Khám Phá Rượu Vang

Lượt đọc: 629 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
các quốc gia trồng nho và làm rượu chính của thế giới.

1. Pháp

Từ Bắc xuống Nam, toàn nước Pháp có các vùng trồng nho và làm rượu

chính sau đây:

1.1 Champagne

Với khoảng 30.000ha, chiếm 2% diện tích trồng nho toàn quốc, đây là

vùng trồng nho ở tận cùng cực Bắc nước Pháp, trải dài trên các vùng hành

chính: Marne (hơn 22.000ha), Aisne (2.000ha), Aube (gần 6.000ha) và trên

địa bàn vài xã vùng Haute - Marne và Seine et Marne (trên dưới 40ha). Các

giống nho chính để làm rượu ở đây là hardonnay (30%), Pinot Noir (30%) và

Pinot Meunier (40%). Đất đai vùng này rất cằn cỗi, từ đá vôi ở vùng Marne

đến đá vôi pha cát ở vùng Aube, bắt buộc rễ cây nho phải ăn sâu vào lòng

đất nhiều khi đến 20m để tìm nước và các khoáng chất cần thiết. Người ta

phân biệt các loại rượu champagne như champagne không tuổi (Bruts sans

année hay còn gọi là

champagne SA) đến

champagne có tuổi

(Millésimés), champagne

kỷ niệm các sự kiện đáng

ghi nhớ (Cuvée

Spéciale), champagne

trắng (Blanc de Blancs,

chỉ làm từ giống nho

Chardonnay),

champagne hỗn hợp

(Blanc de Noirs),

champagne chất lượng

đặc biệt cao (Grand Cru),

champagne hồng và vang

nổ vùng Champagne

(Crémants).

Đặc biệt vùng

Champagne còn sản xuất

các loại rượu vang không

sủi bọt như vang đỏ và

hồng ở địa phận Riceys, vang trắng ở địa phận Bouzy, Sillery, Mareuil...

Các thương hiệu champagne nổi tiếng: Bollinger, Krug, Ruinart, Veuve

Cliquot, Moet - Chandon, Laurent - Perrier...

1.2. Alsace

Vùng trồng nho này, với diện tích khoảng 15.000ha, nằm trên những

sườn đồi dốc hoặc thoai thoải, ở độ cao từ 200 - 450m. Đây là vùng trồng

nho kéo dài khoảng 100km, dọc theo sông Vosges và thung lũng sông Rhin.

Chất đất và độ cao đã ảnh hưởng không ít đến chất lượng rượu vang của

vùng Alsace, từ rượu vang khô đến rượu vang dịu và rượu vang ngọt đậm,

với đặc điểm là tính khoáng chất cao.

Vùng Alsace lại chia thành 3 vùng rượu vang có chất lượng cao được

nhà nước bảo hành (AOC): vang Alsace chất lượng cao, vang Alsace chất

lượng đặc biệt (Grand Cru) và vang nổ Alsace (Crémant d’Alsace). Tất cả

các loại rượu vang này đều mang tên các dòng nho làm ra chúng. 7 giống

nho trắng được trồng và sản xuất ra rượu vang ở vùng Alsace là: Chasselas,

Gewurztraminer, Muscat, Pinot Blanc, Pinotgris, Riesling và Sylvaner.

Giống nho đỏ duy nhất đuợc trồng và làm rượu ở đây là giống Pinot Noir, từ

giống này có thể làm rượu hồng và rượu đỏ.

Nói đến rượu vang

vùng Alsace, ta không

thể quên rượu vang làm

từ nho thu hoạch muộn

(Vendanges Tardives) và

rượu vang làm từ nho bị

nấm quý tộc tấn công

(Sélection de Grains

Nobles). Đây là một

giống nấm có tên khoa

học Botrytis cinerea. Dứt

khoát, bạn không thể

không thử nếm và

thưởng thức loại rượu

đặc biệt này, ví như một

cô gái với cơ thể mềm

mại, uyển chuyển, sắc

đẹp mặn mà, sâu sắc,

đồng thời lại tinh tế đến

mức bất kỳ ai cũng phải

siêu lòng.

1.3. Jura, Savoie và

Bugey

Đây là những vùng

trồng nho và làm rượu

tương đối nhỏ ở Pháp

(Jura: 1700ha, Savoie:

2000ha, Bugey: 450ha).

Vùng trồng nho Jura kéo dài khoảng 80km, với chiều rộng 6km, ở độ cao

trung bình khoảng 300m, đất đá vôi và đá vôi pha cát. Vùng này lại chia làm

4 vùng rượu vang có chất lượng cao (AOC) là: Côtes du Jura, Arbois,

Château - Chalon và Étoile. Rượu vang nổi tiếng nhất ở đây là rượu vang

vàng (vin Jaune) được làm từ giống nho Savagnin hay còn gọi là nho Naturé.

Rượu vang vàng được nuôi trong thùng gỗ 6 năm 3 tháng, không đổ thêm

rượu khác vào, vì thế trong thùng rượu sẽ hình thành một lớp màng bảo vệ

cho rượu khỏi bị lão hóa, nhưng cũng đem lại cho rượu những hương vị đặc

biệt như mùi hạt dẻ tươi. Một sản phẩm đặc biệt khác của vùng Jura là rượu

vang cô đặc (Vin de Paille), còn quý hiếm hơn cả rượu vang vàng, vì đó là

một tinh chất mà khi uống vào hương vị sẽ còn đọng mãi rất lâu nơi cuống

họng.

Ngoài giống

Savagnin, ở vùng Jura

còn có giống

Chardonnay hay còn gọi

là Melon d’Arbois dùng

để sản xuất rượu vang

khô truyền thống. Rượu

vang đỏ vùng Jura được

làm từ các giống nho

Pinot Noir, Poulsard và

Trousseau.

Khác với vùng Jura,

phần lớn các ruộng nho

của vùng Savoie nằm

trên những sườn núi

hoặc đồi bị sạt lở ở độ

cao tới 500m. Khí hậu

vùng này rất khắc nghiệt,

với nhiệt độ chênh lệch

giữa mùa đông và mùa

hè tới 300C và độ ẩm rất

cao.

Vùng này cũng chia

làm 4 vùng nho có chất lượng cao (AOC): vang Savoie, Roussette de Savoie,

Seyssel và Crépy. Giống nho địa phương Roussette de Savoie đem lại rượu

vang tròn trịa, mềm mại và mùi gia vị hơi cay nơi cuống họng; giống nho

Jacquère cho những sản phẩm nhẹ nhàng với bọt sủi lăn tăn; giống nho

Roussanne hay còn gọi là Bergeron, là giống nho cho những sản phẩm rượu

vang có tiếng nhất ở vùng Savoie. Cuối cùng, giống nho Chasselas cho sản

phẩm khô nhưng đầy tính chất hoa quả. Về rượu vang đỏ, phải kể đến các

giống nho Pinot Noir, Gamay và Mondeuse, một giống nho địa phương cho

những sản phẩm rượu vang có hương vị hoa quả và chất chát cao, bảo quản

được lâu dài. Một trong những thương hiệu nổi tiếng ở vùng Savoie: Perrier

và các con trai (Vins Perrier&Fils).

Cuối cùng, vùng Bugey là vùng trồng nho nhỏ nhất nằm trên địa bàn

hành chính tỉnh Ain. Vùng này chỉ sản xuất các loại rượu vang chất lượng

cao do địa phương bảo hành (AOVDQS). Đặc sản địa phương vùng này:

rượu vang làm từ các dòng nho Cerdon và Montagnieu.

1.4. Loire Valley (Vallée de la Loire)

Đây là vùng trồng nho rộng lớn (75.000ha) nằm dọc theo các dòng sông

lớn và các nhánh nhỏ của chúng trong vùng châu thổ Loire Valley. Vùng này

sản xuất ra 2.500.000 hectolit rượu vang hàng năm, trong đó 55% là vang

trắng, 24% là vang đỏ, 14% là vang hồng và 7% là vang sủi. Có đến 55 loại

rượu vang chất lượng cao (AOC) và 13 loại vang vùng (VDQS), phân bổ

trong 4 địa danh chính là: vùng Nantes với rượu vang trứ danh “Muscadet”:

13.000ha; vùng Anjou và Saumur: Anjou (3000ha), Saumur (1300ha),

Saumur Champigny (1200ha), Coteaux du Layon (1600ha)...; vùng

Touraine: Bourgueil (1200ha), Saint - Nicolas de Bourgueil (850ha) và vùng

trung tâm (Centre): Sancerre (2300ha), Pouilly - Fumé (900ha), Reuilly

(130ha)... Các giống nho trắng chủ yếu: Chenin, Sauvignon Blanc,

Chasselas, Muscadet và Chardonnay. Các giống nho đỏ chính: Pinot Noir,

Cabernet Franc, Gamay, Cabernet Sauvignon, Grolleau và Pineau d’Aunis.

Các thương hiệu nổi tiếng: Langlois Château, Henri Bourgeois, Mellot,

Thierry Redde...

1.5. Vùng Bordeaux

Đây là một trong

những vùng trồng nho

lớn nhất thế giới, với hơn

105.000ha và 57 địa

danh có chất lượng cao

được nhà nước bảo hành

(AOC). Chỉ tính riêng

các lâu đài nổi tiếng, địa

danh Médoc có 60 rượu

vang được xếp hạng

trong bảng phân loại

1855, địa danh Saint -

Emilion có 11 rượu vang

được xếp ngoại hạng và

63 rượu hạng nhất trong

bảng phân loại 1955

vùng Saint - Emilion,

chưa kể đến các lâu đài

vùng Pomerol và Graves.

Phía Bắc, Médoc là

một vùng tiếng tăm lừng

lẫy với các địa danh: Pauillac, Margaux, Listrac, Moulis, Saint Julien, Saint -

Estephe. Phía Nam, các địa danh “người tám lạng kẻ nửa cân” Pessac -

Leognan và các vùng làm rượu ngọt nổi tiếng: Cerons, Sauternes, Barsac

trên bờ trái của sông Garonne, Sainte - Croix - du - Mont và Loupiac trên bờ

phải. Một vài thương hiệu nổi tiếng: Château la Rame (Saint - Croix du -

Mont), Maison Malet - Roquefort (Saint- Emilion), Château Dassaut,

Château la Couspaude, Château Grand Mayne...

Các giống nho Sauvignon Blanc và Sémillon là hai giống nho chính làm

rượu trắng, với các giống phụ trợ là Muscadelle, Merlot Blanc, Colombard,

Mauzac và Ondenc. Các giống nho làm rượu đỏ chính: Cabernet Sauvignon,

Cabernet Franc, Merlot, Malbec và Petit Verdot.

1.6. Vùng Tây Nam

Vùng Tây Nam

(13.000ha, với 10 loại

rượu vang chất lượng

cao (AOC) và 7 loại

rượu vang địa phương

(VDQS) là một vùng có

các giống nho làm rượu

chủ yếu của vùng

Bordeaux như: Cabernet

Sauvignon, Merlot,

Cabernet Franc, Malbec.

Tuy nhiên, vùng này còn

có các giống nho truyền

thống địa phương như:

Arrufiac, Courbu, Petit

và Gros Manseng

(trắng), Fer Servadou,

Jurancon Noir (đỏ).

1.7. Vùng Bourgogne

Tuy chỉ có một diện tích trồng nho tương đối nhỏ (24.000ha), đây là

vùng trồng nho, làm rượu nổi tiếng nhất sau Bordeaux. Từ Bắc xuống Nam,

ta có vùng onne với hai địa danh Chablis và Irancy, tiếp đó là vùng Côtes de

Beaune với các địa danh nổi tiếng Meursault và Puligny là những rượu vang

trắng nổi tiếng nhất của Pháp.

Phía dưới nữa là địa danh Pouilly - Fuissé và tận cùng của vùng

Bourgogne là địa danh Beaujolais làm ta nhớ đến những cuộc “chén thù chén

tạc” với bạn bè thân hữu quanh ly rượu vang mới (Beaujolais Nouveau),

cùng đĩa đồ nhậu xúc xích - pho mát rất đặc trưng cho vùng này.

Một tính đặc thù nữa

của vùng Bourgogne là

chỉ có hai giống nho

chính làm rượu:

Chardonnay (trắng) và

Pinot Noir (đỏ). Ở đây,

giống nho Pinot Noir

chiếm tới 70% diện tích

trồng nho và đem lại

niềm kiêu hãnh cho

người dân xứ Bourgogne

vì những rượu vang đỏ

lừng danh thế giới như

Romanée - Conti, La

Tâche và Richebourg.

Địa danh Yonne nổi

tiếng với rượu Chablis

được chia làm 4 nhánh:

Chablis chất lượng lừng

danh (Grand Cru),

Chablis chất lượng số

một (Premier Cru),

Chablis chất lượng cao

(Chablis) và Chablis nhỏ

(Petit Chablis). Vùng

Yonne còn có địa danh

Irancy sản xuất vang đỏ từ giống nho Pinot Noir.

Địa danh Côtes d’Or nằm giữa trung tâm vùng Bourgogne, gồm rất

nhiều doanh nghiệp sản xuất rượu vang có chất lượng đặc biệt cao từ giống

nho Pinot Noir (vang đỏ) và Chardonnay (vang trắng).

Vùng Côte de Nuits với rượu vang đỏ lừng danh từ giống nho Pinot Noir

với các tên tuổi Nuits - Saint - Georges, Vosne - Romanée, Romanée - Conti,

Chambolle - Musigny...

Vùng Côte de Beaune có diện tích lớn gấp đôi địa danh Côte de Nuits,

địa danh này nổi tiếng với các tên tuổi gắn liền với vang trắng như Meursault

và Montrachet. Một trong những thương hiệu nổi tiếng: Chanson

Père&Fils...

Côte Chalonnaise là vùng đệm giữa vùng Côte de Beaune và vùng

Mâconnais, với các đặc tính của vùng Côte de Beaune: cùng chất đất, giống

nho và truyền thống làm rượu.

Vùng Mâconnais: sản xuất rượu vang có tính chất tiêu dùng đại chúng.

