Kiếm Sống

Lượt đọc: 1603 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

Thật là buồn vui lẫn lộn mỗi khi nhớ lại lòng say mê đọc sách bùng cháy đã mang lại cho tôi biết bao hệ lụy bực bội, lo âu khắc nghiệt!

Thấy sách của chị vợ anh thợ cắt đắt tiền quá và sợ bà chủ già sẽ thiêu chúng, tôi cố gắng không nghĩ đến chúng nữa. Tôi bắt đầu đi mượn những loại sách nhỏ, lòe loẹt ở hiệu buôn nhỏ, nơi sáng nào tôi cũng tới mua bánh mì về uống trà sáng.

Chủ hiệu là một gã thanh niên rất đáng ghét, lúc nào cũng nhễ nhại mồ hôi, mặt nhăn nheo trắng bệch đầy những đốm và sẹo tràng nhạc, môi dày, mắt trắng dã và nhỏ, những ngón tay vụng về trên hai bàn tay to mập. Buổi tối, cửa hiệu của gã là nơi đám choai choai và lũ con gái nhẹ dạ của khu phố tụ tập. Hầu như chiều nào em trai cậu chủ cũng đến hiệu uống bia và đánh bài. Tôi thường phải đi gọi cậu Viktoruska về ăn tối, rất hay trông thấy cô vợ hồng hào, đần độn của gã chủ hiệu ngồi trên đùi cậu hoặc trên đùi một thanh niên khác trong căn phòng nhỏ hẹp phía sau cửa hiệu. Điều đó có lẽ không làm gã chủ hiệu khó chịu. Cả khi bọn ca sĩ, lính tráng và mấy thằng cha lăng nhăng ôm chặt lấy cô em gái vẫn giúp gã bán hàng, gã cũng chẳng bực bội tí nào. Hàng hóa trong hiệu không nhiều lắm, gã giải thích rằng mình mới mở cửa hàng nên chưa kịp sửa sang tu bổ, mặc dầu cửa hiệu đã mở từ dạo mùa thu. Gã đưa khách xem mấy bức tranh khỏa thân và cho người ta chép những bài thơ tục tĩu nếu muốn.

Tôi đọc mấy quyển sách vô vị của Mischa Evstignev, mỗi quyển phải trả một kopek. Tiền thuê thì đắt mà sách thì chẳng làm tôi hài lòng chút nào. Những quyển Guyak hay là lòng chung thủy vô song, Franzl Venetian, Cuộc chiến đấu giữa người Nga và người Kabarda[68], hay Người nữ tín đồ Hồi giáo tuyệt mĩ đã chết trên quan tài chồng[69] và những sách tương tự không thỏa mãn được tôi, chúng thường khiến tôi cáu giận: Tựa hồ chúng giễu cợt tôi là thằng ngốc bằng cách kể cho tôi nghe những chuyện phi lí với những câu văn hiểm hóc.

Tôi thích Những người xạ thủ, Youri Miloslavski, Người thầy tu bí mật[70], Yapacha, người kị sĩ Tarta và những quyển cùng loại hơn. Sau khi đọc xong, các quyển sách ấy còn lưu lại được chút gì trong trí óc. Tôi thích nhất là loại sách viết về sự tích các thánh. Các sự tích đó có vẻ nghiêm chỉnh đáng tin và đôi lúc khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi thấy những vị thánh tử vì đạo đều hao hao bác Tốt Lắm, các thánh nữ thì tựa như bà ngoại tôi, còn những tu sĩ thì giống ông ngoại những lúc ông vui vẻ, dễ dãi.

Tôi đọc sách trên gác thượng hoặc khi chẻ củi trong nhà kho, chỗ nào cũng bất tiện và lạnh lẽo. Thỉnh thoảng, gặp quyển sách hay hoặc phải đọc cho chóng xong, tôi thức dậy lúc nửa đêm và đốt nến. Nhưng bà chủ già để ý thấy nến chóng hết quá nên đã dùng một que đóm để đo và giấu cái thước ấy vào một chỗ. Nếu sáng hôm sau cây nến thiếu đi một mẩu[71] hoặc nếu tôi không tìm thấy que đóm mà bẻ đi một đoạn bằng đoạn nến đã cháy thì trong bếp lại ầm ĩ huyên náo. Một hôm, cậu Viktoruska nằm trên phản phát bực đã tuyên bố:

- Đừng có bù lu bù loa mãi lên như thế, mẹ ơi! Không tài nào sống được! Tất nhiên là nó đã thắp nến vì nó đọc sách mượn của thằng chủ hiệu, con còn lạ gì nữa. Mẹ cứ xem trên gác thượng ấy…

Bà già vội trèo lên gác, tìm được một quyển không biết là quyển gì và xé nát.

Dĩ nhiên việc đó làm tôi rất buồn phiền, nhưng lòng ham muốn đọc sách càng ngày càng mạnh. Tôi hiểu rằng nếu có vị thánh nhân nào đến nhà này thì các chủ nhân của tôi cũng sẽ dạy dỗ cải tạo ông ta theo lối sống của họ; họ làm điều đó vì buồn chán. Nếu họ không được buộc tội mọi người, không được la lối, chế giễu người khác thì họ sẽ quên mất tiếng nói, sẽ trở thành những kẻ câm và sẽ không nhận ra chính bản thân nữa. Con người muốn cảm thấy sự tồn tại của mình thì cần phải có một thái độ nhất định đối với những người xung quanh. Các chủ nhân của tôi không có thái độ nào khác ngoài thái độ lên mặt dạy đời, luôn miệng chỉ trích. Kể cả có ai sống như họ, cũng suy nghĩ, cảm nhận giống họ thì rồi họ vẫn chỉ trích người ấy như thường. Bản chất của họ là vậy.

Tôi lập đủ mọi mưu mẹo để đọc sách. Bà già xé sách của tôi mất mấy lần. Và bỗng nhiên tôi nợ gã chủ hiệu một món tiền kếch xù là bốn mươi bảy kopek… Gã đòi tiền và dọa rằng khi tôi đến cửa hiệu mua hàng gã sẽ lấy tiền của nhà chủ để trừ vào món nợ.

- Lúc đó mày sẽ thế nào? – Gã vừa giễu cợt vừa hỏi.

