Không Chồng Tôi Vẫn Sống

Lượt đọc: 1550 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- III -
henry và phụ nữ

Henry vừa uống rượu, nhưng anh không nghĩ bọn trẻ có thể nhận ra. Có thể chúng nhận ra. Sau cùng thì chúng cũng đã 16 tuổi, và anh biết chúng được coi là điển trai và nổi tiếng. Anh không chắc ngày nay điều gì khiến một người trở nên nổi tiếng – hẳn là mỗi nơi mỗi khác, mỗi trường mỗi khác. Ở trường của con trai anh, anh mường tượng tiền bạc có chút liên quan. Tiền, nhưng người ta vẫn giả bộ thờ ơ chối bỏ nó. Quần áo rách rưới thời thượng, những người bạn theo diện học bổng, sống xanh. Anh đã biết những cậu trai này từ khi chúng học mẫu giáo cùng nhau. Chúa ơi. Đã lâu lắm rồi.

Anh đoán bọn trẻ có lẽ cũng đang say. Khi anh và Kate đi ăn tối về, anh thấy tất cả bọn chúng đang ở trong bếp, ngấu nghiến khoai tây chiên, pizza lạnh, và bánh bột mỳ kẹp phô mai nướng, những món ăn bạn sẽ thèm muốn sau khi nhậu nhẹt. Cũng có thể chúng đang phê thuốc. Chúng chất đống khoai tây chiên lên trên pizza hoặc cuộn chúng vào trong bánh bột mỳ. Con trai anh đặt trước mặt một cái bát to đựng kem cùng một hũ sốt chocolate, món mà bình thường cậu sẽ không ăn. Cậu đưa một miếng khoai tây về phía bát kem, rồi đổi ý và đặt nó vào trong miệng, ăn vã. Cậu chắc chắn là đang phê thuốc rồi.

Henry cần phải nói gì? “Con đang phê à?” “Con đang say à?” “Bố có quan tâm không à?” Anh nhận ra tất cả bọn trẻ đều đang nhìn anh và sực nhớ rằng anh đang kể chuyện cho chúng nghe.

“Chú kể đến đâu rồi nhỉ?” Anh dựa vào quầy và nhìn vào một, hai, ba chàng trai. Anh nghe tiếng xả nước bồn cầu. Bốn chàng trai. Bốn chàng trai đang chờ đợi anh kể cho chúng nghe về bọn con gái.

Ross đi ra từ nhà tắm, chùi tay vào quần. Tim Tupper, chúng gọi cậu là Tupp, đấm vào chân Ross, và Ross nói, “Sao cậu lại đấm tớ?” và Tupp nhún vai.

“Chú kể đến đâu rồi?” Henry hỏi.

“Chú đang bảo bọn cháu quên mấy cô ở đội cổ vũ đi,” Shipley nói.

Henry ước gì tên cậu bé không phải Shipley. Anh biết cậu bé lâu nhất.

Anh từng lên giường với mẹ của cậu, nhưng chuyện đó là từ hồi cô còn để tóc nâu và hút đinh hương. Cô uống Dirty Martini ở nơi công cộng và Zima khi ở một mình. Giờ thì cô để tóc vàng và lúc nào cũng trông như chuẩn bị tới lớp học ballet. Có lẽ cô cũng không còn uống rượu nữa. Có lẽ cô không còn làm gì ngoài việc sưu tầm tác phẩm nghệ thuật. Đáng tiếc là khoảng thời gian dài đã tàn phá chúng ta, anh nghĩ.

“Vấn đề là,” Shipley nói. “Dù sao thì đội cổ vũ bây giờ cũng không còn hấp dẫn nữa.”

“Chà, cháu hiểu ý chú mà,” Henry bảo. “Các cô gái mà cháu sẽ thèm muốn.” Anh hình dung Kate và nghĩ về khu vui chơi mà cô lui tới (cô sẽ không dám tới Panhandle, nơi ưa thích của anh). Tương tự như chó giống chủ, con người cũng giống khu vui chơi của họ. Alta Plaza mới được tu sửa với bố cục được cắt tỉa khéo léo và kiến trúc hạng nhất. Nó nằm trong khu dân cư đắt đỏ, trên đỉnh một quả đồi, nhìn xuống thành phố San Francisco. Nó sạch sẽ, an toàn, và nguyên sơ.

Kate có mái tóc nâu thẳng, cắt tém và trông chuyên nghiệp như thể cô có một công việc. Ngoại hình cô được chăm chút cẩn thận. Cô làm chủ bản thân dễ dàng và không bao giờ gặp vấn đề với việc phải làm gì với đôi tay khi đứng trong đám đông. Cô không bao giờ phải chỉnh sửa trang phục. Cô giữ đầu ngẩng cao, xem thường thành phố San Francisco. Kate rất xinh đẹp.

“Những cô gái xinh đẹp,” Henry nói. “Đó là những người mà chú muốn nói. Hãy tránh xa họ. Họ không thể đi đến lâu dài đâu, tin chú đi. Những cô khó tính, xinh đẹp, họ sẽ làm tan vỡ trái tim cháu và điều đó chẳng đáng chút nào. Những cô gái mặc đồ đen và đi bốt combat. Đó mới là mục tiêu.”

Bọn con trai phá lên cười, rồi thăm dò phản ứng của Henry, nhưng anh đang chìm đắm trong chính lời khuyên của mình, thứ mà anh biết sẽ hoàn toàn khác nếu anh nói chuyện với bọn trẻ vào một năm trước. Dù thế, anh quyết định đi tới cùng. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra nếu như anh nói những điều sai lầm và nếu như anh nói những điều đó chỉ vì anh đang giận dữ với Kate? Dù sao đi nữa chúng cũng không nên lắng nghe anh. Bạn không nên lắng nghe các ông bố.

“Tớ không quan tâm nếu Sophia Jagger không đi đến lâu dài,” Tupp nói. “Cô ta là Sophia Jagger. Tớ không quan tâm cô ta sẽ trông như thế nào sau 10 năm nữa. Thậm chí là 5 năm nữa. Bây giờ cô ta thật nóng bỏng. Đó là tất cả những gì đáng để tâm.”

Bọn con trai lầm bầm nhất trí, và Henry cảm thấy uy quyền của mình đang giảm dần. “Phải rồi, nhưng liệu Sophia Jagger có ngủ với cháu không?” anh chất vấn. “Cô ta đang hẹn hò với Austin,” con trai anh nói.

“Và trước đó cô bé ấy hẹn hò với ai?” Henry hỏi. Ross giơ tay. “Cháu.”

“Trong bao lâu?” Henry hỏi. “Bảy tháng.”

“Con bé có ngủ với cháu không?” Anh thực sự không nên nói chuyện kiểu này. “Không,” Ross đáp.

“Thấy chưa?” Henry nói. “Cô bé đó đi chơi với bọn con trai. Cô ta có những mối quan hệ lâu dài và đầy ý nghĩa. Nhưng cô ta sẽ không lang chạ. Những cô gái mà bọn con trai các cậu đang bỏ quên - những người chơi ván trượt, những kẻ cô đơn – họ sẽ làm chuyện đó. Chú khẳng định với các cháu.”

Henry nhìn kem của cậu con trai và ước gì anh cũng có một bát như thế, nhưng anh có thể cảm thấy mỡ trên mặt khi anh chạy bộ. Anh từng có khả năng ăn bất cứ thứ gì anh muốn. Anh ước gì mình có thể chui vào cơ thể của con trai anh trong một ngày để ăn và tán gẫu với các cô gái ở trường trung học. Ngày xưa họ thật niềm nở! Bọn con trai là cuộc sống của họ! Sao không ai nói cho anh biết mọi thứ sẽ không bao giờ quay lại như thế nữa? Anh ước gì anh và con trai có thể va vào nhau giống như trong những bộ phim mà con cái và phụ huynh hoán đổi vị trí cho nhau. Con trai anh mảnh khảnh và luôn luôn cháy nắng. Con trai anh dùng những lời lẽ to tát và hiểu ý nghĩa của chúng. Con trai anh trông không giống anh chút nào, hay ít nhất là bộ dạng của anh khi anh ở tuổi của cậu. Khi anh còn trẻ, Henry đeo khuyên tai trái và nuôi râu quai nón khiến anh trông đáng sợ. Anh rất đáng sợ, hoặc có thể trở nên đáng sợ. Khi cạo bộ râu đi, anh nhận ra người ta bắt đầu mỉm cười với anh, điều đó khiến anh trở nên tử tế hơn.

Vào dạ tiệc cuối cấp vài tháng trước, con trai anh và bạn bè cùng bạn nhảy của chúng đến nhà và Henry thấy con trai mình trao cho bạn nhảy cái nhìn đó – miệng cậu giống như đang làm động tác nhai và cậu khẽ nháy mắt, như thể là tình cờ, và điều đó gợi nhắc Henry nhớ lại quá khứ vì nó giống với những gì anh đã làm ở The Shoe khi anh nhìn thấy Kate từ phía bên kia căn phòng. Họ lúc đó 22 tuổi và đã nhanh chóng củng cố mối quan hệ bằng cách ngủ với nhau vào đêm đầu tiên gặp gỡ. Anh thích khi họ đi hộp đêm và cô không bám lấy anh. Cô sẽ nói chuyện với những người khác, tán tỉnh và nhảy nhót, nhưng ánh mắt của họ luôn tìm thấy nhau và anh sẽ trao cho cô cái nhìn đó – điều mà anh thậm chí không nhận thấy cho tới khi cô chỉ ra.

Đã bao lâu kể từ khi anh trao Kate cái nhìn đó? Một lúc trước vào buổi tối hôm nay anh vừa thẫn thờ ngắm nhìn cô khi cô và Nadine buôn chuyện với nhau về công việc của họ ở một hội đồng nào đó. Anh thấy mình đang nổi giận. Cô sử dụng cùng những từ cách ý, cùng những lời nói đùa và những bài diễn thuyết về sự quan tâm. Anh không thể chịu nổi giọng nói của cô, hay những cách mà cô cố bắt anh tham gia cuộc hội thoại; một trong số đó là đá mạnh vào ống đồng anh trong khi dùng món nhỏ đầu tiên gồm các loại rau đắng. Tại sao người ta lại ăn rau đắng cơ chứ? Anh không thể chịu được món salad trộn và rau diếp xoăn hay rau diếp đắng, hay là cái thứ rau loằng ngoằng, gây ngứa họng khiến anh cảm thấy như anh đang nhai cây cỏ lăn vừa cuốn ra ngoài từ một bộ phim cao bồi, nhưng khi món salad được mang ra, tất cả mọi người rạng rỡ hẳn lên và tuyên bố rằng nó “tuyệt vời”. Trong đó có một ít lê, một loại phô mai nào đó, và một loại hạt nào đó. Cứ như là ngon lành lắm. Dĩ nhiên nó không được miêu tả như thế. Trên thực đơn món đó được nhắc đến như là rau arugula Vịnh Bodega, phô mai dê Stinson, thịt xông khói tại nhà làm từ những con lợn chỉ ăn quả mã thầy.

