Kẻ Lãng Quên

Lượt đọc: 7687 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VỤ ÁN THỨ 9
người mẹ bị rạch bụng

Điên rồ dung dưỡng điên rồ.

- Dan Brown -

1

Sáng hôm sau, mọi người vội vàng đến Sở Công an tỉnh, chui ngay vào chiếc xe SUV hơi cũ kĩ chuyên phục vụ cho công tác khám nghiệm hiện trường.

Lâm Đào phát hiện người ngồi ở ghế lái lại là tôi, liền hỏi: “Hàn Lượng đâu?”

“Hàn Lượng và Tiểu Lông Vũ đi chấp hành nhiệm vụ điều tra rồi.” Tôi trả lời.

Lâm Đào bật dậy khỏi ghế, đầu tông mạnh vào trần xe, cậu ấy vừa xoa đầu vừa hỏi: “Sao lại là hai người họ?

“Đầu cậu thì không đáng tiền, nhưng lỡ đụng hỏng trần xe là chúng ta không còn xe đi thực hiện nhiệm vụ đâu đấy!” Tôi thò đầu sang kiểm tra trần xe, rồi nói tiếp, “Có gì không được chứ? Cậu muốn đi à? Kỹ thuật lái xe của cậu tốt hay là cậu thông đường thuộc lối tới đó hả? Đẹp trai không phải điều kiện tiên quyết trong trường hợp này đâu.”

“Tôi cũng đâu muốn đi, chỉ có điều để hai người họ trực tiếp gánh vác nhiệm vụ điều tra liệu có phù hợp quy định không?” Lâm Đào giấu đầu hở đuôi.

“Tổ chức đã phê chuẩn, Tiểu Lông Vũ vốn muốn đi một mình, nhưng lãnh đạo nghĩ đến vấn đề an toàn, hơn nữa Hàn Lượng lại tương đối thông thuộc địa hình khu vực điều tra bên đó, cho nên đã sắp xếp như vậy.” Tôi vừa điều chỉnh chỗ ngồi vừa nói, “Chân Hàn Lượng dài thế cơ à?”

“Vừa sáng ra đã phải đi khám nghiệm, tất cả là nhờ phúc của Lâm Đào.” Đại Bảo dụi dụi đôi mắt vẫn đang díu lại vì buồn ngủ và nói, “Tôi vẫn chưa ngủ đẫy mắt đây này.”

“Liên quan gì đến tôi chứ?” Lâm Đào tựa vào ghế phản bác. “Không liên quan gì tới cậu ta sao? Tử Nghiên?” Đại Bảo chỉ và Lâm Đào, nói.

Trình Tử Nghiên không phản ứng gì.

“Tử Nghiên?” Đại Bảo ngồi ở hàng ghế cuối thò đầu lên hỏi. “Hả?” Trình Tử Nghiên ngẩn người giây lát mới trả lời, “Anh đang nói với tôi à?”

“Dạo này toàn vậy, liên tục đi khám nghiệm hiện trường đúng là hơi mệt mỏi.” Tôi khởi động xe, “Không biết có phải mùa này đẹp quá hay không mà phần tử tội phạm hoạt động không ngừng nghỉ nhỉ?”

“Tôi có một bạn học tên là Lý Tuấn Tường làm ở bộ phận chống gian lận điện tín, ngày nào cũng mệt muốn chết. Tôi hỏi cậu ta, sao trong tình thế liên tục bị kiểm soát gắt gao như hiện giờ mà vẫn có nhiều bọn lừa đảo không ngại đi ngược gió gây án? Cậu ta nói với tôi rằng, chống gian lận điện tín là sự nghiệp của họ, còn gian lận điện tín lại là cuộc sống của bọn lừa đảo. Anh nói xem, bọn tội phạm có thể không liều mình hay không chứ?” Lâm Đào nói, “Cho nên ấy mà, nơi nào có người nơi đó có tội phạm, đây là thực tế không cần né tránh.”

“Thế thì đối với chúng ta...” Đại Bảo nói, “Sự nghiệp của chúng ta chính là kết liễu cuộc sống của đối thủ.”

“Chính vì như thế nên chúng ta mới cần thận trọng nữa, thận trọng mãi.” Tôi nói.

“Chỉ có điều chúng ta đi công tác hơi nhiều một chút.” Đại Bảo nói, “Dạo này, chị dâu các cậu bắt đầu càm ràm rồi.”

“Trách gì hôm nay anh không hô khẩu hiệu thường ngày nữa.” Tôi vừa cười vừa lái xe, “Bộ phận pháp y của Sở Công an sẽ căn cứ vào tình hình khác nhau của từng tỉnh để phân công từng nội dung công việc khác nhau. Có tỉnh thì các bác sĩ pháp y chỉ cần làm nghiên cứu, khảo hạch và bồi dưỡng, có tỉnh thì bác sĩ pháp y chỉ cần ra trận khi xảy ra vụ án có từ hai người bị giết trở lên hoặc những vụ án gây ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội. Trước đây, tỉnh chúng ta thuộc loại thứ hai, nhưng gần đây án mạng đã giảm xuống quá bán, cho nên để đảm bảo thời lượng chúng ta đi công tác, hễ xảy ra vụ án chưa tìm ra manh mối, thầy đều bảo chúng ta đi. Làm như thế, tuy rằng an ninh sẽ ổn định hơn, nhưng chúng ta lại phải đi công tác nhiều hơn một chút.”

“Thầy là muốn tốt cho chúng ta.” Lâm Đào nói, “Phá án, việc này ấy à, không tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn thì làm sao đảm bảo được năng lực? Những người chỉ ngồi bàn giấy đọc tài liệu rõ ràng rất thiếu kỹ năng làm việc.”

“Vụ án mà chúng ta đi xử lý chuyến này nghe nói lại là một vụ giết người rồi tự sát.” Tôi nói, “Chúng ta có không ít kinh nghiệm thực tiễn về các vụ án giết người rồi tự sát nhỉ? Lần này phải nhanh chóng nắm chắc chứng cứ, rồi cố gắng nhanh chóng quay về. Tôi thấy chỗ anh Ngô chắc chỉ trong vòng hai ngày là có kết quả rồi.”

Lâu rồi tôi không lái xe, trong khi địa điểm cần đến lại là thành phố Lôi Ảnh, cách tỉnh thành xa nhất, cho dù với kỹ thuật lái xe của Hàn Lượng cũng phải mất bốn tiếng đồng hồ mới đến nơi, huống hồ là tôi, tôi lái xe lâu đến nỗi ê ẩm hết cả lưng và hông, chân cứng lại như bị chuột rút.

Sau năm tiếng đồng hồ, cuối cùng chúng tôi cũng đến thành phố Lôi Ảnh, vừa kịp trước bữa cơm trưa. Để đề phòng mọi người hạ đường huyết vì chưa ăn sáng, bác sĩ Uông Hải Dương, bác sĩ pháp y của Công an thành phố Lôi Ảnh liền đưa chúng tôi đi ăn mì bò ngay, sau đó vội vàng đến hiện trường.

Nhiều người hỏi tôi có phải tôi thích ăn mì bò không thực ra đó chẳng qua là món ăn nhanh chóng và giản tiện mà thôi, chứ cũng không thể tính là thích.

Hiện trường nằm ở một khu chung cư cao tầng nằm ở khu vực trung tâm của thành phố Lôi Ảnh, khu chung cư này gần hai mươi tầng, hiện trường vụ án ở ngay dưới lầu của một trong những tòa nhà tại đây.

Lúc này, bãi cỏ dưới lầu của tòa nhà đó đã bị cảnh sát giăng đường dây cảnh giới, xung quanh có khá nhiều người dân xúm lại xem. Tôi đúng từ xa nhìn sang, thấy trên bãi cỏ không có thi thể, cho nên thực sự không hiểu nỗi mọi người xúm lại để xem cái gì.

“Sao lại ở trên bãi cỏ nhỉ?” Tôi nghi hoặc hỏi.

“Thi thể nam nằm trên bãi cỏ đó, rơi từ trên cao xuống. Câu trả lời của bác sĩ Uông đã chứng thực suy đoán của tôi.

“Không phải giết người rồi tự sát sao?” Tôi hỏi.

Bác sĩ Uông gật đầu, anh ta ngẩng lên liếc nhìn phía trên bãi cỏ và nói: “Còn một thi thể nữ nữa ở hiện trường trong phòng trên tầng. Trước mắt, bộ phận giám định dấu vết vẫn chưa thông đường xong để vào hiện trường, vì thế chúng ta phải đợi một chút.”

Tôi chen qua đám người đang vây quanh, bước đến gần đường dây cảnh giới, dõi mắt nhìn vào trong. Trong bãi cỏ không còn đồng chí cảnh sát nào đang làm việc, rõ ràng hiện trường này đã được xử lý hoàn tất.

“Thi thể nam đã được chuyển đi.” Bác sĩ Uông thì thào bên tai tôi.

Tôi gật đầu, thấy trong bãi cỏ có hình người được vẽ bằng phấn trắng, rõ ràng thi thể đàn ông rơi từ trên tầng xuống vốn nằm ở vị trí đó. Bên cạnh phần đầu có vết máu không rõ rệt lắm. Máu ngấm vào đất nên không dễ bị phát hiện, nhưng vết máu dính trên cỏ vẫn nổi bật đến nhức mắt.

Tôi đeo bọc giày, bước vào trong dây cảnh giới, ngồi xổm bên cạnh hình người, liếc nhìn một cái. Bãi cỏ cạnh phần đầu dường như khuyết mất một góc, trông có vẻ giống cái hố nông hình thành do lực rơi từ trên cao đập xuống đất.

“Nạn nhân mặc quần đùi, không mặc áo, cũng không đi giày, nằm ở đây, được một ông lão phát hiện thấy vào lúc sáng tinh mơ.” Bác sĩ Uông tóm tắt tình hình, “Thoạt trông thì dường như không có điểm nghi vấn gì lớn lắm, nhưng…”

“Thế nào gọi là không có điểm nghi vấn?” Tôi ngắt lời bác sĩ Uông.

“Lúc bác sĩ pháp y chúng tôi đến hiện trường thì cảnh sát vẫn đang tiến hành điều tra lai lịch của nạn nhân.” Bác sĩ Uông nói, “Nhưng thông qua khám nghiệm pháp y bước đầu thì thấy xương sọ của nạn nhân bị nứt vỡ, đầu có vết giập, tất cả đều là những vết thương có phản ứng sống rõ rệt. Tiếp đó là những vết xây xát ở phía trái thi thể, hình thành khớp giả sau chấn thương ở cẳng chân.”

“Bên ngoài bị thương nhẹ, bên trong bị thương nặng phần lớn vết thương tập trung ở một bên người, có thể là vết thương được hình thành do ngoại lực tác động một lần, vết thương chịu tác động lực cực kỳ mạnh, không thể là lực từ con người.” Đại Bảo nhận xét, “Vết thương lại có phản ứng sống, đây là đặc trưng của vết thương gây ra do ngã từ trên cao xuống khi còn sống”

“Tử vong do ngã từ trên cao xuống đa phần đều là do tai nạn ngoài ý muốn hoặc tự sát, rất hiếm gặp trường hợp là do bị sát hại.” Tôi nói, “Sau đó thì sao?”

“Sau đó, chúng tôi đã có kết quả điều tra về lai lịch của nạn nhân.” Bác sĩ Uông trả lời, “Nạn nhân là cán bộ nghỉ hưu sống ở căn hộ 1701 của tòa nhà này.”

“Tầng 17, cao như thế mà nhảy xuống thì đúng là không còn khả năng sống sót.” Đại Bảo ngước đầu, nheo mắt nhìn ánh mặt trời chói chang phía trên đỉnh đầu.

“Sau khi xác minh được lai lịch của nạn nhân, nhân viên điều tra phát hiện, nạn nhân còn có vợ và một con trai.” Bác sĩ Uông kể tiếp, “Thế là nhân viên điều tra gõ cửa phòng 1701, nhưng gõ mãi vẫn không có ai ra mở cửa, nên đành gọi điện thoại liên hệ với vợ và con trai của nạn nhân. Gọi điện cho vợ nạn nhân thì được báo là số máy không liên lạc được, gọi cho anh con trai thì sau khi bắt máy, anh ta vội vàng từ đơn vị chạy bổ về nhà. Vừa mở cửa, liền phát hiện một người chết nằm sõng soài trong phòng khách, chính là vợ của nạn nhân nhảy lầu, xung quanh toàn là máu, rõ ràng đã chết.”

“Vì nạn nhân tử vong do ngã từ trên cao xuống, lại không có điểm nghi vấn, cho nên các anh cho rằng ông ta đã giết người, rồi sau đó nhảy lầu tự sát phải không?” Tôi gật đầu và hỏi.

Bác sĩ Uông nói: “Phương thức giết người rồi tự sát này khá phổ biến, cũng không phải chuyện hiếm lạ gì. Nhưng vì có hai người chết, nên theo quy định, chúng tôi vẫn phải mời các anh đến đây một chuyến, hại các anh phải chạy xe suốt mấy trăm cây số.”

Tôi cười cười, đáp: “Chuyện nên làm mà, đây cũng là trách nhiệm của chúng tôi. Trước mắt đã nắm chắc được chứng cứ chưa?”

“Công tác khảo sát khám nghiệm vẫn chưa kết thúc, thi thể còn chưa được khám nghiệm, huống hồ là vật chứng. Cho nên đề cập đến chuỗi chúng cứ gì đó hãy còn quá sớm.” Bác sĩ Uông nói, “Có điều, qua khảo sát và khám nghiệm bước đầu thì thấy ngoài dấu vết của hai vợ chồng nạn nhân ra, dường như không có dấu vết của người ngoài. Cửa phòng và cửa sổ đều nguyên lành, không có dấu vết bị đột nhập. Tuy cửa sổ không lắp lưới sắt chống trộm, nhưng anh nhìn xem, ở tầng 17, bất kể là từ dưới leo lên hay từ trên trèo xuống, khả năng thực hiện đều không cao.”