Tôi ghét gã vô ngần. Có lẽ gã cũng cảm thấy điều đó và dùng đủ lời dọa dẫm để hành hạ tôi với sự khoái trá đặc biệt. Khi tôi vào hiệu, khuôn mặt lốm đốm của gã phình to, gã ngọt ngào hỏi:

- Chú mang tiền nợ đến đấy chứ?

- Không.

Câu trả lời đó làm gã khá hoảng, gã cau mặt, nhíu lông mày lại.

- Thế nào? Không lẽ tao lại đưa mày ra tòa à? Để cho người ta tống vào trại nhé?

Tôi không biết lấy tiền ở đâu ra bây giờ. Tiền công của tôi người ta đã trả cho ông ngoại rồi. Tôi bối rối không biết nên xử trí thế nào. Gã chủ hiệu trả lời đề nghị xin khất nợ của tôi bằng cách chìa bàn tay to mập đầy dầu mỡ như cái bánh bột rán ra và nói:

- Mày hôn đi, tao sẽ cho khất.

Khi tôi túm lấy quả cân trên quầy hàng, vung lên định đánh gã thì gã ngồi thụp xuống, quát:

- Ấy, mày làm gì thế, mày làm gì thế, tao nói đùa đấy mà!

Hiểu rằng gã không nói đùa, tôi quyết định ăn cắp tiền để trả nợ cho xong. Sáng sáng, khi tôi chải quần áo cho cậu chủ, tiền trong túi quần cậu kêu xủng xoảng, đôi khi văng ra khỏi túi và lăn trên sàn. Một hôm có đồng rơi xuống khe hở trong chỗ chứa củi dưới cầu thang. Tôi quên nói với cậu, và mãi mấy hôm sau mới chợt nhớ ra khi thấy đồng hai mươi kopek nằm trong đống củi. Lúc tôi trao tiền cho cậu chủ, vợ cậu bảo cậu:

- Đấy anh thấy chưa? Tiền nong khi bỏ vào túi phải đếm chứ!

Nhưng cậu cười với tôi và bảo mợ:

- Anh biết là nó không ăn cắp đâu!

Bây giờ, khi quyết định ăn cắp tiền, tôi lại nhớ đến những lời nói đó, nhớ đến nụ cười tin tưởng của cậu, và tôi cảm thấy mình khó mà ăn cắp được. Đã một vài lần tôi móc mấy đồng trong túi ra đếm, nhưng tôi không thể nào bỏ vào túi mình được. Suốt ba ngày, tôi loay hoay vắt óc nặn trán vì chuyện đó. Tình cờ làm sao, mọi việc bỗng được giải quyết một cách vô cùng nhanh chóng và đơn giản; cậu chủ bỗng nhiên hỏi tôi:

- Mày sao trông ủ rũ thế, Peskov[72]? Ốm à?

Tôi thú thực hết với cậu chủ nguồn cơn. Cậu cau mày.

- Đấy, mày thấy chưa, sách vở làm cho người ta phải như vậy đấy! Chúng chỉ mang lại độc có tai họa…

Cậu cho tôi năm mươi kopek và nghiêm khắc bảo:

- Liệu đấy, đừng có nói cho mợ và bà biết, kẻo lại ầm lên!

Sau đó cậu cười vẻ thân mật và nói thêm:

- Mày cũng là thằng bé kiên gan đấy, đồ quỷ bắt! Không sao, cái đó cũng tốt thôi. Nhưng đừng có đọc truyện nữa. Sang năm tao sẽ đặt mua một loại báo thật hay, lúc bấy giờ tha hồ mà đọc…

Thế là chiều chiều, từ bữa trà đến bữa tối tôi đọc cho nhà chủ nghe những tiểu thuyết của Vashkov, Rokshnin, Rudniskovski và những bài khác trên tờ Nhật báo Moskva[73] để tiêu khiển cho những con người đang chết dần chết mòn vì buồn chán.

Tôi không thích đọc to vì như thế khó hiểu được những điều mình đọc, nhưng các chủ nhân của tôi thì lại nghe rất chăm chú với vẻ say sưa. Họ ngạc nhiên kêu lên trước tội ác của các nhân vật và kiêu hãnh nói với nhau:

- Còn chúng ta thì ơn Chúa, chúng ta sống êm đềm, yên ổn như thế này, chẳng biết gì đến những chuyện xấu xa đó cả!

Họ hay lầm lẫn các sự việc, gán hành động của tên tướng cướp nổi tiếng Churkin cho người đánh xe ngựa Foma Kruchin, lẫn lộn các tên với nhau. Tôi thường phải chỉnh những chỗ sai đó cho họ. Điều đó làm họ rất ngạc nhiên.

- Nó nhớ mới gớm chứ!

Nhật báo Moskva thường đăng thơ của Leonide Grave. Tôi thích những bài thơ ấy và chép vài bài vào vở, nhưng các chủ nhân của tôi lại nói về thi sĩ như sau:

- Lão đã già rồi mà còn làm thơ với thẩn.

- Rượu chè be bét, nửa điên nửa dại, lão có thiết gì đâu.

Tôi thích thơ của Strujkin, của bá tước Memento Mori[74], còn hai người đàn bà, cả già lẫn trẻ, đều khẳng định thơ chỉ là trò hát bội.

- Chỉ có lũ rối và bọn đào kép mới nói bằng thơ thôi.

Những tối mùa đông phải ngồi trước mặt nhà chủ trong căn phòng nhỏ hẹp này đối với tôi thật là nặng nề. Ngoài cửa sổ, trời đêm thanh vắng. Thỉnh thoảng băng giá kêu lách tách. Mọi người ngồi quanh bàn, câm lặng như những con cá bị ướp lạnh. Bão tuyết quất vào mặt kính, thân tường, ù ù trong ống khói, gõ vào nắp lò sưởi. Trong buồng, lũ trẻ khóc váng lên. Tôi chỉ muốn ngồi trong xó tối, co rúm người lại rống lên như chó sói.

Hai người đàn bà ngồi ở cuối bàn, khâu vá hoặc đan tất. Cậu Viktoruska ngồi phía đầu bàn, khom lưng đồ lại bản vẽ một cách miễn cưỡng, thỉnh thoảng lại kêu lên:

- Đừng có rung bàn! Không tài nào sống được, cứ như là chó với mèo ấy!