Henry nghĩ tới món salad mà anh và Kate luôn dùng ở nhà hàng Original Joe’s. Món xà lách giòn cắt nguyên miếng như cái nêm phủ nước sốt phô mai xanh. Chính là nó. Hồi ấy cô rất thích món đó, vậy thì tại sao bây giờ nó không còn xứng đáng với cô nữa? Anh suýt nữa thì hỏi cô tại sao ngay trên bàn ăn trước mặt bạn bè của họ. Anh cũng suýt hỏi, “Tại sao chúng ta lại giả vờ yêu nhau? Cuối tuần trước đã có chuyện gì xảy ra? Hãy nói đi,” nhưng anh biết cô sẽ không nói cho anh biết. Anh đã hỏi rồi, và cô khẳng định là không có gì để kể hết.

Henry nhìn đồ ăn vặt của bọn trẻ. Anh ghét món ăn gọi theo đĩa nhỏ! Anh ghét chúng! Anh mở tủ lạnh và lôi ra sốt mayonnaise và gà tây. Anh sẽ tự làm cho mình một cái sandwich.

“Mẹ là kiểu con gái như thế nào hả bố?” con trai anh hỏi.

“Ý con là gì?” Henry nói.

“Mẹ thuộc dạng kỳ quái hay giống như Sophia?” Henry nghĩ tới bữa tiệc ở Russian Hill họ đã tham dự vào cuối tuần trước. Anh đã nhìn thấy cô nói chuyện với một người bạn của họ, một người đã lập gia đình và khá nổi tiếng trong thành phố vì là con trai của một người giàu có. Hắn ta tới các bữa tiệc và để cho người ta chụp ảnh. Về cơ bản đó là công việc của hắn. Vợ của người đàn ông đó và Kate cùng ở trong đội Dân Phòng, điều mà Henry nghĩ là một trò đùa. Họ sống tại một thành phố quốc tế và đa dạng sắc tộc, mặc dù ở khu vực mà bạn có thể coi là ngoại ô. Hành động đáng ngờ đơn thuần nghĩa là một người thiểu số không làm việc cho bạn lại đang ở trước cửa nhà bạn. Khi anh lái xe đi xuống Pacific, anh thường thấy vợ của người đàn ông kia ở cửa sổ tay cầm điện thoại, nhìn chằm chằm một cách lo lắng những người thợ xây ở đằng trước một căn hộ hàng xóm. Thật ra, anh lái xe xuống Pacific với hy vọng nhìn thấy cô ta ở cửa sổ, hy vọng nhìn thấy nỗi sợ hãi của cô ta.

Nhưng bữa tiệc, bữa tiệc nào đó cho nhà thiết kế thời trang nào đó. Người đàn ông này và Kate đã nói chuyện với nhau ngày càng thường xuyên hơn ở những buổi tiệc khác, ở những bữa ăn tối theo nhóm, trong hội gây quỹ. Nhưng Henry không nghi ngờ gì cho tới tối hôm đó, khi mà có điều gì đó dường như khác thường. Họ không nói chuyện nhiều, nhưng khi nói chuyện, họ rất thân mật, gần như là bồn chồn. Toàn bộ thời gian, trông cô có vẻ ngượng ngùng bởi bất cứ điều gì hắn ta nói.

Có một lúc vào buổi tối Henry không nhìn thấy họ và anh đi tìm. Anh thấy họ ở một hành lang. Cô và người đàn ông kia đang đứng sát bên nhau. Họ đều trông có vẻ say xỉn và như sắp nổi giận. Trong khi lái xe về nhà anh hỏi, “Chuyện đó là sao?” nhưng cô chỉ nói, “Chuyện gì là sao? Anh đang nói về cái gì thế?”

Henry phết mayonnaise lên cả hai lát bánh mì. “Bố,” con trai anh nói. “Con hỏi Mẹ là kiểu con gái như thế nào mà.”

“Mẹ con rất hấp dẫn,” Henry đáp. “Con biết không, mẹ là một cô gái được yêu thích. Dù sao thì bố gặp mẹ sau khi lên đại học. Các hạng mục đó không áp dụng được. Mọi cô gái đều lên giường sau khi lên đại học.”

Bọn trẻ tỏ ra phấn khởi trước điều này.

“Không phải bố vừa đi ăn tối về hay sao?” con trai anh hỏi.

“Con sẽ không ăn khi con đi ăn tối ở ngoài,” Henry nói. “Con gọi món theo đĩa nhỏ. Con ăn một miếng và nó hết luôn. Có lẽ cả tối nay bố mới ăn 7 miếng.”

Henry rải khoai tây chiên lên trên gà tây và phô mai.

“Bọn con cũng sẽ không bao giờ vui vẻ khi đi ăn ngoài,” anh nói. “Bọn con thường đi đâu? Tới nhà hàng Mexico chuyên phục vụ Tacos? Hay một quán ăn nhanh? Khoảng thời gian tuyệt vời nhất có lẽ là ở đó, phải không? Bọn con đùa giỡn, tán gẫu về những chuyện đã xảy ra, bọn con ồn ào và khả ố, bọn con chửi bậy, thậm chí có thể còn đánh nhau nữa.” Henry nhớ lại khi đấu vật trong nhà hàng McDonald’s với một gã tên là Steve-o. “Chà, không còn như thế nữa. Giờ thì bọn con chỉ ngồi trơ ra đó, ăn những món nhạt nhẽo, nói chuyện về những món ăn nhạt nhẽo và về chuyện có gì trong công thức món gà của nhà hàng nào đó vào tuần trước. Và nếu những người ngồi cùng tình cờ vừa mới có em bé thì hãy quên đi. Bọn con sẽ chỉ nói chuyện về nếp ngủ của trẻ sơ sinh và đó là toàn bộ bữa tối.”

“Còn gì nữa ạ?” Ross hỏi.

“Còn gì cái gì?” Henry cắn một miếng từ chiếc sandwich đáng kinh ngạc của anh. “Aa,” anh thốt lên.

“Còn chuyện gì xảy ra với chú nữa?” Ross hỏi. “Còn chuyện gì tệ hại khi người ta trở thành người lớn nữa?” Tupp nói. Cậu ném một quả táo đập vào tủ lạnh.

“Cái quái gì vậy?” Henry nói. “Nó bị thối rồi,” Tupp đáp.

Henry nhìn cậu bé. Cậu là một đứa trẻ chắc nịch, mặc dù mập và lùn. Henry để ý thấy gàu trên lông mày cậu.

“Chà,” Henry nói, phớt lờ quả táo, “hôm trước chú nhặt một cái gối rơi trên sàn nhà và càu nhàu. Mỗi lần thức dậy từ trường kỷ hoặc ghế bành, cháu sẽ cảm nhận được tuổi già trong mắt của mình.”

Anh muốn nói, “Cháu sẽ không còn yêu điên cuồng người phụ nữ mà cháu từng nghĩ rằng mình sẽ yêu điên cuồng mãi mãi. Và cô ta cũng sẽ không yêu cháu điên cuồng nữa. Cô ta chỉ điên cuồng thôi. Và, một ngày, cháu về nhà mà không biết cô ta đã làm gì với cháu. Điều đó sẽ khiến cháu giận sôi máu và cháu sẽ la mắng con chó không vì lý do gì cả. Cháu sẽ nhìn đứa con nhỏ đang ngủ của mình để tìm đồng minh. Đứa con đang ngủ sẽ là người bạn tốt nhất của cháu. Cháu sẽ bảo với nó: “Bố yêu mẹ con, nhưng chỉ vì một thằng đàn ông khác cũng có thể làm điều đó.”

“Trở thành người lớn,” Henry nói, nhìn bọn trẻ, những người có thể chạy nhanh, nhảy cao, ăn như rồng cuốn. “Chuyện đó có thể là một cú sốc.” Có thể anh đang làm bọn trẻ buồn. Chúng trông có vẻ lo lắng trong khi nhai thức ăn. Tupp lau sạch tủ lạnh. Quả táo.

“Dù vậy cũng có một vài lợi ích,” Henry nói, nhưng anh biết là nghe không thuyết phục lắm.

Shipley xen vào. “Tớ nghe nói cậu nên đi gặp mấy cô ở đội bóng mềm và bảo rằng tất cả mọi người nghĩ họ là đồng tính và rồi họ sẽ làm chuyện đó với cậu để chứng tỏ rằng họ không phải.”

“Nhưng nếu họ thực sự đồng tính thì sao?” con trai anh hỏi.

“Vậy thì cậu vẫn ghi điểm bởi vì cậu đã làm chuyện đó với một người đồng tính.”

Ross ngã khỏi mép ghế đẩu, và mọi người phá lên cười rồi nhìn quanh đầy lo lắng, và lúc đó Henry chắc chắn rằng chúng vừa say sưa với nhau. Ross cười ngoác miệng và vuốt ngược mái tóc đen của mình, quay lại vị trí của mình trên ghế.

“Bọn cháu không thể nhậu nhẹt được,” Henry nói. Bọn trẻ nhìn xuống. Con trai anh đỏ mặt – cảm xúc của cậu dễ dàng thể hiện trên mặt giống như anh. “Ý chú là, khi các cháu đến tuổi này. Hồi chú còn học đại học chú có thể uống cạn một hơi – chú và cậu bạn Chavez – bọn chú có thể uống hết một thùng Bud Light mỗi tối. Mỗi người một thùng. Vào tất cả các buổi tối. Giờ thì chú không có cách nào làm được như vậy nữa.”

