Thời kỳ mới bắt đầu xử lý công việc ở đây, Doihara nguyên là đại tá lục quân Nhật Bản. Tháng 4/1941 lên cấp tướng, cư trú ở Trung Quốc khoảng 18 năm trước sự kiện “18 tháng 9” được xem là người thông hiểu về nội bộ lục quân Trung Quốc. Đối với việc tại Mãn Châu phát động và triển khai cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc cũng như sau đó thiết lập nước Mãn Châu do Nhật Bản chi phối hắn đều có quan hệ mật thiết.
Doihara có nhiệm vụ rất rõ ràng trong việc đảm nhiệm thúc đẩy và chỉ đạo nhiều mưu mô chính trị, gây sức ép bằng vũ lực, hòng dùng vũ lực thực hiện chiến tranh xâm lược mà phái bộ quân đội Nhật áp dụng đối với các nơi khác của Trung Quốc.
“Doihara nguyên là kẻ thiết kế và chỉ đạo các phái bộ quân đội khác, chuẩn bị và thực hành khi Đông Á và Đông Nam Á đặt dưới sự chi phối của Nhật Bản sẽ cùng với họ giữ liên hệ chặt chẽ mà hành động.
“Khi trí thức đặc biệt đối với Trung Quốc và khả năng tiến hành âm mưu hành động tại Trung Quốc không còn cần thiết nữa, hắn liền dựa vào địa vị cấp tướng ở tại chỗ ngăn cản việc thực hiên những mục đích mà bản thân hắn đã từng mưu mô và tham gia. Hắn không những đã tham gia thực hành chiến tranh xâm lược đối với Trung Quốc đồng thời cùng tham gia thực hành chiến tranh xâm lược đối với Liên Xô cũng như các nước, tức là tham gia cuộc chiến tranh xâm lược của Nhật Bản đối với các nước từ năm 1941 đến năm 1945, trừ nước Pháp...”
(Bản phán xử của Tòa án quân sự lục quân Quốc tế Viễn Đông)
Doihara là một trong hai người bị phán xét nhiều tội nhất trong 25 tên tội phạm chiến tranh bị xét xử tại “Tòa án quân sự lục quân quốc tế ở Viễn Đông”. Tội trạng của hai tên như nhau, đều phạm 7 điều về tội “phá hoại hòa bình”, vi phạm quy tắc pháp luật chiến tranh và phạm tội phản nhân đạo trong đó nặng nhất là một điều: tội hạ lệnh cho phép hành động trái công ước.
Đối với những tên tội phạm này, mãi đến tháng 11 năm 1948 tòa án quân sự quốc tế mới xử tội Doihara cùng Itagaki và 5 tội phạm chiến tranh bị tử hình. Doihara là quân nhân Nhật Bản hoàn toàn nhờ xâm lược Trung Quốc mà phất lên. Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan khóa 16 khoa bộ binh và đại học quân sự hắn đã từng làm thành viên bộ tham mưu Nhật bản, Liên đội trưởng Liên đội bộ binh thứ 13, đến Trung Quốc bắt đầu từ năm 1913, phục vụ trong đội quân Quan Đông, hơn 10 năm làm phó quan cho trung tướng cố vấn quân phiệt Đông Bắc Sakamishi Rihachiro. Hắn quan hệ rất mật thiết với Trương Tác Lâm, trong chiến tranh Trực Phụng, năm 1924, hắn huy động quân Quan Đông giúp đỡ Trương Tác Lâm. Năm 1928 quân Quan Đông quyết định tiêu diệt Trương Tác Lâm, trong âm mưu nổ bom giết chết Trương Tác Lâm tổ chức ở Hoàng Cô Đồn cũng có hắn tham gia. Không bao lâu, do lập công, hắn được thăng cấp đại tá, đảm nhiệm chức vụ trưởng cơ quan đặc vụ tại Thẩm Dương. Từ đó bắt đầu những tội ác đã bị kết tội nói trên, bắt đầu tiến lên như diều. Thực ra, nhiều “kiệt tác” của Doihara “bản kết tội” đã không đề cập tới. Ví dụ sự kiện gây rối loạn ở Thiên