An Mi trở về là chính mình, sống những ngày tháng thoải mái nhất thời gian gần đây.
Cuối cùng không cần phải phập phồng lo sợ phải thể hiện tài năng mà chỉ cần làm một thư đồng pha trà, giặt giũ, cho dù gặp phải một chủ nhân hay bới móc, soi mói thì ít nhất đây cũng là công việc nhàn hạ mà nàng có thể đối phó. Nàng không hề nghĩ rằng công việc của thư đồng này chẳng khác gì với một tỳ nữ bên người cả.
An Mi thỏa mãn ngày ngày ở cạnh Phù Trường Khanh cũng hiểu ra một chút cái tài của những người phú quý. Hóa ra có địa vị chẳng phải là chuyện gì may mắn, dễ chịu, cuộc sống xa hoa không phải tự dưng mà có. Ví dụ như vị Phù Thứ sử mà nàng hầu hạ, mỗi ngày từ lúc ăn sáng xong liền mở sách ra đọc, đọc luôn đến tối mới tắt đèn đi ngủ, đúng là một việc khổ sở.
Mỗi ngày trên đường đến đình Khả hãn Đột Quyết, Phù Trường Khanh đều ra sức học cuốn Quỷ Cốc Tử trong chiếc xe xóc nẩy. Bên ngoài xe, gió rét lạnh cùng tuyết rơi nhiều nên không thể mở cửa sổ, đành phải châm đèn đọc sách. Tuy trong xe có chiếc đèn đồng chế tạo đặc biệt hình cô gái nhảy múa, có thể hút khói vào trong tay áo, nhưng dù sao thì lâu dần, ở góc thùng xe vẫn bị ám đen một mảng. Chuyện tệ hơn đó là ánh đèn bị ảnh hưởng bởi sự xóc nẩy của xe ngựa mà nhảy nhót không ngừng, làm hai mắt người ta cay sè. Phù Trường Khanh lần nào cũng đọc sách chưa tới nửa canh giờ thì cặp mắt đã cay tới mức nước mắt vòng quanh, hắn đành gác sách, nhắm mắt nghĩ lại những gì vừa đọc, cẩn thận suy ngẫm về sự kỳ diệu của cách lôi kéo, chia rẽ của liên hoành - hợp tung trong sách.
Khi An Mi bưng trà rót nước, châm đèn, thêm hương cho Phù Trường Khanh thì thường nghĩ, nếu từ nhỏ nàng cũng ngày ngày đọc sách như thế này, không cần phải làm việc thì chắc cũng có học vấn. Nhưng so ra thì nàng thà làm việc nặng nhọc còn hơn, mấy chữ bé li ti, dày đặc trên giấy kia, chữ nào chữ nấy khác nhau, phải học bao nhiêu ngày đêm mới biết hết được?
An Mi không thể làm phiền tới Phù Trường Khanh, lúc nàng chán quá thì sẽ nhìn xung quanh xem xét. Mỗi một vật tinh xảo đều có thể làm nàng suy nghĩ hồi lâu, ví như chiếc khăn không cháy lần trước nàng dùng lau tóc ấy, nàng để ý thấy hóa ra nó là khăn ăn của Phù Trường Khanh. Mỗi lần dùng cơm xong, Cao quản gia sẽ lấy đũa đồng gắp những chiếc khăn vuông dính dầu mỡ quăng thẳng vào đống lửa, đến khi chúng như mới thì lại lấy ra. Tất nhiên công việc này bây giờ rơi vào tay nàng, lần nào đốt sạch khăn nàng cũng nhớ đến việc từng dùng nó để lau tóc, mặt lại đỏ lên.
Lại còn cái chén uống trà của hắn, không phải bằng gốm mà là bằng một chất liệu vừa sáng óng vừa mịn, giống như thêm một lớp màu xanh nhàn nhạt nổi trên bạch ngọc. Dưới đáy chén còn khắc một đóa hoa mai. Cao quản gia nói đó là sứ, còn hiếm hơn gốm nhiều. Mỗi năm chỉ có lò Quan là nung được một ít, những nhà giàu chỉ có tiền mà không có quyền chẳng có mà dùng.
Còn về những đồ vật khác như lư hương hình cầu bằng vàng, cái ghế ngồi chạm trổ hoa văn ngũ sắc, bình đường hoa văn cá chọi… chúng đều là những thứ mới lạ, bắt mắt. Ấy vậy mà lần nào ánh mắt An Mi cũng nhìn một vòng rồi lại len lén quay về nhìn Phù Trường Khanh trong vô thức. Cũng chẳng có cách nào, ai bảo thứ bắt mắt nhất trong xe lại là hắn cơ chứ?
So với ánh mắt mê đắm lúc mới gặp thì bây giờ An Mi đã bình tĩnh hơn nhiều. Dù khuôn mặt có đẹp hơn nữa thì khi ngày ngày đối diện cũng thành quen và tự nhiên hơn. Nàng phát hiện ra vị Phù Thứ sử bụng dạ khó lường, nhiều mưu mô này là người rất chú trọng việc ăn mặc. Lại ví như hôm nay, nàng thầm nhủ rằng hắn lại thay một bộ quần áo.
Thời tiết rõ ràng là đại hàn mà hắn thà ôm khư khư chiếc lò sưởi tay chứ chẳng chịu mặc áo bông, lại còn phanh chiếc áo lông chồn ra, để lộ áo trong bằng lụa màu xanh biếc, còn có miếng vàng ròng khắc hình con hươu đính trên đai lưng. Một chuỗi bạch ngọc dùng tơ màu xanh lá mạ nối lại với nhau, rủ trên cái quần lụa trắng.
Nàng nhìn đi nơi khác, nhủ thầm sao mà một người trông đẹp đẽ như vậy lại có lòng dạ đáng sợ đến thế? Đang nghĩ thì Phù Trường Khanh - một kẻ vẫn đang vùi đầu đọc sách bỗng nhiên hỏi: “An tiên sinh, bữa sáng hôm nay ăn không nhiều, vì không muốn ăn à?”
“Ơ?” An Mi ngẩn ra, ngẫm lại thấy mình đâu có ăn ít hơn bình thường đâu, nhưng vẫn thuận theo lời của hắn: “À… có lẽ là vì thịt dê hơi mặn nên tiểu nhân không ăn được là bao.”
Phù Trường Khanh nghe thế thì bật cười. “Ta cũng thấy thế, không biết ai bỏ muối đây?”
Vẻ mặt nàng thoắt cái thay đổi, nàng sợ Phù Trường Khanh sẽ phạt người ta nên lắp bắp sửa thành: “Thật ra cũng vừa miệng…”
“Ừm, có lẽ vì ngấy thịt dê rồi.” Hiếm khi hắn hòa nhã hỏi nàng. “À đúng rồi, ngươi thích ăn gì nhất?”
Nàng không ngờ rằng lần này, một Phù Trường Khanh soi mói lại không tranh luận thêm còn hỏi nàng thích ăn gì, lập tức nàng vui vẻ, trả lời thật thà: “Tiểu nhân thích ăn thịt bò! Còn nhớ ba năm trước, trong thôn chúng tiểu nhân có một con bò chết già, sau được trưởng thôn đồng ý nên mọi người đã nướng lên ăn. Hương thơm của thịt bò nướng ngày đó bay khắp cả thôn, tiểu nhân cũng được chia một phần nhỏ.”
Nhớ lại cảnh tượng sôi nổi lúc chia thịt bò khi ấy, An Mi liền cười ngây ngô.
“Ừ được lắm, ta cũng thích thịt bò.” Phù Trường Khanh gập sách lại, cười với nàng. “Thế này đi, ngươi cưỡi ngựa đến dịch trạm khoảng ngoài ba mươi dặm kia trước, bảo trưởng dịch trạm chuẩn bị củi đốt để đội xe tới nơi thì sẽ nướng thịt bò ăn cơm tối, thế nào?”
An Mi hưng phấn bừng bừng, nhanh chóng đứng dậy bái biệt: “Đa tạ đại nhân, tiểu nhân đi hỏi Cao quản gia lấy ngựa ngay đây.”
Phù Trường Khanh gật gật đầu, nhìn nàng đẩy cửa xe ra rồi biến mất trong gió tuyết, hắn bỗng ném cuốn Quỷ Cốc Tử đi, mặt mày mệt mỏi, lẩm bẩm: “Thuật Phi kiềm1 cấp thấp nhất, nếu người Đột Quyết cũng dễ bị lừa như thế này thì tốt rồi…”
1.Thủ đoạn gợi chuyện rồi mua chuộc đối phương, kiểm soát đối phương.
Hắn nằm trên đệm gấm lật người một cái, ánh mắt nóng giận dần dần bình ổn lại, vừa mới hưởng thụ được một chút nhàn nhã thì nghe có người gõ cửa xe, hắn liền mất kiên nhẫn, hỏi: “Ai?”
Bấy giờ Cao quản gia ở bên ngoài xe liên tiếng: “Đại công tử, là tiểu nhân.”
Phù Trường Khanh đành xoay người ngồi dậy, uể oải đi vài bước ra đẩy cửa, giọng không vui: “Tìm ta có việc gì?”
“Đại công tử, vừa rồi An tiên sinh có hỏi tiểu nhân một con ngựa rồi ngài ấy phi một mạch về phía trước luôn.” Cao quản gia đứng trong gió tuyết, kéo chiếc mũ da xuống rất thấp, trên lông, tóc còn vương vài bông tuyết. “Có phải tối nay chúng ta sẽ nướng thịt bò ở dịch trạm ngoài ba mươi dặm nữa?”
“Ai bảo?” Phù Trường Khanh cúi đầu khép chặt vạt áo trước của chiếc áo choàng lông chồn để chống chọi với gió rét len vào trong xe ngựa. “Ta ghét ăn thịt bò.”
Cao quản gia ngẩn người, một lúc lâu sau mới nói: “Đại công tử, sao ngài đọc sách chán lại lôi người ta ra chọc để giải buồn thế? An tiên sinh không phải là A Đàn đâu.”
“Luận về học vấn thì hắn ta có thể bằng A Đàn chắc?” Phù Trường Khanh không tán đồng, đưa tay sờ sờ lò sưởi tay trong lòng.
“Đại công tử, An tiên sinh có gì không bằng A Đàn? Tuyết dùng để pha trà cho công tử, công tử nói phải lọc bốn lần, ngài ấy liền lọc bốn lần.” Cao quản gia thở dài một hơi, ông ta cũng hết cách trước tính tình quái đản của thiếu gia nhà mình. “An tiên sinh là một người thật thà, thời tiết xấu thế này, công tử không nên trêu ngài ấy, bảo ngài ấy phải đi xa như vậy trong gió tuyết.”
“Ý ông là bình thường A Đàn lọc nước hãm trà qua loa cho có lệ, không làm việc chăm chỉ như An tiên sinh?” Phù Trường Khanh ngẩng đầu nhìn Cao quản gia, sau khi trầm mặc hồi lâu thì nói tiếp: “Ban đầu ta cũng có ý định đùa hắn thôi, cũng tại bực hắn làm hỏng chuyện lớn của ta nên ngày thường cũng làm khó hắn không ít lần. Nhưng theo ý ông nói, nếu hắn đã có công vậy thì dù địa vị kém cỏi cũng nên được thưởng. Tối nay chúng ta ăn thịt bò nướng.”
Cao quản gia vẫn trưng ra vẻ mặt khổ sở. “Đại thiếu gia của ta ơi, người nói ăn thịt bò nướng là sẽ có thịt bò nướng chắc? Thịt bò vốn đã ít, huống chi mùa này…”
Phù Trường Khanh xoay người lấy mười quan tiền trong rương ra, cười cười với Cao quản gia. “Hôm nay không những phải ăn thịt bò mà còn phải ăn loại tươi ngon. Gọi mấy tên đáng tin cậy đi đến mấy thôn ven đường hỏi thăm xem nhà nào có bê hay bò nhỏ thì mua với giá gấp đôi, kiểu gì cũng sẽ có người bán.”
Cao quản gia líu cả lưỡi, cuối cùng lắc đầu bật cười.
Trời dần tối, trong dịch trạm, củi lửa đang cháy mạnh, nổ lốp bốp, tỏa ra hơi nóng hừng hực. Sau khi chạy ba mươi dặm đường, An Mi đã đói tới mức bụng kêu ùng ục, giờ ngửi thấy mùi thịt bò lâu lắm không thấy, khuôn mặt cười tươi được ánh lửa hắt lên đỏ ửng. Thịt bò mềm sau khi được ướp muối, hạt tiêu, đậu khấu và quế thì đang chín dần trên bếp lửa. cuối cùng thì cái sự thèm ăn cũng được thỏa mãn khi hàm răng cắn một miếng, nước thịt thơm ngào ngạt tràn khắp khoang miệng.
Phù Trường Khanh nhìn thấy nụ cười hạnh phúc của An Mi, không khỏi hừ mũi khinh thường, đúng là cho một ân huệ nhỏ, có ít thịt bò đã vui sướng đến như vậy…
Giữa tiếng cười nói của đám tùy tùng đang ăn uống linh đình, Phù Trường Khanh bất chợt cảm thấy không vui, rất không vui. An Mi lại còn bưng khay thức ăn đi về phía hắn, cung kính quỳ xuống dâng lên một bát bò hầm nóng hổi và một đĩa rau thái lát xào, ân cần hỏi: “Đại nhân, ngài không dùng bữa sao?”
Phù Trường Khanh nhíu mày liếc nhìn đôi môi bóng nhẫy cùng cái cằm tròn trịa của An Mi, bỗng nhận ra nàng đã béo hơn, lúc hắn khổ sở đọc sách, lao lực quá độ thì cái kẻ làm hắn ra nông nỗi này lại dám sống thoải mái đến mức béo lên được ư?
“Ừm, dạ dày không thoải mái.” Hắn mệt mỏi đáp một câu, lúc đầu không định để ý tới nàng nhưng sau hắn lại thay đổi suy nghĩ, thở dài một hơi. “Có lẽ là do nước tuyết pha trà hồi chiều không sạch…”
“Ơ?” An Mi mở to mắt nhìn hắn rất chăm chú, lòng vô cùng lo lắng, sốt ruột. “Sao vậy được? Sau khi đun tuyết xong, rõ ràng tiểu nhân đã lọc bốn lần. Làm sao bây giờ, hay là sau này tiểu nhân lọc thêm một lần nữa?”
“Ừm.” Phù Trường Khanh nhíu mày “ừ” một tiếng, không bình luận thêm gì nữa, chỉ phất tay với nàng. “Ngươi lui xuống đi, ta không ăn…”
“Không được, dạ dày rỗng chẳng phải càng khó chịu hơn sao?” An Mi thực sự lo lắng. “Tiểu nhân đi nấu cho ngài bát mì, ngài ăn thanh đạm một chút nhé!”
Câu này rất đúng ý của Phù Trường Khanh nên hắn gật gật đầu, thản nhiên nhìn nàng xoay người đi bận bịu vì mình. Tâm trạng bỗng chốc vui vẻ hẳn lên. Lúc hắn vô thức cong khóe miệng cười nham hiểm, hắn chợt nhận ra có lẽ mình có tài năng về nghệ thuật lừa gạt, chẳng cần đi nghiên cứu Quỷ Cốc Tử gì gì nữa.
Nhưng khi An Mi cần cù tiết kiệm lấy nước thịt bò nấu được một bát mì rất “thanh đạm”, hương thơm nức mũi, mỡ nổi béo ngậy đưa cho Phù Trường Khanh thì hắn tức tới mức suýt thổ huyết nhưng không tiện bùng nổ.
Cuối tháng Mười hai, đội xe của Phù Trường Khanh đi sứ Đột Quyết đi qua Ung Châu, U Châu, Sóc Châu, khi đến Lương Châu thì nhận được sự tiếp đãi nhiệt tình của Thứ sử mới nhậm chức ở đó, lúc tiếp tục lên đường thì có thêm một trăm tùy tùng hộ vệ do Thứ sử phái đi, khởi hành từ quận Vũ Uy, Lương Châu, đi qua quận Trương Dịch, Tửu Tuyền, Đôn Hoàng rồi ra khỏi Ngọc Môn quan, cuối cùng cũng tới được đình Khả hãn Đột Quyết lúc năm mới, thời điểm bắt đầu năm Đại Ngụy Thừa Hưng thứ tư.