Cậu chủ ngồi sau cái khung thêu to rộng kê bên cạnh và thêu theo kiểu chữ thập một tấm khăn bàn vải gai. Dưới bàn tay cậu hiện dần ra những con tôm đỏ, cá xanh, bướm vàng và những cái lá thu đỏ hoe. Chính cậu đã vẽ các mẫu thêu và ngồi thêu như thế ba mùa đông rồi. Công việc này khiến cậu chán ngấy. Nhiều lúc, vào buổi trưa, thấy tôi rỗi rãi, cậu bảo:

- Peskov này, ngồi thêu khăn bàn một lúc xem!

Tôi ngồi xuống, cầm cái kim to chọc lên chọc xuống. Tôi thương cậu và luôn muốn hết sức giúp đỡ cậu trong mọi việc. Tôi cảm thấy rằng một ngày nào đó cậu sẽ vứt hết những việc vẽ, thêu, chơi bài đi và bắt đầu làm một việc gì khác thật thú vị, việc mà cậu thường suy nghĩ đến. Đôi khi đang làm cậu bỗng dừng tay và nhìn công trình của mình với cặp mắt ngạc nhiên bất động, tựa như nhìn vật gì xa lạ; tóc xõa xuống trán, xuống má, trông cậu giống thầy dòng tu viện.

- Anh nghĩ về điều gì thế? – Vợ cậu hỏi.

- Chẳng nghĩ gì cả. – Cậu trả lời, lại cúi xuống làm việc.

Tôi ngạc nhiên yên lặng: Sao lại có thể hỏi người ta nghĩ về điều gì nhỉ? Không thể nào trả lời câu hỏi ấy, vì người ta thường nghĩ về đủ thứ một lúc: về tất cả những cái gì đang phơi bày trước mắt, về những điều người ta trông thấy hôm qua, năm trước. Tất cả đều mơ hồ, khó nắm bắt, luôn di chuyển và thay đổi.

Những truyện đăng nhiều kì phía dưới tờ Nhật báo Moskva không đủ để đọc trong buổi tối nữa. Tôi đề nghị đọc thêm các tạp chí xếp dưới gầm giường trong phòng ngủ. Mợ chủ nói, giọng thiếu tin tưởng:

- Đấy có gì đâu mà đọc? Rặt những tranh ảnh…

Nhưng dưới gầm giường, ngoài những tập Bình luận về hội họa còn có tạp chí Tia lửa nhỏ[75]. Tôi bèn đọc truyện Công tước Tyatin Baltiski của Salias[76]. Cậu chủ rất thích nhân vật ngây ngô trong truyện. Cậu cười hô hố, cười đến chảy cả nước mắt trước những rủi ro đáng buồn của nhân vật:

- Chà, thật là tuyệt!

- Chuyện bịa cả, có ra cái gì đâu! – Mợ chủ nói, cố tỏ ra mình cũng có nhận xét riêng.

Đống sách dưới gầm giường giúp tôi rất nhiều việc: Tôi đã được phép mang tạp chí xuống bếp, nhờ đó mà có thể đọc sách ban đêm.

Cũng may cho tôi là bà già lại vào ngủ trong phòng trẻ và mụ vú thường uống rượu say bí tỉ. Cậu Viktoruska cũng không cản trở gì tôi. Khi mọi người trong nhà ngủ rồi, cậu lén dậy mặc quần áo và biến mất, đến sáng mới về. Nhà chủ mang hết nến vào phòng, không để cho tôi đèn đóm gì cả. Tôi không có tiền mua nến. Tôi bèn lén cạo mỡ ở các chân nến, bỏ vào một vỏ hộp cá trích bằng sắt tây rồi rót thêm dầu trong cây đèn để trước tượng thánh vào. Tôi lấy chỉ xe thành bấc, đêm nào cũng đốt một ngọn lửa con tí khói um trên lò sưởi.

Mỗi khi tôi lật một trang của tập tạp chí to nặng, đốm lửa đỏ trên sợi bấc lại rung rinh, run rẩy dọa tắt. Sợi bấc mỗi lúc một ngập sâu vào lớp mỡ hôi rích, khói cay sè cả mắt. Nhưng tất cả những điều bất tiện đó tan biến hết khi tôi say sưa xem tranh và đọc những lời chú thích.

Những bức tranh đã mở ra trước mắt tôi đất đai ngày một rộng mãi, tô điểm chúng bằng những thành phố thần tiên, cho tôi thấy nào núi cao, nào bờ biển đẹp. Cuộc sống phong phú thêm một cách kì diệu. Mặt đất đầy sức khêu gợi, quyến rũ, người đông đúc hơn, thành phố cũng nhiều hơn, cảnh vật muôn hình muôn vẻ. Bây giờ, mỗi khi phóng tầm mắt sang bên kia sông Volga, tôi biết rằng ở đấy không phải là không gian trống rỗng. Trước kia, nhiều lần tôi nhìn sang bên kia sông Volga và thấy trong lòng dâng lên nỗi buồn chán lạ lùng: Những cánh đồng bằng phẳng xen lẫn các bụi cây đen sì sì như những mụn vá; cuối các đồng cỏ là dãy rừng như bức tường đen nhấp nhô; phía trên các đồng cỏ, bầu trời xanh nhờ, vẩn đục, lạnh lẽo. Trái đất thật hoang vắng, cô độc. Tâm hồn tôi cũng trống rỗng theo, một mối buồn man mác xâm chiếm trái tim. Mọi ước vọng như tiêu tan cả, tôi chỉ muốn nhắm mắt lại và không nghĩ ngợi gì nữa. Khoảng không gian trống rỗng buồn bã đó chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp, nó khiến trái tim thành ra trơ trọi, trống rỗng.

Những lời chú thích dưới các bức tranh kể rất rõ ràng về những xứ sở khác, những con người khác, những sự kiện khác trong cả thời trước và thời nay. Có nhiều điều tôi không sao hiểu được, khiến tôi trầy trật khổ sở. Đôi lúc, những chữ kì quái xuyên vào óc tôi: “siêu hình học”, “chiliasm”[77], “chartist”[78]. Chúng quấy rầy tôi, không cho tôi yên ổn phút nào, mỗi ngày chúng nảy nở khủng khiếp, luôn hiện ra mờ mờ ảo ảo. Tôi thấy, nếu không khám phá ra được ý nghĩa của những chữ đó, tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu được điều gì, những chữ đó đứng chặn ở ngưỡng cửa của tất cả những điều huyền bí, tựa như những bác gác cổng. Nhiều khi, có những câu hỏi đọng mãi trong óc tôi như cái dằm nằm trong ngón tay, ngăn cản tôi nghĩ đến những điều khác.

Còn nhớ, có một lần, tôi đọc được những câu thơ lạ lùng như sau:

Như ngôi mộ, âm thầm câm lặng,

Attilla[79] – vua của Hung Nô,

Nịt giáp sắt đi trên đường vắng

Theo sau ông là một đoàn quân,

Đi như một đám mây đen và la hét:

La Mã đâu? Đâu La Mã hùng cường?

La Mã là một thành phố, điều đó tôi đã biết, thế nhưng Hung Nô là ai? Nhất thiết phải hỏi cho ra mới được.

Lựa được giây phút thuận lợi, tôi hỏi cậu chủ.

- Hung Nô à? – Cậu ngạc nhiên nhắc lại. – Có quỷ biết được nó là cái gì! Chắc là chữ nhảm nhí gì đấy…

Và cậu lắc đầu khiển trách tôi:

- Đầu óc mày chỉ chứa rặt những trò vớ vẩn, không tốt lành gì đâu, Peskov ạ!

Tốt hay xấu cũng chẳng sao, tôi cần biết cái đã. Tôi nghĩ linh mục Soloviev của trung đoàn hẳn phải biết Hung Nô là gì, nên khi gặp ông ta ngoài sân, tôi hỏi ngay.

Linh mục người xanh xao ốm yếu và luôn luôn cáu kỉnh. Mắt đỏ ngầu, không có lông mày, râu cằm vàng hoe, cha vừa nói với tôi vừa chọc cây gậy đen xuống đất.

- Nhưng mày cần biết để làm gì, hả?

Trung úy Nesterov thì trả lời câu hỏi của tôi bằng một vẻ hung dữ:

- Cái gì…ì?

Tôi quyết định vào hiệu thuốc hỏi ông dược sĩ xem Hung Nô là gì. Ông ta vẫn thường nhìn tôi với vẻ dịu dàng. Khuôn mặt ông trông rất thông minh. Ông đeo gọng kính vàng trên chiếc mũi to thật là to.

- Hung Nô là một dân tộc du mục, tựa như người Khirgiz ấy! – Dược sĩ Pavel Goldberg bảo tôi. – Dân tộc đó bây giờ không còn tồn tại nữa đâu, họ chết hết rồi.

Tôi đâm ra buồn và nổi cáu – không phải vì dân Hung Nô bị chết mà vì cái chữ đã giày vò tôi khốn khổ suốt một thời gian lâu như vậy lại chỉ mang một nghĩa thật quá đơn giản, chẳng đem lại cho tôi cái gì cả.

Nhưng tôi rất cảm ơn quân Hung Nô, vì sau cuộc đụng độ với họ, những chữ trong sách đã ít quấy rầy tôi hơn, và nhờ có Attila mà tôi làm quen được với dược sĩ Goldberg.

Con người ấy biết cách lí giải thật đơn giản tất cả những chữ thông thái trên đời. Ông có chìa khóa mở mọi kho tàng bí mật. Ông lấy hai ngón tay sửa kính và chăm chú nhìn vào mắt tôi qua mắt kính dày. Giọng ông như những chiếc đinh nhỏ đóng vào trán tôi:

- Chú bạn nhỏ ạ, chữ cũng giống như lá trên cây. Muốn hiểu tại sao lá như thế này mà không thế khác thì cần phải biết cây đã sinh trưởng như thế nào, tức là phải học mới được! Chú em ạ, sách vở như một khu vườn tuyệt diệu, nơi đây có tất cả những điều lí thú và bổ ích…

Tôi hay phải chạy tới hiệu thuốc của ông để mua xút và bột magnesium oxide cho chủ vì họ thường xuyên đầy bụng, hoặc mua thuốc mỡ và thuốc tẩy cho bọn trẻ con. Những lời khuyên bảo vắn tắt của ông dược sĩ khiến tôi ngày càng có thái độ kính trọng sách vở. Dần dần, sách vở trở nên gắn bó với tôi như rượu vodka gắn với kẻ nát rượu.

Sách vở dẫn dắt tôi tới một cuộc sống khác hẳn – đầy tình cảm và mơ ước lớn lao có thể đưa người ta tới sự nghiệp cao cả và cả tội lỗi. Tôi thấy những người quanh tôi không có khả năng làm điều hay hoặc điều dở, họ sống ngoài rìa cuộc sống được nêu lên trong sách, và thật khó mà tìm được trong đời họ một cái gì thú vị. Tôi không muốn sống cuộc sống như vậy… Điều đó tôi đã quyết, tôi không muốn thế.

Qua những lời chú thích dưới các bức tranh ảnh, tôi biết rằng ở Praha, London, Paris… không có các rãnh hào và đường sá bẩn thỉu đầy rác giữa lòng thành phố. Ở đấy phố xá thẳng và rộng, nhà ở, nhà thờ cũng đều khác cả. Ở đấy không có những mùa đông dài hàng nửa năm trời hãm người ta ngồi nhà, không có những tuần chay lớn chỉ được ăn dưa cải chua, nấm muối, bột lúa mạch và khoai với cái món dầu gai đáng ghét.

Trong tuần chay lớn không được đọc sách. Nhà chủ tước mất tập Bình luận về hội họa của tôi, và cái cuộc sống ảo não trống rỗng lại đến kèm sát tôi. Bây giờ tôi đã có thể so sánh cuộc sống của tôi với những cuộc sống mà tôi được biết qua sách vở, tôi thấy nó càng nghèo nàn và quái gở hơn. Khi đọc sách, tôi thấy mình khỏe hơn, mạnh hơn. Tôi làm việc trôi chảy và khéo léo vì có một mục tiêu rõ ràng: Việc càng chóng xong thì càng dư thời gian đọc sách. Bị lấy mất sách, tôi đâm ra uể oải, lười biếng. Tôi bắt đầu đãng trí bất thường, việc mà trước kia chưa từng xảy ra.

Tôi còn nhớ chính trong những ngày trống rỗng đó đã xảy ra một chuyện thật bí ẩn: Một buổi tối, khi mọi người đã đi nằm, chuông nhà thờ bỗng nhiên vang lên. Tiếng chuông làm chấn động tất cả mọi người trong nhà, họ mặc nguyên quần áo ngủ, chạy vội ra hỏi nhau:

- Cháy nhà à? Chuông báo động hay sao?

Nhà nào cũng nghe thấy tiếng người chạy xớn xác, tiếng cửa đập sầm sầm. Một người cầm dây cương dắt một con ngựa chạy qua sân. Bà già la tướng lên là có kẻ cướp đến phá nhà thờ; cậu chủ bảo bà:

- Thôi đủ rồi mẹ ơi, mẹ cũng nghe thấy, đấy có phải chuông báo động đâu!

- Thế thì chắc là đức giáo chủ đã mất rồi…

Cậu Viktoruska tụt từ trên phản xuống, mặc quần áo, lẩm bẩm:

- Tôi biết cả rồi. Tôi biết cái gì đã xảy ra rồi!

Cậu chủ sai tôi lên gác thượng xem có thấy ánh lửa không. Tôi cắm đầu chạy, chui qua ô cửa tò vò và leo lên mái nhà – chẳng thấy có gì là lạ cả. Tiếng chuông thong thả âm vang trong bầu không khí giá buốt tĩnh mịch. Thành phố ngái ngủ thu mình xuống sát mặt đất. Những bóng người vô hình chạy trong bóng tối làm tuyết kêu lạo xạo, tiếng bánh xe trượt tuyết rít lên. Tiếng chuông vẫn cứ rền ngân, báo hiệu tin chẳng lành. Tôi trở lại phòng.

- Không có ánh lửa nào cả!

- Hừ, trời với đất! – Cậu chủ đã khoác áo, đội mũ, vừa nói vừa vén cổ áo lên.

Cậu lưỡng lự xỏ chân vào giày cao su. Mợ chủ nài:

- Anh đừng đi! Thôi, đừng đi nữa, anh ơi…

- Có việc quái gì đâu!

Cậu Viktoruska cũng đã quần áo chỉnh tề, giễu cợt mọi người:

- Tôi biết cả rồi…

Khi hai anh em đã ra phố, hai người đàn bà liền sai tôi đặt ấm samovar, còn họ thì chạy ra ngóng ở cửa sổ. Nhưng gần như ngay lập tức, cậu chủ giật chuông ngoài ngõ. Cậu lặng thinh chạy lên thang, mở cửa phòng ngoài và nói bằng giọng trầm trầm:

- Đức vua bị ám sát rồi![80]

- Thế mà họ cũng giết được à! – Bà già rú lên.

- Họ ám sát đức vua rồi, một sĩ quan đã nói với con như vậy… Bây giờ sẽ ra sao đây?

Cậu Viktoruska cũng quay về. Cậu vừa miễn cưỡng cởi quần áo vừa giận dữ nói:

- Thế mà mình cứ tưởng là chiến tranh xảy ra!

Rồi bốn người cùng ngồi uống trà và chuyện trò một cách thản nhiên nhưng khe khẽ và thận trọng. Ngoài phố, không khí trở lại yên tĩnh, tiếng chuông đã lặng. Suốt hai ngày, họ thì thào với vẻ bí mật, họ đi đâu không biết; khách khứa cũng năng đến chơi với họ và kể tỉ mỉ chuyện gì không rõ. Tôi cố gắng tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra, nhưng nhà chủ đã cất báo đi, không cho tôi đọc. Khi tôi hỏi anh Sidorov vì sao đức vua bị giết, anh thầm thì trả lời:

- Người ta cấm không được nói đến chuyện ấy…

Những sự việc ấy rồi cũng dần mờ nhạt, bị những công việc vặt vãnh hằng ngày khiến cho rơi vào quên lãng. Chẳng bao lâu, tôi lại vấp phải một chuyện thật đáng buồn.

Một hôm Chủ nhật, khi nhà chủ đi lễ, tôi đặt ấm samovar nấu nước. Đang dọn dẹp trong phòng thì đứa con lớn của cậu tôi lẻn vào bếp, tháo khóa vòi ấm samovar và chui xuống gầm bàn ngồi nghịch khóa. Rất nhiều than chất trong cái ống ở giữa ấm samovar nên khi nước chảy ra ngoài hết, cái ấm bị nung long cả mối hàn. Ngay từ lúc còn ở trong phòng, tôi đã nghe thấy tiếng ấm samovar rít lên dữ dội khác thường. Khi vào bếp, tôi hoảng hốt trông thấy cái ấm đã xanh lè, lắc lư tựa như muốn nhảy khỏi sàn. Vòi ấm bị long mối hàn, trễ xuống một cách thiểu não, nắp ấm trật nghiêng sang một bên, những giọt thiếc chảy ra ở chỗ quai ấm. Ấm samovar xanh tím tựa như một anh chàng uống rượu say mèm. Tôi lấy nước giội vào ấm. Nó kêu xèo xèo và lăn kềnh xuống sàn một cách đáng buồn.

Ngoài cổng chính có tiếng chuông. Tôi ra mở cửa, và khi bà già hỏi tôi đã đun xong nước pha trà chưa, tôi trả lời cụt lủn:

- Xong rồi!

Có lẽ vì lúng túng và sợ hãi mà tôi nói như vậy, nhưng bà già lại cho là tôi giễu cợt bà, vì thế tội tôi càng nặng thêm. Tôi bị một trận đòn nên thân. Bà già cầm một nắm đóm gỗ thông vụt tôi. Tuy bà đánh không đau lắm nhưng vô số dằm cắm sâu vào da lưng tôi. Đến chiều thì lưng tôi sưng vù lên như một cái gối. Trưa hôm sau cậu chủ phải chở tôi đến nhà thương.

Ông bác sĩ người cao lênh khênh và gầy gò trông đến buồn cười. Sau khi khám cho tôi xong, ông điềm tĩnh nói bằng giọng trầm ồ ồ:

- Cần phải lập biên bản về việc hành hạ thằng bé đã!

Cậu chủ đỏ bừng mặt. Cậu di di hai bàn chân và lí nhí gì đấy với ông bác sĩ. Ông này nhìn qua cái đầu của cậu và trả lời cộc lốc:

- Tôi chịu thôi. Không được đâu.

Rồi ông hỏi tôi:

- Em có khiếu nại không?

Tôi đau khắp người, nhưng tôi nói:

- Cháu không muốn. Bác chữa nhanh cho cháu…

Người ta đưa tôi sang một phòng khác và đặt tôi lên bàn.

Ông bác sĩ rút những cái dằm bằng một cái cặp nhỏ và lạnh rất dễ chịu, rồi ông pha trò:

- Họ trang điểm cho chú một bộ da cứng thật tuyệt đấy chứ, chú em? Bây giờ chú đã trở thành xương đồng da sắt rồi đấy…

Cái cặp của ông khiến tôi nhột không chịu được. Khi nhổ hết dằm, ông nói:

- Bốn mươi hai chiếc dằm đã được lôi ra rồi đấy chú em ạ! Nhớ lấy để mà còn khoe! Ngày mai, cũng vào giờ này, em đến đây để thay băng. Họ hay đánh em lắm à?

Tôi nghĩ một lúc và nói:

- Trước kia cháu bị đánh nhiều hơn…

Ông bác sĩ cười ồ ồ:

- Mọi việc mỗi ngày một tốt hơn, chú em ạ! Việc nào cũng vậy!

Khi dẫn tôi đến với cậu chủ, ông nói với cậu:

- Xin trao trả cho ngài, em bé đã được chữa xong rồi. Ngày mai cho em đến, chúng tôi sẽ băng lại. Cũng may cho ngài chú bé này là một tay bông lơn tốt bụng…

Lúc ngồi trên xe ngựa, cậu chủ bảo tôi:

- Trước kia cậu cũng bị đánh, Peskov ạ! Biết làm sao được? Cậu vẫn bị đánh luôn, cháu ạ. Đối với cháu, dù sao cũng còn có cậu thương, chứ cậu thì có ai thương đâu, chẳng có ai thương cậu cả! Trên thế gian này có bao nhiêu là người, thế mà chẳng có đứa nào biết thương mình cả. Chao ôi, thật là lũ quỷ…

Cậu chửi rủa suốt dọc đường. Tôi thấy thương cậu và cũng cảm ơn cậu vì cậu đã nói chuyện với tôi như với một con người thật sự.

Ở nhà, mọi người đón tiếp tôi như trong ngày sinh nhật. Lũ đàn bà bắt tôi kể tỉ mỉ chuyện ông bác sĩ chữa cho tôi, hỏi xem ông ta nói những gì. Họ vừa nghe vừa xuýt xoa, lúc thì khoái chí chậc lưỡi, khi thì nhăn mặt. Sự chăm chú nhiệt thành của họ đối với bệnh tật và khổ đau bất hạnh khiến tôi sửng sốt.

Họ hài lòng khi biết tôi từ chối không làm đơn khiếu nại. Lợi dụng điều đó, tôi xin phép được mượn sách của chị vợ anh thợ cắt. Họ không dám từ chối tôi. Chỉ có bà già kinh ngạc thốt lên:

- Mày thật là thằng quỷ sứ!

Sau đó một ngày, tôi tót đến nhà chị vợ anh thợ cắt. Tôi đứng trước mặt chị, chị âu yếm bảo tôi:

- Thế mà người ta nói với chị rằng em ốm, phải chở đến nhà thương. Em có thấy thiên hạ hay nói dối không?

Tôi nín thinh. Nói cho chị biết sự thật thì xấu hổ quá. Kể cho chị những điều thô bỉ và đáng buồn ấy để làm gì? Tôi rất sung sướng thấy chị không giống những kẻ khác chút nào.

Tôi lại tiếp tục đọc các tập sách dày của Dumas Cha, Ponson de Terraille, Montepaine, Zaccone, Gaboriau, Aymard, Boisgobey[81]. Tôi đọc ngấu nghiến hết quyển này đến quyển khác, thấy lòng phơi phới. Tôi thấy mình là thành viên của một cuộc sống lạ kì, khiến tâm hồn tôi xúc động nhẹ nhàng và gây thêm cho tôi niềm hưng phấn. Cây đèn tôi tự chế lại ám đầy muội khói. Tôi thường đọc suốt đêm đến sáng. Mắt tôi dần dần sưng húp. Bà già nhắc khéo:

- Cứ chờ ít lâu nữa mà xem, con mọt sách ạ. Rồi mày sẽ nổ con ngươi mà mù mất thôi!

Nhưng chẳng bao lâu tôi đã hiểu rằng trong tất cả những quyển sách rắc rối một cách thú vị đó, mặc dầu có những sự kiện phong phú khác nhau, những đất nước, những thành phố khác nhau, tất cả đều chỉ quy tụ vào một điểm: Những kẻ xấu thường may mắn và khôn ngoan hơn người tốt, nhưng cuối cùng thì một điều bí ẩn nào đấy sẽ đánh bại lũ người xấu, còn người tốt nhất định giành được phần thắng. Cái “tình yêu” mà đàn ông và đàn bà nói đến bằng cùng một giọng điệu khiến tôi chán ngấy. Cái trò đơn điệu ấy không những chán ngắt mà còn gợi lên trong tôi mối nghi hoặc vớ vẩn.

Đôi khi, ngay từ những trang đầu tôi đã đoán được ai thắng, ai bại, và khi các đầu mối sự kiện quá rõ ràng, tôi cố gắng tìm cách gỡ các mối ấy bằng trí tưởng tượng. Đọc sách xong, tôi ngẫm câu chuyện như nghĩ về một bài toán trong sách giáo khoa số học. Mỗi ngày tôi càng đoán chuẩn hơn chuyện nhân vật nào sẽ được sống vinh hoa phú quý, nhân vật nào sẽ chịu khổ ải đày đọa.

Ngoài chuyện đó, tôi còn thấy được những tia sáng lờ mờ của một sự thật sinh động và đáng kể, thấy được những nét cạnh của một cuộc sống khác, những quan hệ xã giao khác. Tôi nhận ra ở Paris những người đánh xe ngựa, thợ thuyền, binh lính và “đám dân đen” đều không giống ở Nizhny, Kazan, Perm. Họ nói chuyện với các ông chủ một cách mạnh dạn hơn, ứng xử với chủ đơn giản hơn và tự lập hơn. Đấy, cũng là người lính, nhưng anh lính trong truyện không giống ai trong số những người mà tôi biết – chẳng giống anh Sidorov, cũng không giống anh lính miền Viatka trên tàu thủy, lại càng không giống Ermokhin. Anh lính này “lớn” hơn tất cả bọn họ. Trong con người anh có điều gì gần giống bác Smouri, nhưng anh không dữ tợn và cục cằn như bác. Và đây, một người chủ hiệu tốt hơn tất cả những chủ hiệu mà tôi từng biết. Các linh mục trong truyện cũng không giống bao linh mục tôi đã gặp – họ chân thành hơn, đối xử với mọi người một cách đầy thông cảm. Nói chung, cuộc sống ở nước ngoài được nêu lên trong sách thú vị, dễ dàng, tốt đẹp hơn cuộc sống mà tôi biết; ở nước ngoài người ta không đánh nhau thường xuyên và dữ dội như ở đây, không nhạo báng con người một cách đau đớn ê chề như đám đông đã nhạo báng anh lính miền Viatka, không cầu Chúa một cách cuồng tín như bà chủ già thường cầu nguyện.

Trong nhiều truyện, khi nói đến những kẻ tàn ác, những người tham lam, đê tiện, thường không thấy nhắc về tính tàn nhẫn khó hiểu hay khát vọng nhạo báng con người – điều mà tôi rất quen thuộc vì hằng ngày thường quan sát thấy. Những kẻ ác trong truyện đều tàn nhẫn một cách có ý thức, hầu như lúc nào cũng có thể hiểu được vì sao mà họ trở nên như vậy. Còn ngoài đời thật, tôi nhìn thấy người ta tàn nhẫn một cách vô ý thức, vô bằng cớ, tàn nhẫn chỉ cốt để tiêu khiển mà không chờ đợi ở đấy một lợi ích gì.

Mỗi quyển sách mới lại giúp tôi nhận rõ hơn sự khác biệt giữa cuộc sống của người Nga và đời sống người dân nước khác, gợi lên trong lòng tôi nỗi bất bình mơ hồ, khiến tôi thêm ngờ vực những “sự thật” mà tôi đọc được trên những trang giấy vàng úa, mép lem luốc kia.

Nhưng bỗng một hôm tôi kiếm được cuốn tiểu thuyết Anh em nhà Zemganno của Goncourt[82]. Tôi đọc xong trong một đêm, sửng sốt với những trải nghiệm mới mẻ, bèn đọc câu chuyện đơn giản và buồn thảm ấy một lần nữa. cốt truyện không có gì rắc rối, thoạt tiên chẳng hấp dẫn tí nào; từ những trang đầu, câu chuyện có vẻ nghiêm trang và khô khan như cuộc đời các vị thánh. Thoạt đầu, lối hành văn chính xác, không tô vẽ thêm thắt khiến tôi ngạc nhiên một cách khó chịu, nhưng rồi câu chữ hàm súc, chặt chẽ thấm chặt vào trái tim tôi, hùng hồn kể lại tấn bi kịch của hai anh em nghệ sĩ nhào lộn khiến tay tôi run lên vì xúc động. Tôi khóc nức nở khi đọc đến đoạn người nghệ sĩ bất hạnh lê cặp chân gãy leo lên gác thượng, nơi người em trai bí mật luyện tập tiết mục ưa thích của mình.

Khi trả quyển sách tuyệt diệu đó cho chị vợ anh thợ cắt, tôi đề nghị chị cho tôi mượn một quyển như thế nữa.

- Quyển như thế là như thế nào? – Chị mỉm cười.

Nụ cười của chị khiến tôi lúng túng. Tôi không sao cắt nghĩa được cho chị rõ điều mình muốn.

Và chị nói với tôi:

- Quyển ấy chán lắm. Em cứ chờ ít lâu, chị sẽ cho em mượn một quyển khác hay hơn…

Sau ít ngày, chị cho tôi mượn cuốn Câu chuyện có thật về một chú bé lang thang của Greenwood[83]. Tiêu đề sách khiến tôi chạnh lòng, nhưng mới đọc trang đầu tiên, trong tôi ngời lên niềm vui thích. Với niềm vui đó, tôi đọc toàn bộ cuốn sách đến trang cuối cùng, có trang tôi đọc đi đọc lại hai, ba lần.

Thì ra lũ trẻ con ở nước ngoài cũng có những đứa phải sống cực khổ, vất vả biết bao! Như vậy thì cuộc sống của tôi cũng chưa lấy gì làm khổ lắm, có thể không cần buồn nản làm gì!

Nhà văn Greenwood mang lại cho tôi biết bao niềm phấn khởi. Ít lâu sau tôi tìm thêm được một quyển sách thật là “đứng đắn” – quyển Eugénie Grandet[84].

Ông lão Grandet khiến cho tôi liên tưởng ngay tới ông ngoại. Tôi bực mình vì quyển sách mỏng quá, nhưng ngạc nhiên vì thấy trong đó chứa đựng biết bao nhiêu sự thật. Cái sự thật vốn rất quen thuộc với tôi và đã làm tôi phát ngấy được diễn đạt trong cuốn sách với sắc màu hoàn toàn mới mẻ, vô tư và bình thản. Những cuốn sách tôi từng đọc, trừ sách của Goncourt, đều kết tội con người một cách khe khắt và hay “lên gân” hệt như những chủ nhà của tôi vậy. Các cuốn sách đó dễ khiến ta cảm mến những kẻ gây tội ác và bất bình với những con người đức hạnh. Thật đáng tiếc khi lúc nào cũng thấy con người phải hao phí bao nhiêu tâm não và ý chí mà vẫn không sao đạt được điều mình mong muốn – những nhân vật đức hạnh từ trang đầu tới trang cuối cứ đứng im trước bao sóng gió ập đến, tựa những cột đá không gì lay chuyển nổi. Mặc dầu sau cùng mọi âm mưu xấu xa độc ác đều tan tành, những cột đá vẫn không gây được cảm tình nơi người đọc. Một bức tường dù có đẹp và vững chắc chừng nào, một khi mong muốn của mình là hái những trái táo bên kia bức tường thì không nên ngắm nghía mãi vật cản vô tri đó làm gì. Tôi nghĩ, điều quý hơn, sinh động hơn phải là điều nằm ẩn đâu đó phía sau những đức hạnh ấy…

Trong sách của Goncourt, Greenwood, Balzac, ta không gặp những kẻ toàn ác hoặc toàn thiện, các nhân vật sinh động một cách tuyệt diệu, không còn gì để băn khoăn: Những điều họ nói và làm nhất thiết phải như vậy, không thể nào khác.