“Ý anh là về cơ bản đây là hiện trường khép kín phải không?” Lâm Đào hỏi.

Bác sĩ Uông mỉm cười gật đầu.

“Xem ra vụ án này khá đơn giản.” Tôi phủi vụn cỏ dính trên tay, đứng dậy và nói.

“Ngồi xe suốt năm tiếng đồng hồ cơ đấy, tôi không cam tâm chút nào.” Đại Bảo kêu ca.

Tôi đập vào ót Đại Bảo, nói: “Dẫu sao vụ án đơn giản cũng tốt hơn vụ án hóc búa, phá mãi không được đúng không?”

“Vì xét đến tính chất vụ án là giết người rồi tự sát, nên tổ chuyên án chỉ được lập ở trụ sở Công an thành phố, chứ không lập tổ chỉ huy lâm thời tại hiện trường.” Bác sĩ Uông giơ tay chỉ đường, “Chúng ta vào trong xe khám nghiệm ngồi thảo luận tiếp nhé, giám đốc Công an thành phố đang đợi chúng ta ở đó, anh ấy sẽ nói cho các anh biết về bối cảnh các mối quan hệ mâu thuẫn xã hội của nạn nhân.”

Tôi gật đầu, rời khỏi hiện trường, lúc đến gần xe khám nghiệm thì đụng phải Trình Tử Nghiên đang bước tới.

“Tôi đã kiểm tra tất cả các camera ở khu vực gần đây, camera theo dõi hình ảnh ở lối ra vào và ở hiện trường đều hỏng hết.” Trình Tử Nghiên xoè tay ra tỏ vẻ đáng tiếc, rồi nói tiếp, “Trên mạng lưu hành một câu thế này, hễ xảy ra vụ án thì camera liền hỏng. Thực ra tình huống này phát sinh trong thực tế với xác suất khá cao.”

“Đó là vì chi phí bảo trì hệ thống camera khá đắt đỏ, cho nên camera ở nhiều khu chung cư chỉ là đồ trang trí bày ở đó cho đẹp mắt mà thôi.” Lâm Đào nói.

Tôi đoán camera cũng chẳng phát huy được bao nhiêu tác dụng.” Đại Bảo vừa cười vừa cởi bọc giày ra.

“Đúng là giết người rồi tự sát sao?” Trình Tử Nghiên tò mò hỏi. “Về cơ bản là vậy.” Tôi trả lời, “Đi thôi, đi nghe xem tình hình tiền kỳ của vụ án.”

Vào trong xe khám nghiệm đã thấy đồn trưởng đồn công an đợi sẵn ở đó. Ở một mức độ nào đó, việc thảo luận, bàn bạc và chỉ huy chuyên án cần phải được bảo mật chặt chẽ. Phần tử phạm tội quay lại hiện trường nghe ngóng tình hình sau khi giết người cũng không phải tình huống hiếm gặp. Nếu tổ chuyên án không chú ý đến công tác bảo mật, chẳng khác nào giơ quân bài của mình ra cho phần tử tội phạm xem. Cho nên tuy không trưng dụng hoặc lắp đặt Cơ sở tại hiện trường cho tổ chỉ huy lâm thời, những nơi chúng tôi tiếp nhận thông tin về tiền kỳ vụ án vẫn được đặt ở nơi tương đối riêng tư, đó là trong xe khám nghiệm.

" “Hai người chết có quan hệ vợ chồng.” Đồn trưởng đồn công an tóm lược tình hình điều tra tiền kỳ, “Thi thể nam là Quản Thiên Trung, nguyên là giảng viên một trường đại học chuyên ngành ở thành phố chúng tôi. Năm nay 69 tuổi, đã về hưu được chín năm. Thi thể nữ là Điền Oánh, vốn là cán bộ công chức của một đơn vị sự nghiệp của Ủy ban thành phố, là nhân viên biên chế, năm nay 65 tuổi, đã nghỉ hưu được 10 năm. Hai người họ có một cậu con trai độc nhất, tên là Quản Văn Bác, năm nay 30 tuổi, sau khi lấy được bằng tiến sĩ khoa Tự nhiên của trường Đại học Long Phiên thì được phân về viện nghiên cứu ở thành phố Long Phiên. Vì viện nghiên cứu này có cơ sở ở thành phố Lôi Ảnh cho nên Quản Văn Bác đã chủ động yêu cầu được điều chuyển công tác về quê hương.

“Chắc là đứa con có hiếu nhi? Về quê hương để chăm sóc bố mẹ tuổi xế chiều.” Đại Bảo nói.

“Ừm, nói một cách chính xác thì cũng không phải thế.” Đồn trưởng nói, “Theo chúng tôi được biết, tay Quản Văn Bác này được nuông chiều từ bé, khả năng tự giải quyết các vấn đề đời sống hằng ngày tương đối yếu kém. Quá đáng hơn nữa là khi anh ta đang học đại học ở Long Phiên, vì cách nhà khá xa, nên hằng tháng anh ta đều gửi quần áo bẩn của mình về nhà để mẹ giặt sạch sẽ, rồi gửi lại cho anh ta.”

“Thế thì phải có bao nhiêu bộ quần áo chứ?” Đại Bảo kinh ngạc thốt lên.

“Dẫu sao hai vợ chồng họ mãi hơn 30 tuổi mới có một mụn con, cho nên vô cùng cưng chiều, từ nhỏ đã không để con mó tay làm bất cứ việc gì.” Giám đốc nói, “Cho dù Quản Văn Bác không biết làm việc nhà, nhưng vẫn biết cách đối nhân xử thế. Đồng nghiệp và bạn học đều cảm thấy anh ta là người hướng nội, song khá chân thành. Có điều đến giờ anh ta vẫn chưa có đối tượng yêu đương, có khả năng vì quá chuyên tâm vào chuyên ngành của mình.”

“Đã thế IQ còn cao nữa chứ.” Đại Bảo nói, “Tiến sĩ của trường đại học trọng điểm cơ à, toàn là những nhân tài mũi nhọn cả đấy!”

“Mũi nhọn thế nào thì cũng chỉ là loại ‘con trai cưng của mẹ.” Lâm Đào chế giễu.

“Con trai cưng của mẹ thì đã làm sao, chỉ cần có cống hiến cho đất nước, cho xã hội vẫn rất đáng được khen.” Đại Bảo nói nghiêm túc.

“Sau khi Quản Văn Bác về quê, cả nhà họ có vẻ rất hòa thuận.” Giám đốc nói, “Chúng tôi đã điều tra đi điều tra lại, nhưng không có hàng xóm nào phản ánh họ nhìn thấy hay nghe thấy gia đình họ Quản có tình huống gì khác thường, nhà họ hòa thuận, yêu thương nhau. Thỉnh thoảng Quản Văn Bác về nhà, thỉnh thoảng ở lại kí túc xá của viện nghiên cứu. Trước đây trong cơ cấu cơ sở của viện nghiên cứu chỗ chúng tôi chưa từng có tiến sĩ, Quản Văn Bác là người đầu tiên, cho nên đơn vị đặc biệt dành cho anh ta một phòng riêng loại một phòng ngủ, một phòng khách ở kí túc xá.”

“Về nhà chắc là để giặt quần áo nhỉ?” Lâm Đào lại châm chọc.

Đồn trưởng chỉ cười, rồi kể tiếp: “Có điều Quản Thiên Trung lại là người có tính cách lập dị. Qua điều tra, biết được khi còn làm giảng viên đại học, ông ta không biết cách đối nhân xử thế, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với đồng nghiệp, nhưng về cơ bản đều là những chuyện lông gà vỏ tỏi, nếu bảo có thâm thù huyết hận gì không thì hoàn toàn không có. Dẫu sao nhà trường vẫn là môi trường khá trong sạch, thuần khiết. Năng lực của Quản Thiên Trung không bì được với con trai, đến tận khi già rồi về hưu, ông ta vẫn chưa được chọn làm phó giáo sư, cuối cùng nghỉ hưu với chức danh giảng viên. Vì chuyện này, nghe nói cuộc sống lúc về hưu của ông ta khá là suy sụp, ông ta thường xuyên than vãn với hàng xóm về việc không lấy được danh hiệu, đồng thời thể hiện sự bất mãn của mình với chế độ đánh giá danh hiệu. Nhưng theo điều tra, ở nhà Quản Thiên Trung lại không có tiếng nói trong gia đình, cả đời bị vợ quản lý, làm việc gì cũng không có chính kiến. Trong khu chung cư, ông ta nổi danh vì bị vợ quản chặt.”

“Hình như cứ con trai là dạng ‘con trai cưng của mẹ, thì bố chắc chắn sẽ là dạng bị vợ quản chặt, đây là định luật gì thế không biết?” Đại Bảo nói.

“Nghe nói tính cách của Điền Oánh tương đối mạnh mẽ.” Đồn trưởng nói tiếp, “Nhưng cũng chỉ cậy mạnh với chồng bà ta mà thôi. Còn hàng xóm và đồng nghiệp đều cảm thấy bà ta là người tương đối hòa đồng với những người không quen biết lắm, cũng chưa từng xảy ra mâu thuẫn lớn với ai. Nhưng đúng là vỏ quýt dày có móng tay nhọn, ở nhà, Điền Oánh lại nắm quyền tuyệt đối, nói một không ai dám cãi hai. Tuy rằng bà ta làm việc tại cơ quan sự nghiệp của nhà nước nhưng lại không chú tâm vào sự nghiệp, đi làm chẳng qua là để kiếm tiền mà thôi. Sự nghiệp duy nhất của bà ta chính là cậu con trai. Từ khi Quản Văn Bác còn nhỏ, Điền Oánh đã vắt óc nghĩ mọi cách, dù thắt lưng buộc bụng cũng phải để Quản Văn Bác có cuộc sống được chăm sóc đến tận chân răng, không thiếu thốn một cái gì, để anh ta tiếp cận với sự giáo dục tốt nhất ở một thành phố nhỏ như chỗ chúng tôi. Anh đừng coi thường anh ta là con trai cưng của mẹ’, anh ta không chỉ là tiến sĩ ngành Công nghệ mà trình độ tiếng Anh, đàn ghita, taekwondo đều ở hạng thượng thừa.”

“Ừm... lợi hại thật!” Lâm Đào lè lưỡi.

“Nói thế này đi, đối với Điền Oánh mà nói trên đời không có việc gì to tát, ngoại trừ những việc có liên quan đến con trai bà ta.” Đồn trưởng nói.

“Cho nên vụ thảm án này có vẻ liên quan đến Quản Văn Bác nhỉ?” Tôi truy hỏi.

“Chúng tôi đã nói chuyện với Quản Văn Bác.” Đồn trưởng nói, “Tinh thần anh ta rất tồi tệ, có lẽ là do liên tục thức làm việc suốt mấy đêm cộng với cú sốc vì tin dữ. Theo lời kể của Quản Văn Bác, từ ba ngày trước, anh ta bắt đầu nghiên cứu một hạng mục khoa học ở đơn vị. Trong ba ngày này, về cơ bản, ngoại trừ thời gian ngủ tại kí túc xá của đơn vị ra, thì anh ta đều ở một mình trong phòng thí nghiệm làm nghiên cứu dự án phát triển khoa học kỹ thuật, thậm chí còn không mở điện thoại di động, càng không để tâm đến chuyện trong nhà, cũng không gọi điện liên lạc với bố mẹ. Cho nên anh ta không hề hay biết về tình hình sự việc xảy ra tối hôm qua. Theo như anh ta nói, quan hệ của bố mẹ anh ta luôn tốt đẹp, nhiều năm nay họ ít khi xảy ra cãi vã. Có điều, trong ấn tượng của anh ta, bố mình nếu bị bức đến đường cùng cũng chỉ đập bát, đập đĩa mà thôi. Nếu bảo bố giết chết mẹ thì anh ta không thể chấp nhận nổi. Tuy nhiên cảnh sát đã đưa ra kết luận như vậy, anh ta sẽ tin cảnh sát.”

“Người có học vấn cao cũng khác, rất là thấu tình đạt lý.” Đại Bảo xuýt xoa.

“Cho nên nếu quả thật đây là vụ án giết người rồi tự sát, vậy thì sẽ vĩnh viễn không ai biết được nguồn cơn sự việc phải không?” Tôi chợt nhớ đến vụ án cái chết tập thể của gia đình Thang Liêu Liêu.

“Chúng tôi phân tích thế này, xung đột nghiêm trọng có khả năng liên quan đến việc Quản Thiên Trung bị vợ chèn ép quanh năm suốt tháng, đến cuối cùng không thể nhịn nổi đã bùng phát.” Đồn trưởng nói, “Dẫu sao cũng là người đàn ông, cả đời ngậm đắng nuốt cay, đến khi ông ta không muốn nhịn nhục nữa, thì tất yếu sẽ xảy ra những sự việc không thể lường trước.”

“Trong phòng có dấu vết vật lộn không?” Tôi hỏi.

“Không có, trước đó có lẽ không xảy ra giằng co, vật lộn.” Bác sĩ Uông nói, “Càng không có chuyện đập bát ném đĩa. Có điều chính vì không dấu vết vật lộn nên càng chứng thực nguyên nhân của vụ thảm án này bắt nguồn từ mâu thuẫn nội bộ gia đình.”

“Đương nhiên tất cả những điều này chỉ là phỏng đoán của chúng ta.” Tôi nói, “Sự thật cụ thể của vụ án vẫn phải dựa vào chứng cứ mới chứng minh được.”

Bác sĩ Uông gật đầu đồng ý: “Lối vào phòng tại hiện trường đã được khai thông, hay là chúng ta vào đó xem sao!”

