Bốn ngày sau khi thoát khỏi tòa dinh thự, vào quãng sau tám giờ tối một chút, Charlie đi bộ len qua những đám đông hỗn độn ở khu Waterside. Tràn ngập trong bầu không khí tăm tối là những âm điệu đối nhau chan chát giữa đám người bán hàng địa phương với những chiếc radio đang phát ra những bản hip-hop và nhạc high-life* của dân châu Phi. Khói bốc lên từ những bếp lửa, vẽ thành những đường ngoằn ngoèo bay lên bầu trời đêm. Bếp được nhóm ngay phía trước mấy căn lán xiêu vẹo dựng bằng những tấm tôn và những thứ đồ tạp nham khác, nằm dựa vào nhau ngay gần mấy cái cống tơ hơ không có nắp đậy. Đám phụ nữ quấn mình trong những tấm vải đủ màu sặc sỡ, bán cá tươi vừa lấy từ ca-nô đánh cá của ngư dân trong khi những người bán hàng khác ngồi chồm hỗm trên mấy chiếc ghế đẩu thấp tè cạnh những chiếc vỉ nướng, rao bán khoai lang nướng.
High-life là tên một dòng nhạc phổ biến ở các nước nói tiếng Anh thuộc Tây Phi, khởi nguồn từ Ghana vào những năm 1900.
Charlie đi ngang qua chỗ mấy cậu nhóc cởi trần mặc mỗi chiếc quần rách rưới. Lũ trẻ đang chơi đùa trong đám bụi gần mấy cửa hàng mặt trước không có tường bao, với sắt dày bảo vệ. Hẳn là chúng tin rằng người da trắng nào cũng giàu có cả nên kéo nhau đổ xô về phía Charlie, tay chìa ra và gào lên, “Cha ơi, cha ơi, cho con năm xu với.” Nhiều đứa có cái bụng trướng phình lên. Có một đứa vừa đi vừa kéo lê bàn chân bị tật vẹo vọ. Đứa khác lại có một cái u to đùng ở bụng và ngồi bệt ngay giữa đường, đôi mắt mờ đục nhìn chằm chằm vào Charlie. Mấy người ăn xin già cả bị cụt tay, cụt chân hay đui mù thì xin của bố thí một cách lặng lẽ hơn, chỉ chìa cái cốc bằng thiếc gỉ ngoèn ra khi Charlie đi qua.
Charlie phớt lờ lũ trẻ và đám ăn mày khi anh cố len lỏi lên phía ngọn đồi hướng về trung tâm Baptisteville. Trên đỉnh đồi là Phố Main, được ngăn đôi bởi một dải phân cách rợp bóng cây nằm chính giữa phố, chạy dọc suốt chiều dài thành phố. Hai bên đường là những cửa hiệu thuốc, rạp chiếu bóng, nhà hàng và các cửa hàng quà lưu niệm thiết kế theo phong cách phương Tây, được dựng lên để phục vụ cánh nhà giàu ở Batanga, dân ngoại kiều và những du khách hiếm hoi trong thành phố. Khu này ít người qua lại hơn vì các chủ hiệu người châu Âu và Trung Đông đều đã đóng cửa hàng, tuy vậy, phố xá vẫn nhộn nhịp taxi và xe buýt. Charlie băng ngang qua đường và rẽ vào phố Lafayette, trung tâm của cuộc sống về đêm ở Batanga. Ở đây có quán Cave, Peacock, Mauna Loa và những quán bar nhỏ sơn màu sáng với những cô gái đẩy đám khách hầu hết là da trắng vào thứ âm thanh rock và hip-hop liên miên không dứt.
