Tôi sinh năm 1960, có nghĩa là tôi lên bảy tuổi vào năm Mùa hè Tình yêu xoay chuyển xã hội, và mười ba tuổi khi Mỹ thôi trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, và mười lăm tuổi khi mọi can thiệp ở đó chính thức chấm dứt. Tức là tôi đã bỏ lỡ phần lớn giai đoạn quân đội Hoa Kỳ đối đầu với vấn nạn ma túy. Tôi bỏ lỡ những năm tháng mà cơn bão cần sa Khói Tím gây sóng gió lòng người. Nhưng tôi kịp hưởng thụ giai đoạn lụi tàn, ổn định hơn của nó. Như các anh lính khác tôi thi thoảng có hút chút cần sa, có lẽ vừa đủ để nhận biết sự khác biệt giữa các loại và nguồn khác nhau, nhưng không đủ để bị đưa vào danh sách theo dõi những cá nhân tiêu thụ dài hạn. Tôi chỉ là dân chơi bán thời gian mà thôi. Tôi là người mua, chứ không phải phường bán.
Nhưng khi nhận công tác Quân cảnh, tôi đã thấy rất nhiều phường bán. Tôi chứng kiến không ít vụ giao dịch. Nhiều vụ trót lọt, nhiều vụ hỏng. Chuyện này tôi tường lắm. Nhưng một điều tôi luôn biết chắc đó là những cuộc giao dịch bất thành mà có người bỏ mạng thì túi của xác chết không bao giờ có gì. Không tiền, không hàng. Không bao giờ. Làm sao mà có những thứ ấy chứ? Nếu kẻ chết là thằng mua, thì thằng bán giữ lại hàng của mình và cuỗm luôn tiền thằng mua cao chạy xa bay. Nếu kẻ chết là thằng bán, thì thằng mua thó cả lô hàng miễn phí. Tiền thằng bán cũng vào túi thằng mua nốt. Đằng nào đi nữa cũng sẽ có một bên ôm mớ hời to mà chỉ tốn vài viên đạn và chút thời gian lục lọi.
“Tào lao hết, Sanchez ạ,” tôi bảo. “Bằng chứng giả đấy.”
“Chứ còn gì nữa. Tôi biết thừa mà.”
“Cậu có nêu ý kiến không?”
“Có cần phải làm thế không? Dù họ là cảnh sát dân sự, nhưng đâu phải bọn gà mờ.”
“Vậy sao bọn họ lại hớn hở quá vậy?”
“Vì bọn họ có một cái cớ ngon lành. Nếu không điều tra được, thì họ bỏ vụ án luôn. Làm vậy thì người xấu mặt sẽ là Brubaker, chứ không phải họ.”
“Họ tìm thấy nhân chứng nào chưa?”
“Không một ai.”
“Có nổ súng mà,” tôi bảo. “Phải có ai nghe thấy gì đó chứ.”
“Theo lời đám cảnh sát đó thì không.”
“Lão Willard sẽ hóa rồ cho xem,” tôi nói.
“Nhìn tổng thể thì đó là vấn đề quá xá nhỏ.”
“Cậu có chứng cứ ngoại phạm không?”
“Tôi á? Tôi cần sao?”
“Vì lão Willard sẽ tìm cách nắm thóp cậu. Lão sẽ sử dụng bất cứ gì mà lão có thể bịa ra để ép cậu vào nếp.”
Sanchez không trả lời ngay. Tiếng mạch điện hay gì đó trong đường dây điện thoại kêu lách tách làm át đi sự im lặng từ hai đầu dây. Rồi anh ta cất giọng chèn lên tiếng đó.
“Tôi nghĩ là mình bất khả xâm phạm ở đây,” anh ta đáp. “Sở Cảnh sát Columbia tự đưa ra kết luận, chứ đâu phải tôi.”
“Cứ cẩn thận giùm tôi,” tôi bảo.
“Hẳn rồi,” anh ta nói.
Tôi dập máy. Summer đang suy nghĩ. Mặt cô căng thẳng lắm và mi mắt dưới đang hấp háy liên tục.
“Sao vậy?” tôi hỏi.
“Sếp chắc đó là bằng chứng giả không?” cô hỏi.
“Thì phải là giả thôi,” tôi đáp.
“OK,” cô bảo. “Tốt.” Cô vẫn đang đứng bên cạnh bản đồ.
Cô lại đặt tay lên nó. Ngón út chỉ trại Bird, ngón trỏ chỉ thành phố Columbia. “Ta đồng ý đó là bằng chứng giả. Ta cứ chắc chắn vậy đi. Vậy bây giờ ta có một đặc điểm chung giữa hai vụ án. Ma túy và tiền mặt trong túi Brubaker cũng giống như cành cây cắm vào hậu môn Carbone và mấy giọt sữa chua trên lưng anh ta vậy. Một thủ đoạn đánh lạc hướng tinh vi. Để che giấu động cơ thực sự. Đây chính là cách thức gây án của hung thủ. Không phải đoán nữa đâu sếp. Hai vụ này rõ ràng cùng một thủ phạm. Hắn giết Carbone ở đây rồi lái xe tới thành phố Columbia kia để giết luôn Brubaker. Rõ ràng là theo trình tự. Mọi mảnh ghép đều vừa vặn. Từ thời gian tới khoảng cách, lẫn tư duy của thủ phạm.”
Tôi nhìn cô đứng đó. Bàn tay nhỏ nhắn màu nâu của cô xòe ra như con sao biển. Móng tay cô sơn bóng trong suốt. Mắt cô sáng rực.
“Sao hắn lại vứt thanh xà beng đi?” tôi hỏi. “Sau khi thanh toán Carbone và trước khi hạ thủ Brubaker?”
“Vì hắn ưa dùng súng hơn,” cô đáp. “Người bình thường ai chả thế. Nhưng hắn biết ở nơi đây khó dùng súng được. Ồn ào quá. Ví như có tiếng súng nổ cách trụ sở doanh trại một dặm, vào buổi chiều muộn, kiểu gì ta chả ùa tới. Nhưng tại một khu xóm bất ổn của thành phố, thì sẽ chẳng ai lấy làm lạ. Mà đúng vậy thật mà.”
“Hắn làm sao biết chắc được chuyện đó chứ?”
“Không hề,” cô đáp. “Không chắc chắn hoàn toàn. Hắn lên lịch hẹn gặp, nên rõ nơi mình sẽ đến. Nhưng không chắc được nơi đó cụ thể ra làm sao. Nên tôi đoán hắn cũng muốn có vũ khí xơ cua bên mình. Nhưng thanh xà beng kia đã vấy máu lẫn tóc của Carbone rồi. Mà hắn không có thời gian lau chùi. Hắn đang vội. Mặt đất thì đông cứng. Không có bãi cỏ mềm nào để chui qua. Nên làm sao hắn dám để nó trong xe. Có lẽ hắn lo bị cảnh sát giao thông chặn lại kiểm tra trên đường xuống phía Nam. Nên hắn vứt nó đi luôn.”
Tôi gật đầu. Dù sao chăng nữa, thanh xà beng là vật bỏ được. Một khẩu súng mới là thứ vũ khí đáng tin cậy để đối đầu với một đối thủ khỏe mạnh và luôn đề phòng xung quanh. Đặc biệt là một nơi chật hẹp như ngõ hẻm trong thành phố, đối nghịch với khu vực rộng rãi tối hù nơi hắn đã hạ Carbone. Tôi ngáp. Nhắm mắt lại. Từ khu vực rộng rãi tối hù nơi hắn đã hạ Carbone. Tôi mở mắt ra.
“Hắn giết Carbone ở đây,” tôi lặp lại. “Rồi lái xe tới Columbia và giết Brubaker ở kia.”
“Phải,” Summer đáp.
“Nhưng cô đoán hắn đang sẵn có xe,” tôi nói.
“Phải,” cô nhắc lại. “Tôi đoán vậy.”
“Cô đoán hắn chở Carbone ra con đường mòn kia, nện vỡ đầu anh ta, dàn dựng hiện trường, rồi quay trở lại doanh trại. Lý luận của cô khá ổn. Và nơi ta tìm thấy thanh xà beng cũng phần nào xác nhận giả thuyết đó.”
“Cảm ơn sếp,” cô nói.
“Và ta đoán hắn trả xe về bãi rồi tiếp tục làm việc như thường.”
“Đúng thế,” cô đáp.
“Nhưng làm sao hắn trả xe rồi làm việc như thường được. Bởi vì ta đang cho rằng hắn phải lái thẳng tới Columbia, Nam Carolina ngay sau khi gây án. Để gặp Brubaker. Chặng đường ba tiếng đồng hồ. Hắn đang vội. Đâu thể phí phạm thời gian.”
“Đúng thế,” cô lặp lại.
“Vậy nên hắn đâu thể trả xe,” tôi bảo. “Hắn còn không động đến chân thắng nữa là khác. Thay vào đó hắn lái thẳng ra cổng chính. Đâu còn đường nào khác ra khỏi doanh trại. Hắn chạy xe ra khỏi cổng chính đó, Summer, ngay sau khi giết Carbone, vào khoảng chín hay mười giờ gì đó.”