2

Cửa phòng 1701 đóng chặt, trước cửa chăng đường dây cảnh giới, còn đặt hòm đựng trang thiết bị khám nghiệm hiện trường. Tôi lấy bọc giày trong hòm dụng cụ lồng vào chân, thò vào túi áo lấy đôi găng tay, khẩu trang và mũ vừa mới bỏ để đeo lại. Để hưởng ứng khẩu hiệu tiết kiệm và bảo vệ môi trường trong lành ít carbon, và cũng để tránh lãng phí lượng lớn trang thiết bị khám nghiệm hiện trường do phải ra vào hiện trường nhiều lần, nên những lúc có mặt tại hiện trường, chúng tôi hầu như đã quen với việc dùng loại khẩu trang, mũ, găng tay không dễ nhiễm khuẩn, sau khi dùng một lần thì bỏ ra, cất vào túi áo để phòng lúc cần tái sử dụng.

Hiện trường là một căn hộ hai phòng khách, ba phòng ngủ được bố trí theo phong cách giản tiện và thông thoáng, trong phòng bày biện gọn gàng, ngăn nắp, quét dọn rất sạch sẽ. Bắt đầu từ cửa ra vào chạy thẳng đến các phòng đều được trải các tấm ván giẫm chuyên dụng dành cho việc khám nghiệm hiện trường. Trên sàn nhà ở trong phòng trải thiết bị hút tĩnh điện để lấy dấu chân, trên tường và đồ gia dụng cũng có các dấu vết bôi đen để lấy dấu vân tay.

Không cần nghĩ cũng biết trong vài tiếng đồng hồ qua, nhân viên giám định dấu vết đã kiểm tra một lượt 360 độ không bỏ sót ngóc ngách nào trong ngôi nhà này.

Ở cửa ra vào kê giá để giày cao ngang lưng người lớn, giày dép bên trên được bày biện ngay ngắn. Cạnh giá để giày là một đôi dép nam xiêu xiêu vẹo vẹo như muốn rơi, một chiếc còn bị lật đế, có thể nhìn thấy vết máu đỏ thẫm dính trên đế dép.

Bước vào huyền quan là thấy một thi thể phụ nữ đã lớn tuổi nằm trên ghế sofa trong phòng khách. Áo của thi thể bị vén lên đến sát ngực, cả vạt áo trước đều nhuốm đẫm máu. Vì dính lượng lớn máu, tóc tai lại xõa xượi che mất phần mặt của nạn nhân cho nên căn bản không nhìn rõ dung mạo ra sao. Nhưng điều đó chưa tính là gì, điều rùng rợn hơn thế chính là ở vùng bụng của nạn nhân có một vết rạch rất lớn, lớp mỡ chài và ruột đều xổ ra ngoài. Chiếc ghế sofa bọc vải màu nâu nơi người chết nằm như sắp nhuộm thành màu đỏ.

“Chảy bao nhiêu máu thế này càng dễ khiến hung thủ để lại các dấu vết như dấu chân, dấu vân tay.” Tôi nói.

“Ồ, chúng tôi đã kiểm tra kĩ, tất cả vết máu đều chỉ nằm gọn trong phạm vi phòng khách.” Cậu nhân viên giám định dấu vết tên là Tôn Vũ chỉ về phía con đường chạy vào trong phòng và nói, “Những khu vực khác đều không có vết máu, hơn nữa chúng tôi đã quan sát kĩ mọi ngóc ngách, mọi chỗ kê đặt trong phòng khách, chỉ có vết máu dạng quệt, không phát hiện ra dấu vân tay máu có giá trị giám định.”

“Điều này cũng bình thường, ngón tay dính máu di chuyển quệt qua các vật thể thì sẽ không lưu lại dấu vân tay, chỉ khi cầm lên hoặc ấn vào vật đó mới để lại dấu vân tay.” Lâm Đào giải thích cho tôi.

“Thể dấu chân thì sao?” Tôi hỏi.

“Dấu chân máu thì rõ ràng hơn.” Tôn Vũ chỉ những vòng tròn đỏ được vẽ trên mặt đất và nói, “Dấu chân máu xuất hiện khá nhiều trên sàn nhà, chúng đan xen, chồng chéo lên nhau, nên không nhìn rõ hướng đi, nhưng có thể khẳng định một điểm, đó là chỉ có một loại hoa văn vết giày dép.”

“Một loại sao?” Tôi hỏi.

Tôn Vũ chỉ đôi dép để ở cửa và nói: “Chính là đôi dép lê kia.” “Chân Quản Thiên Trung không đi giày dép.” Bác sĩ Uông nhắc tôi.

Tôi gật đầu, nói: “Vậy vết dép của Điền Oánh cũng không lưu lại trên hiện trường sao?”

“Không có.” Tôn Vũ nói, “Điều đó chứng tỏ sau khi bị thương, nạn nhân không hề rời khỏi ghế sofa. Dép của bà ta vẫn ở chân, nhưng không để lại dấu vết trên sàn nhà.”

“Dấu vết này nói lên một vấn đề.” Bác sĩ Uông nói, “Nói lên rằng người đi đôi dép này chính là hung thủ, chứ không thể là ai khác. Mà Quản Thiên Trung lẽ ra phải đi dép ở chân, thế mà lại không đi, vậy còn ai có khả năng gây án được nữa?”

Tôi bước đến bên thi thể quỳ xổm xuống nhìn thi thể thảm thương trước mắt. Cổ người chết có mấy vết thương, xem ra là nạn nhân bị hung khí giống như dao liên tục đâm nhiều nhát vào cổ làm đứt nhiều mạch máu ở gốc cổ dẫn đến tử vong. Bụng của nạn nhân đúng là bị một vật sắc rạch ra một vết rất lớn, đường rạch cong queo, ngoằn ngoèo, nhưng diện tích miệng vết thương há ra rất lớn. Lớp mỡ chài và ruột non trong khoang bụng bị rơi ra khỏi cơ thể một đoạn.

“Vết thương ở vùng bụng khiến ống ruột trào ra, điều này rất thường thấy.” Tôi nói, “Nhưng ngay cả mảng mỡ chài trong khoang bụng cũng trôi ra như vậy thì rõ ràng không phải trào ra tự nhiên.”

“Hả? Vậy thì là...” Lâm Đào và Trình Tử Nghiên đồng thời rùng mình rồi Đổng Thanh hỏi.

“Là hung thủ chủ động lôi ra.” Tôi trầm giọng trả lời.

“Điều này càng chứng minh được tính chất của vụ án.” Đại Bảo nói, “Xem ra Quản Thiên Trung bị chèn ép rất kinh khủng, trạng thái phẫn nộ này không biết xả vào đâu, nên khi Điền Oánh chết rồi mới xả hận một cách tàn nhẫn như vậy.”

Tôi quay lại nhìn Đại Bảo, vô tình liếc qua Lâm Đào và Trình Tử Nghiên, thấy sắc mặt họ trắng bệch, không nói nên lời. Trình Tử Nghiên không dám cúi xuống nhìn thi thể, cô cố gắng kiềm chế cảm giác muốn nôn mửa.

“Tôi lại cảm thấy không hẳn thế.” Tôi trầm ngâm đáp.

“Không hẳn gì nữa?” Đại Bảo hỏi, “Dẫu sao cũng không phải cướp tài sản đúng không? Dấu vết không ủng hộ khả năng này mà.”

Tôi thấy trên trà kỷ cạnh ghế sofa nơi người chết nằm có một con dao gọt hoa quả, liền cầm lên xem, không trả lời câu hỏi của Đại Bảo. Con dao gọt hoa quả này không hề nhỏ, nói một cách chính xác bảo nó là dao găm thì hợp lý hơn. Sở dĩ cảm giác đầu tiên cho rằng nó là dao gọt hoa quả là bởi vì bên cạnh con dao có một quả táo đã gọt sẵn và một quả táo mới gọt một nửa, lúc này hai quả táo đều dính vết máu dạng bắn phụt. Trên dao gọt hoa quả cũng dính đầy máu, bất kể là ở lưỡi dao hay cán dao.

Tôi lấy thước trong túi áo ra đo đạc, lưỡi dao rộng 3 cen-timét, dài 10 cen-ti-mét, độ dày của sống dao là 1 mi-li-mét, là loại dao nhọn một mặt lưỡi, hoàn toàn trùng khớp với vết thương trên thi thể, rõ ràng đây chính là công cụ gây án.

“Có nhìn ra dấu vân tay không?” Tôi đưa con dao gọt hoa quả cho Lâm Đào.

Lâm Đào lắc đầu nói: “Toàn là máu, chẳng nhìn thấy gì cả.” “Ôi, nếu có dấu vân tay thì sẽ là chứng cứ tốt nhất.” Tôi than khẽ, rồi lại nhìn quả táo mới gọt được một nửa dính máu lốm đốm.

“Vụ thảm án này xảy ra vào lúc nạn nhân đang gọt táo.” Bác sĩ Uông nói.

Tôi gật đầu, suy nghĩ một lát, cảm thấy dường như mình vừa nghĩ ra được điều gì.

“Tôi thấy anh vừa dùng thiết bị hút tĩnh điện lấy dấu chân trên lớp bụi.” Tôi nói, “Ngoài dấu chân máu ra, trong phòng còn dấu chân nào khác để lại trên lớp bụi không?”

Tôn Vũ lắc đầu trả lời: “Hiện trường tương đối sạch sẽ, cho nên về điểm này, tôi có thể khẳng định. Hiện trường chỉ có ba loại dấu chân để lại trên lớp bụi, đó là đôi dép mà Điền Oánh đang đi, đôi dép nam nằm cạnh giá để giày dép rơi vương vãi ngay cửa ra vào và một dấu dép nam nữa.”

“Của Quản Văn Bác sao?” Tôi hỏi.

Tôn Vũ gật đầu, nói: “Đúng vậy, còn dấu dép của cậu con trai Quản Văn Bác nhà họ. Đôi dép đó đang ở cạnh giường trong phòng của Quản Văn Bác, trạng thái hoàn toàn bình thường.”

“Lúc giết người sẽ khiến lượng lớn máu chảy ra, giày dép không thể không dính máu.” Bác sĩ Uông nói.

Dường như chuỗi chứng cứ của vụ án này đang dần dần hình thành, tôi gật đầu như trút được gánh nặng, quay sang hỏi bác sĩ Uông: “Các anh phân tích Quản Thiên Trung nhảy xuống từ chỗ nào?”

“Ở đây có dấu chân máu.” Tôn Vũ chỉ ban công ở cuối phòng khách và nói: “Từ chỗ Điền Oánh đến ban công toàn là dấu máu ẩn, tuy không nhìn được hoa văn vết giày dép, cũng không phân tích được hướng đi của dấu chân, nhưng có thể xác định hung thủ đã ra ban công sau khi giết người. Trong khi gần cửa sổ lại không có dấu máu ẩn, cho nên chỉ có một khả năng là nhảy từ ban công xuống. Đương nhiên, nếu một người muốn nhảy lầu, trèo qua ban công sẽ dễ hơn trèo qua cửa sổ.”

Tôi gật đầu, men theo ván giẫm đi đến chính giữa ban công. Lan can ban công là những tấm chắn bằng kính acrylic bọc viên kim loại tròn nhẵn. Lan can cao ngang ngực tôi.

Tôi vịn vào lan can thò đầu nhìn xuống, có thể thấy phía dưới kia ngoài khung hình người màu trắng trên bãi cỏ và hàng rào cảnh giới ra thì còn có quần chúng vẫn đang tò mò vây quanh, chưa chịu di tản.

Tôi lấy bút laser trong túi, chiếu xuống mặt đất, quan sát kĩ, rồi chìm vào trầm tư.

Nghĩ một lúc, tôi bước đến thư phòng phía sau bức tường treo tivi ở phòng khách. Cửa sổ thư phòng rộng mở, rèm cửa bị cuốn vào trong, bất lực bay phất phơ. Thư phòng rất gọn gàng, trên giá sách bày rất nhiều sách. Phía dưới bậu cửa sổ đặt mấy chậu cây cảnh.

“Không phát hiện thấy dấu máu trong thư phòng sao?” Tôi hỏi Tôn Vũ.

Tôn Vũ kiên định lắc đầu.

Tôi như nghĩ ra điều gì liền nói: “Được rồi, tôi sang các phòng khác xem thế nào.”

Mấy người chúng tôi men theo ván giẫm đến từng căn phòng, kể cả phòng vệ sinh và phòng bếp cũng đi một lượt. Bởi vì khu vực hiện trường này không chỉ không có dấu vết lục lọi, mà còn không có dấu vết nào khác ngoài dấu vết của ba thành viên gia đình họ, cho nên nhìn đi nhìn lại cũng không nhìn ra vấn đề gì.

Lúc này, trời đã ngả về chiều, tôi nghĩ còn phải bảo nhân viên nhà xác đến đưa thi thể Điền Oánh đi và chúng tôi còn cần khám nghiệm hai tử thi, thời gian rất gấp gáp, cho nên tôi liền khoát tay thu quân, chuẩn bị đến nhà xác tiến hành công tác khám nghiệm.

Đúng lúc đóng cửa chính lại, tôi phát hiện trên mặt giá để giày dép có mấy cái cốc như cốc giữ nhiệt và cốc thủy tinh, liền tiện tay cầm chiếc cốc du lịch bằng nhựa lên xem. Thật kì lạ, trên nắp của chiếc cốc này bị đục thủng hai lỗ.

Đại Bảo cũng chú ý đến điểm này, liền cười: “Không phải con trai cưng của mẹ còn muốn dùng ống hút đấy chứ? Nếu không sao Còn đục lỗ trên nắp cốc làm gì?”

“Dùng ống hút uống nước cũng không đến mức phải đục hai cái lỗ.” Lâm Đào nói.