Vùng Beaujolais sản xuất rượu vang có tính chất quảng đại quần chúng

nhất, giống nho Gamay phát huy được hết thế mạnh của nó ở vùng đất đá

hoa cương này. Rượu vang đỏ ở đây có màu sắc đậm đà, đầy hương vị dâu

tây và hoa Violette.

1.8. Vùng Côtes du Rhône

Với 75.000ha ruộng nho, 26 vùng có nguồn gốc xuất xứ được xác định

(AOC), vùng Côtes du Rhône là vùng sản xuất rượu vang có chất lượng

đứng hàng thứ hai ở Pháp sau vùng Bordeaux.

Phía Bắc, vùng này

rất hẹp, ruộng nho nằm

dọc theo các sườn đồi

trông ra sông Rhône. Đất

đá hoa cương, khí hậu

lục địa ôn hòa, nổi tiếng

với các địa danh Côte -

Rôtie, Condrieu, Château

- Grillet, Saint - Joseph,

Cornas, Saint - Peray,

Hermitage và Crozes -

Hermitage.

Giống nho đỏ duy

nhất được trồng ở vùng

này là giống Syrah. Các

giống nho trắng chủ yếu

ở đây: Viognier là giống

nho duy nhất để sản xuất

rượu Condrieu, tiếp đến

là các giống nho trắng

Marsanne và Roussanne.

Sát với phía Nam, ta có

thể thưởng thức rượu

vang trắng làm từ các

dòng nho Muscat và

Clairette.

Nam Rhône: phía

Nam thành phố Montelimar, đồng bằng trải rộng, các ruộng nho tập trung

trên các sườn đồi cao trung bình và thấp. Khí hậu ở đây mang tính chất Địa

Trung Hải, với gió nóng và khô từ tháng 5 đến tháng 9, còn gọi là gió

Mistral. Các giống nho đỏ chính ở miền Nam Côtes du Rhône là: Grenache,

Syrah, Mourvedre, Carrignan, Cinsault. Các giống nho trắng chính là:

Grenache Blanche, Roussanne, Marsanne, Viognier, Clairette và

Bourboulenc. Vùng Nam Rhône rất tự hào về 5 địa danh rượu vang có chất

lượng đặc biệt cao: Châteauneuf du Pape, Gigondas, Tavel, Lirac,

Vacqueyras, và 2 địa danh sản xuất vang ngọt tự nhiên (vin doux naturel) là

Muscat de Beaumes - de - Venise và Rasteau. Ngoài ra, vùng này còn có

những địa danh nổi tiếng khác như Côtes du Rhône Villages, Côteaux de

Tricastin, Côtes du Ventoux, Côtes du Vivarais, Côtes du Luberon... Một

trong những thương hiệu nổi tiếng của vùng là Château Saint - Estève

d’Uchaux và Cave de Tain l’Hermitage.

1.9. Vùng Languedoc - Roussillon

Với hơn 4 triệu

hectolit vang hàng năm,

vùng Languedoc -

Roussillon sản xuất ra

70% sản lượng vang

vùng của cả nước Pháp,

với khoảng 60 loại vang

khác nhau. Cộng với

40.000ha nho và 13 loại

vang chất lượng cao

(AOC), toàn bộ vùng

Languedoc - Roussillon

chiếm tới 40% diện tích

trồng nho của cả nước

Pháp. Đây là vùng mà ta

có thể tìm thấy tất cả các

giống nho trồng trên đất

Pháp, trừ vùng Alsace.

Cũng nhờ cố gắng rất

cao của các nhà trồng

nho và làm rượu trẻ tuổi mà từ hơn chục năm nay, rượu vang vùng

Languedoc - Roussillon ngày càng có chất lượng và phong phú về chủng

loại. Rượu chủ yếu ở vùng Languedoc - Roussillon là vang đỏ, sau đó là

vang trắng và vang hồng. Các địa danh nổi tiếng ở đây là: Mas de Daumas

Gassac, Canet Valette, Domaine Pech Rome, Domaine Brial, Château Pech -

Redon, Pic Saint - Loup... Giáp với Tây Ban Nha, các loại vang ngọt tự

nhiên Banyuls, Maury và Riversaltes không khỏi nhắc ta nhớ đến những

buổi thử xì gà hoặc nếm chocolates đầy hương vị những miền đất lạ.

1.10. Vùng Provence

Đối ngược với những vùng trồng nho và sản xuất rượu khác của Pháp,

vùng Provence là một vùng làm rượu trẻ tuổi không có những tên tuổi lừng

danh như Château Latour hay Romanée - Conti, trừ địa danh Bandol, với

tính chất đặc thù của đất đai, khí hậu và giống nho (Mouvedre) đã gây dựng

nên tên tuổi của mình như một trong những rượu vang đỏ nổi tiếng của Pháp.

Các dòng nho đỏ để làm rượu vang đỏ và rượu vang hồng: Grenache,

Cinsault, Syrah, Tibouren, Mouvedre, Carrignan và Cabernet Sauvignon.

Các dòng nho để làm rượu vang trắng: Clairette, Ugni Blanc, Rolle và

Sémillon.

Với 19.160ha ruộng nho và sản lượng dưới 55 hectolit/ ha, vùng

Provence rất tự hào với các địa danh đang được nói đến nhiều như địa danh

Bellet cạnh thành phố Nice với các loại vang trắng và đỏ rất hợp với các

món ăn miền Nam Địa Trung Hải, địa danh Cassis gần thành phố Marseille

nổi tiếng với vang trắng và món súp cá Bouillabaisse, địa danh Palette

(20ha) với các gia đình Rougier và Meyreuil, địa danh Bandol với Château

de Pibarnon, Domaine de la Vivonne, Domaine de la Laidière và nhiều địa

danh Côtes de Provence khác đang lên: Clos Cibonne, Domaine de Triennes,

Château Estoublon, Château Bas, Domaine de Gavoty, Château de Beaupré,

Château Maime, les Valentines...

1.11. Vùng Corse

Vùng đảo này ít nhiều có xu hướng dùng ngôn ngữ Italia trong việc gọi

tên các dòng nho địa phương như Nieluccio, Vermentinu, Genovese,

Biancolella, Sciacarello, nhưng cũng có ảnh hưởng từ vùng Provence với các

dòng nho Grenache, Cinsault và Carrignan. Năm địa danh cần được ghi nhớ

ở đảo Corse là: Calvi, Côteaux du Cap Corse, Figari, Porto - Vecchio và

Sartène. Thêm vào đó là 2 địa danh có chất lượng đặc biệt cao: Ajaccio và

Patrimonio.

2. Italia

Italia là một trong

những quốc gia có truyền

thống lâu đời về rượu

vang, nhiều tác phẩm văn

học đã nói đến rượu vang

ở Italia từ thế kỷ thứ ba

trước Công nguyên. Đây

cũng là cường quốc rượu

vang nhất nhì thế giới

cùng với Pháp

(908.000ha trồng nho,

với sản lượng dao động

từ 54 - 62 triệu

hectolit/năm và mức tiêu

thụ tính theo đầu người

55 lít/năm). Toàn Italia

có 20 vùng sản xuất rượu

vang, với hơn 400 giống

nho địa phương. Rượu

vang Italia về đại thể

được chia làm 4 loại:

- Rượu vang bàn

(Vino da Tavola). Quy

định về rượu vang bàn

tương đối lỏng lẻo, cho phép nhà sản xuất rượu có quyền làm gần như bất cứ

những gì họ muốn (pha thêm các thứ nước hoa quả lên men hoặc đường vào

rượu như một số loại đã nhập vào Việt Nam hoặc không cần phải tuân thủ

các quy định về tỷ lệ các giống nho trong rượu).

- Rượu vang vùng (Indicazione Geographica Tipica - IGT). Các nhà sản

xuất rượu phải tuân thủ những quy định về các giống nho làm rượu, nhưng

không cần phải áp dụng các quy định khác về phương pháp làm rượu và sản

lượng thu hoạch. Năm 2001, có khoảng 116 nhãn rượu vang vùng được đăng

ký ở Italia.

- Rượu vang có nguồn gốc xuất xứ được xác định (Denominazione di

Origine Controllata - DOC).

Quy định này tương đương với quy định AOC ở Pháp, nghĩa là các nhà

trồng nho phải tuân thủ vùng sản xuất, giống nho làm rượu, sản lượng thu

hoạch nho, cách trồng nho và làm rượu, cũng như lập các Ban giám khảo

định kỳ để xác định xem rượu có đạt tiêu chuẩn DOC không. Đến cuối năm

2001, có khoảng 296 rượu DOC ở Italia.

- Rượu vang chất lượng tuyệt hảo (Denominazione di Origine

Controllata Garantita - DOCG). Đây là thứ hạng rượu cao nhất ở Italia,

tương đương với rượu Grands Crus (chất lượng tuyệt vời) ở Pháp hay rượu

DOC (Denominacion Origen Calificada) của Tây Ban Nha. Thường các

chuyên gia thử nếm rượu nhận biết tương đối dễ dàng các loại rượu DOCG

của Italia, bởi vì rượu này tinh tế, thanh cao, sang trọng. Sau đây là 23 loại

rượu vang chất lượng tuyệt hảo được công nhận ở Italia năm 2001:

+ Vùng Piémont: Barolo, Barbaresco, Moscato d’Asti, Brachetto

d’Acqui, Gattinara, Gavi, Ghemme.

+ Vùng Lombardie: Franciacorta, Valtellina Superiore,

+ Vùng Vénétie: Bardolino Superiore, Recioto di Soave,

+ Vùng Frioul - Vénétie - Julienne: Ramandolo,

+ Vùng Emilie - Romagne: Albana di Romagna,

+ Vùng Toscane: Brunello di Montalcino, Carmignano, Chianti, Chianti

Classico, Vernaccia di San Gemignano, Vino Nobile di Montepulciano,

+ Vùng Ombrie: Sagrantino di Montefalco, Torgiano Rosso Riserva,

+ Vùng Campanie: Taurasi,

+ Đảo Sardaigne: Vermentino di Gallura.

Từ Bắc xuống Nam, Italia trải dài trên 1.200km với địa hình vô cùng đa

dạng, mỗi địa phương đều có truyền thống sản xuất rượu vang riêng và các

giống nho riêng, trừ một số giống nho quốc tế mà chủ yếu là các giống nho

Pháp.

Vùng Piémont nằm ở phía Tây - Bắc là vùng trồng nho làm rượu nổi

tiếng nhất Italia, với 7 loại rượu vang chất lượng tuyệt hảo (DOCG) và 43

loại có nguồn gốc xuất xứ được xác định (DOC). Một số giống nho địa

phương nổi tiếng của Italia như giống Nebbiolo tỏ ra rất thích hợp với chất

đất vùng đồi Langhe và Monferrato và cũng chính giống nho này cho ra đời

hai sản phẩm DOCG nổi tiếng Italia và thế giới: DOCG Barolo và DOCG

Barbaresco. Hai giống nho đỏ khác đang được quan tâm là giống Barbera và

giống Dolcetto, rất thành công ở vùng Alba và Asti. Trong các giống nho

trắng, phải kể đến giống Cortese, giống Arneiss hay giống Muscat hạt nhỏ là

giống nho có trong rượu vang sủi Asti (Asti Spumante).

Nằm ở trung tâm Italia, với 27.000ha, vùng Lombardie sản xuất các loại

vang rẻ tiền, không được người địa phương ưa chuộng, trừ rượu vang sủi

Spumante tươi mát. Tuy nhiên, cần phải nói thêm là hàng năm có tới 6 triệu

chai rượu Nebbiano của vùng Lombardie được xuất sang Thụy Sĩ.

Vùng thung lũng Aoste, nằm lọt trong những hẻm núi phía Tây - Bắc,

với 600ha, được biết đến như những sản phẩm rượu vang địa phương nhằm

thỏa mãn tính hiếu kỳ của khách du lịch.

Vùng Ligurie, với 500ha, sản xuất chủ yếu vang trắng đến từ 5 làng

trồng nho, đánh cá (Cinque Terre) cạnh thành phố La Spezia. Nho ở đây

được trồng trên những sườn núi chênh vênh trông ra biển.

Vùng Trentin Haute Adige, với 11.100ha và khí hậu lục địa lạnh và khô,

sản xuất các loại vang trắng tươi mát, nhiều tính khoáng chất.

Sát biên giới Áo và Slovenia, vùng Frioul - Vénétie - Juliene, với

12.300ha, sản xuất nhiều rượu vang trắng nổi tiếng Italia và thế giới, ví dụ

như rượu Tocai Friulano. Rượu vùng Frioul tươi mát, hương vị thơm ngát

mùi hoa quả, nhưng thường không giữ được lâu.

Kế bên, vùng Vénétie rộng lớn với 35.400ha (sản xuất khoảng 225 triệu

chai hàng năm, gồm các loại vang đỏ DOC Bardolino và Valpolicella, vang

trắng Soave, chưa kể đến rượu vang đỏ Amarone nổi tiếng từng được quảng

bá trong phim “Bầy cừu im tiếng” và rượu DOCG Recioto.

Phía Nam vùng Vénétie, vùng Emilie Romagne với rượu vang sủi nổi

tiếng Lambrusco, sản xuất tới 700.000 hectolit hàng năm, trong đó 75% rượu

vang đỏ.

Vùng Toscane, với 68.000ha, sản xuất tới 33% sản lượng rượu vang

toàn Italia, trong đó 85% vang đỏ. Giống nho đỏ Sangiovese đã đem lại vinh

quang không chỉ cho rượu Chianti mà còn cho rượu Vino Nobile di

Montepulciano và Brunello di Montalcino. Vùng Toscane còn nổi tiếng với

các loại rượu làm từ các giống nho Bordeaux như Cabernet Sauvignon và

Merlot (rượu Tignanello và Sassicaia).