Nhờ đó mà tôi hiểu được rằng gặp “một quyển sách hay”, “một quyển sách đúng đắn” thật là một niềm vui lớn. Nhưng làm sao để tìm ra được những sách ấy? Ngay cả chị vợ anh thợ cắt cũng không thể giúp tôi.

- Đây là một quyển sách hay.

Chị nói, trao cho tôi cuốn Những bàn tay đầy hoa hồng, vàng và máu của Arsene Huissier[85] cùng tiểu thuyết của Beyle, Paul de Kock, Paul Feval, nhưng tôi đọc những cuốn ấy với sự căng thẳng cao độ.

Chị thích tiểu thuyết của Mariette[86], Vernier[87], nhưng tôi thấy chúng tẻ ngắt. Truyện của Spielhagen tôi cũng không thích, nhưng tôi mê mệt tác phẩm của Auerbach[88], Sue và Hugo[89] không lôi cuốn tôi bằng Walter Scott[90]. Tôi muốn đọc những cuốn sách khiến tôi xúc động và vui sướng như tác phẩm của nhà văn Balzac nổi tiếng. Càng ngày tôi càng bớt thích người phụ nữ đẹp như pho tượng sứ kia.

Khi đến nhà chị, tôi hay mặc sơ mi sạch, đầu tóc chải gọn ghẽ, cố gắng bằng mọi cách làm ra vẻ tề chỉnh. Dù chưa chắc đạt được nguyện ước, tôi vẫn cứ chờ mong chị chú ý đến vẻ chỉnh tề của tôi, sẽ trò chuyện với tôi một cách giản dị hơn, thân mật hơn, bỏ cái nụ cười mỉm nhạt nhẽo trau chuốt trên gương mặt luôn tỏ ra vui vẻ ấy. Nhưng chị cứ vừa mỉm cười vừa hỏi tôi, giọng mệt mỏi và dịu dàng:

- Em đọc xong rồi à? Có thích không?

- Không ạ.

Khẽ nhếch đôi lông mày thanh tú, chị nhìn tôi, thở dài và nói bằng giọng mũi quen thuộc:

- Tại sao thế?

- Em đã đọc về những chuyện ấy rồi.

- Về chuyện gì kia?

- Về tình yêu…

Chị nheo mắt, cười ngọt ngào:

- À, nhưng có sách nào mà không nói đến tình yêu?

Ngồi trên cái ghế bành lớn, đôi chân nhỏ nhắn vung vẩy trong đôi dép da bọc lông thú, khoác áo choàng xanh da trời, chị vừa ngáp vừa gõ gõ mấy ngón tay hồng lên bìa cuốn sách đặt trên đùi.

Tôi muốn hỏi chị: “Sao chị chưa chuyển nhà đi nơi khác? Bọn sĩ quan vẫn cứ viết thư cho chị, cười giễu chị cơ mà…”

Nhưng tôi không đủ can đảm nói với chị điều đó. Tôi ra về, mang theo tập sách dày cộp về “tình yêu” với một mối thất vọng sâu sắc.

Trong khu nhà, người ta bàn tán về chị mỗi ngày một thậm tệ, khả ố, độc ác hơn. Tôi rất bực tức khi nghe thấy những lời bịa đặt bẩn thỉu và hoàn toàn sai sự thực đó. Tôi thương và lo thay cho chị. Nhưng khi tới nhà chị, nhìn cặp mắt nhỏ nhắn tinh anh, tấm thân nhỏ bé mềm mại như mèo con và khuôn mặt luôn luôn tươi vui của chị, lòng thương hại và lo sợ của tôi tan biến như mây khói.

Sang mùa xuân, chị bỗng bỏ đi đâu mất. Sau đó vài ngày chồng chị cũng rời chỗ ở.

Khi căn phòng được dọn trống để chờ khách thuê mới, tôi ghé tới ngắm những bức tường chơ vơ các ô vuông – nơi trước kia treo tranh – mấy cái đinh cong queo và những lỗ đinh đóng nham nhở. Mặt sàn đánh xi vương vãi mấy miếng vải màu, giấy vụn, những hộp thuốc rách, vài lọ nước hoa, một chiếc đinh ghim đồng to, óng ánh.

Lòng buồn rười rượi, tôi ước gì được gặp chị vợ nhỏ bé của anh thợ cắt một lần nữa để nói với chị rằng tôi rất biết ơn chị…

Chú thích:

1)    Một dân tộc nằm trong Liên bang Cộng hòa Nga.

2)    Những quyển sách nêu trên là những loại sách phóng tác dựa theo truyện hiệp sĩ thời cổ.

3)    Những người xạ thủ, Youri Miloslavski và Người thầy tu bí mật cũng là những truyện phóng tác dựa theo các tiểu thuyết lịch sử.

4)    Nguyên văn: Một vershok (đơn vị đo lường cũ của nước Nga, bằng 4,4 cm).

5)    Họ của Aleksej.

6)    Một tờ báo lá cải có khuynh hướng phản động.

7)    Leonide Grave, Strujkin và bá tước Memento Mori là các nhà thơ cuối thế kỉ XIX.

8)    Thời bấy giờ tạp chí này cũng cùng một tính chất như tờ Niva.

9)    Nhà văn Nga thế kỉ XIX, tác giả của những tiểu thuyết lịch sử có khuynh hướng phản động.

10)    Một học thuyết tôn giáo.

11)    Người theo chủ nghĩa cải lương hiến pháp.

12)    Lãnh tụ của Hung Nô, thế kỉ thứ V sau Công nguyên, quân Hung Nô đã tàn phá miền Đông đế quốc La Mã và miền Bắc nước Ý.

13)    Vua Alexander II bị những người dân túy ám sát vào ngày 1 tháng 3 năm 1881.

14)    Các nhà văn Pháp.

15)    Nhà văn Pháp.

16)    Nữ văn sĩ Mĩ thế kỉ XIX.

17)    Của văn hào Pháp Honoré de Balzac (1799 – 1850).

18)    Nhà văn Pháp.

19)    Nhà văn Anh.

20)    Nhà văn Đức.

21)    Nhà văn Pháp.

22)    Đại văn hào Pháp (1802 – 1885).

23)    Nhà văn Anh (1771 – 1832)

« Lùi
Tiến »