Kẻ Thù

Lượt đọc: 14076 | 10 Đánh giá: 8,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MƯỜI CHÍN

Chúng tôi dọn hành lý ra khỏi phòng trọ, rồi tạt qua văn phòng chào tạm biệt Swan. Anh ta chợt bật mí một điều bất ngờ.

“Đáng lẽ tôi phải bắt giữ hai người đấy,” anh ta nói.

“Vì sao?” tôi hỏi.

“Cậu vắng mặt không xin phép. Lão Willard đang truy nã cậu đó.”

“Sao, truy nã toàn cầu à?”

Swan lắc đầu. “Chỉ riêng doanh trại này thôi. Họ tìm thấy xe của cậu ở Căn cứ Andrews, rồi lão Willard nói chuyện với Quân đoàn Vận tải. Nên lão biết cậu tới đây.”

“Cậu nhận được lệnh bao giờ?”

“Một tiếng trước.”

“Thế bọn tôi rời đi lúc nào nhỉ?”

“Một tiếng trước đó nữa.”

“Bọn tôi đi đâu?”

“Chịu. Không thấy cậu nói gì. Tôi đoán cậu lên đường trở về trại Bird.”

“Cảm ơn cậu,” tôi nói.

“Tốt hơn là đừng cho tôi biết cậu sẽ đi đâu.”

“Paris,” tôi bảo. “Việc riêng.”

“Chuyện gì đang xảy ra vậy?”

“Ước gì tôi biết.”

“Cậu cần tôi gọi taxi giùm không?”

“Thế thì tốt quá.”

Mười phút sau chúng tôi lại ngồi trên một chiếc Mercedes-Benz khác, đi ngược lại con đường chúng tôi đã đi mười lăm tiếng trước.

Chúng tôi có hai lựa chọn, hoặc là hãng Lufthansa, hoặc là hãng Air France, để bay từ Frankfurt-am-Main đến Paris. Tôi chọn Air France. Tôi đoán cà phê của họ ngon hơn, và tôi đoán nếu lão Willard dò la các chuyến bay dân sự, hẳn lão sẽ bắt đầu với hãng Lufthansa. Tôi đoán lão cũng chỉ đơn giản như vậy thôi.

Chúng tôi đổi thêm hai tờ giấy đi đường có chữ ký giả, lấy hai ghế thường trong chuyến bay mười giờ sáng. Rồi đợi trước cửa lên máy bay. Chúng tôi đều mặc đồ dã chiến, nhưng không vì vậy mà nổi bật giữa đám đông. Người mặc quân phục Hoa Kỳ đi lại khắp nơi trong sân bay. Tôi thấy vài sĩ quan Quân cảnh thuộc Quân đoàn XII, lảng vảng theo cặp. Nhưng tôi không lo. Tôi đoán họ đang tuần tra cùng cảnh sát dân sự. Họ không phải đang truy tìm chúng tôi. Tôi có linh cảm rằng điện báo của lão Willard vẫn còn nằm trên bàn làm việc của Swan thêm một, hai tiếng nữa.

Chúng tôi lên máy bay đúng giờ, rồi cất hành lý vào khoang trên đầu. Sau đó thắt dây an toàn và ổn định chỗ ngồi. Trong khoang có vài quân nhân khác bay cùng chuyến với chúng tôi. Paris vốn là chốn nghỉ phép ưa chuộng của lính đóng quân tại Đức. Trời vẫn đậm sương mù. Nhưng không tệ đến mức làm trễ chuyến bay. Chúng tôi vẫn cất cánh đúng giờ, máy bay bay lên bầu trời xám xịt trên đầu thành phố, rồi chuyển sang hướng Tây Nam trên những cánh đồng nhạt và những khoảng rừng rộng lớn. Rồi chúng tôi vượt qua tầng mây, hướng tới mặt trời, đến khi không còn nhìn thấy mặt đất nữa.

Đó là một chuyến bay ngắn. Chúng tôi bắt đầu hạ cánh khi tôi đang nhâm nhi ly cà phê thứ hai. Summer thì uống nước hoa quả. Trông cô có vẻ hồi hộp. Nửa hào hứng, nửa lo âu. Tôi đoán cô chưa bao giờ tới Paris. Và có khi chưa bao giờ dám vắng mặt không phép ấy chứ. Nỗi lo ấy rõ ràng đang dằn vặt cô. Thú thật, bản thân tôi cũng hơi bồn chồn. Đó là một yếu tố phức tạp. Không dính phải nó có lẽ sẽ tốt hơn. Nhưng tôi cũng không ngạc nhiên nếu mình bị gán tội đó. Đấy là một nước cờ tiếp theo hiển nhiên mà lão Willard sẽ đi. Tôi đoán chuyến chu du vòng quanh thế giới của chúng tôi sẽ bị trùm dưới lệnh CYTT. Chú ý truy tìm.Hoặc không thì hẳn cũng sẽ có lệnh truy nã chúng tôi phát cho tất cả cảnh sát.

Chúng tôi hạ cánh tại sân bay Roissy-Charles de Gaulle, và xuống máy bay vào tầm mười một giờ rưỡi sáng. Sân bay khá đông. Hàng chờ xe taxi chẳng khác sở thú là bao, hệt như đợt trước tôi cùng Joe tới đây. Nên chúng tôi bỏ cuộc rồi bước tới trạm xe buýt navette. Chúng tôi xếp hàng rồi leo lên chiếc xe buýt nhỏ. Bên trong chật cứng người và không thoải mái chút nào. Nhưng Paris ấm áp hơn Frankfurt nhiều. Mặt trời nhàn nhạt ló ra, và tôi biết thành phố sẽ trông ngoạn mục lắm.

“Cô tới đây bao giờ chưa?” tôi hỏi.

“Chưa,” Summer đáp.

“Hai mươi cây số đầu chẳng có gì hay ho đâu,” tôi bảo. “Đợi khi ta đến Périphérique kìa.”

“Đó là gì vậy sếp?”

“Đại lộ vành đai thành phố. Như đường Beltway ấy. Tới đó mới bắt đầu những thứ hay ho.”

“Mẹ sếp ở gần đó à?”

Tôi gật đầu. “Ở một trong những con đường đẹp nhất thành phố. Nơi đặt các đại sứ quán. Gần tháp Eiffel.”

“Bây giờ ta đến thẳng đó ạ?”

“Mai hẵng,” tôi bảo. “Bây giờ ta làm du khách trước đã.”

“Sao vậy sếp?”

“Tôi phải đợi anh trai tới nơi. Tôi không đi một mình được. Anh em tôi phải đi cùng nhau.”

Cô không đáp. Chỉ nhìn tôi. Chiếc xe khởi động, rồi rời khỏi vỉa hè. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ suốt chuyến đi. Tôi thấy vẻ đồng tình của cô qua ảnh phản chiếu trên mặt kính. Bên trong đại lộ vành đai Périphérique đẹp hơn nhiều.

Chúng tôi tới quảng trường Place de l’Opéra và đứng trên vỉa hè đợi toán hành khách trườn qua như nước lũ. Tôi nghĩ mình nên chọn một khách sạn để cất hành lý rồi làm gì thì làm.

Chúng tôi men theo đường Rue de la Paix về hướng Nam, qua quảng trường Place Vendôme, tới vườn Tuileries. Rồi chúng tôi quẹo phải rồi đi thẳng tới đại lộ Champs-Élysées. Hẳn phải có những nơi thích hợp hơn để đi dạo cùng một cô gái xinh xắn dưới ánh nắng nhạt nhòa mùa đông, nhưng ngay lúc đó tôi chẳng nhớ nổi nơi nào. Chúng tôi quẹo trái vào đường Rue Marbeuf, rồi đâm qua đường George V, đối diện khách sạn George V.

“Nơi này cô thấy ổn chứ?” tôi hỏi.

“Họ có cho ta vào không?” Summer hỏi.

“Chỉ có một cách để biết thôi.”

Chúng tôi băng qua đường, và một nhân viên đội mũ chóp cao mở cửa đón chúng tôi. Cô gái ở quầy lễ tân đeo trên ve áo hình những lá cờ tí hon, tượng trưng cho những thứ tiếng mà cô thông thạo. Tôi nói tiếng Pháp, khiến cô vui vẻ. Tôi đưa cô hai tờ giấy đi đường, rồi hỏi lấy hai phòng. Cô không hề ngần ngại. Ngay lập tức đưa chúng tôi hai chìa khóa, như thể tôi vừa dúi vào tay cô cả một thoi vàng, hay một chiếc thẻ tín dụng. Khách sạn George V là một nơi như vậy. Chẳng gì khiến họ ngạc nhiên được cả. Mà nếu có, còn khuya họ mới chịu thú nhận với bất kỳ ai.

Hai căn phòng mà cô nhân viên thạo nhiều thứ tiếng kia sắp xếp cho chúng tôi đều xoay về hướng Nam, và cả hai đều nhìn thấy được phần nào của tòa tháp Eiffel. Một phòng được tô điểm bằng gam màu xanh dương nhạt, và có phòng khách lẫn phòng tắm to ngang sân đánh tennis. Phòng kia thì ở cuối hành lang, cách ba phòng. Nó được sơn màu vàng giấy da, có ban công bằng sắt.

“Tùy cô chọn,” tôi bảo.

“Tôi lấy phòng có ban công,” cô nói.

Chúng tôi cất hành lý, tắm rửa rồi gặp nhau ở sảnh mười lăm phút sau. Tôi toan đi ăn trưa, nhưng Summer lại có ý kiến khác.

“Tôi muốn đi mua quần áo,” cô bảo. “Du khách ai lại mặc quân phục chứ.”

“Du khách này thì có,” tôi nói.

“Thế thì cởi ra,” cô bảo. “Tận hưởng một chút đi sếp. Ta nên đi đâu nhỉ?”

Tôi nhún vai. Anh không thể nào đi bộ hai chục yard ở Paris này mà không tạt qua ít nhất ba tiệm quần áo. Nhưng phần lớn các tiệm đều đòi anh phải đổi cả tháng lương của mình cho mỗi món đồ.

“Ta ra Bon Marché thử xem,” tôi bảo.

“Đó là gì vậy sếp?”

“Kiểu siêu thị ấy,” tôi nói. “Tên nó, theo nghĩa đen, là rẻ.”

“Một siêu thị tên là Rẻ sao sếp?”

“Tôi thích những nơi kiểu vậy,” tôi bảo.

“Còn nơi nào khác không sếp?”

“Samaritaine,” tôi bảo. “Ngay bờ sông, bên cầu Pont Neuf. Bên trên có sân thượng ngắm thành phố.”

“Vậy ta tới đó đi.”

Một chặng đường khá dài dọc theo bờ sông, tới tận mũi đảo Île de la Cité. Chúng tôi mất một tiếng mới tới đó, vì cứ dừng lại giữa chừng nhìn ngắm xung quanh. Chúng tôi đi ngang qua Bảo tàng Louvre. Chúng tôi đảo qua những gian hàng sơn màu xanh lá dọc bờ sông.

Pont Neuf nghĩa là gì vậy sếp?” Summer hỏi tôi.

“Nghĩa là Cầu Mới,” tôi đáp.

Cô nhìn ngắm công trình cổ xưa bằng đá ấy trước mắt.

“Cầu này lâu đời nhất Paris đấy,” tôi bảo.

“Vậy sao lại gọi nó là mới?”

“Vì có thời nó đã rất mới đối với họ.”

