Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6378 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ NHẤT
lánh triều đình, lưu dẫn mở cõi, hùm tinh báo oán? tiểu nhi mắc nạn.

LỜI NGUYỀN BÁO OÁN

Thuở ấy, Bến Tre vẫn còn hoang vắng lắm, xuôi về miệt Tân Hưng còn nhiều rừng rậm hoang vu. Đi cả ngày đàng chỉ thấy toàn là cây cao bóng cả, lễnh nghễnh hùm beo, loi ngoi rắn rít, dây leo chi chít, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh tựa bánh canh. Thôn ấp mới lập chưa được bao lâu, dân cư còn thưa thớt, miếu đình chưa có. Dân chúng đa phần là lưu dân, khai khẩn đất hoang, quy dân lập ấp, kẻ phá sơn lâm, người đâm Hà Bá. Lúc nông nhàn thì lên rừng đốn củi, lấy mây, hoặc gác kèo ăn ong, làm dân phong ngạn.

Hồi đó, hồi mà đất rộng người thưa, thì giữa người và thú dữ dường như có ký kết với nhau một hiệp ước bất thành văn: cọp và người chung sống hòa bình với nhau, ai có phần nấy, mạnh ai nấy sống, không ai xâm phạm lãnh địa của ai. Thảng có người chán sống, vi phạm hiệp ước, ban đêm dám lên rừng một mình, bị cọp móc họng chết tươi. Hoặc một sớm nọ, có ông Ba mươi cao hứng thả rều xuống xóm dạo chơi. Mải ham vui, lạc lối, quên cả đường về, báo hại bà con chạy tứ tán. Sau phen hú vía, lập tức tụ lại, tổ chức vây bắt, nhử cọp vào trong khại rồi lấy xà no đâm chết, xẻ thịt chia phần, bộ da đem ra đổi rượu, no say được đâu mấy bữa. Ăn hết thịt cọp chớ cũng không quên ngắt lấy cái gáo cọp để dành, trịnh trọng thờ trong cái miễu nhỏ, đặt tên là Miễu Ông[1] bốn mùa khói nhang nghi ngút. Nhưng đó là chuyện xưa, hãn hữu, nếu đêm hôm tăm tối mà không lên rừng một mình, thì lo chi cọp vật.

❖ 

 

Bước chân người đi mở cõi tiến dần về phương Nam, làn sóng di dân đổ xô về đây ngày một thêm đông. Đất cũ đãi người mới, đầu tiên là lớp di dân Đàng Ngoài, rồi tới đám lưu dân Ngũ Quảng[2]. Họ trốn ách lao dịch, nạn cường hào ác bá, sưu cao thuế nặng, bắt xâu bắt lính; rời bỏ quê hương, đùm túm dắt vợ cõng con, đeo ghe bầu nhóc như sung, chạy tuốt một lèo vô đây, phá rừng làm rẫy.

Đất chờ người, người trước rước người sau. Từ ngoài cửa biển họ đi lần vô. Đất bồi, đất bãi dọc mé sông lần hồi bị khai phá hết, đất giồng cũng không còn. Túng thế, dân chúng mới xé luôn “hiệp ước đình chiến”, lấn tuốt lên phía thượng nguồn, là chốn giang sơn “riêng một góc trời” của giống hùm thiêng. Càng ngày loài cọp càng phải co cụm vào tận chốn rừng sâu.

“Những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, trên ghềnh suối vắng, cọp đực, cọp cái dẫn theo lủ khủ cọp mén, cọp con, đứng lặng ngắm giang san mình đổi mới.