Tuy nhiên, vùng Toscane danh bất hư truyền không làm chúng ta lãng

quên các vùng trồng nho, làm rượu khác của Italia như vùng Latium với các

rượu vang trắng nổi tiếng Frascati (các giống nho Trebbiano, Malvasia

Vàgreco) rất được thị dân Roma ưa chuộng, rượu Marino, cũng làm từ các

giống nho như rượu Frascati, rượu Castelli Romani, rượu Est! Est! Est! di

Montefiascone mà truyền thuyết kể lại rằng có một cố đạo–tửu đồ người

Đức, trên đường hành hương đến Roma năm 1100, đã yêu cầu người đầy tớ

của mình đi trước mở đường với nhiệm vụ ghi lại bằng phấn chữ “Est”, có

nghĩa là “vang ngon (Vinum Est Bonum)” trước cửa những quán ăn bán

rượu ngon. Khi đến địa phận Montefiascone, quá mê rượu ở đây, người đầy

tớ đã ghi tới 3 chữ “Est” trên cửa tiệm ăn, từ đó trở thành huyền thoại rượu

Est! Est! Est! Di Montefiascone.

Vùng Campanie cũng có một huyền thoại khác liên quan đến rượu

Lacryma Christi del Vesuvio. Chuyện kể rằng quỷ Sa Tăng khi bị đuổi ra

khỏi Thiên Đường đã ăn cắp một mảnh Trời Xanh chạy trốn xuống vịnh

Naples. Vì thế mà thành phố Naples và vùng phụ cận thường bị gọi là “Thiên

đường của quỷ dữ”. Chúa Jesus, trong một lần xuống trần gian, đứng trên

sườn núi lửa Vésuve, đã nhỏ nước mắt thương xót cho người trần gian phải

chịu cảnh ngang trái. Nơi những giọt nước mắt chúa Jesus nhỏ xuống trên

sườn núi, mọc lên xanh tốt những vườn nho. Từ đó, rượu làm từ nho mọc

trên núi Vesuve được gọi là “rượu nước mắt Chúa”.

3. Tây Ban Nha

Tây Ban Nha là một trong những nước có diện tích trồng nho lớn nhất

trên thế giới (1,1 triệu ha), nhưng chỉ đứng thứ 3 thế giới về sản lượng rượu

vang, sau Pháp và Italia. Lý do là vì khí hậu khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi nên

sản lượng nho rất thấp, chỉ khoảng 31 hectolit/ha, trong khi ở Pháp sản lượng

này lên tới 60 hectolit/ha. Tuy nhiên, từ năm 1995, Bộ Nông nghiệp Tây Ban

Nha đã cho phép những nhà trồng nho được tưới nước khi ruộng nho bị khô

hạn, nhằm giúp cho sản lượng thu hoạch được nâng cao.

Ngoài môt số nhà sản xuất lớn như Torres hay các tập đoàn lớn như

Cordoniu, các vùng trồng nho thường bị chia năm sẻ bẩy bởi các nhà sản

xuất nhỏ. Bên cạnh đó còn có rất nhiều hợp tác xã. Mỗi vùng sản xuất đều có

các hội đồng điều hành nhằm đảm bảo chất lượng rượu vang do vùng sản

xuất ra.

Ở Tây Ban Nha, mặc dù rượu vang bàn chiếm đa số, bạn cũng có thể tìm

thấy những mặt hàng rượu vang vô cùng phong phú, từ rượu vang trắng

dùng để uống ngay đến các rượu vang đỏ danh tiếng vùng Rioja, rượu vang

hồng vùng Navarre, rượu vang đỏ nhẹ vùng Valdepenas hay rượu vang nổ

vùng Catalogne.

Rượu vang Tây Ban Nha với nhãn DO (Denominacion de Origen) có

tiêu chuẩn tương đương với các loại rượu vang chất lượng cao của Pháp

(AOC).

Đối với vang đỏ, bạn thường thấy 4 loại sau đây:

- Loại “Garantia de origen” là loại vang trẻ, không qua quá trình nuôi

trong thùng gỗ sồi và thường được uống ngay trong năm đầu hoặc năm tnứ

hai sau khi đóng chai.

- Loại “Vino de Crianza” là loại được nuôi 2 năm trong chai và thùng gỗ

sồi, với ít nhất 6 tháng trong thùng gỗ sồi.

- Loại “Vino de Reserva” là loại rượu được nuôi ít nhất 3 năm trong chai

và trong thùng gỗ sồi, với ít nhất 1 năm trong thùng gỗ sồi.

- Loại “Gran Reserva” được nuôi ít nhất 5 năm trong chai và trong thùng

gỗ sồi, với ít nhất 2 năm trong thùng gỗ sồi.

Từ vựng rượu vang Tây Ban Nha

Bodega: để chỉ một hầm rượu, một nơi làm rượu hay một nhà sản xuất.

Cava: để chỉ vang nổ làm theo phương pháp cổ truyền.

Consejo Regulador: hội đồng điều hành.

Cosecha: mùa thu hoạch.

Tinto: đỏ; Vino tinto: vang đỏ.

Generoso: vang ngọt dùng với món tráng miệng.

Theo một đạo luật ban hành năm 1972, toàn Tây Ban Nha có 12 vùng

trồng nho và sản xuất rượu vang, đó là các vùng Galice, Estremadure,

Andalousie, Baleares, Canaries, Aragon, Catalogne, Andalousie, Levant,

Alto Ebro, Cantabrie, Centre, Douro.

Các vùng trồng nho lớn kể trên lại chia ra thành nhiều vùng nhỏ; trong

các vùng nhỏ nổi tiếng phải kể đến vùng Rioja, Priorato và Penedes (thuộc

vùng lớn Catalogne), Ribera del Duero, Valdepenas, Galice và Jerez.

Tây Ban Nha có 1.250 giống nho, nhưng chỉ có 200 giống được dùng để

sản xuất rượu vang và trong số 200 giống đó chỉ có khoảng 50 giống được

dùng nhiều nhất. Nếu như Tây Ban Nha rất nổi tiếng với rượu vang đỏ thì

một giống nho trắng, giống Airen, lại là giống nho được trồng nhiều nhất với

450.000ha, sau đó là giống Viura hay còn gọi là Macabéo, được dùng nhiều

để sản xuất rượu vang nổ. Có 4 giống nho chính được dùng để sản xuất rượu

vang đỏ ở Tây Ban Nha là: Grenache (Garnacha) với 170.000ha, giống

Mourvedre (Monastrel) với hơn 100.000ha, giống Bobal với 100.000ha và

giống Carrignan. Tuy nhiên, giống nho địa phương nổi tiếng được khôi phục

lại sau nạn rệp rễ nho (phyloxera) là giống Tempranillo đang ngày càng

được phát triển, chiếm khoảng 33.000ha. Gần đây, nhiều nhà trồng nho Tây

Ban Nha đã thành công trong việc trồng ở Tây Ban Nha các giống nho Pháp

như Cabernet Sauvignon, Cabernet Franc, Pinot Noir, Chardonnay, Riesling.

4. Bồ Đào Nha

Với 260.000ha

ruộng nho, hàng năm Bồ

Đào Nha sản xuất

khoảng 7 triệu hectolit

rượu vang, trong đó 3

triệu lít vang trắng Vinho

Verde, 650.000 hectolit

rượu Porto và 250.000

hectolit rượu Madère.

Mức tiêu thụ rượu vang

tính theo đầu người: 50

lít/năm.

Các giống nho trắng

chủ yếu: Alvarinho,

Arinto, Avesso, Barcelo,

Boal, Loureiro,

Malvasia, Sercial...

Các giống nho đỏ

chủ yếu: Boga de Curo,

Moreto, Tinta Amarela,

Tinta Francisca, Tinta

Roziz, Tinto Cao,

Touriga Francesa,

Touriga Nacional,

Verdelho Tinto...

Từ năm 1990, Bồ Đào Nha qui định thứ hạng rượu vang theo hình mẫu

AOC của Pháp: ngoài 15 vùng sản xuất rượu có nguồn gốc xuất xứ được xác

định DOC (Denominacao de Origen Controlada), còn có 30 vùng IPR

(Indicacao de Provenienca Regulamentada) tương đương với rượu được sản

xuất trong những vùng được quy định của Liên minh Châu Âu (VQPRD).

Sau đây là 15 vùng sản xuất rượu vang chất lượng cao của Bồ Đào Nha:

- Alentejo,

- Algarve,

- Bairada,

- Bucelas,

- Carcavelos,

- Colares,

- Dao,

- Douro,

- Estremadure,

- Lafoes,

- Madere,

- Pinhel,

- Ribatejo,

- Setubal,

- Vinhos Verdes.

Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ giới thiệu sâu về rượu Porto là loại

rượu Bồ Đào Nha bán phổ biến ở Việt Nam.

Theo luật, nhà làm rượu có thể sử dụng đến 35 giống nho khác nhau để

làm rượu Porto. Trong thực tế, chỉ có 5 loại thường được sử dụng nhất là:

Touriga Nacional, Touriga Francesa, Tinto Cao, Tinta Roziz và Tinta

Barroca.

4.1. Porto Ruby: là loại Porto rẻ tiền nhất, được trộn từ nhiều hỗn hợp

vang Porto nuôi trong các thùng bê tông hoặc gỗ sồi từ 2 - 3 năm trước khi

đóng chai. Chúng ta cũng có thể gặp loại Ruby Reserve hoặc Vintage

Character, với đặc điểm là rượu đậm hơn và cũng được nuôi lâu hơn trong

thùng bê tông hoặc gỗ sồi (3 - 4 năm) trước khi đóng chai.

4.2. Porto trắng: làm từ hỗn hợp các giống nho trắng được nuôi trong

thùng inox hoặc gỗ sồi từ 2 - 3 năm.

4.3. Tawny: Porto chất lượng cao hơn loại Ruby, thường được nuôi từ 3

- 5 năm trong thùng gỗ sồi Bồ Đào Nha (vì người Bồ Đào Nha cho rằng gỗ

sồi của họ ít chất chát (tanin) hơn gỗ sồi của Pháp).

4.4. Aged Tawny: làm từ hỗn hợp các rượu Porto lâu năm. Ngoài thị

trường, ta thường thấy ghi trên nhãn chai 4 loại Tawny cao tuổi: 10 năm, 20

năm, 30 năm và trên 40 năm. Người Anh là người sành rượu Tawny cao tuổi

nhất, họ thường uống sau bữa ăn. Người Pháp uống khai vị, còn người Bồ

Đào Nha uống với đá.

4.5. Colheita: Tawny trong những năm rất tốt để làm rượu, được nuôi ít

nhất 7 năm trong thùng gỗ sồi. Trên nhãn chai bắt buộc có năm thu hoạch

nho và năm đóng chai.

4.6. Vintage: Porto thuần túy từ một vụ thu hoạch nho, không pha trộn

với các vụ khác. Rượu được nuôi 2 - 3 năm trong thùng gỗ sồi rồi được

quyết định có đủ tiêu chuẩn Vintage hay không trước khi đóng chai. Rượu

tốt, có thể giữ được từ 20 - 30 năm, nhưng khi đem ra phục vụ khách phải

thận trọng vì là rượu không lọc cặn (nếu có thể, dùng vải màn sạch lọc và

chuyển ra bình thủy).

4.7. Late Bottled Vintage (LBV): những lô Porto bị loại trong quá trình

lựa rượu Vintage, sau đó được nuôi từ 4 - 6 năm trong thùng gỗ sồi trước khi

đóng chai. Có thể được lọc cặn hay không.

Các thương hiệu Porto nổi tiếng:

- Ferreira, Quinta do Porto 10 năm tuổi,

- Fonseca, Tawny cao tuổi,

- Quinta do Noval, LBV,

- Taylor, Tawnies 20 năm tuổi,

- Niepoort.

5. Đức

Không những ở Việt Nam mà trên thế giới cũng rất ít người biết đến

rượu vang Đức, bởi:

- Rượu vang Đức chủ yếu được tiêu thụ trong nước,

- Số ít rượu ngon dành cho xuất khẩu rất mắc tiền, do mức sống của

người Đức cao.

- Việc phân loại, đọc và hiểu nhãn chai rượu Đức cũng rất phức tạp, do

đó làm nản người tiêu dùng.

Tuy nhiên, với 105.000ha trồng nho, với sản lượng 12.000.000

hectolit/năm và mức tiêu thụ tính theo đầu người 23,7 lít/năm, nước Đức

đứng hàng thứ 6 trên thế giới và nhiều chai vang trắng của Đức được xếp

hạng trong số những loại rượu vang trắng nổi tiếng nhất thế giới (ví dụ như

rượu Johannisberg).

Các giống nho trắng chủ yếu ở Đức là Muller - Thurgau (là giống nho

lai giữa giống Riesling và giống Sylvaner), Riesling, Silvaner, Kerner và

Rulander... 3 giống nho đỏ chủ yếu là Spatburgunder (Pinot Noir), Klevner

và Portugierser.

Nước Đức được chia làm 13 vùng trồng nho:

- Vùng Ahr, chủ yếu sản xuất rượu vang đỏ từ các giống nho

Spatburgunder, Klevner và Portugierser,

- Vùng Mosel - Saar - Ruwer, chủ yếu vang trắng có tính chất hoa quả

tươi mát,

- Vùng Mitelrhein: vang trắng đậm,

- Vùng Rheigau: vùng này sản xuất nhiều rượu Riesling có tên tuổi,

- Vùng Nahe,

- Vùng Rheinhessen, cả vang trắng và vang đỏ,

- Vùng Rheinpfalz: nhiều loại vang trắng và đỏ rất đa dạng,

- Vùng Hessische Bergstrasse: vùng trồng nho nhỏ nhất nước Đức,

- Vùng Franken: các chai rượu vang ở vùng này có dạng dẹt, như bi

đông nước,

- Vùng Wurttemberg,

- Vùng Baden,

- Vùng Saale - Unstrut,

- Vùng Saschsen.

Cách phân loại rượu vang Đức

- Deutscher Tafelwein: rượu vang bàn.

- Deutscher Landwein: rượu vang vùng.

- Qualitatswein bestimmter Anbaugebiete (QbA): rượu vang trong

những vùng trồng nho được xác định, tương đương tiêu chuẩn VQPRD của

Liên minh Châu Âu (Vins de Qualité Produits dans des Régions

Déterminées). Nhà sản xuất phải đáp ứng các tiêu chuẩn về giống nho làm

rượu, nhưng có thể pha thêm đường cho rượu bớt chua.