Tôi bước vào không gian ấm áp của siêu thị. Như mọi nơi khác, quầy mỹ phẩm xuất hiện đầu tiên, nhuộm thơm không khí. Summer dẫn tôi lên quầy quần áo phụ nữ ở tầng trên. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế êm và để cô đảo quanh. Cô biến mất cả nửa tiếng đồng hồ. Rồi trở lại dưới bộ cánh hoàn toàn mới. Giày đen, váy bút chì màu đen, một chiếc áo chui đầu màu xám sọc trắng, cùng một áo khoác bằng lông cừu xám. Và một chiếc mũ bê rê. Trông cô như minh tinh vậy. Bộ quân phục và bốt dã chiến nằm trong chiếc túi của siêu thị Samaritaine trên tay cô.

“Tới lượt sếp đó,” cô bảo. Cô dẫn tôi lên tầng áo quần cho nam giới. Loại quần có độ dài trong được chín lăm phân duy nhất mà họ có là loại nhái quần bò xanh của Mỹ nhập từ Algeria, nên tôi lấy nó làm chủ đạo. Tôi mua một áo chui đầu màu xanh dương nhạt và một áo khoác da độn bông màu đen. Tôi vẫn giữ đôi bốt dã chiến của mình. Vì trông nó hợp với quần và áo khoác.

“Sếp mua mũ bê rê đi,” Summer nói, nên tôi mua một cái. Nó màu đen với viền bằng da. Tôi trả hết đống đồ bằng đô la Mỹ với tỷ giá khá tốt. Tôi thay đồ trong phòng thử. Bỏ bộ dã chiến ngụy trang trong túi cầm tay. Tôi nhìn gương, chỉnh chiếc mũ bê rê chếch lên cho ra vẻ chơi bời, rồi bước ra ngoài.

Summer không nói gì.

“Đi ăn trưa thôi,” tôi bảo.

Chúng tôi lên quán ở tầng chín. Ngoài trời quá lạnh để ngồi ở sân thượng, nhưng chúng tôi được xếp bàn ngồi bên cửa sổ với khung cảnh cũng tương tự. Chúng tôi thấy được nhà thờ Notre-Dame ở hướng Đông, và tháp Montparnasse ở tít hướng Nam. Mặt trời vẫn lơ lửng trên cao. Một thành phố tuyệt vời.

“Làm sao lão Willard tìm thấy xe của mình được nhỉ?” Summer bảo. “Lão biết nó ở đâu mà tìm? Nước Mỹ rộng lắm chứ đâu đùa.”

“Lão sao mà tìm được,” tôi nói. “Trừ phi có người báo lại với lão.”

“Ai chứ?”

“Vassell,” tôi bảo. “Hoặc Coomer. Trung sĩ của Swan nhắc tên tôi khi gọi điện thoại, khi ta còn ở trụ sở Quân đoàn XII. Nên trong lúc hai người đó tìm cách đưa Marshall ra khỏi trại, họ đã kịp gọi cho lão Willard ở Rock Creek, báo cáo rằng tôi lại đang lần mò quấy rối họ ở nước Đức này. Họ sẽ chất vấn lão vì sao lại dám để tôi sang tận đây. Và yêu cầu lão triệu hồi tôi về ngay.”

“Bọn họ đâu có quyền ra lệnh điều tra viên của đội đặc nhiệm đi đâu.”

“Bây giờ thì được rồi, nhờ lão Willard. Bọn họ là bạn nối khố mà. Tôi vừa đoán ra. Swan gần như đã nói cho chúng ta, nhưng lúc đó tôi không kịp hiểu. Lão Willard có dính líu tới bên Thiết giáp từ hồi công tác tình báo. Lão nói chuyện với ai trong từng ấy năm? Về mấy dữ liệu tiêu hao xăng dầu vớ vẩn của phe Xô Viết kia? Với bên Thiết giáp chứ ai. Bọn họ có một mối quan hệ đặc biệt. Vậy nên lão cuống quýt hết cả lên với vụ Kramer. Lão có lo lắng cho thanh danh chung của lục quân đâu chứ. Lão chỉ lo lắng cho thanh danh của binh chủng Thiết giáp thôi.”

“Vì họ là người thân thuộc của lão.”

“Đúng vậy. Đó chính là lý do Vassell và Coomer bỏ chạy đêm qua. Cũng không phải bỏ chạy nữa. Họ chỉ cho lão Willard thời gian và không gian để tiện xử lý chúng ta mà thôi.”

“Lão Willard thừa biết mình đâu có duyệt đơn thông hành của chúng ta.”

Tôi gật đầu. “Đương nhiên là thế.”

“Vậy ta đang gặp rắc rối to rồi. Chúng ta vắng mặt không phép, và đang đi lại bằng xấp giấy đi đường ăn cắp.”

“Ta sẽ ổn thôi.”

“Bằng cách nào chứ sếp?”

“Khi ta thu được kết quả.”

“Ta sẽ làm được hả sếp?”

Tôi không đáp.

Sau bữa trưa, chúng tôi bước qua bờ kia sông, đi một đường vòng dài về khách sạn. Chúng tôi nhìn y như du khách, trong thường phục, tay xách túi của Samaritaine. Chỉ thiếu mỗi máy ảnh. Chúng tôi ngắm nghía các cửa tiệm trên đại lộ St. Germain và ngắm qua vườn hoa Luxembourg. Chúng tôi tham quan điện Invalides và trường quân sự École Militaire. Rồi chúng tôi tới đường Bosquet, cách căn hộ mẹ tôi chừng năm mươi yard sau lưng. Tôi không nói cho Summer biết. Cô hẳn sẽ ép tôi rẽ vào thăm mẹ ngay. Chúng tôi lại đi qua sông Seine trên cầu Pont de l’Alma, và mua cà phê tại một tiệm ăn trên đường New-York. Rồi chúng tôi lên đồi về khách sạn.

“Đến giờ ngủ trưa rồi,” Summer bảo. “Sau đó ăn tối nhé sếp.”

Được ngủ tôi mừng lắm. Lúc ấy tôi khá mệt rồi. Tôi nằm xuống chiếc giường giữa căn phòng màu xanh dương nhạt rồi thiếp đi trong ít phút.

Hai tiếng sau Summer gọi điện thoại kêu tôi dậy. Cô hỏi xem tôi biết nhà hàng nào gần đây không. Paris vốn đầy nhà hàng, nhưng tôi đang ăn mặc như thằng dở hơi và trong túi còn không đủ ba chục đô la. Nên tôi chọn một nơi mình biết trên đường Rue Vernet. Tôi nghĩ mình có thể tới đó ăn trong trang phục quần bò và áo chui đầu mà không bị nhòm ngó, cũng như không phải trả một khoản đồ sộ. Vả lại nó cũng đủ gần để chúng tôi đi bộ. Khỏi tốn tiền taxi.

Chúng tôi gặp nhau ở sảnh. Summer trông vẫn ấn tượng lắm. Váy và áo khoác của cô đến giờ nhìn vẫn tươm tất hệt như hồi chiều. Cô đã bỏ chiếc mũ bê rê. Tôi vẫn đội cái của mình. Chúng tôi đi lên đồi tới đại lộ Champs-Élysées. Nửa đường, Summer chợt làm một việc kỳ lạ. Cô nắm lấy tay tôi. Trời đang trở tối, và xung quanh đầy các cặp đôi, nên tôi đoán cô cũng thấy tự nhiên mà làm vậy. Và tôi thấy cũng tự nhiên không kém. Tôi mất cả phút mới nhận ra cô đang nắm tay tôi. Hoặc có thể nói là, phải mất cả phút tôi mới nhận ra sự kỳ lạ của hành động ấy. Cô cũng vậy. Cuối cùng cô đỏ bừng mặt, nhìn tôi, rồi thả tay ra.

“Xin lỗi,” cô nói.

“Có gì đâu,” tôi bảo. “Thế thích mà.”

“Tự nhiên vậy thôi,” cô nói.

Chúng tôi đi tiếp rồi tới đường Rue Vernet. Tìm thấy nhà hàng đó. Đang là một buổi tối sớm sủa tháng Giêng, chủ quán tìm được ngay một bàn cho chúng tôi. Nó nằm trong góc. Trên bàn có cắm hoa với nến. Chúng tôi gọi nước lọc và một bình rượu vang đỏ để tạm uống trong khi chọn món ăn.

“Ở đây, trông sếp thoải mái như ở nhà vậy,” Summer nói với tôi.

“Không hẳn,” tôi bảo. “Tôi không thấy thoải mái ở đâu cả.”

“Sếp nói tiếng Pháp sõi mà.”

“Tôi cũng sõi tiếng Anh đó thôi. Đâu có nghĩa là tôi thấy thoải mái ở Bắc Carolina, ví dụ vậy.”

“Nhưng sếp phải thích nơi nào đó hơn những nơi khác chứ.”

Tôi gật đầu. “Nơi này cũng ổn.”

“Sếp có kế hoạch lâu dài gì không?”

“Cô nói hệt như anh trai tôi vậy. Anh ấy muốn tôi phải lên kế hoạch.”

“Mọi thứ đều sẽ thay đổi mà.”

“Họ sẽ luôn cần cảnh sát,” tôi bảo.

“Cảnh sát mà tự động vắng mặt không thèm xin phép ấy hả?”

“Chúng ta chỉ cần kết quả thôi,” tôi nói. “Kết quả cho vụ bà Kramer, hoặc Carbone. Hoặc, có thể, vụ Brubaker nữa. Chúng ta đang có dịp cắn ba miếng bánh to. Ba cơ hội.”

Cô không nói gì.

“Đừng lo,” tôi bảo. “Chúng ta có bốn mươi tám tiếng đồng hồ ở thế giới bên ngoài này. Tận hưởng chút đi. Lo lắng cũng được chi. Ta đang ở Paris đó.”

Cô gật đầu. Tôi nhìn gương mặt cô. Nhìn cô cố gắng chấp nhận điều đó. Mắt cô long lanh dưới ánh nến. Cứ như thể cô đang có rất nhiều vấn đề, chất cao thành đống, như những chồng thùng các tông chắn trước mắt vậy. Tôi nhìn cô len lỏi qua chúng, tới một nơi yên tĩnh cuối nhà kho.

“Uống rượu đi,” tôi bảo. “Vui vẻ lên.”

Tay tôi đang đặt trên bàn. Cô rướn người tới siết tay tôi rồi cầm ly rượu của mình lên.

“Bắc Carolina sẽ luôn đón chào chúng ta,” cô bảo.

Chúng tôi gọi ba món được báo giá trên thực đơn. Rồi chúng tôi dành ba tiếng đồng hồ thưởng thức. Chúng tôi không bàn chuyện công. Mà dành thời gian tâm sự. Cô hỏi về gia đình tôi. Tôi kể cô nghe một chút về Joe, và không nhiều về mẹ tôi. Cô kể chuyện bố mẹ mình, về các anh chị em, về một loạt các anh chị em họ mà tôi không nhớ kịp ai với ai. Phần lớn thời gian tôi ngắm nhìn gương mặt cô dưới ánh nến. Da cô ánh lên màu đồng dưới mái tóc màu đen gỗ mun. Mắt cô tròn như hai hòn than. Viền hàm của cô thanh tú lắm, như bằng sứ vậy. Trông cô nhỏ nhắn và dịu dàng đến khó tin, đối với một quân nhân. Nhưng tôi nhớ lại loạt huân chương bắn súng của cô. Còn nhiều hơn của tôi.

“Tôi có được gặp mẹ sếp không?” cô hỏi.

“Nếu cô muốn,” tôi nói. “Nhưng mẹ tôi ốm lắm.”

“Không chỉ bị gãy chân thôi sao?”

Tôi lắc đầu.

“Mẹ tôi bị ung thư,” tôi bảo.

“Có nặng không ạ?”

