Sau đó là những ngày đau buồn, nhưng tôi không nhớ rõ là bao lâu. Làng giờ đây là nơi hoang vắng, lạnh lẽo. Tôi nhớ đến cái chết. Tôi nhớ những người vượt qua biển cả. Tôi quyết định không sống trong nhà tôi nữa.
Tôi đưa ngọn lửa kề vách nhà tôi, ngôi nhà cháy đổ sụp xuống. Sau đó tôi đốt ngôi nhà kế bên và kế bên. Ngày hôm đó ngôi làng Ghalas-at bị hủy diệt.
Ngôi nhà mới của tôi nằm trên một ngọn đồi nhỏ gần ở phía Tây. Ở nơi đây có hai cái cây nhỏ và một tảng đá phẳng cao. Phía sau tảng đá lá một hốc đá, gió không thể lọt vào. Nơi này rất cao, chó không thể lên tới. Tôi không biết bây giờ chúng ở nơi đâu.
Tôi nhớ lời tự nguyện của mình. “Bọn chúng sẽ tìm được nơi ở của mình,” tôi nghĩ. “Bọn chúng sẽ tấn công mình vào một ngày nào đó. Mình sẽ giết con chó đầu đàn và cả bọn chúng.” Nhưng tôi phải tìm ra cách để làm chuyện đó.
Luật ở Ghalas-at không cho phép phụ nữ làm giáo. Nhưng giờ tôi cần phải tự vệ. Tôi đi tìm trong các căn nhà bị cháy và trong các chiếc xuồng. Tôi không tìm được cây giáo nào.
Sau đó tôi nhớ đến các rương bọn Aleut mang lên đảo. Không biết bọn chúng có mang theo chúng hay không? Hay nó còn nằm đâu đó trrên bãi? Tôi đứng nhìn chung quanh chỗ Orlov đứng trước khi xảy ra cuộc chiến. Cát rất mềm, do vậy tôi dùng cây gậy chọc nhiều chỗ. Có thể cơn bão đã lấp cát lên rương.
Bỗng cây giáo tôi chạm phải một cái gì cưng cứng. Tôi dùng tay cào đất qua một bên. Lòi ra nắp rương, tôi giở nắp rương ra. Rương chứa đầy hạt ngọc trai đủ màu sắc. Tôi quên phứt câu chuyện cây giáo khi trông thấy các viên ngọc lóng lánh, đẹp đẽ đó. Tôi lấy một xâu chuỗi ngọc dài nhất lên, cảm thấy mình như phu nhân của một vị tù trưởng.
Bỗng tôi nhớ những người đàn ông đã nói rằng tôi không thể mang những vật đẹp đẽ này. Tôi lấy các xâu chuỗi ra khỏi rương. Tôi bước ra ngoài sóng biển và ném các xâu chuỗi xuống biển sâu.
Không có đầu mũi giáo trong rương. Tôi đóng rương lại và lấy cát lấp lên.
Một đêm, bọn chó đến dưới chân đồi chỗ tôi ở. Chúng không thể trông thấy tôi trên tảng đá và chúng không thể leo lên chỗ tôi. Nhưng chúng biết tôi ở gần đâu đó. Tôi nghe tiếng bọn chúng cho đến khi trời rạng sáng.
Tôi nhớ đến luật lệ của chúng tôi. Tôi cần phải tự vệ, nhưng vì là đàn bà, tôi không thể làm giáo. Cha tôi tỏ ra rất minh bạch trong vấn đề này. Ông nói: “Nếu đàn bà làm ra cây giáo, ả không thể dùng nó. Đến lúc ả cần, nó sẽ gãy.” Không người đàn bà nào của bộ tộc chúng tôi làm ra một cây giáo. Không ai biết lời đe dọa “đất sẽ sụp dưới chân, đá sẽ rơi trên đầu” là đúng hay sai.