- Qualitatswein mit Pradikat (QmP): đây là loại rượu vang có chất lượng

cao, tương đương loại AOC của Pháp.

Các loại rượu QmP lại được xếp hạng tùy theo độ đường nguyên

thủy có trong nho

- Loại Kabinett là loại khô, nhẹ và cũng rẻ tiền nhất, có từ 7 - 9 độ cồn

(7 - 9%).

- Loại Spatlese, nửa khô, thường được nuôi 3 năm trong thùng Inox

hoặc gỗ sồi.

- Loại Auslese, có lượng đường cao, làm từ nho rất chín (surmaturé).

- Loại Beerenauslese, rất ngọt, thậm chí gần như rượu mùi (Vins

Liquoreux). Rượu này được làm từ nho bị nấm quý tộc tấn công (như rượu

Sauternes của Pháp), vì thế hiếm và đắt.

- Loại Trockenbeerenauslese, làm từ nho chín héo quắt lại trên cây, đầy

mùi mật và sáp ong. Đây cũng là một trong những loại rượu quý hiếm trên

thế giới, như kiểu rượu làm từ nho phơi trên thảm rơm (vin de paille) của

vùng Jura và Côtes du Rhône (Pháp).

- Loại Eiswein, làm từ nho thu hoạch muộn giữa mùa Đông (15/01 hàng

năm, khi nhiệt độ xuống dưới 13 độ âm). Rất mắc tiền.

Một số thương hiệu nổi tiếng:

- Weingut Bercher - Burkheim, Baden, Weissburgunder, QmP Spatlese

1999,

- Niersteiner - Pettental, Rheinhessen, Riesling, QmP Kabinett, 2001,

- Louis Guntrum, Rheinhessen, Riesling, QmP Auslese, 1976,

- Joachim Heger, Baden, Spatburgunder, QbA “Trocken”, 2000.

6. Áo

Nước Áo có

60.000ha đất trồng nho

trong đó hơn một nửa ở

Hạ Áo và 21.000ha ở

vùng Burgenland.

Vùng trồng nho ở

thủ đô Vienne chỉ có

740ha, chiếm hơn 1%

diện tích trồng nho cả

nước.

Sản lượng hàng năm

là 2.800.000 hectolit,

mức tiêu thụ tính theo

đầu người 35 lít/năm.

Tuy xuất khẩu mỗi

năm khoảng 250.000

hectolit, Áo vẫn phải

nhập khẩu hàng năm

500.000 hectolit, chủ yếu là từ Italia.

Cách phân loại rượu vang Áo chủ yếu dựa trên cách phân loại của Đức,

nghĩa là ngoài vang có nguồn gốc xuất xứ đuợc xác định (Qualitatswein) còn

có vang địa phương (Spitzenwein) và vang bàn (Tischwein).

Các giống nho trắng chính:

- Gruner - Veltliner chiếm 35,5% diện tích trồng nho. Giống nho này có

mặt ở Hạ Áo, Burgenland và Vienne.

- Muller - Thurgau, 9% diện tích trồng nho.

- Welschrisling, 8,2% diện tích trồng nho

- Ngoài ra, còn có các giống Sylvaner, Gewurztraminer, Neuburger,

Rotgifler, Rulander, Scheurebe và Zierfandlher.

Các giống nho đỏ: Portugieser, Pinot Noir, Blau Wildbacher, Cabernet

Sauvignon, Cabernet Franc, Merlot, Nebbiolo, Syrah.

Các vùng trồng nho chính:

- Weinviertel, nằm ở phía Bắc thủ đô Vienne. Hai lãnh địa được nhắc

đến nhiều là Retz và Falkenstein.

- Vienne. Các ruộng nho trong chính nội thành Vienne càng làm cho

thành phố có sức mê hoặc. Cũng như vùng Beaujolais của Pháp, vùng

Vienne sản xuất loại “rượu mới” có tên là “Heurige”, tươi mát và nhiều tính

chất hoa quả dùng thay cho nước giải khát trong mùa hè. Các lãnh địa nổi

tiếng về rượu mới là Grinzling, Kahlenberg, Nussdorf, Sievering và Weiden.

- Vùng Thermenregion, nằm ở phía Nam thủ đô Vienne, xung quanh 2

thành phố Baden và Gumpoldskierchen. Ngoài các loại vang trắng mà nổi

bật nhất là vang Gumpolskierchener từ 2 dòng nho Rotgipfler và Zierfandler,

vùng này còn sản xuất vang đỏ từ các dòng nho Portugieser, Pinot Noir và

Cabernet Sauvignon.

- Vùng Burgenland, 19.215ha, nằm sát biên giới Hungary, xung quanh

hồ lớn Neusiedler. Khí hậu vùng này rất thích hợp cho sự phát triển của nấm

quý tộc (Botrytis cinérea). Vùng này nổi tiếng với loại rượu ngọt Ausbruch

làm từ các dòng nho Riesling, Muller - Thurgau, Grunerveltliner và Muscat

Ottonel.

- Vùng Wachau, với diện tích 1.350ha, nằm trên các ngọn đồi phía Nam

sông Danube, phía Tây thủ đô Vienne, được coi là vùng sản xuất rượu vang

trắng ngon nhất Áo. Bạn có thể tìm thấy ở vùng này các chai vang tuyệt vời

Schluck, từ nho trắng Sylvaner, hay các chai Grunerveltliner và Riesling của

các hầm rượu Josepf Jamek, F.Pichler và Hutter.

- Vùng Kamptal - Donauland, với các loại vang trắng tương đối ngon từ

các dòng nho Riesling và Grunerveltliner.

- Vùng Donauland - Carnuntum, sản xuất cả vang trắng và vang đỏ,

nhưng vang đỏ vùng này được biết đến nhiều hơn là vang trắng.

- Vùng Steiermark, 3.582ha, rất nổi tiếng với một loại vang hồng đặc

biệt có tên là “Schilcher”. Rượu này làm từ nho đỏ Blau Wildbacher, tươi

mát, vị chua thậm chí hơi gắt, hiếm và đắt vì nho Blau Wildbacher cho sản

lượng thấp, đồng thời rất nhạy cảm với sâu bệnh.

7. Thụy Sĩ

Thụy Sĩ là nước Trung Âu có diện tích trồng nho tương đối nhỏ, chỉ

khoảng 15.000ha, sản lượng hàng năm 1.276.000 hectolit, xuất khẩu 13.000

hectolit/năm, chủ yếu là sang Anh và Đức, nhập khẩu 1.817.000

hectolit/năm, chủ yếu từ Italia, mức tiêu thụ tính theo đầu người 41,3 lít/năm.

Công việc trồng, chăm sóc và thu hoạch nho ở Thụy Sỉ rất vất vả do địa

hình đồi núi phức tạp, nhiều nơi vào mùa thu hoạch nho người ta phải bắc

giàn giáo hoặc dùng tời để hái nho. Thụy Sĩ cũng là nước Trung Âu có các

ruộng nho cao nhất thế giới, ở độ cao 1.100m (vùng Valais).

Các giống nho trắng

chủ yếu: Chasselas (76%

diện tích trồng nho trắng

ở Thụy Sĩ), Sylvaner (tên

địa phương là Rhin,

11,5%), Pinotgris (2%),

Chardonnay (1,8%),

Petite

Arvine (1,5%),

Marsanne (tên địa

phương là Ermitage,

1,4%), Amigne (0,75%),

Riesling (0,70%), Muller

- Thurgau (tên địa

phương là Riesling -

Sylvaner, 0,60%)...

Các giống nho đỏ

chủ yếu: Pinot Noir

(61,5%), Gamay

(35,5%), Humagne, Cornalin, Cabernet Sauvignon, Cabernet Franc, Merlot,

Nebbiolo, Syrah...

Các vùng trồng nho chủ yếu:

Suisse romande (vùng nói tiếng Pháp), 11.000ha. Đây cũng là vùng

trồng rau và cây ăn quả cung cấp cho toàn quốc: măng tây, dâu tây, phúc bồn

tử, lê, táo...

“Fendant” là tên môt loại rượu trắng từ dòng nho Chasselas, rất thơm,

rất khô, dư vị kéo dài, nhiều tính chất hoa quả.

“Dôle” là tên một loại rượu đỏ với 51% nho Pinot noir, 49% nho

Gamay.

“Goron” là tên loại rượu hạng hai của “Dôle”, chất lượng cũng kém hơn.

“La Marque” và “Le Coquempey” là tên hai loại rượu làm từ nho Petite

Arvine.

“Perlan” là tên một loại rượu sản xuất ở hạt Genève, từ dòng nho

Chasselas. Rượu này có chút bọt tăm nhưng không phải là rượu vang sủi

(Vin Mousseux).

Suisse alémanique (vùng nói tiếng Đức), 2.500ha. Dòng nho đỏ duy

nhất trồng ở vùng này là Pinot Noir. Trong các dòng nho trắng như Muller -

Thurgau, Pinotgris, Gewurztraminer và Riesling, dòng Muller - Thurgau cho

kết quả khả quan nhất.

Suisse Italienne hay là vùng Tessin, 1.000ha. Đây là vùng trồng nho nổi

tiếng nhất của Thụy Sĩ. “Nostrano” là nhãn mác một loại vang bàn pha trộn

giữa các dòng nho địa phương, “Vitis” là nhãn mác các loại vang chất lượng

cao từ dòng nho Merlot có độ cồn từ 12% trở lên. “Vitis” cũng là một trong

những loại vang đỏ ngon nhất ở Thụy Sĩ.

Ngoài 3 vùng trồng nho lớn kể trên, còn có một vùng trồng nho nhỏ

khoảng vài trăm ha bên cạnh hồ Neuchatel và hồ Murat. Hai dòng nho trắng

ở vùng này là Chardonnay và Chasselas, nhưng đặc sản địa phương lại là

rượu “Œil de Perdrix”, một loại vang phớt hồng pha sắc vàng từ dòng nho

Pinot Noir.

8. Hungary

Rượu vang Hungary, nhất là rượu ngọt Tokaj, đã nổi tiếng từ thế kỷ thứ

15 với các bí quyết chữa bệnh gia truyền. Không phải vô cớ mà vua Pháp

Louis thứ 14 đã gọi rượu Tokaj là “vang của các Hoàng đế và Hoàng đế của

các loại rượu vang”.

Địa hình nước

Hungary là một đồng

bằng lớn với vài rặng núi

cao trung bình 1.000m.

Khí hậu lục địa với mùa

hè dài, nóng và khô, mùa

đông lạnh và ẩm ướt.

Nho rất thích hợp với

chất đất núi lửa quanh hồ

Balaton và vùng Đông

Bắc (Tokaj và Eger).

70% sản lượng rượu

vang Hungary là vang

trắng. Các giống nho

trắng địa phương nổi

tiếng là Furmint,

Harslevelu, Szurkebarat

(Pinotgris), Olaszrizling

và Léanyka. Các giống

nho trắng quốc tế nổi

tiếng là Chardonnay, Riesling và Muscat. Bên cạnh các giống nho địa

phương đỏ như Kéfrankos, Kadarka, Kisburgundi, Nagyburgundy (Pinot

Noir) và Kékoporto, phải kể đến các giống nho đỏ quốc tế như Cabernet

Sauvignon và Merlot.

Toàn Hungary có 7 vùng trồng nho lớn với diện tích gần 150.000ha:

- Vùng núi Mecsek, kéo dài từ Tây Nam (Pecs) lên Đông Bắc

(Szekszard). Vùng này nổi tiếng với các loại rượu vang Walschriesling trắng

của Pecs và Szekszard, rượu vang đỏ Nemes Kadar từ dòng nho Kadarka,

nhất là các loại vang đỏ Cabernet Sauvignon và Merlot.

- Vùng đồng bằng trung tâm giữa hai con sông Danube và Tisza, với sản

lượng hàng năm khoảng 200.000 - 300.000 hectolit rượu vang trắng, nổi

tiếng với loại Kecskemeti Léanyka và các loại rượu mạnh chưng cất từ nho.

Tuy nhiên, hai huyện Hajos - Vaskuti và Csongrad còn sản xuất các loại

vang đỏ từ nho Kadarka.

- Vùng hồ Balaton: các loại rượu vang trắng sản xuất ở vùng hồ Balaton

được xem như là những loại vang trắng ngon nhất Hungary. Có thể kể đến

rượu vang trắng Keknyelu trồng trên đá Bazan phía Bắc hồ Balaton, rượu

Szurkebarat của vùng Badacsonyi hay rượu Muskotaly của xã Boglari, rượu

Olaszrizling của xã Csopaki và rượu Ezerjo của xã Balatonfuredi.

- Vùng Sopron, sát biên giới Áo, nổi tiếng với các loại vang đỏ làm từ

nho Kefrankos, Cabernet Sauvignon, Merlot và Pinot Noir.

- Vùng Matralja, cách thủ đô Budapest 80km về phía Đông - Bắc. Các

ruộng nho dưới và trên sườn núi Matra cũng như xung quanh thành phố

Gyongyos cung cấp chủ yếu các loại vang trắng từ các dòng nho Chasselas,

Chardonnay, Sauvignon Blanc, Muskotaly và Szurkebarat.

- Vùng Eger, nằm dưới chân rặng núi Bukk, cách Matralja 30km về phía

Đông - Bắc. Rất nổi tiếng với rượu vang đỏ Egri Bikaver “Máu bò” làm từ

hỗn hợp nho Kefrankos, Cabernet Sauvignon và Kekoporto và rượu Egri

Kadarka, màu đỏ sẫm, giàu chất chát, có thể giữ được lâu. Ngoài hai loại

vang đỏ nói trên, du khách có thể thử nếm vang trắng Egri Leanyka và vang

trắng Muscat.