Tất cả bọn trẻ đều nhoẻn cười ngoại trừ Shipley, cậu há miệng và một lát sau phát ra một tiếng ợ hơi nghe như một con bò rống. Con trai anh dường như vẫn có vẻ bất an một chút, và Henry tự hỏi liệu đó có phải phản ứng trước cái tên “Chavez” hay không. Chavez là ai? Có lẽ cậu đang tự hỏi điều đó. Vấn đề là, nói thẳng ra thì anh và Chavez chắc hẳn sẽ cho con trai anh một trận nếu giả dụ cậu ở trong nhà hàng McDonald’s vào một buổi tối và chẳng may nhìn họ một cách thái độ. Henry lớn lên ở Concord. Anh không thích bọn con trai thành thị như con trai mình, cùng với những trường tư thục, đồng phục và tóc tai dài thượt của chúng. Con trai anh biết trượt tuyết và lái một chiếc Escalade mới cứng. Cậu chắc chắn sẽ bị cho một trận nhừ tử. Nhưng bây giờ, với tư cách là một người trưởng thành, dĩ nhiên là anh yêu cậu. Chỉ là những cậu bé này, cái cách mà chúng sống, tất cả đều có vẻ hơi xa lạ với anh. Quả táo rơi xa, rất xa khỏi cái cây[1]. Rồi rơi vào một cái tủ lạnh Sub-Zero.

Anh cho là cô con gái 18 tuổi của mình cũng không mấy giản dị hơn. Một hôm anh đi qua phòng con bé và nghe thấy cô bạn Jillian nói, “Cậu có thấy cô ta mặc gì không? Đồ rằn ri, nhưng lại màu tím, tớ đi tới chỗ cô ta và tất cả là, ‘Trông xinh đấy.’”

“Rằn ri kiểu nữ tính,” anh nghe tiếng con gái nói với giọng khó chịu. “Đó là tên gọi của nó. Và ai điên mà quan tâm cơ chứ?”

Khí chất của con bé làm anh nhớ tới Kate khi anh lần đầu gặp cô.

Con trai anh nhìn anh, và anh tự hỏi liệu thằng bé có biết vợ chồng anh đang có vấn đề hay không. Liệu cậu có cảm nhận được sự căng thẳng giữa họ hay không.

“Còn gì nữa hả bố?” cậu hỏi. “Còn điều gì không ổn trong cuộc sống của bố?”

Phải rồi. Cậu đã biết.

“Chẳng có gì. Bố chỉ đang nói chuyện phiếm thôi mà.”

“Thế trước kia chú có phải kiểu dân chơi không?” Shipley hỏi.

Henry nghĩ tới mẹ của Shipley, mái tóc nâu dày của cô ta giống như một cái bàn làm việc trong văn phòng ngân hàng. Họ dần dần xa cách nhau, anh chịu đựng cô ta nhiều hơn là thích, và sau đó cô ta giới thiệu anh với Kate. Kate có gu âm nhạc hay. Đó là điều khiến anh thích ở cô ngay tức khắc. Cô cũng vui tính. Rất sắc sảo. Anh nhớ khi cô quá mê mẩn cái thứ rượu màu hồng hư hỏng này và anh sẽ phải bế cô từ xe hơi vào tận giường, leo lên những bậc cầu thang chết tiệt của tòa Fillmore. Cô nhẹ cân, mặc dù hơi nặng hơn một chút khi say. Điều đó khiến anh cảm thấy dường như cô tin tưởng anh bằng toàn bộ sức nặng của mình.

“Chú đoán mình từng là một dạng dân chơi,” Henry đáp. “Nhưng chú là một chàng trai tốt.” Anh trao cho bọn trẻ một nụ cười châm biếm. “Chú yêu tất cả bọn họ.”

“Anh yêu tất cả bọn họ hả?” Cô khoanh tay trước ngực như cô vẫn luôn làm trong những ngày gần đây. Bọn trẻ nhìn về phía cô, rồi tập trung vào việc đưa thức ăn vào miệng một cách nghiêm chỉnh hết mức có thể. Ngoại trừ Tupp, cậu nói, “Xin chào, cô Hale. Chú Hale đây đang cho bọn cháu một vài lời khuyên của bậc cha chú.”

“Ồ?” Cô cũng đang say. Tất cả bọn họ đều đang say trong căn bếp này. Henry có thể cảm thấy mayonnaise dính trên mép và anh quyết định mặc kệ nó ở đó. Mẹ kiếp.

“Lời khuyên về điều gì vậy?” cô hỏi. “Lời khuyên về bọn con gái.” Tom đáp.

Kate phá lên điệu cười ác ý nhằm khiến anh mất tự tin. Henry muốn đẩy cô. Anh thực sự muốn làm cô đau vì điệu cười này, nhưng rồi anh nhận ra điều anh thực sự muốn làm là kéo cô vào lòng và nói, “Chúng ta hãy cười thật sự đi! Em còn nhớ chúng ta từng như vậy không?” Nhưng rồi anh bắt gặp ánh mắt cô và không còn muốn ôm cô nữa. Ngay lập tức anh quay trở về với những suy nghĩ hằn học kia.

“Vậy lời khuyên là gì? Tối nay chồng của cô đã trao kho báu gì cho bọn cháu thế?”

“Tránh xa đội cổ vũ ra,” Shipley đáp.

“Tiếp cận những cô xấu xí.” Tupp nói. “Họ sẽ chịu lên giường.”

“Chú không nói thế nhé.”

“Anh đang ăn đấy à?” Kate hỏi. “Anh vừa ăn xong cơ mà.”

“Vừa nãy anh không hề ăn. Việc chúng ta làm không thể gọi là ăn được.”

“Những cô gái giang hồ, những cô nổi loạn,” Shipley tiếp tục. “Những người cô đơn.”

“Anh đang dạy chúng cách đưa con gái lên giường à?”

Henry có thể cảm thấy con trai anh đang nhìn anh chòng chọc, một cái nhìn buồn bã và sắc bén. Anh nhớ khi cậu vẫn còn ở tuổi mầm non cậu thích ngồi trong lòng Henry ăn tối. Điều đó khiến anh thấy phiền toái, nhưng sau vài cốc bia anh sẽ thích như thế, đặc biệt nếu họ đi ăn ở ngoài với các gia đình khác. Một vài cốc bia có thể biến những thứ phiền phức nhất trở nên thân thương, và anh nghi ngờ nó là một công cụ nuôi dạy con cái mà không ai thực sự công nhận. Bia.

“Bọn cháu muốn biết cần làm gì phải không?” Kate nói.

Bọn con trai cười yếu ớt, như thể một bà già vừa kể một câu chuyện cười chơi chữ, và rồi căn phòng chìm trong im lặng. Henry những tưởng nó vẫn luôn như thế, nhưng giờ khi tiếng nhai tóp tép đã ngưng, căn phòng mới thực sự yên ắng. Kate bước tới chỗ Ross, cậu bé ít nói nhất, cũng là người đẹp trai nhất. Mọi người trong phòng đều biết điều ấy. Cậu có làn da màu gỗ gụ và tất cả những thứ mà bọn con gái thích ở con trai: lông mi dài, vóc dáng của cầu thủ bóng nước, mái tóc dày, má lúm đồng tiền, những nét quyến rũ. Ross về cơ bản không cần trông mong gì hơn. Kate đứng trước mặt cậu. Cô mặc bộ đồ ngủ, gồm quần cotton ôm và một cái áo đồng bộ. Tóc của cô vuốt ra sau bằng một cái băng đô, trông cô thật nữ tính và tự tin, giống như một tay quần vợt.

“Cháu hãy nói với cô ta rằng cô ta nóng bỏng đến thế nào,” Kate nói. “Không phải đẹp, hay xinh xắn, hay tử tế, mà là quyến rũ. Cháu hãy nói rằng cô ta đang khiến cháu phát cuồng. Cháu thậm chí có thể tỏ ra sỗ sàng. Cố ôm cô ta, chạm vào cô ta. Điều đó sẽ khiến cô ta cảm thấy hài lòng, và một thời gian sau cháu biết chuyện gì sẽ xảy ra không? Cô ta sẽ mơ tưởng về cháu.”

“Phải,” Tupp nói. “Phải rồi.”

“Nghe này,” Kate nói. “Các chàng trai. Các cậu là tất cả những gì bọn tôi nghĩ đến. Bọn tôi có những ảo tưởng to lớn là được hôn các cậu, đi dạo với các cậu và được các cậu ôm ở nơi công cộng. Các cậu tặng hoa cho bọn tôi trước mặt tất cả những cô bạn gái, các cậu nắm tay, lái xe của bọn tôi. Bọn tôi nghĩ về điều này khi đi ngủ vào ban đêm, cố gắng nhồi nhét nó vào trong những giấc mơ. Bọn tôi muốn các cậu cũng nhiều như các cậu muốn bọn tôi. Tin tôi đi.”

Ross lùi lại trên ghế của mình, và khép chân vào. “Vậy,” Kate nói. “Khi cô gái bước vào lớp học, hãy nói thật to, ‘Ôi Chúa ơi, cậu đang làm điều gì với tớ thế này?’ Hãy làm cô gái ngượng ngùng, hãy lôi kéo sự chú ý về phía cô ta.”

Henry quan sát chúng nuốt từng câu từng chữ.

Con trai anh đã ngừng ăn món kem của mình. Tupp và Shipley liên tục liếc nhìn nhau và cười toe toét. Ross nhìn xuống như thể đang bị phạt.

“Rồi sau một tuần hoặc chừng ấy, từ từ hướng sự chú ý của cháu về phía khác,” Kate nói. “Ngắm nhìn một cô gái khác. Tán tỉnh cô ta, nhưng đừng nói cùng những thứ mà cháu từng nói với cô gái kia, chỉ cần chuyển hướng sự chú ý của mình một chút, nhưng vẫn duy trì sự thân thiện, tử tế. Cư xử như thể cháu đã cố gắng, nhưng thất bại.”

“Nhưng nếu như có hiệu quả ngay lập tức thì sao ạ?” Tupp hỏi. “Ý cháu là nếu cô ta chấp thuận luôn thì sao?”

“Đúng,” Henry nói. Anh muốn nói với chúng rằng anh không hề phải thực hiện bất cứ điều nào trong số đó để đưa Kate lên giường. Cô đã ở trên đó chỉ một vài giờ sau khi gặp anh. Họ đã tán tỉnh nhau suốt cả buổi tối. Khi cô đưa anh về căn hộ của mình, anh đã cố nghĩ ra điều gì đó để nói mà có thể gây ấn tượng với cô, nhưng cô chỉ đơn giản là lao vào anh. Anh không cần phải nói bất cứ một lời nào. Sau đó cô bảo rằng mình đã tiến tới nhanh như vậy bởi vì khi một anh chàng càng nói nhiều thì cô lại càng bớt thích anh ta hơn, và cô không muốn điều đó xảy ra với Henry.

“Cô ta sẽ không chấp thuận,” Kate nói. “Cô ta là một cô gái tốt. Một cô gái xinh xắn, được yêu thích. Điều này làm tăng phần mạo hiểm. Cô ta có nhiều thứ để mất. Cháu cần phải xây dựng nền tảng bền vững.”