“Sếp kiểm tra sổ ra vào trại đi,” cô nói. “Có bản sao cho sếp trên bàn kìa.”
Chúng tôi cùng nhau kiểm tra sổ ra vào trại. Vì Chiến dịch Chính nghĩa tại Panama mà các cơ sở nội địa phải siết chặt an ninh và do đó những doanh trại kín cổng cao tường phải ghi chép lượt người ra người vào thật chi tiết bằng sổ da dày có in sẵn số trang ở góc trên bên phải. Chúng tôi có một bản sao tương đối rõ ràng cho mồng bốn tháng Giêng. Tôi tin những con số này là thực. Tôi tin chúng không bỏ sót ai. Và tôi tin rằng chúng chính xác. Quân cảnh còn nhiều khiếm khuyết, nhưng việc lộn xộn thông tin giấy tờ thì không nằm trong số đó.
Summer lấy trang giấy từ tay tôi rồi dán lên tường bên cạnh tấm bản đồ. Chúng tôi cùng đứng nhìn nó. Tờ giấy được chia làm sáu cột. Ghi ngày, giờ vào, giờ ra, biển số xe, người lái và lý do.
“Mật độ ra vào có vẻ thưa sếp nhỉ,” Summer nói.
Tôi không đáp. Tôi chẳng có cơ sở nào để nói mười chín xe ra vào trại là thưa thớt. Tôi vẫn chưa quen trại Bird và cũng khá lâu rồi không nhận nhiệm vụ gác cổng ở bất cứ trại nào khác. Nhưng rõ ràng trang giấy này thưa hơn những trang tôi thấy vào hôm Giao thừa.
“Toàn quân nhân từ nhà trở về trại mà thôi,” Summer nói tiếp.
Tôi gật đầu. Có tới mười bốn cái tên ghi trong cột Giờ vào mà để trống cột Giờ ra. Nghĩa là mười bốn người tới và ở lại trại. Họ trở về tiếp tục công tác, sau khi nghỉ lễ. Hay sau khi rời trại vì lý do nào khác. Tôi cũng có tên trong số đó: 4-1-90. 2302, ThT. J. Reacher, TVT. Nghĩa là Mồng bốn tháng Giêng, năm 1990, mười một giờ hai phút tối, thiếu tá J. Reacher, trở về trại. Từ Paris về, sau khi ghé qua văn phòng cũ của Garber tại Rock Creek. Biển số xe của tôi được ghi là: Đi bộ. Cô trung sĩ của tôi cũng có tên, từ nhà đến trại trực ca đêm. Cô tới nơi vào chín giờ rưỡi, đi xe gì đó mang biển số Bắc Carolina.
Mười bốn xe tới, và ở lại trại.
Chỉ có năm xe ra.
Ba trong số năm xe đó chuyên chở lương thực. Xe tải lớn, chắc vậy. Doanh trại quân đội ngốn nhiều thức ăn lắm. Ở đây đầy những cái mồm phải cho ăn. Tôi thấy ghi ba xe tải một ngày có vẻ chính xác. Mỗi xe nhập trại vào khoảng đầu giờ chiều rồi xuất trại chừng một tiếng đồng hồ sau. Xe cuối cùng rời đi trước ba giờ chiều.
Sau đó là một khoảng trống bảy tiếng đồng hồ.
Xe gần cuối là của chính Vassell và Coomer, sau khi dùng xong bữa tối trong phòng ăn sĩ quan. Họ rời cổng chính vào lúc 2201. Giờ vào của họ là 1845. Lúc đó viên bảo vệ đã ghi đầy đủ biển số xe được Bộ Quốc phòng cấp cho lẫn tên và cấp bậc của hai người họ. Lý do được điền vào là: Viếng thăm thông thường.
Năm xe ra. Bốn xe ngoại phạm.
Còn một xe thôi.
Người cuối cùng rời trại Bird mồng bốn tháng Giêng được ghi như sau: 1-4-90, 2211, TS. S. Trifonov. Ở bên cạnh chép dòng biển số xe chở khách của bang Bắc Carolina. Không lưu giờ vào trại. Cột Lý do để trống. Vậy nên một tay trung sĩ nào đó tên Trifonov đã nán lại doanh trại này cả ngày hay cả tuần rồi xuất trại vào mười giờ mười một phút đêm. Cột Lý do để trống bởi quân nhân rời trại không bắt buộc phải nêu lý do. Họ sẽ cho rằng anh ra ngoài đi ăn uống hay đi chơi đâu đó. Thường gác cổng doanh trại sẽ chất vấn Lý do người nào đó muốn vào trại, chứ không phải khi họ muốn ra ngoài.
Chúng tôi kiểm tra lại một lần nữa, cho chắc ăn. Nhưng không thấy gì khác. Ngoài chiếc xe Mercury Grand Marquis mà tướng Vassell và đại tá Coomer tự lái, và loại xe dân sự nào đó của trung sĩ Trifonov kia, thì chẳng có ai ra khỏi cổng trại bằng xe hoặc đi bộ trong ngày mồng bốn tháng Giêng, ngoài ba chiếc xe tải chở lương thực đã rời đi trước buổi chiều hôm đó.
“OK,” Summer nói. “Trung sĩ Trifonov. Không biết là ai nhưng hắn chính là hung thủ.”
"Phải là vậy,” tôi đáp.
Tôi điện cho cổng chính. Gặp người lúc trước tôi nói chuyện, khi hỏi dò về Vassell và Coomer. Tôi nhận ra giọng anh ta. Tôi nhờ anh ta dò giúp sổ sách của mình, bắt đầu từ trang ngay kế tiếp trang mà chúng tôi đang xem xét. Nhờ anh ta kiểm tra chính xác xem một trung sĩ tên Trifonov đã trở về trại Bird vào giờ nào. Tôi nhắn anh ta xem thử khung giờ sau bốn rưỡi sáng mồng năm tháng Giêng ấy. Bên kia im lặng một hồi. Tôi nghe tiếng anh ta lật từng trang giấy dày cứng trong sổ. Anh ta làm thật chậm, rất tập trung.
“Báo cáo, chính xác là năm giờ sáng ạ,” anh ta nói. “Mồng năm tháng Giêng, 0500, trung sĩ Trifonov, trở về trại.” Tôi nghe thêm một trang nữa được lật qua. “Anh ta rời trại vào lúc 2211 đêm hôm trước.”
“Anh có nhớ gì về cậu ta không?”
“Báo cáo, anh ta rời trại chừng mười phút sau hai vị Thiết giáp mà sếp hỏi ấy. Anh ta vội lắm, theo tôi nhớ là vậy. Còn không chờ thanh ba rê kéo hết lên nữa mà. Lao đi ngay sát bên dưới nó.”
“Loại xe gì vậy?”
“Báo cáo, xe Corvette ạ, tôi nghĩ vậy. Không mới. Nhưng trông cũng ổn lắm.”
“Lúc cậu ta quay về thì anh còn trực không?”
“Báo cáo, có ạ.”
“Lúc đó thì sao?”
“Báo cáo, không có gì đáng lưu ý. Tôi đương nhiên phải nói chuyện với anh ta. Anh ta phát âm như người ngoại quốc vậy.”
“Cậu ta mặc đồ gì?”
“Báo cáo, đồ thường phục. Áo khoác da, tôi nhớ vậy. Tôi nghĩ anh ta được nghỉ phép.”
“Cậu ta có đang ở trại này không?”
Tôi nghe tiếng lật trang lần nữa. Tôi tưởng tượng một ngón tay, lần thật chậm theo từng dòng ghi sau 0500 sáng mồng năm.
“Báo cáo, chúng tôi vẫn chưa ghi giờ ra của anh ta,” anh ta nói. “Đến giờ vẫn chưa có. Nên chắc anh ta đang có mặt ở trại ạ.”
“OK,” tôi bảo. “Cảm ơn anh.”
Tôi dập máy. Summer nhìn tôi.
“Hắn trở lại vào 0500,” tôi nói. “Ba tiếng rưỡi sau khi đồng hồ tay của Brubaker ngừng.”
“Chạy xe ba tiếng,” cô bảo.
“Và đang ở đây.”
“Hắn là ai?”
Tôi điện về trụ sở chỉ huy trại. Hỏi đúng câu đó. Và họ trả lời. Tôi đặt điện thoại xuống rồi nhìn Summer.
“Hắn là lính Delta,” tôi nói. “Một tay đào ngũ từ Bulgaria. Bên họ nhận hắn vào làm huấn luyện viên. Hắn tường nhiều thứ quân ta không rõ.”
Tôi đứng dậy khỏi bàn làm việc rồi bước tới tấm bản đồ trên tường. Tự đặt ngón tay lên cây đinh đánh dấu. Ngón út lên trại Bird, ngón trỏ lên thành phố Columbia. Cứ như tôi đang chứng minh giả thuyết của mình bằng xúc giác vậy. Chặng đường một trăm năm mươi dặm. Ba tiếng mười hai phút đi tới, rồi ba tiếng ba mươi bảy phút trở về. Tôi nhẩm tính trong đầu. Tốc độ trung bình khi đi phải là bốn mươi bảy dặm một giờ, và bốn mươi mốt dặm một giờ khi về. Vào đêm, đường vắng, trên chiếc xe Chevrolet Corvette. Hắn thong thả đi vẫn kịp.