Tân năm 1931, bùng nổ chiến tranh Nhiệt Hà năm 1932, sự kiện Phong Đài tháng 5 năm 1935, cuộc bạo động của lưu manh Hương Hà tháng 11 và sự xuất hiện chính quyền đặc biệt của Đái - Sát… đều không tách rời những hoạt động của Doihara. Có thể nói, trong thời gian đó, Doihara đi đâu tai họa dáng đến đấy. Đại thể sự thất bại của hắn chỉ có một lần đó là: dưới sự lôi kéo của hắn Mã Chiếm Sơn đã phản quốc, sau lại chống Nhật. Tuy nhiên điều đó cũng không ảnh hưởng gì đến sự thăng tiến của hắn sau này. Hắn bị điều đi làm lữ đoàn trưởng, không bao lâu lại được điều về làm trưởng cơ quan đặc vụ quân đội Quan Đông. Cho đến sự biến ngày “mùng 7 tháng 7”, các tổ chức ngụy quyền mà người Nhật muốn thành lập đều đã được thành lập. Thủ đoạn bạo động, gây rối... đã thay thế bằng những cuộc tiến công vũ trang, Doihara mới bỏ đôi găng tay trắng, nắm ngọn đao chỉ huy, với chức vụ sư đoàn trưởng, quân đoàn trưởng, tổng tư lệnh phương diện quân... thống soái quân Nhật tại đại lục Trung Quốc và Đông Bắc Á tiến hành tàn sát và cướp đoạt. Cứ như vậy, từ trong máu và xác chết, chưa đến 10 năm, từ sự biến “18 tháng 9” hắn đã từ đại tá leo lên cấp đại tướng.
Khi đó về những truyền thuyết đầy rẫy màu sắc thần bí, báo chí phương Tây gọi hắn là ““Lawrence của phương Đông” (tên một trùm đặc vụ nước Anh). Báo chí Trung Quốc nói: hắn quen mặc trang phục Trung Quốc, thông thạo những phương ngôn Trung Quốc. Theo hiểu biết của tôi, những hoạt động của hắn ở Trung Quốc nếu cũng giống như cách hắn khuyến khích tôi xuất quan thì hắn cũng không cần phải khôn ngoan và lừa lọc như truyền thuyết về Laurence mà chỉ cần có bộ mặt trên bàn đánh bạc, có thể biến lời nói dối thành lời nói thật là được.
Lần đó gặp tôi, hắn cũng không mặc trang phục Trung Quốc, chỉ mặc bộ âu phục kiểu Nhật Bản. Tiếng Trung Quốc của hắn cũng không thật thông thạo, để tránh nói sai và nghe sai, hắn còn dùng Yoshida Chitaro làm phiên dịch cho chúng tôi.
Khi đó hắn 48 tuổi, cơ thịt gần mắt đã xuất hiện dấu hiệu nặng húp, dưới mũi có chòm ria nhỏ, nét mặt từ đầu đến cuối mang vẻ tươi tỉnh, ôn hoà và lễ độ. Vẻ tươi tỉnh này cho người ta một cảm giác duy nhất là những lời người này nói ra đều có căn cứ.
Hắn hỏi thăm sức khỏe của tôi, sau đó chuyển vào đề tài chính, trước hết giải thích hành động của quân Nhật là chỉ đối phó cá nhân Trương Học Lương, nói nào là Trương Học Lương “làm loạn Mãn Châu khiến dân hết đường sống”, quyền lợi và sinh mạng, tài sản của người Nhật không được bất cứ sự đảm bảo nào. Do đó, người Nhật mời bắt đắc dĩ phải ra quân”. Hắn nói: quân Quan Đông không có dã tâm nào đối với lãnh thổ Mãn Châu, chỉ là thành tâm thành ý muốn giúp đỡ nhân dân Mãn Châu, xây dựng nhà nước mới của mình”, mong rằng tôi đừng bỏ lỡ thời cơ này, nhanh chóng trở về với đất mà tổ tiên đã dựng nên cơ nghiệp, đích thân lãnh đạo nhà nước này. Nhật Bản sẽ lập đồng minh công, thủ cùng nhà nước này, chủ quyền lãnh thổ của nhà nước này sẽ được Nhật Bản hoàn toàn bảo hộ. Là nguyên thủ quốc gia đó, tôi có thể tự chủ mọi việc.