“Nặng lắm rồi.”

Summer gật đầu. “Tôi cũng đoán vậy. Nhìn sếp cứ đăm chiêu sao đó, từ sau lần đầu tới đây.”

“Tôi có vậy sao?”

“Việc đó đáng lo mà.”

Tôi gật đầu. “Đáng lo hơn tôi tưởng.”

“Sếp không thích mẹ mình à?”

“Tôi thương mẹ chứ. Nhưng, cô biết đấy, có ai sống mãi đâu. Theo lẽ thường thì những việc thế này không nên làm ta ngạc nhiên.”

“Vậy tôi nên tránh đi thì hơn. Tôi đến, e không phải phép. Sếp nên đi cùng Joe. Chỉ hai người thôi.”

“Mẹ thích gặp gỡ người mới lắm.”

“Lỡ mẹ sếp không khỏe thì sao.”

“Ta cứ nên đợi xem. Có khi mẹ muốn ra ngoài ăn trưa không biết chừng.”

“Trông bà ổn không ạ?”

“Không ổn chút nào,” tôi bảo.

“Vậy thì chắc mẹ sếp không muốn gặp người lạ đâu.”

Chúng tôi ngồi lặng đi một hồi. Bồi bàn đưa chúng tôi hóa đơn. Chúng tôi kiểm tiền, rồi chia nửa và để lại một khoản tiền boa hợp lý. Chúng tôi nắm tay trở về khách sạn. Lúc đó, việc ấy tự nhiên lắm. Chúng tôi cùng đơn độc giữa một biển phiền muộn, vài điều chung, vài điều riêng. Anh chàng đội mũ chóp cao mở cửa đón chúng tôi, rồi chúc bonne nuit. Ngủ ngon. Chúng tôi đi lên thang máy, vai kề vai, nhưng không chạm nhau. Thang máy mở cửa, và Summer phải rẽ trái, còn tôi rẽ phải. Một khoảnh khắc ngượng nghịu. Hai chúng tôi im lặng. Tôi thấy cô muốn đi với tôi, còn tôi thì rất muốn đi với cô. Tôi nhìn thấy được phòng cô trong tâm trí. Tường vàng, mùi nước hoa. Chiếc giường. Tôi tưởng tượng mình đang cởi chiếc áo mới mua qua đầu cô. Mở khóa váy của cô, và nghe nó rơi xuống sàn nhà. Tôi đoán nó có lớp vải lót bằng lụa. Tôi nghĩ nó sẽ vang lên tiếng sột soạt.

Tôi biết như vậy là không đúng đắn. Nhưng đằng nào chúng tôi cũng đã vắng mặt không xin phép. Chúng tôi đang ngập sẵn trong đống bùn rồi. Có chăng, đây cũng là một chút khuây khỏa và an ủi, giữa biết bao biến cố ngoài kia.

“Mấy giờ sáng mai ta gặp nhau?” cô hỏi.

“Tôi sẽ dậy sớm.” tôi bảo. “Tôi phải đến sân bay lúc sáu giờ sáng.”

“Tôi sẽ đi với sếp. Để sếp khỏi phải đi một mình.”

“Cảm ơn.”

“Hân hạnh mà,” cô bảo.

Chúng tôi đứng ngây ra đó.

“Mình phải dậy lúc bốn giờ sáng đó,” cô bảo.

“Chắc vậy,” tôi nói. “Bốn giờ sáng.”

Chúng tôi vẫn đứng yên.

“Vậy, chắc, chúc sếp ngủ ngon,” cô lên tiếng.

“Cô ngủ ngon,” tôi bảo.

Tôi rẽ phải. Không quay lại. Tôi nghe tiếng cửa phòng cô mở ra rồi đóng lại, một giây sau cửa phòng tôi.

Lúc ấy đã mười một giờ. Tôi lên giường, nhưng không ngủ. Tôi chỉ nằm đó nhìn lên trần nhà cả tiếng đồng hồ. Từ ô cửa sổ nhập nhoạng ánh đèn của thành phố ngoài kia. Thành phố đèn vàng, lạnh lẽo và mờ sương. Tôi nhìn thấy ánh sáng tiệc tùng nhấp nháy trên tháp Eiffel. Ánh vàng lập lòe, tắt rồi bật, theo tốc độ nửa nhanh, nửa chậm, và không ngừng nghỉ. Chúng hắt lên và biến tấm thạch cao trang trí trên trần phòng tôi thành những hình thù khác lạ, cứ mỗi giây lại đổi. Tôi nghe tiếng thắng xe tại một con phố đâu đây, tiếng ăng ẳng của một con chó nhỏ, tiếng chân cô độc bên dưới cửa sổ phòng, và tiếng còi xe ở đằng xa. Rồi thành phố đột nhiên im bặt, để cái tĩnh lặng bủa vây quanh tôi. Nó hú lên liên hồi, như chiếc còi vậy. Tôi giơ cổ tay lên. Nhìn đồng hồ. Đã nửa đêm. Tôi thả tay xuống giường, và lặng lẽ nghe cơn sóng cô độc vỗ lên người, dồn dập đến mức không thở nổi.

Tôi bật đèn, rồi xoay qua chiếc điện thoại. Bên cạnh nút số, có dán một bảng hướng dẫn. Để gọi qua một phòng khác trong khách sạn, mời bấm số ba, theo sau đó là số phòng. Tôi bấm số ba, rồi tới số phòng. Cô nhấc mấy, ngay khi tiếng chuông đầu vừa dứt.

“Cô còn thức?” tôi hỏi.

“Ừm,” cô nói.

“Cô cần người bầu bạn không?”

“Ừm,” cô đáp.

Tôi mặc quần bò và áo khoác, rồi đi chân đất ra hành lang. Gõ cửa phòng. Cô mở cửa, vươn tay kéo tôi vào trong. Cô vẫn đang mặc đầy đủ áo quần trên người, vẫn váy ôm và áo khoác. Cô hôn tôi nồng nhiệt ngay tại cửa, và tôi đáp lại, còn nồng nhiệt hơn. Cánh cửa đóng lại sau lưng chúng tôi. Tôi nghe tiếng tay co cửa rít lên và tiếng lạch cạch khi cửa sập lại. Chúng tôi hướng tới chiếc giường.

Cô mặc áo lót màu đỏ đậm. Nó bằng lụa, hoặc vải xa tanh gì đó. Mùi nước hoa ở khắp nơi. Chúng phảng phất trong phòng, và trên cơ thể cô. Cô nhỏ nhắn, thanh tú, và nhanh nhẹn, mạnh mẽ. Ánh đèn thành phố ban nãy vẫn hắt qua cửa sổ. Giờ chúng nhuộm lên người tôi một màu ấm áp. Giúp tôi thêm năng lượng. Tôi thấy ánh đèn từ tháp Eiffel hắt lên trần nhà. Chúng tôi hòa nhịp của cả hai cùng với nhịp đèn bên ngoài, bắt đầu chậm, rồi nhanh, và gấp gáp. Sau đó chúng tôi ôm lấy nhau nằm quay lưng về phía ánh đèn, mệt nhoài và thở dốc, gần gũi nhưng không ai lên tiếng, như thể chúng tôi vẫn chưa tin được điều mình vừa làm.

Tôi thiếp đi cả tiếng và tỉnh dậy trong tư thế cũ. Tôi có cảm giác rất rõ ràng rằng mình vừa mất đi điều gì, và vừa đạt được điều gì, dù không thể cắt nghĩa chúng. Summer vẫn ngủ yên. Cô cuộn mình theo đường cong của cơ thể tôi. Cô rất thơm. Và ấm áp. Cô toát lên vẻ mềm mại, mạnh mẽ và an nhiên. Cô thở chậm. Tay trái của tôi đặt dưới vai cô, trong khi tay phải tôi đắp lên eo cô. Tay cô úp lên tay tôi, nửa duỗi, nửa nắm lấy.

Tôi xoay đầu và nhìn ánh đèn chơi đùa trên trần nhà. Tôi nghe tiếng xe máy loáng thoáng đâu đó cách chừng một dặm, bên kia Khải Hoàn Môn. Tôi nghe tiếng chó sủa xa xa. Ngoài những tiếng đó ra, thì thành phố hoàn toàn im lặng. Hai triệu người say nồng trong giấc ngủ. Joe đang bay trên bầu trời, đâu đó trên Đường Tròn Lớn, có lẽ gần Iceland. Tôi không hình dung ra mẹ. Tôi nhắm mắt. Cố ngủ một lần nữa.

Đồng hồ trong đầu lôi tôi dậy vào đúng bốn giờ sáng. Summer vẫn đang ngủ. Tôi rút nhẹ tay về từ dưới người cô, trở người trườn ra khỏi giường, và lảo đảo qua tấm thảm tới phòng tắm. Tôi mặc quần, tròng vào áo, rồi đánh thức Summer bằng một nụ hôn.

“Dậy thôi, Trung úy,” tôi bảo.

Cô duỗi căng tay rồi ưỡn người. Tấm chăn trườn khỏi eo cô.

“Chào buổi sáng,” cô nói.

Tôi hôn cô lần nữa.

“Em thích Paris,” cô bảo. “Ở đây vui mà.”

“Anh cũng thấy vậy,”

“Cực kỳ vui.”

“Nửa tiếng nữa xuống sảnh,” tôi bảo.

Tôi trở về phòng mình rồi gọi phục vụ mang cà phê lên. Cà phê tới nơi khi tôi vừa tắm rửa, cạo râu xong. Tôi mở cửa đón khay cà phê, trên người quấn mỗi khăn tắm. Rồi tôi mặc bộ dã chiến mới, rót ly đầu tiên và kiểm tra đồng hồ. Lúc ấy là bốn giờ hai mươi phút sáng ở Paris, tức là mười giờ hai mươi tối ở Bờ Đông Mỹ, đồng nghĩa với việc các nhà băng đã đóng cửa nghỉ từ lâu. Và với Bờ Tây Mỹ thì mới chỉ bảy giờ hai mươi tối, vẫn khá sớm đối với một tay nhân viên nhà băng cần cù nào đó. Tôi nhìn kỹ bảng hướng dẫn bên điện thoại, rồi nhấn gọi số chín. Sau đó tôi bấm dãy số điện thoại duy nhất mà tôi thuộc tới già, đó là số điện thoại tổng đài ở Rock Creek, bang Virginia. Một tổng đài viên đáp máy sau hồi chuông đầu tiên.

“Reacher đây,” tôi nói. “Tôi cần số điện thoại của sĩ quan điều hành Quân cảnh ở trại Irwin.”

“Thua sếp, hiện tại đang có lệnh từ đại tá Willard, yêu cầu sếp trở về doanh trại ngay lập tức ạ.”

“Tôi sẽ cố gắng về càng sớm càng tốt. Nhưng tôi cần số điện thoại kia trước tiên.”

“Thưa sếp, hiện tại sếp đang ở đâu?”

“Trong một nhà thổ ở Sydney, Úc,” tôi bảo. “Đưa tôi số điện thoại ở trại Irwin kia ngay.”

Anh ta đưa tôi số điện thoại đó. Tôi nhắc thầm nó trong đầu, nhấn phím số chín, rồi bấm số. Trung sĩ của Calvin Franz đáp máy, ngay hồi chuông thứ hai.

“Tôi cần gặp Franz,” tôi bảo.

Bên kia vang lên tiếng tách, rồi im lặng, và tôi đợi một lúc lâu mới nghe thấy tiếng Franz.

“Tôi cần nhờ cậu làm một việc,” tôi bảo.

“Việc gì?”