Đình Khả hãn Đột Quyết dưới chân núi Ô là một thành quách xây từ bùn tọa lạc trên thảo nguyên, nằm bên cạnh sông Hồn Nghĩa. Tuy diện tích không lớn nhưng lại là đầu mối quan trọng trong giao thông nối liền đông tây. Trong thành có nhiều đền chùa, bảo tháp, bách tính sinh sống dựa vào các việc chăn nuôi. Hằng năm, vào các mùa xuân, hạ, lúc cỏ cây tốt tươi thì người dân lại chia ra đi các nơi, sống dựa vào các loại cỏ cây dưới nước, tới khi thu, đến trâu bò dê cừu lớn lên có thịt thì mới dỡ lều trại, tập trung về đình Khả hãn. Vào mùa đông khắc nghiệt dài đằng đẵng thì họ tụ tập thành một đội quân hùng hậu đi cướp bóc khắp nơi.
Khi đội ngũ của Phù Trường Khanh đi vào đình Khả hãn thì không được đón tiếp nhiệt tình như dự đoán. Phù Trường Khanh tay cầm tiết trượng tám thước đính lông chim trĩ vào lều vàng của Khả hãn, lúc trở về mặt hết sức u ám, vừa bước vào trướng liền cởi bộ đồ đại phu, không kìm được tức giận mà mắng nhỏ: “Ta đã bảo là sao chúng dám tiếp đón qua quýt như vậy, thì ra là được bọn Nhu Nhiên ném cho khúc xương…”
Mọi người nhìn nhau, Cao quản gia đi cùng Phù Trường Khanh vào gặp Khả hãn thì nhíu mày, vẫy vẫy tay nói nhỏ: “E là việc khó thành, trên đường chúng ta đi có gặp sứ giả của Nhu Nhiên.”
Mọi người nghe vậy liền nôn nóng, một gã tùy tùng làm phiên dịch còn đổ thêm dầu vào lửa: “Tiểu nhân thấy hai nước bọn chúng tán chuyện vui vẻ lắm, tên sứ giả Nhu Nhiên kia đã tới lâu rồi, không phải mới ngày một ngày hai, thế này phải làm sao đây…”
Cả căn lều lớn bỗng chốc lặng ngắt như tờ, bầu không khí vô cùng áp lực. Lúc này, Phù Trường Khanh đã thay xong quần áo, từ sau bình phong đi ra, vẻ mặt lạnh lùng, quét mắt qua đám người một vòng, lời nói của hắn khiến tất cả mọi người không hiểu ra sao: “Còn làm thế nào được nữa, không thể vừa tới đã thua người ta về khí thế được! Tất cả đi theo ta uống rượu!”
“Nhưng hôm nay chẳng phải là nên có tiệc tiếp đón do Khả hãn tổ chức cho chúng ta sao?” Một tên tùy tùng khác sợ hãi hỏi, nhưng bị ánh mắt của Phù Trường Khanh liếc qua liền im bặt.
Cao quản gia đứng cạnh lẩm bẩm bằng một giọng nhỏ đến mức chỉ để An Mi nghe thấy: “Đúng là đồ không biết suy nghĩ, tất nhiên tiệc chào đón bị hoãn lại, người ta thị uy đấy, thị uy…”
Tuy vừa đến đình Khả hãn thì bị đối xử lạnh nhạt nhưng được ăn uống rượu thịt giữa ngày đông giá rét thì đúng là vẫn cổ vũ sĩ khí được. Dưới sự vung tay hào phóng của Phù Trường Khanh, rượu thổi phồng lá gan, mọi người đang có vẻ uể oải liền nhanh chóng vui vẻ hẳn lên trên đất Đột Quyết mênh mông. Rượu nho, rượu lựu, rượu sữa ngựa thấm ướt vạt áo, cả con dê quay đang bốc hơi nóng hổi, bánh mì dẹt trắng như tuyết đắp thành đống nhỏ, nho khô rơi vãi đầy trên thảm như những giọt mưa, dưa gang đủ cho mười mấy người ăn được trường đao bổ xoẹt ra, để lộ cùi dưa xanh mướt. Phù Trường Khanh có vẻ thích ăn dưa ngọt, cầm một miếng lên cắn rồi ngẩng đầu hỏi An Mi: “Đây là quả gì?”
“Dưa gang.” An Mi không ăn quả to mà lấy một quả dưa loại nhỏ, ăn đến vui sướng cả người.
Phù Trường Khanh nhìn thấy thế bèn cầm lấy một miếng dưa loại nhỏ ăn thử, quả nhiên còn ngọt hơn loại dưa to kia nhiều, bèn hỏi: “Thế loại nhỏ này tên là gì?”
“Ca ba, trong tiếng Đột Quyết có nghĩa là “dưa ngọt”.” Do đã nhiều năm rồi không được ăn nên An Mi cười ngọt ngào. “Cáo hoang thích ăn trộm loại dưa này nhất, thường lén vào ăn cho đã đời rồi no quá mà không chui ra được, ha ha ha…”
Nụ cười vui sướng, thoải mái của nàng làm mặt Phù Trường Khanh trầm xuống. hắn vứt miếng dưa ngọt đi, ngồi giữa bữa tiệc, lười nhác nhìn mọi người đang huyên náo, ăn uống linh đình, trong đôi mắt có sự lạnh lùng không nói lên lời. “An tiên sinh, nếu ngươi là Khả hãn Đột Quyết thì ngươi sẽ lấy con gái đế vương dân tộc Hán hay là lấy công chúa Nhu Nhiên?”
“Hở?” An Mi không ngờ hắn sẽ hỏi câu này, bèn nghĩ gì nói nấy: “Có lẽ là công chúa Như Nhiên? Dù sao cũng cùng nói một thứ tiếng, nghe hiểu được nhau…”
“Không chỉ là hiểu ngôn ngữ.” Phù Trường Khanh khẽ bật cười. “Còn vì cùng sống trên một vùng đất nên đồ ăn, đồ dùng, hoặc những gì từng thấy, từng tiếp xúc đều giống nhau, thế mới gọi là “hiểu nhau”. Ai lại đồng ý bỏ một người hiểu mình để chịu đựng một người không hề giống mình chút nào?”
An Mi ngạc nhiên nghe hắn nói, chỗ hiểu chỗ không, trong lòng chẳng hiểu vì ai mà thoáng thấy đau đớn một nơi nào đó.
Phù Trường Khanh ngây người một lúc rồi bất thình lình nói: “Nhưng dù Khả hãn Đột Quyết nghĩ thế nào chăng nữa thì ta cũng phải làm hắn cam tâm tình nguyện lấy công chúa Đại Ngụy vào trướng…”
An Mi sững sờ, định hỏi một câu: “Vậy ý của nàng công chúa Đại Ngụy kia thì sao?” nhưng lại kìm nén không hỏi ra miệng.
Đình Khả hãn Đột Quyết không giới nghiêm ban đêm nhưng người Hán đã quen trói buộc, không quen chè chén thâu đêm nên chỉ chơi đến khoảng canh hai, ai nấy đều đã chếch choáng, bụng no say, dìu nhau đi ra khỏi quán rượu, liêu xiêu trở về.
Phù Trường Khanh uống không nhiều lắm nên trên người chỉ thoang thoảng mùi rượu. Khi đi ra khỏi quán rượu, gió đêm lạnh buốt ập tới, hắn cúi đầu kéo lại vạt áo lông chồn, giày da hoẵng có phần đế dày giẫm lên những vụn băng trên thảm cỏ.
An Mi vốn nghìn chén không say, lúc này đi bên hắn, ngẩng đầu nhìn ánh trăng mờ ảo rồi phả ra một làn khói trắng, khe khẽ hát: “Đêm đó trăng sáng mờ ảo, dây nho lại đâm ra chồi non. Oát Ca Đại ngốc nghếch đi qua ngọn núi nhỏ, tìm Áo Vân Tháp Na của chàng. Trên con đường nhỏ trắng bạc trên triền núi xanh xanh, từng có hai người trẻ tuổi, sau này bọn họ đều sẽ già đi, liệu rằng có mãi sóng vai như thế…”
Đây không phải quê hương của nàng, quê nàng ở một nơi còn xa hơn nữa nhưng do nhìn thấy một con đường nhỏ màu trắng dưới ánh trăng, nàng đã cảm thấy đủ hạnh phúc khi có thể bước đi trên nó.
Phù Trường Khanh ở bên cạnh đang cúi đầu lững thững đi về phía trước, sau khi nghe tiếng hát của nàng thì hắn thất thần, khi nàng hát xong mới lên tiếng hỏi: “Sao không hát tiếp nữa? Hết rồi à?”
“Chưa, thật ra đằng sau còn một đoạn nữa nhưng tiểu nhân không biết hát.” An Mi xấu hổ nói. “Ngày nhỏ học qua loa, lời sau không nhớ nữa.”
Thật ra bài hát này đến Khang Cổ Nhĩ cũng không hát trọn vẹn được. Năm đó còn nhỏ, bọn họ chỉ học sơ qua, đoạn cuối cùng do lời khá khó nên họ nghe xong cũng không thuộc được.
Phù Trường Khanh thấy vậy đang định bỏ qua thì bất chợt nghe tiếng hát vọng tới từ lò rèn không xa phía trước: “Đêm nay tuyết trắng rơi lả tả, con lạc đà già lại trào nước mắt. Áo Vân Tháp Na xinh đẹp đi qua ngọn núi nhỏ tìm Oát Ca Đại của nàng. Con đường dài mờ mịt trên triền núi tối đen, nàng đi chân trần qua sa mạc Gobi. Cơ thể trần truồng của đoạn nô đáng thương đang đợi vải tang trắng tinh của người thương…”
Cùng hòa vào tiếng hát bi thương là tiếng rèn sắt đinh đang từ lò rèn, hóa ra giọng hát nhẹ nhàng của An Mi đã khiến người thợ rèn xúc động, không kiềm chế được mà hát tiếp bài ca dang dở. An Mi nghe xong bèn nói với Phù Trường Khanh: “Ơ, đại nhân ngài nghe kìa, đoạn sau chính là như thế đấy, nhưng không ngờ bài hát đau buồn như vậy…”
“Đau buồn như thế nào?” Phù Trường Khanh không hiểu tiếng Đột Quyết, hắn nhíu mày nhìn An Mi, hỏi.
Nàng liền dịch từng câu một, Phù Trường Khanh lẳng lặng nghe xong lại hỏi: “Đoạn nô là gì? Nô lệ làm nghề rèn?”
“Đúng vậy.” Nàng gật gật đầu. “Ngày nhỏ tiểu nhân thường nghe bậc bề trên nói rất lâu về trước, Đột Quyết từng bị Nhu Nhiên đánh chiếm, do giỏi về việc rèn sắt nên bị người Nhu Nhiên gọi là “đoạn nô”.”
Ánh mắt Phù Trường Khanh chợt sáng lên, tự ý đi về phía trước tới lò rèn cách vài bước rồi dừng chân trước lò lửa cháy rừng rực. Lò rèn vẫn vang tiếng rèn sắt giữa đêm khuya, một bà già đang ngồi bên lò lửa thổi ống bẽ, một ông già quắc thước để trần nửa người nện búa sắt, đầu búa đập xuống từng hồi theo tiếng hát vang vọng khiến cục sắt đỏ hồng đặt trên thớt đá bị đập thành dài ra. Mỗi lần cái búa nện xuống, ánh lửa bắn ra tứ phía, tỏa ra theo gió, mấy lần suýt thì xẹt qua ngọn tóc của Phù Trường Khanh.
An Mi thấy Phù Trường Khanh ngẩn người thì không khỏi ngơ ngẩn, cuối cùng không thể không thúc giục hắn: “Đại nhân, chúng ta nên về thôi, nếu không Cao quản gia sẽ lo…”
Phù Trường Khanh không để tâm tới An Mi mà chỉ nhìn chằm chằm miếng sắt đỏ không ngừng biến dạng khi búa sắt nện liên hồi, đến khi nó bị dìm vào trong nước phát ra tiếng xèo xèo thì hắn mới chợt hoàn hồn. “Có cách rồi!”
“Hả, hả?” An Mi chẳng hiểu gì nhưng thấy Phù Trường Khanh đột nhiên bước nhanh rồi chạy đi làm nàng không kịp nghĩ thêm, đành cuống cuồng đuổi theo. “Đại nhân, đợi tiểu nhân với…”
Lúc Phù Trường Khanh chạy về đến đại doanh sứ thần thì đám người say xỉn đã về lều của mình ngủ say từ lâu, chỉ có thị vệ trực đêm cùng Cao quản gia vẫn còn đợi. Trước khi Phù Trường Khanh xông vào trong lều lớn, hắn chỉ kịp dặn Cao quản gia một câu: “Đêm nay có việc cần giải quyết,” rồi đi thẳng vào lều và ngập đầu trong đống văn kiện.
Cao quản gia bất đắc dĩ lắc lắc đầu, giao lại đèn lồng cho An Mi vừa về tới và nói: “Tiên sinh vào hầu hạ đi, làm gì cũng phải cẩn thận một chút. Ôi chao, hai cha con nhà này lúc bận rộn thì y hệt nhau, khổ là con người già nua này không hầu hạ nổi hai đời…”
An Mi nhận lấy cái lồng đèn, vén rèm đi vào trong lều. Phù Trường Khanh đang giở một quyển ghi chép mà nàng đã từng thấy trên đường đến đây. Hằng ngày trước khi đi ngủ, Phù Trường Khanh đều mở ra đọc. Nàng thấy đèn trong lều mờ mờ nên cẩn thận lấy ngọn nến bên trong đèn lồng ra, châm lên từng ngọn nến trên cái giá nến hình sừng hươu ở đầu bàn. Ai ngờ lúc ghé sát vào Phù Trường Khanh thì cây nến hơi nghiêng làm rớt ra một giọt sáp nến.
Thấy sáp nến sắp rơi xuống quyển sổ ghi chép đang mở, Phù Trường Khanh vội vàng kéo quyển sổ lại, sáp nến nóng rực vừa vặn rơi vào mu bàn tay hắn. Hắn liền ngẩng đầu lên, đôi mắt đen láy ánh lên sự tức giận. “Ngươi làm việc kiểu gì thế?”
An Mi vô cùng hoảng sợ, nhanh chóng lùi lại hai bước, quỳ xuống đất và tự trách: “Tiểu nhân đáng chết, tiểu nhân…”
“Được rồi, đừng nói nữa.” Lúc này Phù Trường Khanh không quan tâm tới việc bắt bẻ An Mi, hắn gẩy sáp nến bám trên tay đi rồi tiếp tục cúi đầu giở cuốn sổ ghi chép mà phụ thân đưa cho mình. “Ngươi đừng đi, ngồi ở bên đi, có lẽ ta vẫn còn chuyện cần hỏi ngươi…”
“Vậy… đại nhân có muốn uống trà không?” Nàng khẽ hỏi, muốn làm gì đó để lấy công chuộc tội nhưng không ngờ Phù Trường Khanh không để ý tới nàng nữa.
Sáng hôm sau, khi An Mi lơ mơ tỉnh lại từ giấc mộng thì nàng kinh ngạc khi thấy mình đang nằm trên đệm da sói trong lều lớn của Phù Trường Khanh, còn hắn thì cả đêm chẳng hề chợp mắt, nhưng tinh thần của hắn bây giờ rõ ràng là cực kỳ tốt, thậm chí hắn còn không cần nàng hầu hạ mà tự thay quần áo của chức đại phu. Lúc này hắn đang cầm tiết trượng, mặt mũi sáng láng cùng tùy tùng chuẩn bị quà tặng dâng lên Khả hãn Đột Quyết.
Chuẩn bị xong, hắn quay người lại thấy An Mi vừa ngủ dậy vẫn đang ngồi trên giường, đầu tóc rối bù, liền hớn hở nói với nàng: “Ta có cách rồi, lát nữa đi cùng ta đến lò rèn.”