Trong thế hệ khai cơ lập nghiệp này, có một số nhóm di dân quan trọng, đã ảnh hưởng không ít đến bản lai diện mục của văn hóa miệt vườn sau nầy. Các nhóm người nầy đa số tinh thông Hán học, võ nghệ siêu quần. Nhóm đầu gồm một số hoàng tộc, tướng lãnh nhà Tây Sơn lưu vong, trốn được về đây, mai danh ẩn tích, đổi họ thay tên. Trong hành trang chạy giặc, họ cắc củm bọc theo con gà đá, đúc từ giống gà chiến Tây Sơn. Họ lại tinh thông “Hùng kê quyền”[3], là môn quyền thuật độc đáo của Tây Sơn tam kiệt, đòn thế mô phỏng theo những động tác của đôi gà trống chọi nhau. Nói vậy cũng đủ hiểu là họ ham đá gà như thế nào. Sống yên ổn đâu được chừng một thời gian thì máu ghiền rọ rạy, cái chưn tự nhiên bẻ lái, ôm gà lảng vảng ra mấy chỗ trường gà. Gia Long quá hiểu, đã bỏ tiền ra mở trường gà để nhử, thì dại gì mà không tung thám tử ra rình chớ. Mấy lần cất vó, trúng chóc, khỏi chối mất công.

Nhóm thứ hai chạy dạt về sau cuộc binh biến Phiên An thành ít lâu nên bị người ta nghi là dư đảng của giặc Ngụy Khôi[4] - bởi nghe tiếng nói thì rổn rảng như dân miền Đông chớ không trọ trẹ như dân Ngũ Quảng. Nhóm nầy đá gà còn bợm hơn nhóm trước nữa, (Tả quân Lê Văn Duyệt thuở sinh thời vốn rất mê chơi gà chọi). Nhưng vì cái gương của nhóm trước còn đó sờ sờ nên chẳng có ai dám ló một ngón cẳng út ra tới chốn trường gà. Sợ người thổi lông tìm vết nên họ khôn ngoan thay tên đổi họ, bỏ phéng cái họ Lê Văn đi, sửa ngay thành họ Lê Quang, sống chen chúc, lẫn lộn với dân địa phương, hy vọng một ngày kia sẽ lần hồi biến thành dân bản địa.

Một sớm, đất Tân Hưng thượng ngỡ ngàng đón thêm một đám lưu dân mới tới nữa; khoảng đâu chừng hơn chục gia đình lôi thôi, lếch thếch, đùm túm, dắt díu nhau về. Đám người nầy không biết lưu lạc từ đâu về mà đa phần đều là đờn ông trai tráng hoặc đờn bà con nít khỏe mạnh, hiếm thấy có ông già bà lão. Hình như họ vừa trải qua một cuộc trường chinh gian khổ, mà hoàn cảnh khắc nghiệt đã đào thải hết mấy người bịnh tật. Những người già yếu, chắc đã rớt hết lại dọc đường gió bụi rồi.

Đất hoang, đất tốt dọc theo bờ sông, mé rạch đã có người khẩn trước hết rồi, họ đành phải lấn tuốt lên phía thượng nguồn, là chốn hang ổ của ông ba mươi. Móc lõm một khuỷnh rừng thưa hẹp té, sát mé rừng, hoang vu nê địa đến nỗi trời vừa trịch bóng, đã rền vang tiếng “cà um” vang dội của bầy cọp đói đi kiếm mồi, nghe phát lạnh mình. Trên thẻo đất nhỏ ấy, rừng đằng trước và ngã ba sông ở đằng sau, chùm nhum một khúm nhà sàn cỡ chục nóc gia.

Những người di dân mới nầy, bề ngoài coi bộ hơi “nhuốt”, bộ vó mướt rượt thị thành. Chèo ghe sợ sấu cắn chưn, xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma, thì hỏi còn phá rừng làm rẫy cái nỗi gì. Tình cảnh của họ, thiệt đúng y chang như câu hát mà người lưu dân xưa nay vẫn thường hát:

Tới đây xứ sở lạ lùng,

Con chim kêu cũng sợ,

Con cá vùng cũng kinh!

Nhưng chớ đánh giá con người qua bộ vó bề ngoài! Coi chừng lầm chết à nghen! Ở lâu mới biết, phụ nữ của họ tuy nước da mơn mởn, trắng trẻo dễ coi, mà đảm đang, tháo vát không thua gì đờn ông, còn đờn ông của họ thì đầy mình võ nghệ, một bụng kinh luân, cọp beo gì họ cũng thị như con mèo lớn vậy thôi. Những việc khó khăn, nặng nhọc cần đến kinh nghiệm của dân sơn tràng như săn bắn, lấy dầu rái, đánh gốc, đốt rừng làm rẫy hay đốn củi, ăn ong hả? Chuyện nhỏ! Chỉ cần liếc mắt ngó sơ qua một cái là họ học được liền, mà một khi đã bắt tay vô làm rồi thì họ “mánh lới” còn hơn thổ địa.