“Chúa ơi, Kate,” Henry nói.

Cô phớt lờ anh và tiếp tục đá xoáy. “Vậy,” cô nói. “Bọn cháu sẵn sàng chưa? Bọn cháu có đang lắng nghe không?”

Bọn trẻ gật đầu.

“Hãy nói đi, cô Hale!” Shipley nói. “Hãy cho cháu nghe đi!”

“Bọn anh đang lắng nghe em,” Henry nói. “Cậu bé làm gì tiếp theo? Giả dụ như chúng đang ở một bữa tiệc ở Russian Hill. Có vô vàn các phòng. Hành lang. Chuyện gì xảy ra tiếp theo, hả Kate?”

Cô nhìn Henry, nhưng không phải bằng cái nhìn thiêu đốt. Ánh mắt cô dịu dàng và không thể hiểu được, ánh mắt thuần hóa – có thể nói là hoặc thế này hoặc thế kia. Cô quay đi và đối mặt với Shipley, nhưng giờ thì cô có vẻ khác đi. Chậm chạp, sao nhãng và buồn bã.

“Rồi, một khi cháu đã trao cho cô ta sự chú ý và lùi lại, cố gắng đến những buổi tiệc mà cô ta cũng tham gia. Cháu thấy rằng cô ta đang tận hưởng khoảng thời gian vui vẻ của mình. Cháu có thể tham gia vào những cuộc hội thoại ngẫu nhiên. Tỏ ra hào hứng và luôn có việc để làm. Có những giao tiếp giống hệt nhau với những cô gái khác. Thi thoảng lại chạm trán cô ta, nhưng hãy tỏ ra bận rộn và vui vẻ. Tin cô đi. Cô ta đang dõi theo cháu đấy.”

“Sau đó thì sao ạ?” con trai anh hỏi. Đôi mắt cậu long lanh như thể cậu đã ngồi trước lửa trại cả đêm. Cậu cư xử cáu bẳn khi cậu bị làm cho xấu hổ. “Sau đó mẹ sẽ làm gì?”

Henry thấy cô mất cảnh giác một chút, có lẽ bởi vì giọng điệu của cậu, hay vì cô đã quên mất sự có mặt của cậu ở đây, con trai cô đang ở đây, cậu con trai bé bỏng, người từng ngồi ăn trong lòng bố. Cô nhìn Henry, rồi nhìn tất cả mọi người xung quanh, như thể bất ngờ nhận ra tất cả con mắt đều đổ dồn vào cô. Nhưng dù sao chuyện đó vẫn thường như thế. Cô đẹp, hào nhoáng, thanh mảnh, quá thanh mảnh. Thi thoảng cô lại có một cái mụn ở cằm, ở cùng một điểm. Điều này đã diễn ra trong suốt thời gian anh biết cô, và giờ thì anh trông chờ sự xuất hiện của nó – thứ duy nhất ở cô không thay đổi. “Sau đó cháu sẽ nhận ra rằng cô gái này đang tìm kiếm cháu, cháu biết không, hãy nói chuyện với bạn bè cô ta theo cách mà cháu biết chỉ là diễn thôi. Một buổi trình diễn đối với cháu. Một buổi trình diễn nói lên rằng, Tôi đang có một khoảng thời gian vui vẻ. Nhưng cháu sẽ có thể nhận ra thông qua nó. Trên thực tế, cô ta có thể trông hơi thất vọng, một chút không vui. Cô ta nhớ sự quan tâm của cháu. Cô ta nhớ cháu. Đó chính là lúc cháu thực hiện nước cờ của mình.

Anh có thể thấy ngực bọn trẻ phập phồng. “Vậy, tiếp theo là gì?” Henry hỏi. “Giờ thì chuyện gì sẽ xảy ra?” Anh nhớ lại khuôn mặt ửng hồng của cô lúc ở hành lang, sự im lặng của cô trong suốt thời gian lái xe về nhà. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ toàn bộ thời gian với biểu hiện đau khổ ngoại trừ một khoảnh khắc cô thoáng cười một mình.

“Sau khi cậu con trai đã lừa phỉnh cô ta tin rằng cô ta đặc biệt, cô gái sẽ làm gì?” anh hỏi. “Cô ta sẽ sẵn lòng làm gì?”

“Quên đi,” con trai anh nói. Cậu đứng lên, và chiếc ghế của cậu đổ ra sàn. Cậu giật mình, rồi dựng nó lên.

“Nhưng anh muốn biết,” Henry nói. “Anh muốn biết cô gái sẽ làm gì. Câu chuyện vẫn chưa kết thúc mà.”

Tất cả bọn họ đều nhìn vợ của Henry, nhìn màu da lạnh, đôi mắt sắc nét của cô. Cô là một pháo đài, sừng sững ở đó. Trông cô như một người lạ. Người phụ nữ đứng trước mặt anh không phải là vợ của anh.

“Cô gái sẽ làm bất cứ điều gì.” Cô nói.

“Vậy cô ta có ngủ với cậu ta không?” Henry hỏi. “Ối chà!” Shipley nói.

“Ối chà!” con trai anh hét lên. “Ối chà cái con khỉ!”

“Ối chà!” con gái anh thốt lên. Con bé vừa mới xuất hiện ở ngưỡng cửa. Cô treo chìa khóa xe hơi lên móc. Henry cho là con bé vừa mới nhậu nhẹt vì trông con bé thực sự rất hạnh phúc.

“Chuyện gì đang diễn ra ở đây thế này?” Cô bé nhìn bọn con trai ở quanh phòng. “Có chuyện gì thế, bọn ăn hại?”

“Im đi,” Shipley nói.

Cô bé chỉ lớn hơn bọn chúng 2 tuổi, sinh viên năm đầu tại trường đại học. Bọn con trai đang nhìn đôi chân cô trong cái váy ngắn cạp thấp quấn quanh hông. Trên áo phông in chữ, NHÌN VÀO MẮT TÔI NÀY, ĐỒ KHỐN, và Henry nhận thấy ánh mắt của chúng phóng từ ngực lên mặt cô bé. Tóc cô bé có vẻ ướt, kẻ mắt đen nhòe trên phần da bên dưới mắt cô bé.

Henry cố gắng bắt gặp ánh mắt Kate. Em đã từng giống như thế này, nhớ không? Nhưng cô đang nhìn hai đứa trẻ với vẻ lo lắng.

“Sao trông con ướt nhẹp vậy?” Kate hỏi con gái họ.

“Con đi xem ca nhạc”. “Nhóm nào thế?” Tupp hỏi. “Anti-Flag.”

“Ồ, em thích họ lắm.”

“Thôi xin,” con gái anh đáp. “Mày thậm chí có lẽ không biết album đầu tiên của họ được phát hành năm 96.”

“Em biết mà, đồ xấu xa,” Tupp nói.

“Chị bỏ lỡ chuyện hay rồi,” con trai họ nói. “Bố mẹ đang chỉ bọn em cách để được lên giường. Có vẻ như họ có những phương pháp khác nhau.” Henry có thể cảm thấy mặt mình đanh lại. Anh muốn nghe kết thúc của câu chuyện. Đây không phải chuyện đùa đối với anh.

“Bọn mày không cần thuyết phục một cô gái làm chuyện đó,” con gái anh nói. “Chỉ cần thuyết phục cô ta rằng bọn mày không nói ra. Tin tao đi, họ muốn chuyện đó cũng nhiều như bọn mày vậy. Họ thậm chí còn làm một danh sách bài hát để bật trong lúc làm chuyện đó.” Cô bé mở tủ lạnh và bóc một cái bánh kẹp kem lạnh. “Nếu nghĩ kỹ. Bọn mày hẹn hò với mấy con bé khó tính đó. Bọn họ sẽ không bao giờ từ bỏ cho tới khi bọn mày mua hết cái nọ đến cái kia, và bọn họ sẽ phát điên lên vì tất cả mọi thứ. Về cơ bản, bọn họ sẽ chiếm hữu mày. Hãy tìm mấy cô nàng nổi loạn ấy. Họ cũng nhạy cảm, nhưng họ sẽ không để cho bọn mày biết.”

“Chú đã bảo mà,” Henry nói. “Chú đã nói các cháu như thế nào?”

Vợ anh dường như chưng hửng vì không còn ai để ý tới cô nữa. Nhưng kiểu nó phải thế mà, phải không? Đàn ông mang đến sự quan tâm, khiến cô gái cảm thấy mình đặc biệt, cô ta thổ lộ bản thân mình, và giờ thì anh ta biến mất. Đó là một mánh khóe. Cô ta là một mánh khóe. Henry cảm thấy mình biết kết thúc của câu chuyện này. Cô gái bị đẩy vào tường. Cô gái hạnh phúc trong một khoảng thời gian cho tới khi cô ta nhận ra mọi chuyện đã kết thúc, không phải là mối quan hệ - đó không phải điều mà cô tiếc nuối – mà là cảm giác, điều mà lẽ ra có thể xảy ra. Tất cả kết thúc, và cô ta đang ở đây, quay trở lại nơi bắt đầu của mình. Một ông chồng, hai thiếu niên, và một đứa bé đang ngủ trên tầng. Cô ta không thể trở thành bất cứ thứ gì, bất cứ ai. Đã quá muộn rồi. Liệu có phải không?

Henry bước về phía vợ mình. “Cô ta đã thực sự làm chuyện đó, phải không?” anh thì thầm.

Bọn con trai dù sao cũng không lắng nghe. Chúng đang bận rộn với con gái anh trong phòng, hỏi han về buổi tối hôm nay, về bạn bè của cô bé, cố gây ấn tượng bằng cách ném một quả táo khác vào tủ lạnh. Vợ Henry quay đi và bước ra khỏi bếp mà bọn trẻ không hề nhận ra.

Cô chưa đi đến cầu thang, nên Henry biết cô muốn anh bắt kịp cô.

Cô xoay lưng về phía anh. Đôi vai cô trĩu xuống, và phía sau gáy cô trông thật gầy và mong manh.

Anh bước nhanh hơn, và khi đứng sau lưng cô, anh xoay cô về phía anh. Cô đang khóc, nhưng biểu hiện của cô không phải đang giận dữ. Nó giống như thất bại, hoặc có lẽ chỉ là mệt mỏi. Anh giữ chặt vai cô, và đẩy cô vào bức tường ngay bên ngoài phòng bếp. Anh suýt nữa thì áp sát và hôn chạm răng cô, nhưng điều đó sẽ thật là lố bịch. Cô sụt sịt, và rồi trước sự ngạc nhiên của anh, cô giơ hai tay ra và anh bước vào lòng cô. Cảm giác như đây là cái ôm cuối cùng, nhưng chắc hẳn họ sẽ còn tiếp tục ôm nhau, cho dù kết quả của tất cả chuyện này là gì. Anh chạm vào tóc cô. Anh nghĩ tới việc kéo nó.

“Chuyện gì xảy ra với chúng ta thế này?” cô hỏi. “Em ngoại tình với Greg Dorsey,” Henry nói.

Tên hắn ta cùng vần với tiếng ngựa kêu[2]. “Đó là chuyện đã xảy ra. Nói một cách ngắn gọn.” “Và bây giờ thì sao?” cô nói.

Anh phẫn nộ vì cô đã không phủ nhận, ngay cả khi sự trung thực là điểm mấu chốt của buổi tối ngày hôm nay. Giờ thì ở ngoài này anh muốn có một căn phòng nhỏ để lẩn trốn. Anh tự hỏi liệu đây có phải là điều người ta cảm thấy sau khi họ sửa nhà thành không gian mở với cửa ra vào và cửa sổ cao từ sàn cho tới trần.

“Anh thực sự mệt mỏi,” anh đáp. “Em không như thế hay sao? Chẳng lẽ em không thấy đơn giản là… mệt mỏi?”

Câu hỏi ấy dường như đã hủy hoại cô. Một lời chẩn đoán bệnh trầm trọng.

“Anh đi ngủ đây,” anh nói. “Anh nghĩ rằng đó là việc chúng ta nên làm bây giờ.” Anh gỡ tay ra khỏi tóc cô, rồi đi lên tầng; một tràng cười phát ra từ gian bếp. Khi anh tỉnh dậy, cuộc hôn nhân của anh có lẽ sẽ kết thúc. Nó sẽ kết thúc.

Anh tiếp tục bước đi một cách khó nhọc.

Anh gắng gượng để nghe giọng của bọn trẻ - nó giống như một bài hát, một bản nhạc kết thúc.

Tôi không thù hằn họ bởi vì họ không nói tiếng Anh. Tôi không phải là người phân biệt chủng tộc. Xin cho mọi người biết là tôi có cả đống bạn bè người nước ngoài. Dân tộc yêu thích của tôi trên thế giới là Đức, một dân tộc ưa thích khác là Venezuela. Họ yêu tôi và tôi yêu họ. Ngày hôm qua tôi tức giận sở dĩ là vì con trai tôi bị đẩy ngã sấp mặt xuống cầu trượt. Thằng bé bị đau. Tôi đã nhìn thấy toàn bộ sự việc vì tôi trông chừng – chứ không như những phụ huynh khác ở đó. Nếu họ đang sống ở đây một cách bất hợp pháp và tôi đe dọa gọi cho cơ quan chức năng để báo cáo về họ, có thể họ sẽ né tránh tôi và vấn đề của tôi được giải quyết.

- Renee Grune

Renee – cô có quyền được bực bội khi ai đó, dù có phải người bản ngữ hay không, bắt nạt con của cô một cách vô lý. Tuy nhiên, ngôn từ cô sử dụng trong lời than phiền của mình quá nặng nề. Có lẽ một cái nhìn tổng quan về triết lý bắt nạt có thể sẽ hữu ích. Các quốc gia hùng mạnh sử dụng quân đội để ức hiếp các quốc gia khác trong suốt hàng trăm hàng nghìn năm. Hiện nay một số lực lượng nói tiếng Anh bản ngữ đang ức hiếp một số những người không nói tiếng Anh trên khắp thế giới. Cô đồng lõa trong chuyện này tới mức nào? Tôi giới thiệu những cuốn sách dưới đây, với tất cả lòng chân thành:

Lý thuyết về sự Công bằng của John Rawls, Chiếc bánh dành cho Kẻ thù của Derek Munson, và Thấu hiểu Sức mạnh của Noam Chomsky.

- Marina Willis. Một công dân Mỹ không phải người bản ngữ.

Tôi cũng khuyến nghị cô nên đọc truyện Marley và...

Tôi và Ngủ với nhầm người.

- A.L., West Portal

Vui lòng liệt kê bất kỳ giải thưởng nào bạn từng giành được trong cuộc đời, hoặc thành tựu. Điểm mạnh của bạn là gì?

Tối nay tôi được tưởng thưởng bởi một đứa trẻ vô cùng mệt mỏi và thể hiện sự rã rời của mình bằng những lời nói thực sự. Tôi quả là may mắn. Gabe la hét khi rời công viên, tội nghiệp Georgia, cô căng thẳng nhưng bình tĩnh như một cô y tá gặp phải một kẻ nghiện ma túy trong một chuyến đi xấu số.

Chúng tôi đi về muộn hơn một chút so với bình thường – tôi nói chuyện với Henry, lắng nghe câu chuyện của anh trong khi tưởng tượng và sáng tạo các chi tiết. Chuyện này đôi khi cũng khiến tôi kiệt sức – tôi cảm thấy mình như một trung gian – và tôi không biết liệu tôi là một người lắng nghe tốt hơn hay tệ hơn vì điều đó. Liệu tôi có ý thức được một cách rõ ràng hơn và khai thác triệt để câu chuyện? Hay tôi sẽ trở thành một phần của câu chuyện và bỏ lỡ vấn đề mấu chốt? Cho dù là gì đi nữa, đây là việc mà tôi vẫn luôn làm và tôi không chắc liệu tôi có thể gọi đó là điểm mạnh hay không. Nó có thể là một khả năng vô ích. Ngay tới bây giờ tôi vẫn đang nghĩ về Henry, cố gắng hình dung ra căn nhà của anh, bậc cầu thang, phòng bếp. Tôi có thể thấy anh ở trong không gian đó, liếm mayonnaise dính ở mép. Xin lỗi. Bạn không biết về thứ sốt mà tôi đang nói tới.

Giải thưởng: không. Không có tấm ảnh nào trên các tạp chí chụp tôi đang quỳ gối khúm núm và nhìn lên ống kính như thể nó là một bàn tay phân phát thức ăn hạt cho thú cưng. Như tôi đã nói, tôi từng vô cùng muốn trở thành một nhà văn – tôi thậm chí đã đi học và viết về những thứ như là những người nhập cư vật lộn để mưu sinh cho gia đình mình bằng cách bán hoa quả nhiệt đới ở chợ. Tôi những tưởng mình sắp trở thành một trong số những người nổi loạn. Những viễn cảnh đi săn đuổi, nhậu nhẹt, và lê lết khắp Paris nhảy nhót trong đầu tôi, nhưng thay vào đó tôi thấy bản thân ở những bữa tiệc với rượu vang rẻ tiền, những tảng phô mai to bằng xe thể thao đa dụng, và các cậu trai bàn tán về những thành tích mới nhất của họ, như thể chúng được đăng trên tờ Higgleytown Reader hay Chugachoochoo Review. Trong lớp học, họ liên tục yêu cầu tôi phải giành được thứ này đến thứ khác – kết truyện, mở đầu, phép ẩn dụ. Sau đó họ sẽ nhìn giáo sư. Bạn thấy đấy, mục tiêu chính trong buổi luyện viết lách là nói điều gì đó có thể khiến giáo sư gật đầu lia lịa. Nếu giáo sư không gật đầu, tôi sẽ nhìn các bạn cùng lớp và nghĩ, Cố mà giành lấy nó, đồ bỏ đi. Nhưng lạy Chúa, tôi chưa bao giờ đạt được điều tôi muốn. Tôi bị đè bẹp bởi các email từ chối, nói rằng “vào thời điểm hiện tại chúng tôi không có chỗ trống cho câu chuyện này.” Nhưng tôi đang quay trở lại trên con đường viết lách, tôi cho là vậy, trong phiếu đăng ký dự thi viết sách nấu ăn này.

Tôi không thực sự cảm thấy mình gặt hái được thành công trong công việc gần đây nhất của mình. Tôi là một người viết thực đơn – đó là khi tôi gặp Bobby, bếp trưởng tại một trong những nhà hàng bít tết lâu đời và phong cách nhất ở Union Square, nơi mà thực đơn sử dụng những câu quảng cáo quá lố để bán những bộ phận khác nhau của một con bò: “Ứa nước miếng!” “To khổng lồ!” và hơn thế nữa. Tôi đã khuyến nghị giảm bớt hệ thống chấm câu. Tôi khuyến nghị phần lề nên có thêm miêu tả chi tiết hơn. Thay vì “cải bó xôi trộn kem, tại sao không phải là cải bó xôi trộn kem Sonoma cùng một chút nhục đậu khấu”?

Bobby gợi ý một cái quầy và một chai Bordeaux. Chúng tôi đã hẹn hò trong gần một năm. Tôi đã yêu anh ta. Anh ta đúng là ứa nước miếng và phải, to khổng lồ. Bốn tháng sau khi bắt đầu mối quan hệ anh ta mở nhà hàng của riêng mình ở Sonoma, dùng mọi ý tưởng mà chúng tôi đã thống nhất – cửa sổ lớn, một tay dao thớt trẻ tuổi hấp dẫn, gian bếp mở, một thực đơn kỳ quái, một bàn ăn chung, và chỉ sử dụng món ăn địa phương, bởi vì khi bạn cho “Đặc sản địa phương” vào thực đơn thì mọi người sẽ đến hàng đoàn, cảm thấy tự hào về bản thân, và sẵn sàng trả 40 đô la cho một cái cánh gà. Mười tháng sau khi bắt đầu mối quan hệ, tôi có thai. Ôi, những câu chuyện tôi đã viết, những bộ phim tôi đã thực hiện trong đầu. Trí óc tôi lúc đó rạo rực. Tôi có thể trở thành nhiều hơn là phu nhân của đầu bếp, tôi có thể trở thành một cộng sự, tạo ra một nhà hàng thịnh vượng. Sau khi thiết lập một giáo phái, tôi sẽ sáng tác một cuốn sách nấu ăn được thế hệ Y[3] đặc biệt yêu thích – đầu bếp Alice Waters, nhà hàng French Laundry – đó là những thứ thuộc về thời bố mẹ họ. Họ thích những cô gái có hình xăm củ cải (hoặc có thể là một chú lợn con). Chúng tôi sẽ có một căn nhà xinh đẹp trong thung lũng, những triền đồi trải dài, những cây sồi lộng lẫy, một cái bể bơi, và một văn phòng/ xưởng làm việc tách rời, và một nơi tôi có thể viết lách, cả tiểu thuyết và phi tiểu thuyết. Một xưởng làm việc của riêng tôi. Lý lịch của tôi trên tạp chí Gourmet Magazine sẽ thật sáng chói. Tôi sẽ trang điểm trông như không trang điểm. Em bé của tôi sẽ được 6 tuần tuổi, và người phỏng vấn sẽ thốt lên rằng: “Trông chị thậm chí như chưa có em bé vậy!”

“Là nhờ cho con bú đấy,” Tôi sẽ trả lời.

Nhưng cảnh quay cắt đến đoạn Bobby, biểu hiện của anh ta khi tôi tiết lộ thông tin. Tôi bộc bạch niềm hy vọng, sự tự tin và tình yêu trong sáng. Dĩ nhiên, tôi cũng phần nào lo lắng, sợ hãi, và hoang mang. Nhưng chúng tôi từng nói chuyện về việc sẽ đặt tên con cái của mình là gì. Chúng tôi đã có những cuộc trò chuyện thật dài về ngôi nhà và những kỳ nghỉ mơ ước. Chúng tôi đã đi trượt tuyết cùng với nhau. Tôi biết anh ta có một người chú đặc biệt đã qua đời khi anh ta 12 tuổi. Chúng tôi đã đạt tới giai đoạn xì hơi trước mặt nhau. Chúng tôi đã đến mức độ đó! Tôi thậm chí đã kể cho anh ta điều mà tôi muốn làm trong cuộc đời – lời thú nhận đáng xấu hổ tôi-muốn-trở-thành- một-nhà-văn. Khi một người đàn ông nói “Anh yêu em,” và “Anh yêu mọi thứ giữa chúng ta,” tôi không nghĩ mình phải nghi ngờ điều đó, và vì thế tôi chưa từng tiên đoán được phản ứng hay những lời của anh ta:

“Anh gần như đã đính hôn rồi.”

Vậy đó, không. Không có thành tựu nào dành cho tôi, về cơ bản. Mặc dù tôi cho rằng mình đã chung tay mở một nhà hàng, tôi đã hỗ trợ các nông dân địa phương – tôi đã có một lần duy nhất trong đời sống thử. Các thành tựu khác của tôi trong tuần này bao gồm việc đọc cho Ellie nghe toàn bộ các truyện kể về công chúa mà không bỏ qua phần nào hay dừng để chen vào quan điểm của mình về tương lai vô vọng của nàng công chúa – dọn dẹp và sinh đẻ. Tuần này tôi vừa đẩy giờ uống cocktail xuống năm rưỡi, và tối nay, tôi đã nghĩ ra một món ăn sau khi nói chuyện với Henry.

Có vẻ như cuộc hôn nhân vốn đã gặp rắc rối của anh đã chạm tới mức độ tệ hơn. Tôi biết có điều gì đó đang diễn ra. Anh trông thật ngơ ngác và gục xuống ở nơi mà anh thường ngồi thẳng thớm hoặc đi loanh quanh công viên như thể anh đang ở một bữa tiệc cocktail. Mấy người trông trẻ bật đèn khi anh mở cổng, ngoại trừ một người tên là Hilda, cô ta sẽ không bật đèn trừ phi anh đốt lửa dưới chân cô ta.

Anh kể cho tôi rằng vợ anh cuối cùng cũng đã thừa nhận điều mà anh đã nghi ngờ một thời gian. Cô ta đang ngoại tình với một người đàn ông khác.

Trông Henry lúc đó như đấu tranh giữa sự rối trí và giận dữ: ngơ ngẩn. Cuộc hôn nhân kéo dài hai mươi mốt năm. Hai người kiên trì xây dựng tòa tháp này cùng nhau và rồi một người quyết định đạp đổ nó. Tòa tháp của tôi chỉ tốn công sức một năm. Nhưng có lẽ Henry sẽ xây dựng lại. Vợ anh dường như thích sự tu sửa. Phải, họ có thể xây dựng một tòa tháp thậm chí còn tuyệt vời hơn. Không phải là tôi biết anh sẽ làm gì cũng không phải tôi quan tâm. Ý tôi là, tôi có quan tâm. Tôi sẽ ủng hộ anh ấy dù anh lựa chọn cách nào. Chúa ơi, tôi nói nghe như Bobby sau khi tôi bảo anh ta rằng tôi có thai.

“Đó là quyết định của em,” anh ta nói. “Anh sẽ ủng hộ em dù em lựa chọn như thế nào đi nữa,” suốt thời gian qua tôi tưởng tượng lúc đó anh ta đang tự lẩm nhẩm với bản thân: hủy bỏ, hủy bỏ, hủy bỏ, như thể Ellie và tôi là một nhiệm vụ thất bại[4].

“Em rất tiếc,” tôi nói với Henry ngày hôm nay.

Chúng tôi không nhìn vào mắt nhau. Sự gần gũi nhất tôi đạt được là nhìn vào chân anh để bên cạnh chân tôi.

“Ừ,” anh nói. “Anh đoán chắc em… em đã từng đối phó với chuyện này. Em vẫn đang phải đối phó với nó. Mặc dù anh chắc chắn rằng hai chuyện khác nhau.”

Anh đổ đầy cốc nhựa của tôi, và trong một giây tôi có cảm giác như hoài niệm về một điều gì đó mà tôi chưa từng biết đến: một người chồng đổ đầy cốc rượu cho tôi. Tôi vẫn thường nói đùa và coi nhẹ cuộc sống đơn thân, quên đi rằng nó là điều có thể sẽ kéo dài mãi mãi, rằng nó có thể không chỉ là một giai đoạn như là mọc răng.

“Hai chuyện khác nhau,” tôi nói, mặc dù tôi có thể sẽ gặp khó khăn để lựa chọn giữa hai tai họa đó. Không có danh mục các nỗi đau để chúng ta có thể chọn lấy tổn thương của mình, nhưng nếu thực sự có thì tôi tự hỏi nỗi đau của tôi sẽ phải trả giá bao nhiêu so với của Henry.

“Ít nhất chúng ta vẫn còn có nhau!” Cuối cùng tôi cũng nhìn anh. Giọng tôi ẩn ý hài hước để che đậy sự thật của vấn đề, đó là cảm giác rằng nỗi bất hạnh của Henry phần nào xóa đi một chút nỗi đau của chính tôi và rằng chúng tôi đang cùng trải qua điều gì đó cùng nhau. Tôi muốn trao anh một cái ôm, nhưng là cái ôm tình bạn. “Anh là bạn của em!” Tôi muốn nói như thế. “Có lẽ là người bạn thân nhất của em dạo gần đây. Em không có những người bạn như thế này. Và cả anh cũng thế.” Anh từng nói với tôi rằng những người được gọi là bạn của anh thực sự chỉ tìm kiếm lời khuyên trong việc mặc gì, làm hài lòng ai và như thế nào. “Chúng ta là những người bạn không ngờ tới! Em rất quý anh!”

Tôi cảm thấy có lỗi khi mà sự khổ sở của anh lại tiếp thêm năng lượng cho tôi, và tôi hơi cúi đầu.

“Em rất tiếc,” tôi lặp lại. Tay anh đang đặt trên băng ghế, và tôi vỗ nhẹ nó một lần. Nhận thấy cử chỉ của tôi, anh nhìn xuống, mặc dù tôi không rõ anh cảm nhận như thế nào về nó.

Henry thật đơn giản, theo phương diện tốt nhất. Chỉ cần những điều nhỏ nhặt để khiến anh hạnh phúc – một ngày ở công viên, một cái sandwich, những thứ giống như vẻ bề ngoài của nó.

Tôi nghĩ đến những món salad không tốn công sức, những đồ ăn đơn giản, sandwich cho đêm khuya, sự an ủi và tình yêu. Rau trộn Phô mai Xanh, một món salad khô để lấy lại sự tỉnh táo.

Một cái sandwich Croque Monsieur với bơ ở cả hai mặt của lát bánh mỳ; một mặt tẩm bia Bud Light để khiến món ăn nhẹ nhàng. Tôi nhìn anh, rồi nhanh chóng quay đi chỗ khác. Tôi cảm thấy nó. Một sự bồn chồn, một vị mạnh và sắc như ngải giấm trên xà lách búp. Một cuộc sống không có Bobby có thể trở thành hiện thực.

“Anh định sẽ làm gì?” tôi hỏi, và có lẽ cũng giống Bobby tôi đang lẩm nhẩm câu trả lời mà tôi muốn nghe. Chúng tôi vẫn luôn tán tỉnh nhau trong địa phận an toàn của sự bất khả thi. Nhưng bây giờ… Nhưng bây giờ chẳng sao cả. Tôi đang suy nghĩ một cách phi logic, ích kỷ. Bây giờ tôi có một người bạn cần một chút sự ủng hộ.

“Anh không biết nữa,” anh nói. “Em sẽ làm gì về chuyện của Bobby?” Anh trở nên hăng hái hơn, biểu hiện quen thuộc của anh đã trở lại – thích thú, tích cực, tinh quái.

“Em sẽ thật lỗng lẫy trong đám cưới của anh ta,” tôi đáp.

“Đúng là một cô gái thú vị,” anh nói. “Nếu em cần một người đàn ông quyến rũ hộ tống thì hãy bảo anh.”

Tôi không biết liệu có phải anh đang đùa không, và dường như anh cũng không biết. Cả hai chúng tôi trở nên im lặng và thể hiện một chút lúng túng trên mặt. Trước khi tôi có thể đáp lại, Tommy đã chạy về băng ghế.

“Con có quyền năng,” cậu bé nói, tay khum khum thứ gì đó. “Con có một ít ở đằng kia bên dưới cái hốc.”

“Giỏi lắm, con trai,” Henry nói. “Quyền năng là rất tốt. Hãy đi và lấy thêm một ít đi. Lấy cho bố và cô Mele.”

Tôi cho rằng trong một phút chúng tôi trông giống một cặp vợ chồng, bố mẹ của Tommy và Ellie. Chúng tôi ngồi trong im lặng một lúc cho tới khi Ellie tới chỗ tôi, lần đầu tiên con bé yêu cầu về nhà. Tôi nhận ra đã muộn rồi. Tôi có thể ngửi thấy mùi bữa tối phảng phất từ cửa sổ của các căn hộ. Henry đứng dậy, luồn tay qua mái tóc dày màu nâu của anh. Anh bước tới chỗ con trai mình. “Về thôi nào, được chưa, cậu nhóc?”