Nàng ngơ ngẩn nhìn nụ cười sáng chói trước mặt, giây phút đó chỉ thấy cả căn lều sáng bừng rực rỡ…
Đại tiệc tiếp đón sứ thần triều Ngụy được tổ chức trong lều Khả hãn vào tối hôm nay. An Mi thay một bộ đồ mới đi cùng Phù Trường Khanh tới lều vàng dự tiệc. Khi tiếng tù và trầm trầm vang lên, những võ sĩ Đột Quyết lưng hùm vai gấu xếp thành hàng ở bên ngoài lều. An Mi mặt mày trắng bệch, chân tay bủn rủn bước thấp bước cao, bàn tay nắm chặt lại, lòng bàn tay rỉ mồ hôi, không chỉ vì thân phận nhỏ bé của nàng mà còn vì những lời đại nhân nói lúc chiều ở lò rèn…
Nàng cảm thấy mình khó có thể ứng phó được với buổi tiệc tối nay, việc mà Phù đại nhân phó thác vượt xa phạm vi nàng có thể tiếp nhận. Trước buổi tiệc, An Mi từng rất hèn nhát mà cầu cứu sự giúp đỡ từ mọt, nhưng kỳ lạ là lần này, dù nàng gõ thế nào, lắc làm sao thì những con mọt ngày xưa chỉ cần đụng một cái là bò ra nay lại không thấy bóng dáng đâu cả. Có lẽ vì chúng ngủ đông chăng, hoặc có khi chết cóng luôn rồi, tóm lại là lần này nàng kêu trời trời không linh, tất cả đều phải dựa vào chính bản thân nàng mà thôi.
Khi âm nhạc Quy Từ rất thịnh hành ở Tây Vực vang lên trong lều vàng, những cô vũ nữ mũi cao mắt sâu đã bước ra trung tâm tấm thảm múa. Phù Trường Khanh cầm tiết trượng làm xong hết các nghi thức phức tạp cuối cùng cũng ngồi xuống ở phía bên phải Khả hãn Đột Quyết. An Mi ngồi ở bàn cuối cùng trong hàng ngũ người Hán, cách Phù Trường Khanh rất xa.
Buổi tiệc bắt đầu trong tiếng nói cười hoan hô của mọi người, ánh nến chiếu sáng từng tầng bát đĩa vàng chứa đầy sữa dê, cơm thập cẩm, nho, cùng quả sung khô sáng lấp lánh như đá quý. Bánh nướng và dê nướng nguyên con vàng ruộm được lấy ra khỏi lò, những quả lê đông lạnh vừa bổ ra còn vương những mẩu băng vụn li ti… Rượu nho đỏ thắm đổ ào ào vào chén vàng dưới nền nhạc Quy Từ, lúc cụng chén chúng sánh ra, vương lên chiếc nhẫn trên tay người cầm chén khiến mỗi viên đã quý tươi đẹp được gột rửa càng trở nên óng ánh hơn.
Rượu quá tam tuần, ca hát tạm thời dừng lại. Phù Trường Khanh cười nói với Khả hãn: “Ca múa của Quy Từ quả là danh bất hư truyền. Lần này kẻ hèn này được đi sứ quý bang, trên đường lúc đi qua thảo nguyên mênh mông có nghe thấy một bài ca dao, mới hiểu ra được thế nào là “tiếng ca du dương dưới bầu trời bao la”, đến tùy tùng của ta cũng không nén nổi mà học hát theo.”
“Ồ?” Khả hãn Đột Quyết nghe vậy liền đặt chén vàng xuống, tò mò cười, hỏi: “Là bái hát nào mà hay tới vậy?”
Phù Trường Khanh cười khẽ, đáp: “Chi bằng để tùy tùng của ta tự bêu xấu, hát cho Khả hãn nghe?”
Ở cuối bàn tiệc, An Mi ngồi đối diện với những món ăn hiếm lạ nhưng không hề có hứng ăn uống, tay nàng cầm chén rượu mà toát mồ hôi, khi nghe thấy lời này thì lưng vốn đã ướt đẫm nay lại tiếp tục phủ thêm một tầng mồ hôi nóng hổi. Ba hồn bảy vía như bay hết ra ngoài.
Sau khi Khả hãn gật đầu cho phép, hai chân An Mi mềm nhũn, gượng đứng dậy, bước đi nhẹ bẵng đi tới trung tâm thảm múa. Dù đã lấy hết can đảm nhưng giọng hát vẫn còn hơi run rẩy: “Đêm đó trăng sáng mờ ảo, dây nho lại đâm ra chồi non. Oát Ca Đại ngốc nghếch đi qua ngọn núi nhỏ, tìm Áo Vân Tháp Na của chàng. Trên con đường nhỏ trắng bạc trên triền núi xanh xanh, từng có hai người trẻ tuổi, sau này bọn họ đều sẽ già đi, liệu rằng có mãi sóng vai như thế…”
Hát xong nửa đầu, nửa tiếp theo nàng mất cả buổi chiều mới thuộc mà giờ cứ mắc ở cổ họng, nàng cảm thấy cổ họng nghẹn ứ, máu huyết trong người chỉ muốn chảy ngược mà nôn ra ngoài. Ánh mắt hoảng sợ của nàng tìm kiếm Phù Trường Khanh, khi nhìn thấy đôi mắt đen láy như mực của hắn vẫn điềm tĩnh, an ổn như cũ thì hơi thở hỗn loạn của nàng bỗng chốc bình ổn lại, rồi nàng hát tiếp vô cùng thuận lợi. “Đêm nay tuyết trắng rơi lả tả, con lạc đà già lại trào nước mắt. Áo Vân Tháp Na xinh đẹp đi qua ngọn núi nhỏ tìm Oát Ca Đại của nàng. Con đường dài mờ mịt trên triền núi tối đen, nàng đi chân trần qua sa mạc Gobi. Cơ thể trần truồng của đoạn nô đáng thương đang đợi vải tang trắng tinh của người thương…” An Mi dần thả lỏng người, đôi tay nắm chặt đặt trên ngực càng ngày càng tự nhiên, thậm chí đến nốt cao cuối cùng nàng còn khe khẽ nhón chân lên để tiếng ca trong trẻo mà bi thương vang vọng khắp lều lớn.
Bài hát kết thúc, đến tận khi An Mi ôm nỗi sợ đi về chỗ ngồi thì người Đột Quyết đầy trong lều vẫn yên lặng không hề lên tiếng. Chỉ có giọng nói êm tai của Phù Trường Khanh vang lên: “Đến bấy giờ kẻ hèn này vẫn không biết ý nghĩa của bài hát, chỉ thấy nó có giai điệu xúc động lòng người. Chắc là Khả hãn cùng các vị ở đây đều đã từng nghe qua?”
“Ha ha, Phù đại phu có điều không biết rồi, bài hát này là bài hát xưa đã truyền cả trăm năm nay ở Tây Vực, từ lâu người Đột Quyết đã không còn quan tâm tới nội dung của nó nữa rồi.” Khả hãn trả lời một cách thản nhiên, con ngươi màu lam đậm hơi đăm chiêu nhìn Phù Trường Khanh chằm chăm. “Theo như ta đoán, hành động này của Phù đại phu lẽ nào là vì để ý việc ta tận tình thiết đãi sứ giả Nhu Nhiên? Thật ra người Hán các ngài có một câu châm ngôn: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu[1]”, ta nghĩ chắc chắn Phù đại phu cũng hiểu. Đột Quyết cũng Nhu Nhiên bây giờ gắn bó khăng khít, trâu dê của dân du mục cũng thả chung một bãi cỏ. Lần này sứ giả Nhu Nhiên cũng vì chuyện hòa thân mà tới, ta không thể không thành tâm tiếp đãi họ.”
[1].Cùng tiếng thì ứng hợp nhau, cùng ý chí giống nhau thì tìm tới nhau.
An Mi ngồi ở cuối bàn tiệc, nghe xong thì thầm toát mồ hôi thay Phù Trường Khanh, lòng nghĩ một chiêu này không hữu hiệu nên cũng cảm thấy vô cùng sốt ruột. Nhưng không ngờ Phù Trường Khanh lại nhếch miệng cười, nâng chén với Khả hãn. “Khả hãn đã quá lời, kẻ hèn này dám có ý xúi giục qua một bài ca dao? Chỉ là tuy Đại Ngụy và Nhu Nhiên cùng giáp với quý quốc nhưng lại cách xa đình Khả hãn cả nghìn dặm, tiếc rằng lòng thành khó luận thắng thua, còn ưu thế về địa lý đã phân người tới trước tới sau nên khó tránh khỏi có chút tiếc nuối.”
Khả hãn nghe vậy thì bật cười, cũng nâng chén với Phù Trường Khanh. “Chuyện nhỏ nhặt như đến trước đến sau thì cần gì phải lưu tâm? Hôm nay ta mở tiệc đón tiếp chư vị, Phù đại phu nên thoải mái chè chén mới đúng.”
“Khả hãn nói rất đúng, kẻ hèn này xin kính trước.” Phù Trường Khanh ngửa cổ uống hết rượu nho trong chén vàng, nhìn Khả hãn rồi cười, nói tiếp: “Người Hán có một câu nói xưa: “Quà ít lòng nhiều,” lần này kẻ hèn được thiên tử phó thác, đã chuẩn bị chút lòng thành, mong Khả hãn vui lòng nhận cho.”
“Từ xưa đến nay, Trung Nguyên là vùng đất coi trọng lễ nghi, quả đúng là vậy.” Tuy Khả hãn khách sáo tiếp lời nhưng trong đôi mắt không hề có vẻ hứng thú.
Phù Trường Khanh không để bụng, hắn tự nhận lấy chiếc hộp gấm mà tùy tùng truyền đến, dâng lên Khả hãn Đột Quyết. “Đây là trân châu đen pha đỏ, có truyền thuyết rằng ai cầm nó trong tay sẽ có thể nhớ mãi không quên.”
Phù Trường Khanh mở hộp gấm, để lộ ra một viên trân châu đen pha đỏ. Đặt hộp xuống, hắn lại dâng lên một thanh loan đao có vỏ đao nạm đầy đá quý. Hắn từ từ rút thanh đao ra, trên lưỡi đao cong như vầng trăng có những hoa văn màu xanh lam ẩn hiện. “Đây là bảo đao có nguồn gốc từ Nhu Nhiên, sợi tóc sượt qua cũng đứt, có thể chém sắt như chém bùn.”
Khả hãn Đột Quyết chăm chú nhìn thanh bảo đao, giọng trầm xuống: “Đây là bảo đao mà chỉ người Đột Quyết chúng ta mới có thể rèn được.”
“Không phải, là đao của Nhu Nhiên, là do nô lệ làm nghề rèn người Nhu Nhiên đúc ra.” Phù Trường Khanh ngước đôi mắt sáng lên nhìn, bên trong đó là sự quả quyết không cho phép người khác phản đối. “Vì tại hạ biết có một thủ lĩnh du mục từng sở hữu thanh đao này, một đao có thể giết mười mấy nô lệ Đột Quyết.”
Lời này vừa nói ra thì cả lều liền xôn xao, đại thần Đột Quyết có mặt trong bữa tiệc bất mãn đập chén xuống, tức giận nói với Phù Trường Khanh: “Xem ra Phù đại phu đến đây không phải vì chuyện hòa thân! Lời nói ngông cuồng, mấy lần khiêu khích, thật càng rỡ!”
Các đại thần Đột Quyết đều tỏ vẻ căm giận, không khí buổi tiệc trở nên căng thẳng. Trái tim An Mi cũng nhảy lên tới tận cổ họng, vậy mà Phù Trường Khanh vẫn liều lĩnh cười với Khả hãn. “Xưa nay, lời nói thẳng thì thường không lọt tai, hôm nay liệu Khả hãn có bằng lòng nghe ta nói một lần?”
Các đại thần Đột Quyết ở bên đang định lên tiếng ngăn cản thì bị Khả hãn phất tay chặn lại. Đôi mắt màu lam đậm của Khả hãn hơi híp lại, đáp lời Phù Trường Khanh: “Ngươi nói đi!”
Phù Trường Khanh liền đứng dậy, chỉnh trang quần áo rồi cung kính hành lễ trước Khả hãn Đột Quyết. “Khả hãn từ lúc lên ngôi tới nay uy danh xa gần, tuy kẻ hèn này thân ở xa nghìn dặm nhưng vẫn nghe thấy tiếng tăm. Thiên tử Đại Ngụy kính trọng tài đức và sự sáng suốt của Khả hãn, mong muốn hai nước liên hôn nhưng không ngờ giữa đường bị Nhu Nhiên xen vào. Tất nhiên chuyện hôn nhân là chuyện do một mình Khả hãn quyết định, chỉ có điều việc này rất quan trọng. Hiện tại Khả hãn một lòng muốn kết thân với Nhu Nhiên muốn gắn bó khăng khít, nhưng quý quốc chẳng qua cũng chỉ là nô lệ trong mắt Nhu Nhiên, sao có thể vui vẻ ngồi cùng bàn ăn? Chỉ e đến một ngày nào đó bọn họ ăn cháo đá bát phản bội quý quốc, lúc đó Khả hãn hối hận thì đã muộn.”
Khả hãn liền bật cười khẽ, đáp lời: “Đột Quyết và Nhu Nhiên “đồng thanh tự tương ứng, đồng tâm tự tương tri”, tuy rằng tổ tiên có hiềm khích nhưng đôi bên cùng sinh sống trên một mảnh đất nên đã chung sống hòa thuận từ lâu. Nay ngươi muốn ta bán gần mua xa, kết đống minh với Đại Ngụy há chẳng phải là làm việc vô bổ, tự xa lánh huynh đệ nhà mình?”
“Nếu Khả hãn niệm tình huynh đệ thì tất nhiên thân càng thêm thân, nhưng nếu ngài có ý thống trị thì nên kết giao với nước xa, tấn công nước gần. Hiện nay quý quốc cùng Nhu Nhiên có ngôn ngữ giống nhau, tập quán tương tự, một khi cướp được đất, bắt được cả người lẫn vật thì ngay lập tức có thể sát nhập với nhau, không có nỗi lo tai họa về sau. Nếu ngài liên hợp Nhu Nhiên cùng tấn công Đại Ngụy, giả sử thành công thì cũng sẽ đối mặt với tranh đấu giữa người Hồ người Hán, sau chiến tranh, nội loạn kéo dài đâu chỉ dừng ở một trăm năm? Hơn nữa, vạn dặm biên quan của Đại Ngụy dễ thủ khó công, bên trong thành, đồn điền nghìn dặm, lương thảo sung túc đầy đủ, thừa cung cấp chuyện phòng thủ quanh năm nếu cần. Trong thuật dùng binh, công thành là cách cuối cùng, bất đắc dĩ mới phải dùng đến. Cho dù Đột Quyết và Nhu Nhiên liên hợp công thành thì chỉ cần Lương Châu kiên cường cố thủ thì đại quân của Khả hãn có mấy phần nắm chắc được tốc chiến tốc thắng? Tới khi lương thực hết, quân lính mệt mỏi, trước mặt là thành trì tấn công mãi không thành, đằng sau là đại quân Nhu Nhiên kiểm soát việc cung cấp lương thực, xin hỏi Khả hãn có đường lui không?”
Khả hãn Đột Quyết nghe tới đây thì trầm ngâm không nói. Đại thần Đột Quyết ở bên ai nấy đều có vẻ mặt khó coi, nhưng lại không thể phản bác được. Khả hãn liền nâng chén rượu, đứng dậy nói với Phù Trường Khanh: “Phù đại phu, hôm nay tổ chức bữa tiệc chào đón ngài, vẫn nên coi chuyện ăn uống vui vẻ, còn những chuyện khác thì sau này nói tiếp.”
Phù Trường Khanh mỉm cười, cũng giơ chén rượu lên. “Kẻ hèn này xin kính trước!”
An Mi cũng không nhớ bầu không khí tối nay hòa hoãn hay náo nhiệt thế nào, nàng chỉ nhớ tới sự thoải mái và vui sướng mà trước nay chưa bao giờ cảm thấy. Nàng cảm nhận được sự vui vẻ của mọi người, nhất là Phù Trường Khanh, rồi nàng ngửa cổ uống rượu, uống nhiều tới mức hai gò má hồng rực. Khi ai nấy đều say túy lúy, chuẩn bị đi về thì một mình nàng vẫn còn tỉnh táo. Nàng dìu Phù Trường Khanh về lều, sau đó nhìn hắn say rượu dưới ánh đèn.