Charlie lướt qua mấy gã người Batanga vận quần soóc và áo phông kiểu rách rưới đang ngồi trên vỉa hè ngoài quán Mauna Loa, vừa đùa cợt, cãi vã, vừa uống những chai đầy bia ấm. Một người bán thuốc lá dạo cố thu hút sự chú ý của Charlie vào bao thuốc đặt trên một chiếc khay được anh ta giữ thăng bằng trên một chân đế gỗ. Mấy cô gái xinh đẹp người Phi mặc đầm bó sát, màu mè và cổ trễ đứng dựa vào bức tường bên ngoài quán bar. Charlie cất tiếng chào đám phụ nữ, những người này đều biết tên anh. Một cô hứa hẹn với Charlie về một đêm đầy lạc thú không hề giống với bất kì trải nghiệm nào mà một con người từng có. Charlie từ chối, viện cớ rằng chỉ cần một đêm với bất kì cô gái nào nơi đây cũng đủ khiến anh chết vì sung sướng. Đám phụ nữ cười phá lên khi Charlie bước vào quán.
Những gã ngoại kiều da trắng và mấy người phụ nữ châu Phi đang ngồi dọc theo quầy bar bằng gỗ hoặc bên những chiếc bàn nhỏ kê gần kín căn phòng. Charlie len qua hai cô gái người Batanga đang nhảy cùng nhau trong tiếng nhạc Brown Sugar của ban Rolling Stone và ngồi vào chiếc ghế trống duy nhất bên quầy.
“Ê, Charlie, sao anh không đến đây nhiều hơn chút nữa nhỉ?” Người pha chế ở quầy bar hỏi.
“Rebecca, cô biết là tôi yêu cô rất nhiều mà,” Charlie trả lời. “Tôi mà đến nhiều quá, thế nào tôi cũng ngỏ lời cầu hôn cô mất thôi.”
“Biết đâu tôi đồng ý cũng nên, nhỉ?” Cô nàng làm duyên Charlie lắc đầu, giả bộ buồn rầu. “Tôi có thể hi vọng nhưng tôi biết cô sẽ làm tan vỡ trái tim tôi.”
Rebecca cất tiếng cười khàn khàn. “Phải nói thật Charlie ạ, anh phỉnh phờ tôi nhiều quá đấy.”
Charlie mỉm cười. “Cô kiếm cho tôi một chai Heineken lạnh được không?”
Hầu hết mọi người ở Batanga chỉ sống qua ngày đoạn tháng. Đám cảnh sát chìm của tổng thống Baptiste lợi dụng sự khốn khó của họ bằng cách trả tiền để họ cung cấp thông tin. Charlie đã học được một điều rằng khôn ngoan thì chớ nên tin ai, nhưng Pierre lại bảo anh có thể tin Rebecca, một phụ nữ Batanga xinh đẹp từng là tình nhân của bộ trưởng, cũng là chủ cái quán Mauna Loa này. Charlie thường tới những quán bar trên phố Laíayette và quen biết Rebecca. Chưa bao giờ anh thấy cô hé ra một ý tưởng nổi loạn hay thốt lên một lời bàn luận chính trị nào, và anh thật sự kinh ngạc khi biết cô lại là một thành viên của đội quân ngầm kia.
Những người pha chế của quán bar luôn gặp gỡ rộng rãi và Rebecca có nhiều mối thân quen, cả người Batanga và người nước ngoài, cả người có vị trí cao trong xã hội lẫn thường dân. Pierre đã nói Rebecca sẽ tìm được một người có thể giúp Charlie thoát khỏi Batanga. Sáng nay, một cậu bé ăn mày đã đến xin tiền Charlie và nói một câu mật khẩu. Khi Charlie đưa cho cậu bé một đồng 25 xu, cậu ta bảo Charlie tới quán Mauna Loa vào lúc tám rưỡi tối.
Rebecca đặt cái chai màu xanh lá cây đã được ướp lạnh lên mặt quầy bar trong khi Charlie lướt nhìn lãnh đạm quanh căn phòng. Đám đàn ông trong quán đang ngồi túm tụm với nhau hoặc tán gẫu với đám phụ nữ. Không ai có vẻ quan tâm chút nào tới Charlie. Khi Charlie quay người lại, một người đàn ông da trắng ngồi cách anh hai ghế ngả người qua cô gái ngồi ở giữa và vươn về phía anh.