“Cắm hai ống hút.” Đại Bảo huých tôi, giục giã, “Đi thôi, đi làm việc nào!”

Tôi nhìn Đại Bảo, nghĩ đến câu anh ta vừa nói, cơ hồ ngộ ra được điều gì đó. Thế là tôi liền lấy túi đựng vật chúng trong hòm dụng cụ khảo sát để ở gần cửa, bỏ chiếc cốc vào trong, rồi đưa cho Tôn Vũ, bảo: “Cậu yêu cầu bộ phận hóa nghiệm làm xét nghiệm thành cốc này xem có chất khả nghi gì không. À phải rồi, đôi dép dính máu kia cũng cần làm hóa nghiệm nhé!”

Hiệu suất làm việc của bộ phận pháp y Công an thành phố Lôi Ảnh nhanh hơn tôi tưởng. Lúc chúng tôi đến phòng Giải phẫu pháp y học của Công an thành phố Lôi Ảnh, hai bác sĩ pháp y đã bắt đầu xâu chỉ luồn kim, chuẩn bị khâu lại thi thể vừa giải phẫu của Quản Thiên Trung.

“Đợi chút, đợi chút!” Tôi cuống quýt kêu hai bác sĩ pháp y nọ ngừng động tác, vội vàng mặc đồng phục giải phẫu, bước đến bên cạnh thi thể.

Tôi cầm ống tiêm, cho tay vào bàng quang của người chết, cắm ống tiêm vào, rút ra một ống nước tiểu màu vàng. Lấy nước tiểu không phải hạng mục bắt buộc trong khám nghiệm tử thi, cho nên tôi biết lúc khám nghiệm tử thi, các bác sĩ pháp y ở đây sẽ không thực hiện hạng mục công việc này.

“Lúc trước trên mình của người chết có dính nhiều máu không?” Tôi hỏi.

Lúc này thi thể đã được rửa sạch, cho nên không còn nhìn thấy nhiều máu dính trên người, tuy nhiên trên bề mặt thi thể vẫn có những vết máu đã cô lại thành thể rắn chưa được rửa sạch hoàn toàn.

“Trên đầu người chết có vết nứt giập, xương sườn trong lồng ngực bị gãy đâm thủng da ngực cũng hình thành nên vết nứt, ngoài ra ở bên tay phải, cổ tay bị gãy, đầu xương đâm thủng da tạo thành vết giập nứt. Vì thế đầu, ngực và tay của người chết chảy khá nhiều máu.” Bác sĩ Trần, một bác sĩ pháp y trẻ tuổi của Công an thành phố Lôi Ảnh, trả lời tôi.

“Đã lấy mẫu những dấu máu này chưa?” Tôi vội hỏi. Bác sĩ Trần lắc đầu.

“Tuy trong khám nghiệm pháp y không yêu cầu bắt buộc phải lấy dấu máu dính trên thi thể, nhưng với những vụ án kiểu này thì cần phải lấy.” Bác sĩ Uông chỉ bảo cậu bác sĩ trẻ, “Nguyên nhân rất đơn giản, nếu tìm thấy DNA trong vết máu hỗn hợp của ông ta và Điền Oánh ở trên người ông ta thì có phải là sẽ chứng minh được điều gì đó hay không?”

Bác sĩ Trần bừng tỉnh ngộ.

“Không sao, vẫn còn cách cứu chữa.” Tôi vừa nói vừa cầm tăm bông nhúng vào nước cất, lấy từng chút vảy lên vết thương còn sót lại trên người chết, đặc biệt là ở kẽ tay, tôi quệt đi quệt lại mấy lần, rồi nói: “Lát nữa nhớ mang sang phòng Xét nghiệm DNA để xét nghiệm nhé!”

“Lần sau chúng tôi sẽ ghi nhớ thực hiện hạng mục này.” Bác sĩ Trần nói, “Có điều, khi nãy anh vừa lấy nước tiểu của ông ta, làm vậy có ý nghĩa gì?”

Tôi mỉm cười, đáp: “Ý tưởng này xuất phát từ lúc còn đang khám nghiệm hiện trường, tôi vô tình phát hiện một vật rất bình thường mà lại không bình thường chút nào.”

Khi bác sĩ Trần vẫn ngơ ngác chưa hiểu thì Tôn Vũ đã lái chiếc xe khám nghiệm hiện trường phanh kít ngay trước cửa phòng Giải phẫu.

Tôn Vũ nhảy xuống xe, chạy vào phòng Giải phẫu và nói: “Trưởng khoa Tần, đúng là xét nghiệm thấy methamphetamine.”

“Ma túy ư?” Tôi trầm ngâm.

“Xét nghiệm cái gì mà ra vậy?” Đại Bảo tò mò hỏi.

“Khi chúng ta rời khỏi hiện trường, tôi phát hiện trên giá để giày dép có chiếc cốc du lịch bị đục thủng hai lỗ trên nắp, lúc đó anh còn bảo dùng để cắm ống hút đấy.” Tôi phá lên cười, rồi nói tiếp, “Không ngờ đúng là dùng để cắm ống hút thật, bởi vì chiếc cốc du lịch đó thực ra chính là cóng hút ma túy.”

“Ồ, anh đã nghi ngờ ngay từ lúc đó, cho nên mới lấy nước tiểu trong người ông ta đi làm xét nghiệm phải không? Bác sĩ Trần hỏi.

Tôi gật đầu, nói: “Từ dấu vết tại hiện trường cho thấy đây không phải hiện trường của vụ giết người để trả thù, càng không giống hiện trường một vụ giết người do kích động.”

“Nhưng nạn nhân bị giết khi đang gọt táo, tôi thấy khá giống hiện trường vụ giết người do kích động.” Bác sĩ Uông nói, “Hơn nữa đây là chuyện giữa hai vợ chồng mà, cho nên xác suất bị kích động càng cao hơn.”

“Nhưng anh có từng nhìn thấy vụ giết người do kích động nào mà còn phải có động tác mổ bụng moi ruột ra như thế không?” Tôi hỏi, “Ruột non của người chết có dấu vết bị móc ra rất rõ rệt. Bất kể giết người do thù địch hay giết người do kích động thì loại hành vi này vẫn quá sức cực đoan.”

“Đúng thế! Thông thường phải là thâm thù đại hận mới làm ra được hành vi xả giận đến mức này.” Đại Bảo bổ sung thêm.

Tôi gật đầu, nói: “Cho nên xảy ra hành vi làm nhục thi thể tàn nhẫn đến mức này, thì phần lớn hung thủ giết người đều là những kẻ tâm thần hoặc là những kẻ nảy sinh ảo giác sau khi hít ma túy. Cả hai loại này đều vì ảo giác.”

“Cho nên có phải chúng ta cần suy xét lại động cơ gây án chăng?” Bác sĩ Uông dường như đã nghĩ ra được điều gì.

“Có phát hiện tình hình gì khác thường trên thi thể Quản Thiên Trung không?” Tôi hỏi.

“Không có tình hình gì khác thường.” Bác sĩ Trần chỉ vào thi thể, trả lời, “Về cơ bản những vết thương trên cơ thể trùng khớp với vị trí xương bị gãy, ngoài ra, khoảng da trên ngực phía dưới vai phải có vết cào xước rõ rệt. Những nơi khác chính là những vết thương trên da ở phía phải của đầu, ngực và cổ tay phải, những vết thương này đều đối ứng với những chỗ gãy xương nghiêm trọng. Vết thương ở đầu phù hợp với việc va đập trực tiếp với mặt đất, những vết thương khác đều do bị đầu xương gãy chọc thủng. Hơn nữa những chỗ gãy xương này rất nghiêm trọng, không phải do sức của con người gây nên. Ngoài ra, đầu xương gãy đều có phản ứng sống rõ rệt, và không xuất huyết nhiều. Tổng hợp các phân tích cho thấy tất cả vết thương trên cơ thể người chết đều phù hợp với đặc điểm bị rơi từ trên cao xuống. Hơn nữa trên thi thể không có các vết thương phụ như vết thương gây ra do uy hiếp, kháng cự hay khống chế.”

“Cho nên, kết luận này có thể chứng minh người chết đã tử vong do rơi từ trên cao xuống khi đang còn sống, đúng không?” Tôi hỏi.

“Có thể xác định là vậy.” Bác sĩ Trần kiên định gật đầu.

Tôi đưa tay sờ vết cào xước phía dưới vai của Quản Thiên Trung, căn cứ vào phương hướng vạt da có thể xác định chỗ bị cào xước này được hình thành do vật tày cào xước từ vai đi xuống, dường như trong quá trình rơi có chướng ngại vật nào đó ở giữa đường đã quệt nhẹ vào gây xây xát.

Tôi nhắm mắt để đầu óc mình trở về bãi cỏ tại hiện trường nhớ lại cảnh tượng mà tôi quan sát thấy khi đứng trên bãi cỏ và ngẩng đầu nhìn lên.

Sau đó, tư duy của tôi trở lại căn hộ tại hiện trường, nhớ lại lan can trơn nhẵn ở ban công và khung cửa sổ ở thư phòng.

“Không đúng, không đúng!” Tôi lắc đầu lẩm bẩm.

“Không đúng cái gì? Giờ đã khâu thi thể lại được chưa?” Đại Bảo đã mặc xong trang phục giải phẫu, cầm lấy kim khâu trong tay bác sĩ Trần và hỏi.

“Được rồi.” Tôi nói, “Thi thể của Điền Oánh đã được đưa đến đây chưa?”

Bác sĩ Trần chỉ về phía túi đựng tử thi màu vàng đang đặt trên giường chở xác ở góc phòng Giải phẫu, ra hiệu đó chính là thi thể của Điền Oánh.

Tôi bước đến bên thi thể, kéo khóa túi đựng tử thi ra, dùng ngón tay banh miệng vết thương trên bụng của người chết, nghiêng mặt hướng vào trong khoang bụng quan sát, vừa vặn có thể nhìn thấy bàng quang căng trướng, tôi liền dùng ống tiêm sạch đâm trực tiếp vào bàng quang, rút ra một ống nước tiểu, rồi nói: “Đã phát hiện dụng cụ hút ma túy trong nhà hai ông bà già này, thì cần phải tiến hành xét nghiệm sàng lọc chất ma túy cho cả hai người chết. Đương nhiên, đáng tin nhất vẫn là đi tìm Quản Văn Bác, lấy nước tiểu của anh ta mang đi xét nghiệm một thể.”

“Chuyện này... e là hơi... không thích hợp cho lắm.” Bác sĩ Uông ngập ngừng, “Dẫu sao thì anh ta cũng là tiến sĩ nghiên cứu khoa học kỹ thuật mũi nhọn, vả lại còn vừa mất cả hai bố mẹ cùng lúc, trong khi đó không có cách nào bí mật lấy được nước tiểu của anh ta, chúng tôi không nỡ đưa ra yêu cầu này.”

Tôi nghĩ lại thấy bác sĩ Uông nói cũng có lý, nên không kiên quyết làm vậy nữa. Tôi cầm hai ống nước tiểu đưa cho Tôn Vũ và nói: “Vẫn làm loại xét nghiệm đó, phiền anh gửi đến chỗ Công an thành phố, sau đó có kết quả thì báo ngay cho tôi biết.”

3

Công tác pháp y là vậy, để cung cấp chứng cứ chi tiết và khách quan trước tòa, cho dù là công tác không mấy quan trọng với việc phá án, nhưng chúng tôi vẫn muốn làm tốt.

Cổ Điền Oánh có mười mấy vết thương, sau khi chúng tôi rửa sạch vết thương thì lần lượt tiến hành đo đạc và chụp ảnh. Đây không phải công việc phiền toái nhất, chúng tôi còn cần giải phẫu từng tầng cơ và da ở cổ Điền Oánh, thực quản, khí quản và tất cả mạch máu ở cổ dần dần lộ ra. Mạch máu ở cổ vốn nhiều và phức tạp, chúng tôi không chỉ cần bóc tách để mạch máu lộ rõ mà còn cần xác định rốt cuộc có bao nhiêu mạch máu bị đứt trong số mười mấy mạch máu ở cổ, mỗi nhát dao trên da đều tương ứng với một đường mạch máu bị cứa đứt.

Cho nên chỉ riêng việc giải phẫu cổ đã làm chúng tôi mất hơn một tiếng đồng hồ. Kết luận cuối cùng là tất cả vết thương ở cổ đều được hình thành từ một loại hung khí và hình thái của con dao gọt hoa quả ở hiện trường hoàn toàn trùng khớp. Nguyên nhân tử vong là động mạch và tĩnh mạch cổ bị nứt vỡ dẫn đến mất máu cấp tính nghiêm trọng mà chết.

“Kiểu chết này rất nhanh chóng.” Tôi chỉ vào miệng vết thương ở vùng bụng của người chết và nói, “Cho nên tuy rằng sau khi đâm vào cổ thì lập tức mổ bụng, phản ứng sống ở vết rạch trên bụng rất yếu, chỉ có thể nói là vết thương này được hình thành lúc sắp chết.”

“Rõ ràng đây là người quen gây án.” Đại Bảo nói.

Tôi nhìn hai bàn tay và cẳng tay của người chết, tuy rằng trên tay người chết dính máu nhưng không có vết thương nào. Đã không có vết thương gây ra do kháng cự, điều đó chứng tỏ nhát dao này rất đột ngột, hơn nữa còn mạnh, thậm chí khiến Điền Oánh không kịp phản ứng. Chính vì không có vết thương kháng cự, cũng chứng tỏ hung thủ là người rất quen thuộc với Điền Oánh, cho nên phân tích của Đại Bảo là chính xác.

Chúng tôi tiếp tục phẫu thuật mở khoang ngực bụng và sọ của người chết.

Phần ruột lòi ra ngoài bị mất nước nên khô lại, không còn vẻ trơn nhẵn thường thấy của ruột non, thậm chí hai thành ruột còn dính lại thành một, khó có thể tách rời. Chúng tôi sắp xếp lại khoang bụng của người chết, phát hiện vì đường ruột bị như vậy nên mạc treo ruột non bị xuất huyết, bầm tím nhiều chỗ. Ruột non trong cơ thể người chết bị thắt nút nhiều chỗ, điều này chứng tỏ nó còn bị “ngoáy đảo” trong cơ thể của người chết.

Đưa ra phán đoán này, Trình Tử Nghiên đứng cạnh tôi cuối cùng đã không gắng gượng được nữa, cô lao ra khỏi phòng Giải phẫu, nôn ngay ra trước cửa. Lâm Đào đi theo, vỗ nhẹ vào lưng cô.

“Thế này thì vô nhân đạo quá!” Đại Bảo nói, “Không một người bình thường nào có thể làm ra hành động như vậy với thi thể.”

“Đúng thế! Quản Thiên Trung là người có văn hóa, không thể mổ bụng tìm đồ như vậy.” Bác sĩ Uông nói, “Nhưng phán đoán hung thủ hút ma túy đá nảy sinh ảo giác mà Lão Tần vừa đưa ra thì lại hoàn toàn có khả năng xảy ra.”

Tôi cười gượng, nhưng điều tôi đang nghĩ trong đầu không phải hành vi của hung thủ bất thường như thế nào mà là hung thủ làm nhiều động tác thừa như vậy thì chắc chắn sẽ lấy được DNA của người chết trên tay hung thủ. Cho dù rửa thế nào thì vẫn khó rửa sạch hoàn toàn các kẽ ngón tay. Chứng cứ mới là thứ quan trọng nhất giúp chúng tôi thuận lợi giải quyết vụ án này.

Lúc bấy giờ, Đại Bảo đã mở dạ dày của người chết, anh nói: “Giả dụ, chúng ta giả dụ Điền Oánh đã ăn thứ gì đó khiến Quản Thiên Trung muốn lấy nó trong bụng bà ta ra, vậy thì cũng phải xem trong dạ dày bà ta có thứ gì.”

Nhưng thức ăn trong dạ dày người chết chỉ là thức ăn rất bình thường, không có gì kỳ lạ, cũng không có gì đáng nghi. Mức độ tiêu hóa thức ăn chưa sâu, vẫn có thể thấy rõ hình thái sợi mì và vụn rau trong dạ dày.

“Thức ăn trong dạ dày người chết đã đẩy xuống đoạn cuối tá tràng.” Tôi nói, có lẽ là tử vong trong vòng một tiếng sau khi ăn, bữa cuối cùng này là mì nấu với rau.”

“Thời gian tử vong không có vấn đề gì.” Bác sĩ Trần nói, “Thức ăn trong dạ dày của Quản Thiên Trung và Điền Oánh giống hệt nhau, chứng tỏ thời gian tử vong của hai người này gần sát nhau. Hơn nữa căn cứ vào các đặc trưng hình thái về độ co cứng và vết hoen tử thi có thể khẳng định bữa ăn với mì và rau này là bữa tối ngày hôm qua.”

“Nhân viên điều tra phát hiện, hai ông bà này có thói quen ăn bữa tối vào lúc 8 giờ tối.” Bác sĩ Uông nói, “Vì thỉnh thoảng Quản Văn Bác cũng về ăn cơm, mà công việc của anh ta bận rộn, thường xuyên ở lại làm thêm giờ, đường về nhà cũng tương đối tắc, cho nên mấy năm nay hai ông bà già này hình thành thói quen ăn tối muộn. Nếu theo thói quen sinh hoạt này, thì thời gian tử vong của họ có lẽ là vào khoảng 9 giờ tối qua.”

“Vào thời điểm đó, dù trong khu chung cư vẫn có người đi lại, nhưng vì hệ thống chiếu sáng trong chung cư không tốt lắm, cho nên khó mà có người phát hiện ra thi thể nằm trên bãi cỏ.” Bác sĩ Trần nói.

“Cho nên khám nghiệm tử thi xong, chúng ta vẫn không rút ra được kết luận gì.” Tôi nói.

“Bình thường thôi mà, với những vụ án giết người rồi tự sát kiểu này thì buộc phải dựa vào kết quả xét nghiệm DNA để xác định chứng cứ.” Bác sĩ Uông nói, “Cho nên chúng ta kiên nhẫn đợi một lát là được. Cơ quan kiểm sát đã nhúng tay vào vụ này sớm hơn rồi, chỉ cần lấy được chứng cứ thì vụ án này có thể khép lại.”

“E là không đơn giản thế.” Tôi lại đến bên thi thể Quản Thiên Trung, cởi lớp găng tay ngoài, chạm vào hai tay của ông ta.

Vừa dứt lời, Tôn Vũ đã lao vào phòng Giải phẫu, lần này vẻ mặt của cậu ta còn hoảng hốt hơn lần trước, cậu ta nói hấp tấp báo cáo: “Các đồng chí lãnh đạo, qua xét nghiệm cho thấy, trong cơ thể hai người chết này đề không có thành phần ma túy đá! Nói một cách chính xác thì trong cơ thể của hai người chết này hoàn toàn không có bất kỳ thành phần ma túy nào!”

“Không hút ma túy sao?” Bác sĩ Uông trợn tròn mắt, hỏi, “Lão Tần, lẽ nào suy đoán giết người do nảy sinh ảo giác sau khi hút ma túy’ của anh đã sai ư?”

“Nếu kết luận này của tôi đã sai, vậy thì còn khả năng nào nữa?” Tôi mỉm cười hỏi.

“Giết người do tâm thần?” Đại Bảo hỏi, “Chắc không phải thế chứ! Bệnh tâm thần đâu phải nói mắc là mắc luôn, nói phát bệnh là phát bệnh luôn. Nếu Quản Thiên Trung bị tâm thần thì không có chuyện phía cảnh sát lại không điều tra ra.”

“Vậy còn tình huống nào nữa?” Bác sĩ Uông hỏi.

“Đi thôi! Chúng ta đến tổ chuyên án rồi nói.” Tôi cởi bỏ đồng phục giải phẫu, nói với mọi người.

Về cơ bản đã đoán định đây là vụ án giết người rồi tự sát cho nên lãnh đạo không mấy chú trọng đến vụ án này. Chúng tôi đợi trong phòng họp của tổ chuyên án hơn nửa tiếng đồng hồ thì vị công tố viên “đã sớm nhúng tay” bên Viện kiểm sát mới đến.

Trong thời gian nửa tiếng đồng hồ này, tôi xem lại các bức ảnh chụp hiện trường tử vong của Quản Thiên Trung.

Khi xem ảnh, tôi thấy có những điểm không giống với khi nghe kể tóm tắt. Trong quá trình tóm tắt vụ án, không ai nói với tôi là Quản Thiên Trung úp nửa mặt xuống đất, nhưng phía mặt hướng lên trời hình như lại dính ít vụn cỏ. Rơi từ trên cao xuống làm đứt lá cỏ và bị vụn cỏ dính vào mặt, phân tích kiểu này... tôi chưa từng nhìn thấy cảnh tượng tương tự như vậy trong các vụ án rơi từ trên cao xuống mà tôi từng xử lý. Vậy thì phần cỏ bị đứt thành từng đoạn này đã dính lên mặt người chết bằng cách nào?

Tôi phóng to bức ảnh, chầm chậm di chuyển, hình ảnh xuống dần phía chân của người chết. Tôi thình lình phát hiện khớp gối trái của Quản Thiên Trung hướng ra phía ngoài, mấy vết xây xát, bầm giập dài mảnh, rất nhẹ, đến nỗi lúc khám nghiệm tử thi, chúng tôi lại không chú ý. Tôi chăm chú nhìn màn hình và suy nghĩ, mãi đến khi vị công tố viên cắt đứt mạch tư duy của tôi.

“Các anh có thể bắt đầu báo cáo.” Vị công tố viên nói.

Thế là tôi bắt đầu phân tích: “Có thể nhận định, kẻ gây án trong vụ án này là người quen với nạn nhân, thủ đoạn cực kỳ tàn nhẫn, mà người bình thường không thể nào thực hiện được. Ngoài ra, về cơ bản đây là hiện trường khép kín, có thể loại trừ khả năng kẻ vãng lai hoặc người ngoài đột nhập vào gây án.”

“Anh hãy chọn lọc và trình bày trọng điểm.” Vị công tố viên ngáp một cái.

“Vâng, vậy thì tôi xin trình bày đơn giản.” Tôi bất lực lắc đầu, nói tiếp, “Ban đầu mọi người đều cho rằng Quản Thiên Trung gây án, vì trả thù, vì kích động mà cố tình giết người. Sau đó chúng tôi đã lấy mẫu DNA trên cóng hút ma túy đá tự chế được tìm thấy tại hiện trường. Nếu hung thủ giết người do nảy sinh ảo giác sau khi hút ma túy, vậy thì thủ đoạn giết người tàn nhẫn kia đã có lời giải thích. Chỉ tiếc là cả hai người chết tại hiện trường đều không có quá trình hút ma túy.”

“Vậy nghĩa là anh phân tích sai rồi còn gì.” Công tố viên nói. “Cũng có thể phân tích của tôi đã sai.” Tôi nói tiếp, “Nhưng vụ án này chứa đầy những điểm khả nghi, ngay từ khoảnh khắc bước vào hiện trường, tôi đã cảm thấy chỗ nào cũng có điểm là lạ.”

“Hả?” Bác sĩ Uông ngồi thẳng người nhìn tôi bằng ánh mắt tỏ vẻ bất ngờ.

Tôi nói: “Thứ nhất, theo thông tin điều tra, Điền Oánh là người làm chủ gia đình, hơn nữa không coi chồng ra gì. Nhưng lúc sự việc xảy ra thì rõ ràng bà ấy đang gọt táo, hơn nữa còn đang gọt dở quả thứ hai. Một người không coi chồng ra gì có thể ngồi gọt táo cho chồng ăn không?”

“Đúng vậy!” Công tố viên bắt đầu phấn chấn tinh thần.

“Biết đâu Quản Thiên Trung gọt táo thì sao?” Bác sĩ Uông nói. “Đúng mà!” Công tố viên đồng tình.

“Điều anh nói cũng có khả năng xảy ra.” Tôi gật đầu, nói tiếp, “Thứ hai, dấu chân trên hiện trường có chút vấn đề. Hiện trường chỉ có một loại dấu chân máu, được hình thành do đôi dép lê để ở cửa ra vào. Điều đó chứng tỏ đôi dép lê đó chính là đôi dép mà hung thủ đã đi. Nhưng rõ ràng Quản Thiên Trung rơi từ trên ban công xuống, chân ông ta không đi dép thì thôi, vì sao dép còn để tận ngoài cửa?”

“Có thể là vì Quản Thiên Trung vốn dĩ đi dép lê, giết người xong, ông ta đi ra cửa, bỏ dép ra, sau đó đến ban công và nhảy xuống thì sao?” Bác sĩ Uông đặt giả thiết, “Nếu sau khi giết người, ý thức mới trở nên mơ hồ thì cũng không thể loại trừ tình huống này.”

Tôi thừa nhận bác sĩ Uông nói có lý, vả lại đúng là ở ban công phòng khách cũng có dấu máu ẩn, tuy không thể xác định dấu máu ẩn đó được hình thành do máu bắn phụt ra hay do bàn chân trần dính máu giẫm lên. Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: “Nhưng chúng ta đều biết thông thường dép lê sẽ được đặt trên giá để giày dép, như vậy lúc thay giày mới thuận tiện, nhưng dép lê của Quản Văn Bác lại để trong phòng anh ta, điều này không hợp lý lắm.”

“Dẫu sao chúng ta cũng không hiểu tình hình của gia đình họ, mỗi gia đình đều có thói quen riêng mà.” Bác sĩ Uông nói.

“Đúng thế, tôi xin nói tiếp.” Tôi tiếp tục phân tích của mình, “Điều thứ ba là vấn đề địa điểm mà Quản Thiên Trung nhảy xuống. Tôi đứng trên ban công, nơi chúng ta nghi ngờ ông ta nhảy lầu từ đó, khi nhìn xuống, tôi thấy chỗ ông ta đứng nhảy và chỗ ông ta đáp đất hơi lệch một chút. Điểm rơi không phải thẳng từ ban công nhà ông ta dóng xuống. Mà vừa vặn, cửa sổ trong thư phòng nhà ông ta lại mở toang”

“Điều này cũng khó nói.” Bác sĩ Uông nói, “Nếu có lực tác dụng theo hướng ngang trong lúc nạn nhân nhảy lầu thì điểm rơi đương nhiên sẽ lệch một chút.”

“Chúng ta có thể không nói đến điểm rơi, nhưng vị trí vết thương trên thi thể thì không thể không nói đến.” Tôi nói, “Vết thương của Quản Thiên Trung quả thực phù hợp với đặc điểm vết thương ngã từ trên cao xuống dẫn đến tử vong, cũng có rất nhiều vết máu kèm theo, điều đó khiến chúng ta không thể phân biệt được những vết máu đó rốt cuộc là của ông ta hay là của Điền Oánh. Quả thực, trên thi thể của Quản Thiên Trung không có ba loại vết thương phụ như vết thương kháng cự, vết thương khống chế và vết thương uy hiếp. Nhưng bảo ông ta hoàn toàn không có vết thương phụ thì không đúng, ví dụ tôi cảm thấy vết thương phía dưới vai của ông ta chính là vết thương phụ.”

“Đây là vết thương hình thành do bị chướng ngại vật cào sát lúc rơi từ trên cao xuống.” Bác sĩ Uông nhìn ảnh và nói, “Hướng vết thương là từ trên cao xuống, vừa vặn trùng khớp với tư thế rơi của ông ta - đầu chúc xuống dưới, chân ở phía trên.