Hỏi họ ở miệt nào về thì họ giả lơ không nói. Thấy họ mới xuống đây lập xóm, nên dân cố cựu ở đây mới đặt tên cho họ là dân xóm mới. Sáng ra, người dân xóm mới lên rừng, ra ruộng, chạng vạng tối mới về, đám con nít thì đóng cửa nhốt ở trong nhà. Nhà cất sát mé rừng, cây cối bạt ngàn, mạnh ai nấy chặt nấy đốn, nên nhà nào nhà nấy cũng đều là nhà sàn cao cẳng, cửa nẻo chắc chắn. Hàng rào bên ngoài được gia cố bằng thân tre đực chắc nịch, búng ngón tay nghe cum cum, ba ông Tượng dựa vô chưa chắc đã lung lay.

❃ 

Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá. Vừa mới chưn ướt chưn ráo đến đây sanh cơ lập nghiệp chưa đặng bao lâu, ngồi chưa yên ổn, ở chưa vững vàng thì một tai họa khủng khiếp bỗng thình lình giáng xuống đầu đám lưu dân tội nghiệp đó. Đã có bà mẹ trẻ lúc trở về nhà, kinh hoàng đến phát điên khi thấy đứa con yêu dấu chỉ còn là một vũng máu đào lênh láng. Trên mảnh sân nhỏ, dấu chân cọp giày xéo tan hoang, dấu nào dấu nấy bự bằng cái đít tộ.

Không hề có dấu xô cửa phá rào, bởi hàng rào xung quanh thì chắc thấy sợ, cao thấy ớn, đến như con cháu ông Tề kia mà chuyên muốn hụt hơi té xỉu thì nói gì đến chúa sơn lâm. Dẫu có thèm thịt tươi đến mấy đi nữa, cũng chẳng mong chi mà phóng qua cho đặng. Các đứa trẻ hình như bị thôi miên, trong cơn mụ mị, đã tự ý giở rào, mở cửa, thỉnh cọp vào nhà.

Cọp bắt tới đứa con nít thứ ba thì tin đồn đã râm ran khắp các xóm làng. Từ xóm mới, tin đồn đó loang đi rất lẹ, tới mấy ấp trong rẫy, trong giồng, trong cả ba làng, rồi dội ngược ra cả tổng, cả huyện. Cuối cùng thì tràn lan... bắp rang tới bến xe, bến đò, chợ búa, quán xá, đi tới đâu cũng nghe mọi người xôn xao bàn tán.

Những người mê tín, dị đoan đã bắt đầu nói đến lũ ma trành, chuyên môn dụ dỗ, dẫn dắt người đến nộp mạng cho cọp, hòng có người thế chỗ, để cho chúng được đi đầu thai kiếp khác.

Mắc cái giống gì mà quanh đi, quẩn lại, nó chỉ ham bắt mấy đứa con nít của những người di dân xóm mới nầy mà thôi. Còn đối với đám dân cố cựu, sinh đẻ tại địa phương - thì một con gà, con heo cũng không hề mất. Không ai có thể giải thích được tại sao.

Những đêm hiếm hoi, quây quần bên ánh đèn dầu, không ít người phóng đại khả năng thôi miên của chúa sơn lâm. Cũng như mèo vờn chuột, nó mà dòm chiếu vô ai đó rồi, thì chưn cẳng người đó tự nhiên quýu lại, ba hồn chín vía bay hết lên trời, mặc tình cho nó cắn cổ tha đi, vô phương chống cự.

Có nhà lo sợ, để người lớn ở lại coi nhà, thì không có chuyện chi xảy ra hết. Nhưng mà được bao lâu hở trời. Nếu cứ sợ sệt, sống quẩn sống quanh trong nhà, thì lấy cái gì mà lủm. Còn ruộng nương, đồng áng, còn rẫy dưa ai tưới, đám bắp ai bẻ, lúa chín rục rã ngoài đồng kia, ai gặt, ai đập cho mình. Ở nhà hoài, không chết vì cọp thì cũng chết nhăn răng ra vì đói. Bởi vậy rốt cuộc rồi cũng vì cuộc mưu sinh mà phải rủ nhau ra đồng, ra rẫy, đóng chặt cửa nẻo lại, nhốt lũ trẻ trong nhà với lời dặn dò - dặn đi dặn lại, dặn tới dặn lui, dặn cả chục lần - là không bao giờ được mở cửa ra - cháy nhà cũng không được mở.