Thật ra khi say rượu, Phù Trường Khanh vẫn có cử chỉ cũng hành động hợp lễ nghi, hắn chỉ có thêm vẻ mặt hớn hở, khua khua tay với nàng. “Ta có thể nắm chắc phần thắng, Khả hãn đã dao động sẽ rất có lợi cho Đại Ngụy. Đại Ngụy anh minh thần võ, không mất một binh một tốt, không đánh mà thắng…”
An Mi ngồi ôm gối trên đệm da sói, cứ nhìn Phù Trường Khanh đang cười. Nhưng lời hắn nói nàng chẳng hiểu nhưng nàng chắc chắn rằng hắn đã say, vì từ trước tới nay hắn chưa từng cười nhiệt tình đến thế.
Bỗng nhiên nàng cảm thấy thật may mắn vì lần này không ăn mọt, nếu không thì làm sao có thể thấy vui vẻ như lúc này?
Không rõ Phù Trường Khanh lôi ra hai quan tiền từ đâu, hắn đi tới gần An Mi đang ngồi trên đệm, ném tiền lên chân nàng.
“Thưởng cho ngươi.” Phù Trường Khanh nhìn nàng chằm chằm, ánh mắt nóng rực, đôi con ngươi đen láy được phủ một lớp ánh sáng mê ly dưới ánh đèn. “Hôm nay ngươi làm rất tốt… hát rất hay.”
Người hắn có cả mùi rượu ào ạt ập tới, lần đầu tiên phá đi cái lớp cao ngạo của sĩ đại phu làm An Mi bị tấn công tới mức cả người thương tích. Nàng hoảng hốt nhảy dựng lên như bị kim châm, mặt đỏ bừng chạy ra khỏi lều.
Ánh trăng bên ngoài chiếu lên tuyết tạo thành một thế giới màu trắng bạc. Nàng nín thở chạy thẳng đến bên hồ nước đóng băng, nơi đây có một nhóm trẻ con Đột Quyết đang xúm quanh cái lỗ băng câu cá. Nàng nhẹ nhàng lánh sang một bên, ngồi xổm bên hồ, giơ tay gạt tuyết đọng trên mặt nước đóng băng, lớp băng dày như một tấm gương đen dưới ánh trăng, hiện lên khuôn mặt đầy vẻ hoảng hốt và lo sợ của nàng.
Cuối cùng nàng thở dài một hơi, nhìn mặt băng, giơ đôi tay lạnh cóng của mình lên, cẩn thận chạm vào nước mắt không ngừng rơi trên mặt.
“Mày thật là to gan!” Nàng lẩm bẩm. “Sao mày lại dám… lại dám thích ngài chứ…”
Chương 7:
Biến động bất ngờ
Đàm phán sau đó vô cùng thuận lợi.
Tuy An Mi không có quyền tham gia vào quá trình đàm phán nhưng chỉ cần Phù Trường Khanh mỗi ngày trở về lều đều nở nụ cười kiêu ngạo là đã đủ làm nàng thấy thỏa mãn.
Do sự thay đổi trong thái độ của Khả hãn nên việc tiếp đón từ phía Đột Quyết cũng nhiệt tình hơn hẳn. Mỗi ngày ngoài ân cần thăm hỏi thì còn lo cả chuyện cỏ cho chuồng ngựa, cỏ nhiều hơn ngày trước rất nhiều. Thế là có thị vệ lắm chuyện lén đi thám thính lều của sứ thần Nhu Nhiên, lúc quay về mặt mũi đắc ý kể: “Trước lều của đám quân Nhu Nhiên nay vắng vẻ lắm, đúng là đáng đời!”
“Ừ, hai ngày nữa có thể tặng chúng cái lưới bắt chim.” Phù Trường Khanh tuy biết hai chữ “tử tế” viết thế nào nhưng trước nay chưa từng viết, rất tự nhiên mà chế nhạo như vậy.
Ai nấy đều cười ha hả, An Mi mờ mịt không hiểu nhưng cũng ngây ngốc cười theo, cười xong cũng không hiểu vì sao Phù Trường Khanh muốn tặng người ta cái lưới bắt chim.
Cứ như vậy qua mấy ngày, chuyện hòa thân cũng thương lượng được gần xong. Tối hôm nay Phù Trường Khanh đang ngồi trong lều thảo bản tấu để gửi về Đại Ngụy, đương lúc trầm ngâm thì ánh nến sáng ngời bất chợt bị một cơn gió lạnh thổi làm nhảy loạn, hắn không khỏi ngẩng đầu nhìn xem thế nào, hóa ra là An Mi đang bưng chậu than đi từ ngoài vào lều.
“Bên ngoài gió mạnh quá.” Nàng rụt cổ, chà chà tuyết ở trên giày. Phù Trường Khanh nghe vậy liền nghiêng đầu nghe ngóng mới thấy tiếng gió gào rít ở bên ngoài.
“Ừm.” Hắn khẽ “ừ” một tiếng rồi đưa lò sưởi tay đến trước mặt An Mi, sai bảo: “Thêm than, pha trà.”
“Vâng.” An Mi vội vàng nhận lấy lò sưởi. Lúc Phù Trường Khanh đang bận thì hắn không muốn nói nhiều, ra lệnh rất ngắn gọn. Bây giờ nàng đã rõ những thói quen của hắn, tất cả đều xử lý được thỏa đáng.
An Mi đứng bên chậu than đỏ, khuôn mặt bị hơi nóng hun đến nóng bừng. Nàng lấy chiếc đũa đồng gắp vài cục than to vừa phải rồi vùi vào đống tro trong lò sưởi tay, đóng nắp lại, đưa cho hắn. Lúc nàng làm việc, nàng thích nhìn trộm một bên mặt trầm tĩnh của hắn, cũng may là xưa nay Phù Trường Khanh làm việc rất tập trung nên không hề phát hiện ra sự khác thường của nàng.
Lúc này ngoài lều gió càng mạnh, dường như có thể nghe thấy tiếng chó sủa vọng tới từ xa xa, nương cùng tiếng gió bắc rít gào thổi vào đỉnh lều phập phồng. Khi bầu không khí hòa hợp giữa hai người đang lan tỏa, sự chung sống yên bình bỗng chốc bị phá tan bởi tiếng trống vang trời.
Tùng tùng tùng tùng... Cùng với tiếng trống là tiếng gào “giết” từ bốn phương tám hướng. Phù Trường Khanh đứng bật dậy, hai mắt nhìn chằm chằm cái mành vải hơi phất lên trước lều, vẻ mặt hoàn toàn thay đổi.
“Sao... sao vậy?” An Mi lắp bắp, nàng thấy sợ hãi trước sự thay đổi đột ngột ở bên ngoài.
Bấy giờ Phù Trường Khanh đã không rảnh rang mà để ý đến nàng, hắn xông ra vén mành lên, thấy ở hướng bắc ánh lửa ngập trời, mùi cháy khét của thảm da trâu bị đưa theo gió phà vào mũi.
“Có người phóng hỏa!” Phù Trường Khanh đanh mặt, hét to lên trong tiếng trống đinh tai nhức óc, đôi mắt sáng lạnh buốt như sao. Hắn rảo bước đến giữa đại doanh, lúc này mọi người đang ngủ trong lều cũng chạy hết ra ngoài, sau khi nghe tiếng gào “giết” lẫn trong tiếng trống thì vội vàng hô: “Đi mau đi mau! Thị vệ đâu? Mau đi lấy ngựa...”
“Không thể đi!” Phù Trường Khanh đứng ở chính giữa hô to, khuôn mặt tái mét hiện lên vẻ dữ tợn trong ánh lửa. “Đối phương đánh trống, hò hét là để làm chúng ta rối loạn trận tuyến, nếu lúc này bỏ chạy thì chắc chắn bên ngoài đại doanh có mai phục!”
Vừa nói dứt lời thì một mũi tên đã bay sượt qua gò má hắn. An Mi hãi hùng, tranh thủ lúc mọi người đang rối loạn, vội vàng lôi nhánh cây hòe trong lòng ra, dùng hết sức mà lắc, lòng thầm cầu nguyện không ngừng: Mau ra đây mau ra đây, còn không ra là chết người đấy...
Gió bắc rít gào đã thúc đẩy tốc độ lan tràn của ngọn lửa, khắp đại doanh sứ thần Hán nhốn nhác, chỉ có mình An Mi vẫn đang cúi đầu đập đập nhánh cây, Phù Trường Khanh vừa quay đầu đã nhìn thấy vẻ tập trung của nàng, lập tức giận đến mức chửi to: “Ngươi trúng tà à!”
An Mi ngây người, ngơ ngẩn nhét nhánh cây vào trong áo. Cao quản gia vừa hay đánh một chiếc xe ngựa đến, nhìn thấy An Mi liền túm nàng lên xe rồi gào lên với Phù Trường Khanh: “Đại công tử, mau lên xe!”
“Đợi đã!” Phù Trường Khanh vẫn kiên quyết giữa vòng thị vệ. “Chúng ta không thể lao bừa ra khỏi đại doanh, có lẽ cứu binh của Khả hãn Đột Quyết sắp tới rồi…”
“Đại công tử! Lửa to như thế thì dù có mai phục cũng phải xông ra ngoài trước đã!” Cao quản gia giải thích xong liền đẩy Phù Trường Khanh lên ngựa, quả quyết chỉ huy: “Bách phu trưởng dẫn đầu, hai đội đánh tiên phong, ba đội bọc hậu!”
An Mi ngồi trơ trọi ở đằng trước chiếc xe ngựa chẳng hề được che đậy gì, chỉ biết run lẩy bẩy nhìn các thị vệ vũ trang đề phòng. Cao quản gia đang định lên xe thì Phù Trường Khanh vội vàng nói: “Tiết trượng...”
Tiết trượng đại diện cho sự uy nghiêm của thiên tử, là thứ mà mỗi sứ giả đều phải bảo vệ bằng cả tính mạng. Nếu lần này chuyện hòa thân thất bại thì về triều nhiều nhất là bị cách chức tước quyền, nhưng nếu ngay cả tiết trượng cũng không còn thì e là từ nay về sau chẳng thể vươn mình được. Chính vì vậy, Phù Trường Khanh chẳng màng tới an nguy sống chết mà định quyết tâm nhảy xuống xe, không ngờ Cao quản gia giơ một tay ngăn lại. “Đại công tử! Ta đi lấy tiết trượng! Ngài tuyệt đối không được xuống xe!”
Phù Trường Khanh đỏ cả mắt, thấy Cao quản gia đã không chút do dự xông vào trong lều lớn, trước khi ông ta tìm được tiết trượng đi ra thì một ngọn lửa lớn đã dễ dàng thiêu gãy hết hàng rào doanh trại cùng cột cờ. Lửa cháy bừng bừng trên đỉnh lều lớn. Phù Trường Khanh nín thở cho tới tận khi nhìn thấy bóng dáng Cao quản gia chạy ra khỏi lều trước khi nó bốc lửa, thì hắn mới thở phào nhẹ nhõm một hơi.
Bấy giờ, tất cả đội tiên phong đã thất bại trước lưỡi dao hung hãn của đối thủ. Nhóm đao phủ ùn ùn kéo vào đại doanh, ánh lửa sáng rực chiếu rõ bóng dáng người Nhu Nhiên bện tóc bên vai trái. Xe ngựa tả xung hữu đột giữa vòng vây, Cao quản gia thấy đường tới chỗ Phù Trường Khanh đã bị quân Nhu Nhiên chặt đứt nên đành liều mình lần cuối, lấy hết sức ném tiết trượng dài tám thước như ném cây thương về phía Phù Trường Khanh.
Phù Trường Khanh nhoài hơn nửa người ra khỏi xe ngựa lúc ngàn cân treo sợi tóc thì bắt được tiết tượng. Cùng lúc đó, ánh đao lóe sáng của người Nhu Nhiên cũng đánh tới, An Mi liền ôm đầu hét to ở ngoài xe. Cao quản gia với vóc dáng nhỏ bé, gầy guộc đã bị bóng hình to lớn của người Nhu Nhiên che khuất hẳn. Phù Trường Khanh nghiến răng, gầm lên một tiếng: “Đi!”
An Mi nhắm chặt hai mắt, giật cương ngựa, ngựa kéo đã bồn chồn bất an vì ánh lửa từ lâu, nay tung vó chạy như tên rời cung, chúng hí vang một tiếng rồi phi ra khỏi đám cháy. Phù Trường Khanh nằm sấp ở đuôi xe nhìn chằm chằm đại doanh chìm trong biển lửa, đôi mắt đỏ ngầu hằn đầy tơ máu, hắn chỉ biết đấm mạnh một quyền lên ván xe.
An Mi vừa đánh xe ngựa thoát ra khỏi đám cháy thì lập tức có bốn kỵ binh từ bên địch quất ngựa đuổi theo sát phía sau. Phù Trường Khanh không biết đánh xe ngựa, thấy kẻ đuổi theo ngày càng tiến đến gần thì chỉ biết giục An Mi tăng tốc. An Mi không nhìn rõ phương hướng trong đêm tối, cộng thêm đang hoảng loạn, không lựa được đường nên đánh bừa xe về phía ven hồ không có người ở. Xe ngựa xóc nẩy lộc cộc xuyên qua đám lau sậy và các lùm cây bên hồ. Thành lũy được đắp từ đất đầm của đình Khả hãn đã xuất hiện không xa đằng trước, xe ngựa cùng đường đành phải chuyển hướng chạy ngược lại để tránh va vào tường thành nên nhanh chóng bị kỵ binh Nhu Nhiên bao vây chặn lại.
An Mi sợ tới mức mặt đầm đìa nước mắt, chân tay luống cuống túm chặt dây cương. Lúc nhìn thấy mấy con ngựa Đại Uyên đen thui bước dần về phía mình, loan đao dính máu của binh sĩ Nhu Nhiên đã giơ cao, tình huống quá cấp bách khiến nàng hét to lên bằng tiếng Đột Quyết: “Cầu xin các người... tha mạng... tha mạng cho ta!”
Không ngờ binh sĩ Đột Quyết nghe lời nàng hét thì thu đao lại thật, đôi mắt như chim ưng nhìn nàng chòng chọc, rồi một giọng nói hung hăng như ác quỷ cất lên: “Ngươi là người Đột Quyết?”
An Mi tưởng rằng mình đã chết đến nơi nên khóc hết nước mắt, không kiềm chế được mà run rẩy đáp: “Đúng... đúng vậy...”
Bốn tên lính nghe thấy thế thì liếc nhìn nhau, một người trong số chúng bỗng nói nhỏ: “Đại nhân từng dặn không được giết người Đột Quyết, nếu không thì chuyện sẽ khó bàn...”
“Bắt tên đại thần nước Ngụy kia rồi về phụng mệnh là được...” Một tên khác vừa trả lời vừa vỗ về con ngựa đang không ngừng thở phì phò bên dưới mình.
An Mi căng thẳng chẳng dám thở mạnh, nàng vểnh tai lên nghe bọn chúng đối thoại, mồ hôi lạnh tuôn đầy trên trán. Khi hai tên lính Nhu Nhiên một trái một phải cùng lúc dùng đao chém cho cửa sổ xe mở ra, rồi chém cả mành xe thì nàng mới nhận ra chúng định làm gì. Nàng giật mình, vội vàng lên tiếng ngăn cản: “Không! Không... Các người không thể...”
Một người cao quý như ngài ấy nhất định không thể chết tại nơi đất khách quê người thế này được!
Hai thanh loan đao lóe lên ánh sáng bạc còn chưa chém vào trong xe thì An Mi đã sợ hãi trợn trừng mắt, chuẩn bị liều mạng vào giây phút Phù Trường Khanh hét lên thảm thiết, nhưng thực tế khiến cả năm người ở đó đều ngẩn người: Phù Trường Khanh không có ở trong xe!
“Ơ... Ơ...” An Mi nhìn vào trong xe theo lỗ thủng to trên mành xe, thùng xe đen kịt quả thực trống rỗng, không một bóng người.
“Hắn trốn đâu rồi?” Một tên võ sĩ tức giận hầm hầm trừng mắt nhìn nàng.