Nhưng sự sống của tôi bị đe dọa. Bọn chó đã giết Ramo, giờ chúng muốn giết tôi!
Đêm hôm qua, bọn chó lại đến. Tôi quyết định hủy bỏ luật lệ của làng. Nhưng con tim tôi tràn đầy nổi sợ.
Tôi cần một cây giáo cứng, một cây cung và một số tên… Tôi quyết định làm cây giáo trước, sau đó đến cung và tên.
Tôi lấy cây làm mũi giáo, đoạn cột thật chặt vào một cây gậy dài, thật thẳng. Làm cung và tên khó hơn nhiều. Tôi phải đi tìm kiếm khắp nơi mới có thể tìm được loại cây phù hợp để làm cung. Về tên, tôi cần lông chim và đá để làm đầu mũi tên.
Thời gian trước, tôi thường nhìn cha tôi làm những thứ vũ khí này, nhưng tôi không bao giờ ngồi quá gần. Tôi đã không nghĩ đó là việc làm cần cho phụ nữ. Tôi phải mài đá cho nhọn và cột lông chim vào đuôi mũi tên.
Tôi làm trong nhiều ngày. Sau cùng tôi đã có được một cây cung và nhiều mũi tên để tôi có thể dùng. Sau đó tôi không bao giờ rời khỏi chỗ ở mà không mang chúng theo. Tôi tập bắn cung và sử dụng giáo.
Tôi mang tảo khô từ bãi về chỗ ở để lám một cái giường êm ái. Tôi thích ngủ nơi đây dưới ánh sáng các vì sao. Tôi không cần phải dậy sớm vào buổi sáng. Tôi có thể nhìn chim biển lượn trên mặt nước và các con rái cá đùa giỡn trên tảo. Rái cá đã trở lại, giờ đây chúng cũng nhiều như trước đây.
Mỗi khi tôi nằm trên tảng đá, tôi nghĩ trước hết đến chiếc tàu của những người da trắng. Một buổi sáng việc làm đầu tiên của tôi là nhìn ra biển. Tôi mong con tàu trở lại. Và mỗi buổi sáng tôi thấy chim biển bay trên các ngọn sóng. Mùa đông chấm dứt và mùa xuân đến. Rồi mùa đông lại qua đi, nhưng con tàu không đến.
Mùa hạ là mùa đẹp nhất ở Đảo Cá Heo Xanh. Trời ấm áp biển dịu êm. Mỗi buổi sáng tôi từ tảng đá nhìn ra hướng Đông. Đó là nơi dân làng tôi ở. Và chiếc tàu sẽ đến từ nơi đó. Có một lần tôi tưởng mình trông thấy chiếc tàu. Nhưng tôi đã lầm. Đó là con cá voi xám.
Thời tiết thay đổi, và con bão mùa đông đầu tiên đã dập tắt hi vọng của tôi. Tôi cảm thấy mình rất cô đơn. Tôi biết con tàu sẽ không đến vào mùa đông. Tôi cảm thấy mình rất đau khổ. Và những cơ ác mộng đã đánh thức tôi dậy lúc đêm khuya.
Những trận gió dữ dội đà tràn vào đảo từ phương Bắc, tôi phải chuyển cái giường của tôi xuống chân tảng đá. Tôi gom nhặt rất nhiều củi để luôn có lửa sưởi ấm, để bảo vệ lúc về đêm. Vào cái đêm đầu tiên, bọn chó thấy lửa và tiến lại gần. Tôi dùng cung tên giết chết ba con, nhưng không có con đầu đàn. Bọn chó sau đó không đến nữa.
Sau cơn dông bão, tôi đi đến chỗ các chiếc xuồng được cất giấu. Thức ăn khô trên xuồng còn ăn được, tôi chỉ phải thay nước. Ý của tôi là phải rời đảo. “Mình sẽ lấy một chiếc xuồng và đi về hướng đông.” Tôi nghĩ: “Ông Kimki đã một mình vượt qua con biển rộng. Tôi cảm thấy mình không sợ.”
