàng tộc chúng tôi hết sức tán thành”. Công văn này đổi được một đoạn ghi của Viên Thế Khải trong điều kiện ưu đãi:
Chính quyền tiên triều không thể bảo toàn, chỉ giữ tôn hiệu đến nay vẫn như thế. Mọi điều khoản trong điều kiện ưu đãi bất cứ lúc nào cũng không cho phép thay đổi, cho đưa vào hiến pháp.
VIÊN THẾ KHẢI
Mùa Đông năm Ất Mão
Nội dung văn kiện này sau này đều thấy trong : “Lệnh của Đại Tổng thống” ngày 16 tháng 12 năm thứ tư Dân quốc. Trước khi công bố “Lệnh” này không lâu nhật ký của cha tôi cũng có một đoạn ghi chép:
Mùng mười tháng mười một (tức 16 tháng 11 âm lịch) vào cung. Cùng Thế thái phó hội kiến 4 hoàng quý phi bàn việc nên kết thân với đại tổng thống Viên Thế Khải, đều thừa nhận có thể, lệnh trù tính mà biện pháp thoả đáng. Trong cung xem văn kiện bí mật, rất thoả đáng, mọi thứ như cũ...”
Cái gọi là văn kiện bí mật tức là lời bạt Viên Thế Khải tự phê. Cái gọi là kết thân, tức là Viên Thế Khải gọi Giang Hồ Tôn, thống lĩnh bộ binh nói với cha tôi cùng Thế Tục lập con gái ông ta làm hoàng hậu. Các thái phi trong bụng tuy không muốn cũng không thể không theo. Kết quả là, điều kiện ưu đãi đã không được đưa vào hiến pháp, tôi cũng không kết hôn với con gái Viên Thế Khải vì Viên Thế Khải chỉ làm hoàng đế 83 ngày đã chết trong tiếng hô chống Viên Thế Khải.
Chú thích:
(39) Frank J. Goodnow là giáo sư đại học chính trị Mỹ, phát biểu bài nhan đề: “Cộng hoà và dân chủ” nói rằng: “Trung quốc nếu như dùng chế độ quân chủ thích hợp hơn các chế độ cộng hoà” tạo căn cứ lý luận cho Viên Thế Khải thực hành đế chế - (Nguyên chú).