“Ta có nên vời hắn đến không?” Summer hỏi.
“Không,” tôi nói. “Để tôi tự đi. Tôi sẽ ghé bên đó.”
“Vậy có khôn ngoan không sếp?”
“Chắc là không. Nhưng tôi không muốn bọn họ nghĩ rằng đã đe được tôi.”
“Vậy tôi đi cùng sếp nhé,” cô nói.
“OK,” tôi đáp.
Khi ấy là năm giờ chiều, cách thời điểm tay Trifonov kia trở về trại chính xác ba mươi sáu tiếng đồng hồ. Trời xám xịt và lạnh lẽo. Chúng tôi mang theo vũ khí phòng thân, còng tay và túi đựng vật chứng. Chúng tôi đi tới bãi xe Quân cảnh chọn một chiếc Humvee có lắp song sắt bảo vệ người ngồi băng ghế trước mà không gắn tay mở cửa xe ở hàng ghế sau. Summer lái. Cô dừng xe trước cánh cổng của trụ sở đội Delta nơi từng là trại giam. Tay gác cổng cho phép chúng tôi đi bộ vào trong. Chúng tôi đi một vòng quanh tòa nhà chính cho đến khi tôi thấy cửa dẫn vào phòng ăn sĩ quan của bọn họ. Tôi ngưng bước, và Summer dừng lại bên cạnh tôi.
“Sếp tính vào trong đó?” cô hỏi.
“Vào chút thôi.”
“Một mình sao?”
Tôi gật đầu. “Rồi ta ghé qua kho vũ khí của bọn họ.”
“Thế là dại lắm đó,” cô nói. “Để tôi đi cùng sếp.”
“Để làm gì?”
Cô ngập ngừng. “Chắc để làm chứng.”
“Làm chứng việc gì?”
“Bất cứ việc gì họ định làm với sếp.”
Tôi cười vắn.
“Hết sẩy,” tôi đáp.
Tôi đẩy cửa vào trong. Nơi này chật cứng người. Đèn phòng mờ mờ và không khí đầy mùi khói thuốc. Quá sức ồn ào. Nhưng rồi họ im bặt khi nhìn thấy tôi. Tôi tiến tới. Mọi người đứng yên một chỗ. Không nhúc nhích một li. Rồi họ quay ra đối mặt với tôi. Tôi đẩy bọn họ từng người một qua một bên. Cứ thế xuyên qua đám đông bên trong phòng. Không ai nhường đường. Họ tông vai vào người tôi, hết bên trái đến bên phải. Tôi lặng lẽ tông ngược lại. Tôi cao một mét chín lăm và nặng một trăm lẻ bốn cân. Gì chứ thi xô đẩy thì tôi chẳng ngán ai cả.
Tôi qua được tiền sảnh thì tới quầy bar. vẫn tình huống cũ. Mọi sự nhốn nháo tắt bặt ngay lập tức. Người ta quay về phía tôi. Nhìn tôi chòng chọc. Tôi tiếp tục xô đẩy xuyên qua căn phòng. Xung quanh chẳng còn thứ âm thanh nào ngoài tiếng thở gằn và tiếng chân sột soạt trên sàn và tiếng vai thụi vào nhau. Tôi dán mắt vào bức tường đằng xa. Tay đặc nhiệm trẻ tuổi mặt râu da rám nắng nọ chợt ngáng đường tôi. Trên tay anh ta là một cốc bia. Tôi sấn tới thì anh ta ngả người về bên phải khiến hai tôi va vào nhau, làm cốc bia kia đổ hết một nửa xuống mặt sàn nhà lót vải sơn.
“Mày làm đổ bia của tao,” anh ta nói.
Tôi dừng lại. Nhìn xuống sàn. Rồi nhìn thẳng vào mắt anh ta.
“Anh đi mà liếm,” tôi đáp.
Chúng tôi đối mặt nhau một hồi. Rồi tôi dạt anh ta qua một bên. Sau lưng tôi chợt nóng hổi. Tôi biết anh ta đang trừng mắt nhìn theo tôi. Nhưng còn lâu tôi mới quay lại nhìn. Không đời nào. Trừ phi có tiếng ai đập chai thủy tinh vào cạnh bàn sau lưng tôi.
Nhưng không có tiếng ấy. Tôi tới được bức tường ở đằng xa kia. Tôi đặt tay lên nó như vận động viên bơi lội vừa hoàn thành một vòng đua. Rồi quay ra đi ngược lại hướng vừa rồi. Chặng đường trở về cũng không khác mấy. Căn phòng vẫn im bặt. Tôi bước nhanh chân hơn một chút. Len qua đám đông nhanh hơn chút. Và xô đẩy mạnh bạo hơn trước. Có đà thì việc này dễ hơn hẳn. Khi chỉ còn mười bước nữa là ra tới tiền sảnh thì bọn họ bắt đầu nhường đường cho tôi. Họ né ra một chút.
Tôi thấy hai bên đã hiểu ý nhau. Nên ở tiền sảnh tôi bước luồn lách một chút thay vì cứ cắm đầu đi thẳng. Bọn họ cũng đáp lễ. Cuối cùng tôi cũng tới được cửa chính như một người văn minh đi qua đám đông. Tôi dừng lại trước cửa. Quay lại. Nhìn lướt qua những gương mặt trong phòng, thật chậm rãi, từng nhóm người một, đếm thầm một giây, hai giây, ba giây, bốn giây. Rồi quay lưng và bước ra trời lạnh.
Summer đã biến đi đâu mất.
Tôi nhìn quanh một hồi rồi thấy cô trườn ra từ cửa phục vụ cách đó mười bước. Từ lối đó cô đi thẳng vào sau quầy bar được. Tôi nhận ra cô đã trông chừng cho tôi nãy giờ.
Cô nhìn tôi.
“Giờ sếp hiểu cảm giác đó rồi nhé,” cô nói.
“Cảm giác gì?”
“Cảm giác của anh lính da đen đầu tiên. Và của nữ quân nhân đầu tiên.”
Cô dẫn tôi tới tòa nhà chứa máy bay cũ nay là kho vũ khí của bọn họ. Chúng tôi đi khoảng hai mươi bước qua khoảng sân xi măng lau chùi sạch sẽ rồi vào cửa phụ đặt bên cạnh. Hóa ra cô không phóng đại việc họ thừa khả năng trang bị vũ khí cho đội quân của một tay độc tài châu Phi nào đó. Ánh đèn hồ quang chói lóa lắp trên trần nhà rọi xuống một đoàn xe quân dụng và hằng hà sa số các loại vũ khí cầm tay trên đời. Có vẻ tay David Brubaker này thuyết phục các quan lớn ở Lầu Năm Góc khá thành công đó chứ.
“Ở đây này sếp,” Summer nói.
Cô dẫn tôi tới một chiếc lồng thép. Nó chừng mười lăm feet vuông. Có ba mặt và một nóc lắp loại rào chống bão gì đó. Hệt như cái cũi chó vậy. Cánh cửa thép của chiếc lồng để mở toang mà vẫn còn treo ổ khóa móc đó. Đằng sau cửa là chiếc bàn làm việc đứng. Sau chiếc bàn là một quân nhân mặc bộ dã chiến. Anh ta không giơ tay chào. Không buồn đứng nghiêm. Nhưng cũng không quay mặt đi nơi khác. Anh ta chỉ đứng trơ đó thờ ơ nhìn tôi, ấy vậy là đã quá lịch thiệp đối với một tay lính Delta rồi.
“Cần gì đây?” anh ta hỏi, như nhân viên cửa tiệm đang hỏi người khách mua là tôi vậy. Đằng sau anh ta là giá vũ khí treo đủ loại súng đã qua sử dụng. Tôi đếm được tới năm loại súng tiểu liên. Vài khẩu M16, AI và A2. Vài khẩu súng ngắn. Có khẩu mới tinh, có khẩu đã cũ. Tất thảy đều được trưng bày gọn gàng và ngăn nắp, nhưng chẳng được nâng niu. Đối với họ chúng chỉ là công cụ mà thôi, không hơn, không kém.
Trước mặt gã đứng sau bàn làm việc đặt một cuốn sổ.
“Anh đây ghi chép đầy đủ số vũ khí được lấy ra lẫn hoàn trả chứ?” tôi hỏi.
“Không sót một khẩu,” tay đó nói. “Quy định của doanh trại là không được mang theo vũ khí cá nhân vào nơi sinh hoạt chung mà.” Anh ta nhìn Summer. Có lẽ anh ta đã trả lời hệt những câu trên, khi cô tới đây tìm khẩu súng P7 mới của Carbone.
“Trung sĩ Trifonov dùng loại súng ngắn nào?” tôi hỏi.
“Trifonov á? Cậu ta ưa khẩu Steyr GB đó.”
“Cho tôi xem với.”