“Ở chỗ cậu đang có một thằng cha tên là Marshall thuộc Quân đoàn XII. Cậu biết hắn không?”

“Không.”

“Tôi cần hắn ở yên đó cho đến khi tôi tới nơi. Việc hệ trọng.”

“Tôi đâu có lưu người ta ở trong trại được, trừ phi bắt giữ họ.”

“Cứ bảo hắn rằng có tôi gọi từ Berlin. Chỉ vậy là đủ. Chỉ cần hắn nghĩ tôi vẫn đang ở Đức, hắn sẽ ở yên tại California.”

“Vì sao?”

“Bởi vì cấp trên yêu cầu hắn làm vậy.”

“Hắn có biết cậu không?”

“Không biết trực tiếp.”

“Thế thì tôi biết nói quái gì với hắn đây. Chẳng lẽ tôi cứ xông tới chỗ một tay mình chưa bao giờ gặp rồi bảo, Này, tin nóng hổi đây, một thằng cha mà chính anh cũng chưa từng gặp, tên là Reacher, muốn anh biết rằng hắn ta đang kẹt lại ở Berlin à.”

“Vậy thì nói kheo khéo vào,” tôi bảo. “Bảo là tôi nhờ anh hỏi hắn một câu, vì chẳng cách nào tôi tự đến đó được cả.”

“Câu gì?”

“Hỏi hắn về hôm đám tang Kramer. Lúc ấy hắn có đang ở Arlington không? Hắn làm gì cả ngày sau đó? Tại sao hắn không lái xe chở sếp mình tới Bắc Carolina? Sếp hắn dặn những gì khi bọn họ muốn tự lái xe tới đó?”

“Bốn câu rồi đấy.”

“Sao cũng được, miễn là nghe như cậu đang hỏi giùm tôi vì tôi không định bay tới California.”

“Tôi gọi lại cho cậu bằng cách nào đây?”

Tôi nhìn xuống điện thoại, rồi đọc số của khách sạn George V.

“Đây là số Pháp,” anh ta bảo. “Chứ đâu phải Đức.”

“Marshall không cần biết điều này,” tôi bảo. “Tôi sẽ trở lại đây sau.”

“Khi nào cậu mới tới California?”

“Trong vòng bốn mươi tám tiếng tới, hy vọng vậy.”

“OK,” anh ta nói. “Còn gì nữa không?”

“Có,” tôi bảo. “Gọi trại Bird giùm tôi, và nhờ trung sĩ của tôi tìm ngay hồ sơ lý lịch của chuẩn tướng Vassell và đại tá Coomer. Đặc biệt, tôi muốn biết một trong hai người đó có liên quan gì đến một nơi tên là Sperryville ở Virginia không. Sinh ra ở đó, lớn lên ở đó, có người thân, hay bất cứ mối quan hệ nào chứng minh rằng họ rành rõi các cửa tiệm bán lẻ ở đấy. Bảo cô ấy giữ kín câu trả lời cho đến khi tôi gọi.”

“OK,” anh ta nhắc lại. “Vậy thôi phải không?”

“Không,” tôi bảo. “Đồng thời dặn cô ấy gọi cho thanh tra Clark ở Green Valley, và yêu cầu anh ta fax giùm kết quả dò hỏi của vụ đêm Giao thừa. Cô ấy sẽ hiểu ý tôi.”

“Tôi mừng là có người hiểu,” Franz nói.

Anh ta ngừng. Vì bận ghi chép lại.

“Chỉ có vậy thôi phải không?” anh ta bảo.

“Tạm thời là thế,” tôi nói.

Tôi cúp máy rồi xuống sảnh, sau Summer năm phút. Cô đã đợi sẵn ở đó. Cô nhanh hơn tôi. Nhưng, cũng vì cô đâu phải cạo râu, và tôi đoán cô đâu phải gọi điện cho ai hay uống một hai tách cà phê đâu. Giống tôi, cô đã mặc lại bộ đồng phục dã chiến. Bằng cách nào đó, cô đã kịp lau chùi đôi bốt của mình, hoặc nhờ người lau chùi. Nhìn chúng bóng loáng.

Chúng tôi không đủ tiền đi taxi ra sân bay. Nên chúng tôi đi bộ dưới màn đêm trước bình minh, tới quảng trường Place de 1’Opéra đón xe buýt. Nó vắng hơn đợt trước, nhưng vẫn chẳng thoải mái gì. Chúng tôi ngắm nhìn thoáng qua cảnh thành phố im lìm trong giấc ngủ, rồi đi vào đại lộ vành đai Périphérique, và chậm rãi trườn qua chốn ngoại ô ảm đạm rìa ngoài thành phố.

Chúng tôi tới sân bay Roissy-Charles de Gaulle trước sáu giờ sáng. Ở đó đã rất nhộn nhịp. Tôi nghĩ các sân bay hoạt động theo một khung giờ riêng nào đó. Sáu giờ sáng nơi đây còn đông đúc hơn cả lúc giữa buổi chiều. Ở đâu cũng đầy người. Xe cộ, xe buýt các loại tới đón khách, thả khách, du khách mắt đỏ ngầu đi ra đi vào, vật lộn với đống hành lý của mình. Trông như thể cả thế giới này đang dịch chuyển vậy.

Tấm bảng điện thông báo rằng chuyến bay của Joe đã đáp. Chúng tôi đi tới cửa ra chỗ quầy hải quan. Đứng chung với nhóm người tiễn và đón người thân. Tôi đoán Joe sẽ là một trong những hành khách ra đầu tiên. Anh sẽ xuống máy bay rất nhanh, và cũng chẳng ký gửi kiện hành lý nào. Máy bay cũng không bị trễ giờ.

Chúng tôi thấy vài người lảo đảo bước ra từ chuyến bay trước. Đa số là những gia đình bị đám trẻ con làm chậm lại, hoặc khách đi riêng phải đứng chờ hành lý quá tải. Người trong đám đông háo hức xoay ra nhìn họ, rồi lại quay đi khi nhận ra không phải người quen. Tôi đứng quan sát cho qua thì giờ. Đúng là một trạng thái kỳ khôi của đám đông. Chỉ qua một cử động nhỏ mà ta thấy được sự quan tâm, và sau đó là hoàn toàn hờ hững. Chào đón, rồi làm lơ. Hơi xoay đầu ra trước, rồi lại quay ngoắt đi. Nhiều khi còn chẳng có gì ngoài một thoáng chuyển động cơ thể, đổi chân trụ từ bên này sang bên kia.

Những hành khách cuối cùng hòa vào đoàn người từ chuyến bay của Joe. Có những vị thương gia di chuyển rất nhanh, tay xách nách mang những va li và túi đựng áo vét. Có những phụ nữ mang giày cao gót và đeo kính đen, ăn mặc đắt tiền. Người mẫu? Diễn viên? Hay gái gọi? Có những công chức, Pháp lẫn Mỹ. Tôi chỉ cần nhìn qua cách họ ăn mặc là biết. Rất chỉn chu và nghiêm túc, đeo kính, nhưng giày, áo vét và áo khoác đều là hàng tầm tầm. Chắc là quan chức ngoại giao cấp thấp. Chuyên bay cũng khởi hành từ Thủ đô mà.

Joe là người thứ mười hai trong đoàn bước ra. Anh vẫn mặc chiếc áo khoác ngoài tôi thấy lúc trước, nhưng áo vét và cà vạt khác. Trông anh bảnh tỏn lắm. Anh đi rất nhanh và tay xách theo chiếc túi đựng đồ cá nhân màu đen bằng da. Anh cao hơn mọi người xung quanh cả cái đầu. Anh bước ra khỏi cửa, đứng khựng lại, rồi đảo mắt nhìn quanh.

“Trông hệt như anh,” Summer bảo.

“Nhưng anh dễ thương hơn,” tôi nói.

Anh nhận ra tôi ngay, vì tôi cũng cao hơn mọi người cả cái đầu. Tôi chỉ tay tới một điểm cách xa đám đông. Anh len lỏi giữa dòng người tới chỗ đó. Chúng tôi đi vòng qua và gặp anh.

“Trung úy Summer,” anh lên tiếng. “Rất vui được gặp cô.”

Tôi còn không thấy anh nhìn qua bảng tên trên áo cô, nơi ghi dòng chữ Summer, Lục quân Hoa Kỳ. Hay thấy anh để ý vạch trung úy trên cổ áo của cô nữa. Chắc anh nhớ tên và cấp bậc của cô từ đợt chúng tôi nói chuyện hồi trước.

“Anh ổn chứ?” tôi hỏi anh.

“Anh mệt lắm,” anh đáp.

“Ăn sáng không anh?”

“Ta vào phố hẵng.”

Dòng người đợi taxi dài cả dặm, và di chuyển rất chậm chạp. Chúng tôi bỏ qua. Tới thẳng trạm xe buýt navette kia. Chúng tôi lỡ mất một chuyến, thành ra đứng đầu hàng chờ chuyến sau. Xe tới trong khoảng mười phút. Joe tranh thủ thời gian đợi, hỏi han Summer về chuyến tham quan Paris này. Cô kể anh nghe vài chương, vài dòng, nhưng không kể về chuyện xảy ra sau nửa đêm. Tôi đứng trên vỉa hè quay lưng về đường chính, nhìn bầu trời phía Đông trên mái nhà ga. Bình minh đang lên nhanh. Sẽ lại là một ngày nắng rạng rỡ. Hôm ấy là mồng mười tháng Giêng, và đó là tiết trời đẹp nhất mà tôi từng thấy kể từ khi thập kỷ mới này bắt đầu.

Chúng tôi lên xe buýt, rồi ngồi ở ba ghế liền nhau, đối diện kệ đựng hành lý. Summer ngồi giữa. Joe ngồi phía trước cô, còn tôi ngồi sau lưng. Những chiếc ghế vừa nhỏ, vừa khó ngồi. Nhựa cứng. Không có chỗ duỗi chân. Joe phải ngồi ép đầu gối lên tới tai, còn đầu thì ngả hết qua trái lại qua phải khi xe chạy. Trông anh xanh xao lắm. Tôi đoán tiếp đón anh bằng cách ném lên một chiếc xe buýt như thế này chẳng phải nồng hậu gì, nhất là sau một chuyến bay vượt Đại Tây Dương. Tôi cũng cảm thấy chút có lỗi. Nhưng dù sao, người tôi cũng to ngang anh. Tôi cũng có rắc rối với chỗ ngồi của mình. Và tôi cũng chẳng được ngủ đủ giấc. Vả lại, tôi đang rỗng túi. Mà tôi nghĩ được di chuyển cũng đỡ hơn bắt anh phải xếp hàng đứng chờ taxi suốt cả tiếng.

Mặt anh khởi sắc hơn khi chúng tôi tiến vào đại lộ vành đai Périphérique, tới khu đô thị huy hoàng được Haussmann quy hoạch. Mặt trời đã ló dạng, và thành phố lóng lánh dưới ánh nắng vàng mật ong. Các tiệm cà phê đã đông đúc, còn đường phố đã chật người đi đường, nhịp điệu ung dung, tay cầm những ổ bánh mì và báo mới. Người dân thành phố Paris không được làm việc quá ba mươi lăm tiếng một tuần, nên họ thong thả dành một trăm ba mươi ba giờ đồng hồ còn lại để không làm gì cả. Chỉ nhìn ngắm họ thôi cũng thấy thoải mái rồi.

Chúng tôi lại xuống xe ở trạm quen thuộc tại quảng trường Place de 1’Opéra. Sau đó đi về hướng Nam mà tuần trước chúng tôi vừa đi, qua sông trên cầu Pont de la Concorde, quẹo về hướng Tây đi dọc đường Quai d’Orsay, rồi quẹo hướng Nam đường Rapp. Chúng tôi đi tới tận đường Rue de l’Université, nơi có thể nhìn thấy được tháp Eiffel, thì đột nhiên Summer đứng sững lại.