Tôi chưa từng nhìn thấy anh vội vàng hoặc hoảng hốt, hay thúc giục con mình bằng cách đếm đến ba. Anh ấy đánh lừa con mắt. Đôi khi anh trông giống như một ông chủ, một người giám sát, những lúc khác trông anh như thể đang đốn cây để kiếm sống. Anh có đôi mắt màu xanh lam sắt đá, một gương mặt trẻ trung, một thân hình cường tráng – bạn có thể nhận ra điều ấy qua cái cách mà quần áo anh ôm vào người. Tôi cảm thấy một chút tội lỗi vì đã khiến anh kể hết mọi chuyện, nhưng trông anh có vẻ khá hơn lúc mới tới đây. Tôi cảm thấy cuộc nói chuyện của chúng tôi là một thắng lợi lớn.

“Gặp lại sau nhé,” anh gọi với mọi người. “Bọn anh về đây.”

Anh quay lại nhìn tôi đang rời đi và cười một nụ cười chân thành khiến gương mặt anh giãn ra.

Khi Ellie và tôi về tới nhà và cô bé ấn chiếc xe ba bánh của mình vào vị trí ở tầng hầm để nó nằm như vậy, tôi làm một cái sandwich Henry Croque Monsieur, dịch là “quý ông giòn tan.”

Chỉ là một cái sandwich thịt hun khói và phô mai, nhưng sốt trắng là điểm nổi bật của bữa ăn, biến một thứ nguyên thủy trở thành thứ gì đó tiến hóa ngon lành. Tôi trở nên thích thú và làm thêm một cái Croque Quý Bà, đặt lên trên miếng sandwich một quả trứng ốp, sau đó quyết định làm thành 2 quả và gọi nó là Croque Vợ Hai. Tôi làm một cái Croque Bé Con cho Ellie, đặt những lát táo lên trên cùng. Con bé ăn hết sạch. Tôi không thể nói hết niềm tự hào mà tôi cảm thấy khi con mình ăn mọi thứ tôi đặt trước mặt con bé, khi tôi có thể ngồi xuống cùng với con và nói chuyện trong khi ung dung nhấm nháp rượu vang mà không phải hét lên: “Ăn!”

Trên đây là những thành tựu của tôi.

Renee – thật tuyệt vì cô có những người bạn nước ngoài; tuy nhiên, vấn đề là việc cô cho rằng gọi cảnh sát là một cách phản ứng phù hợp. Vậy là con cô bị đẩy ngã và giải pháp là gia đình đó phải ngồi tù dành cho người nhập cư?

- Beth Nelson

Chồng của cô đã bao giờ yêu cầu sử dụng máy bơm sữa chỉ để cho vui chưa? Tôi không chắc mình nên phản ứng như thế nào trước yêu cầu này và giả vờ như tôi bị “vấn đề về đường ruột,” nhưng tôi không biết mình có thể tiếp tục sử dụng cái cớ này trong bao lâu nữa. Đó là điều mà cánh đàn ông thích hay là…

- Khuyết danh, vui lòng trả lời chung cho toàn bộ diễn đàn

Cái đó đặc biệt đấy. Chưa từng nhận được yêu cầu như thế trước đây! Có một trang trại sữa ở Vallejo nếu anh ta muốn thử và cải thiện chức năng vắt sữa của anh ta. Đó là trang trại hữu cơ!

- A.L., West Portal

Chồng của bạn có nấu ăn không? Hai người chia sẻ các trách nhiệm như thế nào?

Quả là cách để xát muối vào lòng tôi, đồ quỷ cái bệnh hoạn đi giày gót nhọn đế thấp. Thứ duy nhất mà các đức ông chồng của các người chế biến có lẽ là những cuốn sách. Tôi cá là các người phàn nàn rằng anh ta không hoàn thành đủ phận sự của mình. Anh ta không đón bọn trẻ. Bọn họ khiến cho các người phát điên. Các người đang cố gắng đăng gì đó về phương pháp thải độc kỳ diệu và bọn họ thì đang đánh nhau để tranh giành iPad lần nữa. Các người cần phải đăng bài về chuyện thải độc ngay lập tức và làm thế nào để biết chính xác những gì các người đang tống vào cơ thể và rằng các người đang thật hạnh phúc và khỏe mạnh! Các người cần phải đăng lên Instagram ảnh chụp hình thể Trước và Sau! Các người cần ông chồng giúp đỡ - anh ta làm việc quá nhiều, anh ta không đối xử với các người theo cách mà các người nên được đối đãi. Anh ta không nhận ra tóc các người nhuộm hightlight. Anh ta không nhận ra các người làm móng chân. Ngón chân các người to bằng quả cà tím cơ mà, chết tiệt! Chính là màu vàng It[5] đó!

Vậy là tuần này tôi cảm thấy hơi khó chịu một chút. Đám cưới chỉ còn 3 tuần nữa, cùng thời gian đến hạn của cuốn sách này, tôi lo lắng và chán nản. Annie khăng khăng là tôi không được đi, nhưng tôi không kiềm chế được ham muốn của mình. Tôi muốn nhìn thấy những gì mà anh ta đã chọn. Tôi muốn nhìn thấy cuộc sống mà theo cách nào đó tôi là một phần của nó.

Hôm nay tôi lướt qua danh sách đăng ký quà cưới[6] của Bobby, tìm kiếm những món quà phù hợp – mấy cái bát pha lê chết tiệt hay một bộ dụng cụ ăn bằng bạc – món thứ hai đã được mua bởi nhà Mittwegs. Thật là tham lam khi đòi hỏi một cái bát đựng đồ uống khi anh ta có một đứa con nhỏ! Anh ta nên đăng ký học phí trường mẫu giáo hoặc những chiếc váy công chúa. Anh ta nên đăng ký rượu vang và chương trình trị liệu cho mẹ của đứa trẻ.

Tôi đang ngồi ở bàn làm việc trong phòng khách. Ellie đang đập rầm rầm lên chiếc đàn piano bé xíu của con bé, điều này không giúp ích chút nào cho cơn đau đầu sau trận say của tôi.

Tôi thề là việc làm mẹ dẫn đến nghiện rượu. Tôi chưa từng có thói quen uống rượu như vậy. Đêm qua, Annie, Georgia, Barret, và tôi thú nhận rằng chúng tôi uống rượu vào tất cả các buổi tối trong tuần. Tôi không nghĩ là có gì bất bình thường khi phụ nữ dùng một vài ly rượu vang cùng bữa tối hàng ngày, nhưng tôi đoán rằng điểm thú vị đó là nhu cầu dường như cực kỳ cấp thiết của chúng tôi. Chúng tôi đang ở nhà của Barrett, ngồi trong phòng khách, uống rượu, một cách nhã nhặn.

“Sau một ngày thì rượu nghe thật hấp dẫn,” cô nói. “Và nó khiến con cái cậu dường như cư xử ngoan ngoãn hơn,” Tôi nói. “Cậu nửa như hạnh phúc nửa như tức giận.” “Nó giống như một phần thưởng vào cuối ngày vậy,” Annie nói. “Giống như, làm tốt lắm. Giờ thì cậu có thể kết thúc giờ làm việc và thư giãn rồi.”

“Trừ phi cậu không thể,” Barrett nói. “Giống như bài hát Hotel California vậy.” Chúng tôi tiếp tục cuộc trò chuyện, chuyển sang cocktail margarita và rượu tequila. Tôi vẫn uống rượu vang. Điều đó không có nghĩa tôi là một người tử tế hơn. Chỉ là đường làm tôi thất kinh, và chanh khiến tôi đổ mồ hôi. Bọn trẻ đuổi bắt nhau tới tận 10 giờ, và tất cả chúng tôi đều giống nhau, “Mẹ kiếp. Cạn ly. Bê đê. Mà bê đê là cái quái gì? Ôiii, tớ mê mẩn bài hát này. Cái gì thế? Ngài Trộn-đủ-thứ? Ôi Chúa ơi, nhìn cậu trong tấm ảnh này. Trông cậu trẻ quá đi mất! Các đức ông chồng của chúng ta đâu rồi? Ai mà quan tâm! Mấy ông chồng chết tiệt! À khoan, đừng giết họ! Hahaha.”

Chúng tôi giống như thánh rượu nho, đó là khi các bà mẹ quá chén. Barrett bắt đầu nói líu nhíu và lảo đảo. Cô cố gắng tỉnh táo trở lại, nhưng chúng tôi phát hiện ra cô vừa chuyển sang tequila pha loãng. Chồng cô bổ nhào vào giải cứu, bắt cô chúc ngủ ngon. Tôi khao khát được ai đó đặt vào giường biết chừng nào.

Chồng tôi có nấu ăn không? Quay trở lại với câu hỏi. Bobby từng nấu ăn, những món đơn giản nhất vì thường lúc đó đã là đêm khuya. Mỳ Ý với tỏi và dầu oliu, húng quế tươi, cá cơm biển. Chúng tôi sẽ ăn và xem chương trình ti vi muộn, chân tôi gác vào lòng anh ta. Những ngày ăn mỳ và hút thuốc lá đó đã kết thúc rồi. Tôi không thể tưởng tượng được Ellie đi lạch bạch vào trong cảnh tượng đó với núm ti giả trong miệng, chăn em bé kéo theo sau. Tôi cũng không thể tưởng tượng được con bé cùng một bà mẹ kế, và ý nghĩ đó khiến mạch máu tôi như muốn phình ra – tôi tưởng tượng nó có dòng chảy và những cơn sóng cuộn tròn. Một vận động viên lướt sóng nào đó có thể giành được cúp trong cơn thịnh nộ của tôi. Đây chưa bao giờ là một phần cuộc sống mà tôi từng tưởng tượng. Con bé sẽ có một bà mẹ kế tóc vàng, một người trông thật quyến rũ trong đôi ủng cao su và áo cao cổ, một người có thể nói, “Tôi chỉ là một cô thợ làm phô mai đơn thuần,” người còn được biết đến với tư cách là con gái ông chủ xưởng rượu nho, cô ta có đủ quyền hạn để tự nói với bản thân rằng, “Mình nên bắt đầu làm thứ gì đó thủ công, hữu cơ, và hợp xu hướng trên vùng đất mà chúng ta chưa dùng đến.”

Chúng tôi chắc chắn là không phân chia trách nhiệm. Tôi chịu trách nhiệm về Ellie, nhưng tôi cho đó là cách mà tôi muốn.

Anh ta đến thành phố vào sáng hôm qua, giống như đôi khi anh ta vẫn làm vào những ngày Chủ nhật khi họ cấm đường ở Công viên Golden Gate. Chúng tôi đi dạo loanh quanh cùng Ellie trên chiếc xe ba bánh có tay đẩy và tôi giả vờ như chúng tôi là một gia đình thực sự. Chúng tôi thích xem những vận động viên trượt patin khiêu vũ theo nhạc. Hay là, chúng tôi thích ngắm Ellie xem họ.