“Chướng ngại vật mà anh nói cụ thể là vật gì?” Tôi hỏi, “Tôi đã đến hiện trường, với loại nhà cao tầng này, ngay cả giá phơi quần áo họ cũng không lắp, vậy thì trong quá trình rơi, ông ta sẽ bị chướng ngại vật nào cào xước chứ?”

Bác sĩ Uông đáp: “Không chừng bị quệt vào rào chắn lan can lúc nhảy xuống thì sao?”

“Rào chắn lan can làm bằng thép không gỉ trơn nhẵn.” Tôi nói, “Ngay cả cạnh sắc cũng không có thì cào xước kiểu gì?”

“Vậy ý anh là gì?” Cuối cùng vị công tố viên cũng tìm được khoảng trống giữa màn đối thoại của hai chúng tôi mà xen lời.

“Khung cửa sổ ở thư phòng có gờ nhô ra, cơ thể người quệt vào gờ cửa sổ mới hình thành nên vết xước đó.” Tôi nói.

“Vậy thì không chừng không phải Quản Thiên Trung nhảy từ ban công xuống, là nhảy từ cửa sổ thư phòng xuống, như anh vừa nói.” Bác sĩ Uông gật gù.

“Nếu ông ta giết người xong, đi đến thư phòng, thì vì sao trên sàn nhà thư phòng lại không có dấu máu ẩn?” Tôi hỏi.

“Điều này...” Cuối cùng bác sĩ Uông cũng nghẹn lời.

“Vả lại, vết thương này cũng rất thú vị.” Tôi nói, “Nếu nhảy từ cửa sổ thì... Tôi đã đo rồi, độ cao của bệ cửa sổ là 90 cen-ti-mét, độ dày là 50 cen-ti-mét, vậy hoặc là ông ta đã giẫm lên bệ cửa sổ mà nhảy xuống, hoặc là ông ta trực tiếp nhảy qua bệ cửa sổ lao xuống. Vậy thì vị trí này ở vai làm sao mà quệt được vào khung cửa sổ và gây ra vết xước?”

Bác sĩ Uông vẽ trong không trung một lát, rồi nói: “Đúng là tư thế áp người lên bệ cửa sổ cao 90 cen-ti-mét rồi nhoài về phía trước thì không giống tự mình lao ra cho lắm.”

“Có một khả năng!” Tôi giơ một ngón tay lên, nói, “Nếu có ai đó ôm lấy chân trái của ông ta, ông ta mất thăng bằng, nửa thân trên sẽ ngã lên bệ cửa sổ. Đúng thời điểm này, người ôm chân ông ta đẩy ông ta ra ngoài cửa sổ, thì vai ông ta sẽ ma sát với khung cửa sổ theo chiều từ trên xuống.”

Bác sĩ Uông sững người, nói: “Quả thực chúng tôi vẫn chưa nghiên cứu vết thương này tỉ mỉ đến mức ấy. Xem ra đúng là vậy!”

“Ôm chân? Ai nhỉ? Điền Oánh sao?” Công tố viên hỏi.

Tôi không trả lời, tiếp tục trình bày quan điểm của mình: “Vừa hay khi nãy tôi xem ảnh thì phát hiện một vết thương rất nhẹ mà lúc khám nghiệm tử thi chúng tôi lại không chú ý đến. Trên chân trái của Quản Thiên Trung có ba đường trầy xước dài, mảnh, hơi cong do ba vật thể dài, mảnh, hơi cong gây ra.”

“Do ba ngón tay gây ra!” Đại Bảo giải thích cho vị công tố viên vẫn đang ngơ ngác chưa hiểu gì.

“Ý anh nói là...” Dường như bác sĩ Uông đã ngộ ra được suy đoán của tôi.

“Thứ tư.” Tôi nói tiếp, “Thông qua khám nghiệm thi thể của Điền Oánh, chúng tôi xác định sau khi hung thủ giết và rạch bụng nạn nhân, hắn còn ngoáy đảo khoang bụng của Điền Oánh. Chúng ta đều biết mặt ngoài của ruột trong khoang bụng cũng có rất nhiều dịch nhầy nhằm duy trì độ trơn nhẵn của đường ruột. Nếu ngoáy đảo thì trên tay hung thủ ngoài dính máu ra, còn dính cả dịch nhầy nữa. Nhưng trong lòng bàn tay và cả giữa các kẽ ngón tay của Quản Thiên Trung không hề dính dịch nhầy.”

“Tôi hiểu rồi!” Bác sĩ Uông nói.

“Hiểu gì cơ? Các anh đừng úp úp mở mở nữa.” Công tố viên không hài lòng.

“Đương nhiên tất cả những điều này chỉ là suy đoán của cá nhân tôi, vẫn chưa được chứng thực bởi các bằng chứng đã qua kiểm nghiệm.” Tôi nâng tay lên nhìn đồng hồ và nói, “Đoán là kết quả xét nghiệm DNA cũng sắp ra rồi.”

Tôi vừa dứt lời thì bác sĩ Trần đã cầm tập kết quả xét nghiệm DNA bước vào phòng họp của tổ chuyên án, và nói: “Các đồng chí lãnh đạo, đã có kết quả xét nghiệm DNA. Tôi xin tóm tắt qua tình hình xét nghiệm của các bộ phận trọng điểm. Trên vật mẫu lấy từ bề mặt da của Quản Thiên Trung không xét nghiệm thấy DNA của Điền Oánh, chỉ có DNA của chính ông ta. Trên vật mẫu lấy từ cóng hút ma túy đá không xét nghiệm thấy DNA. Trên vật mẫu lấy từ chiếc dép dính máu xét nghiệm thấy máu của Điền Oánh cùng DNA của Quản Thiên Trung và Quản Văn Bác. Máu ở mọi chỗ ở hiện trường đều là máu của Điền Oánh.”

“Được rồi, kết quả xét nghiệm DNA đã chứng thực suy đoán của tôi.” Tôi nói, “Sau khi giết người, hơn nữa còn cứa đứt nhiều động mạch lớn ở cổ, trên người, trên tay hung thủ không thể không nhuốm máu của người chết. Cho nên kẻ giết Điền Oánh không phải Quản Thiên Trung.

“Vậy là ai?” Công tố viên hỏi.

“Quản Văn Bác sao?” Bác sĩ Uông hỏi, “Xét nghiệm thấy DNA của anh ta trên đôi dép đó đâu có ý nghĩa gì, người trong nhà đi dép của nhau rất bình thường mà.”

“Tại hiện trường ngoại trừ dấu chân máu ra còn có rất nhiều dấu chân trên lớp bụi. Những dấu chân này cho chúng ta biết rằng, ở hiện trường, ngoài ba thành viên trong gia đình họ thì không có người ngoài đột nhập.” Tôi nói, “Hiện trường về cơ bản là một hiện trường khép kín, động tác giết người cũng cho chúng ta thấy không phải người ngoài gây án. Điều thú vị hơn là, trên mặt của Quản Thiên Trung dính vụn cỏ bị đứt, cạnh thi thể cũng có dấu vết những ngọn cỏ xanh bị đứt lìa. Điều đó chứng tỏ hung thủ đã bước đến bên cạnh thi thể, giật một nắm cỏ đắp lên mặt người chết. Đây là hành động thể hiện trạng thái tâm lý cắn rứt, hổ thẹn một cách hết sức rõ ràng. Cho nên hung thủ có lẽ là Quản Văn Bác.”

“Ngày hôm đó, Quản Văn Bác không có mặt tại hiện trường mà.” Công tố viên nói.

“Chứng cứ Quản Văn Bác không có mặt ở hiện trường chỉ có mình anh ta chứng thực.” Tôi nói, “Chứng cứ như thế có hiệu lực không?”

“Nhưng tôi vẫn chưa nghĩ thông quỹ tích gây án của Quản Văn Bác. Một quỹ tích như thế nào mới có thể hình thành nên tình trạng như thế này ở hiện trường?” Bác sĩ Uông thắc mắc.

“Rất đơn giản!” Tôi mỉm cười, trả lời thắc mắc của bác sĩ Uông, “Quản Văn Bác hút ma túy đá trong phòng mình, vì hút thuốc nên nảy sinh ảo giác, lúc đó anh ta không đi dép, mà đi chân trần ra khỏi phòng, nhìn thấy bố đang chăm hoa ở cửa sổ thư phòng, nhân lúc ông ta không phòng bị đã ôm chân ông ta ném xuống lầu. Vì hành động ôm chân này nên dép ở chân Quản Thiên Trung rơi ra. Thời điểm đó, không rõ vì mục đích gì hay chỉ đơn thuần là hành vi vô thức, Quản Văn Bác đã đi dép của Quản Thiên Trung, rồi bước vào phòng khách. Điền Oánh ở phòng khách đang gọt táo cho Quản Văn Bác, thì bị Quản Văn Bác đột ngột xông tới cướp dao trong tay, liên tiếp đâm vào cổ cho đến chết. Sau khi giết người và ngược đãi thi thể, lúc này Quản Văn Bác mới dần dần tỉnh lại từ cơn phê thuốc, anh ta quay ra ban công, nhìn thấy thi thể của Quản Thiên Trung ở dưới lầu, sau đó bước ra cửa lớn, bỏ dép ra, đi giày của mình vào, bước xuống tầng, nhổ một nắm cỏ đắp lên mặt Quản Thiên Trung, cuối cùng rời khỏi hiện trường”

“Gần như mọi việc đều rõ ràng.” Bác sĩ Uông gật đầu đồng tình với suy đoán của tôi, “Khi nãy mà lấy nước tiểu của Quản Văn Bác mang đi xét nghiệm thì tốt rồi.”

“Trong các vụ án giết người thân, việc lấy chứng cứ luôn là một việc rất phiền phức.” Tôi nói, “Ví dụ ở hiện trường có dấu chân in trên lớp bụi của Quản Văn Bác, nhưng lại không chứng minh được gì. Về vấn đề đôi dép, khi nãy tôi đã nói rồi, cho dù lấy được dấu vân tay và DNA của Quản Văn Bác tại hiện trường, cũng không chứng minh được gì. Nếu có chứng cứ Quản Văn Bác hút ma túy đá, thì cũng chỉ có thể nói lên rằng anh ta có khả năng gây án, chứ không thể trực tiếp chứng minh anh ta chính là hung thủ. Chúng ta phân tích nhiều thế vẫn không lấy được chứng cứ có hiệu lực trước tòa.”

“Vậy phải làm sao?” Công tố viên hỏi.

“May ở một điểm, từ nhỏ đến lớn Quản Văn Bác chưa từng giặt quần áo.” Tôi mỉm cười, nói, “Vậy thì lần này hẳn là anh ta phải đốt quần áo của mình đi, nếu không, anh ta phải giặt nó, mà chắc chắn anh ta sẽ không giặt sạch quần áo của mình. Bây giờ chúng ta cần đến lục soát kí túc xá ở đơn vị anh ta, trọng điểm tìm kiếm là công cụ hút ma túy đá và quần áo, giày dép của Quản Văn Bác. Trừ phi anh ta đã đốt sạch sẽ, bằng không nhất định có thể tìm thấy dấu máu còn sót lại trên quần áo của anh ta. Nói gì thì nói, chắc chắn anh ta không thể nào giặt sạch sẽ hoàn toàn tất cả quần áo.”

4

“Nam tiến sĩ điên cuồng hành hạ bố mẹ ruột đến chết, nguyên nhân chỉ vì thứ này? Cái tiêu đề này đúng là khiến người ta cạn lời.” Đại Bảo ngồi ở hàng ghế sau, cầm điện thoại và nói.

“Đây là động tác quen thuộc của nhiều hãng truyền thông thời nay.” Tôi vừa lái xe vừa tiếp lời, “Có điều tôi không cảm thấy tiêu đề này có gì không ổn, bởi vì nó dẫn dắt trọng điểm sang vấn đề hút ma túy, làm nổi bật tính nguy hại của ma túy. Ma túy quả là hại người khủng khiếp.”

“Đúng vậy, ma túy hại chết người.” Lâm Đào bổ sung “Chỉ có điều không ngờ đường đường một nhân tài khoa học công nghệ cao lại đi hút ma túy.”

“Chẳng rõ khi ấy anh ta nghĩ gì mà có thể sử dụng thủ đoạn tàn nhẫn nhường ấy sát hại bố mẹ mình.” Đại Bảo thắc mắc.

Tôi nói: “Giờ vẫn chưa xác định được, chút nữa họ sẽ gửi biên bản ghi chép thẩm vấn cho tôi. Chúng ta phải nhanh chóng quay về. Các đồng nghiệp ở thành phố Lôi Ảnh vẫn còn rất nhiều công việc phải làm.”

“Đúng thế, trước đây chị dâu các cậu thường xuyên mắc lỗi này. Hễ đọc trên mạng Internet thấy tung tin vụ án của chúng ta đã được phá giải là liền đến chất vấn tôi sao vẫn chưa về nhà.” Đại Bảo than thở, “Thực ra cô ấy không biết cho dù đã phá được án, nhưng các nhân viên kỹ thuật hình sự chúng ta thì vẫn chưa hoàn thành công việc. Chúng ta còn phải lập một hệ thống chứng cứ vững chắc, hoàn thành các trình tự pháp luật. Phá được án chỉ mới hoàn thành một nửa công việc mà thôi.”

“Đó là bởi chị dâu quan tâm đến anh thôi!” Lâm Đào cười hì hì.