Anh ta quay đi tìm trên giá treo súng ngắn rồi trở lại cùng một khẩu Steyr GB sơn đen. Anh ta cầm khẩu súng ở phía đầu nòng. Trông có vẻ được tra dầu đầy đủ và giữ gìn cẩn thận. Tôi chuẩn bị túi đựng vật chứng rồi để anh ta bỏ nó luôn vào trong. Tôi miết khóa lại rồi nhìn khẩu súng đang nằm bên trong chiếc túi nhựa.
“Đạn chín li,” Summer nói.
Tôi gật đầu. Một khẩu súng tuyệt vời, nhưng đen đủ đường. Nhà chế tạo súng Steyr-Daimler-Puch kia đã thiết kế nó và suýt được quân đội Áo đặt một đơn hàng lớn, nhưng chợt bị hãng đối thủ tên Glock nhảy vào xí mất phần. Khẩu GB lúc đó chẳng khác nào đứa con rơi bị ghẻ lạnh, như Lọ Lem vậy. Và nó giống cô Lọ Lem ở chỗ nhiều phẩm chất ưu tú. Ổ đạn của súng chứa được mười tám viên, khá nhiều, nhưng khi không có đạn thì chỉ nặng một cân, khá nhẹ. Anh có thể tháo rời nó rồi lắp lại trong vòng mười hai giây, quá nhanh. Nhưng ăn tiền chính là cơ chế xử lý khí nổ thông minh của nó. Bất cứ loại vũ khí tự động nào cũng lợi dụng khí nổ trong họng súng để tuần hoàn quá trình hất vỏ đạn cũ ra khỏi nòng và lên đạn mới. Nhưng trong thực tế thì nhiều viên đạn đã cũ hoặc yếu hoặc được lắp ráp cẩu thả. Không phải viên đạn nào cũng nổ đúng lực. Súng lắp băng đạn lỗi thời và yếu quá có khả năng không lên đạn nổi. Lắp đạn hạng nặng quá, có khi chính khẩu súng nổ tung trong tay anh. Nhưng khẩu Steyr thiết kế thừa sức khắc chế bất kỳ loại đạn nào. Ví như tôi mà là một tay lính Đặc nhiệm đang hoạt động cùng một toán biệt động khố rách áo ôm nào đó và được họ biếu cho vài băng đạn cà tàng, tôi sẽ dùng ngay khẩu Steyr này. Tôi muốn loại súng mình sử dụng khi bóp cò mười lần, sẽ khai hỏa đàng hoàng đủ mười lần.
Tôi bấm vào nút nhả đạn trên báng súng qua lớp túi nhựa và lắc cho đến khi băng đạn rời ra. Băng đạn vốn chứa mười tám viên, nhưng khẩu này chỉ còn mười sáu viên. Tôi kéo thanh trượt và một viên từ trong buồng đạn rơi ra. Vậy là hắn đã mang theo mười chín viên đạn. Mười tám viên trong băng, và một viên trong buồng đạn. Hắn trở về trại với mười bảy viên. Mười sáu viên trong băng, và một viên trong buồng đạn. Suy ra hắn đã bắn hai viên đạn.
“Anh có điện thoại không?” tôi hỏi.
Tay đó hất hàm về một góc của nhà kho, cách chỗ đang đứng hai mươi feet. Tôi bước tới và điện cho nữ trung sĩ của mình. Nhưng cậu trai quê Louisiana lại đáp máy. Cái viên hạ sĩ ấy. Cô trực đêm kia chắc hãy còn ở căn nhà lưu động của mình, bận dỗ con đi ngủ, tắm rửa, chuẩn bị lên đường đi làm.
“Gọi Sanchez ở trại Jackson giùm tôi,” tôi nói.
Tôi đặt ống nghe lên tai và chờ. Một phút trôi qua. Hai phút.
“Gì đó?” Sanchez cất tiếng.
“Họ có tìm thấy vỏ đạn không?” tôi hỏi.
“Không,” anh ta đáp. “Hung thủ đã dọn hiện trường sạch sẽ.”
“Tiếc ghê. Sém nữa thì trúng số độc đắc.”
“Cậu bắt được hung thủ rồi à?”
“Tôi đang cầm khẩu súng của hắn trên tay đây này. Khẩu Steyr GB, đầy đạn, bắn mất hai viên.”
“Hung thủ là ai vậy?”
“Để tôi kể sau. Cứ cho đám cớm dân sự toát mồ hôi hột trước đã.”
“Hung thủ là quân nhân giống chúng ta à?”
“Đáng tiếc là như vậy.”
Sanchez im lặng.
“Họ có tìm thấy đầu đạn không?” tôi hỏi.
“Không,” anh ta đáp.
“Sao lại không? Vụ việc xảy ra trong con hẻm mà? Đầu đạn còn bay đi đâu được nữa? Có khi chúng găm vào mảng tường nào đó.”
“Tìm được cũng chẳng ích gì đâu. Chúng dẹp lép rồi sao mà nhận ra được nữa.”
“Đạn xuyên giáp mà,” tôi bảo. “Chúng không vỡ tung tóe đâu. ít nhất thì ta đo được trọng lượng của chúng vậy.”
“Họ chưa tìm thấy mà.”
“Họ có đi tìm không?”
“Tôi không biết.”
“Vậy còn nhân chứng?”
“Không có.”
“Xe của Brubaker thì sao?”
“Không thấy.”
“Sanchez ạ, chiếc xe phải có ở đó chứ. Ông ta tới điểm hẹn vào nửa đêm hay một giờ sáng gì đó. Trên một chiếc xe khá nổi bật. Bọn họ có đi tìm nó chưa?”
“Bọn họ đang che giấu gì đó. Tôi cảm thấy vậy.”
“Lão Willard tới chưa?”
“Tôi đoán dăm ba phút nữa là xuất hiện thôi.”
“Cậu nói với lão rằng vụ Brubaker xử lý xong xuôi rồi,” tôi bảo. “Rồi nói nghe đâu vụ kia không phải do tai nạn luyện tập gì. Lão sẽ vui cả ngày cho xem.”
Rồi tôi dập máy. Trở lại lồng sắt. Summer đang đứng kề vai tay kiểm toán kho vũ khí đằng sau bàn làm việc đứng. Hai người đang cùng đọc lướt qua cuốn sổ ghi chép.
“Sếp xem này,” cô bảo.
Cô dùng hai ngón trỏ chỉ vào hai dòng ghi chép riêng biệt. Tay Trifonov kia đã đăng ký lấy khẩu súng Steyr GB chín li cá nhân kia vào bảy rưỡi tối mồng bốn tháng Giêng. Rồi trả lại kho vào lúc năm giờ bốn lăm sáng mồng năm. Nét chữ ký của hắn kềnh càng và thô kệch. Dân Bulgaria có khác. Tôi đoán hắn được dạy và sử dụng bảng chữ cái Kirin từ nhỏ và bây giờ mới tập làm quen với bảng chữ cái Latin.
“Vì sao anh ta lại mượn súng vậy?” tôi hỏi.
“Chúng tôi không chất vấn lý do,” tay kiểm toán đáp. “Chúng tôi chỉ lo thủ tục giấy tờ thôi.”
Chúng tôi rời nhà chứa máy bay để đi tới khu vực phòng riêng. Băng qua đầu một bãi xe để ngỏ. Có bốn hay năm chục xe gì đó đang đỗ. Toàn những dòng xe thông thường của quân nhân. Không nhiều xe ngoại. Có vài chiếc sedan tàn tạ sơn màu kem vani, nhưng phần lớn là những xe tải nhỏ không mui và xe coupe Detroit lớn, có chiếc sơn trang trí hình lửa cuốn lẫn sọc màu, có chiếc được nâng gầm sau với mâm xe mạ crôm và lốp dày có khắc chữ. Duy chỉ có độc nhất một chiếc Corvette. Nó màu đỏ, đỗ lẻ loi ở cuối một hàng, cách các xe khác ba ô.
Chúng tôi đảo qua kiểm tra chiếc xe đó.
Trông nó có vẻ đã chừng mười năm tuổi. Nhìn mới tinh, từ trong ra ngoài. Nó hẳn đã được rửa ráy, lau chùi kỹ càng trong vòng một hai ngày đổ lại đây. Vòm bánh xe sạch sẽ lắm. Lốp xe màu đen bóng loáng. Ở trên tường căn nhà chứa máy bay có gắn vòi nước cao su, cách đó ba mươi bước. Chúng tôi cúi xuống nhìn qua cửa sổ xe. Nội thất bên trong có vẻ như đã được lau chùi bằng dung dịch rửa và hút bụi sạch sẽ. Tuy là xe hai chỗ, nhưng có ngăn tháo rời được ở cốp sau. Dù nhỏ, nhưng có lẽ vẫn đủ để chứa một thanh xà beng giấu dưới chiếc áo khoác. Summer quỳ xuống lần tay dưới ngưỡng cửa xe. Tay cô sạch trơn.
“Không dính đất sỏi trên đường,” cô nói. “Trên ghế không dính máu.”
“Cũng không thấy hũ sữa chua nào trên sàn,” tôi bảo.
“Hắn biết dọn dẹp đấy.”
Đoạn chúng tôi bỏ đi. Hai chúng tôi đi qua cổng chính rồi bỏ khẩu súng của tay Trifonov kia vào trong hộp xe Humvee khóa lại. Rồi chúng tôi quay ngược trở vào.
Tôi không muốn phiền đến tay phụ tá. Tôi chỉ muốn tóm gã Trifonov kia trước khi bọn họ kịp phát hiện chuyện gì xảy ra. Nên chúng tôi bước qua cửa nhà bếp và tôi nhờ sĩ quan hậu cần đi tìm Trifonov đến đây gặp chúng tôi có chút việc. Rồi chúng tôi trở ra đợi ngoài trời lạnh. Năm phút sau tay hậu cần quay lại báo rằng Trifonov không có trong phòng ăn.
Bọn tôi đành ghé qua khu phòng riêng. Trên đường nhờ một quân nhân vừa bước ra từ phòng tắm chỉ lối. Chúng tôi đi qua căn phòng trống của Carbone. Bên trong im ắng và mọi thứ vẫn nguyên vị trí. Phòng của Trifonov cách đó ba căn. Chúng tôi tới nơi. Cửa phòng hắn mở toang. Thằng cha đó ngồi ngay trong phòng mình, trên chiếc giường hẹp, đang đọc sách.
Tôi cũng không rõ mình phải trông đợi gì. Theo tôi biết thì ở Bulgaria không có Lực lượng Đặc nhiệm. Đơn vị tinh nhuệ trong Khối Warszawa không nhiều. Tiệp Khắc có lữ đoàn không quân khá thiện chiến, còn Ba Lan nức tiếng với sư đoàn không quân lẫn thủy quân. Đội đặc nhiệm Vysotniki của Liên bang Xô Viết cũng đáng gờm. Ngoài những cái tên đó ra, thì các đất nước Đông Âu vẫn chuộng chiến thuật biển người. Cứ ném đủ thây người vào chiến trận, thì trước sau gì anh cũng thắng, miễn là anh xem hai phần ba quân số của mình là tốt thí. Và bọn họ ai cũng nghĩ như vậy cả.
Vậy rốt cuộc tay này là ai?
Lực lượng Đặc nhiệm của NATO đề cao thể lực trong quá trình tuyển quân và rèn quân. Họ bắt lính mình chạy năm mươi dặm trong khi vác đủ thứ trên đời kể cả bồn rửa chén. Họ không cho lính ngủ dù chỉ một giấc rồi bắt leo trèo địa hình hiểm trở suốt cả tuần liền. Vậy nên lính tinh nhuệ của khối NATO thường là những gã nhỏ con, với tạng người như vận động viên điền kinh vậy. Nhưng tay người Bulgaria ngồi trước tôi đây lại vạm vỡ cực kỳ. Hắn còn cỡ tôi. Có khi còn hơn. Cao chừng một mét chín tám, nặng khoảng hơn trăm mười cân. Đầu hắn cạo nhẵn. Mặt hắn to và vuông vức mà trông vô cảm hoặc khá điển trai, tùy vào ánh sáng. Lúc đó, ánh đèn trên trần nhà đây chẳng giúp đỡ gương mặt hắn chút nào. Trông hắn uể oải. Đôi mắt sắc lẻm của hắn nằm sát nhau trong hai hốc mắt sâu hoắm. Hắn lớn tuổi hơn tôi một chút, chừng vừa qua ba mươi. Bàn tay hắn khổng lồ. Hắn mặc bộ dã chiến mới toanh, không đính tên, quân hàm, hay đơn vị nào cả.
“Anh lính, đứng lên,” tôi cất tiếng.
Hắn đặt cuốn sách xuống giường, thật cẩn thận, để sách mở úp xuống, như thể muốn đánh dấu chỗ mình đang đọc dở vậy.
Chúng tôi còng tay hắn rồi giải đến xe Humvee mà không gặp trở ngại nào. Dù to con, nhưng hắn lặng lẽ lắm. Như thể hắn đã đầu hàng số phận. Như thể hắn biết việc mọi cuốn sổ ghi chép trong đời đồng loạt phản bội mình chỉ là vấn đề thời gian vậy.
Chúng tôi giải hắn về văn phòng mà không phát sinh vấn đề gì. Chúng tôi để hắn ngồi xuống rồi tháo còng tay ra và lần này còng cổ tay phải hắn vào thành ghế. Rồi chúng tôi làm y hệt vậy với tay bên kia của hắn. cổ tay hắn to khiếp. Chúng phải bằng cỡ cổ chân người thường.
Summer đứng bên cạnh tấm bản đồ, rồi nhìn những chiếc đinh ghim trên đó chằm chằm, như thể muốn nói với hắn rằng: Bọn này biết tuốt rồi.
Còn tôi thì ngồi ở bàn làm việc.
“Họ anh là gì vậy?” tôi hỏi. “Để tiện làm hồ sơ.”
“Trifonov,” hắn đáp. Giọng địa phương của hắn khá nặng và rời rạc, ồm ồm trong cổ.
“Còn tên?”
“Slavi.”
“Slavi Trifonov phải không,” tôi nói. “Cấp bậc?”
“Ở quê tôi làm đại tá. Ở đây thì là trung sĩ.”
“Quê anh ở đâu?’
“Thành phố Sofia,” hắn đáp. “Ở Bulgaria.”
“Trẻ thế này mà lên tới đại tá rồi.”
“Tôi thạo nghề mà.”
“Vậy nghề đó là gì?”
Hắn không đáp.
“Có con xe ngầu dữ,” tôi bảo.
“Cảm ơn,” hắn trả lời. “Tôi luôn mơ được lái chiếc xe như vậy.”
“Anh lái nó đi đâu vào đêm mồng bốn?”
Hắn không đáp.
“Ở Bulgaria làm gì có Lực lượng Đặc nhiệm,” tôi bảo.
“Đúng,” hắn đồng tình. “Không có.”
“Vậy anh tới đây làm chi?”
“Tôi từng là lính chính quy.”
“Làm gì trong đó?”
“Làm liên lạc viên giữa quân đội Bulgaria, mật vụ Bulgaria và đồng nghiệp Vysotniki của Xô Viết.”
“Bằng cấp?”
“Tôi được GRU huấn luyện năm năm.”
“GRU là cái gì?”
Hắn cười. “Tôi tưởng anh biết.”
Tôi gật đầu. GRU như là một hợp thể giữa Quân cảnh và đội Delta vậy. Họ cực kỳ đáng gờm, và rất giỏi kiểm soát cơn thịnh nộ của mình, dù là thu chúng vào trong hay xổ tung vào đối phương.
“Anh làm gì ở đây?” tôi hỏi.
“Ở Hoa Kỳ á?” hắn bảo. “Tôi đang đợi.”
“Đợi gì?”
“Đợi cộng sản rời khỏi quê tôi. Sẽ sớm thôi, tôi nghĩ vậy. Rồi tôi sẽ trở về. Tôi tự hào về quê hương mình lắm. Một vùng đất tốt đẹp của những con người tốt đẹp. Tôi là người theo chủ nghĩa dân tộc.”
“Anh dạy gì cho đội Delta?”
“Dạy những thứ không còn hợp thời nữa. Dạy cách đối đầu với những gì tôi dành cả đời luyện tập. Nhưng cuộc chiến đó kết thúc rồi mà, tôi nghĩ vậy. Phe anh thắng rồi.”
“Anh phải cho chúng tôi biết đêm mồng bốn anh đã ở đâu.”
Hắn không hé nửa lời.
“Sao anh lại đào ngũ?”
“Bởi vì tôi là một nhà ái quốc,” hắn đáp.
“Mới đổi gió à?”
“Tôi vẫn luôn là một nhà ái quốc. Nhưng suýt nữa thì bị phát hiện.”
“Anh trốn đi bằng đường nào?”
“Qua Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi tới một căn cứ Hoa Kỳ tại đó.”
“Anh mau khai báo về đêm mồng bốn đi.”
Hắn vẫn im lặng.
“Chúng tôi tìm được khẩu súng của anh,” tôi nói tiếp. “Anh ký mượn nó. Anh rời doanh trại vào mười giờ mười một phút đêm và trở lại vào năm giờ sáng.”
Hắn lặng thinh.
“Anh đã bắn hai viên đạn.”
Hắn không đáp.
“Anh rửa xe làm gì vậy?”
“Vì chiếc xe quá đẹp. Tôi rửa xe hai lần một tuần. Tuần nào cũng thế. Tôi luôn mơ có được một chiếc xe như vậy.”
“Anh đã bao giờ tới Kansas chưa?”
“Chưa.”
“Vậy thì anh chuẩn bị đi. Anh không được về Sofia đâu. Mà sẽ tới trại Leavenworth.”
“Vì sao?”
“Anh thừa biết rồi còn gì,” tôi đáp.
Trifonov không cử động. Hắn ngồi im một chỗ. Người hắn chúi về phía trước, với đôi cổ tay xích vào chân ghế sát đầu gối. Tôi cũng ngồi yên. Tôi không biết phải làm gì tiếp theo. Lính Delta được huấn luyện kháng lại tra khảo. Tôi biết điều đó. Bọn họ được huấn luyện cách kháng thuốc và đánh đập cũng như các thủ thuật tra tấn giác quan cùng ti tỉ những trò khác. Thầy dạy của bọn họ còn được khuyến khích làm thật nữa. Vậy nên tôi chẳng dám nghĩ tới năm năm khổ luyện của tay Trifonov này cùng GRU ra sao. Tôi chẳng còn nhiều cách để xử lý hắn. Không phải tôi ngại động đến tay chân. Nhưng tôi đoán dù có bị phanh thây hắn cũng sẽ chẳng phun ra nửa lời.
Nên tôi chuyển sang phương pháp cổ điển hơn của giới cảnh sát. Nói dối, và mua chuộc.
“Nhiều người cho rằng vụ Carbone là một bê bối lớn,” tôi nói. “Anh biết đấy, đối với thanh danh quân đội. Nên chúng tôi cũng chẳng muốn đẩy vụ việc xa thêm nữa. Nếu anh khai báo bây giờ, chúng tôi có thể đưa anh về Thổ Nhĩ Kỳ ngay và luôn. Anh có thể tạm ở đó chờ thời cơ rồi sau này trở về quê làm nhà ái quốc cũng không muộn.”
“Anh mới là người giết Carbone,” hắn lên tiếng. “Ai cũng nói vậy.”
“Vậy ai đó sai rồi,” tôi đáp. “Lúc đó tôi đâu có ở đây. Và tôi cũng không giết Brubaker. Vì tôi cũng không có ở đó lúc ấy luôn.”
“Tôi cũng vậy,” hắn bảo. “Trong cả hai vụ.”
Hắn ngồi im một chỗ. Rồi như chợt nhớ ra điều gì. Mắt hắn đảo liên tục. Hắn nhìn trái, rồi nhìn phải. Hắn nhìn lên bản đồ của Summer. Nhìn những cây đinh ghim trên ấy. Rồi nhìn cô. Xong lại nhìn tôi. Môi hắn cử động. Tôi thấy môi hắn mấp máy cái tên Carbone. Rồi Brubaker. Hắn không nói thành tiếng, nhưng tôi đọc khẩu hình với thứ giọng địa phương ngồ ngộ của hắn.
“Đợi đã,” hắn nói.
“Đợi cái gì?”
“Không,” hắn nói tiếp.
“Không cái gì?”
“Không, thưa sếp,” hắn bảo.
“Trifonov, nói tôi nghe đi,” tôi nói.
“Anh nghĩ tôi liên can tới vụ Carbone và Brubaker sao?”
“Anh không nghĩ thế à?”
Hắn lại im bặt. Rồi cúi gằm xuống.
“Nói tôi nghe nào, Trifonov,” tôi bảo.
Hắn ngẩng lên.
“Không phải tôi,” hắn đáp.
Tôi ngồi yên. Nhìn mặt hắn. Sáu năm nay tôi đã tham gia đủ các loại thẩm vấn, và trong hàng ngàn nghi phạm đó thì Trifonov đây chẳng phải người đầu tiên nhìn thẳng vào mắt tôi mà nói câu Không phải tôi.Vấn đề là, trong hàng ngàn nghi phạm đó cũng không ít người nói thật. Và tôi đang nghĩ có khi Trifonov cũng đang nói thật. Hắn có gì lạ lắm. Tôi bắt đầu thấy bất an.
“Anh phải chứng minh chứ đâu nói suông được,” tôi nói.
“Tôi không thể.”
“Rất tiếc là anh phải làm điều đó. Nếu không họ sẽ quẳng anh vào tù. Có thể họ sẽ lờ đi vụ Carbone, nhưng với Brubaker thì không đời nào.”
Hắn im lặng.
“Bắt đầu lại nào,” tôi nói. “Đêm mồng bốn tháng Giêng, anh đã ở đâu?”
Hắn chỉ lắc đầu.
“Anh phải đi đâu chứ,” tôi bảo. “Chắc chắn là vậy. Vì anh đâu có ở đây. Hôm đấy anh ký tên nhập trại rồi sau đó xuất trại. Cả anh và khẩu súng đó.”
Hắn không đáp. Mà chỉ nhìn tôi chằm chằm. Tôi lặng lẽ nhìn lại. Hắn thu mình vào sự im lặng đầy tuyệt vọng và giằng xé, hệt như những nghi phạm mà tôi từng thấy trước đó. Hắn cựa quậy trên ghế. Rất kín đáo. Những cử động nhỏ gấp gáp, từ bên này qua bên kia. Như thể hắn đang đấu tay đôi với hai đối thủ nào đó, một kẻ bên trái, kẻ kia bên phải. Như thể một nửa hắn biết mình cần phải khai báo với tôi rằng mình đã ở đâu hôm xảy ra án mạng, và nửa kia biết mình không thể làm vậy. Trông hắn ngả nghiêng đúng nghĩa đen của câu lưỡng đầu thọ địchvậy.
“Đêm mồng bốn tháng Giêng,” tôi nói. “Anh đã phạm tội đúng không?”
Đôi mắt sâu hoắm của hắn ngước lên nhìn tôi. Không chớp.
“OK,” tôi bảo. “Bây giờ anh phải lựa chọn đi. Việc anh làm hôm đó có nghiêm trọng hơn việc xả đạn vào ót Brubaker không?”
Hắn không đáp.
“Hôm đó anh có lái xe tới Thủ đô Washington, rồi lần lượt hiếp những đứa cháu gái mười tuổi của Tổng thống không?”
“Không,” hắn nói.
“Để tôi nói anh nghe,” tôi bảo. “Cái tôi vừa ví dụ mới là điều duy nhất tệ hơn việc bắn vào ót Brubaker đó.”
Hắn không trả lời.
“Nói tôi nghe đi.”
“Đây là việc riêng tư,” hắn nói.
“Riêng tư thế nào?”
Hắn không đáp. Summer thở dài và rời khỏi tấm bản đồ của mình. Cô bắt đầu nhận ra có khả năng tay Trifonov đã không tới thành phố Columbia, Nam Carolina. Cô nhìn tôi, nhướng lông mày. Trifonov cựa quậy trên ghế. Chiếc còng va vào chân ghế lách cách.
“Tôi sẽ gặp chuyện gì đây?” hắn hỏi.
“Tùy xem anh đã làm gì chứ,” tôi đáp.
“Tôi nhận được một lá thư,” hắn nói.
“Nhận thư từ đâu phải là một tội.”
“Một người bạn của bạn tôi gửi tới.”
“Kể tôi nghe về lá thư đó nào.”
“Có một người đàn ông ở Sofia,” hắn nói.
Hắn ngồi chúi người về trước, cổ tay còng vào chân ghế, và kể về lá thư. Hắn kể với giọng như thể câu chuyện mang nét đặc trưng của người Bulgaria. Nhưng thực ra cũng thường thôi. Câu chuyện của hắn khá phổ biến là đằng khác.
Ở thành phố Sofia có người đàn ông nọ. Anh ta có một cô em gái. Người em gái này vốn là một vận động viên thể thao và đã nhân chuyến thăm đại học tại Canada mà trốn đi rồi cuối cùng qua Hoa Kỳ định cư. Cô ta cưới một người Mỹ. Chẳng lâu sau thì được nhập tịch. Rồi ông chồng bỗng đổi tính. Gia đình biết được điều này qua thư từ cô em gái gửi về.
Những lá thư viết dài, và thảm thương. Nào là bị đánh đập, bị lăng mạ, bạc đãi và cô lập. Cuộc đời của cô ta chẳng khác nào địa ngục. Bộ kiểm duyệt của chính quyền cộng sản nơi ấy cho chuyển những lá thư đó, bởi những gì cho thấy sự xấu xa của nước Mỹ đều được hoan nghênh. Anh trai cô ta có một người bạn rành rõi mạng lưới chống chính phủ trong thành phố. Người bạn đó giao Trifonov đây một địa chỉ, ở trại Bird tại Bắc Carolina. Chính Trifonov cũng qua lại với mạng lưới chống chính phủ kia trước khi tới Thổ Nhĩ Kỳ. Người bạn đó đóng gói lá thư của người anh trai ở thành phố Sofia kia gửi cho một tay buôn đồ cơ khí tại nước Áo. Tay buôn đó sang Áo và chuyển tiếp lá thư. Lá thư kia cuối cùng cũng tới trại Bird. Trifonov nhận được nó vào sáng sớm mồng hai tháng Giêng. Trên thư có ghi tên họ của hắn bằng chữ Kirin và được đóng đủ thứ tem ngoại quốc kèm theo nhãn dán Luftpost nữa.
Hắn đọc lá thư đó một mình trong phòng. Hắn biết người ta muốn nhờ mình làm gì. Thời gian lẫn khoảng cách xa xôi cùng các mối quan hệ bị nén lại dưới áp lực của lòng trung thành với đất nước, khiến hắn cảm thấy như chính em gái mình đang bị bạo hành vậy. Cô ta sống ở gần Cape Fear (Mũi Kinh Hoàng), một địa danh Trifonov thấy quá phù hợp với tình cảnh của cô gái. Hắn đã tới văn phòng hành chính của đại đội để kiểm tra bản đồ, xem nơi đó nằm đích xác ở đâu.
Hắn có chút thời gian rảnh vào buổi chiều mồng bốn tháng Giêng. Hắn lên kế hoạch rồi chuẩn bị vài lời phát biểu, nôm na muốn nhắc nhở anh chồng kia chớ dại động vào một cô gái Bulgaria có quen biết rộng.
“Anh còn lá thư đó chứ?” tôi hỏi.
Hắn gật đầu. “Nhưng anh không đọc được đâu, thư viết bằng tiếng Bulgaria mà.”
“Đêm đó anh mặc đồ gì?”
“Thường phục. Tôi đâu có ngu.”
“Thường phục là thế nào?”
“Thì áo khoác da. Quần bò xanh. Áo thun. Hàng Mỹ. Tôi chỉ có từng đó đồ thường phục mà thôi.”
“Anh đã làm gì thằng cha kia?”
Hắn lắc đầu. Quyết không trả lời.
“OK,” tôi nói. “Cả nhà ta cùng đến Cape Fear nào.”
Chúng tôi để Trifonov vào băng ghế sau chiếc xe Humvee và vẫn không tháo còng cho hắn. Summer lái. Cape Fear nằm ở mé Đông Nam bờ Đại Tây Dương, chừng một trăm dặm. Một chặng đường mệt mỏi, nếu đi bằng chiếc Humvee. Đi bằng xe Corvette chắc sẽ khác. Mà thực ra tôi chẳng còn nhớ lần gần nhất mình đi xe Corvette là từ bao giờ nữa. Người tôi quen chẳng ai lái xe đó cả.
Tôi cũng chưa đến Cape Fear bao giờ. Đó là một trong nhiều nơi trên đất Hoa Kỳ này mà tôi chưa bao giờ ghé qua. Dù đã xem bộ phim cùng tên. Tôi quên mất mình đã xem phim ấy ở đâu. Trong một ngôi lều thì phải, ở nơi nào đó nóng bức lắm, hình như vậy. Phim trắng đen, trong đó diễn viên Gregory Peck và Robert Mitchum đối đầu nhau ác liệt. Phim giải trí cao, theo tôi nhớ là vậy, nhưng nhảm nhí khó chịu vô cùng. Khán giả chê bôi kinh lắm. Nhân vật của Robert Mitchum kia đáng lẽ phải chết luôn từ chục phút đầu phim. Xem mấy gã dân thường chộn rộn cố rặn ra một câu chuyện dài chín chục phút chẳng hứng thú gì đối với mấy tay lính cả.
Khi gần đến nơi thì trời đã tối mịt. Chúng tôi đi ngang qua một biển báo gắn ở ngoại ô Wilmington quảng cáo rằng nơi đây là một thành phố cảng có bề dày lịch sử và nhiều cảnh đẹp, nhưng chẳng ai màng tới vì Trifonov ngồi đằng sau đã gọi với lên chỉ chúng tôi quẹo trái vào một khu đầm lầy. Chúng tôi lái xuyên màn đêm tới giữa chốn đồng không mông quạnh rồi quẹo trái lần nữa tới một nơi tên là Southport.
“Cape Fear nằm ở ngoại ô Southport,” Summer nói. “Đấy là một hòn đảo nằm ngoài biển. Tôi nghĩ là có cầu đi qua đó sếp.”
Nhưng chúng tôi dừng khá xa bờ biển. Chúng tôi còn không đến Southport nữa. Trifonov lại cất tiếng khi chúng tôi đi ngang qua bãi nhà xe moóc nằm bên tay phải. Đó là một khoảng đất bãi bồi lớn hình chữ nhật khá bằng phẳng. Như thể người ta đã xới hết một khoảng đầm lầy làm hồ rồi lấy đất ấy đắp thành một khu vực rộng cỡ mấy sân bóng vậy. Một hệ thống rút nước bao quanh khu đất. Người ta móc dây điện lên nhiều cột cao và khắp dải đất chữ nhật ấy lố nhố hàng trăm chiếc xe moóc. Đèn xe chúng tôi rọi lên vài căn hai gian được trang trí khá đỏm bằng vườn cây và hàng rào. Những chỗ còn lại trông khiêm tốn và xập xệ. Vài căn đã sập và bị bỏ hoang. Dù nơi đây nằm cách bờ biển chừng mười dặm, nhưng những cơn bão ngoài khơi có tầm ảnh hưởng rất xa.
“Chỗ này,” Trifonov nói. “Quẹo phải.”
Trước chúng tôi là một con đường mòn lớn nằm giữa vài nhánh nhỏ hơn đâm qua hai bên trái và phải. Trifonov hướng chúng tôi qua mê cung đường mòn ấy đến khi dừng lại trước một chiếc xe moóc xập xệ sơn màu xanh lá đã qua thời đẹp đẽ. Sơn tróc tứ tung còn mái nhà bằng giấy dầu đã cong queo cả. Ống khói trên mái vẫn hoạt động và từ cửa sổ le lói thứ ánh sáng xanh lam của màn hình ti vi.
“Tên cô ta là Elena,” Trifonov nói.
Chúng tôi khóa anh ta lại trong chiếc Humvee. Rồi gõ cửa nhà Elena. Người đàn bà ra mở cửa rất xứng đáng nhận danh hiệu Hoa Hậu Thê Thảm. Trông rũ rượi từ trên xuống dưới. Dưới quầng mắt và dọc theo hàm của cô ta loang lổ những vết thâm đã ngả vàng và mũi thì bị gãy. Tướng đứng của cô ta không giấu được cơn đau ê ẩm nào đó đã lâu, và có khi còn mới bị gãy xương sườn nữa. Cô ta khoác trên người chiếc áo mỏng mặc ở nhà và đi giày đàn ông. Nhưng trông cô ta khá tươm tất và mái tóc thì được cột lại gọn gàng. Trong đôi mắt của cô ta lóe lên tia sáng gì đó. Một niềm kiêu hãnh, hay một sự thỏa mãn rằng mình đã vượt qua thử thách kinh hoàng. Cô ta rụt rè săm soi chúng tôi, thần thái vẫn bị đè nặng bởi bộ ba gọng kềm là cảnh bần cùng, sự khốn khổ và nỗi lẻ loi nơi đất khách quê người.
“Vâng?” cô ta cất tiếng. “Tôi giúp gì được ạ?” Cách phát âm của cô giống như Trifonov, nhưng tông cao hơn. Cũng khá dễ nghe.
“Chúng tôi cần nói chuyện với cô.” Summer nhẹ nhàng bảo.
“Về việc gì ạ?”
“Về việc anh Slavi Trifonov đã làm cho cô,” tôi nói.
“Anh ta có làm gì đâu,” cô ta bảo.
“Nhưng cô biết cái tên đó.”
Cô ta khựng lại.
“Mời các vị vào trong,” cô ta nói.
Thực sự tôi đã tưởng bên trong sẽ hỗn độn lắm. Như vài cái chai rỗng nằm khắp nơi, gạt tàn đầy thuốc lá, bụi bặm và bừa bộn. Nhưng bên trong xe lại gọn gàng và sạch sẽ vô cùng. Chẳng vật nào nằm sai một li. Dù hơi lạnh, nhưng khá ổn. Và chẳng có ai khác ở trong đó cả.
“Chồng cô không có nhà à?” tôi hỏi.
Cô ta lắc đầu.
“Anh ta đâu rồi?”
Cô ta không đáp.
“Tôi đoán là anh ta đang nằm viện,” Summer nói. “Tôi nói có phải không?”
Elena chỉ trân mắt nhìn cô.
“Anh Trifonov kia đã giúp cô,” tôi bảo. “Bây giờ đến lượt cô giúp anh ta đấy.”
Cô ta không đáp.
“Nếu anh ta không ở đây làm việc tốt, thì anh ta đã ở nơi khác làm việc ác. Tình hình là vậy đấy. Nên tôi muốn biết anh ta đã làm cái nào.”
Cô ta không đáp.
“Việc này rất, rất quan trọng đấy,” tôi bảo.
“Nếu cả hai việc anh ta làm đều ác thì sao?” cô ta hỏi.
“Hai việc khác nhau làm sao so sánh vậy được,” tôi đáp. “Tin tôi đi. Đâu có giống nhau. Cô cứ kể tôi đầu đuôi thế nào là được rồi, OK?”
Cô ta không trả lời ngay. Tôi tiến thêm một chút vào căn nhà. Chiếc ti vi đang mở đài PBS. Âm lượng nhỏ. Mùi nước lau nhà vẫn còn ngửi thấy. Chồng cô ta đã biến mất, và cô ta đang bắt đầu một chương mới trong cuộc đời mình bằng cây lau nhà, và tranh thủ học trên ti vi.
“Tôi không biết rõ chuyện gì đã xảy ra,” cô ta nói. “Anh Trifonov chợt ghé qua và đưa chồng tôi đi đâu đó.”
“Từ bao giờ?”
“Vào đêm hôm kia, chừng nửa đêm. Anh ta nói có nhận được thư của anh trai tôi từ Sofia.”
Tôi gật đầu. Chừng nửa đêm. Hắn rời trại vào 2211, và tới đây sau một tiếng bốn chín phút. Một trăm dặm, vận tốc trung bình năm mươi lăm dặm một giờ, trong một chiếc Corvette. Tôi liếc qua Summer. Cô gật đầu. Trúng phóc.