Các loại hầm bẫy đều tỏ ra vô hiệu, tổ chức tráng đinh săn bắt rình rập cũng chẳng ăn thua gì trước con vật xuất quỷ nhập thần đó. Mà nghiệt một nỗi là nó chỉ độc lai, độc vãng giữa ban ngày, ban mặt, thừa lúc người lớn đi vắng, mới lạ cho chớ. Đứa trẻ nào đã nhìn thấy nó rồi thì đều một đi không trở lại, không vuột đứa nào, bởi vậy mà tới giờ phút nầy cũng chẳng ai biết rõ hình thù con quái ghê gớm tới bực nào, mặt mũi tròn méo ra sao.

Theo lời những tay thợ rừng già, nhiều kinh nghiệm, có lẽ nó là một con hùm tinh độc chiếc, sống xa lánh bầy đàn. Già lắm rồi, nên nó đã quên hết mọi thói quen săn mồi ban đêm. Hẳn là nó có một mối thù bất cộng đái thiên với đám dân xóm mới, cho nên nó cứ nhè đám con nít, con cháu của đám lưu dân nầy mà nó rình nó bắt.

Cả tháng nay, đi tới đâu cũng nghe người ta bàn tán rần trời về việc ông hùm tinh bắt con nít để trả thù. Ngoài chợ, có kẻ ác khẩu, nhậu say rồi lớn tiếng phao tin: “Con hùm tinh nầy vốn từ những cánh rừng già mênh mông ở tận miền Đông, miệt Gia Định thành xa xôi kia. Nó đã vượt cả trăm dặm, chạy miết một mạch xuống đến tận đây. Nó cứ đeo như đỉa, bám riết lấy cái đám dấn xóm mới, vì một mối thù truyền kiếp. Nó phải bắt cho đủ chục đứa con nít của đám lưu dân nầy thì mới giải được lời nguyền báo oán năm xưa”.

Lẽ đâu lại là như vậy?

Trong quán chú Cựng đã có mấy ông nhậu say chếnh choáng rồi bàn luận lè nhè:

— Ông bà tiên tổ, đất đai viên trạch của họ ở đâu, sao họ không ở, mắc mớ gì mà họ kéo rốc về đây.

— Cái điệu này, nếu không phải quân cướp đường, cướp chợ, thì chắc cũng là đám dân làm giặc, làm quốc sự chi đây, bị triều đình lục tống, đến nỗi phải bỏ xứ trốn đi, tha phương cầu thực.

— Thì bởi! Theo tui thì ở xứ của họ, họ đã làm cái chuyện chi ác nhơn thất đức lắm, cho nên con cháu mới bị quả báo. Đứa này là đứa thứ ba rồi đó, quá tam ba bận rồi còn gì.

Tin đồn về một lời nguyền báo oán ám vào đám người di dân kia, đã làm cho tình cảnh vốn đã khó khăn của họ lại càng trở nên khốn đốn. Đồ hàng bông của họ trồng, đem xuống chợ, bán rẻ không ai mua, cho không, chẳng ai thèm lấy. Khổ chủ đành phải bỏ của trốn lấy người. Trốn không khéo, mấy chú em tuần xuyên mà bắt được, thì phải tốn thêm tiền mướn xe đẩy, đẩy ra sông mà đổ. Trước khi đi đổ, còn bị phạt, bắt phải chổng mông mà quét cho sạch cái chợ rộng thinh kia nữa chứ.

Rụt rè bước chưn vô tiệm tạp hóa duy nhất trong làng của chú Xổi, họ hỏi mua dầu, đèn, mắm muối. Người Tàu vốn rất vô tư, mạnh ai nấy sống, không hay để ý thài lai đến chuyện của người khác, họ lại coi trọng việc buôn bán, không muốn làm mích lòng ai, kể cả đứa con nít. Vậy mà cái chú Tiều nầy, mặc tình cho họ năn nỉ, thiếu điều gãy lưỡi, khô môi, chú vẫn ung dung ngồi quạt phành phạch, cái nây bụng rung rinh như bụng ông địa. Câu trả lời văng ra cụt ngủn:

— Hà! Cái lầy, hết... dzồi! Ngộ hổng có... pán! Li... chỗ khác choi!

Thậm chí lúc họ tiu nghỉu, vừa quay lưng đi ra, thì từ ở nhà trong, thím Tiều đã ụt ịt phóng ra, tay cầm tờ giấy đốt phong long, liệng ngay dưới chưn họ, thiếu điều phỏng cẳng.

Người dân quê vốn rất hiếu khách, tấm lòng lại rộng rãi như sông, như biển. Nhưng họ cũng rất mê tín dị đoan, nên họ chỉ dám đứng xa xa mà ngó cái đám lưu dân kia bằng những cái nhìn ái ngại. Ngay cả những người gan góc, bặm trợn nhứt, cũng không ai dám dây dưa gì với đám lưu dân xóm mới nầy hết.

 ❊

Nỗi sợ hãi lững lờ bay lượn trên không, như tấm vải liệm khổng lồ của vị ác thần, nặng nề phủ trùm xuống cái xóm nhỏ ven rừng, đèo heo hút gió nẩy. Ẻo lả như một dải khăn xô, nó len lỏi vô từng ngóc ngách, lởn vởn trước mọi ngôi nhà, râm ran trong từng câu chuyện. Đó là loại chuyện đêm khuya, mà tuy sợ nhưng người ta lại thích kể, thích nghe nhứt.

Bầu không khí vốn đã nặng nề, nay lại càng nặng nề ảm đạm hơn vì không ai biết tới chừng nào thì nó bắt đến bầy trẻ nhà mình. Hễ trời vừa sụp tối là nhà nào nhà nấy cửa đóng then gài kín mít, nội bất xuất, ngoại bất nhập, không ai dám ló chưn ra khỏi nhà. Cả năm trời đằng đẵng trôi qua như vậy. Thiệt là trần ai lai khổ.

Cho đến một buổi sáng kia...

Chú thích:

[1] Miễu Ông: thờ ông cọp, đừng lộn với miễu ông thờ ông Quan Công. Ở làng Hưng Lễ thuở đó, có Miễu Ông, thờ ông Hương cả cọp. Làng khuyết chức Hương cả nên phải cử cọp ra làm Hương cả, cốt lấy cái uy của nó để cho các đám cọp khác phải sợ mà bỏ đi nơi khác. Mỗi năm dân làng cúng một cái đầu heo, một tờ cử mới, viết bằng chữ Nho trên tờ giấy hồng đơn, đựng trong cái ống tre. Cọp về lúc nào không ai hay, sáng ra thấy mất đầu heo cùng với tờ cử. Lạ một điều là cọp để lại tờ cử năm ngoái, nét chữ còn mới y sì. (Có tờ cử mới rồi, ai thèm giữ lại tờ cũ mần chi). Phải chăng đây cũng là một hiệp ước ký kết giữa người với cọp?

[2] Ngũ Quảng thuở ấy bao gồm các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Thừa Thiên hồi xưa là dinh Quảng Đức.

[3] Hùng kê quyền: môn quyền thuật độc đáo, nghe đâu là của Đông Định Vương Nguyễn Lữ. 

[4] Giặc Ngụy Khôi: sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt chết, bị triều đình xử tội oan, con nuôi là Lê Văn Khôi không phục nên đánh úp thành Phiên An năm 1833, tự xưng là Bình Nam Đại nguyên soái và chiếm cả sáu tỉnh Nam Kỳ. Triều đình Huế phải kéo hàng vạn quân thủy bộ vào Nam, vất vả lắm mới hạ được thành vào tháng 7 năm Ất Tỵ 1835. Số người bị triều đình bắt giết lên đến 1831 người, đem chôn vào chung một chỗ, gọi là Mả Ngụy, nằm đâu đó lối chợ Vườn Chuối bây giờ. (Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim).

« Lùi
Tiến »