“Ừm... Ơ?” An Mi hoàn hồn, đầu óc xưa nay suy nghĩ đơn giản bắt đầu tính toán. Nàng không rõ Phù đại nhân rời xe ngựa lúc nào nhưng có một điều chắc chắn là nàng nhất định phải đuổi được lũ ác ôn trước mặt đi, không thể để chúng có mảy may hy vọng tìm được Phù đại nhân.
“Ta hỏi ngươi, người trong xe trốn đâu rồi?” Đám võ sĩ Nhu Nhiên rất bất mãn với sự chậm chạp của An Mi.
“Người trong xe vừa mới trốn...” Cuối cùng nàng cũng lấy can đảm, nghiêm túc... nói dối với đôi mắt vừa vô tội vừa đầy vẻ khiếp sợ nhìn những võ sĩ Nhu Nhiên dũng mãnh.
“Đã trốn?” Một tên nhìn nàng đầy vẻ nghi ngờ, loan đao giơ lên hỏi bằng giọng uy hiếp: “Chúng ta đều có mắt, có ai thấy hắn nhảy ra khỏi xe đâu?”
“Ngay lúc nãy...” An Mi cố gắng nghĩ ra lý do có thể khiến người ta tin. Nàng ngập ngừng hồi lâu, cuối cùng mới chợt nảy ra một ý: “Vừa rồi chẳng phải đã đi qua đám lau sậy và lùm cây sao? Chính vào lúc đó người trong xe đã nhảy ra.”
Bốn tên võ sĩ Nhu Nhiên trao đổi ánh mắt với nhau, trầm ngâm một hồi, cuối cùng cũng coi như chấp nhận cách giải thích của nàng. Bọn chúng không để ý tới nàng nữa mà đồng loạt quay ngựa lại, cưỡi ngựa đi chậm để tìm kiếm cẩn thận ở ven đường.
An Mi đợi đến khi bốn con ngựa kia đi xa thì mới thở phào nhẹ nhõm, mỏi mệt ngã người ra sau một cách yếu ớt... Nhưng mà Phù đại nhân trốn đi đâu được nhỉ? Xe ngựa chạy như bay cả đoạn đường, chưa từng dừng lại... Nàng nhíu chặt mày, không thể nghĩ ra được, ban đầu là trăm nghìn suy nghĩ rối rắm, sau đó trong một khoảnh khắc nàng bất chợt nghĩ ra... Lẽ nào Phù đại nhân nhảy khỏi xe lúc đi qua đám lau sậy thật?
Vào phút giây đó, An Mi hối hận không thôi, chỉ hận không thể cắn đứt lưỡi mình...
Nàng quyết định quay lại tìm Phù Trường Khanh.
Vì tránh làm người ta chú ý, nàng đánh xe ngựa tìm một dịch trạm trước, để lại xe ở đó rồi mới lén đi ngược đường về chỗ cũ. Nàng tìm kiếm suốt dọc đường vắng vẻ rồi nhanh chóng chạy tới ven hồ. Lúc này, những lùm cây và lau sậy đều đã bị quân Nhu Nhiên lục tìm từ trước, có lẽ chúng không tin lời An Mi lắm hoặc là do lo lắng mục tiêu chạy xa nên chúng không tìm ở đây lâu mà nhanh chóng giục ngựa rời đi. Trong đêm tối, nàng rón rén rẽ lau sậy ra hai bên, nhìn chung quanh, không ngừng gọi nhỏ: “Phù đại nhân... Phù đại nhân... Phù...”
“Ở đây.”
Khi An Mi hết cách, định rời đi thì tiếng Phù Trường Khanh chợt vang lên ở thật sâu trong đám lau sậy. Nàng giật mình, hoang mang rẽ đám lau sậy sang hai bên và cúi người đi về phía có tiếng nói. Dưới màn đêm, chỉ thấy trên mặt đất là lau sậy ngả nghiêng, Phù Trường Khanh đang nửa nằm nửa ngồi giữa một đống cỏ, bên cánh tay còn đặt thanh tiết trượng luôn theo hắn không rời. An Mi cuống cuồng chạy đến gần hắn, quan tâm hỏi khẽ: “Đại nhân, ngài không sao chứ?”
“Có lẽ chân trái đã gãy.” Mặt hắn cứng ngắc, hắn trả lời nàng bằng một giọng rất bình tĩnh.
Lòng nàng liền trĩu nặng, mặt tái mét. “Vậy phải làm sao bây giờ? Chúng ta có nên tìm Khả hãn?”
“Vô dụng thôi.” Phù Trường Khanh lạnh lùng nói. “Hắn ta vốn còn lưỡng lự nhưng vừa rồi, lúc bọn Nhu Nhiên phóng hỏa thì không thấy ra tay, vậy là đã tỏ rõ thái độ.”
“Sao Khả hãn lại có thể làm vậy?” Nàng sốt ruột tới mức nước mắt sắp trào ra. “Rõ ràng ban ngày vẫn còn nói chuyện yên lành, sao nói trở mặt là trở mặt ngay được...”
“Những chuyện như thế này đầy rẫy...” Hắn hừ lạnh một tiếng, sau đó lườm nàng. “Ngươi có biết chuyện Ban Siêu[1] “lương thiện” đời Hán đã làm khi đi sứ?”
1. Ban Siêu thời Đông Hán từng lập kế giết đoàn sứ giả Hung Nô để thuyết phục vua nước Thiện Thiện (ở Tân Cương hiện nay) khôi phục tình hữu nghị với triều Hán và rời khỏi sự thống trị của Hung Nô.
An Mi nghe vậy chỉ lắc đầu.
Phù Trường Khanh cũng lười kể cho nàng nghe, hắn cởi miếng ngọc Dương Chi Hòa Điền ra. “Mấy hôm nay ta để ý thấy trong thành có khá nhiều chùa chiền, trong chùa chắc chắn có kho cho cầm cố tài vật. Ngày mai ngươi cầm miếng ngọc bội này đi thế chấp lấy ít tiền rồi mua giúp ta mấy chiếc áo da dê chống rét, mua cả lương khô nữa. Tạm thời mấy ngày tới ta sẽ trốn ở đây. Giờ ngươi đỡ ta dậy...”
“Vâng.” An Mi cẩn thận dìu hắn ngồi dậy, cuối cùng cũng không kìm được mà chột dạ hỏi. “Vừa rồi làm sao đại nhân trốn thoát được đám người Nhu Nhiên tìm kiếm?”
“May mắn thôi.” Phù Trường Khanh cúi đầu thử cử động người, tâm trạng hắn lúc này cực kỳ tệ.
Không chỉ là vì biến cố tối nay mà còn do bị gãy chân, hoặc cả chuyện vừa nãy nghe thấy tiếng quân Nhu Nhiên sột soạt lục soát đám lau sậy, hoặc do bản thân bất lực không thể làm được gì cùng tâm trạng hoảng sợ. Đã bao lâu rồi hắn chưa trải qua cảm giác phó mặc cho số phận?
Ngoài ra còn có một chuyện hắn thấy càng buồn bực hơn đó chính là An Mi quay về tìm hắn.
Phù Trường Khanh sẽ không nói cho nàng biết rằng trước đó, hắn lẳng lặng nhảy khỏi xe là để bỏ mặc nàng. Lúc hắn thấy đám quân Nhu Nhiên càng đuổi càng gần và biết sớm muộn gì xe ngựa cũng sẽ bị chặn lại thì xe vừa hay chạy qua đám lau sậy dày đặc. Hắn dự đoán rằng đất ven hồ không cứng, chi bằng thừa lúc hỗn loạn thì tìm đường trốn, đồng thời để mặc nàng đánh ngựa dẫn người Nhu Nhiên đi xa.
Một tên phụ tá không tài cán mới nhận vào làm hơn một tháng, một thị nữ bên người sai sử tùy ý, hoặc có thể gọi là một dân đen người Hồ, tất nhiên vào thời khắc nguy hiểm hắn sẽ lựa chọn lợi dụng nàng, để nàng đi chết thay mình, tất cả đều là lẽ đương nhiên. Hắn tính toán hết thảy, cuối cùng lại không ngờ được rằng lúc nhảy xuống, chân trái của hắn va vào một tảng đá, sau cơn đau thấu ruột gan thì hắn không thể nào đi nổi nữa. Lúc ấy Phù Trường Khanh hết sức tuyệt vọng, hắn vừa không thể động đậy vừa không thể kêu cứu, tưởng rằng sẽ bị chết cóng ở đây, tưởng sẽ bị bắt, nhưng hắn chưa từng cho rằng An Mi sẽ quay lại tìm mình.
Một tên phụ tá không tài cán mới nhận vào làm hơn một tháng, một thị nữ bên người sai sử tùy ý, hoặc có thể gọi là một dân đen người Hồ... Vào thời khắc này sao không chọn bỏ trốn một mình mà lại về tìm hắn?
Phù Trường Khanh tinh thông luật pháp từ trước tới nay đều tin vào thuyết con người vốn ác, hắn không biết có gì ngoài một tờ khế ước có thể trói buộc một nô bộc với chủ nhân, thậm chí giữa An Mi và hắn còn chưa từng lập khế ước nào.
Đối diện với nàng, hắn không hề thấy vui vẻ gì, chỉ có một cảm giác bực dọc nặng nề, vì sự trở lại của nàng nằm ngoài dự liệu của hắn, làm hắn bắt đầu nghi ngờ, nghi ngờ những thứ mà lâu nay hắn vẫn luôn kiêu ngạo: Sự hơn người từ xuất thân cao quý cùng trí tuệ xuất chúng.
Cảm giác hơn người từng khống chế hắn hoàn toàn, từng làm hắn cho rằng những gì hắn nghĩ, hắn làm, từng cử chỉ, động tác của hắn đều vô cùng đúng đắn. Ấy vậy mà lúc này hắn cảm thấy mình như một quả cam đã bị thối rữa bên trong, đang bị An Mi gọt đi lớp vỏ tươi đẹp bên ngoài.
Đây là lần đầu tiên hắn thực sự để ý đến một dân đen. Cái cảm giác này không tốt, có chút khó chịu.
Tất nhiên An Mi không biết Phù Trường Khanh đang vì mình mà lòng rối như tơ vò, nàng chỉ nghĩ phải xem thương thế của Phù Trường Khanh thế nào, liền đau lòng hỏi: “Sao lại bị thương thành ra thế này, đại nhân, liệu có phải do ta đánh xe không vững?”
Nếu là lúc bình thường thì đây là một cái cớ rất hay nhưng lần này, suy cho cùng thì Phù Trường Khanh cũng không còn mặt mũi nào mà viện cớ đó, hắn bèn nghĩ ra một lời nói dối: “Vì ta ngồi không vững nên văng ra ngoài.”
Trên thế gian này, phàm là người từng giao tiếp với Phù Trường Khanh thì chỉ có An Mi là ngây ngốc tin rằng xe ngựa xóc nẩy làm Phù Trường Khanh ngồi không vững, nàng hại hắn không những ngã khỏi xe mà còn gãy cả chân, thế mà hắn vẫn độ lượng tha thứ, không hề so đo.
Nàng và Phù Trường Khanh ở trong đống cỏ từ khi trời tối đen như mực đến tận sáng sớm ngày hôm sau, nàng mới ngó nghiêng xung quanh, đứng dậy đi ra khỏi đây.
Phù Trường Khanh ở nguyên chỗ cũ, đợi một mạch tới trưa mới thấy nàng về.
An Mí đã thế chấp ngọc bội để mua cho Phù Trường Khanh thuốc cùng nẹp cố định xương, còn có cả áo da dê và mấy cái bánh nhân thịt. Phù Trường Khanh nằm trong đống cỏ để An Mi băng bó giúp. Hắn có chút không yên tâm. “Ngươi biết trị thương?”
An Mi ngẩn người, mặt đỏ lên, đáp: “Biết một chút, ngày trước có người nhà lên núi đuổi dê bị ngã gãy chân, ta học được một ít từ lang trung ở quê.”
Người An Mi nói chính là em chồng Từ Bảo. Phù Trường Khanh nghe vậy liền nhíu chặt mày. Một kẻ xưa nay có chút bệnh nhẹ cũng mời được ngự y giờ quả thật lo lắng chân mình sẽ để lại di chứng, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại thì cũng chẳng lo nhiều được nữa. Hắn cắn bừa vài miếng bánh nhân thịt, hỏi: “Vừa rồi ngươi lên chợ mua đồ có nghe được tin tức gì không? Tối qua xảy ra chuyện lớn như vậy, đầu đường cuối ngõ kiểu gì cũng có người bàn luận.”
“Có, dường như mọi người đều nhắc tới. Tuy ta còn chưa hỏi thăm được tin tức về sứ thần Nhu Nhiên nhưng có nghe nói Khả hãn đã phái người tìm ngài. Đại nhân, ngài bảo chúng ta có nên đi nhờ hắn ta?” An Mi nhìn hắn bằng ánh mắt ngập tràn hy vọng.
“Tạm thời không thể được. Tuy Khả hãn Đột Quyết phái người đi tìm ta nhưng không thể nói rõ được ý hắn, chỉ e thật giả lẫn lộn, khó phân là địch hay bạn.” Phù Trường Khanh lắc lắc đầu, trầm ngâm một hồi rồi bất chợt hỏi: “Trong đại doanh có nhiều thi thể quan binh tùy tùng như thế, Đột Quyết xử lý thế nào?”
“Nghe nói đều đã đưa tới “hố vàng”...” Nàng buồn rầu nói. “Chắc Cao quản gia cũng ở trong số đó...”
Phù Trường Khanh nghe vậy thì đôi mắt u ám, lạnh lẽo hẳn đi, hắn liền nói thẳng: “Vậy chúng ta không cần đi gặp Khả hãn nữa. Hiện giờ thời tiết rét mướt, thi thể không dễ phân hủy ngay, việc gì phải vội vàng xử lý như vậy? Nếu hắn ta có ý nghiêng về Đại Ngụy thì lần này nhất định sẽ phủi sạch quan hệ với Nhu Nhiên bằng cách liệm thi thể bỏ vào quan tài theo phong tục của người Hán, sau đó phái người đưa quan tài về nước Ngụy thỉnh tội chứ không phải là chuyển tới cái “hố vàng” khốn kiếp kia! Có thể thấy sau biến cố bất ngờ đêm qua, Khả hãn đã không dám trở mặt với Nhu Nhiên. Nay chắc chắn hắn đã nương vào Nhu Nhiên, ngươi không hỏi thăm được động thái gì của đám quân Nhu Nhiên chẳng qua là vì Khả hãn đã che mắt người đời mà thôi.”
Nơi gọi là “hố vàng” chính là một địa điểm mai táng đặc biệt của người Đột Quyết. Khác với lòng tin “về với đất là yên ổn” của người Hán ở Trung Nguyên, phong tục của người Hồ ở Tây Vực là sau khi người ta chết, đem thi thể đến một đình viện đặc biệt ở ngoại thành để chó Ngao nuôi trong viện đó ăn hết sạch thịt trên thi thể đó, cuối cùng mới lấy xương cốt chôn xuống đất, hoàn toàn không có quan tài. Các tùy tùng của Phù Trường Khanh đều bị Khả hãn Đột Quyết chôn tại hố vàng, đây mới gọi là chết nơi đất khách quê người, đến cơ thể cũng không còn nguyên vẹn.
Phù Trường Khanh vừa nghĩ tới chuyện những người cùng hắn bôn ba nghìn dặm đều đã chết thảm thì cả người cực kỳ suy sụp. E rằng chính lúc này đây đã là đáy của cuộc đời hắn, tất cả đều tồi tệ tới mức không thể tồi tệ hơn. Phù Trường Khanh ngẩng lên, lặng nghe tiếng gió bắc thổi vào lau sậy lao xao, sau khi thất thần hồi lâu thì hắn chợt ngồi dậy, gạt ra một chỗ đất trống nho nhỏ, bẻ cây sậy gạch qua loa trên nền đất bùn. “Đợi ta dưỡng thương, chúng ta sẽ đi từ đây...”
Hắn vẽ một điểm tượng trưng cho đình Khả hãn Đột Quyết, lại thêm một điểm là Ngọc Môn quan, rồi vẽ một đường thẳng nối hai điểm đó để phác họa con đường sắp tới bọn họ sẽ đi. “Ta còn nhớ mang máng bản đồ, con đường này hoàn toàn là đất hoang, ở giữa không có dịch trạm nên chắc cũng không có dân chúng ở, nhưng lại là đường ngắn nhất. Ta tính mạo hiểm một chút, dù sao thì cũng phải về Lương Châu nhanh nhất có thể mới được... An tiên sinh, ngươi sẽ tiếp tục đi cùng ta hay là có kế hoạch khác tốt hơn?”
An Mi vẫn luôn ngồi im nghe hắn nói, giờ được hỏi liền ngớ người, rồi nghiêm túc trả lời: “Phù đại nhân, tất nhiên ta sẽ đi cùng ngài.”
“Ừm, được.” Phù Trường Khanh gật đầu, trông thì hờ hững nhưng thực ra trong lòng hắn đang âm thầm sung sướng, thở phào một hơi. “Tính xem trong tay chúng ta có những gì...”
“Có một cỗ xe ngựa.” An Mi báo cáo đúng sự thực. “Nhưng cửa sổ và mành xe đã bị đao chém hỏng.”
“Có còn hơn không.” Phù Trường Khanh nở nụ cười nhợt nhạt, lại hỏi tiếp: “Ngọc bội ngươi cầm được bao nhiêu tiền?”
“...” Hồi lâu sau nàng mới lắp bắp: “Hai... hai quan...”
Đôi mắt đen láy của Phù Trường Khanh trợn trừng lên nhìn nàng, giọng nói gay gắt hơn: “Hai quan? Ngươi có biết miếng ngọc đó đáng giá bao nhiêu không hả?”
“...” An Mi ấp a ấp úng. “Hòa thượng trong chùa nói ngọc bội của đại nhân không chạm trổ gì cả, người ấy lại không biết nhìn ngọc, sợ nhìn sai nên không dám ra giá cao....”
“Nơi hoang dã dân vô văn hóa, quả nhiên đều là một lũ không biết nhìn hàng!” Phù Trường Khanh nổi giận đùng đùng mắng. Hắn tức tới mức mặt lúc xanh lét lúc trắng bệch. Ngọc bội đó là Hòa Điền thượng hạng, vì lúc đến tay hắn nó có hình dáng được thiên nhiên tạo thành như quả trứng chim, bên hông miếng ngọc lại có một khối màu đen nên Phù Trường Khanh mới mời thợ làm ngọc dựa vào hình dáng ban đầu khắc thành hình con chuột ăn trộm quả trứng cho mới mẻ. Ai ngờ hôm nay bị người ta bảo rằng không chạm trổ!
Nếu biết trước có ngày hôm nay thì hắn đã đeo vàng đeo bạc rồi, còn chơi kiểu xa hoa ngầm làm gì!
Mấy ngày sau đó, An Mi mua chuộc trưởng dịch trạm, nhờ ông ta giữ bí mật, xong lại theo lời dặn của Phù Trường Khanh mà chia bốn con ngựa tốt ra bán; lấy hết các tấm chắn bùn bằng bạc trên bụng ngựa cùng cái lục lạc treo trên xe ra, đưa đến tiệm bạc nhờ nung chảy làm thành khối. Ngoài ra nàng còn gỡ hết vải gấm rực rỡ phủ bên ngoài xe ngựa, bao gồm cả tấm mành gấm bị chém rách bán đi chẳng được mấy đồng kia nữa... Cứ như vậy, dưới tình thế phải che mắt người đời, những thứ đồ vụn vặt mà đáng tiền đều được bán hết.
An Mi lấy tổng cộng bốn mươi quan tiền gom được mua hai con ngựa bình thường, một la bàn, đệm da dê và rất nhiều lương khô cùng đồ dùng cần thiết, lại dùng cái đục gỗ để gọt hết những hoa văn chạm khắc tinh tế trên xe, sau đó sơn đen toàn bộ bề mặt xe lúc này đã bị đục thành gồ ghề. Nàng còn thuê thợ mộc sửa lại cửa sổ và tấm vải nỉ phủ lên nóc xe. Cuối cùng, chiếc xe ngựa nổi bật của sứ thần Đại Ngụy đã bị An Mi sửa sang thành một cỗ xe bình thường không hề thu hút.
Ngày lên đường, Phù Trường Khanh nhìn An Mi trầm ngâm hồi lâu mới nói: “Trên đường đi, ngươi đổi sang quần áo nữ đi.”
An Mi hoảng hốt, nàng không biết Phù Trường Khanh đã nhận ra nàng là nữ từ khi nào. Mặt nàng đỏ bừng, định nghĩ đôi ba lý do nhưng không ngờ Phù Trường Khanh lại nói tiếp: “Trên đường nếu có người kiểm tra thì khi ngươi ăn mặc như phụ nữ, người ta sẽ làm qua loa một chút.”
Hắn nói vậy nàng liền hiểu ra, lòng còn thầm cho là may mắn, nàng cho rằng có lẽ Phù đại nhân chỉ muốn nàng giả nữ. Nếu đại nhân đã không hỏi rõ ràng thì chi bằng tiếp tục giả vờ, tránh việc chưa hỏi đã khai, tự đưa mình ra ngoài sáng.
Thế là An Mi ngoan ngoãn thay bộ váy áo mộc mạc của các cô gái Đột Quyết, thả tóc xuống tết lại và khoác thêm chiếc áo da dê dày dặn, biến thành một cô nương Đột Quyết từ đầu tới chân. Phù Trường Khanh cũng thay sang áo bào dài giản dị của nam nhân Đột Quyết cùng áo da, hắn định hóa trang thành dân thường nhưng ngũ quan, đặc biệt là cặp mắt sắc đã vô tình bán đứng hắn. Hắn bèn hóa trang qua loa rồi nằm trong xe ngựa giả thành trượng phu đang bệnh, ngẩng đầu lên nhắc An Mi ở bên ngoài xe: “Ngươi phải hóa trang thành phụ nữ đã có chồng.”
Mặt nàng thoắt cái đỏ ửng, nghe lời bện tóc vấn sau đầu.
Một đường đút tiền qua cửa, bọn họ thuận lợi trà trộn ra khỏi đình Khả hãn Đột Quyết, sau đó đánh xe ngựa rời khỏi con đường thương mại, đi về hướng đông nam, tiến vào vùng thảo nguyên mênh mông.
Sự thực đã chứng minh Phù Trường Khanh quả thật có thể dựa trên tiền đề lý luận suông, chỉ nhìn những điểm tốt, hắn đã coi nhẹ một điểm, cái gọi là quả mận đắng bên đường chính là để nói về thảo nguyên rộng lớn không người kia. Những thương nhân lanh lợi thà đi đường xa chứ không chọn đường thẳng chẳng lẽ lại không có nguyên nhân của nó? Phù Trường Khanh thiếu kinh nghiệm sinh tồn không lẽ lại cao siêu hơn những bách tính cả năm canh tác, trồng trọt mà sống?
Khi bánh xe ngựa vất vả lăn qua bùn đất đầm lầy trong đồng cỏ thì hắn mới phát hiện ra mình và An Mi đã không còn đường lui.
Vùng thảo nguyên từ Đột Quyết đến biên cương Đại Ngụy này bị mạng lưới các nhánh sông Hồn Nghi, Ôn Côn, Độc Lạc cùng các dòng chảy khác cả to, cả nhỏ vây quanh, cộng thêm địa hình trũng nên quanh năm đầm nước không cạn, hình thành mặt bùn lầy nhầy nhụa dưới đồng cỏ. Chỉ cần giẫm chân xuống là sâu gần tới gối.
Lúc này An Mi đã không dám ngồi trên xe đánh ngựa mà đành đi trước thăm dò từng bước một. Nàng cầm dây cương dắt ngựa, chọn nơi rễ cỏ dày đặc để đi bằng tốc độ chậm nhất về hướng đông nam.
Trong đồng cỏ nguy hiểm bốn bề, đâu đâu cũng là bùn lầy lấy mạng, do đó đêm xuống thì xe ngựa cũng chỉ có thể dừng tại chỗ qua đêm. Đồng cỏ ẩm ướt vương đầy băng tuyết nên chẳng thể tìm được củi khô, vì vậy củi khô và than củi mang theo trên xe càng trở nên quý báu. Phù Trường Khanh và An Mi không dám dùng nhiều nên mỗi lần chỉ nhóm lên một ngọn lửa nhỏ đến đáng thương, sau cùng đều bị gió rít nơi hoang dã thổi tắt một cách dễ dàng. Bọn họ đành trốn vào trong xe ngựa, lôi hết áo khoác da dày dặn cùng thảm nỉ đặt lên đệm da dê, nhưng vẫn bị nhiễm khí lạnh ẩm ướt khiến cả người run rẩy.
Sau nửa đêm, Phù Trường Khanh lạnh tới mức răng va vào nhau lập cập, không thể ngủ tiếp được nữa. Hắn nghĩ ngợi, cuối cùng vẫn duỗi tay sang An Mi. Khi ấy nàng đang ngủ say trong chăn đệm lông, thân thể dưới lớp chăn ấm nóng vô cùng hấp dẫn Phù Trường Khanh. Lúc lo lắng về lợi ích của bản thân thì Phù Trường Khanh sẽ không tuân thủ lễ nghi này nọ, thế nên một lần nữa hắn hành động lén lút dưới chăn, ôm An Mi vào lòng...
An Mi đột ngột tỉnh lại khi đang ở trong lòng hắn, nàng ý thức được tình cảnh hiện tại nên xấu hổ tới mức cả người nóng lên. Nàng chưa bao giờ gần gũi với đàn ông như thế này, huống hồ hắn còn không phải là phu quân của nàng, vả lại nàng còn...
Cả người nàng cứng nhắc không đám động đậy, nàng có thể cảm thấy được hơi thở dài ổn định của Phù Trường Khanh phả qua đỉnh đầu, hắn đã ngủ say rồi ư? Nàng ngẩn người trong bóng đêm một lúc, chợt trào nước mắt, một sự ngọt ngào nho nhỏ dâng lên trong lòng. Đây là chuyện mà xưa nay nàng chưa từng dám nghĩ đến, một người như hắn lại có thể ôm nàng vào lòng.
An Mi không kìm được cầu nguyện không ngừng: Hy vọng cực khổ trước mắt sẽ qua mau, hy vọng Phù đại nhân có thể về kinh sớm, mong rằng tất cả sẽ trở về như cũ... Tất cả những lời cầu khẩn đầy thành kính đó đều là do niềm hạnh phúc mang chút tội lỗi này mang lại.
Sau khi cơ thể Phù Trường Khanh dần dần ấm lên thì hắn ngủ rất nhanh, tuy nhiên sự đau đớn trên chân trái làm giấc ngủ của hắn không yên ổn. Có lẽ là vì đã lâu lắm không lâm vào cảnh tứ cố vô thân như hiện tại nên đêm nay, hắn mơ thấy ngày mình còn nhỏ, không biết dựa dẫm vào ai, không ai bầu bạn.
Lúc ấy hắn năm tuổi, phụ thân mời một vị tiên sinh về dạy vỡ lòng cho hắn. Từ nhỏ hắn đã được giáo dục rằng sau này hắn phải gánh vác trách nhiệm cùng vinh quanh gia tộc, cơ thể nhỏ bé lúc đứng lúc ngồi đều ngẩng đầu ưỡn ngực đâu ra đấy. Hồi đó hắn đã học được cách kiêu ngạo, nếu không vì một số chuyện gặp phải sau này thì có lẽ hắn đã hòa nhã, khiêm tốn hơn một chút. Nhưng ai mà biết được? Trên con đường đời, người ta phải đi từng bước mới đi hết được, không thể bước một lần là xong, cũng không thể hối hận.
Người thầy của hắn nổi danh khắp Lạc Dương, cũng là một người cao quý có xuất thân sĩ tộc. Do hắn ta qua lại thân thiết với vị Trung chính đại nhân đánh giá con cháu sĩ tộc nên mới có cái danh là “Lỗ Ban nho gia[1]”, hàm ý nếu muốn thành tài thì nhất định phải qua bàn tay hắn gọt giũa. Đó là vị tiên sinh nổi tiếng vì lấy sự nghiêm khắc để dạy học, cả năm trời mặt mày nghiêm nghị, luôn mặc bộ quần áo màu chàm.
1. Lỗ Ban là bậc thầy về thủ công và xây dựng trong lịch sử Trung Quốc.
Buổi học đầu tiên, thầy đã yêu cầu hắn phải học thuộc Thiên tự văn trong ba ngày, đây là chuyện hoàn toàn không thể với một đứa trẻ năm tuổi. Thế là ba ngày sau, Phù Trường Khanh bé nhỏ cả người co rúm, sợ sệt giơ tay ra chịu gần mười lần thước đánh.
Tối hôm đó, lòng bàn tay hắn sưng tới mức không cầm được đũa, hắn nhìn thấy mẫu thân nói không ngừng, kiềm chế để không chảy nước mắt, còn phụ thân thì mặt mày nghiêm khắc, trách mắng: “Mới vào học ba ngày mà đã bị đánh như thế thì chắc chắn con cực kỳ kém cỏi.”
“Không phải, phụ thân.” Phù Trường Khanh còn nhỏ cảm thấy mình bị oan, không dằn lòng được mà đặt luôn đũa xuống, quỳ gối giải thích: “Là vì thấy muốn con học thuộc Thiên tự văn, căn bản là con không thuộc được...”
“Im mồm!” Bấy giờ Phù Công cũng đập đũa, trợn mắt mắng con. “Không học thuộc được mà còn có mặt mũi để kể lể? Ta thấy con còn bị đánh ít đấy...”
Phù Trường Khanh nhìn đăm đăm đến ngây ra, loáng thoáng nghe thấy tiếng nói êm ái, nhẹ nhàng của mẫu thân hắn lẫn trong tiếng ong ong bên tai: “Báo Nô... mau ăn cơm đi, phụ thân cũng vì muốn tốt cho con...”
Báo Nô là nhũ danh của Phù Trường Khanh, hắn ngẩn ngơ cúi đầu nhìn bát cơm đầy trước mặt, nhưng làm thế nào cũng không tin được rằng chuyện không thuộc Thiên tự văn là lỗi của hắn. Cuốn sách dài như vậy, khó như thế, lẽ nào người ta đều thuộc được trong ba ngày?
Phù Công ngồi trên ghế, cất giọng lạnh lùng: “Hiện nay Đại Ngụy loạn trong họa ngoài, cần sự dốc sức và không ngại bôn ba mưa gió của những kẻ làm thần tử như chúng ta. Có câu “giữ lấy cơ nghiệp nhờ văn, khi gặp biến cố nhờ võ,” sự bình an lâu dài của Đại Ngụy sau này cần phải nhờ vào thế hệ các con. Nếu như con dốt nát, chỉ muốn dựa bóng tổ tông nhà họ Phù ăn bám bổng lộc thì chắc chắn ta sẽ không truyền lại cho con tước vị quận công! Nghe rõ chưa?”
Phù Trường Khanh còn bé nên không hiểu hết những lời này của Phù Công nhưng biết là thái độ của ông cực nghiêm khắc, hắn hoảng sợ cúi đầu cầm đũa, không hề có hứng ăn uống, miệng ấp úng: “Con hiểu.”
“Ừm, vài ngày nữa ta phải lên đường đi Lương Châu, trước khi đi ta sẽ bảo Chu quản gia quản lý con. Nếu như con dám lơ là việc học thì ta ở Lương Châu cũng biết ngay, cứ đợi đến lúc ta về kinh bẩm báo sẽ dạy dỗ con một trận.” Phù Công nói xong lại trợn mắt lên, sau đó mới dần dần nén giận trước ánh mắt cầu xin của vợ mình. Ông cầm bát cơm, vừa ăn vừa nói với bà: “Nàng thì hiểu gì, con cái nhà quyền quý tuyệt đối không thể buông thả được, nếu không một ngày nào đó không chỉ là mình nó vô dụng mà còn liên lụy làm bẽ mặt tổ tiên, gây họa cho gia tộc... Vị tiên sinh kia là thầy giáo giỏi nhất Lạc Dương, cũng từng dạy ở nhà họ Quý ở Bình Dương, sao công tử nhà người ta sau khi học vỡ lòng lại có thể thể hiện ra trí tuệ từ nhỏ? Ta từng gặp đứa nhỏ ấy, cẩn thận, thông minh, sau này chắc chắn sẽ là nhân tài kiệt xuất...”
Phù Trường Khanh xưa nay vốn không chịu thua kém ai, nghe thấy lời này của phụ thân thì lập tức cảm thấy vô cùng xấu hổ. Hắn vốn cho rằng phu tử cố tình làm khó, không ngờ có đứa nhỏ nhà khác có thể học thuộc Thiên tự văn thật, làm hắn không khỏi nghi ngờ lẽ nào bản thân không bằng người ta. Hắn buồn bã tới mức không muốn ăn cơm nữa.
Từ đó Phù Trường Khanh cam tâm tình nguyện chịu bị đánh, hắn mất năm ngày để học thuộc Thiên tự văn, sau này là Luận ngữ cần một tháng, bốn tháng cho Kinh thi, còn cả Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử,...
Trong những ngày tháng học tư thục của hắn, gần như ngày nào hắn cũng không tránh được bị phạt nên hằng sáng, lúc ngủ dậy đều lo sợ thấp thỏm. Nửa năm sau, mẫu thân - người duy nhất có thể an ủi hắn cũng đi Lương Châu, hắn mất đi sự che chở, thầy giáo càng quở trách thoải mái hơn. Gờ thước đồng như một lưỡi dao chưa mài, khi đánh mạnh vào ống chân trái của hắn thì đau đến buốt xương...
Cho tới một ngày, vào lúc Phù Trường Khanh đang bị đánh, hắn chợt ngước mắt nhìn, không ngờ lại phát hiện ra một sự vui vẻ kỳ quái trên mặt người thầy. Cuối cùng hắn bắt đầu nghi ngờ cái việc hết sức nghiêm khắc để dạy học gì gì đó đều là giả dối, hắn cũng không dám tin một người lại có thể có sở thích đáng sợ như vậy. Nhưng khi hắn giả bộ hờ hững thăm dò Chu quản gia, ông ta lại đáp như sau: “Có chứ thiếu gia, tất nhiên là có. Ví dụ như Vương phu nhân nhà Hữu bộc xạ đương triều thích nhất là tìm niềm vui trong việc quất roi vào tỳ nữ. Có lần, một tỳ nữ chọc giận bà ấy còn bị đánh chết tại chỗ, thật đáng thương...”
Chiều tối hôm đó, Phù Trường Khanh bỏ nhà đi, hắn ngây thơ ôm chút tiền bạc nhận được hồi tết lén đi khỏi Phù phủ. Khi tiền trong tay bị bọn trẻ hư hỏng đầu đường Lạc Dương cướp hết, trong đêm tối, hắn không có nhà để về, bị thị vệ tuần đêm phát hiện. Từ quần áo hắn mặc, đám thị vệ đoán hắn là công tử nhà quyền quý nào đó cho nên rất kiên nhẫn hỏi han, sau đó đưa hắn chịu đã đủ đói rét về phủ.
Rất nhanh sau đó, một bức thư của Chu quản gia đã thúc giục Phù Công về kinh báo cáo trước thời hạn. Phù Công vừa vào cửa, nhìn thấy con trai liền lấy roi mây đánh liên tục, mặt tối sầm, quát to: “Thằng nhãi bất tài! Thằng nhãi chẳng làm được cái gì! Cho mày ăn ngon mặc ấm mày lại không biết điều mà khiến cả kinh thành cười nhà họ Phù...”
Phù Trường Khanh cũng không rõ vì sao chuyện của mình lại có thể truyền khắp Lạc Dương, tóm lại chỉ mấy ngày sau khi bỏ đi không thành thì đám trẻ con ở đầu đường đều vỗ tay hát: “Phù gia có đứa con hiếu thảo, học hành nhiều tới mức khóc lóc gọi mẹ, chạy đi biên cương tìm cha, chạy đến cổng thành thì dừng lại, hóa ra đã quên mang theo ngựa tre...”
Roi mây không phân rõ phải trái của phụ thân làm Phù Trường Khanh quên cả tránh đòn, một cảm giác cực kỳ uất ức từ đáy lòng trào lên khiến hắn không màng gì nữa mà hét lớn: “Là tại thầy, thầy thích đánh con! Ông ấy bắt con nửa tháng phải học thuộc Lục thao, không thuộc được thì sẽ đánh!”
Tiếng hét này làm Phù Công ngẩn ra vì một người trưởng thành như ông ta tất hiểu rằng học thuộc Lục thao trong nửa tháng khó tới mức nào đối với một đứa trẻ chưa đến mười tuổi. Ông bèn đặt roi xuống, mời thầy giáo vào phòng khách nói chuyện. Lúc Phù Trường Khanh đang ôm hy vọng những ngày khốn khổ sẽ chấm dứt thì sau khi nói chuyện với thầy giáo, Phù Công liền gọi hắn vào phòng trong: “Con đọc Luận ngữ cho ta nghe.”
Phù Trường Khanh một dạ muốn lấy lòng phụ thân, không dám chậm chạp mà đọc vanh vách cả cuốn Luận ngữ. Phụ thân hắn nghe xong lại đanh mặt. “Con mất bao lâu mới học thuộc được Luận ngữ?”
“Một tháng.” Phù Trường Khanh ngẩn người, thành thật đáp.
“Ừm.” Vẻ mặt Phù Công thoáng cái lại nghiêm nghị hơn. “Thầy nói quả nhiên không sai. Năm đó con mới năm tuổi mà chỉ mất một tháng đã thuộc Luận ngữ, vậy năm nay đã chín tuổi, nửa tháng học Lục thao thì có gì khó khăn đâu? Ta nghĩ đúng là con như thầy nói, học hành có chút thành quả liền sinh lười nhác. Thầy giáo nghiêm khắc cũng là vì hy vọng con thành tài, lẽ nào ngài ấy muốn hại con? Chỉ có điều người ta phạt nặng một chút mà con đã bỏ nhà đi, làm ngài vừa vào đã tạ lỗi với ta. Sau này làm sao còn dám dạy dỗ hẳn hoi nữa? Đúng là đồ bướng bỉnh không chịu hối cải! Ta đã bảo ngài ấy sau này cứ dạy nghiêm không phải băn khoăn gì, con phải ngoan ngoãn mà nghe lời...”
Phù Trường Khanh chỉ cảm thấy cả người lạnh buốt, thể xác và tinh thần như bị bao phủ bởi khí lạnh.
Mười hai tuổi, Phù Trường Khanh vào Thái học viện mới coi như thoát khỏi người thầy như ác mộng kia, cũng tại đây hắn gặp gã Quý Tử Ngang năm đó đã khiến hắn xấu hổ không thôi trong đám con cháu sĩ tộc tập trung trong viện. Ai ngờ chỉ sau một lần nói chuyện hắn liền biết Quý Tử Ngang cũng chỉ thường thường. Tuy đúng là xuất chúng trong đám đồng lứa thật, nhưng những sách hắn ta biết còn ít hơn nhiều so với mình, làm gì xuất sắc như thầy giáo khen ngợi?
Đến tận sau này hắn mới biết phụ thân của Quý Tử Ngang là Hồng lư tự khanh từng lấy nhân sâm nghìn năm mà nước Bột Hải tiến cống, cứu vợ của người thầy kia một mạng, mới đổi lấy được sự hòa nhã cùng những lời khen của ông ta cho Quý Tử Ngang.
Khi biết được chuyện này, Phù Trường Khanh cảm thấy thật vô lý, thật nực cười, thật ghê tởm. Hắn hiểu ra mình không thể đi ngược lại kinh thư hay đạo lý. Một ngày của một năm nọ, hắn đọc Hàn Phu Tử tới đoạn Khổng Tử bái Lỗ Ai Công làm quân chủ không phải vì sự nhân nghĩa mà là do khuất phục trước quyền thế của Lỗ Ai Công. Phù Trường Khanh thời niên thiếu liền thấy thật hả dạ.
“Xưa nay người đời đều phục tùng quyền thế, rất ít bị nhân nghĩa cảm hóa.” Nói rất đúng! Một đất nước pháp trị lý tưởng thì chỉ nên có quần thần, không có cái gọi là cha con, hiếu thuận, hay cứ mở miệng ra là nhắc đạo đức.” Quả là quá đúng!
Phù Trường Khanh thời niên thiếu mừng như phát điên, cầm cuốn Hàn Phu Tử đọc đi đọc lại, cảm giác như vừa tìm được chân lý từng làm hắn hoang mang suốt thời gian dài. Từ đó, học thức về hành pháp của pháp gia liền nhập vào xương sống hắn, dần dần mọc ra một bụi gai trong cơ thể nhã nhặn như cây ngọc của thiếu niên.
Phù Trường Khanh mười sáu tuổi, trước khi bước vào con đường làm quan được Trung chính đại nhân phụ trách đánh giá con cháu sĩ tộc bình luận một câu: “Lạc Dương có Phù Trường Khanh tài hoa tuấn tú, kinh đô có Quý Tử Ngang đường đường chính chính.”
Lần đầu tiên nghe được câu này, Phù Trường Khanh liền biết đường làm quan của mình không có gì cần lo lắng, hắn thở phào nhẹ nhõm, nhưng sau đó khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười nhạo báng. Hắn biết thừa cái vị Trung chính đại nhân kia để Quý Tử Ngang ở phía sau hắn là vì muốn lấy cái tài hoa vốn danh chấn cả Lạc Dương của hắn để bợ đỡ cho Quý Tử Ngang. Hơn nữa, đến bây giờ hắn vẫn còn nhớ năm đó, lần đầu gặp Quý Tử Ngang ở Thái học viện, hắn ta cười cợt nói một câu: “Ta biết ngươi, Phù Báo Nô, ngày trước ngươi bỏ nhà đi ta còn sáng tác một bài...”
Chỉ vì một câu này mà Phù Trường Khanh hắn sớm muộn gì cũng sẽ khiến kẻ tên Quý Tử Ngang kia còn không đủ tư cách để xếp sau tên hắn.
Phù Trường Khanh mở mắt ra mới biết, những đau đớn và lạnh lẽo trong mơ thì ra đều là sự thật.
Lúc này hắn đang ở nơi hoang dã phía bắc, cách xa quê hương phồn hoa. Bên người chỉ có một chiếc xe ngựa đơn sơ, gió bắc thổi bên tai, có cả cô gái Hồ không hề thu hút ở trong lòng. Hắn nhìn xuống mới nhận ra mình đã ôm nàng ngủ thật lâu, còn cơ thể cứng nhắc của nàng lại không hề động đậy.
Trong xe tối tăm, Phù Trường Khanh có thể nghe thấy tiếng thở dè dặt của nàng, biết nàng không ngủ nên hắn thử nhúc nhích cơ thể đã tê tần. Sự đau đớn trên chân trái làm hắn dù đã nghiến chặt răng nhưng vẫn phải rên lên một tiếng. Khi hắn thả lỏng người mới phát hiện cô gái trong lòng vẫn nằm im như cái xác, cơ thể nàng càng cứng đờ.
Sau khi hắn lại nằm xuống thì cũng không buông nàng ra, hắn không kháng cự được sự hấp dẫn từ cơ thể ấm áp, càng ôm chặt hơn, bù lại hơi ấm vừa hao mất khi hắn lật người. Đầu ngón tay quen ôm lò sưởi giờ lạnh ngắt, hắn càng muốn được nhiều hơn nữa nên lẳng lặng vươn tay đến eo nàng, với vào trong, chầm chậm đặt lên da thịt trơn nhẵn, ấm nóng của nàng.
Đôi mắt hắn nhìn chằm chằm vào bím tóc của nàng, chuẩn bị sẵn sàng lúc nào nàng giãy giụa thì sẽ rụt tay lại ngay, thế nhưng dù ngón tay hắn ngày càng lấn tới, hắn cũng không thấy nàng giãy giụa một li. Hắn có thể cảm nhận được làn da dưới ngón tay hắn khẽ run lên, hơi thở hồi hộp của nàng len vào vạt áo hắn, nhưng quả thực nàng không hề nhúc nhích.
Hắn không khỏi mỉm cười trong bóng tối, lòng thầm hiểu ra một chút. Vì sao hắn không nghĩ ra sớm hơn chứ? Một người con gái còn có thể vì lý do gì mà không ngại nguy nan tình nguyện trở lại tìm hắn?
Một khi nghĩ thông suốt, những vướng mắc trong lòng mấy ngày nay liền được gỡ bỏ hoàn toàn. Tự đáy lòng hắn tràn đầy sự kiên định sau khi tìm được cân bằng. Người thích hắn nhiều không đếm xuể, hắn chẳng cần để ý. Cũng giống như chuyện đun tổ yến thành nấm trắng vậy, trong những thời điểm quan trọng, nữ nhân trở nên lơ mơ là điều có khả năng xảy ra.
Thậm chí hắn còn cười lạnh lùng, may mà nàng còn tự biết điều không nói năng linh tinh làm hắn càng thêm phiền phức trong lúc này. Nhưng nếu hắn đã hiểu lòng nàng, vậy suy cho cùng cũng nên làm gì đó mới được...
Con đường phía trước mờ mịt, tương lai nhiều khó khăn trắc trở, hắn đã ở vào thế khó, sao có thể để sự hung hiểm vô tình làm uổng phí mất tình yêu không thực tế này của nàng? Có một số chuyện nếu làm không tốn mấy sức mà còn mang lại nhiều lợi ích cho mình thì tất nhiên hắn sẽ chọn làm.
Từ sau đêm đó, An Mi nhận thấy thái độ của Phù Trường Khanh đối với mình có chút thay đổi. Đầu tiên là việc hắn thường mỉm cười với nàng, hơn nữa lúc nàng xuống xe dắt ngựa tìm đường, hắn sẽ nói với nàng một tiếng: “Thật vất vả cho ngươi quá!”... Những sự thay đổi này đều khiến lòng nàng thấy ngọt lịm, vì nàng có thể tham lam mà đoán rằng có khi Phù đại nhân cũng có chút thiện cảm với nàng không chừng? Nghĩ vậy, nàng như được cổ vũ, quyết tâm sẽ càng tốt với hắn hơn.
Hoàn cảnh khó khăn lại không vì tâm tính vui vẻ của An Mi mà thay đổi. Chặng đường từ Lương Châu tới đình Khả hãn Đột Quyết chỉ cần hơn mười ngày ngồi xe, lần này bọn họ đi đường thẳng nhưng còn khó đi hơn do gặp phải đầm cỏ. Suốt quãng đường phải lo lắng cho chiếc xe ngựa to nên tốc độ chậm hơn cả đi bộ.
Do vậy Phù Trường Khanh cả ngày u ám. Đây là con đường hắn tự chọn, những khổ cực từ sai lầm khi vạch kế hoạch tất nhiên hắn phải chịu, nhưng tình cảnh trước mắt quả thật vượt xa tri thức hắn tích lũy được từ trong sách vở. Hiện giờ hắn cũng không biết nên làm gì để hóa giải nguy cơ trước mắt.
An Mi dắt ngựa, cực kỳ gian nan nhấc chân kéo giày ra khỏi đống bùn lầy, vấn đề nàng đang suy nghĩ còn thực tế hơn Phù Trường Khanh nhiều: Lương thực của hai người có khả năng không đủ. Trước đó, để đề phòng tình huống xấu có thể xảy ra, họ cố tình chuẩn bị đồ ăn cho một tháng chất lên xe ngựa, nhưng xem ra khi ấy họ đã quá lạc quan. Hai người đã đi về phía đông nam mười mấy ngày nhưng chỉ đi được hơn tám mươi dặm. Nói thật thì bắt đầu từ hôm qua, mỗi bữa An Mi chỉ dám ăn cầm hơi, nàng tính tiết kiệm chút lương thực được thêm ngày nào hay ngày đấy.
Gió bắc gào rít không ngừng trên thảo nguyên mênh mông, những cây cỏ bị đầm lầy làm ướt nhẹp chẳng thể nào đung đưa trước gió. Bầu trời âm u, cả vùng thảo nguyên như một biển màu xanh xám trầm lặng. Không lâu sau thì trời đổ tuyết, người và ngựa phải đi trên bùn lầy lầy lội nên tốc độ càng thêm chậm.