“Anh ta ở đây bao lâu?”
“Có vài phút thôi. Anh ta khá lịch sự. Anh ta tự giới thiệu tên tuổi, thú thật với tôi về việc mình sắp làm, và lý do.”
“Chỉ vậy thôi?”
Cô ta gật đầu.
“Lúc ấy anh ta mặc đồ gì?”
“Có khoác áo da. Mặc quần bò.”
“Anh ta lái xe gì tới đây?”
“Tôi không biết tên. Xe màu đỏ, thấp. Xe thể thao. Ống xả của xe nổ to lắm.”
“OK,” tôi bảo. Tôi gật đầu với Summer rồi chúng tôi tiến ra cửa.
“Thế liệu chồng tôi có quay lại không?” Elena hỏi.
Tôi nhớ lại lúc mới gặp Trifonov. Cao mét chín tám, nặng hơn trăm mười cân, đầu cạo trọc, cổ tay to, bàn tay khổng lồ, cặp mắt rực lửa, và năm năm rèn luyện trong GRU.
“Tôi không nghĩ vậy đâu,” tôi đáp.
Chúng tôi trở lại chiếc Humvee. Summer nổ máy. Tôi quay ra đằng sau nói chuyện với Trifonov qua lớp song sắt.
“Anh thả thằng cha đó ở đâu?” tôi hỏi.
“Trên đường tới Wilmington,” hắn đáp.
“Lúc nào vậy?”
“Tầm ba giờ sáng. Tôi dừng lại dùng điện thoại trả xu để gọi cho 911. Tôi không để lại tên tuổi gì.”
“Anh hành thằng cha đó tới ba tiếng đồng hồ sao?”
Hắn chậm rãi gật đầu. “Tôi muốn hắn hiểu rõ thông điệp.”
Summer đánh xe ra khỏi bãi xe moóc rồi quẹo trái và nhắm hướng thành phố Wilmington mà đi. Chúng tôi lại tạt ngang qua tấm biển báo quảng cáo ngoài ngoại ô rồi đi tiếp tìm bệnh viện. Độ một phần tư dặm nữa thì tới nơi. Trông không đến nỗi nào. Phần lớn tòa nhà có hai tầng, với một cửa dành cho xe cấp cứu có mái vòm rộng. Summer đỗ tại khu vực dành riêng cho một tay bác sĩ tên Ấn Độ nào đó rồi chúng tôi xuống xe. Tôi mở khóa cửa sau và dẫn theo Trifonov. Tôi tháo còng tay hắn. Rồi bỏ chúng vào túi.
“Tên thằng cha kia là gì?” tôi hỏi.
“Pickles,” hắn đáp.
Ba bọn tôi cùng bước vào và tôi giơ thẻ đặc nhiệm cho người hộ lý sau cái bàn nhỏ thấy. Thú thật thì, cái thẻ ấy chẳng cho tôi quyền lợi gì ở thế giới dân thường, nhưng thằng cha kia phản ứng như thể nó vừa truyền cho tôi quyền năng tối thượng nào vậy, mà phần lớn dân thường khi nhìn thấy tấm thẻ đó cũng đều có phản ứng y hệt.
“Sáng sớm mồng năm tháng Giêng,” tôi nói. “Vào tầm hơn ba giờ sáng, các anh có nhận một bệnh nhân vào viện này.”
Tay hộ lý lần trong một chồng bảng kẹp hồ sơ bằng nhôm trên chiếc bàn bên phải anh ta. Rồi kéo ra hai cái.
“Bệnh nhân nam hay nữ nhỉ?” anh ta hỏi.
“Nam.”
Anh ta đẩy một tấm bảng trở lại chỗ cũ. Rồi rút cái kia hẳn ra ngoài.
“Vô danh,” anh ta nói. “Bệnh nhân thuộc diện nghèo khó, không căn cước, không bảo hiểm, nhận tên mình là Pickles. Cảnh sát tìm thấy anh ta trên đường.”
“Người của bọn tôi đấy,” tôi bảo.
“Người của anh à?” anh ta hỏi, nhìn đồng phục tôi mặc.
“Bọn tôi có thể thanh toán viện phí của anh ta,” tôi đáp.
Nghe vậy tai anh ta dỏng cả lên. Rồi liếc qua chồng bảng kia, như đang nghĩ Xong một tên, còn hai trăm nữa thôi.
“Bệnh nhân nằm ở phòng hồi sức,” anh ta nói. Rồi chỉ tới thang máy. “Ở tầng hai.”
Anh ta nán lại sau quầy. Ba chúng tôi đón thang máy đi lên. Rồi hướng theo bảng chỉ dẫn đến khu hồi sức. Một nữ y tá trực ngoài cửa chặn chúng tôi lại. Tôi giơ thẻ ngành ra.
“Tìm anh Pickles,” tôi nói.
Cô ta chỉ về một phòng riêng đóng kín cửa, đầu kia hành lang.
“Chỉ năm phút thôi nhé,” cô nói. “Anh ta còn yếu lắm.”
Trifonov mỉm cười. Chúng tôi đi dọc hành lang rồi mở cửa phòng riêng đó. Bên trong để đèn mờ. Một người đàn ông đang nằm trên giường. Y đang ngủ. Không biết vóc dáng y to bé thế nào. Tôi không thấy được mấy. Y bị bó bột kín người. Chân y được nâng lên còn hai đầu gối quấn loại băng khá to để chữa vết thương súng bắn. Đối diện giường của y đặt một bảng đèn ngay tầm mắt đính toàn hình chụp X-quang. Tôi bật nó lên và kiểm tra một chút. Tấm hình nào cũng ghi ngày và cái tên Pickles dọc theo mép. Chúng là hình chụp tay, ngực và chân y. Cơ thể con người có hơn hai trăm mười xương, và có vẻ như xương của Pickles đây đã gãy gần hết. Ngân sách chụp X-quang của bệnh viện này hẳn đã thụt đi không ít chỉ vì một mình y.
Tôi tắt đèn tấm bảng và đá vào chân giường hai cái. Gã nằm trên giường cục cựa, tỉnh giấc. Y căng mắt nhìn trong ánh sáng mờ và vẻ mặt của y khi thấy Trifonov là đủ để làm chứng cho hắn. Vẻ mặt kinh hoàng tột độ.
“Hai người đợi bên ngoài,” tôi nói.
Summer dẫn Trifonov ra ngoài cửa còn tôi bước tới đầu giường.
“Khỏe không, thằng chó?” tôi hỏi.
Mặt thằng cha có tên Pickles kia trở trắng bệch. Mồ hôi túa ra đầm đìa, cả người run lên bần bật dưới lớp bó bột.
“Nó đó,” y nói. “Cái thằng đứng kia kìa. Nó hành tao ra thế này đây.”
“Anh ta làm gì mày?”
“Nó bắn vào chân tao.”
Tôi gật đầu. Rồi nhìn xuống lớp băng bọc vết thương súng bắn. Xương bánh chè của y đã bét nhè. Hai đầu gối, hai viên đạn. Súng bắn hai viên.
“Bắn vào mặt trước đầu gối hay bên mé?” tôi hỏi.
“Bên mé,” y đáp.
“Nếu là mặt trước thì còn tệ hơn đấy,” tôi nói. “Mày may mắn lắm. Dù mày không xứng đáng nhận chút vận may đấy đâu.”
“Tao có làm gì chứ.”
“Vậy đó hả? Tao mới vừa gặp vợ mày này.”
“Con chó ngoại quốc cù bơ cù bất.”
“Đừng nói vậy.”
“Lỗi tại nó cả. Nó không chịu nghe lời. Đàn bà phải biết nghe lời đàn ông. Trong Kinh Thánh viết vậy còn gì.”
“Câm mồm,” tôi nói.
“Thế mày không định làm gì hả?”
“Có chứ,” tôi nói. “Làm đây. Xem này.”
Tôi giơ tay như vừa phẩy một con ruồi đậu trên chăn. Rồi lấy mu bàn tay vỗ nhẹ vào mé đầu gối phải của y. Y gào thất thanh còn tôi bỏ ra ngoài cửa. Nữ y tá kia nhìn về hướng tôi.
“Anh ta bệnh nặng lắm,” tôi nói.
Chúng tôi xuống thang máy rồi đi thẳng ra cửa chính để né mặt tay hộ lý. Cả ba bước ra chiếc Humvee trong im lặng. Tôi mở cửa sau cho Trifonov nhưng chặn hắn lại. Tôi bắt tay hắn.
“Cho tôi xin lỗi,” tôi nói.
“Tôi đang gặp rắc rối gì sao?” hắn hỏi.
“Với tôi thì không,” tôi nói. “Tôi ưa người như anh đấy. Nhưng anh may mắn lắm. Anh mà bắn trúng vào động mạch đùi thì thằng kia có khi đã chết rồi. Lúc đó tình hình sẽ khác.”
Hắn khẽ mỉm cười. Mặt rất điềm tĩnh.
“Tôi được GRU huấn luyện năm năm,” hắn nói. “Tôi biết cách giết người. Và tôi biết cách để người ta không chết.”