“Chứng cứ của vụ án này có lẽ không phải vấn đề lớn.” Tôi nói, “Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Quản Văn Bác đã có rồi, xác định anh ta là con nghiện ma túy đá trường kì. Tuy không nhìn ra được dấu vân tay trên con dao gọt hoa quả mà anh ta dùng để giết người, nhưng quả nhiên anh ta nhét quần áo vào trong máy giặt, có điều chắc chắn máy giặt không thể giặt sạch sẽ hoàn toàn. Vả lại, sau khi giết người, hai chân Quản Văn Bác sẽ dính đầy máu, anh ta xỏ đôi giày của mình ở hiện trường và rời đi, cho nên trong đôi giày của anh ta cũng có dấu máu. Ngoài ra, nhóm bác sĩ Uông cũng đang tiến hành kiểm tra tổng quát toàn thân anh ta. Tôi tin rằng trên người Quản Văn Bác nhất định dính máu của người chết.”

“Chắc chắn rồi!” Đại Bảo nói, “Chúng tôi đã sắp xếp tìm kiếm tỉ mỉ dấu máu giữa các ngón tay, ngón chân, trên da đầu của Quản Văn Bác. Điền Oánh mất máu nhiều như vậy, khẳng định sẽ dính trên người Quản Văn Bác, kiểu gì cũng không thể rửa sạch.”

“Tôi tin rằng sau khi giết người, anh ta sẽ cảm thấy cắn rút lương tâm, vì thế khi bị bắt, chắc chắn anh ta sẽ nhanh chóng khai thật.” Tôi nói, “Dẫu sao thường ngày anh ta gần gũi với mẹ của mình như thế.”

Vừa dứt lời, tôi thấy eo mình chấn động từng hồi, biết ngay điện thoại di động đang rung. Thế là tôi móc điện thoại ra, đưa cho Lâm Đào đang ngồi ở ghế phụ lái và nói: “Đoán là có biên bản thẩm vấn rồi đấy, cậu đọc trước đi!

Lâm Đào cầm điện thoại di động của tôi, lẳng lặng đọc mười mấy phút, sau đó đưa điện thoại cho Trình Tử Nghiên ngồi ở hàng ghế sau, rồi quay sang nói với tôi: “Quản Văn Bác khai rồi.”

Tôi mỉm cười gật đầu, nói: “Khai chi tiết không?”

“Quá trình không khác chúng ta suy đoán là bao.” Lâm Đào trả lời, “Đều là tai họa do ma túy gây ra.”

“Anh ta nói áp lực của công tác nghiên cứu khoa học quá lớn, lại không có đối tượng yêu đương, trong lòng cảm thấy trống trải, bất lực, cho nên hơn một năm nay anh ta nhiễm phải tật xấu hút ma túy.” Trình Tử Nghiên nói.

“Anh ta còn khai rằng lúc xảy ra vụ án, anh ta đang ở trong phòng mình hút ma túy, thì nghe thấy mẹ ở phòng khách gọi mình.” Lâm Đào nói, “Tôi đoán là mẹ anh ta gọi anh ta ra ăn táo. Kết quả là do tác dụng của ma túy, anh ta nảy sinh ảo giác. Căn cứ vào biên bản thẩm vấn, khi đó anh ta kiên quyết cho rằng trong phòng mình có hai con quỷ đang gọi tên anh ta, chuẩn bị lao đến đòi mạng anh ta. Anh ta bước ra khỏi phòng mình, nghe tiếng con quỷ đang ở thư phòng càm ràm gì đó, thế là anh ta bước đến, đẩy con quỷ từ cửa sổ xuống dưới lầu. Có khả năng nghe thấy âm thanh khác thường, Điền Oánh ở phòng khách lớn tiếng hỏi anh ta có chuyện gì. Quản Văn Bác nói, khi đó anh ta bước ra khỏi thư phòng, tận mắt nhìn thấy một con quỷ chui vào trong bụng Điền Oánh. Thế là anh ta bước đến bên Điền Oánh, cướp con dao trong tay bà ta, đâm chết Điền Oánh, rồi mổ bụng, định lôi con quỷ trong bụng bà ta ra. Nhưng khi máu tươi nóng hổi bắn vào người, thần trí anh ta từ từ phục hồi trở lại. Anh ta bắt đầu cố gắng nhớ lại mọi chuyện vừa xảy ra, nhớ ra rằng hình như mình vừa đẩy bố ngã xuống lầu, thế là anh ta chạy ra ban công liếc xuống xem thử, thì quả nhiên là vậy! Còn tình trạng thi thể thể thảm của mẹ, anh ta căn bản không dám nhìn, bèn hoảng hốt chạy trốn khỏi hiện trường. Anh ta giật một nắm cỏ phủ lên mặt thi thể của bố đang nằm ở dưới lầu thể hiện sự hổ thẹn và cắn rút.”

“Sau đó nhân viên điều tra còn gửi tin nhắn cho anh, nói là Quản Văn Bác khai xong thì đau đớn bật khóc.” Trình Tử Nghiên vừa nói vừa trả điện thoại di động lại cho tôi.

“Khóc thì có tác dụng khi gì?” Đại Bảo tức giận mắng “Nào có ai ép anh ta hút ma túy? Hối hận cũng đã muộn!”

“Biết rõ con mình hút ma túy, không những không đưa con đến trại cai nghiện, mà còn làm ngơ để con muốn làm gì thì làm, đúng là không thể tưởng tượng nổi.” Trình Tử Nghiên nói, “Lẽ nào bố mẹ không biết rằng hành vi tự cho rằng mình đang bảo vệ con, thực chất là đang giết hại con sao?”

“Còn giết hại cả chính mình nữa.” Lâm Đào thở dài.

“Cho nên quá nuông chiều con cái lại chính là biểu hiện của thói vô trách nhiệm.” Tôi nói, “Những bậc cha mẹ có trách nhiệm cần kịp thời ngăn chặn và uốn nắn các hành vi chạm vào vạch giới hạn đạo đức và pháp luật của con cái.”

Dọc đường về chìm trong im lặng, chúng tôi phải trải qua suốt năm tiếng đồng hồ không ngừng rung lắc trên xe mới về đến Sở Công an tỉnh.

Vào văn phòng, tôi phát hiện Hàn Lượng và Trần Thi Vũ không có ở đó, mà người ngồi đàng hoàng ngay chính giữa phòng lại là anh Ngô.

Tôi mừng rơn, vội vàng hỏi: “Có phải có kết quả rồi không?”

“Tôi nói cho cậu nghe, tôi hao tốn mất mấy ngày nay cho công việc này, bao nhiêu bản kiểm định đều phải tạm gác lại đấy!” Anh Ngô vừa mở lời là đã muốn khoe công, “Cậu không biết đấy thôi, món này không chỉ thối, mà phục dựng còn cực kỳ khó. Tôi dám nói, trong nước ta chẳng có mấy người có thể phục dựng đạt đến mức độ này đâu.”

“Một bữa tôm càng!” Tôi giơ một ngón tay lên và nói, “Ăn bao giờ no thì thôi.”

Anh Ngô cười khề khà, nói: “Thế thì được! Vật chứng được phục dựng không dễ di chuyển nên tôi đã chụp lại, các cậu xem đi! Nói tuột ra, đây chính là một tờ giấy ảnh, mặt trước in ảnh, mặt sau viết chữ.

Tôi vội vàng cầm USB anh Ngô đưa, cắm vào máy tính trên bàn làm việc.

“Vội gì! Tôi nói cho cậu nghe là được rồi.” Anh Ngô nói, “Ảnh là ảnh chụp một em bé sơ sinh, có vẻ không giống ảnh chụp sinh hoạt thông thường, mà giống ảnh nghệ thuật. Tôi quăng ảnh lên mạng Internet tìm kiếm theo hình ảnh thì thấy một bức ảnh giống y chang. Rõ ràng họ tải ảnh trên mạng xuống và in ra. Chữ ở mặt sau được viết bằng bút nước, là kiểu chữ viết tay, cụ thể là chữ gì thì cậu tự đọc rồi nói sau.”

Trên màn hình máy vi tính xuất hiện mặt sau của tờ giấy ảnh đã qua xử lý phục dựng do anh Ngô chụp lại.

“Cái gì, cái gì, đến giáo đường gì đó, đưa tiền gì đó, không đến thì tự cái gì đó hậu cái gì đó?” Đại Bảo nhăn mày nhìn màn hình, lẩm bẩm đọc.

“Thang Liêu Liêu, đến giáo đường thị trấn Đại Dương, đưa tiền cấp dưỡng nuôi con, nếu không đến thì tự chịu hậu quả.” Lâm Đào đọc rành mạch.

“Hả? Sao cậu nhìn ra được?” Đại Bảo ngạc nhiên hỏi.

“Anh phải kết hợp với tình tiết vụ án một chút. Tình tiết vụ án lúc trước thế nào, anh đều rõ cả mà, kết hợp một chút liền biết những chữ lờ mờ kia là gì ngay.” Lâm Đào giải thích.

“Siêu sao! Phục sát đất luôn!” Đại Bảo giơ ngón tay cái khen ngợi.

“Có nghĩa là ai đó đã tải một bức ảnh trên mạng, mạo danh là con của Thang Liêu Liêu, mang ra lừa đảo, tống tiền Thang Liêu Liêu sao?” Tôi đặt giả thiết.

“Có thể là lừa đảo tống tiền, nhưng cũng có thể chỉ đơn thuần là muốn lừa Thang Liêu Liêu đến nơi hoang vắng để sát hại.” Lâm Đào đưa ra ý kiến của mình.

“Vì Thang Liêu Liêu không chỉ là con trai cưng của mẹ, mà còn là em trai cưng của chị, từ nhỏ đã được mọi người trong nhà cưng chiều, nên vừa xảy ra việc là đương nhiên chị của anh ta sẽ ra mặt giải quyết giúp.” Tôi nói.

“Cho nên hung thủ vốn muốn giết Thang Liêu Liêu, không ngờ người đến hiện trường lại là Thang Triết.” Lâm Đào nói, “Đã làm thì làm cho trót, thế là hắn giết luôn Thang Triết.”

“Nhưng sổ ngân hàng trên người thi thể không bị lấy mất, hung thủ trực tiếp đẩy cô ta vào hố ga, chứng tỏ không phải nhằm mục đích cướp tài sản.” Đại Bảo bổ sung.

Tôi gật đầu tán thành với phán đoán của Đại Bảo, nói: “Đây là vụ giết người để trả thù, hoàn toàn không liên quan đến cái gọi là nữ đức kia.”

“Nhưng đúng là ba vụ này đã được gộp án rồi mà.” Đại Bảo nói.

Tôi không trả lời Đại Bảo, chỉ nói: “Có phải cũng nên điều tra kĩ kẻ thù của Thang Liêu Liêu không nhỉ?”

“Trước đây chỉ điều tra xung quanh ba người chết, đối với Thang Liêu Liêu, chúng ta quả thực chưa điều tra kĩ.” Trình Tử Nghiên giở bút lục và nói, “Nhưng khi xử lý các vụ án giết người rồi tự sát, cảnh sát đã điều tra đại khái về các mối quan hệ mâu thuẫn xã hội của Thang Liêu Liêu, cũng không phức tạp lắm, tôi cảm thấy có thể điều tra được.”

“Chúng tôi có kết quả rồi!” Giọng Trần Thi Vũ từ ngoài cửa vọng vào.

Ngay sau đó, chúng tôi thấy Trần Thi Vũ và Hàn Lượng mang theo thân gió bụi dặm trường bước vào văn phòng.

“Đúng là có liên quan đến Thang Liêu Liêu.” Trần Thi Vũ nói, “Lần này chúng tôi đến thị trấn Lật Viên, công việc điều tra cũng có kết quả.”

“Ngồi xuống trước nào, uống hớp nước đã!” Lâm Đào phục vụ tận nơi.

“Chúng tôi tìm mấy ông bà già và hỏi thăm họ.” Trần Thi Vũ nói, “Họ không biết Hàn Lượng nhưng ký ức về bác sĩ Hứa, mẹ của Hàn Lượng, thì vẫn y nguyên như ngày nào, họ nói rằng bác sĩ Hứa thường khám bệnh miễn phí cho họ, họ rất nhớ bà ấy.”

Tôi liếc nhìn Hàn Lượng, sắc mặt cậu ta trắng bệch, đang ngồi chỗ của mình uống trà, giả vờ bình tĩnh.

“Có thể họ vẫn canh cánh trong lòng trước sự ra đi đầy bất hạnh của bác sĩ Hứa.” Trần Thi Vũ nói, “Cho nên họ không chỉ có ấn tượng về sự việc xảy ra với bác sĩ Hứa, mà còn có ấn tượng về những chuyện khác mà bác sĩ Hứa đã làm vào ngày hôm đó.”

“Chuyện gì thế?” Tôi hỏi.

“Có hai người già kể lại rằng vào hôm bác sĩ Hứa qua đời, bà ấy từng dẫn một bé gái đến gia đình nọ và cãi nhau với họ.” Trần Thi Vũ đáp.

Trong đầu tôi bắt đầu chuốt lại tuyến thời gian câu chuyện về Hàn Lượng mà lần trước Trần Thi Vũ đã kể cho tôi. Xem ra, vụ “cãi nhau” này xảy ra trước thời điểm Hàn Lượng tan học.

“Sau đó dưới sự gợi ý của chúng tôi, một người già xác nhận bác sĩ Hứa và bé gái kia đến nhà Thang Liêu Liêu cãi nhau.” Trần Thi Vũ nói, “Vì sau này cả nhà Thang Liêu Liêu chuyển đi nơi khác, cho nên ấn tượng của những người già này về gia đình họ cũng không mấy sâu sắc.”

“Họ cãi nhau vì chuyện gì?” Tôi hỏi.

“Nghe mấy người già nói, họ không tận mắt trông thấy, mà nghe được chuyện này từ một phụ nữ.” Trần Thi Vũ nói, “Họ bảo, cô ta đưa tin rằng Thang Liêu Liêu giở trò đồi bại với bé gái kia.”