Cuối cùng, An Mi bước nửa bước cũng thấy khó, đành phải dừng xe, ổn định xe ngựa xong thì cũng run lẩy bẩy lên xe, chuẩn bị cùng Phù Trường Khanh trải qua một đêm dài đằng đẵng.
Trong xe thắp một ngọn đèn, ánh lửa nhỏ bằng hạt đậu. An Mi thay thuốc cho vết thương ở chân Phù Trường Khanh trong ánh sáng lờ mờ đó, tán gẫu câu được câu chăng: “Đại nhân, chúng ta đã đi được một phần ba đường, có lẽ sẽ nhanh chóng gặp được người dân thôi.”
“Nếu biết sâu trong thảo nguyên là chỗ quỷ quái như thế này thì ta thà đi đường lớn đụng người Đột Quyết còn hơn.” Phù Trường Khanh không tin, hắn cười khổ.
Nàng sợ hắn buồn nên an ủi: “Thật ra đi đường này cũng tốt, ít nhất là an toàn.”
Phù Trường Khanh ngước mắt nhìn kĩ An Mi đoan trang dưới ánh đèn. Dù là ai, dù là người kiêu căng, tự mãn thế nào thì khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn, gặp được người vẫn khăng khăng cổ vũ, tin tưởng mình thì trong lòng luôn thấy cảm động. Phù Trường Khanh vô cùng xúc động, hắn ngắm cái trán xinh đẹp của An Mi dưới ánh sáng vàng, đột nhiên cảm thấy cô gái người Hồ này thật đáng yêu, không khỏi buột miệng khen: “Quả nhiên ngươi có một đôi lông mày rất đẹp.”
Từ xưa tới nay hắn luôn thấy con gái Hồ có mắt mũi quá sắc nét, đẹp thì có đẹp nhưng suy cho cùng vẫn thô, chỉ có loại nhà giàu mới nổi mới thích kiểu này. Quan điểm của hắn về mỹ nhân lâu nay đều rất “Trung Nguyên”, hắn thích mắt mũi dịu dàng, thanh tú, lông mày tốt nhất là nhạt màu đến mức chỉ như làn khói, cần lấy than vẽ lông mày rồi tô lên mới đậm màu, vậy mới có thú vui tao nhã trong khuê phòng. Nhưng có lẽ do sương gió Tái Bắc đã thổi bay hết thú vui thanh nhàn của hắn, lúc này hắn lại thấy mắt mũi sắc nét của An Mi cùng với làn da mịn màng như em bé trở nên đẹp vô cùng, nhất là đôi lông mày lấp lánh ánh sáng xanh dưới ngọn đèn, toát ra vẻ thẹn thùng khó tả như đôi mắt sợ sệt kia.
Mặt nàng tức thì đỏ lên. Nàng nhớ lại lần đầu tiên gặp Phù Trường Khanh, hắn cũng từng khen lông mày nàng đẹp. Sự vui sướng dâng tràn tự đáy lòng nàng. Một người như hắn mà lại tìm ra được một ưu điểm trên người nàng đúng là không dễ. Nàng nghĩ vậy thì không nhịn được bật cười một tiếng, nói với hắn: “Đại nhân, cảm ơn ngài! Từ khi tới Trung Nguyên thì ta chưa từng được người ta khen như thế bao giờ.”
Nhưng khi còn ở nước An Tức xa xôi, đôi lông mày của nàng được người ta khen suốt từ nhỏ tới lớn, đây cũng là nguồn gốc của tên nàng.
Phù Trường Khanh ngẩn ra, bỗng thấy mất tự nhiên nên hắn chuyển chủ đề: “Dù sao cũng còn lâu mới tới giờ đi ngủ, chi bằng chúng ta tiết kiệm chút dầu, tắt đèn nói chuyện đi.”
“Dạ?” An Mi ngây ngô nhìn Phù Trường Khanh thổi đèn, nàng hỏi trong bóng tối, cảm thấy có chút lo lắng không yên. “Chúng ta nói chuyện gì?”
“Chuyện ma.” Phù Trường Khanh vừa nói xong thì nhận ra An Mi đã nhào tới gần hắn, làm hắn không khỏi cười đắc ý. “Ta từng được nghe rất nhiều chuyện, rất lâu về trước...”
Thông minh như hắn thì cần gì phí sức tự hạ mình, hết lần này đến lần khác vươn tay ôm nàng vào lòng? Lần này không khiến nàng tự động nhào vào chăn hắn là không được. Sưu thần ký, Thập di ký, Linh quỷ chí... Đọc nhiều chuyện ma quái đó chẳng lẽ chỉ là đọc không? Tri thức chính là sức mạnh!
Phù Trường Khanh tự cho rằng để lợi dụng được hết sự ấm áp và sự giúp đỡ của An Mi để nàng giúp hắn sớm thoát được vùng thảo nguyên ma quái này, hắn thật sự rất cần dùng các thủ đoạn dụ dỗ, lung lạc. Đương nhiên hiện giờ hắn không hiểu rằng An Mi là người bạn cùng chung hoạn nạn với mình.
Sau một đêm gió tuyết, sáng sớm An Mi ngủ dậy ra khỏi xe, vừa nhìn liền phát hiện một trong hai con ngựa đã ốm vì rét. Đây là ngựa bình thường nàng bỏ tiền ra mua, tất nhiên sức khỏe không bằng ngựa Đại Uyên được. Nàng đành đút cho chúng ít đường đỏ rồi mất hồi lâu mới dắt chúng đi tiếp được.
Đám bùn lầy đóng băng sau trận tuyết lớn làm con đường dễ đi hơn một chút nhưng đầm lầy cũng bị tuyết trắng bao phủ nên càng nguy hiểm hơn. An Mi không dám sơ suất, luôn phải dùng thanh củi thăm dò phía trước, cuối cùng cây tiết trượng tám thước của Phù Trường Khanh trở thành công cụ tốt để dò đường.
Hai người lại đi thêm hơn mười ngày về hướng đông nam. Hành trình đã đi được hai phần ba, lương thực bắt đầu thiếu. Đầu tiên là thịt khô và hoa quả đã hết, chỉ còn lại bánh nướng khô cứng lấp bụng. An Mi thì tiết kiệm từng chút một nhưng Phù Trường Khanh quen sống trong nhung lụa vẫn bị ảnh hưởng. Khi hắn không kìm được tức giận vì ngày nào cũng phải ăn bánh nướng nhạt nhẽo đến phát chán thì hắn không hề biết rằng, sau mấy ngày nữa đến bánh cũng sẽ chẳng còn.
Vùng thảo nguyên trước mặt lớn nhưng không có bóng dáng người và động vật, ngoại trừ một loài chuột chạy vô cùng nhanh. An Mi từng trải qua mấy lần nạn đói nên có chút ít kinh nghiệm sinh tồn. Ban đầu nàng tính đào hang chuột kiếm ăn nhưng lại sợ sau khi Phù Trường Khanh biết sẽ thấy ghê tởm, mỗi ngày nàng đành thử đào vài cọng rễ cỏ để ăn. Nàng rời Tây Vực đã lâu, nay cũng không nhận biết rõ những loại cây dại trên thảo nguyên nữa nhưng nàng để ý xem hai con ngựa ăn cỏ gì, chỉ cần ngựa ăn được thì nàng sẽ đào rễ của loại cỏ ấy lên ăn. Dinh dưỡng của thực vật trong mùa đông đều nằm tại phần rễ, rễ cỏ có khi non mềm đến ngọt, nàng còn nhớ cả, chỉ có điều ăn rễ cỏ có thể bị tiêu chảy, có loại ăn vào mấy ngày còn không đi ngoài được, đúng là chúng giày vò nàng quá chừng.
Dần dà, hai chân nàng bắt đầu sưng lên, ban ngày đi đường như đi trên mây, tối đến đi ngủ thì tứ chi lạnh ngắt, Phù Trường Khanh biến thành người sưởi ấm cho nàng. Phù Trường Khanh ngày đêm ở bên nàng cũng nhận ra mặt mũi nàng xanh xao nhưng cả ngày ở trong xe, hắn chỉ lo nghĩ chuyện về đến Lạc Dương sẽ lật mình như thế nào, hắn chưa từng sầu lo chuyện lương thực, nói gì đến chuyện để ý An Mi đã làm những gì.
Để tiết kiệm củi, có một lần, hai người thử uống hẳn nước lã, kết quả là ngay hôm đó Phù Trường Khanh bị tiêu chảy, chuyện này khiến người vẫn bình yên vô sự từ đầu đến giờ là An Mi sợ đến choáng váng, từ đó nàng không dám làm qua loa trong vấn đề ăn uống của Phù Trường Khanh nữa.
Sáng sớm hôm nay, An Mi mở túi lương khô ra, thấy trong túi chỉ còn hai chiếc bánh nướng cuối cùng thì không khỏi chán nản. Thật ra lương thực cho một tháng có thể duy trì được tới ba mươi bảy, ba mươi tám ngày đã là một kết quả tốt lắm rồi, nhưng vấn đề là tiếp theo phải làm thế nào đây? An Mi thở dài một hơi, nàng lấy một chiếc bánh ra khỏi túi rồi đi tới trước mặt Phù Trường Khanh đã xuống xe hít thở không khí trong lành. Nàng bẻ bánh ra làm đôi, đưa một nửa cho hắn. Hắn nhíu chặt mày nhìn nàng, cắn một miếng, vừa phủi vụn bánh rơi trên quần áo vừa tức giận nói: “Về Lạc Dương, ta sẽ không bao giờ ăn loại bánh này nữa.”
Nếu có thể quay về Lạc Dương thì thật muốn ăn bánh nướng cả đời, An Mi nuốt nước miếng, thầm nhủ như vậy. Nàng cầm nửa cái bánh, nói với hắn: “Tiểu nhân đi đây một lát.”
“Ngươi đi đâu?” Phù Trường Khanh liếc nàng một cái, nghi hoặc hỏi.
An Mi lắp bắp nói một lý do cho qua: “Tiểu nhân... đau bụng...”
Phù Trường Khanh đang cầm miếng bánh quả nhiên trừng mắt nhìn nàng, mặt lộ vẻ ghê tởm, bảo nàng đi nhanh. Nàng nhanh chóng chạy ra phía xa xa trong đồng cỏ, sau khi chắc chắn Phù Trường Khanh không nhìn thấy mình nữa mới khom người xuống, giấu nửa cái bánh vào trong áo rồi bắt đầu đào rễ cỏ. Rễ cỏ lạnh buốt và sần sùi được nàng rửa qua quýt trong nước rồi bỏ vào miệng, theo cổ họng đi vào dạ dày trống rỗng của nàng. Không lâu sau, chúng làm cho nàng không ngừng buồn nôn. Nàng ra sức ấn chặt ngực, hít sâu vào, thầm mắng chính mình: “Đúng là đáng chết, đáng chết, mới sống được vài ngày tốt đẹp mà đã quên gốc gác, quên những năm đói kém sống sót thế nào rồi? Chẳng phải cũng ăn rễ cỏ sao...”
Nghĩ vậy, An Mi chợt nảy ra một ý, cúi đầu lấy nhánh cây hòe trong áo ra lắc lắc. Nàng thất vọng nghĩ, nếu đi tiếp thì lâm vào đường cùng rồi, sao mọt vẫn không xuất hiện? Mà dù không xuất hiện thì rơi một con ra cho nàng ăn lấp bụng cũng được... Nhưng lắc một lúc lâu mà mọt trong nhánh cây vẫn không nhúc nhích, cuối cùng nàng đành chấp nhận, thở dài một hơi xong đứng dậy đi về. Khi nàng uể oải về đến bên xe ngựa, còn chưa kịp lên tiếng đã nhìn thấy mấy mẩu bánh nướng nho nhỏ nằm trên đất bùn, tức thì nàng lắp bắp hỏi: “Ơ... đang yên lành sao lại vứt... Đại nhân, ngài...”
“Cứng như đá, ăn kiểu gì!” Phù Trường Khanh bực mình lườm nàng, thờ ơ đáp.
An Mi vô cùng đau lòng, hai mắt cứ nhìn mãi vào bánh nướng trong đống bùn, chỉ muốn nhặt lên rửa đi ăn lại. Phù Trường Khanh thấy vẻ tiếc rẻ của nàng thì lòng bỗng thấy xấu hổ một cách khó hiểu, vội vàng tỏ vẻ hung dữ. “Nhìn gì mà nhìn, còn không mau đỡ ta lên xe!”
An Mi hoàn hồn, đành không nhìn nó nữa, lòng đầy luyến tiếc mà giơ tay ra ngoan ngoãn đỡ Phù Trường Khanh lên xe, nhưng không ngờ hắn chợt đứng lại, đôi lông mày nhíu chặt, hỏi nàng bằng giọng không vui: “Sao móng tay ngươi toàn đất?”
Nàng ngẩn ra, cúi xuống nhìn hai tay mình, nghẹn lời chẳng đáp được gì. Thực ra sau khi đào rễ cỏ nàng đã rửa tay rồi, chỉ là nàng đâu có để ý nhiều như sĩ tộc, rửa tay xong còn phải rửa sạch cả móng tay?
Một cảm giác không vui trào lên trong lòng hắn nhưng nhìn thấy vẻ mặt vừa yếu đuối vừa tổn thương của nàng thì cuối cùng hắn cũng nhẫn nhịn được, không chửi cô nàng ngốc nghếch này. Hắn chỉ phất tay không cần nàng dìu, tự mượn sự giúp đỡ từ cái gậy để trèo lên xe ngựa. An Mi hối hận lắm nhưng cũng không nói được gì, đành im lặng dắt ngựa tiếp tục đi về phía trước.
Bữa tối hôm đó, nàng sợ Phù Trường Khanh để ý nên cố tình lấy cái bánh cuối cùng ra để hắn tự bẻ. Hắn thấy nàng làm vậy thì tâm trạng càng xấu đi, lạnh mặt bẻ bừa cái bánh nướng thành hai phần, đưa cho nàng một phần. Lần này nàng cũng giấu hắn, lén đi ra thật xa, tiết kiệm phần thức ăn này của nàng theo phương pháp cũ.
Đúng thật là chó cắn áo rách, nàng đang cố gắng nuốt rễ cỏ thì bất chợt cảm thấy một cơn đau ở bụng dưới, mặt mũi tức thì trắng bệch, nàng thầm nhủ thôi xong rồi, có lẽ là có kinh nguyệt. Mà mấy ngày qua nàng đều ăn rễ cỏ có tính lạnh, đúng là họa vô đơn chí, quả nhiên nàng đen đủi. Đêm đến, chân tay nàng lạnh ngắt, bụng thì đau đến mức không ngủ được, trở mình suốt đêm, làm tấm ván gỗ của xe cứ vang lên tiếng cọt kẹt. Nàng sợ Phù Trường Khanh sẽ mắng mình phiền phức nhưng may mà hắn đã quấn tấm lông dê ngủ say không biết gì.
Đêm nay nàng thức đến tận lúc trời sáng, lơ mơ trèo xuống xe đi rửa mặt. Đến giờ ăn sáng, nàng lấy hai miếng bánh cuối cùng ra, một miếng to một miếng nhỏ, miếng to là miếng hôm qua Phù Trường Khanh bẻ. Nàng không đắn đo gì mà đưa hắn miếng to hơn, miệng thều thào: “Đại nhân... tiểu nhân đã rửa tay trước rồi, miếng này của ngài...”
Phù Trường Khanh đang tính nói gì đó lại thôi, lúc nhìn thấy miếng bánh nàng đưa thì vẻ mặt thoắt cái thay đổi, An Mi vốn đang không khỏe nên chẳng hề để ý đến sự thay đổi của hắn, sau khi báo qua loa một tiếng, nàng liền chạy đi xa.
An Mi giấu nửa chiếc bánh vào trong áo, hai mắt lờ đờ, miệng nhai rễ cỏ, nàng mệt mỏi đến phờ phạc cả người nên không biết có tiếng bước chân loạt soạt ở đằng sau, tới khi một tiếng quát chói tai vang lên mới khiến nàng hoàn hồn: “Ngươi đang làm gì?”
An Mi ngẩng phắt đầu dậy, thấy Phù Trường Khanh đang tức giận bừng bừng, nhìn chằm chằm cọng rễ cỏ ở bên miệng nàng.