- Vùng Tokaj, nằm cạnh biên giới Ukraine, dọc theo sông Bodrog. Rượu

Tokaj là “linh hồn” của rượu vang Hungary, là “quốc hồn” của dân tộc

Hungary. Đây là một vùng giàu vào bậc nhất Hungary, với 5.000ha nho

Muscat, Furmint và Harslevelu. Vào mùa thu hoạch, các chùm nho bị nấm

quý tộc tấn công được hái kỹ lưỡng bằng tay và được để riêng trong các giỏ

cần xé 25kg, được tính như một đơn vị đo lường 1 puttonyos. Tùy theo số

lượng các giỏ nho bị nấm quý tộc tấn công được pha trộn vào 136 lít nho

chín bình thường mà ta thấy trên các chai rượu Tokaj có ghi từ 3 - 6

puttonyos. Những năm đặc biệt thuận lợi, vùng Tokaj có quyền sản xuất ra

loại Tokaj Eszencia, với 650gr đường/lít, đặc sánh như mật ong và tất nhiên

là... rất mắc tiền.

Tất cả các loại rượu Tokaj từ 3 - 5 puttonyos có thể giữ được từ 20 - 30

năm, loại 6 puttonyos và Eszencia có thể giữ được tới 150 - 200 năm.

9. Bulgaria

Với 110.000ha đất trồng nho, Bulgaria sản xuất ra 4.000.000 hectolit

rượu vang/năm và đứng thứ năm trong số các nước xuất khẩu nhiều rượu

vang nhất trên thế giới.

So với hệ thống đo lường tiêu chuẩn chất lượng của Pháp, Bulgaria có

khoảng 27 loại rượu vang có nguồn gốc xuất xứ được xác định (Controliran).

Rượu vang có chất lượng đặc biệt cao (Reserve) là những loại rượu vang

nuôi trong thùng gỗ sồi (2 năm đối với rượu vang trắng, 3 năm đối với rượu

vang đỏ).

Những năm gần đây,

rượu vang Bulgaria ngày

càng có uy tín do

Bulgaria đã mạnh dạn

đưa vào trồng các giống

nho quốc tế và cải tiến

trang thiết bị trồng nho

và các trang thiết bị sản

xuất rượu cũng như chú

trọng đến chất lượng và

giá thành sản phẩm.

Có 4 giống nho đỏ

địa phương nổi tiếng

là:

- Mavrud, được chủ

yếu trồng ở miền Nam

Bulgaria, xung quanh

thành phố Asenovgrad. Các loại rượu được sản xuất từ nho Mavrud có màu

sắc đậm đặc, nhiều chất chát, mùi mận đen và gia vị.

- Gamza (thực ra là giống Kadarka của Hungary), được trồng nhiều ở

miền Bắc, nhất là xung quanh thành phố Suhindol. Rượu được sản xuất từ

nho Gamza thường đậm đặc, nhiều chất chát, có thể giữ lâu.

- Pamid là loại nho cho ra rượu vang đỏ bình thường và tươi mát.

- Melnik cho sản xuất ra vang đỏ có màu rất đậm, rất chát, nên để một

thời gian trước khi dùng.

Tuy nhiên, các nước nhập khẩu rượu vang của Bulgaria đều cho rằng

Bulgaria thành công hơn với các dòng nho quốc tế như Cabernet Sauvignon,

Merlot (đỏ) và Chardonnay, Riesling (trắng). Bulgaria trồng tới 18.000ha

nho Cabernet Sauvignon. Tổng số diện tích trồng nho Cabernet Sauvignon

và nho Merlot chiếm đến 3/4 diện tích trồng nho đỏ ở Bulgaria.

Trong số các dòng nho trắng địa phương, phổ biến nhất là dòng nho

Rkatziteli, có nguồn gốc từ Géorgie. Bulgaria cũng rất thành công với các

dòng nho trắng quốc tế như Chardonnay, Sauvignon Blanc, Riesling,

Gewurtztraminer... tại các vùng trồng nho ven biển Đen như Preslav, Novi

Paza, Khan Krum...

10. Rumania

Vang Rumania đã

nổi tiếng từ thế kỷ thứ 3

trước Công nguyên dưới

cái tên vang xứ Dacie.

Đến thời Trung cổ,

Rumania bán rượu vang

sang Nga, Ba Lan và

Italia. Dưới thời

Ceaucescu, các ruộng

nho ở các vùng đồi núi

được khôi phục lại và

chất lượng vang

Rumania được nâng cao.

Hiện nay, Rumania là

một trong 10 nước sản

xuất rượu vang lớn nhất

trên thế giới, với

250.000ha đất trồng nho,

chia ra làm 8 vùng lớn,

với 50 loại rượu vang có

nguồn gốc xuất xứ được xác định(V.S.O). Sản lượng vang hàng năm của

Rumania vào khoảng 10.000.000 hectolit.

- Vùng đồi Murfatlar, với rượu ngọt Muscat de Murfatlar, được coi là

một trong những loại rượu tráng miệng ngon nhất Rumania, với độ cồn 16 -

18, hương hoa cam và vị mật ong. Vùng Murfatlar còn sản xuất các loại

vang trắng từ các dòng nho Chardonnay, Muscat Ottonel, Pinotgris; các loại

vang đỏ từ các dòng nho Cabernet Sauvignon và Pinot Noir.

- Vùng Dealul Mare, với các loại rượu vang trắng từ các dòng nho

Sauvignon Blanc, Riesling, Feteasca Regala, Muscat Ottonel và các loại

vang đỏ từ các dòng nho Pinot Noir, Cabernet Sauvignon và Feteasca Negra.

- Vùng Cotnari, cạnh biên giới Moldavie, nổi tiếng với rượu vang trắng

ngọt Cotnari từ dòng nho Furmint. Rượu này có thể làm từ nho bị nấm quý

tộc tấn công hoặc được nuôi trên thảm rơm như kiểu rượu ngọt Vin de Paille

của vùng Jura (Pháp). Các dòng nho khác: Feteasca Alba, Tamaiioasa

(trắng), Merlot, Cabernet Sauvignon (đỏ).

- Vùng Dragasani, với rượu vang trắng nổi tiếng Dragasani từ dòng nho

Muscat Ottonel. Các dòng nho khác: Sauvignon Blanc, Riesling (trắng);

Cabernet Sauvignon, Feteasca Negra, Pinot Noir (đỏ).

- Vùng Tirnave. Sản phẩm chủ yếu của vùng này là vang trắng từ các

dòng nho Sauvignon Blanc, Pinotgris, Riesling, Gewurtztraminer và Muscat

Ottonel. Rượu vang trắng nổi tiếng nhất ở đây có tên là “Viên ngọc trai của

Tirnave - Perla” từ dòng nho Feteasca Alba.

- Vùng Vrancea, là vùng trồng nho lớn nhất Rumania, với các địa danh

Cotesti (vang đỏ Merlot và Pinot Noir), Nicoresti (vang đỏ Feteasca Negra

và Merlot), Odobesti (vang trắng Feteasca Alba và Muscat Ottonel).

- Vùng Banat, nổi tiếng với rượu vang đỏ từ dòng nho Kadarka.

- Vùng châu thổ sông Danube, chủ yếu là vang bàn và vang địa phương.

11. Hy Lạp

Là đất nước tràn

ngập ánh nắng mặt trời,

với đất đá vôi hoặc đất

đá núi lửa, dường như

Hy Lạp hội tụ đủ các

điều kiện cần thiết để sản

xuất ra rượu vang chất

lượng cao.

Tuy nhiên, với

165.000ha đất trồng nho

và sản lượng hàng năm

khoảng 4.800.000-

5.000.000 hectolit, Hy

Lạp không có nhiều rượu

vang ngon và vẫn phải

nhập khẩu 63.000

hectolit/năm, trong khi

đó vang xuất khẩu chỉ

đạt 43.000 hectolit/năm.

Mức tiêu thụ tính theo

đầu người ở Hy Lạp

khoảng 25 lít/năm.

Từ thời xa xưa, Hy Lạp đã xuất khẩu rượu vang sang nhiều nước ven bờ

Địa Trung Hải. Đến thời Trung cổ, rượu ngọt đảo Samos vẫn được nhiều

quốc gia yêu thích. Bản thân từ “rượu vang” cũng có nguồn gốc từ tiếng Hy

Lạp “Oenos”. Sau khi Hy Lạp giành được độc lập (1830), ngành trồng nho,

làm rượu ở Hy Lạp phát triển rất nhanh.

Hy Lạp có khoảng 300 giống nho địa phương. Các giống nho đỏ chính:

Agiorgitiko, Limnio, Mandelaria, Xinomavro... Các giống nho trắng chính:

Assyrtiko, Rhoditis, Savatiano, Robola, Debina, Athiri, Muscat...

Cách phân loại rượu vang Hy Lạp:

- Vang bàn: Epitrapezeos oenos,

- Vang vùng: Topikos oenos,

- Vang làm theo phương pháp truyền thống: Onomasia kata Paradise,

- Vang có nguồn gốc xuất xứ được xác định: chia ra làm 2 loại:

+ Vang khô: OPAP (Onomasias Prolefsis Anoteris Piotisas),

+ Vang ngọt: OPE (Onomasias Prolefsis Elenchomenis) từ các dòng nho

Muscat.

Rượu “Retsina” là một loại rượu vang trắng hoặc hồng làm từ dòng nho

Savatiano. Khi rượu đang lên men, người ta cho nhựa thông Alep vào làm

cho rượu ổn định và chịu được nhiệt độ cao. Sau đó ít lâu, rượu được rút

khỏi bồn chứa, lọc và đóng chai.

Các vùng trồng nho chính của Hy Lạp:

- Vùng Peloponnese: 60.000ha, được chia thành 3 địa danh:

+ Néméa, rất nổi tiếng với các loại rượu “Máu lực sĩ Hercule” và “Sư tử

thành Némée”,

+ Mantinia,

+ Patras, nổi tiếng với rượu ngọt đỏ “Mavrodaphne de Patras” và rượu

ngọt trắng “Muscat de Patras”.

- Vùng trung tâm, 30.000ha, nổi tiếng với rượu “Retsina”.

- Vùng Macédoine và Thrace, 15.000ha, nổi tiếng với rượu vang đỏ

“Naoussa” từ dòng nho Xynomavro.

- Vùng đảo Ioniennes, 8.600ha.

- Vùng Thessalie, 8.500ha.

- Vùng Epire, 1.000ha.

- Vùng Cyclades, 5.000ha, nổi tiếng với vang trắng đảo Santorin.

- Vùng Rhodes, nổi tiếng với rượu trắng ngọt “Muscat de Rhodes”.

- Vùng đảo Crète, 32.000ha, nổi tiếng với rượu “Arkanes” trắng từ dòng

nho Vilana, rượu “Dafnes” và “Sitia” đỏ từ dòng nho Liatiko.

- Vùng đảo Crète, 32.000ha, nổi tiếng với rượu “Arkanes” trắng từ dòng

nho Vilana, rượu “Dafnes” và “Sitia” đỏ từ dòng nho Liatiko.

12. Mỹ

Với khoảng 210.000ha đất trồng nho và 23.300.000 hectolit rượu vang

được sản xuất ra hàng năm, Mỹ là một trong 4 nước đứng hàng đầu thế giới

về công nghiệp rượu vang.

Nho được trồng nhiều nhất ở bang California, nhưng một số bang khác

cũng trồng nho và sản xuất rượu, như bang New York, bang Illinois, bang

Ohio, bang Orégon...

Lịch sử rượu vang bang California bắt đầu năm 1769, khi một cha cố

người Tây Ban Nha tên là Junipero Serra mở nhà truyền đạo ở thị trấn San

Diego. Nho được trồng xung quanh xứ đạo để làm rượu lễ (Vin de Messe).

Những năm sau đó, diện tích trồng nho được mở rộng để cung cấp rượu lễ

cho các xứ đạo lân cận Santa Barbara, Sonoma, Monterey, Yerba Buena, sau

này trở thành San Francisco, thủ phủ bang California.

Cho đến năm 1821 là năm Mexico giành được độc lập, các cha cố giữ

độc quyền về trồng nho, làm rượu ở California. Từ những năm 1848, với cơn

sốt đào vàng là sự xuất hiện của người Pháp nhập cư với các giống nho vùng

Bordeaux, công nghiệp rượu vang ở California đã phát triển nhẩy vọt. Ngày

nay, với 190.000ha đất trồng nho, California sản xuất tới 90% sản lượng

rượu vang toàn nước Mỹ. Rượu vang Mỹ chất lượng cao (American

Viticultural Areas - AVA) có thể coi ngang hàng với rượu AOC của Pháp.

Toàn nước Mỹ có 66 AVA, với quy định muốn đạt tiêu chuẩn AVA phải có

tới 85% nho làm rượu đến từ vùng sản xuất được quy định. Muốn lấy tên

nho đặt cho rượu thì trong thành phần của rượu phải có từ 75% nho đó trở

lên.

Nói chung, khí hậu bang California nóng, nhiều khi ngộp thở vào mùa

hè, nhất là trong các thung lũng nằm kẹp giữa rặng núi Sierra Nevada ở phía

Đông và sa mạc Mohave phía Đông - Nam. Rượu vang trong các thung lũng

này có độ cồn cao, nhưng thiếu tươi mát. Đặc biệt các ruộng nho trồng trên

các sườn núi của rặng Sierra có thể cho các mẻ rượu tốt, nhờ khí hậu tương

đối mát mẻ.

Các ruộng nho nằm trong các thung lũng cạnh bờ biển Thái Bình Dương

được hưởng sương mù buổi sáng và mặt trời chiều, vì thế rượu vang ở đây

được coi là rượu ngon nhất. Vùng Napa Valley, với 30.000ha, nổi tiếng với

giống nho đỏ Cabernet Sauvignon và Zinfandel ở các địa phận Stags Leap,

Rutherford và Howell Mountain, còn giống nho trắng Chardonnay lại thích

hợp với độ cao vùng núi Mount Veeder.

Địa phận Mendocino, với ảnh hưởng của khí hậu biển, được nhiều nhà

sản xuất rượu champagne của Pháp đầu tư để làm rượu vang sủi từ các giống

nho Pinot Noir và Chardonnay. Xa hơn về phía Đông, địa phận Clearlake

trồng nhiều giống Cabernet Sauvignon, Zinfandel, Chardonnay và

Sauvignon Blanc (còn gọi là giống Fumé Blanc).