Giọng điệu thành khẩn của hắn, vẻ tươi cười lễ độ của hắn và tiếng tăm, vai vế của hắn hoàn toàn không cho phép tôi dùng thái độ đối với La Chấn Ngọc và Kaeisumi để đối xử với hắn. Hai vấn đề mà Trần Bảo Thám quan tâm là lo La Chấn Ngọc và Kaeisumi không thể đại biểu cho quân Quan Đông, sợ quân Quan Đông không thể đại diện cho chính phủ Nhật Bản, tôi cho rằng cũng không tồn tại nữa. Bản thân Doihara là nhân vật có vị trí quyết định của quân đội Quan Đông, hơn nữa hắn còn nói như đinh đóng cột: “Thiên hoàng bệ hạ rất tin tưởng vào quân Quan Đông!”
Tâm tư của tôi vẫn còn một vấn đề cực kỳ quan trọng, tôi hỏi:
- Nhà nước mới này là nhà nước thế nào?
- Tôi đã từng nói: là nhà nước độc lập, tự chủ, do hoàng đế Tuyên Thống hoàn toàn làm chủ.
- Không phải tôi hỏi vấn đề đó, tôi muốn biết nhà nước này là cộng hòa hay là đế chế, có phải là đế chế không?
- Về vấn đề này, đến Thẩm Dương có thể giải quyết.
- Không, - tôi nói một cách kiên trì, - nếu là phục tích, tôi sẽ đi, nếu không tôi sẽ không đi.
Hắn cười, giọng không thay đổi nói:
- Đương nhiên là đế chế, điều đó không thành vấn đề.
- Nếu quả là nhà nước đế chế, tôi có thể đi! - tôi tỏ ý hài lòng.
- Như vậy xin hoàng đế Tuyên Thống sớm khởi hành, dù sao cũng phải đến Mãn Châu trước ngày 16. Biện pháp chi tiết đến Thẩm Dương sẽ bàn. Biện pháp khởi hành do Yoshida sắp xếp.
Cũng như lúc đến, hắn cung kính chúc tôi lên đường bình an, vái chào xong liền cáo từ.
Sau khi Doihara đi rồi, tôi tiếp Kim Lương cùng đến với Doihara. Kim Lương báo cáo tin tức về các di lão Đông Bắc do Viên Kim Đăng đứng đầu, nói rằng họ có thể kêu gọi quân Đông Bắc cũ qui phục. Tóm lại, tôi cho rằng hoàn toàn không có vấn đề gì nữa.
Sau khi Doihara đi rồi, Yoshida nói với tôi: không cần phải nói chuyện này với Tổng lãnh sự quán. Về việc lên đường đến Đại Liên, hắn sẽ tự sắp xếp thỏa đáng cho tôi. Lúc đó tôi quyết định, ngoài Trịnh Hiếu Tế sẽ không tìm ai bàn bạc nữa.
Tuy nhiên, tin này còn truyền đi nhanh hơn tin tôi đến trại lính Nhật Bản. Ngày hôm sau, báo chí đều đăng tin về cuộc gặp gỡ giữa tôi với Doihara và còn vạch rõ mục đích chuyến đi này của Doihara. Mấy hôm đó, Trần Bảo Thám vốn không ở Thiên Tân được tin vội vã từ Bắc Kinh quay về, vừa xuống xe lửa thì chạy đến nhà Trịnh Hiếu Tế thăm dò tin tức. Sau đó, chạy tới Tĩnh Viên. Khi đó, đứng lúc Lưu Nhượng Nghiệp vừa gửi một bức điện từ Tokyo tới nói phía quân đội Nhật Bản cho rằng thời cơ tôi ra đi vẫn chưa tới.
Đọc bức điện, tôi thấy không thể không nói lại với Trần Bảo Thám về tình hình cuộc gặp Doihara, đồng thời đồng ý cùng mọi người bàn bạc một chút.
Hôm đó là ngày mùng 5 tháng 11, tại Tĩnh Viên mở một cuộc “Ngự tiền hội nghị” rất mới lạ. Còn nhớ, được mời tới họp, ngoài Trần Bảo Thám, Trịnh Hiếu Tế, Hồ Tự Viện ra còn có Viên Đại Hóa và Thiết Lương sống lưu vong ở Thiên Tân, (Thăng Sung khi đó đã chết). Tại lần họp này Trần Bảo Thám và Trịnh Hiếu Tế mở cuộc tranh luận rất quyết liệt. Trần Bảo Thám nhìn Trịnh Hiếu Tế nói: “Hiện nay đại cục chưa định, không cẩn thận và manh động chỉ có hại mà không ích lợi gì. Hành động đón hoàng thượng của La Ngọc Chấn là vội vã. Hiện nay định khởi giá há chẳng phải là vội vã hay sao?”