“Em muốn đi xem tòa tháp,” cô bảo. “Hai anh em cứ đi thăm mẹ đi.”

Joe nhìn tôi. Cô ấy có biết không? Tôi gật đầu. Cô ấy biết rồi.

“Cảm ơn Trung úy,” anh bảo. “Anh em tôi sẽ xem tình trạng bà ra sao. Nếu bà có sức, chắc hẹn gặp cô ở bữa trưa nhé.”

“Hãy gọi em bằng số khách sạn,” cô dặn.

“Em biết đường về đó chứ?” tôi hỏi.

Cô quay lại rồi chỉ về hướng Bắc xuôi theo con đường. “Qua cầu rồi lên đồi, bên tay trái. Một đường thẳng.”

Tôi mỉm cười. Cô cũng khá tinh đường. Joe có vẻ thấy khó hiểu. Anh nhìn theo hướng cô chỉ, và biết có gì ở nơi đó.

“Khách sạn George V cơ à?” anh hỏi.

“Sao lại không?” tôi đáp.

“Tiền quân đội trả chứ hả?”

“Ít nhiều là vậy,” tôi bảo.

“Tuyệt hảo.”

Summer rướn người hôn lên má tôi, rồi bắt tay anh Joe. Chúng tôi đợi đó dưới ánh nắng nhẹ nhàng mơn trên vai, nhìn cô bước đi về hướng chân tòa tháp. Có một dòng nho nhỏ khách tham quan cũng đi theo hướng đó. Chúng tôi còn thấy cả các tiệm bán đồ lưu niệm bắt đầu bày hàng. Chúng tôi đứng đó, và ngắm nhìn họ từ xa. Nhìn Summer hóa nhỏ dần, nhỏ dần, rồi mất dạng.

“Cũng dễ thương đấy,” Joe nói. “Chú đào đâu ra cô ấy vậy?”

“Cô ấy cũng ở trại Bird.”

“Chú đã biết chuyện gì đang xảy ra chưa?”

“Gần biết rồi anh.”

“Anh cũng mong chú chóng biết. Chú ở đó gần hai tuần rồi còn gì.”

“Anh còn nhớ thằng cha mà em hỏi lúc trước không? Lão Willard ấy? Chắc lão phải quen biết với bên Thiết giáp chứ nhỉ?”

Joe gật đầu. “Anh chắc chắn lão phải báo cáo trực tiếp với họ. Tất tần tật những thông tin lão tìm ra dâng cho bên tình báo của họ.”

“Anh có nhớ được cái tên nào không?”

“Bên Thiết giáp á? Không hẳn. Anh có bao giờ để ý lão Willard đâu. Việc lão làm lúc ấy hiếm người hiểu lắm. Kiểu như việc ngoài lề thôi ấy.”

“Vậy anh có nghe thấy cái tên Marshall bao giờ chưa?”

“Không nhớ,” Joe đáp.

Tôi không nói gì. Joe quay đi và nhìn về hướng Nam con đường. Rồi quấn chặt áo khoác và ngẩng lên nhìn trời.

“Đi thôi,” anh bảo.

“Lần gần nhất anh gọi cho mẹ là bao giờ?”

“Ngày hôm kia. Sau đến lượt chú đấy.”

Chúng tôi đi xuôi con đường, bên cạnh nhau, hòa cùng nhịp ung dung của những người xung quanh.

“Anh ăn sáng không?” tôi hỏi. “Ta không nên làm mẹ thức giấc.”

“Cô y tá sẽ cho ta vào mà.”

Có một chiếc xe leo lên vỉa hè bị bỏ lại. Có vẻ là tai nạn gì đó. Thanh cản sốc đã bẹp rúm cùng một bánh xe bị xịt. Chúng tôi bước ra lòng đường đi vòng qua nó. Rồi thấy một chiếc xe màu đen lớn, đậu chiếm chỗ trên đường cách chúng tôi chừng bốn chục yard.

Chúng tôi trân mắt nhìn nó.

Un corbillard,” Joe nói.

Xe tang.

Chúng tôi dán mắt vào nó. Cố đoán xem nó đang đợi phía tòa nhà nào. Cố đoán khoảng cách. Đứng trực diện thế này khó mà đoán được. Tôi ngước lên viền mái nhà. Thấy một mặt tiền bằng đá vôi theo phong cách Belle Époque trước tiên, cao bảy tầng. Rồi hụp xuống tòa nhà sáu tầng giản dị hơn của mẹ tôi. Tôi đưa mắt dọc từ trên mái xuống cổng trước. Tới mặt đường. Tới chiếc xe tang. Nó đang đợi trước cửa nhà mẹ tôi.

Chúng tôi vùng chạy.

Có một người đàn ông đội mũ lụa đen đang đứng đợi bên vỉa hè. Cánh cổng ngoài hướng vào tòa nhà của mẹ tôi đang mở toang. Chúng tôi nhìn người đàn ông đội mũ đó, rồi bước qua cửa vào sân trong. Nhân viên lễ tân đứng ngay cửa. Cô đang cầm một chiếc khăn tay, mắt ngấn lệ. Cô không để ý tới chúng tôi. Chúng tôi chạy tới thang máy. Đi lên lầu năm. Thang máy chạy chậm kinh khủng.

Cánh cửa vào căn hộ mở toang. Tôi thấy những người đàn ông mặc áo choàng đen đứng bên trong. Có ba người cả thảy. Chúng tôi bước vào. Những người áo đen lùi lại. Họ không nói gì. Cô gái với cặp mắt long lanh bước ra từ nhà bếp. Trông cô xanh xao lắm. Cô khựng lại khi thấy chúng tôi. Rồi cô quay người, chậm rãi bước qua phòng đón chúng tôi.

“Sao vậy?” anh Joe hỏi.

Cô không trả lời.

“Khi nào?” tôi hỏi.

“Đêm qua ạ,” cô đáp. “Bà ra đi thanh thản lắm.”

Những người áo đen nhận ra chúng tôi là ai liền rục rịch ra ngoài hành lang. Họ rất lặng lẽ. Không một âm thanh nào cả. Joe lảo đảo bước tới một bước rồi ngồi xuống sofa. Tôi đứng yên. Tôi đúng yên giữa căn phòng.

“Từ khi nào?” tôi hỏi lại.

“Nửa đêm ạ,” cô gái đáp. “Khi bà đang ngủ.”

Tôi nhắm mắt. Một phút sau mở ra. Cô gái vẫn ở đó. Mắt cô chạm mắt tôi.

“Lúc ấy cô có ở đây không?” tôi hỏi.

Cô gật đầu.

“Không lúc nào rời ạ,” cô đáp.

“Lúc ấy có bác sĩ nào không?”

“Bà đuổi ông ấy đi ạ.”

“Vậy chuyện là sao?”

“Bà bảo mình thấy rất ổn. Bà lên giường lúc mười một giờ. Bà ngủ một tiếng, rồi không thở nữa.”

Tôi nhìn lên trần nhà. “Bà có đau không?”

“Phút cuối thì không ạ.

“Nhưng bà nói mình ổn mà.”

“Đã đến lúc của bà rồi ạ. Em đã thấy nhiều người như vậy.”

Tôi nhìn cô, rồi quay đi.

“Hai anh có muốn gặp bà không?” cô gái hỏi.

“Joe?” tôi hỏi. Anh lắc đầu. Ngồi yên trên ghế. Tôi bước vào phòng ngủ. Bên cạnh giường đã có một chiếc quan tài bằng gỗ gụ đặt trên giá đỡ lót nệm nhung. Trong quan lót lớp lụa trắng và trống rỗng. Mẹ vẫn đang nằm trên giường. Chăn gối đã được xếp gọn xung quanh. Đầu mẹ ngả êm ái trên gối, và tay để ngoài chăn đặt chéo trên ngực. Mắt mẹ nhắm nghiền. Khó mà nhận ra được mẹ lúc ấy.

Summer từng hỏi tôi: Nhìn thấy người chết sếp có khó chịu không?

Không, tôi trả lời.

Sao lại không? cô hỏi tôi.

Tôi không biết, tôi đáp.

Tôi chưa từng thấy xác bố. Lúc bố chết tôi còn đang ở tận đâu. Bệnh tim. Một bệnh viện nào đó dành cho cựu binh đã làm hết sức có thể, nhưng ngay từ đầu đã vô vọng rồi. Tôi đã bay tới vào buổi sáng hôm đám tang rồi bay đi cùng ngày.

Đám tang, tôi nghĩ thầm.

Để Joe lo liệu.

Tôi nán lại phòng ngủ của mẹ suốt năm phút đằng đẵng, hai mắt mở to, ráo hoảnh. Rồi tôi bước ra phòng khách. Ngoài ấy lại chật người. Nhóm croques-mort đã trở lại. Những người hộ tang. Và ngồi bên cạnh Joe, trên sofa, là một người đàn ông cao tuổi. Ông ngồi cứng người ra đó. Bên cạnh là hai thanh gậy chống. Tóc ông mỏng, màu xám, ông mặc bộ vét đen với một cái huân chương nhỏ trên ve áo. Đỏ, trắng và xanh, chắc là Huân chương Chiến công Chữ thập, hoặc là Huân chương Kháng chiến. Ông đặt một hộp các tông nhỏ trên hai đầu gối trơ xương. Nó được thắt một cái nơ đỏ phai màu.

“Đây là Monsieur Lamonnier,” Joe bảo. “Bạn gia đình.”

Người đàn ông cao tuổi kia nắm lấy gậy chống, rồi bắt đầu chật vật đứng dậy định bắt tay tôi, nhưng tôi phẩy tay mời ông ngồi xuống và bước tới gần. Nhìn ông có vẻ đã bảy lăm hay tám mươi gì rồi. Ông gầy, nhăn nheo và khá cao so với một người Pháp.

“Cậu là người bà ấy gọi là Reacher đây nhỉ,” ông nói.

Tôi gật đầu.

“Tôi đây,” tôi bảo. “Nhưng tôi không nhớ ông là ai.”

“Hai ta chưa gặp nhau bao giờ. Nhưng ta biết mẹ cậu từ lâu lắm rồi.”

“Cảm ơn ông đã ghé qua.”

“Cậu cũng vậy,” ông đáp.

Được lắm, tôi nghĩ thầm.

“Có gì trong hộp thế ạ?” tôi hỏi.

“Những thứ bà ấy không chịu để ở đây,” ông nói. “Nhưng tôi lại thấy, trong giờ phút thế này, hai đứa con của bà ấy cần thấy chúng ở đây.”

Ông đưa tôi chiếc hộp, như thể nó là một trọng trách linh thiêng. Tôi nhận nó rồi ôm dưới cánh tay. Nó không nhẹ cũng không nặng. Tôi đoán trong đó là một cuốn sách. Chắc là một quyển nhật ký bọc da. Và vài thứ khác nữa.

“Joe,” tôi bảo. “Đi ăn sáng thôi nào.”

Chúng tôi đi nhanh mà không có chủ đích. Chúng tôi rẽ vào đường Rue St. Dominique, và đi qua hai quán cà phê ngay đầu đường Rue de l’Exposition mà không dừng lại mua gì. Chúng tôi không đợi đèn, băng qua đường Bosquet rồi tùy tiện rẽ vào đường Rue Jean Nicot. Anh Joe dừng lại ở một tiệm tabac để mua thuốc lá. Lúc ấy tôi đã cười nếu tâm trạng không chán chường đến vậy. Bởi vì con đường được đặt theo tên gã đã tìm ra nicotine.

Chúng tôi cùng châm thuốc khi đi trên vỉa hè, rồi tạt ngay vào quán cà phê đầu tiên mình thấy. Chúng tôi đi bộ đủ rồi. Và đã sẵn sàng để nói chuyện với nhau.

“Chú đợi anh làm gì chứ,” Joe bảo. “Đêm qua lẽ ra chú đã kịp gặp mẹ lần cuối rồi.”

“Em cũng có linh cảm,” tôi nói. “Nửa đêm qua, tự nhiên em thấy lạ lắm.”

“Chú đã có thể ở bên cạnh mẹ.”

“Giờ thì muộn rồi.”

“Nếu vậy thì anh đã yên lòng.”

“Nhưng mẹ lại không thích vậy.”

“Lẽ ra ta nên nán lại tuần trước.”

“Mẹ đâu muốn mình nán lại đâu, Joe. Đó không phải ý mẹ. Mẹ là người tự chủ, có quyền riêng tư. Ngoài làm mẹ ra, mẹ cũng có cuộc đời riêng chứ.”

Anh im bặt. Bồi bàn mang cho chúng tôi cà phê, và một rổ rơm đựng bánh sừng trâu. Anh ta như đọc được tâm trạng của hai chúng tôi. Nên nhẹ nhàng đặt đồ xuống rồi quay đi.

“Anh lo liệu đám tang nhé?” tôi hỏi.

Joe gật đầu. “Bốn ngày tới anh sẽ tổ chức. Chú có nán lại được không?”

“Không ạ,” tôi đáp. “Nhưng em sẽ quay lại.”

“OK,” anh bảo. “Anh sẽ ở lại chừng một tuần. Chắc phải tìm di chúc của mẹ. Có khi phải bán nhà của mẹ luôn. Hay chú lấy nó mà ở?”

Tôi lắc đầu. “Em không lấy đâu. Còn anh?”

“Anh chưa nghĩ ra cách sử dụng căn nhà đó.”

“Một mình đến gặp mẹ, em thấy không hay,” tôi bảo.

Joe không đáp.

“Cả hai anh em mình đều gặp mẹ tuần trước rồi,” tôi nói. “Ba mẹ con mình đã ngồi với nhau. Lúc ấy mọi người đều vui vé.

Chú nghĩ thế à?

“Mọi người đều vui vẻ. Đấy mới là điều mẹ muốn. Thế nên mẹ mới gắng gượng vậy chứ. Thế nên mẹ mới rủ mình ra tiệm Polidor. Mẹ có ăn gì ở đó đâu.”

Anh chỉ nhún vai. Chúng tôi uống cà phê trong im lặng. Tôi cắn thử một miếng bánh sừng trâu. Cũng không đến nỗi, nhưng lúc ấy tôi không có bụng ăn. Tôi đặt nó lại vào rổ bánh.

“Đời,” Joe nói. “Thật là khó hiểu vô cùng. Một người sống sáu chục năm, làm đủ chuyện, biết đủ điều, cảm nhận đủ thứ, rồi chết. Như thể tất cả chưa từng xảy ra vậy.”

“Ta sẽ luôn nhớ đến mẹ mà anh.”

“Không, ta chỉ nhớ phần nào của mẹ thôi. Chỉ những phần mẹ chọn chia sẻ với ta. Chỉ bề nổi của tảng băng. Những phần còn lại, chỉ mình mẹ biết. Vậy nên những phần đó không còn tồn tại nữa rồi. Từ bây giờ trở đi.”

Chúng tôi hút thêm điếu thuốc nữa và ngồi trong yên lặng. Rồi chúng tôi đi bộ trở về, chậm rãi, bên cạnh nhau, thấy hơi kiệt sức, và một chút thanh thản.

Cỗ quan tài đã nằm trong chiếc corbillard khi chúng tôi trở về tòa nhà của mẹ. Hẳn họ đã phải dựng nó thẳng đứng trong thang máy. Cô lễ tân đang đứng ngoài vỉa hè, bên cạnh người đàn ông cao tuổi đeo huân chương. Ông đang tựa vào gậy chống. Cô y tá cũng ở đó, nhưng đứng một mình. Nhóm hộ tang chắp tay trước người. Họ chỉ nhìn xuống đất.

“Họ sẽ đưa bà đến dépôt mortuaire,” cô y tá nói.

Nhà tang lễ.

“OK,” Joe đáp.

Tôi không nán lại. Tôi chào tạm biệt cô y tá, cô lễ tân rồi bắt tay với người đàn ông cao tuổi kia. Xong tôi gật đầu chào anh Joe, rồi bước đi tiếp. Tôi không ngoái lại. Tôi băng qua sông Seine trên cầu Pont de l’Alma, và đi dọc đường George V về khách sạn. Tôi leo lên thang máy tới phòng mình. Tôi vẫn kẹp trong tay chiếc hộp của người đàn ông kia. Tôi thảy nó lên giường rồi đứng lặng, hoàn toàn không biết mình phải làm gì tiếp theo.

Hai chục phút sau, tôi vẫn còn đang đứng đó thì điện thoại đổ chuông. Người gọi là Calvin Franz, từ trại Irwin ở California. Anh ta phải lặp lại tên mình tới hai lần. Lần đầu, tôi còn không nhận ra đó là ai nữa.

“Tôi vừa nói chuyện với Marshall,” anh ta nói.

“Ai cơ?”

“Thằng cha ở Quân đoàn XII của cậu đó.”

Tôi không nói gì.

“Cậu ổn chứ?”

“Xin lỗi,” tôi đáp. “Tôi ổn. Cậu vừa nói chuyện với Marshall.”

“Hắn có tới đám tang của Kramer. Hắn lái xe chở Vassell và Coomer tới đó, cả đi và về. Rồi hắn quả quyết rằng suốt phần ngày còn lại hắn không chở họ nữa vì còn bận dự cuộc họp quan trọng nào đó ở Lầu Năm Góc cả buổi chiều.”

“Nhưng sao?”

“Tôi không tin hắn chứ sao. Hắn là một tay chạy việc mà. Nếu Vassell và Coomer muốn hắn làm tài xế, thì hắn phải chở họ đi, dù có phải hợp hay không.”

“Và gì nữa?”

“Và biết cậu sẽ làm khó tôi nếu tôi không kiểm tra kỹ càng, nên tôi kiểm tra luôn rồi.”

“Và sao?”

“Chắc cuộc họp quan trọng nào đó hắn có là với cái toilet, chứ chẳng ai thấy hắn tới văn phòng hết.”

“Vậy lúc đó hắn làm gì?”

“Chịu. Nhưng chắc chắn phải làm gì đó rồi. Cách hắn trả lời tôi quá trơn tru. Ý tôi là, tôi hỏi những việc từ sáu ngày trước lận. Có ai trên đời nhớ nổi mình đã dự cuộc họp nào từ sáu ngày trước đâu chứ? Nhưng thằng cha này rất quả quyết.”

“Cậu bảo hắn là tôi đang ở Đức chứ?”

“Có vẻ như hắn đã biết điều đó rồi.”

“Cậu bảo hắn là tôi sẽ ở đây lâu chứ?”

“Hắn có vẻ an tâm là cậu sẽ chẳng đến California trong thời gian sắp tới.”

“Mấy tay này là bạn cũ của lão Willard,” tôi bảo. “Lão hứa với họ là sẽ cản tôi tới cùng. Lão điều khiển Đội 110 như nó là đội quân riêng của Thiết giáp vậy.”

“Nhân tiện, tôi tự kiểm tra lý lịch bọn họ rồi. Nhất là Vassell và Coomer, vì cậu làm tôi tò mò quá. Không có gì trong hồ sơ cho thấy bọn họ biết đến một nơi tên là Sperryville, bang Virgina cả.”

“Cậu chắc chứ?”

“Như đinh đóng cột. Vassell quê ở Mississippi, còn Coomer ở Illinois. Cả hai chưa từng sống, hay trực tại nơi nào gần Sperryville cả.”

Tôi lặng đi trong ít giây.

“Bọn họ có vợ chưa?” tôi hỏi.

“Vợ á?” Franz nói. “Có, có vợ con cả rồi. Nhưng toàn là người địa phương. Không có người thân bên vợ nào ở Sperryville.”

“OK,” tôi bảo.

“Vậy cậu tính làm gì?”

“Lên đường tới California.”

Tôi cúp máy rồi đi dọc hành lang tới phòng Summer. Tôi gõ cửa và đợi. Cô mở cửa. Cô đã đi ngắm cảnh về.

“Mẹ anh mất đêm qua,” tôi nói.

“Em biết,” Summer đáp. “Anh trai anh vừa gọi em từ căn hộ. Anh ấy muốn em xem anh có ổn không.”

“Anh ổn,” tôi bảo.

“Em rất tiếc.”

Tôi nhún vai. “Theo lẽ thường thì những việc thế này không nên làm ta ngạc nhiên.”

“Khi nào vậy anh?”

“Nửa đêm. Mẹ cứ thế buông xuôi.”

“Em thấy có lỗi lắm. Đáng lẽ hôm qua anh nên ghé thăm bà. Anh không nên mất thời gian đi với em. Ta chẳng nên đi mua sắm vớ vẩn làm gì.”

“Anh gặp mẹ tuần trước rồi. Mọi người đều vui. Để tuần trước là lần cuối vẫn tốt hơn.”

“Nếu là em thì em sẽ tranh thủ càng nhiều thời gian càng tốt.”

“Ta sẽ luôn mong ước nhiều hơn nữa,” tôi bảo. “Hôm qua nếu anh ghé qua, vào buổi chiều, chẳng hạn. Thì nay anh sẽ ước mình đã ở lại đến tối. Nếu anh ở đến tối, anh sẽ lại ước mình đã ở đến nửa đêm.”

“Nửa đêm qua anh đã ở cùng em. Em cũng thấy có lỗi vì điều đó.”

“Đừng như vậy,” tôi bảo. “Anh không thấy mình cần phải bận tâm. Vì mẹ anh cũng sẽ như vậy. Dù sao thì mẹ cũng là người Pháp. Nếu mẹ biết anh có những lựa chọn đó, mẹ sẽ bắt anh làm theo ấy chứ.”

“Anh chỉ nói vậy thôi.”

“Thật ra thì, mẹ cũng không hẳn là người nghĩ thoáng như thế. Nhưng mẹ luôn muốn hai anh em anh được hạnh phúc.”

“Có phải bà buông xuôi vì thấy cô độc không?”

Tôi lắc đầu. “Mẹ muốn được ở một mình, để có can đảm buông xuôi mới đúng.”

Summer không đáp.

“Ta đi thôi,” tôi bảo. “Ta bắt chuyến bay đêm về.”

“Về California?”

“Bờ Đông trước đã,” tôi bảo. “Có vài việc anh cần kiểm tra.”

“Việc gì thế?” cô hỏi.

Tôi không trả lời. Nếu tôi nói ra, hẳn cô sẽ bật cười, mà ngay lúc đó tôi không chịu nổi tiêng cười nào cả.

Summer dọn đồ rồi cùng tôi về phòng. Tôi ngồi trên giường, vân vê sợi dây thắt trên chiếc hộp của Monsieur Lamonnier.

“Cái gì vậy?” cô hỏi.

“Có ông già mang cho anh. Bảo là vật gì đó nên được ở cùng đồ đạc của mẹ.”

“Có gì bên trong thế?”

“Anh chịu.”

“Anh mở ra đi.”

Tôi đẩy nó qua giường. “Em mở đi.”