Vùng Sonoma nổi tiếng với các địa phận Alexander Valley và Dry

Creek Valley chuyên sản xuất rượu vang đỏ chất lượng cao từ các giống nho

Cabernet Sauvignon, Merlot và Zinfandel. Giữa vùng Sonoma, địa phận

Green Valley và Los Carneros, nhờ có khí hậu mát mẻ, sản xuất rượu trắng

từ giống nho Chardonnay và rượu đỏ từ giống Pinot Noir.

Ngoài bang California, hai bang khác ở vùng Tây - Bắc là bang

Washington và Oregon cũng nổi tiếng với các rượu vang trắng làm từ các

giống nho Chardonnay và Riesling, các rượu vang đỏ làm từ các giống nho

Pinot Noir, Merlot và Cabernet Sauvignon.

Sát bờ biển Đại Tây Dương, bang New York nổi tiếng với các giống nho

địa phương như Aurora và Seyval Blanc (trắng) hoặc Baco Noir và Maréchal

Foch (đỏ).

Một số thương hiệu nổi tiếng:

- Beringer, cuvée Stone Cellars từ giống nho Cabernet Sauvignon,

- Ridge, cuvée Lytton Springs, từ giống nho Zinfandel,

- Au Bon Climat, cuvée Mount Carmel, từ giống nho Chardonnay,

- Robert Mondavi, cuvée Twin Oaks, từ giống nho Zinfandel,

- Stag’s Leap, Cuvée Cask 23, từ giống nho Cabernet Sauvignon.

***

Năm 2002, nền kinh tế California thu được từ nghề trồng nho, làm rượu

45,4 tỷ đô la, tăng 40% trong 4 năm, tức trung bình 10% mỗi năm.

Theo các số liệu do Viện nghiên cứu rượu vang và Hội những nhà trồng

nho, làm rượu California đưa ra, mặc dù có sự cạnh tranh giữa các nước và

rượu nho được sản xuất quá nhiều, trong năm 2002, rượu nho vẫn là sản

phẩm nông nghiệp thành công nhất ở California, thu hút tới hơn 200.000 lao

động.

Chủ tịch Viện nghiên cứu rượu California, ông Robert Koch tuyên bố:

“Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt trên thế giới, các

vấn đề thương mại và nông nghiệp, cộng thêm thuế má và các luật lệ ngày

càng khe khắt, công nghiệp rượu vang vẫn phát triển mạnh và góp phần đáng

kể vào sự năng động kinh tế của California”.

Năm 2002, có 207.550 nhân công chính làm việc trong ngành sản xuất

rượu ở California, với tổng số lương chưa tính thuế là 7,6 tỷ đô la. Hơn thế,

nhà nước và bang California còn thu lợi trên các khoản thuế khóa về rượu (1

tỷ đô la trong năm 1998, 1,9 tỷ đô la trong năm 2002 cho bang California,

3,7 tỷ đô la trong năm 2002 cho ngân sách liên bang).

Các vùng trồng nho ở California cũng thu hút tới 14,8 triệu lượt khách

du lịch, thu lợi 1,3 tỷ USD.

California là vùng sản xuất rượu vang lớn thứ 4 trên thế giới, sau Pháp,

Italia và Tây Ban Nha. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu rượu vang

California đạt 643 triệu đô la (537 triệu đô la năm 1998).

Mỹ đứng đầu thế giới về tiêu thụ rượu vang năm 2008

Theo một báo cáo của viện nghiên cứu đặc biệt Anh ISRW/DGR, được

công bố ngày 27/01/2005 ở Paris, năm 2008, nước Pháp sẽ tụt xuống hàng

thứ ba sau Mỹ và Italia về mức tiêu thụ rượu vang.

Năm 2008, với mức tiêu thụ rượu vang là 27,66 triệu hectolit, tăng

28,6% so với năm 2003, Mỹ sẽ trở thành nước tiêu thụ rượu vang lớn nhất

thế giới, vượt Italia chút đỉnh (27,24 triệu hectolit, tăng 2,4% so với năm

2003), còn Pháp sẽ tụt xuống hàng thứ 3, với 26,93 triệu hectolit, giảm 7,4%

so với năm 2003.

Trong số 10 nước đứng đầu thế giới về mức tiêu thụ rượu vang, Pháp sẽ

giảm 7,4%, Tây Ban Nha giảm 10,2%, Bồ Đào Nha giảm 9,1%, Argentina

giảm 4,7%. Ngược lại, mức tiêu thụ rượu vang tăng mạnh ở Đức (28,6%),

Anh (15,7%) và Nam Phi (21,1%).

Mỹ, Anh và Đức sẽ chiếm đến 3/4 mức tăng trưởng về tiêu thụ rượu

vang trên thế giới (6,4%) từ nay đến năm 2008.

Năm 2008, ba nước nói trên sẽ tiêu thụ tới 38,7% mức tiêu thụ rượu

vang thường (không tính rượu vang sủi) trên thế giới so với 25,4% năm

2003, tức là tăng gần 9 triệu hectolit. Lần đầu tiên trong lịch sử, Pháp cũng

sẽ mất vị trí bá chủ về mức tiêu thụ rượu vang tính theo đầu người. Italia sẽ

trở thành nước đứng đầu trong lĩnh vực này với 60,2 lít/người so với 58

lít/người ở Pháp (giảm 9,7% so với năm 2003).

Thị trường rượu vang quốc tế sẽ đạt đến 100 tỷ đô la, tương đương với

thị trường mỹ phẩm. Tuy nhiên, thị trường rượu mạnh vẫn giữ vị trí hàng

đầu với 150 tỷ đô la, trong đó 60% được thực hiện ở Châu Á.

Sau đây là dự đoán mức tiêu thụ rượu vang của 10 nước đứng đầu thế

giới năm 2008 (tính theo triệu hectolit):

13. Canada

Canada có khoảng 20.000ha đất trồng nho, trong đó 2/3 nằm ở bang

Ontario, số còn lại nằm ở hai bang Colombie Britanique và Nouvelle Ecosse.

Nho được trồng trên qui mô lớn ở Canada từ những năm 1811, nhưng do

điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chủ yếu các giống nho được trồng là dòng nho

Vitis Labrusca (nho dại) chứ không phải là nho Vitis Vinifera (nho đã được

thuần hóa) và nho trắng chứ không phải là nho đỏ. Tuy nhiên, khí hậu

Canada lại là khí hậu lý tưởng cho việc thu hoạch nho trên tuyết và việc sản

xuất rượu vang từ nho thu hoạch trên tuyết (Vin de Glace - Ice Wine).

Muốn được công nhận là rượu có nguồn gốc xuất xứ được xác định

VQA (Vintners Quality Alliance), thì cả ba vùng trồng nho của Canada đều

phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau: trong rượu phải có 100% các giống nho

được phép trồng, và 100% nho phải được thu hoạch ở ngay chính các vùng

được luật pháp cho phép.

Các giống nho trắng chủ yếu: Vidal, Chardonnay, Riesling, Chenin

Blanc, Pinot Blanc, Gewurztraminer.

Các giống nho đỏ chủ yếu: Pinot Noir, Merlot, Cabernet Sauvignon,

Cabernet Franc, Maréchal Foch (lai giữa Pinot Noir và Gamay) và Chaunac.

Các vùng trồng nho chính:

+ Colombie Britanique, được chia thành 2 vùng là Okanagan Valley

(6.500ha) và Similkameen Valley.

+ Ontario. Phần lớn số 13.000ha nho ở vùng này nằm ở bán đảo Niagara

và được hưởng khí hậu ôn hòa do sự điều tiết của các hồ lớn. Đây cũng là

nơi tập trung các nhà sản xuất danh tiếng nhất Canada như:

+ Stoney Ridge, với rượu Chardonnay và Riesling,

+ Hillebrand Estates, với rượu Chardonnay, Riesling và Vidal thu hoạch

muộn,

+ Inniskillin, với các rượu Chardonnay, Riesling, Gewurztraminer

(trắng), Maréchal Foch, Merlot, Cabernet Sauvignon và Pinot Noir (đỏ).

+ Henry of Pelham: Chardonnay, Riesling, Merlot.

+ Cave Spring: Chardonnay, Riesling.

+ Château des Charmes: Chardonnay, Riesling, Ice Wine...

- Nouvelle Ecosse, chỉ có một ít ruộng nho, không có gì đặc biệt.

Rượu vang từ nho thu hoạch trên tuyết thực ra được khám phá một cách

hết sức tình cờ vào năm 1794 bởi các nhà sản xuất vùng Franconie (Đức),

sau đó quy trình sản xuất này được du nhập vào Canada. Nho được thu

hoạch vào ban đêm, thường là vào cuối tháng giêng, khi nhiệt độ ngoài trời

tụt xuống -130C, sau đó được ép ngay. Bởi trong nho có chứa đến 80% nước

nên phần nước đóng băng sẽ bị loại bỏ, chỉ còn lại nước nho cô đặc. Kết quả

thu được là loại rượu vang có nồng độ cồn tương đối thấp, đặc sánh như mật

ong, có mùi đào và mơ, với dư vị kéo dài với mùi vỏ cam và gỗ trắc bách

diệp. Các dòng nho dùng làm rượu Ice Wine là: Vidal, Riesling và

Gewurztraminer. Với khoảng 20 nhà sản xuất rượu Icewine, vùng Ontario là

vùng sản xuất rượu Icewine lớn nhất và danh tiếng nhất thế giới. Năm 1991,

12 rượu Ice Wine của Ontario tham gia cuộc thi quốc tế rượu vang Intervin

và cả 12 chai đều đoạt huân chương vàng.

14. Argentina

Đầu thế kỷ thứ 16, khi người Tây Ban Nha đến Argentina tìm vàng, họ

đã đưa nho vào trồng ở nước này, nhưng nghề trồng nho, làm rượu chỉ thực

sự được mở mang từ thế kỷ thứ 19 với sự nhập cư ồ ạt vào Argentina của

người Tây Ban Nha và người Italia. Với 200.000ha trồng nho, Argentina là

nước sản xuất rượu vang lớn nhất ở Nam Mỹ (12 triệu hectolit năm 2003) và

đứng thứ 5 trên thế giới, sau Pháp, Italia, Mỹ, Tây Ban Nha và Đức, với mức

tiêu thụ tính theo đầu người 38 lít/năm.

Tuy nhiên, rượu vang Argentina lại không được nổi tiếng như nước láng

giềng Chile, lý do bởi vì gần như toàn bộ sản lượng rượu sản xuất ra được

tiêu dùng trong nước và vốn đầu tư vào ngành công nghiệp rượu vang không

được mạnh như ở Chile. Từ những năm 1930, các nhà sản xuất rượu ở

Argentina đã tỏ ra lưu tâm hơn đến việc làm rượu có chất lượng nhằm bán

cho tầng lớp tư sản đô thị mới và xuất khẩu. Cũng từ đó, rượu vang

Argentina với giá thành hạ và chất lượng cao, đã dễ dàng tìm được thị

trường ngoài nước.

Các vùng trồng nho của Argentina trải dài trên 1.700km từ Bắc xuống

Nam, gồm:

- Vùng Mendoza, nằm phía tây rặng núi Andes hùng vĩ. Vùng Mendoza

sản xuất 70% sản lượng rượu vang toàn Argentina. Giống nho đỏ thành công

nhất ở đây là giống

Malbec, thường được

trồng xen với giống

Barbera hay giống

Cabernet Sauvignon.

Bên cạnh 3 giống nho

chủ yếu đó, ta cũng

thường gặp các giống

khác như giống Criolla,

Cereza (là các giống nho

địa phương), Merlot,

Tempranillo, Syrah,

Grenache, Pinot Noir,

Nebiollo, Cabernet

Franc...

Các giống nho trắng

chủ yếu ở vùng Mendoza

là: Chenin, Sauvignon

Blanc, Semillon, Ugni

Blanc, Torontes, Pedro

Ximenez...

- Vùng San Juan.

Khí hậu vùng này nóng

hơn, vì thế phải tưới

nước cho các ruộng nho.

Vùng này sản xuất 22%

sản lượng rượu vang

toàn Argentina, chủ yếu

là vang trắng có độ cồn

cao.

- Vùng Rio Negro và Neuquen, nằm ở phía Nam tỉnh Mendoza, khí hậu

tương đối ôn hòa, sản xuất vang đỏ nhẹ, vang trắng tươi mát và vang sủi.

- Vùng Rioja và Catamarca, khí hậu khô nóng, sản xuất rượu thô, có độ

cồn cao.

Hiện nay Argentina đang phát triển sản xuất rượu vang có nguồn gốc

xuất xứ được nhà nước bảo hành như kiểu AOC của Pháp.

Một số thương hiệu nổi tiếng:

- Etchart, sản phẩm được biết đến nhất của thương hiệu này là rượu

trắng khô từ giống nho Torontes, có hương vị rất thơm. Etchart cũng có tiếng

với rượu vang đỏ làm từ các giống nho Malbec và Cabernet Sauvignon.

- Finca Flichman, nổi tiếng với vang đỏ làm từ giống Cabernet

Sauvignon.

- Catena, nổi tiếng với vang trắng làm từ giống Chardonnay...

15. Chile

Với 104.000ha trồng nho, Chile sản xuất ra khoảng 6,5 triệu hectolit

rượu vang hàng năm, vói mức tiêu thụ tính theo đầu người 15 lít/năm.

Lịch sử nghề trồng nho, làm rượu ở Chile bắt đầu từ thế kỷ thứ 16, khi

người Tây Ban Nha đưa nho vào trồng ở xứ này. Cùng với sự phát triển của

đạo Thiên chúa ở Chile, công nghiệp rượu vang phát triển nhanh và mạnh

đến mức trở thành một mối đe dọa cho chính rượu Tây Ban Nha, vì thế vua

Tây Ban Nha Philippe II ra sắc lệnh cấm trồng nho và xuất khẩu rượu Chile,

nhưng không thành công. Đến thế kỷ thứ 18, Chile đã trở thành một trong

những nước xuất khẩu rượu vang rẻ tiền làm từ các giống nho Pais, Mission

và Moscatel. Sang thế kỷ thứ 19, một số điền chủ người Chile tìm cách đưa

các giống nho Pháp như Cabernet Sauvignon, Merlot, Pinot Noir, Malbec,

Sauvignon Blanc, Chardonnay, Sémillon và Riesling vào Chile. Các giống

nho này đã phát triển nhanh chóng trong một môi trường thuận lợi; cùng thời

gian này, các vùng trồng nho ở Pháp và Châu Âu bị nạn rệp rễ nho

Phyloxera tàn phá nặng nề.