“Bàn đạp. Dùng chân con ấy,” anh ta nói với Ellie lần thứ 9. Tôi đếm số lần. Tâm trí tôi bức xúc khi anh ta có thể bực bội với con bé chỉ sau nửa giờ đầu tiên trong khi anh ta chưa gặp con bé nhiều tuần liền, dù biết rằng anh ta lại chuẩn bị rời đi.

“Chuyện đó thực sự là vấn đề to tát à?” tôi hỏi, đẩy con bé đi bằng tay cầm trong khi bé ngồi mà không đạp – tôi dùng nó với chức năng là xe nôi nhiều hơn là một chiếc xe đạp thực thụ.

Một đám người chạy bộ đi ngang qua, và chúng tôi phải bước qua một bên để tránh một vài đứa trẻ đang đi chập chững.

“Nó là một cái xe đạp tập đi,” anh ta đáp. “Và con bé sẽ không bao giờ học cách tự mình di chuyển nó nếu cô cứ dùng tay đẩy. Tôi đã bảo cô mua cho con bé một trong những chiếc xe đạp thăng bằng rồi mà. Như thế thì cô có thể bỏ qua mấy cái bánh xe phụ.”

Trán anh ta nhăn lại. Đây là một vấn đề thực sự đối với anh ta – kỹ năng đạp xe ba bánh của Ellie. Tôi cảm thấy một sự pha trộn giữa khó chịu và mãn nguyện. Ít nhất anh ta cũng quan tâm. Và thật buồn cười khi nghe những từ ngữ đó phát ra từ miệng anh ta – xe đạp tập đi, bánh phụ. Anh ta trông giống như tất cả những ông bố không chút nghênh ngang khác trong công viên, không còn dấu vết nào của bản chất ngày xưa.

“Tôi không thực sự lo lắng về kỹ năng đạp xe của con bé,” tôi nói. “Đó thực sự là điều tôi ít lo lắng nhất.”

“Cô cần phải ngừng cảm thấy thương hại bản thân,” anh ta nói.

“Tôi thương hại bản thân à?” tôi nói và đứng lại. Anh ta đẩy lưng tôi để khiến tôi đi tiếp. “Đừng có xúc động quá.”

Tôi bước đi và nói thật khẽ, quai hàm của tôi cứng lại, những lời lẽ chỉ như rò rỉ ra khỏi miệng tôi. “Tôi cho là tôi được quyền thương hại bản thân và xúc động và vô số thứ nữa.”

“Được rồi.” Anh ta nhún vai. “Cô muốn thế nào cũng được.”

“Chúa ơi, anh đúng là thằng khốn,” tôi nói. Anh ta nhún vai lần nữa, như thể đó là điều gì đó hiển nhiên, như thể nói cho anh ta biết anh ta có mái tóc đen và đôi vai rộng, và một nụ cười rụt rè quyến rũ, khỉ thật.

“Cô ta nghĩ gì về việc anh đến đây với chúng tôi?” tôi hỏi. Anh ta mất một lúc để hiểu. “Cô ấy ổn cả,” anh ta đáp.

Tôi cảm thấy bực bội khi biết rằng cô thợ phô mai đó cảm thấy ổn, rằng tôi không phải người có thể khiến cho cô ta dao động. Anh ta không bao giờ kể chi tiết khi tôi hỏi làm thế nào mà cô ta có thể tha thứ cho anh ta. Anh ta luôn chỉ nói, “Chúng tôi xử lý được.”

Tôi quyết định khiêu khích thêm. “Anh làm cho một người phụ nữ khác có thai trong khi anh đã đính hôn. Cô ta chắc hẳn phải là một quý cô bao dung.”

Anh ta nhìn xuống tôi. “Cô có muốn tôi làm tổn thương cô hơn nữa không? Thừa nhận rằng phải, cô ấy rất bao dung, phải, chúng tôi đã xử lý xong chuyện đó. Cô luôn luôn mồi cho tôi phải nói ra những điều khiến cô không vui. Chúng tôi đã không làm đám cưới khi lẽ ra phải thế vào một năm trước. Nhưng phải, chúng tôi đã xử lý xong và giờ thì mọi thứ thật tuyệt vời.”

“Chúng ta đi tới hồ vịt được không ạ?” Ellie hỏi, và chúng tôi đi tiếp, cảm ơn trời. Tình yêu và niềm hân hoan xung quanh tôi khiến tôi khó thở. Tôi gạt nước smắt.

“Tôi chỉ là không thể tin nổi, có lẽ vậy.”

Bobby bước đi tay nhét túi quần. Tôi đẩy tay cầm của chiếc xe đạp, khuyến khích con gái mình.

“Cô ấy không thể có con,” Bobby nói. “Vì thế cô ấy cho rằng đây là điều tốt, theo cách nào đó. Cô ấy tìm thấy một khía cạnh tốt cho tất cả những chuyện này.”

Tôi cảm thấy nghẹt thở, như thể bị một quả bóng ném vào giữa bụng.

“Cô ấy hạnh phúc vì tôi có một đứa con,” anh ta nói. “Và giờ, cô ấy cũng vậy. Trước đây cô ấy đã luôn nói rằng sau này cô ấy sẽ cân nhắc tới chuyện nhận con nuôi, nhưng bây giờ…”

Tôi đi nhanh hơn. Tôi muốn gào thét. Tôi muốn bỏ chạy, nhưng với cái xe này thì điều đó là quá khó khăn. Chân Ellie đã đang xoay quá nhanh rồi. Con bé quay đầu lại nhìn như thể đây là một cuộc đạp xe mạo hiểm. Con bé là đứa trẻ sẽ cứu rỗi họ khỏi mọi phiền toái của việc nhận con nuôi? Con bé là móc nối cho vòng tròn gần hoàn chỉnh của họ? Tôi vừa trao tặng cả hai người bọn họ một món quà. Tôi giống một bà mẹ đẻ thuê! Và giờ thì họ còn muốn tôi tặng một cái bát đựng đồ uống ư?

“Chậm thôi,” Bobby nói. “Chính cô đã hỏi mà.” Tôi chậm lại, ra khỏi đường chính rẽ vào lối món chạy qua thung lũng cây dương xỉ. Tôi cần bóng râm, cần không khí mát lạnh hơn, cần những cái cây phất phơ bao phủ. Bất cứ lúc nào cảm thấy quá sức chịu đựng tôi lại đến đây. Tôi thích nó hơn là khu Bảo tồn Hoa ở phía bên kia đường, những luống hoa quá quy củ. Tôi thích thú hơn với bữa tiệc đầy màu xanh hỗn độn này, sự hoang sơ, âm thanh của những chú chim. Mọi thứ sẽ ổn thôi vì Ellie đang ở đây với tôi và những cây dương xỉ thật sừng sững và khổng lồ.

“Tôi mang theo ai đó tới tham dự lễ cưới cùng có được không?” tôi hỏi.

Bobby chớp mắt thật nhanh trong khi mỉm cười, hành động mà anh ta thi thoảng làm khi anh ta không biết câu trả lời cho điều gì đó mà một gã trai khác thì biết.

“Dĩ nhiên,” anh ta nói. “Một cô bạn chăng?” “Không,” tôi đáp.

Lại chớp mắt. Tôi bắt đầu cảm thấy khá hơn.

“Chắc chắn rồi,” anh ta nói. “Nghe tuyệt đấy.

Rất tuyệt.” Anh ta với tay vặt một chiếc lá. “Tên anh ta là gì? Để tôi có thể điền vào bảng tên chỗ ngồi.” Những cái cây dương xỉ thật cứng cáp và tao nhã. Ellie tự mở khóa dây đai và chạy về phía hồ hoa ly.

“Henry Hale,” tôi đáp.

Tôi đã quên mất việc phải trả lời câu hỏi một cách nghiêm chỉnh.

Có, bố của con tôi có nấu ăn, nhưng cho một người phụ nữ khác, và cuối cùng tôi đã chọn cho họ dụng cụ bào phô mai và một bộ dao.

Beth. Tôi sẽ gửi kèm một bảng tổng hợp tất cả những người coi trọng những gì tôi đã nói, lược bỏ tên. Tôi đã thấy cô trên LinkedIn và để ý rằng khoảng mỗi năm một lần cô lại đổi công ty. Tôi sẽ đệ trình khiếu nại tới nơi làm việc mới đây nhất của cô nếu cô tiếp tục phản hồi. Những người bạn luật sư của tôi quá bận rộn để công kích mọi người như cô đã làm với tôi ngày hôm nay.

- Renee Grune

Mọi người vẫn còn thực sự dùng LinkedIn sao?

- A.L., West Portal

Kế hoạch “bữa tiệc bô” của chuyên gia bài tiết hoàn toàn phản tác dụng. Silas la hét “Không dùng bô đâu!” rồi bị mắc chứng thụt lùi giấc ngủ, thức giấc và đòi được đung đưa như em bé. Giờ thì khi thằng bé có nhu cầu nó lại đứng đó trần truồng và đòi mặc tã. Khi tôi không đồng ý thì thằng bé đập cánh tay, trợn mắt và không nói câu nào. Tôi cần phải thuê một người mới thôi.

- Nghe lỏm tại khu vui chơi Julius Kahn

Chú thích:

[1] Thành ngữ “The apple doesn’t fall far from the tree” nghĩa là con cái giống cha mẹ mình. Ý của nhân vật khi nói câu này có thể hiểu là con trai không giống anh, và sống trong một hoàn cảnh sung túc và được bao bọc hơn hẳn (ND).

[2] Nguyên văn: horsey.

[3] Nguyên văn Millennials - những người sinh ra trong giai đoạn từ đầu thập niên 1980 đến đầu thập niên 2000.

[4] Chơi chữ, nguyên văn “abort” có một nghĩa là sẩy thai, nghĩa khác khi được sử dụng cùng với từ “mission” được hiểu là hủy bỏ nhiệm vụ.

[5] Nguyên văn “It color”: sơn móng tay/chân màu vàng của hãng hơn móng nổi tiếng OPI.

[6] Wedding registry – dịch vụ cung cấp bởi một cửa hàng hoặc một trang thương mại điện tử, trong đó cô dâu chú rể sẽ lựa chọn sẵn những mặt hàng họ cần hoặc yêu thích để khách mời có thể lựa chọn làm quà tặng.

« Lùi
Tiến »