Tôi nhìn ngón tay nhỏ nhắn của cô cởi nút thắt trên hộp. Nước sơn móng tay trong suốt của cô lấp lánh dưới nắng. Cô tháo nút thắt, rồi nhấc nắp hộp lên. Một chiếc hộp khá nông, làm bằng thứ các tông dày mà thời nay hiếm thấy. Bên trong có ba món. Một chiếc hộp nhỏ hơn, như để đựng nữ trang vậy. Nó làm bằng các tông, phủ giấy màu xanh đậm có chữ in chìm. Rồi một cuốn sách. Và đồ cắt phô mai. Chỉ là một sợi dây thép có chuôi ở hai đầu. Chuôi làm từ loại gỗ cũ tối màu nào đó. Anh có thể tìm thấy nó ở bất cứ tiệm thực phẩm nào ở Pháp. Chỉ có điều là con dao này đã được thay dây. Sợi dây thép quá dày để cắt phô mai. Trông như dây đàn piano vậy. Trông nó cong queo và hoen gỉ, như thể đã cất từ rất lâu rồi.

“Cái gì vậy?” Summer hỏi.

“Trông như dây thít cổ vậy,” tôi bảo.

“Cuốn sách viết tiếng Pháp,” cô nói. “Em không đọc được.”

Cô đưa nó cho tôi. Một cuốn sách có bìa ngoài mỏng.

Không phải tiểu thuyết. Mà là một dạng hồi ký. Góc trang giấy đã bị ố theo thời gian. Cả cuốn sách thoang thoảng mùi mốc. Tựa đề có ghi gì đó về đường sắt thì phải. Tôi mở ra đọc thử. Sau trang tựa đề là tấm bản đồ đường sắt của nước Pháp những năm 1930. Chương đầu tiên hình như mô tả cách các tuyến đường từ phía Bắc xuống đều dồn lại khi vào Paris rồi tỏa ra khi về Nam. Anh không thể đi tới những nơi khác mà không chuyển trạm ở thủ đô. Tôi thấy cũng dễ hiểu thôi. Pháp là một quốc gia khá nhỏ, với rất nhiều thành phố lớn. Nhiều quốc gia khác cũng làm vậy. Thủ đô luôn là trung tâm của lưới nhện.

Tôi lật tới cuối cuốn sách. Có ảnh tác giả trên tay gấp thứ hai của cuốn sách. Tấm ảnh ấy chụp chính Monsieur Lamonnier hồi bốn mươi năm trước. Tôi dễ dàng nhận ra ông. Dòng giới thiệu viết bên dưới ghi rằng ông đã mất cả hai chân trong các trận đánh vào tháng Năm năm 1940. Tôi nhớ lại cách ngồi cứng ngắc của ông trên sofa nhà mẹ. Và hai gậy chống nữa. Chắc ông đã phải dùng chân giả. Bằng gỗ. Cái tôi tưởng là đầu gối trơ xương hẳn là đầu nối cơ học phức tạp nào đó. Dòng giới thiệu kể tiếp rằng ông đã xây Le Chemin de Fer Humain. Đường ray Nhân loại. Ông được thưởng Huân chương Kháng chiến từ chính Tổng thống Charles de Gaulle, Huân chương Chữ thập Anh dũng từ nước Anh, và Huân chương Phục vụ Xuất sắc từ Hoa Kỳ.

“Cái gì vậy anh?” Summer hỏi.

“Hình như anh vừa gặp một cựu anh hùng kháng chiến thì phải,” tôi đáp.

“Có liên quan gì đến mẹ anh?”

“Có khi mẹ và ông Lamonnier này từng có tình cảm với nhau từ xưa.”

“Và ông ta muốn kể điều này với anh và Joe sao? Khoe khoang thành tích của mình à? Ở thời điểm này sao? Thế có phải tự phụ quá không?”

Tôi đọc thêm chút nữa. Như nhiều cuốn sách Pháp khác, nó sử dụng loại ngữ pháp lạ lùng gọi là thì quá khứ lịch sử, vốn chỉ dùng cho văn viết. Rất khó đọc nếu không phải người bản địa. Và phần đầu câu chuyện không có gì thú vị lắm. Nó mô tả rất tỉ mỉ cách những con tàu đi từ hướng Bắc thả lại khách ở sân ga Gare du Nord, và nếu họ muốn đi tiếp về Nam, thì phải đi bộ, hoặc đi xe, hoặc tàu điện, hoặc taxi tới một ga khác như Gare d’Austerlitz, hoặc Gare du Lyon, mới bắt được chuyến tàu đi về hướng Nam.

“Nó viết về cái gọi là Đường ray Nhân loại,” tôi nói. “Mà đọc nãy giờ, vẫn chưa thấy đả động gì tới nhân loại cả.”

Tôi đưa cuốn sách cho Summer, và cô lật qua lần nữa.

“Sách có ký tặng đó,” cô bảo.

Cô giở tôi xem trang đầu tiên bỏ trống. Có một dòng chữ cũ phai màu trên ấy. Mực xanh, nét chữ rất gọn. Có ai đã viết: À Béatrice de Pierre. Dành tặng Beatrice, từ Pierre.

“Mẹ anh tên Beatrice à?” Summer hỏi.

“Không,” tôi bảo. “Mẹ tên là Josephine. Josephine Moutier, rồi đổi thành Josephine Reacher.”

Cô đưa lại tôi cuốn sách.

“Em đã nghe nói về Đường ray Nhân loại này rồi,” cô nói. “Từ Thế chiến thứ hai lận. Nó vốn dùng để giải cứu phi công ném bom, bị bắn rơi ở Bỉ và Hà Lan. Nhóm kháng chiến địa phương thu nhặt họ, rồi chuyển họ theo một đường tới tận biên giới Tây Ban Nha. Ở đó họ có thể lên đường về nhà, và trở lại nhận nhiệm vụ mới. Nó quan trọng, vì những phi công được đào tạo rất có giá. Vả lại nó cũng giúp nhiều người thoát cảnh bị giam nhiều năm trong trại tù binh.”

“Thảo nào ông Lamonnier đầy huân chương,” tôi bảo. “Mỗi cái từ một chính phủ thành viên phe Đồng minh.”

Tôi đặt cuốn sách xuống giường rồi nghĩ đến chuyện dọn dẹp. Tôi định vứt đi quần bò và áo chui đầu từ tiệm Samaritaine. Tôi có cần chúng đâu. Cũng chẳng muốn chúng.

Rồi tôi nhìn cuốn sách lần nữa, và nhận ra mép của vài trang trông khác những trang còn lại. Tôi cầm nó lên, mở ra, và thấy vài tấm hình bán sắc. Đa số là hình chụp chân dung trong xưởng, một trang sáu tấm ảnh chụp đến vai. Những tấm còn lại là hình chụp lén các cảnh hoạt động. Chúng chụp những phi công phe Đồng minh trốn trong căn hầm được thắp sáng bằng nến đặt trên các thùng gỗ xung quanh, một nhóm người bí mật giả mặc đồ nông dân đi trên đường quê, và những con chó núi Pyrenees dẫn đường giữa miền núi phủ tuyết. Một trong những tấm ảnh đó chụp hai người đàn ông đứng hai bên một cô gái. Cô gái đó chẳng hơn một đứa trẻ là bao. Cô đang nắm tay cả hai người, mỉm cười tươi tắn, dẫn họ đi trên phố. Paris, gần như chắc chắn vậy. Dòng chữ bên dưới bức ảnh ghi: Béatrice de service à ses travaux. Nghĩa là Beatrice đang làm nhiệm vụ. Beatrice trông như mới mười ba tuổi.

Tôi khá chắc chắn rằng Beatrice chính là mẹ.

Tôi lật lại những tấm hình chụp chân dung và tìm thấy ảnh mẹ. Trông như ảnh chụp kỷ yếu của trường vậy. Trông ảnh mẹ tầm mười sáu tuổi. Dòng ghi chú viết Béatrice en 1947. Beatrice năm 1947. Tôi đọc tới lui dòng chữ, rồi liên kết nó với cuốn sách của ông Lamonnier. Đường ray Nhân loại kia vốn có hai vấn đề lớn về chiến lược. Truy tìm phi công bị bắn rơi không phải một trong hai vấn đề đó. Họ rơi từ trên trời xuống, theo đúng nghĩa đen, khắp nơi trên Vùng Đất Trũng, mỗi đêm không trăng có tới hàng tá người. Nếu phe Kháng chiến tìm thấy họ trước, thì họ còn cơ may. Còn nếu để Lực lượng Vệ quốc của Phát xít bắt được họ, thì coi như tiêu. Hoàn toàn do may rủi. Nếu họ may mắn được phe Kháng chiến tìm thấy trước phe Phát xít, họ sẽ được đưa vào ẩn náu, được đổi quân phục mình lấy thứ đồ cải trang hợp lý nào đó, được cấp giấy tờ giả mạo, được mua vé xe lửa, được một liên lạc viên hộ tống lên con tàu về Paris, và từ đó họ sẽ được về nhà.

Đấy là nếu họ may mắn.

Vấn đề chiến lược đầu tiên đó là khả năng bị soát vé khi lên xe lửa, có khi ngay từ trạm dừng đầu tiên. Bọn họ toàn là những cậu trai nước Mỹ thôn quê tóc vàng hoe, hay là các thanh niên tóc đỏ từ Scotland của Anh, hoặc là những người không có vẻ đen đúa, khổ sở đặc trưng của người Pháp trong thời chiến. Trông họ nổi bần bật. Họ không biết tiếng địa phương. Có nhiều phương án giả trang đã được áp dụng. Họ sẽ phải giả ngủ, giả bệnh, giả câm hay giả điếc. Phần lớn việc giao tiếp sẽ do liên lạc viên kia đảm nhiệm.

Vấn đề chiến lược thứ hai, chính là khi chuyển trạm ở Paris. Paris lúc ấy đầy lính Đức. Khắp nơi dựng lên những chốt kiểm tra. Những tay ngoại quốc ngơ ngác sẽ nổi bần bật. Các hãng xe tư nhân đã bị dẹp hoàn toàn. Còn khuya mới tìm được taxi. Nhiên liệu khan hiếm. Đàn ông đi thành nhóm với nhau sẽ bị để ý. Nên phần lớn liên lạc viên là phụ nữ. Và kế sách của ông Lamonnier chính là nhờ vả một đứa bé mình quen biết. Cô sẽ đón những phi công đó tại Gare du Nord, và dẫn họ qua phố tới Gare du Lyon. Cô sẽ tươi cười, đi chân sáo, nắm tay họ như thể họ là anh trai, hay ông chú nào đó ghé thăm mình. Không ai ngờ tới và cảnh giác trước điệu bộ của cô gái. Cô đưa người lướt qua các chốt kiểm tra như những bóng ma. Và cô mới có mười ba tuổi.

Ai trong nhóm liên lạc viên này cũng có mật danh. Của mẹ là Beatrice. Của Lamonnier là Pierre.

Tôi lấy hộp các tông màu xanh đựng nữ trang ra khỏi hộp lớn. Mở nó ra. Bên trong là một huân chương. Đó là La Medaille de la Résistance. Huân chương Kháng chiến. Ruy băng màu đỏ, trắng, và xanh lóng lánh, còn bản thân huân chương làm bằng vàng. Tôi lật nó lại. Phía sau là dòng chữ được khắc khéo léo: Josephine Moutier. Tên mẹ.

“Bà chưa bao giờ kể anh à?” Summer bảo.

Tôi lắc đầu. “Một chữ cũng không. Chưa bao giờ, dù chỉ một chữ.”

Rồi tôi nhìn lại trong hộp. Vậy cái đồ cắt phô mai kia là để làm quái gì?

“Gọi cho anh Joe,” tôi bảo. “Báo anh ấy là chúng ta đang qua. Nhờ anh ấy dẫn ông Lamonnier trở lại.”

Chừng mười lăm phút sau chúng tôi quay lại căn hộ. Ông Lamonnier đã ở sẵn đó. Có khi ông chưa bao giờ rời đi. Tôi đưa chiếc hộp cho Joe rồi bảo anh xem qua. Anh nhanh hơn tôi, vì anh thấy huân chuông trước tiên. Cái tên phía sau giúp anh nhận ra. Anh lướt qua cuốn sách, rồi nhìn ông Lamonnier khi nhận ra ông trong tấm hình. Rồi anh lướt qua dòng chữ. Nhìn các tấm hình. Rồi nhìn tôi.

“Mẹ có kể với em không?” anh hỏi.

“Không hề. Còn anh?”

“Chưa bao giờ,” anh đáp.

Tôi nhìn ông Lamonnier. “Đồ cắt phô mai để làm chi vậy ạ?”

Lamonnier im lặng.

“Kể chúng tôi nghe đi,” tôi bảo.

“Bà ấy bị phát hiện,” ông nói. “Bởi một nam sinh ở trường. Một cậu trai cùng tuổi. Một thằng nhóc khó ưa, con trai của một kẻ cộng tác với Phát xít. Nó hăm dọa và đay nghiến bà ấy.”

“Thế nó làm gì?”

“Lúc đầu thì chẳng làm gì cả. Điều đó làm mẹ cậu bất an vô cùng. Rồi nó đòi giở trò đồi bại với bà ấy, để đổi lại sự im lặng. Tất nhiên là mẹ cậu từ chối. Nó dọa sẽ tố giác bà ấy. Nên bà ấy giả vờ xuống nước. Bà ấy hẹn gặp nó dưới gầm cầu Pont des Invalides vào một đêm muộn. Bà ấy phải trốn khỏi nhà đêm đó. Nhưng trước đấy, bà ấy đem theo đồ cắt phô mai của mẹ mình. Bà ấy thay dây bằng một sợi dây đàn từ cây piano của bố bà ấy. Nốt G dưới C giữa thì phải. Nhiều năm sau này, cây đàn đó vẫn mất một nốt ấy. Bà ấy gặp thằng bé kia, rồi siết cổ nó.”

“Mẹ tôi làm gì cơ?” Joe hỏi.

“Bà ấy siết cổ nó.”

“Mẹ tôi lúc ấy mới mười ba tuổi.”

Lamonnier gật đầu. “Tuổi ấy, giữa con trai và con gái không có mấy sự chênh lệch đáng kể về sức mạnh.”

“Mẹ tôi đã giết người khi mới mười ba tuổi sao?”

“Đó là những năm tháng dữ dội lắm.”

“Chính xác thì chuyện gì đã xảy ra?” tôi hỏi.

“Bà ấy dùng cái đồ cắt phô mai đó. Như kế hoạch định sẵn. Một thứ hung khí dễ dùng. Bà ấy chỉ cần một tinh thần thép và sự quyết tâm. Rồi bà ấy gắn một vật nặng vào cuộn dây cắt phô mai ban đầu, rồi buộc nó vào thắt lưng của thằng kia. Bà ấy thả nó xuống sông Seine. Thằng nhóc biến mất, còn bà ấy được an toàn. Đường ray Nhân loại được bảo toàn.”

Joe lườm ông. “Ông ấy để bà làm vậy sao?”

Ông Lamonnier nhún vai. Một cái nhún vai cương quyết, đặc chất người Gaulois, hệt như mẹ vậy.

“Tôi không hề biết gì về điều này,” ông bảo. “Mãi sau này bà ấy mới kể cho tôi. Có lẽ phản ứng đầu tiên của tôi sẽ là ngăn cấm bà ấy làm điều đó. Nhưng chính tôi cũng chẳng dám tự tay xử lý. Tôi không có chân. Tôi đâu thể trèo xuống dưới gầm cầu, và cũng chẳng đủ vững chãi để đánh nhau. Tôi quen một người có thể được gọi là sát thủ, nhưng anh ta đang bận bịu đâu đó. Ở Bỉ, thì phải. Tôi đâu thể đợi anh ta trở về. Nên nhìn chung, có lẽ tôi vẫn sẽ để bà ấy làm điều ấy. Đó là những năm tháng khói lửa, và việc chúng tôi làm vô cùng quan trọng.”

“Việc này thực sự đã xảy ra sao?” Joe hỏi.

“Theo tôi biết thì có,” ông Lamonnier nói. “Cá cắn rục thắt lưng của thằng bé. Nó nổi lên vài ngày sau, cách không xa lắm ở hạ lưu sông. Chúng tôi trải qua một tuần hồi hộp. Nhưng chẳng có động tĩnh gì sau đó.”

“Mẹ làm việc cho ông trong bao lâu?” tôi hỏi.

“Suốt năm 1943,” ông bảo. “Bà ấy rất được việc. Nhưng gương mặt bà ấy dần trở nên quen thuộc. Ban đầu diện mạo mới mẻ ấy chính là tấm khiên bảo vệ bà ấy. Trẻ trung và thánh thiện. Ai mà nghi ngờ một gương mặt như vậy chứ? Nhưng rồi nó trở thành một gánh nặng. Bọn Phát xít dần quen mặt bà ấy. Vả lại, một cô gái trẻ có thể có tới bao nhiêu anh trai, anh họ hay chú bác được chứ? Nên tôi phải dừng công tác của bà ấy.”

“Chính ông đã tuyển mẹ sao?”

“Bà ấy xung phong ấy chứ. Bà ấy cứ quấy rầy tôi suốt, cho đến khi tôi đồng ý.”

“Mẹ đã giải cứu bao nhiêu người?”

“Tám mươi người,” ông Lamonnier đáp. “Bà ấy chính là liên lạc viên xuất sắc nhất của tôi ở Paris. Bà ấy phi thường lắm. Hình phạt nếu bị tố giác khủng khiếp vô cùng. Bà ấy giấu nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất thế gian trong ruột gan mình, và sống với nó cả năm trời, nhưng chưa bao giờ bà ấy làm tôi thất vọng.”

Chúng tôi ngồi trong im lặng.

“Còn ông bắt đầu ra sao?” tôi hỏi.

“Tôi là một thương binh,” ông nói. “Một trong số nhiều người như vậy. Giữ chúng tôi làm con tin là một gánh nặng về y tế với bọn chúng. Chúng tôi cũng là những công nhân vô dụng. Nên chúng bỏ mặc chúng tôi ở Paris. Nhưng tôi muốn làm gì đó. Tôi không có khả năng chiến đấu. Nhưng tôi có tài thu xếp. Đó không phải kỹ năng đòi hỏi thể chất. Tôi biết phi công ném bom được đào tạo có giá như vàng. Nên tôi quyết định giúp họ về nhà.”

“Tại sao mẹ sống cả đời mà không hề nhắc đến chuyện này?”

Ông Lamonnier lại nhún vai. Mệt mỏi, băn khoăn, và vẫn hoang mang sau từng ấy năm trời.

“Nhiều lý do chứ, tôi đoán vậy,” ông bảo. “Nước Pháp vốn là một quốc gia nhiễu nhương vào năm 1945. Nhiều người theo phe Kháng chiến, nhiều người hợp tác với quân địch, nhiều người chẳng làm gì cả. Đa số đều muốn giữ lý lịch mình trong sạch. Và bà ấy cũng thấy hổ thẹn vì đã giết thằng kia, tôi nghĩ vậy. Việc đó đè nặng lương tâm bà ấy. Tôi an ủi bà ấy rằng đó đầu phải cái ta có thể lựa chọn. Ta không chủ động làm điều đó. Tôi bảo bà ấy rằng đó là điều đúng đắn mà ta phải làm. nhưng bà ấy muốn quên hết mọi chuyện đi. Tôi phải năn nỉ bà ấy mới chịu nhận huân chương.”

Joe, tôi và Summer không nói gì. Chúng tôi ngồi trong im lặng.

“Tôi muốn hai người con trai của bà biết chuyện này,” ông Lamonnier nói.

Summer và tôi trở về khách sạn. Chúng tôi không nói chuyện với nhau. Tôi có cảm giác như một người vừa phát hiện mình là con nuôi vậy. Hóa ra sếp không phải người như tôi tưởng. Suốt cuộc đời, tôi đã ngộ nhận rằng mình trở thành con người hôm nay là nhờ bố, một sĩ quan thủy quân lục chiến. Giờ tôi lại thấy như một dòng máu khác đang cuộn lên. Hồi mười ba tuổi bố chưa giết địch. Nhưng mẹ thì có. Bà đã sống qua những tháng năm máu lửa, và dám làm điều cần phải làm. Lúc ấy, tôi chợt nhớ mẹ nhiều hơn bao giờ hết. Lúc ấy, tôi biết mình sẽ vĩnh viễn nhớ mẹ. Tôi thấy trống rỗng. Tôi vừa mất một thứ tôi chưa bao giờ biết là mình có.

Chúng tôi dọn hành lý xuống sảnh, rồi trả phòng ở quầy. Chúng tôi trả lại chìa khóa, và cô gái thạo nhiều ngôn ngữ kia chuẩn bị một tờ hóa đơn dài và chi tiết. Tôi phải ký tên. Tôi biết mình gặp rắc rối khi vừa thấy hóa đơn. Giá phòng đắt khủng khiếp. Tôi đã nghĩ quân đội sẽ nhắm mắt làm ngơ chuyện giả mạo giấy đi đường này, nếu tôi đem về kết quả điều tra. Nhưng bây giờ tôi chẳng dám chắc chắn vậy nữa. Có lẽ hóa đơn từ khách sạn George V này sẽ làm họ đổi ý. Vì nó như xát muối vào vết thương vậy. Chúng tôi chỉ ở một đêm nhưng bị tính thành hai vì trả phòng muộn. Tách cà phê mang lên phòng tôi có giá ngang ngửa với một bữa ăn ở một nhà hàng nhỏ. Cuốc điện thoại gọi tới Rock Creek bằng giá một bữa ăn ba món tại nhà hàng sang trọng nhất thành phố. Cuốc điện thoại gọi Franz ở California có giá tương đương một bữa ăn năm món. Cuốc điện thoại Summer gọi anh Joe ở căn hộ của mẹ, cách chưa tới một dặm, nhờ anh giữ lại ông Lamonnier, được tính dưới hai phút và có giá ngang ly cà phê mang lên phòng tôi. Và chúng tôi còn bị đánh tiền nhận điện thoại gọi tới. Một cuộc Franz gọi tôi, và cuộc kia là anh Joe gọi Summer, khi nhờ cô xem tôi có ổn không. Một chút ân cần giữa hai anh em tôi đã ngốn năm đô la của chính phủ. Nhìn chung, đó là hóa đơn khách sạn kinh hãi nhất mà tôi từng đọc.

Cô gái thạo nhiều ngôn ngữ kia in nó ra thành hai bản. Tôi ký một bản đưa cho cô, rồi cô gấp bản kia, nhét vào phong thư của khách sạn George V rồi đưa tôi. Cho tôi kiểm tra, cô nhắn vậy. Cho tòa án binh kiểm tra thì có, tôi nghĩ thầm. Tôi cất nó vào trong túi áo khoác. Sáu tiếng sau tôi lại giở nó ra, khi cuối cùng tôi cũng nhận ra ai đã làm gì, với ai, vì sao, và bằng cách nào.

« Lùi
Tiến »