- Dù phía quân đội Nhật Bản nhiệt thành song nội các Nhật Bản vẫn chưa có ý đó. Sự việc không phải trò đùa, vậy xin hoàng thượng suy xét kỹ hãy định đoạt.
- Nội các Nhật Bản không đáng kể. Bộ Tư lệnh quân Nhật Bản có quyền định đoạt tại trận. Suy đi tính lại cũng đến thế mà thôi.
- Tôi nói là xin hoàng thượng suy nghĩ cân nhắc chứ không phải xin ông!
- Cân nhắc! Cân nhắc! Đợi người Nhật đưa Phổ Vỹ lên, đám bề tôi chúng ta sẽ hãm hoàng thượng đến mức nào?
- Phổ Vỹ múa may quay cuồng, chẳng qua vẫn là Phổ Vỹ. Hoàng thượng đứng ra chỉ có thể thành công chứ không thể thất bại. Nếu như không thành công, càng hãm hoàng thượng đến mức nào?
- Xem ra đã hết đường rồi! Đến quan ngoại, lại khôi phục sự nghiệp tổ tiên, lại không phải sống lo lắng, có gì lỗi với tổ tiên?
Trước giọng thao thao bất tuyệt của Trịnh Hiếu Tế, Trần Bảo Thám mặt trắng bệch, run run nắm chặt mép bàn, dướn người lên, đối mặt với Trịnh Hiếu Tế, cười nhạt nói:
- Ông có sự tính toán của ông, sự hăng hái của ông, thành bại có thế nào, hoàn toàn không có gì đáng nói!
Viên Đại Hóa không lên tiếng, Thiết Lương cúi đầu ngồi im. Hồ Tự Viện, do thân phận không được luận bàn cũng cảm thấy không thể im lặng được nữa do đó đều phát biểu ý kiến. Thiết Lương nói một số điều về “bàn kế lâu dài” lộ rõ là ông ta ủng hộ Trần Bảo Thám. Viên Đại Hóa nói mấy câu ngay ý tứ cũng không rõ. Hồ Tự Viên muốn ủng hộ Trần Bảo Thám song nói không rõ ràng. Tại cuộc họp, tôi không tỏ thái độ song trong lòng cho rằng Trần Bảo Thám là “lòng trung thành đáng khen ngợi”.
Tôi cảm thấy, biện pháp tốt nhất là chưa nên bày tỏ cách suy nghĩ của mình, chưa bộc lộ ý đồ của mình. Đối với người xung quanh mình cần như vậy, đối với xã hội càng cần phải như vậy ở đây tôi cần nói thêm một chút về việc tôi tiếp Cao Hữu Đường, khoảng hai ba ngày sau khi tôi gặp Doihara.
Mấy hôm đó mấy người xin gặp tôi rất nhiều. Tôi cho rằng nên từ chối hết, chỉ càng chứng thực sự thăm dò của báo chí, càng không có lợi cho tôi. Còn về nhân vật Cao Hữu Đường, càng cần phải có sự gặp gỡ. Trước kia ông ta là khách của Trương Viên. Trương Viên coi ông ta như di lão vì ông xuất thân học quán triều Thanh, đã làm quan nhà Thanh. Sau đó ra mấy tờ báo, làm ủy viên viện giám sát của Quốc dân Đảng, đã từng tác động yêu cầu Nam Kinh “chi tiền hàng năm” cho tôi (không có kết quả). Tôi nghĩ có lẽ ông ta sẽ tiết lộ tin tức gì đó cho tôi, do đó tiếp ông ta. Không ngờ ông ta lại đến làm thuyết khách cho Tưởng Giới Thạch. Ông ta nói: Chính phủ Quốc dân Đảng đánh điện cho ông ta, bảo ông ta là nói với tôi: Chính phủ Quốc Dân Đảng hứa khôi phục điều kiện ưu đãi, hàng năm phát khoản chi phí ưu đãi hoặc là chi cả khoản tiền cũng được, đề nghị tôi đưa ra số mục. Còn về nơi ở mong tôi chọn Thượng Hải, nếu như tôi muốn ra nước ngoài thì hoặc đến một nơi nào ngoài Đông Bắc và Nhật Bản đều có thể được.
Nghe ông ta nói tôi cười nhạt mà rằng:
- Chính phủ Dân quốc sao không làm gì sớm hơn? Điều kiện ưu đãi đã bỏ bao nhiêu năm rồi, Tôn Điện Anh xâm phạm lăng tổ tiên tôi, ngay quản cũng không quản. Hiện nay sợ tôi ra đi người của Tưởng Giới Thạch cũng rơi nước mắt nghĩ đến ưu đãi... Bản thân tôi không nhận bất cứ ưu đãi nào. Tôi cũng không định đi bất cứ nơi nào. Ông vốn là cựu thần triều Thanh việc gì phải đi nói thay cho họ!
Cao Hữu Đường lấy thân phận di lão, với giọng điệu hoàn toàn lo tính cho tôi mà nói với tôi. Ông nói: “Điều kiện của chính phủ Dân quốc rất có lợi đối với tôi. Hiện nay lời nói của họ thường không chắc chắn, song nếu như tôi thấy cần thiết, có thể do ngân hàng nước ngoài bảo đảm. Ông nói: “Nếu như có người nước ngoài bảo đảm, Tưởng Giới Thạch lần này quyết không dám lừa dối”. Ông ta hầu như có hiểu được tâm ý của tôi, nói khôi phục diều kiện ưu đãi đương nhiên cũng khôi phục đế hiệu, nếu như muốn về Bắc Kinh cũng có thể thương lượng.
Tôi cũng không tin vào những lời nói của ông ta. Từ lâu tôi đã nghe nói thủ đoạn của Tưởng Giới Thạch rất lợi hại. Có người nói, để lôi kéo Anh Mỹ mà ông ta lấy Tống Mỹ Linh, đến cả vợ hắn ta cũng bỏ, hoàn toàn không nói đến tín nghĩa. Loại người này chuyên mềm nắn, rắn buông. Vì hắn sợ người Nhật, nay thấy người Nhật tiếp xúc với tôi thì điều kiện nào hắn cũng đáp ứng, đợi tôi tách khỏi người Nhật, đại thể sẽ lại đối phó với tôi. Dù mọi lời nói của hắn đều chắc chắn, hắn cho tôi một đế hiệu cũng là làm sao so sánh được với đế vị mà Doihara đã đáp ứng với tôi. Số tiền mà hắn có thể cho tôi, làm sao so sánh được với cả vùng Đông Bắc. Tưởng Giới Thạch lại tốt với tôi, hắn có thể trao lại cả giang sơn cho tôi ư? Nghĩ đến đó tôi thấy không muốn tiếp tục nói chuyện với Cao Hữu Đường nữa.
- Thôi, những lời ông nói ta đều đã rõ cả. Cuộc nói chuyện này có thể kết thúc ở đây.
Nhìn tôi sau một lúc suy nghĩ nói như thế, Cao Hữu Đường lại hiểu lầm cho rằng tình hình còn có hy vọng vội vã nói: “Vâng! Vâng! Hoàng thượng tiếp tục suy nghĩ, mấy ngày nữa thần sẽ quay lại.”
- Ừ, lại đến nhé!
Ông ta tràn đầy hy vọng đi ra. Sau đó nghe nói ông ta sau khi hoạt động với chú bảy của tôi đã từ Bắc Kinh quay lại, gặp “sự biến Thiên Tân”, bị chặn ở phía ngoài khu tô giới. Sau khi ông ta tìm cách vào tô giới Nhật Bản tôi không còn ở Tĩnh Viên nữa.
Trong hai ngày đó, còn có một số người liên tiếp đến thăm dò tin tức hoặc đưa ra lời can ngăn, tôi còn nhận được nhiều thư gửi tới, đối với tôi mọi người đều có lời khuyên trung thực, có lời cảnh cáo thậm chí có người họ Ái Tân Giác La khuyên tôi chớ nhận giặc làm cha, phải gìn giữ sự tôn nghiêm của người Trung Quốc. Bị giấc mộng phục tích hoàn toàn làm mê mẩn tâm thần, bất cứ lời khuyên nào đối với tôi đều không có kết quả. Tôi quyết định, đối với bên ngoài không nói bất cứ lời thật lòng nào.
Có một phóng viên một tờ báo nhỏ ở Thiên Tân tên là Lưu Tài Công, cũng là khách thường tới Trương Viên và Tĩnh Viên, thường viết bài ca tụng tôi trên báo của ông ta khi đó đến thăm dò ý tứ của tôi có xuất quan hay không? Thấy tôi cực lực phủ nhận, nên lại thay tôi làm nhiệm vụ bịt lời đồn đại. Ông ta không ngờ, cùng với ngày trên báo ông ta đăng tin bịt lời đồn đại cho tôi, tôi bước lên hạm tàu Nhật Bản đi Doanh Khẩu.
Trước hai ngày tôi rời Thiên Tân, không thể không nói một việc. Hôm đó, tôi đang ngáp ngủ nghe thấy lời giảng giải:
“Chớ để mất lòng nhiệt thành của nước bạn, chớ cự tuyệt sự vui mừng của người dân nước… đó mới là sự nghiệp anh hùng, quyết không phải là điều mà thư sinh văn sĩ hiểu được…”
- Hỏng rồi! - Kỳ Kế Trung, người hầu cận của tôi bỗng hoảng hốt chạy vào “Lựu đạn, hai quả lựu đạn!...”
Tôi ngồi trên ghế sô-pha sợ đến mức không đứng lên được. Trong cơn rối loạn, một lúc mới rõ: Vừa đó, có một người không quen biết gửi tới một tặng phẩm kèm theo một tấm danh thiếp của Triệu Hoạn Bá, nguyên cố vấn Bộ tổng tư lệnh Bảo an Đông Bắc. Người đó đặt tặng phẩm xuống đàng hoàng quay ra. Theo quy định, Kỳ Kế Trung kiểm tra tặng phẩm, phát hiện trong giỏ quả tươi có hai quả lựu đạn.
Từ trên xuống dưới ở Tĩnh Viên bàng hoàng lo sợ. Cảnh sát Nhật bản và sĩ quan Bộ Tư lệnh quân Nhật tới, mang lựu đạn đi. Ngày hôm sau, sĩ quan phiên dịch Yoshida báo cáo với tôi: qua kiểm nghiệm hai quả lựu đạn đó do công binh xưởng của Trương Học Lương chế tạo.
Yoshida nhắc nhở: “Hoàng đế Tuyên Thống không nên tiếp kiến người ngoài nữa, khởi hành sớm một chút là hơn”.
- Được ông hãy thu xếp nhanh lên.
- Vâng lệnh, xin bệ hạ không nên nói với người không có liên quan.
- Không nói. Lần này tôi chỉ mang cha con Trịnh Hiếu Tế và hai người hầu.
Hai ngày đó, tôi nhận được nhiều thư đe dọa. Có bức thư rất ngắn mà lời lẽ lại rất đáng sợ. Có thư chỉ có một câu: “Nếu ông không rời nơi này, hãy cẩn thận cái đầu ông!” Càng đáng sợ hơn là Kỳ Kế Trung nhận được một cú điện thoại. Theo anh ta nói: đối phương là một người hầu bàn ở nhà ăn Victoria cảnh cáo tôi hôm đó chớ có đến ăn cơm vì một số người “hình dáng đáng ngờ” đến nơi này thăm dò tôi. Người bạn quan tâm tới tôi còn nói: có lẽ trong túi áo họ còn có dao điện. Điều kỳ lạ là anh ta nhận ra những người đó là do Trương Học Lương phái tới.
Anh hầu bàn đó là người thế nào tôi cũng không nói rõ được còn Kỳ Tế Trung thì tôi không bao giờ quên được anh ta. Anh ta là người hầu tôi mang từ Bắc Kinh tới. Sau khi trong cung di tán thái giám, anh ta vào cung lúc đó còn là một thiếu niên rất được tôi tin cậy. Trong thời kỳ ở Thiên Tân, anh ta là một trong những người hầu tôi ưng nhất. Trong thời kỳ ngụy Mãn, tôi gửi anh ta sang bồi dưỡng ở trường sĩ quan Nhật Bản. Tuy nhiên về sau tôi phát hiện anh ta là nhân vật “mật thám xấu xa” trong cung đình. Lúc đó may mắn là nghe nói ở Nhật Bản, anh ta cãi nhau với bạn học, tôi vin cớ “phá hoại bang giao Nhật - Mãn” yêu cầu người Nhật khai trừ anh ta khỏi trường học. Sau đó do người Nhật giới thiệu, anh ta đến Hoa Bắc làm sĩ quan ngụy quân. Về sau lại lắc mình biến thành thượng tá Quốc dân Đảng, sau giải phóng, do án phản cách mạng bị trấn áp. Khi tôi rời Thiên Tân anh ta là một trong ba người hầu của tôi, không có hành động nào của tôi mà anh ta không biết. Đến mãi về sau tôi mới biết rõ, người Nhật Bản và Trịnh Hiếu Tế khi đó hiểu rõ mọi động tĩnh của tôi, nắm rất kịp thời và chuẩn xác tâm tính của tôi đã diễn cho tôi xem màn kịch - tuy các diễn viên diễn tương đối vụng về - song hiệu quả lại tốt như thế. Kỳ Kế Trung thật sự là người rất có liên quan gắn với lựu đạn, thư đe dọa, gọi điện thoại là việc nổ ra “sự kiện Thiên Tân”. Người Nhật Bản tổ chức các đội Hán gian, mật vụ ra sức gây rối loạn đối với khu vực người Trung Hoa. (Đây cũng là một “kiệt tác” do Doihara đạo diễn); tô giới Nhật Bản tuyên bố giới nghiêm, cắt đường giao thông với khu vực người Trung Hoa. Ngoài cửa Tĩnh Viên ra vào có xe bọc thép đến đảm nhiệm “bảo hộ”. Do đó Tĩnh Viên cũng bị cắt đứt với bên ngoài. Chỉ có hai cha con Trịnh Hiếu Tế là nhận được giấy ra vào.
Về sau tôi nhớ lại, Doihara vội vã thúc tôi đến Đông Bắc như thế, nếu như không phải là phái trẻ quân Quan Đông vì phải đối phó với phái chống đối trong nội bộ hoặc vì nguyên nhân nào khác mà chỉ là do tôi thay đổi ý định thì họ đã đánh giá quá cao ảnh hưởng của bên ngoài tô giới đối với tôi. Sự thật là không những khi tôi đã hạ quyết tâm, ngay đến những người chịu ảnh hưởng của Trần Bảo Thám như Hồ Tự Viên, Trần Tăng Thọ cũng đã thay đổi thái độ. Họ không còn kiên trì chờ xem nữa, bắt đầu tỉnh toán chủ động tiến hành tiếp xúc với Nhật Bản. Tuy nhiên họ vẫn sợ không thể dựa vào quân Nhật, cho rằng tin chính phủ Nhật vẫn hơn. Sự thay đổi của những người này cũng giống như tôi tức là: đã sợ lỡ cơ hội, lại sợ chưa ăn được thịt cừu mà khắp mình đã sực mùi cừu. Đối với điều kiện giao thiệp với người Nhật, điều họ quan tâm là có được làm quan to hay không; vì vậy chủ trương “quyền dùng người” ắt phải là tôi. Còn như thế nào là vinh dự dân tộc, quyền lợi kinh tế... hoàn toàn có thể là thứ trao đổi trả giá cho địa vị của bản thân mình. Sau khi tôi gặp Doihara, Trần Tăng Thọ đã lập tức tấu trình lời tâu như sau:
“Hiện nay, Nhật Bản bị các cường quốc phản đối nên bế tắc, không thể thay đổi tình hình Đông Tam tỉnh để gỡ thế bí đối với các cường quốc, do đó có hành động khuyến khích như vậy là cơ hội ngàn năm có một. Gặp cơ hội mà không nắm lấy thì càng về sau còn có cơ hội nào? Tuy nhiên nắm cơ hội nếu không được gì thì cái hại còn hơn là cái lỡ cơ hội... Nay con đường ta đang tự xử lý có thể quyết bằng hai câu: có thể định ước với Nhật Bản nhường cái lợi của đường mỏ, buôn bán mà quyền dùng người làm việc hoàn toàn tự chủ thì có thể hành động ngay. Nếu không, muôn vàn không thể hành động. Hiện nay báo chí xôn xao, kẻ thù nghi kỵ, Thiên Tân đã vào thế không thể ở yên. Muốn đừng sợ có lợi cho Nhật Bản, muốn tĩnh lại sợ mất thời cơ tốt này, tiến lui đều khó, xin hoàng thượng cử trọng thần sang Nhật Bản, tiếp xúc với Chính phủ và các nguyên lão Tây Viên Tự, trực tiếp định ước sau đó mới đi Thẩm Dương thì vẹn toàn mà không sai lầm. Ý kiến mạo muội của hạ thần có đúng đắn hay không, xin thánh thượng xem xét!”.