“Bé gái đó là ai?” Tôi đột nhiên cảnh giác hỏi lại, “Có phải là bé gái đứng trước cổng nhà Hàn Lượng không?”

Hàn Lượng sững sờ, dường như cậu ta hiểu ra Trần Thi Vũ đã kể mọi chuyện cho tôi. Cậu ta không tỏ thái độ không vui, chỉ lăng lặng cúi đầu.

“Vì mấy người già không tận mắt chứng kiến cả quá trình, nên khi đó họ bảo họ không có ấn tượng bé gái đó là con cái nhà ai.” Trần Thi Vũ cũng phát hiện tôi lỡ miệng, nên nhìn Hàn Lượng với vẻ áy náy, cô nói tiếp, “Nhưng tôi cảm thấy quá nửa là bé gái đứng trước cổng nhà Hàn Lượng.”

“Vì sao? Cô có chứng cứ gì không?” Tôi hỏi.

“Vì trên đời này làm gì có chuyện trùng hợp đến thế.” Trần Thi Vũ nói, “Người phụ nữ đưa tin đồn này chính là Thang Liên Hoa.”

Tôi dường như hiểu ra điều gì, trầm giọng nói: “Cho nên cô ta mới bị bịt miệng bằng bùn.”

“Anh cũng đừng quên chuyện hố ga.” Hàn Lượng nói với giọng xa xăm.

Quả vậy, căn cứ vào lời kể của Trần Thi Vũ, vào hôm gia đình Hàn Lượng xảy ra chuyện, Hàn Lượng nhớ rất rõ về mùi hôi thối như thể bốc ra từ hố ga trên người cô bạn cùng lớp đó, cô bé đứng cổng nhà cậu ta nghe lén, mà sau đó, Thang Liêu Liêu - người có liên quan đến vụ việc này lại bị uy hiếp đến hiện trường gần hố ga. Không chỉ thế, Thang Triết - người đến chỗ hẹn chết thay Thang Liêu Liêu - lại chết trong hố ga.

Tuy vụ án cả nhà bốn người Thang Liêu Liêu tử vong rõ ràng là giết người rồi tự sát, điều này không cần nghi ngờ gì nữa, nhưng cái chết của Thang Triết, Thang Liên Hoa thì dường như có mối liên quan gì đó đến chuyện cũ từ 17 năm trước.

“Chỉ có điều không rõ Thượng Quan Kim Phượng liên quan gì đến chuyện này.” Tôi nói, “Thượng Quan Kim Phượng không phải người sinh sống ở thị trấn Lật Viên, khi đó chắc chắn không thể có dây mơ rễ má gì đến chuyện này.” ”

Lâm Đào, Đại Bảo và Trình Tử Nghiên ngơ ngác không hiểu chúng tôi đang nói chuyện gì. Lâm Đào hỏi: “Các anh đang dùng ám ngữ nói chuyện đấy à? Người đứng trước cổng nhà Hàn Lượng? Ai vậy?”

Tôi định bụng chút nữa sẽ giải thích cho họ sau, nên hỏi Hàn Lượng trước: “Đúng rồi, cô bạn học đó của cậu, cậu không nhớ ra là ai sao?”

Hàn Lượng lắc đầu nói: “Lúc về lại nhà cũ, tôi tìm bức ảnh hồi nhỏ du xuân cùng cả lớp, giờ đã gửi cho giáo viên chủ nhiệm của tôi nhờ nhận diện gương mặt, nếu thầy giáo có thể nhớ ra tên của bạn gái mà tôi đã khoanh lại trên ảnh, thì chúng ta sẽ có phương hướng điều tra.”

“Tôi đã thông qua bên bộ phận điều tra rồi, hiện giờ đang tiến hành sàng lọc tất cả các hộ dân sống ở thị trấn Lật Viên.” Trần Thi Vũ nói, “Chỉ có điều, chuyện này đã xảy ra từ nhiều năm trước, mà hồi đó chuyện này cũng không ầm ĩ, đa số mọi người chỉ nghe ngóng mấy tin đồn ngoài lề mà thôi, đến giờ đều không nhớ rõ nữa, cho nên việc điều tra sẽ gặp khó khăn.”

“Tôi bảo này, cậu cũng thật là, tên của bạn học hồi cấp I cũng không nhớ nổi à?” Tôi quay sang hỏi Hàn Lượng.

“Tôi vốn dĩ ít khi chơi cùng các bạn nữ.” Hàn Lượng nói, “Hơn nữa khi xảy ra chuyện này, tôi đã học lớp 6, còn bạn nữ kia là bạn học hồi tiểu học.”

“Cậu không hay chơi với các bạn nữ à?” Đại Bảo ngạc nhiên, “Nghe từ nãy đến giờ mới hiểu được một câu.”

“Ý cậu ấy là con gái toàn dính lấy anh ấy thôi.” Lâm Đào trêu chọc.

“Chúng tôi về là để gọi các anh cùng đến tổ chỉ huy ở trụ sở Công an thành phố.” Trần Thi Vũ nói, “Trước mắt, tất cả thông tin đều được báo cáo với tổ chỉ huy, bao gồm cả tình hình thầy chủ nhiệm có nhớ ra tên học sinh cũ hay không.”

Trong phòng tổ chỉ huy chuyên án ở Công an thành phố, mọi người đều mải miết bận rộn với công việc của mình, rõ ràng không giống hình ảnh phòng chỉ huy của một chuyên án đã điều tra hơn một tháng vẫn chưa phá giải được, mà giống phòng chỉ huy vụ án mạng vừa mới lập hồ sơ.

Xuất hiện cảnh tượng này rõ ràng là chuyện tốt.

“Phó giám đốc Đổng? Anh mới chuyển văn phòng sang đây à?” Tôi thấy Phó giám đốc Đổng ngồi trước bàn hội nghị, liền hỏi, “Có bước đột phá nào không?”

“Bát Giới, cậu đến rồi đấy à?” Phó giám đốc Đổng ngẩng đầu nhìn tôi, nét mặt không có vẻ gì là đang nói đùa.

“Anh vẫn nhớ màn tấu hài đó à?” Tôi nói với vẻ mặt ai oán.

“Đã điều tra ra lai lịch của cô bé đó rồi.” Phó giám đốc Đổng quay về chủ đề chính, “Ừm, hiện giờ không còn là cô bé nữa, 30 tuổi rồi mà.”

“Đúng thế, cậu ta cũng không còn là cậu bé nữa.” Tôi chỉ vào Hàn Lượng đi phía sau, vừa cười vừa nói.

“Tên là Hướng Tam Muội.” Phó giám đốc Đổng nhìn Hàn Lượng như muốn ngầm hỏi ý kiến.

Hàn Lượng vỗ đầu một cái, kêu lên: “Đúng rồi, đúng rồi! Đúng là cái tên này.”

“Trước mắt, chúng tôi đã tiến hành điều tra Hướng Tam Muội, kết quả điều tra thế này...” Phó giám đốc Đổng nói, “17 năm trước, sau khi xảy ra sự việc lần đó, cô ta theo bố mẹ ra thành phố làm thuê, lên cấp II thì nghỉ học. Năm 20 tuổi, cô ta được gả cho một công nhân làm ở nhà máy thuộc ngoại ô khu Đông thành phố Long Phiên, tên là La Toàn Khởi, hơn cô ta chín tuổi. Theo điều tra, hai người họ đã kết hôn 10 năm, Hướng Tam Muội chủ yếu làm vai trò nội trợ trong gia đình, không đi làm, chỉ ở nhà nội trợ, nhất nhất nghe lời chồng, không có bất kỳ điều tiếng gì với hàng xóm xung quanh. Điểm khuyết thiếu đáng tiếc duy nhất là cho đến hiện giờ, họ vẫn chưa có con.”

“Thế chuyện năm đó thì sao?” Tôi hỏi, “Có phải Thang Liêu Liêu đã cưỡng hiếp Hướng Tam Muội, sau đó đẩy cô ta xuống hố ga không? Có phải Thang Liên Hoa là người đưa chuyện?”

“Những chuyện đó thì không thể điều tra và xác thực được nữa, cả nhà Thang Liêu Liêu đã chết, những người có liên quan đều... đều không còn nữa.” Phó giám đốc Đổng liếc nhìn Hàn Lượng, “Cho nên, không có cách nào điều tra được. Suy đoán của cậu có lẽ chính là chân tướng sự việc, bởi vì theo điều tra của chúng tôi thì La Toàn Khởi nằm trong danh sách những người đàn ông ngoại tình với Thượng Quan Kim Phượng.”

“Chà!” Tôi đập bàn đánh chát một cái, nói, “Thế còn nói gì nữa, nhiều sự trùng hợp như thế thì không còn là trùng hợp nữa rồi, mà là tất yếu! Vì sao vẫn chưa bắt La Toàn Khởi?”

“Cậu chớ sốt ruột!” Phó giám đốc Đổng nói, “Tôi cũng biết hiện tại La Toàn Khởi là nghi phạm lớn nhất, nhưng chúng tôi vẫn chưa thể phán quyết vụ án thông qua động cơ gây án. La Toàn Khởi và Thượng Quan Kim Phượng dan díu với nhau, đồng thời gần đây còn đến bệnh viện chữa trị bệnh giang mai, cho nên đúng là anh ta có động cơ giết Thượng Quan Kim Phượng để trả thù, đồng thời anh ta cũng có động cơ giết người để trả thù cho vợ chuyện 17 năm trước, nhưng chúng tôi vẫn chưa có chứng cứ chỉ đích danh anh ta.”

“Ai bảo không có? Chẳng phải chúng ta đã có dấu hoa văn đế giày và vết lốp xe máy đấy sao?” Lâm Đào nói.

“Đúng thế, tôi biết.” Phó giám đốc Đổng nói, “Nhưng chúng tôi đòi hỏi sự chắc chắn, nên phải lấy được bằng chứng trước, rồi mới đi bắt người. Nếu không, lỡ xảy ra sơ sót gì, thì không chỉ đánh rắn động cỏ, mà còn làm rối loạn đội hình.”

“Bí mật lấy chứng cứ sao?” Tôi hỏi.

Phó giám đốc Đổng gật đầu, nói: “Đã cử cảnh sát cắm điểm, trước mắt, La Toàn Khởi và xe mô tô của anh ta không có ở nhà, chúng tôi không thể xông thẳng vào nhà lục soát giày của anh ta. Bởi vì đôi giày đó lưu lại dấu vết ở hiện trường cả hai vụ án, điều đó chứng tỏ anh ta thường xuyên đi đôi giày này, chưa biết chừng bây giờ cũng đang đi đôi giày đó. Cho nên viên cảnh sát nằm vùng quyết định đợi anh ta về nhà, so sánh dấu vết lốp xe, rồi mới tính tiếp.”

Phó giám đốc Đổng nói rất bình thản, nhưng nội tâm tôi lại sôi trào dữ dội, xem ra vụ án này đã đến rất gần thời điểm phá án.

Trong lúc ngồi đợi tin tức ở trụ sở Công an thành phố, tôi và Hàn Lượng cùng đi ra góc hành lang.

“Bao nhiêu năm qua rồi, nút thắt trong lòng cậu cũng nên cởi bỏ ra thôi.” Tôi khuyên nhủ, “Năm đó, bố cậu vì hiểu lầm nên mới nói những lời không nên nói với mẹ cậu, cho dù ông ta không thoát khỏi liên can đến việc mẹ cậu qua đời, nhưng có lẽ ông ấy còn đau đớn và hối hận hơn cậu, không phải thế sao?”

“Cảnh tượng mẹ tôi qua đời vẫn in hằn trong tâm trí tôi, làm thế nào cũng không xua tan nổi.” Hàn Lượng nói, “Tôi muốn thoát ra khỏi bóng đen tâm lý ấy, nhưng luôn cảm thấy có một sức mạnh vô hình trói chặt lấy tôi. Mẹ tôi là một người rất bình tĩnh, chỉ vì cuộc cãi vã đó mà rối loạn tâm thần, lao bừa sang con đường mà chúng tôi vô cùng quen thuộc, nên tôi cứ cảm thấy hơi vô lý, không giải thích nổi.”

“Nhưng sự thật chính là như vậy.” Tôi nói, “Cậu không có lý do nghi ngờ bố mình đã làm gì đó.”

“Điều này thì… tôi biết chứ, nhưng tôi không kiểm soát được cảm xúc của mình.” Hàn Lượng bộc bạch, “Thực ra những chuyện này luôn đè nặng trong lòng tôi, từ đầu chí cuối tôi chưa từng phân tích và sắp xếp một cách cẩn thận. Lần này vô tình thổ lộ với Tiểu Lông Vũ khiến tôi phải suy nghĩ lại, cũng buông bỏ được nhiều thứ.”

“Có những chuyện, càng nín nhịn một mình lại càng mơ hồ.” Tôi cười bảo, “Nói ra được tự nhiên lại tốt lên, tôi tin mỗi người trong nhóm chúng ta đều sẵn lòng trở thành thùng rác của cậu.”

Tôi đang định vỗ vai Hàn Lượng một cái thì điện thoại di động trong túi chợt vang lên.

“Thầy ạ?” Có phải lại có vụ án mới không ạ?” Tôi giật thót, nhận điện thoại.

“Vất vả cho các cậu rồi, lập tức đến Thanh Hương đi!” Thầy nói ngắn gọn.

“Nhưng bọn con đang ở trụ sở Công an thành phố, vụ án gộp này hiện giờ đang có bước đột phá quan trọng...”

Tôi chưa kịp nói xong, thầy đã ngắt lời: “Bắt tội phạm thì liên quan gì đến các cậu? Lập tức đến Thanh Hương, bên này có tin gì mới, tôi sẽ báo cho cậu biết sau.”

« Lùi
Tiến »