Nửa đầu thế kỷ thứ 20, với mức tiêu thụ rượu vang trong nội địa ngày

càng cao, diện tích trồng nho ở Chile đã lên đến 100.000ha. Trước tệ nạn

nghiện rượu ngày càng phát triển, chính phủ Chile phải ban hành các biện

pháp cấm không cho mở rộng các vùng trồng nho. Những biện pháp cứng

rắn này đã làm giảm mức tiêu thụ rượu vang trong nước, cộng với nạn khủng

hoảng thừa rượu trên thế giới vào những năm 1960 đã khiến chính phủ Chile

phải hủy bỏ các biện pháp cấm đoán rượu vào năm 1974 và đền bù cho nông

dân nhổ 45% diện tích trồng nho để sử dụng vào các mục đích nông nghiệp

khác.

Thấy trước tiềm năng to lớn của Chile, năm 1978, nhà trồng nho, làm

rượu Tây Ban Nha nổi tiếng Miguel Torrès đã đầu tư vào công nghiệp rượu

vang Chile, tiếp gót ông là những nhà đầu tư Mỹ và Pháp. Từ 1990 đến

2000, diện tích trồng nho đã vượt quá 100.000ha và xuất khẩu rượu vang

Chile ra nước ngoài đã tăng lên gấp 6 lần.

Các giống nho đỏ chủ yếu: Cabernet Sauvignon, Merlot, Carmenère,

Pais.

Các giống nho trắng

chủ yếu: Chardonnay,

Sauvignon Blanc,

Riesling, Gewurtraminer.

Các vùng trồng nho

chính: Aconcagua,

Casablanca, Maipo

(3.000ha), Rapel, Curico

(10.000ha), Maule, Iata

và Bio - Bio.

4 loại rượu vang

Chile dành cho xuất

khẩu là:

- Loại thường: 1

năm nuôi trong thùng gỗ

sồi,

- Loại đặc biệt

(Special): 2 năm trong

thùng gỗ sồi,

- Loại đặc biệt

(Special): 2 năm trong

thùng gỗ sồi,

- Loại “tuyệt đỉnh

(Gran Vino)”: 6 năm

hoặc hơn nữa trong

thùng gỗ sồi.

Một số thương hiệu nổi tiếng:

- Vina Errazuriz: Merlot, Cabernet Sauvignon, Chardonnay

- Los Boldos: Sauvignon Blanc, Chardonnay

- Cousino - Macul: Cabernet Sauvignon

- Casa Lapostolle: Chardonnay

- Valdivieso: Malbec.

16. Australia

Nghề trồng nho ở Australia chắc chắn là một trong những nghề phát

triển nhanh nhất thế giới: diện tích trồng nho đã từ 59.000ha năm 1990 tăng

lên đến hơn 140.000ha hiện nay, với sản lượng trên 8 triệu hectolit/năm và

mức tiêu thụ tính theo đầu người 20,4 lít/năm.

Tất nhiên, lịch sử nghề trồng nho ở Australia tương đối hiện đại: đầu thế

kỷ thứ 19, người nhập cư, thương gia và các chủ đồn điền ở Australia đã đưa

các giống nho Châu Âu vào trồng ở châu lục này. Từ năm 1820, nho đã được

trồng nhiều ở bang Nam Nouvelle - Galles; tiếp đó, năm 1829, ở miền Tây

nước Australia, nhờ nhà thực vật học Thomas Waterns; ở bang Victoria, nhờ

việc phát hiện ra các mỏ vàng; cuối cùng, ở miền Nam nước Australia nhờ

dân Italia nhập cư. Cho đến khi xuất hiện nạn rệp rễ nho Phyloxera năm

1877, bang Victoria đã là nơi cung cấp rượu chính cho toàn nước Australia.

Những năm tiếp theo, vùng miền Nam, do không bị rệp Phyloxera tấn công,

lại biết phát triển hệ thống kênh tưới tiêu trong thung lũng Murray và xuất

khẩu rượu vang pha cồn sang Anh, nên đã đạt được những tiến bộ vượt bậc.

Đến năm 1930, sản lượng nho vùng miền Nam nước Australia đã chiếm đến

75% sản lượng nho toàn quốc. Rượu vang Australia xuất khẩu sang Anh đã

giữ vị trí bá chủ trong suốt thời kỳ 1927 - 1939, trên cả rượu vang Pháp.

Những năm sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, do nhu cầu tiêu thụ về

rượu vang trong nưóc tăng lên rất mạnh, do những tiến bộ khoa học kỹ thuật

trong trồng nho, làm rượu và do sự phát triển của hệ thống các cửa hàng

chuyên môn, các hầm rượu và các Câu lạc bộ những người hâm mộ rượu

vang, diện tích trồng nho và sản lượng rượu ở Australia cũng tăng lên nhanh

chóng. Những năm 1980, 80% sản lượng rượu là rượu có chất lượng trung

bình, được bán lẻ hoặc là rượu bịch “bag - in - box”.

Từ 1985 đến 2000, diện tích trồng nho “quý tộc”, tức các giống nho

nhập từ Pháp, đã tăng từ 1/3 lên 2/3 tổng diện tích trồng nho, trong khi đó

rượu có chất lương trung bình đã giảm từ 80% xuống 60%.

Một trong những vấn đề cấp bách đặt ra cho nền nông nghiệp trồng nho

Australia là khí hậu quá nóng và khô, do vậy việc tưới tiêu là không thể

tránh khỏi. Vùng Riverland nằm giữa bang Victoria và miền Nam nước

Australia chẳng hạn có khí hậu đặc biệt thiêu đốt, nhưng nhờ các hệ thống

kênh rạch tưới tiêu nên đã sản xuất đến 60% sản lượng quốc gia vang bán lẻ

và vang bịch. Tất nhiên, các loại rượu vang chất lượng cao đều đến từ các

vùng có khí hậu tương đối mát mẻ: vùng Margaret River ở miền Tây nước

Australia, vùng Coonawarra và Adelaide Hils ở miền Nam Australia, hay

vùng Yarra Valley trong bang Victoria.

Vùng trồng nho có khí hậu khắc nghiệt nhất, vùng Tây Australia, với

4.453ha, chỉ chiếm 3% tổng sản lượng quốc gia. Các giống nho đỏ trồng ở

đây là Cabernet Sauvignon, Pinot Noir; các giống nho trắng là Riesling,

Sauvignon Blanc và Chardonnay.

Vùng Nam Australia nằm giữa bang Victoria và Tây Australia, sản xuất

đến 46% sản lượng quốc gia nhờ rượu vang chất lượng trung bình của địa

danh Riverland. Nhưng Nam Australia còn nổi tiếng nhờ rượu Riesling và

Cabernet Sauvignon ở địa danh Clare Valley. Địa danh Barossa Valley nổi

tiếng với giống nho Syrah (Shiraz theo tiếng địa phương). Địa danh Adelaide

Hills nổi tiếng với các giống Sauvignon Blanc, Chardonnay và Pinot Noir.

Địa danh McLaren Vale nổi tiếng với các giống nho đỏ Syrah và Cabernet

Sauvignon. Địa danh Coonawarra nổi tiếng không những bởi giống nho

Cabernet Sauvignon mà còn bởi cấu tạo đất gồm một lớp đất đỏ trên một

tầng đá vôi.

Vùng Nam Nouvelle - Galles là một trong những vùng trồng nho và sản

xuất rượu lâu đời và quan trọng nhất nước Australia. Ngay từ năm 1852, địa

danh Hunter Valley, nơi ông tổ của nghề trồng nho Australia là James Busby

có một đồn điền, đã sản xuất tới 270.000 lít/năm. Ruộng nho còn được trồng

nhiều quanh các thành phố Mudgee, Cowra và Young, cũng như trong các

thung lũng nằm giữa hai con sông Murrumbidgee và Murray.

Nho được trồng nhiều ở bang Victoria cuối những năm 1840, chủ yếu ở

các địa danh Melbourne, Yarra Valley và Geelong. Cùng với việc phát hiện

ra các mỏ vàng ở bang này năm 1851, diện tích trồng nho đã tăng lên nhanh

chóng. Hiện nay, bang Victoria sản xuất tới 17% sản lượng quốc gia.

Chủ yếu rượu vang Australia được tiêu thụ trong nước, nhưng những

năm gần đây, vang Australia xuất khẩu đã chiếm tới 25% tổng sản lượng

quốc gia. Các nước nhập rượu Australia quan trọng nhất là: Anh, Thụy Điển,

Đức, Ireland, Mỹ, New Zealand, Canada, Nhật Bản, Na Uy, Thụy Sĩ và

Hồng Kông.

Một số thương hiệu Australia nổi tiếng:

- Penfolds, nhất là rượu Lagrange Hermitage, từ giống nho Shiraz,

- Wolf Blass - Yellow Label - Cabernet Sauvignon,

- Wynns - Cabernet - Shiraz,

- Henschke - Abbot Prayer 1997,

- D’Arenberg - The Dead Arm 1999,

- Eileen Hardy - Shiraz 1998,

- Jim Barry - The Armagh 1998.

17. New Zealand

Trong số các nước sản xuất rượu vang “mới”, rượu vang New Zealand

nổi trội nhờ chất lượng cao. Với vị trí cách xa đường chí tuyến Nam và khí

hậu ôn hòa, New Zealand tập hợp được các điều kiện thuận lợi cho việc

trồng và sản xuất các giống nho trắng tươi mát (70% sản lượng quốc gia là

vang trắng). Trong cả nước có 12.000ha trồng nho với sản lượng 12.538.000

hectolit/năm và lượng vang tiêu thụ tính theo đầu người 16 lít/năm. Các

giống nho đỏ chủ yếu ở New Zealand là: Pinot Noir, Cabernet - Sauvignon

và Merlot, các giống nho trắng chủ yếu là: Sauvignon Blanc, Riesling,

Chardonnay và Muller - Thurgau.

Lịch sử nghề trồng nho ở New Zealand bắt đầu năm 1819, khi linh mục

đạo Tin lành Samuel

Marsden đưa nho vào

trồng trên đảo. Nhưng

người New Zealand vốn

thích dùng bia, nên đến

cuối thế kỷ thứ 19 sản

lượng rượu vang toàn

New Zealand cũng chỉ

đủ cung cấp 25% nhu

cầu tiêu dùng trong

nước, số 75% còn lại

phải nhập từ bên ngoài,

chủ yếu từ Australia.

Việc binh lính Mỹ đổ bộ

vào New Zealand trong

Chiến tranh thế giới II đã

khiến nhu cầu tiêu thụ

rượu vang trong nước

tăng mạnh. Các giống

nho Mỹ được đưa vào

trồng đại trà ở New

Zealand (cho đến năm

1960, giống nho Mỹ

Isabella vẫn là giống nho

chính) nhằm đạt sản

lượng thu hoạch cao. Chỉ

từ những năm 1970,

New Zealand mới có kế

hoạch đưa các giống nho

Châu Âu vào thay dần

các giống nho Mỹ và chuyển dần từ sản xuất rượu vang chất lượng trung

bình sang rượu vang chất lượng cao. Cho đến năm 2000, mặc dù diện tích

trồng nho tăng mỗi năm khoảng 1.000ha, rượu vang nhập từ nước ngoài vẫn

chiếm tới 42% tổng sản lượng tiêu thụ rượu vang trong nước.

Các vùng trồng nho chủ yếu ở New Zealand: Aukland, Gisborne,

Hawkes Bay, Wairarapa, Martinborough (đảo Bắc), Nelson, Marlborough,

Waipara, Canterbury và Gibbston Valley (đảo Nam).

Một số thương hiệu rượu nổi tiếng:

- Villa Maria - Sauvignon Blanc 2003 và Merlot/ Cabernet - Sauvignon -

1998

- Villa Maria - Sauvignon Blanc 2003 và Merlot/ Cabernet - Sauvignon -

1998

- Villa Maria - Sauvignon Blanc 2003 và Merlot/ Cabernet - Sauvignon -

1998

- Kim Crawford - Tane 1998

- Goldwater - Cabernet - Sauvignon/Merlot 1998

18. Nam Phi

Ngay từ khi người Hà Lan đến đô hộ Nam Phi vào thế kỷ thứ 17, họ đã

đưa nho vào trồng ở xứ này. Nam Phi nằm ở vĩ tuyến 35 độ Nam, có khí hậu

lục địa nóng và khô, nhưng các vùng ven biển lại có khí hậu tương đối ôn

hòa như các nước ven bờ biển Địa Trung Hải.

Những ruộng nho

đầu tiên được trồng ở

Nam Phi năm 1654, mẻ

nho đầu tiên được thu

hoạch và ép ngày

02/02/1659.

Ngày nay, Nam Phi

có 117.000ha trồng nho

với sản lượng khoảng 7

triệu hectolit/năm, đứng

thứ 10 thế giới, với mức

tiêu thụ tính theo đầu

người 10 lít/năm. Các

giống nho làm rượu ở

Nam Phi chủ yếu được

nhập từ Châu Âu, trừ

giống nho địa phương

nổi tiếng Pinotage được

lai tạo giữa giống

Cinsault và Pinot Noir. Rượu vang trắng chiếm gần 90% sản lượng rượu của

cả nước, trong đó rượu vang trắng làm từ giống nho Chenin (tên địa phương

là Stein) đã chiếm tới 30%. Các giống nho trắng làm rượu khác là

Chardonnay, Colombard, Riesling và Sauvignon Blanc. Các giống nho đỏ

làm rượu chủ yếu là Pinotage, Cinsault (tên địa phương là Hermitage), Pinot

Noir, Syrah và Cabernet Sauvignon.