“Tôi biết anh,” anh ta kêu lên thật to hòng át đi tiếng nhạc.
“Tôi không nghĩ vậy,” Charlie đáp. Dù ngồi cách hai ghế, Charlie vẫn ngửi thấy mùi rượu nồng nặc từ anh ta.
Người đàn ông có bờ vai rộng, ngực vạm vỡ và nói giọng miền Nam. Charlie áng chừng anh ta cao khoảng hai mét và nặng tầm chín mươi cân. Anh ta hói đầu, nước da hồng hào khỏe mạnh, trên mặt vẫn còn những dấu tích mờ mờ của mụn trứng cá dậy thì. Trông anh ta hoàn toàn đủ khả năng tự vệ nếu có vụ đánh đấm nào.
“Không, không, đừng nói gì. Tôi sẽ nhớ ra thôi,” anh chàng say khướt nài nỉ. Anh ta nhìn chằm chằm vào khoảng không trước mặt một lúc rồi búng ngón tay. “Tivi! Tôi đã thấy anh trên tivi.”
Charlie nín thở.
“Anh chính là vị guru đó. Nói là tôi nhầm xem nào.”
“Không, anh trúng phóc.” Charlie thở ra.
“Này bé cưng,” người đàn ông nói với cô gái quán bar ngồi giữa anh ta và Charlie. “Em đổi chỗ cho anh được không?
Anh sẽ mời thứ gì đó bù lại nhé.”
Cô gái rời ghế và người đàn ông chuyển sang ngồi cạnh Charlie.
“Hi vọng anh không phiền. Không phải ngày nào tôi cũng gặp được một người nổi tiếng ở chốn này. Brad và Angelina thì chẳng xuất hiện ở đây thường xuyên rồi,” anh ta nói kèm theo giọng cười the thé khiến Charlie phát ớn.
“Chauncey Evers,” người đàn ông vừa nói vừa chìa bàn tay to lớn ra. Charlie miễn cưỡng bắt tay.
“Charlie Marsh,” Charlie vừa trả lời vừa có nghĩ cách thoát khỏi gã này. Người anh cần gặp chẳng đời nào đến chỗ anh khi anh đang ngồi với tên hề này.
“Tôi phải xin anh thứ lỗi trước. Tôi chưa hề đọc cuốn sách của anh. Tôi đã định đọc nhưng mà chưa làm được. Tuy vậy, tôi đã thấy anh trên tivi suốt đợt xảy ra cái vụ lộn xộn ở nhà tù ấy khi anh cứu mạng viên cai tù. Thật là tuyệt vời.”
Hai người đàn ông và hai phụ nữ vừa rời bàn. Evers cầm cốc của anh ta lên.
“Hãy lại bàn kia và kể cho tôi nghe vụ trong tù đó nhé.”
“Được thôi,” Charlie đáp, hết hi vọng có thể thoát khỏi anh ta. “Tôi sắp phải gặp một người.”
“Ồ, thế thì anh có thể uống với tôi tới khi cô ấy đến,” Evers vừa nói vừa nháy mắt đầy ngụ ý, “và tôi là người mời nhé? Chẳng phải lúc nào tôi cũng có cơ hội gặp được một vị anh hùng tài ba vừa xuất hiện trên truyền hình lại vừa viết sách.” Evers hạ giọng. “Và đang muốn thoát khỏi chốn địa ngục này.”
“Anh là...” Charlie giật mình nói, nhưng Evers đã quay lưng và lảo đảo len qua mấy chiếc bàn chật cứng người ngồi.
Vừa ngồi xuống, anh ta đã quăng về phía Charlie chiếc bút và một cái khăn ăn.
“Tôi muốn xin chữ kí của anh đem về cho bạn gái tôi được không?” Anh ta hỏi bằng giọng oang oang.
“Anh có thể giúp tôi thoát khỏi đây không?” Charlie nói khi anh cúi xuống chiếc khăn.
“Điều đó dễ thôi,” Evers trấn an Charlie.
“Chừng nào thì anh giúp tôi được?”
“Ngay khi anh trả tôi bảy mươi lăm ngàn đô.”
“Bảy mươi lăm ư?” Charlie lặp lại với vẻ lo lắng.
“Và phải trả bằng tiền mặt. Tôi không lấy séc đâu. Chuyện đó có khó khăn gì không?”
“Không hề,” Charlie đáp.
Tờ Tin tức Thế giới đã đồng ý tiến hành cuộc phỏng vấn, như vậy Charlie có thể nhờ Rebecca thông qua Pierre Girard và quân nổi dậy để nhắn tin cho Martha Brice yêu cầu mức phí bảy mươi lăm ngàn đô.
“Điều tôi muốn biết,” Charlie nói, “là làm thế nào anh qua mặt được bọn cớm chìm của Baptiste?”
“Ý anh là cái gã ngồi phía tường bên kia á?” Evers nói, mắt vẫn nhìn Charlie, miệng cười tươi rói. “Tôi nhận ra tên hề đó ngay khi hắn bước vào.”
“Được rồi, đừng có tự mãn quá thế. Tôi cũng nhận ra hắn. Hắn đã bám đuôi tôi từ nhà tới đây và chẳng thèm giấu giếm sự thực là hắn đang theo dõi tôi. Những lúc tôi ở nhà thì luôn có người bên ngoài và chúng bám theo tôi mỗi khi tôi ra ngoài. Đám cớm của ông ta rất giỏi đấy. Chúng có thể tàng hình nếu chúng muốn ấy chứ. Đấy là cách để Baptiste cho tôi biết ông ta đang theo tôi sát sạt từng bước một. Tôi muốn biết làm thế nào anh xoay xở được với đám cớm đó.”
“Việc đó anh không phải lo,” Evers tự tin đáp. “Anh đưa tôi tiền và tôi sẽ đưa anh ra khỏi đây.”
“Tại sao tôi phải tin anh chứ?”
Evers nhún vai. “Chịu, tôi không biết. Nhưng anh là người yêu cầu tôi đến đây. Mà này,” tay lính đánh thuê hỏi, “anh đã làm gì khiến Baptiste điên lên như vậy?”
Charlie ngập ngừng. Nếu biết được ngài tổng thống có mối thù cá nhân với anh, biết đâu Evers lại thay đổi ý định về việc giúp anh trở về quê hương. Ở Batanga, một tấm hộ chiếu Mỹ chỉ có giá trị bảo vệ ở một mức độ nào đó mà thôi.
“Thôi nào, Charlie. Nếu tôi đã liều cái mạng này để đưa anh ra khỏi đây thì tôi phải được biết mình đang dính vào chuyện gì chứ.”
Charlie nhìn xuống mặt bàn. “Tôi có quan hệ với một trong những người vợ của Baptiste.”
Evers huýt sáo.
“Ông ta đã tra tấn cô ấy tới chết và cho tôi xem kết quả của vụ tra tấn ấy. Rồi ông ta vờ như không hề biết ai là tình nhân của cô ấy nhưng thực ra thì ông ta biết rõ,” Charlie cay đắng nói.
“Ôi trời anh bạn, anh đúng là sa lầy rồi. Nhưng đừng sợ Chauncey Evers sẽ tới cứu anh.”
“Tôi phải làm gì tiếp theo đây?” Charlie hỏi khi đưa chiếc khăn cho Evers.
“Chuẩn bị tiền đi. Khi nào xong thì báo cho Rebecca và cô ấy sẽ báo lại cho tôi. Sau đó cứ làm đúng như tôi nói rồi anh sẽ được về lại nước Mỹ xưa cũ tốt đẹp trước khi anh kịp nhận ra.”