Tôi làm một con đường với những viên đá nhỏ và rong rêu. Trên con đường đó, tôi đẩy chiếc xuồng nhỏ nhất ra đến biển.
Tôi chèo xuồng rời khỏi Ghalas-at vào lúc xế trưa. Hòn đảo giờ giống như một đám mây nhỏ nằm trên mặt nước. Tôi tiếp tục chèo cho đến tối.
Khi tôi nhìn lại, tôi không còn thấy Đảo Cá Heo Xanh. Chỉ một mình tôi trên biển. Xuồng tiếp tục trồi lên, sụp xuống trong sóng biển rập rờn. Thế là tôi bắt đầu cảm thấy sợ.
Đêm đến, biển trông tối mờ tối mịt. Biển có cùng màu với bầu trời. Nhưng có một ngôi sao chiếu sáng bên trên. Tôi biết ngôi sao đó và cảm thấy yên dạ hơn. Đó là ngôi sao Bắc Đẩu, nó sẽ giúp tôi đi đúng hướng. Tôi giữ cho nó luôn ở bên trái tôi, tôi tiếp tục chèo.
Xuồng bỗng nhiên có nước. Tôi tát hết nước ra ngoài, và cảm thấy ván xuồng ươn ướt. Giữa hai tấm ván ghép lại, tôi phát hiện có một cái khe nhỏ, dài, chính từ đây nước chảy vào. Tôi xé váy tôi một mảnh nhỏ rồi nhét lại.
Đến sáng vấn đề trở nên tồi tệ hơn. Một cái khe mới to hơn xuất hiện giữa những tấm ván. Và tôi phải xé cái váy mảnh to hơn để nhét lại, không cho nước chảy vào. Giờ tôi hiểu các tấm ván xuồng rất yếu ớt. Chiếc xuồng đang ở trong tình trạng nguy hiểm.
Tôi đang ở vào ngày thứ hai của chuyến đi. Nước tiếp tục chui vào xuồng. Tôi bỗng nghĩ đến hòn đảo hoang và mấy con chó. Tôi không muốn lại trông thấy bọn chúng. Nhưng các lỗ hổng càng lúc càng to hơn. “Chiếc xuồng sẽ vỡ tung!” Tôi nghĩ và tôi biết tôi không thể tiếp tục cuộc hành trình. Tôi buồn bã quay xuồng chèo về hướng đảo.
Cả một gia đình cá heo lội quanh chiếc xuồng. Cá heo luôn là dấu hiệu tốt lành của biển cả. Chúng cũng là bạn của tôi và tôi không cảm thấy cô đơn. Chúng quanh quẩn bên tôi cho đến sẫm tối, sau đó chúng lội về hướng tây. Tôi có thể thấy ánh sáng mặt trời chiều trên cái lưng ươn ướt của bọn chúng lâu thật lâu. Đêm đến đầu óc của tôi còn trông thấy lũ cá heo. Tôi nghĩ các con thú thân thuộc đó cứu lấy tôi.
Đêm thật dài, và tôi cảm thấy mệt đuối. Có hai lần tôi suýt ngủ gục. Các lỗ hổng giữa các tấm ván càng rộng ra. Tôi phải làm việc cật lực mới tát nước ra hết được. Sự sợ hãi của tôi tăng lên hơn bao giờ hết. Nhưng sau cùng mặt trời đã lên, bình minh rạng rỡ. Xa xa trước mặt tôi thấp thoáng bóng dáng của hòn đảo.
Tôi đến đảo vào giữa trưa, sóng đưa chiếc xuồng vào bờ. Tôi ngã xuống khi bước ra khỏi xuồng. Tôi sung sướng nằm trên cát khô. Tôi quá mệt mỏi để có thể nghĩ đến mấy con chó. Liền sau đó tôi ngủ thiếp đi