Các vùng trồng nho nổi tiếng của Nam Phi đều nằm dọc theo bờ biển, ít

khi xa biển tới 100km. Vùng nằm xa nhất về phía Bắc là vùng Nothern Cape,

dọc theo sông Orange, sản xuất 15% sản lượng rượu vang toàn quốc. Tiếp

đến vùng Olifants River chuyên sản xuất nho dùng để chưng cất rượu mạnh.

Vùng Piketberg, sản xuất rượu ngọt tự nhiên, chủ yếu là rượu đỏ. Vùng

Swarland và Tulbagh, nhờ các cố gắng của một hầm rượu có tiếng tên là

Swarland Coopérative, đã tạo dựng được tên tuổi từ ít lâu nay.

Phía Nam vùng Swarland là vùng Paarl, chiếm 20% diện tích trồng nho

của cả nước. Đi sâu theo hướng Tây - Nam, ta đến vùng Durbanville và một

vùng tuy nhỏ nhưng đã từng nổi tiếng nhất Nam Phi là vùng Constantia. Tiếp

về phía Đông - Nam là vùng Stellenbosch với các loại rượu đỏ danh tiếng

làm từ các giống nho Pinotage, Merlot và Cabernet Sauvignon. Xa hơn về

phía Đông là vùng trồng nho nhỏ Franschhoek hay còn gọi là “khu người

Pháp”, với các loại vang trắng nổi tiếng làm từ các giống nho Chardonnay,

Sémillon và Sauvignon Blanc và các loại rượu vang đỏ đang lên. Bên cạnh

đó là vùng Worcester chiếm 22% sản lượng rượu toàn quốc. Vùng kế bên,

Robertson, có khí hậu khô, nóng khiến cho việc tưới nước là điều không thể

tránh khỏi...

Một số thương hiệu rượu nổi tiếng:

- Edonia,

- Warwich,

- Constantia Utsig,

- Bouchard Finlayson,

- Neil Ellis.

19. Nhật Bản

Các bạn đừng vội cười. Đúng vậy, đất nước mặt trời mọc không chỉ sản

xuất rượu sa kê mà còn sản xuất rượu vang. Những ruộng nho đầu tiên xuất

hiện ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ 12, nhưng phải đến thế kỷ 17, dưới triều vua

Edo, ngành sản xuất rượu vang ở Nhật Bản mới thực sự phát triển với giống

nho trắng địa phương nổi tiếng “Koshu”.

Năm 1877, hai chuyên gia Nhật được cử sang Bordeaux (Pháp) để học

cách làm rượu theo kiểu Châu Âu. Khi về nước, họ đã tổ chức hầm rượu

“hoành tráng” đầu tiên ở Nhật. Hầm rượu này sau đó đã trở thành bảo tàng

rượu.

Các vùng trồng nho

của Nhật nằm rải rác trên

các đảo Hokkaido ở phía

Bắc và Kyushu ở phía

Nam, nhưng tập trung

trên đảo chính Honshu,

vùng Yamanashi. Khí

hậu nóng ẩm mưa nhiều

đã khiến các chuyên gia

Nhật chọn các giống nho

chín sớm, trước tháng 9

hàng năm để tránh các

cơn mưa lớn rất có hại

cho vụ thu hoạch nho.

Các giống nho trắng

chính là Koshu (địa

phương), Sémillon,

Chardonnay, Muller -

Thurgau và Riesling.

Các giống nho đỏ chính là Cabernet Sauvignon, Merlot và Campbell’s early.

Một vài thương hiệu Nhật nổi tiếng:

Château Mercian,

Suntory,

Polaire,

Mann’s.

Chuyên gia rượu giỏi nhất thế giới năm 1995, ông Shynia Tasaki, đang

làm hết sức mình để rượu vang vùng Yamanashi được công nhận là rượu

vang có nguồn gốc xuất xứ được xác định đầu tiên ở Nhật.

20. Trung Quốc

Theo những số liệu gần đây, toàn Trung Quốc có 240.000ha trồng nho

ăn và nho làm rượu, sản xuất ra khoảng 5,2 triệu hectolit (đứng hàng thứ 11

trên thế giới), với mức tiêu thụ tính theo đầu người 0,33 lít/năm. Tuy nhiên,

với số dân 1,3 tỷ người, dù hiện nay Trung Quốc mới chỉ tiêu thụ 400 triệu

chai vang hàng năm, đây là một thị trường có tiềm năng rất lớn, bởi những

người uống rượu vang tương đối thường xuyên chỉ chiếm 5% tổng số dân.

Lịch sử rượu vang Trung Quốc đã có từ trước thời nhà Hán, khi vua Hán

Cao tổ cử một đoàn sứ giả đi về phía Tây, vào địa phận một quốc gia mà

thần dân làm rượu từ nho và thường xuyên sử dụng thứ đồ uống có cồn này.

Đoàn sứ giả nước Hán thuật lại rằng các nhà giầu ở xứ Wan chứa tới

300.000 lít rượu vang trong hầm rượu, những thứ rượu tốt có thể giữ được

hơn 10 năm...

Những năm gần đây, nhằm hạn chế mức tiêu thụ rượu mạnh, nhất là

rượu gạo, chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích phát triển công nghiệp

rượu vang và nhiều công ty liên doanh, nhất là các công ty Pháp - Trung

hoặc Đức - Trung đã đầu tư mạnh vào ngành này. Báo chí Trung Quốc cũng

nói nhiều đến tác dụng tích cực của rượu vang đối với sức khỏe, nhất là rượu

vang đỏ.

Rượu vang nội địa Trung Quốc thường được làm từ nho làm rượu trộn

lẫn với nho ăn trái và nước cốt nho rẻ tiền nhập từ nước ngoài với khối lượng

lớn. Rượu vang chất lượng cao thường được nhập từ nước ngoài, nhất là

Pháp, Italia, Australia, Chile và Tây Ban Nha.

Người Trung Quốc

đặc biệt chú trọng đến

giá cả khi mua rượu

vang ngoại: họ cho rằng

rượu càng mắc càng quý,

nhất là khi tặng, biếu ai.

Họ thường sử dụng rượu

vang trong các dịp lễ tết

hoặc khi bạn bè bù khú

hơn là trong các bữa ăn

gia đình. Nói chung,

quảng đại người tiêu

dùng Trung Quốc quan

tâm đến các khía cạnh

rượu vang và sức khỏe

hơn là đến hương vị

rượu. Vì thế, cần phải có

thời gian để tạo “vị rượu

vang” trong một quốc

gia chưa từng có một

chuyên gia thử nếm và

phục vụ rượu được đào

tạo theo trường phái chính thống (Châu Âu).

Các thương hiệu rượu vang Trung Quốc nổi tiếng:

Great Wall, nhà sản xuất rượu vang có tên tuổi nhất Trung Quốc, có sản

lượng 50.000 tấn nho/năm từ 7 giống nho khác nhau, xuất khẩu tới 50%

sản phẩm sang nhiều nước khác nhau trên thế giới.

Dragon Seal, liên doanh với hãng rượu Pernod - Ricard của Pháp, có sản

lượng khoảng 10.000 tấn nho/năm.

Changyu, nhà sản xuất lớn nhất Trung Quốc và Châu Á, với sản lượng

80.000 tấn nho/năm. Sản phẩm của công ty Changyu được xuất khẩu

sang Mỹ, Bỉ, Hà Lan, Nam Triều Tiên, Malaysia, Singapore, Thái Lan

và nhiều nước khác trên thế giới.

Huadong, có sản lượng 60.000 tấn nho/năm, chú trọng đầu tư nghiên

cứu sản xuất vang trắng, nổi tiếng với vang làm từ giống nho

Chardonnay.

Loulan, công ty nhỏ với sản lượng 5.000 tấn nho/ năm, nhưng rất quan

tâm đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm và thường xuyên mời

chuyên gia nước ngoài, nhất là Pháp vào đào tạo tại chỗ. Loulan cũng là

một trong những công ty Trung Quốc đầu tiên đưa năm thu hoạch nho

lên nhãn chai, nổi tiếng với rượu Cabernet Sauvignon (đỏ) và

Sauvignon Blanc (trắng).

21. Việt Nam

Có thể nói người tiên phong trong lĩnh vực mới mẻ này là anh Nguyễn

Văn Việt, tổng giám đốc công ty Ladofoods (vang Đà Lạt).

Đó là năm 1999. Được mời tham gia một Hội chợ quốc tế rượu vang ở

Italia, anh Việt đã nảy ra một ý nghĩ táo bạo: “Tại sao mình không thể làm

rượu vang ở Việt Nam?”.

Trở về nước, anh Việt bắt tay vào làm rượu vang với những trang thiết

bị còn quá nghèo nàn của nhà máy vang Đà Lạt. Cũng cần nói thêm là từ sau

năm 1975 cho đến năm 1999, nhà máy vang Đà Lạt chỉ sản xuất rượu từ

nước hoa quả lên men.

Mẻ rượu vang đầu tiên, làm từ hỗn hợp nước nho và dâu tây, đã nhanh

chóng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng trong nước. Với sản lượng

50.000 lít rượu vang trong những năm đầu, hiện nay nhà máy vang Đà Lạt

đã sản xuất ra khoảng 1,5 triệu lít vang (2004).

Rượu vang Đà Lạt được chia làm 3 loại: vang trắng, vang đỏ và vang

sủi. Theo đánh giá của người tiêu dùng trong nước, vang sủi Đà Lạt được coi

là một trong những vang

ngon nhất Việt Nam.

Vang đỏ Đà Lạt lại

được chia thành 3 loại: 1

loại dành cho người tiêu

dùng trong nước, 1 loại

dành cho xuất khẩu

(Export) và 1 loại đặc

biệt (Superior) được nuôi

24 tháng trong bồn inox.

Sắp đến, nhà máy vang

Đà Lạt sẽ nhập khẩu

thùng gỗ sồi để nuôi

rượu lâu dài.

Nho để làm vang Đà

Lạt là giống Cardinal,

được trồng nhiều ở các

tỉnh miền Trung (Ninh

Thuận, Bình Thuận...).

Sau khi thu hoạch, nho

sẽ được chuyển lên Đà

Lạt để ép, ủ men và làm rượu.

Công ty Ladofoods, ngoài vang Đà Lạt, còn sản xuất rượu ngọt từ hoa

quả (Liqueur) và hạt điều. Công ty có một đội ngũ bán buôn, bán lẻ tuy chưa

thật sự lành nghề, nhưng hiện diện ở hầu hết các tỉnh, thành trong phạm vi cả

nước. Hiện nay, công ty đang trồng thí điểm 5ha các giống nho quốc tế như

Cabernet Sauvignon, Merlot, Syrah (đỏ), Chardonnay và Sauvignon Blanc

(trắng). Mục tiêu của Ladofoods trong những năm đến là tăng sản lượng

vang lên 5 triệu lít/năm và xuất khẩu sang một số nước khu vực như Nhật

Bản, Nam Triều Tiên, Malaysia (hiện đang nhập khoảng 100.000 chai vang

Đà Lạt/năm). Đặc biệt, có một Việt kiều ở Thụy Sĩ nhập mỗi năm khoảng

vài ngàn chai nhằm cung cấp cho các nhà hàng Châu Á tại nước này.

Trăn trở lớn nhất của anh Nguyễn Văn Việt là làm sao đưa được thương

hiệu vang Đà Lạt lên máy bay Vietnam Airlines trên những chặng bay quốc

tế. Quả vậy, có lẽ Vietnam Airlines là hãng hàng không duy nhất trên thế

giới không đưa thương hiệu quốc gia vào danh sách rượu trên máy bay. Ví

dụ thì rất nhiều, tôi chỉ xin nêu ra ở đây các trường hợp điển hình nhất: Air

France sử dụng vang Pháp và có ông Olivier Poussier, Chuyên gia rượu giỏi

nhất thế giới 2000 làm cố vấn về rượu, Lufthansa sử dụng vang Đức, Malev

sử dụng vang Hung, United Airlines sử dụng vang Mỹ và có ông Frost Doug

là cố vấn về rượu, British Airways sử dụng vang sủi Nyetimber, vang trắng

Chapel Hils, vang đỏ Chapel Down đều sản xuất tại Anh...

Sau công ty Ladofoods và vang Đà Lạt, phải kể đến những cố gắng của

anh Nguyễn Văn, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty liên doanh Việt - Đức

Van - Gres có trụ sở ở thị xã Bảo Lộc. Van - Gres đã ký hợp đồng thuê trong

50 năm 52ha đất ở Bình Thuận năm 2004 để trồng 23 giống nho Đức và

quốc tế như Muler - Thurgau, Riesling, Sauvignon Blanc, Chardonnay,

Spatburgunder, Cabernet Sauvignon, Merlot... Trong khi chờ đợi mẻ nho

đầu tiên (phải mất từ 2 - 3 năm sau khi trồng), Van - Gres đã xây dựng một

nhà máy rượu hiện đại với toàn bộ trang thiết bị đưa từ Đức sang. Đầu năm

2005, Van - Gres đã nhập và đóng chai ở Việt Nam 2 loại rượu chất lượng

tương đối cao: Riesling nhập từ Đức và Merlot nhập từ Chile. Khi chính thức

sử dụng nho thu hoạch trên các ruộng nho của mình, Van - Gres sẽ đưa một

phần rượu vào nuôi trong thùng gổ sồi dùng cho nhu cầu trong nước và xuất

khẩu.

Trong tương lai, Van - Gres sẽ là một trong những công ty có tiềm năng

lớn ở Việt Nam: nhà máy sản xuất rượu vang với trang thiết bị hiện đại,

chuyên gia làm rượu có chuyên môn cao, các giống nho làm rượu đạt tiêu

chuẩn quốc tế, không bị lệ thuộc hoặc lệ thuộc rất ít vào nguồn nho thu mua

từ nông dân bên ngoài...

Một số công ty khác như Thanh Bình cũng hợp tác với nhà làm rượu nổi

tiếng Jean - Pierre Moueix của vùng Bordeaux để trồng thí điểm 1,5ha ở Bảo

Lộc, công ty Agripark với 1,5ha ở Đà Lạt, nhưng với vốn đầu tư và quy mô

nhỏ hơn nhiều so với Ladofoods và Van - Gres.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang