Vì hầu hết các tổ chức nông dân hướng tả đã bị xóa sổ trong quá trình thử thách cách mạng và chống đối phản cách mạng giai đoạn 1945-1953 nên không hề có các phong trào nông dân tự chủ đáng bàn luận ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, sự thiếu vắng này không đồng nghĩa với việc tầng lớp nông dân không giữ vai trò quan trọng trong chính trị. Quan điểm thịnh hành về vai trò của họ là quan điểm về yeo-chon ya-do (nông thôn ủng hộ chính phủ, thành thị ủng hộ phe đối lập). Những người ủng hộ quan điểm này đưa ra bốn ý kiến. Thứ nhất, sau cuộc cải cách ruộng đất vào đầu những năm 1950, nông thôn trở thành nền móng ủng hộ vững chắc cho liên minh cầm quyền kể cả khi liên minh này theo đuổi chiến lược kinh tế đối lập với lợi ích của khu vực nông thôn. Thứ hai, các nông dân làm vậy vì khi gắn bó sâu sắc với văn hóa truyền thống, lớn lên trong tinh thần tuân thủ chính trị và trông chờ vào sự hướng dẫn từ các thủ lĩnh bộ tộc, trưởng làng cũng như quan chức địa phương, họ thiếu đi tinh thần tự chủ cá nhân cùng “năng lực dân sự” và trở nên sẵn sàng chịu sự huy động từ trên xuống trong việc ủng hộ liên minh cầm quyền. Thứ ba, những người có quyền lực trong tay chịu trách nhiệm chỉ huy nhà nước và tổ chức đảng sâu rộng mà thông qua đó truyền đi “củ cà rốt” tưởng thưởng cho những người ủng hộ ở nông thôn và sử dụng “cây gậy” trừng phạt phe chống đối ở nông thôn một cách có chọn lọc với mục tiêu huy động từ trên xuống. Thứ tư, khi đã chắc chắn về sự ủng hộ chính trị của vùng nông thôn, liên minh cầm quyền có thể thay đổi các quy định thương mại thành bất lợi cho nông dân và hướng về các nhà sản xuất ở thành thị nhằm mục tiêu tạo ra siêu tăng trưởng công nghiệp định hướng xuất khẩu.
Chắc hẳn bốn ý kiến về yeo-chon ya-do góp phần vào việc cho thấy vai trò của các nông dân Hàn Quốc như một loại mạng lưới an toàn cho Park Chung Hee (1961-1979). Trong mắt những người ủng hộ quan điểm yeo-chon ya-do, nguồn ủng hộ bầu cử vững chãi từ vùng nông thôn, kể cả khi Park chèn ép tài chính vùng này để có được các nguồn lực phát triển công nghiệp cần thiết, cho phép ông “xử lý” được cuộc đua tranh cử vào những năm 1960 và kiểm soát được khu vực thành thị hay gây tranh cãi chính trị bằng công tác huy động bầu cử từ trên xuống trong những năm 1970, bất kể sự căm ghét của cá nhân ông với các cuộc bầu cử và “sự gắn kết có chọn lọc” của ông với chủ nghĩa độc tài thay vì dân chủ trong chiến lược hiện đại hóa. Quan trọng không kém, từ quan điểm của những người theo thuyết yeo-chon ya-do, sự ủng hộ từ nông thôn góp phần làm giảm đi những khó khăn chính trị của Park trong quá trình hiện đại hóa. Park biết rằng người hưởng lợi chính từ nỗ lực hiện đại hóa - khu vực thành thị “hiện đại” và “năng động”, tách khỏi lối sống truyền thống - sẽ chống đối ông trên nền tảng ý thức hệ. Tuy nhiên, Park vẫn cương quyết với mục tiêu hiện đại hóa vì ông hiểu rằng khu vực nông thôn sẽ giải cứu ông do khu vực này áp đảo số phiếu bầu tuy đang gia tăng nhưng vẫn còn là thiểu số của cư dân thành thị chống đối.
Thực tế về sự ủng hộ vững chắc mà khu vực nông thôn dành cho Park trong thời gian cầm quyền chính trị là điều không cần phải tranh cãi. Vấn đề cần xem xét là động lực, khả năng hỗ trợ chính trị của người nông dân cùng chiến lược chính trị của Park để uốn nắn họ. Có phải người nông dân là tù nhân của tinh thần tuân thủ có trong văn hóa? Có phải các cỗ máy bầu cử địa phương của Park đơn phương kiểm soát và huy động người dân nông thôn mà không hề có bất cứ sự chống đối trực tiếp hoặc gián tiếp nào từ nông dân? Có phải Park chỉ khai thác vùng nông thôn để tạo ra siêu tăng trưởng kinh tế vĩ mô? Bằng cách kết hợp tổng số phiếu bầu quốc gia hoặc phiếu bầu địa phương để lý giải những biến động trong sự ủng hộ của nông thôn dành cho Park theo thời gian và giữa các địa phương, chương 12 cho thấy tính phức tạp của chính trị nông thôn Hàn Quốc mà những người theo thuyết yeo-chon ya-do đã bỏ qua. Đầu tiên, chương này sẽ lập luận rằng chiến lược nông thôn của Park là một yếu tố biến đổi, hướng về lợi ích nông dân trong những năm chính quyền quân sự (1961-1963), rồi đổi sang chiến lược chèn ép nông nghiệp đối lập (1964-1968), và sau đó hướng đến liên minh “lúa mì và thép” [148] theo kiểu Bismarck, tuy đúng thời điểm chính trị nhưng thiếu bền vững về kinh tế, dựa đồng thời trên việc hỗ trợ giá gạo cho nông dân cũng như khuyến khích sự tham gia của các tập đoàn chaebol vào các ngành công nghiệp nặng và hóa chất (1968-1979). Cũng như sự lắt léo trong chính trị nông thôn của ông cho thấy, Park xem người nông dân như những chủ thể lý trí, đánh giá lợi ích và chi phí trong chính sách nông nghiệp của ông và hành động theo những đánh giá đó trong các cuộc bầu cử bằng phiếu bầu của họ. Lá phiếu nông thôn không phải lúc nào cũng ủng hộ Park; chúng phải được nuôi dưỡng bằng những khuyến khích. Do đó, Park cũng phải là một nhà vận động lý trí, thay đổi chiến lược nông thôn khi các vận may chính trị của ông biến động lên xuống và các mục tiêu chính trị trọng yếu của ông thay đổi.
Thứ hai, mặc dù vậy, tính lý trí có một đối thủ - không phải từ văn hóa truyền thống và tinh thần tuân thủ chính trị như thuyết yeo-chon ya-do đưa ra, mà từ cảm tình địa phương chủ nghĩa đầy biến động liên tục tái xác định chủ thể trung thành và đối tượng chống đối trong các cuộc đấu tranh bầu cử. Sức mạnh của chủ nghĩa địa phương cũng là một yếu tố biến đổi, nổi lên nhanh và mạnh nhất ở địa phương có người con thân yêu của mảnh đất đó tranh cử quyền lực và quyền hạn tổng thống. Cử tri Gyeongsang, dù là nông thôn hay thành thị, đều ủng hộ Park trong các cuộc bầu cử tổng thống. Với tinh thần tương tự, Nam Chungcheong một lòng ủng hộ Yun Po-sun của phe đối lập năm 1963 và 1967, và Jeolla ủng hộ Kim Dae-jung năm 1971. Các khu vực nông thôn không có ứng viên tổng thống, như ở Jeolla năm 1967 và Chungcheong năm 1971, sẵn sàng đặt nặng các lợi ích kinh tế hơn trong các tính toán bầu cử. Ngược lại, trong bầu cử Nghị viện Quốc gia, chủ nghĩa bảo trợ [149] trở thành phương tiện trung gian chính trị chủ yếu vì cử tri nông thôn phản ứng ngay tức khắc với các khuyến khích kinh tế. Để ban bố phần thưởng và hình phạt cá nhân, nhà nước phát triển thành một cỗ máy chính trị, với sức mạnh ảnh hưởng đến hầu hết các khía cạnh đời sống hằng ngày ở nông thôn.
“Cuộc trỗi dậy Xanh”, 1961-1963
Khi đã lật đổ chính quyền dân chủ được bầu lên của Chang Myon (1960-1961), Park biết rằng cơ may tồn tại trên chính trường lớn nhất của ông nằm ở khả năng tận dụng những bất mãn của công chúng trước sự vô năng của Chang Myon. Để phân biệt chính mình với Chang Myon, ông tập trung tạo ra tăng trưởng kinh tế và an ninh quốc gia. Trong các năm chính quyền quân sự, Park tin rằng mức sống nông thôn được cải thiện là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, sức mua gia tăng của nông dân sẽ mở rộng sản xuất công nghiệp. Chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu (ELI), thường được xem là dấu ấn trong chương trình phát triển kinh tế của Park, lúc đó chưa có trong “bộ công cụ” của ông.
Bên cạnh niềm tin vào tiềm năng hỗ trợ, nếu không phải là dẫn dắt, quá trình siêu tăng trưởng của khu vực nông thôn, Park cũng tìm kiếm một vùng đệm chính trị ở khu vực này. Yếu ớt về kinh tế, tụt hậu về xã hội và kém tổ chức về chính trị, nông dân Hàn Quốc trở thành mục tiêu hiển nhiên để vận động chính trị, Với một ít “cà rốt”, người nông dân có thể được tranh thủ để trở thành một trụ cột trong trật tự chính trị. Hầu hết nông dân Hàn Quốc đều là những “chủ sở hữu- nông dân” tuy nhỏ nhưng độc lập, phải sống ngang hoặc dưới mức duy trì sự sống. [150] Từ năm 1950, nhà nước cũng tước đoạt phương tiện sinh sống của người nông dân, buộc họ phải bán ngũ cốc dưới giá thị trường nhằm bình ổn giá bán ngũ cốc ở khu vực thành thị. Cuối cùng, nhà nước thậm chí còn thu mua ngũ cốc với giá thấp hơn chi phí sản xuất của nông dân. [151] Tiếp tay cho chính sách này là khoản viện trợ nông nghiệp khổng lồ do Hoa Kỳ cung cấp theo Luật Công 480. Nguồn cung viện trợ ngũ cốc dễ dàng từ Mỹ rõ ràng đã làm mất đi động lực để nhà nước gia tăng sản xuất trong nước thông qua giá ngũ cốc cao hơn. Thay vì các khuyến khích giá cho nông dân, nhà nước phải đảm bảo trữ lượng ngũ cốc bằng cách phụ thuộc vào các kênh hành chính địa phương, bao gồm hợp tác xã nông nghiệp. Việc thu mua được thực hiện chủ yếu như một phần trong hệ thống mua bán gạo-phân bón hoặc như một loại thuế đất nông nghiệp bằng hiện vật.
Các nông dân càng trở thành mục tiêu hấp dẫn hơn để vận động chính trị khi họ chiếm đến 58,3% tổng dân số Hàn Quốc năm 1961. Hơn nữa, không như bối cảnh chính trị thành thị, bị chi phối bởi các chính trị gia và các nhà hoạt động xã hội đối lập - những người cho rằng Cuộc cách mạng Sinh viên ngày 19 tháng 4 năm 1960 của họ đã bị ngăn chặn bởi cuộc đảo chính quân sự của Park, khu vực nông thôn không chỉ thiếu hệ thống tổ chức hàng ngang của riêng mình mà còn bị kiểm soát chặt chẽ bởi bộ máy quan liêu nhà nước, đặc biệt là Bộ Nội vụ (MHA). Khi các lực lượng Cánh tả bị loại bỏ vào cuối Chiến tranh Triều Tiên năm 1953, nhà nước không còn nhấn mạnh vào tầm quan trọng chính trị ở Hiệp hội Nông dân Hàn Quốc (KFA) Cánh hữu mà hầu như đã rơi vào quên lãng sau năm 1955. Với sự thiếu vắng các lực lượng nông thôn tự chủ, Park có thể xây dựng sự ủng hộ của nông thôn qua quá trình vận động chính trị định hướng quan liêu như Samuel P. Huntinton có lần gọi là “Cuộc trỗi dậy Xanh”, trong đó “một bộ phận quý tộc thành thị thu hút hoặc [xây dựng] liên minh với những cử tri nông thôn quan trọng và kéo họ vào chính trị để áp đảo số phiếu bầu của các đảng nhỏ ở thành thị.” Tuy nhiên, ngược với Cuộc trỗi dậy Xanh do đảng phái dẫn dắt của Huntington, quá trình vận động nông dân từ trên xuống trong những năm chính quyền quân sự của Park bắt đầu như một chương trình quan liêu được thúc đẩy bởi quân đội và các bộ ngành nhà nước.
Nhà nước như một cỗ máy chính trị
Các công cụ để vận động người dân nông thôn đều có tác động rất sâu rộng. Quan trọng nhất là MHA, với hệ thống tổ chức kiểm soát, điều tiết và vận động vươn đến mọi cấp độ làng xã. Trong những năm 1960, Cục Hành chính Địa phương của Bộ này kiểm soát hơn 14.000 ủy ban xã (myeon), đơn vị hành chính thấp nhất và nhỏ nhất Hàn Quốc, với quyền hạn quản lý khoảng 36.000 người dân. Ủy ban myeon coi các trưởng làng thuộc biên chế của đơn vị này và chính cơ quan này đã chỉ định họ vào vị trí trưởng làng. [152] Mỗi myeon cũng có một chiseo, hay phòng cảnh sát, trực tiếp thuộc một cục khác, hà khắc hơn, cũng trong MHA, Cục An toàn Công cộng. Do đó MHA có tầm ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh đời sống hằng ngày ở nông thôn, từ việc phát hành giấy chứng sinh và giấy báo tử đến quản lý hành chính giờ giới nghiêm và điều tra tội phạm.
Liên đoàn Hợp tác xã Nông nghiệp Quốc gia (NACF) là một công cụ hùng mạnh khác trong nỗ lực của Park nhằm định hình ưu tiên và hành vi chính trị của người nông dân. Hơn 90% nông dân Hàn Quốc tham gia vào các cơ sở địa phương của NACF. Là một cục được chỉ đạo tập trung chứ không phải là hiệp hội tình nguyện của nông dân, NACF là cánh tay của nhà nước với nhiệm vụ thực thi chính sách kinh tế quốc gia ở cấp địa phương. “Điều duy nhất mang tính hợp tác trong tổ chức này,” S. H. Ban và đồng nghiệp của ông viết, “là sự thật rằng người nông dân phải mua một hoặc nhiều hơn cổ phần trong các hợp tác xã chính của mình” để trở thành thành viên hợp tác xã. Trung tâm quyền lực thật sự là Bộ Tài chính (MoF) và Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp (MAF), đại diện của các bộ này can thiệp vào mọi cấp độ hoạt động của NACF với quyền lực hình thành từ việc kiểm soát nguồn cung tín dụng lãi suất thấp, các kênh marketing ngũ cốc và các đầu vào nông nghiệp quan trọng như phân bón. Vì NACF là nguồn tín dụng, marketing và phân bón duy nhất cho hầu hết nông dân nên các quan chức MoF và MAF chắc chắn có thể tác động đến các quyết định kinh tế của nông dân. Khỏi phải nói, quyền lực của MoF và MAF thông qua NACF trở thành nguồn sức mạnh cho quan chức MHA khi huy động phiếu bầu cho Park và các ứng viên Đảng Cộng hòa Dân chủ (DRP) trong những cuộc bầu cử năm 1963 sau đó.
Park cũng xây dựng một hệ thống bộ máy tuyên truyền chính trị dày đặc ở nông thôn. Trong những năm chính quyền quân sự, ông phát động Phong trào Nhân dân Tái thiết Quốc gia (PMNR) với mục tiêu truyền cho người nông dân tinh thần lao động siêng năng, tiết kiệm, kiên trì và tự lực. Park định hình để PMNR chịu trách nhiệm về các tổ chức xã hội hóa, tuyên truyền chính trị cũ và mới ở cấp làng nhằm định hình nông dân trở thành những thị dân mẫu mực. Những tổ chức này gồm Thanh niên Tái thiết Quốc gia, Phụ nữ Tái thiết Quốc gia và các câu lạc bộ 4-H. Chính quyền quân sự cũng bắt đầu xây dựng hệ thống phát sóng hữu tuyến để hỗ trợ công tác tuyên truyền. Kể cả dân làng ở những vùng xa xôi nhất cũng được tiếp cận loa phát thanh kết nối với “trạm phát sóng hữu tuyến” có trang bị âm-li được tư nhân điều hành nhưng chịu sự kiểm soát chặt của văn phòng myeon. Người ta ước chừng khoảng 400.000 loa phát thanh đã được phân phối và lắp đặt ở các làng xã nông thôn vào những năm chính quyền quân sự. Kể cả tỉnh Gangwon miền núi với dân cư thưa thớt, theo báo cáo, cũng đã được cung cấp 3.000 loa phát thanh ở mỗi huyện. Thông qua mạng lưới phát sóng này, các quan chức MHA địa phương hàng ngày phát những bài hát tuyên truyền, công bố các hướng dẫn chính sách của nhà nước, truyền tải những bài diễn văn cho công chúng của Park đến người trong làng.
Bộ Giáo dục (MoE) cũng đưa trường học vào dự án xã hội hóa chính trị. Mỗi sáng, loa phát thanh ở các trường phát đi các bài ca tuyên truyền như Năm nay là năm lao động. Các hiệu trưởng tham gia vào chương trình “giáo dục lại” có điều phối, tiếp thu các bài tuyên truyền mà hiếm khi che giấu về các chính sách và thành tựu của chính quyền quân sự trong những cuộc họp tất cả các trường hằng tuần.
Như một công cụ bổ sung để tạo lập sự ủng hộ ở khu vực nông thôn, Park công khai tự mô tả mình là “người con của đất”. Trong những mùa trồng và thu hoạch lúa, báo chí đăng những tấm hình Park đang làm việc ở các cánh đồng và uống rượu gạo (makgeolli) với nông dân để tạo dựng hình ảnh thường dân, hay seomin. Điều quan trọng là ông tự xem mình như thường dân. Hình ảnh lâu bền này có tác dụng tiềm tàng mạnh mẽ khi vận động sự ủng hộ của nông thôn dành cho Park. Nhiều lãnh đạo Đảng Dân chủ bị hạ bệ, gồm cả Chủ tịch Yun Po-sun, từng xuất thân từ tầng lớp quý tộc truyền thống, những người này cho rằng quyền lực của họ một phần đến từ nguồn gốc quý tộc và nền tảng học vấn ở nước ngoài. Ngược lại, Park xuất thân từ nền tảng xã hội thấp kém, và ông tự hào về điều đó.
Cà rốt kinh tế
Chiến lược vận động nông thôn của Park Chung Hee còn lâu mới có hiệu quả nếu ông chỉ xây dựng mạng lưới cơ chế kiểm soát dày đặc và hỗ trợ hình ảnh của mình bằng những kỹ thuật tuyên truyền hiện đại. Những cây gậy sẽ có hiệu quả hơn nếu được kết hợp với sức hấp dẫn từ củ cà rốt. Hình ảnh “người con của đất” mà Park cố gắng tạo ra cho chính mình chỉ có thể thu về sự tín nhiệm từ công chúng khi nó được hỗ trợ bởi các khuyến khích. Vị lãnh đạo này của chính quyền quân sự hiểu được tầm quan trọng của cà rốt, và ông tự do sử dụng chúng khi nắm quyền. Park không cần đến nhiều sự nhạy cảm chính trị mới biết cần tập trung vào đâu để có được lòng tin và sự ủng hộ của nông dân. Trong hầu hết các gia đình nông dân, chi tiêu đều lớn hơn thu nhập, dẫn đến tích lũy nợ đến 92% ở các hộ gia đình nông thôn vào tháng 9 năm 1960. Quy mô nợ trung bình của một hộ gia đình nông thôn là 66.932 hwan, gần gấp đôi số tài sản có tính thanh khoản cao. Hầu hết số nợ này phải chịu lãi suất cao, từ 5 đến 10% một tháng. Vì các hộ gia đình nông thôn điển hình không có đủ thu nhập để trả vốn và lãi, nên nợ nông thôn tích lũy lên đến tỷ lệ hàng năm đáng báo động là 19,3% giữa năm 1958 và 1960.
Sau khi trả lãi mỗi khi mùa vụ kết thúc, khoảng một phần ba số hộ gia đình không còn thực phẩm vào mùa xuân và buộc phải vay mượn lại tiền và ngũ cốc từ những tay cho vay nặng lãi, người thân và hàng xóm. Khoảng 10% khác thậm chí còn không có được lựa chọn này, họ phải sống sót bằng cách ăn gốc cỏ và vỏ cây (chogunmokpi). Tình hình càng tồi tệ hơn khi mùa xuân năm 1961 cực kỳ thiếu thốn vì mùa màng thất bát trong mùa thu năm trước. Theo ước tính thận trọng của chính quyền Chang Myon, 342.147 hộ gia đình nông thôn, chiếm đến 14% tổng dân số, chỉ thu hoạch được một nửa sản lượng so với mức trung bình hàng năm. Theo các báo cáo thực địa, ở một số vùng có khoảng hai phần ba số hộ gia đình cạn kiệt thức ăn.
Ngày 25 tháng 5 năm 1961, 9 ngày sau khi lật đổ Chang Myon, Park hứa sẽ giải phóng nông dân khỏi ràng buộc pháp lý về việc phải trả các món nợ lãi suất cao. Đến cuối tháng 10, trong số 79,4 tỷ hwan nợ nông thôn, 48 tỷ hwan được báo cáo cho MAF để xem xét, 26,7 tỷ hwan trong số này được phát hiện là cho vay nặng lãi. Ngược lại, chính quyền quân sự đe dọa thẳng tay trừng trị chaebol với các khoản phạt vì “tích lũy tài sản phi pháp” trong chế độ Lý Thừa Vãn và Chang Myon, đồng thời tăng cường các nỗ lực pháp lý để loại bỏ tình trạng trốn và bất tuân thu thuế của người giàu. Việc trừng trị hoạt động cho vay lãi suất cao ở nông thôn, cùng với đạo luật trợ giá nông nghiệp được thông qua vào tháng 6 năm 1961 cho thấy chủ nghĩa dân túy nơi Park. Chưa bị khuất phục bởi các thực trạng khắc nghiệt của bối cảnh kinh tế Hàn Quốc, Park vào thời điểm đó xem phát triển nông nghiệp là điều kiện tiên quyết để công nghiệp hóa. Không chỉ vậy, công nghiệp hóa sẽ được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ (các SME), tập trung vào thay thế nhập khẩu và huy động vốn từ tiết kiệm trong nước thay vì nợ nước ngoài. Trái ngọt của công nghiệp hóa cần được chia sẻ công bằng, thay vì để mặc theo cơ chế thẩm thấu của thị trường. Ở kế hoạch thay đổi kinh tế năm 1961 này, phát triển nông nghiệp có vai trò quan trọng vì yếu tố này sẽ gia tăng sức mua của cư dân nông thôn, từ đó tạo ra thị trường mở rộng cho hàng hóa sản xuất. Không có ngành nông nghiệp thịnh vượng, Park liên tục tuyên bố, bất kỳ cuộc họp nào về phát triển đất nước chắc chắn sẽ chỉ là “lời hứa rỗng tuếch”.
Tháng 8 năm 1961, chính quyền quân sự sáp nhập Ngân hàng Nông nghiệp với Hiệp hội Hợp tác xã Nông trại vào NACF mới thành lập, kết quả là ngay lập tức biến 17.000 đơn vị hợp tác xã địa phương thành các chi nhánh ngân hàng thật sự. Bên cạnh việc khôi phục các hợp tác xã nông thôn từng không hoạt động bằng cách thúc đẩy họ cung cấp cho nông dân nhiều loại dịch vụ, gồm cung cấp tín dụng, mua, bán hàng hóa thông dụng và giãn nợ, sự sáp nhập này đã cố gắng tăng cường hơn nữa tầm kiểm soát của chính quyền quân sự ở nông thôn. Hai ngày sau, Ủy ban Tài chính và Tiền tệ phân bổ tiền được chia cho nhà nước để thanh toán trước số gạo nhà nước mua cho quý ba năm đó. Hóa đơn tổng cộng trị giá 11,1 tỷ hwan, cao hơn 1,7 tỷ hwan so với kế hoạch ban đầu. Tháng 12 năm 1963, Park ra lệnh cho chính quyền tỉnh chuẩn bị biện pháp xóa bỏ vấn đề thiếu hụt ngũ cốc ở nông thôn vào các tháng mùa xuân đói kém. Tháng tiếp theo, ông cấp các khoản vay hiện vật trị giá nửa triệu seok (1 seok =180 lít) ngũ cốc cho khoản 310.000 hộ gia đình nông thôn cạn kiệt ngũ cốc. MHA quyết tâm tiến hành theo hướng dẫn của Park, thậm chí sa thải chủ tịch ủy ban huyện Buyeo ở tinh Nam Chungcheong vì thất bại của ông này khi “nhiệt tình” điều tra tình trạng thiếu thốn lương thực tháng 2 năm 1962.
Chính quyền quân sự cũng tiến hành các chính sách tái cấu trúc nông nghiệp và phát triển đất canh tác, họ thông qua Luật Cải thiện Đất canh tác năm 1961 và Luật Thúc đẩy Giải phóng Đất một năm sau đó. Tiếp đó là thành lập Hội đồng Cải thiện Cơ cấu Nông nghiệp. Mặc dù dự án này cuối cùng kết thúc trong thất bại, nhưng chính quyền quân sự sau đó vẫn thử nghiệm dự án nông trại tập thể năm 1963. Để hỗ trợ chương trình tái cấu trúc với một cơ cấu khuyến khích cụ thể, Park tăng giá mua gạo của nhà nước lên 46% so với năm trước giữa lúc đang có phong trào ủng hộ mạnh mẽ từ các phương tiện truyền thông đại chúng và nông dân. Tuy nhiên, ngay năm tiếp theo, dưới áp lực từ tình trạng bất ổn giá cả, Ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) hùng mạnh đã liên kết với MoF để giữ giá mua gạo dưới tỷ lệ lạm phát. Việc EPB-MoF đảo ngược chương trình trợ giá ngũ cốc năm 1962 là điềm báo trước cho những sự kiện sắp đến. Năm 1964, Park thay đổi định hướng cơ bản trong chính sách kinh tế vĩ mô của mình, đặt phát triển nông nghiệp ở vị trí thấp hơn trong các ưu tiên quốc gia. Đến lúc này, Park đã đi lắt léo giữa các chương trình phát triển nông nghiệp “dân túy” do chính quyền quân sự sáng tạo ra và các khoản cắt giảm ngân sách do EPB và MoF khuyến nghị. May mắn cho Park, những bước đi lắt léo này không làm thay đổi quan điểm của công chúng về chiến lược kinh tế của ông mà về cơ bản là “ưu tiên nông nghiệp” hay chungnong, theo khẩu hiệu trong những năm chính quyền quân sự. Những ấn tượng hình thành trong giai đoạn đầu Park lãnh đạo khá mạnh mẽ. Khi hình ảnh chống quý tộc, thân thường dân của Park cắm rễ trong tư tưởng quần chúng năm 1961 và 1962, nó bắt đầu có đời sống riêng, tồn tại qua các bước chính sách lắt léo trong tương lai.
Do đó Park vạch ra chiến lược tạo ra Cuộc trỗi dậy Xanh với hai củ cà rốt là giải phóng nợ ở nông thôn và trợ giá ngũ cốc, một cây gậy là lời đe dọa trấn áp và công tác chính trị xây dựng hình ảnh thời hiện đại. Công cụ để truyền đi các củ cà rốt, sử dụng gậy và tạo ra hình ảnh “người con của đất” chính là bộ máy quan liêu nhà nước hùng mạnh của Hàn Quốc, chứ không phải hệ thống đảng phái chính trị nông cạn về mặt ý thức hệ và mỏng manh về mặt tổ chức của đất nước này. Lúc bấy giờ, mạng lưới bảo trợ nào được các đảng phái chính trị sở hữu đều bị chiếm giữ hoàn toàn bởi các chính trị gia LP và DP bị lật đổ. Park càng lệ thuộc vào bộ máy quan liêu nhà nước hơn nữa khi nhóm Thanh niên Thổ do Kim Jong-pil dẫn dắt không thể hoàn thành công tác bí mật tổ chức đảng DRP đến tháng 12 năm 1962. Trước thời điểm này, Park đành phải chọn con đường quan liêu, thay vì chính trị, cho Cuộc trỗi dậy Xanh không chỉ vì ông không ưa thích chính trị mà còn vì ông thiếu hẳn một đảng đứng sau. Câu hỏi ở đây là có hay không, vì sao và như thế nào mà các nông dân Hàn Quốc lại phản hồi với các đề nghị chính trị của Park.
Bầu cử, 1963
Cuộc bầu cử tổng thống được chính quyền quân sự hứa hẹn vào năm 1961 như một cách để “trao trả quyền lực cho dân sự” cuối cùng cũng được tổ chức ngày 15 tháng 10 năm 1963. Dù có 7 ứng viên tham gia vào đường đua, nhưng cuộc thi thật sự chỉ dành cho Park Chung Hee của DRP và Yun Po-sun của Đảng Cầm quyền Dân sự được tập hợp vội vã, ông này từng là tổng thống trong chính quyền Chang Myon. Park thắng cử nhờ chênh lệch rất nhỏ, ông giành được 42,6% số phiếu so với 41,2% của Yun Po-sun.
Park được hưởng lợi thế rõ rệt so với phe đối lập về tổ chức và quỹ tranh cử. Ông sử dụng bộ máy quan liêu nhà nước, gồm cả cảnh sát, để vận động bỏ phiếu rộng khắp. Rất nhiều tổ chức bán nhà nước như NACF và PMNR cũng tích cực tham gia vào chiến dịch tranh cử của ông, họ cho phép DRP tiếp cận sâu xuống các thôn làng để tìm kiếm sự ủng hộ. Dù được gọi là “cuộc bầu cử tự do nhất và công bằng nhất trong lịch sử [Nam] Triều Tiên,” nhưng cuộc bầu cử tổng thống năm 1963 vẫn bị làm vấy bùn bởi những sai phạm. Bằng cách quy định rằng người đứng đầu thôn hoặc khu đô thị do MHA chỉ định không phải là công chức, và từ đó không cần phải tham gia vào các đảng phái chính trị và tiến hành các hoạt động tranh cử, Ủy ban Quản lý Bầu cử Trung ương mở đường cho bộ máy quan liêu nhà nước tổ chức hỗ trợ Park trong cuộc bầu cử mà không vi phạm đạo luật cấm công chức dính líu đến các động thái chính trị. Người đứng đầu thôn và khu đô thị thuộc biên chế công, nhưng được tự do vận động các hộ gia đình ủng hộ vững chắc cho Park.
Các số báo Chosun Ilbo tháng 9 và tháng 10 thông báo về các sai phạm hàng ngày. Một số trưởng thôn buộc nông dân phải ứng tuyển thành viên DRP với lời đe dọa sẽ cắt luôn khẩu phần ngũ cốc. Các quan chức và cảnh sát huyện được chuyển về quê trước cuộc bầu cử để thuyết phục họ hàng và bạn bè, rõ ràng là theo chỉ thị của MHA. Phòng cảnh sát thành phố Seoul bị phát hiện đang yêu cầu các sĩ quan cảnh sát của phòng nộp danh sách họ hàng và những người nổi bật ở địa phương có sức ảnh hưởng đến phiếu bầu ở quê họ. Chính MHA bị cáo buộc đã thiết lập các ủy ban điều phối ở tất cả các cấp hành chính để thúc đẩy hợp tác trong và giữa các bộ ngành nhà nước cùng các tổ chức bán nhà nước để hỗ trợ vị trí ứng viên của Park. Thị trưởng của Busan và các thành phố khác tổ chức tiệc tùng để bày tỏ sự tôn kính với người cao tuổi trong thành phố nhằm vận động cho Park. Trong các lớp học đặc biệt, nhà trường tổ chức cho phụ huynh và học sinh học về các nghĩa vụ dân sự, nhiều tổ chức phi chính phủ ủng hộ Park đến giảng về “các vấn đề thời sự” và tổ chức triển lãm về tình trạng tham nhũng trong quá khứ. Các văn phòng địa phương của PMNR cũng tổ chức các chương trình giáo dục về quy trình bầu cử cho giáo viên, gia đình của các quan chức và những người có uy tín địa phương.
Hội đồng chí Tháng Năm, một tổ chức của các sĩ quan quân đội về hưu, cũng tham gia vào chuỗi tuyên truyền này thông qua việc tổ chức một loạt các chuyến thuyết giảng “phi chính trị” khắp đất nước. 44 sĩ quan quân đội tại ngũ cũng tham gia vào một chuyến đi khắp đất nước để thuyết trình các bài giảng “mang tính giáo dục” ở 1.115 trường trung học và đại học. Thông qua những nỗ lực này cùng nhiều nỗ lực khác, Park xoay sở để có tổng cộng 1.568.006 nam và nữ đăng ký làm thành viên DRP. Bên cạnh đó, DRP cũng tổ chức 629 buổi mít-tinh với sự tham gia được cho là của khoảng 2,64 triệu người vào giai đoạn bầu cử. Thấy lợi thế tổ chức Park được hưởng thông qua quyền kiểm soát bộ máy quan liêu nhà nước và các cơ quan bán nhà nước, nhiều người chỉ trích đã khẳng định rằng 4,7 triệu phiếu bầu cho Park là “quá quá ít” để tuyên bố thắng cử.
Cuối cùng, chính vùng nông thôn đã trở thành nơi cứu cánh cho Park. Vị ứng viên của DRP đạt được 50,8% số phiếu bầu ở nông thôn, trong khi đó Yun Po-sun tập hợp được 57,1% số phiếu thành thị. Nói cách khác, phiếu bầu nông thôn chiếm đến 74,2% tổng số phiếu cho Park và chỉ 59,2% tổng số phiếu của Yun Po-sun. Chiến lược tạo ra Cuộc trỗi dậy Xanh với hai củ cà rốt, một cây gậy và chính trị hiện đại về xây dựng hình ảnh rõ ràng có tác dụng vào năm 1963, trừ ở hai tỉnh nông thôn Gangwon và Chungcheong. Cử tri ở Gangwon, được biết đến với tinh thần bảo thủ chính trị bắt nguồn từ vai trò tiền tiêu quân sự của tỉnh, được đánh giá là phản đối Park vì các hoạt động chính trị cánh tả trước đây của ông. Khối cử tri Chungcheong, ngược lại, bầu theo địa phương, ủng hộ Yun Po-sun, người gốc Asan, một làng ở tỉnh Nam Chungcheong.
Tuy nhiên, chiến lược Cuộc trỗi dậy Xanh của Park thành công không hẳn chứng minh cho thuyết yeo-chon ya-do, thuyết lập luận rằng người nông dân bầu cho Park vì tinh thần tuân thủ chính trị có trong văn hóa truyền thống. Đầu tiên, trong khối cử tri nông thôn, 50,8% ủng hộ ông, nhưng 49,2% ngang ngửa còn lại thì không. Thứ hai, những người hỗ trợ Park có khả năng đã quyết định làm vậy sau tính toán đẩy lý trí về lợi ích có được từ chiến lược Cuộc trỗi dậy Xanh của ông, hoặc đơn giản chỉ vì họ mắc kẹt trong vô vọng vào nền văn hóa bị cho là đầy tinh thần tuân thủ của Hàn Quốc, đã khiến họ phải đi theo mong muốn của người cao tuổi địa phương và quan chức nhà nước. Thiếu thông tin điều tra quần chúng sâu rộng, chúng ta cần hoãn lại việc đánh giá cho đến khi phân tích các kết quả bầu cử từ sự chuyển hướng của Park sang chính sách chèn ép nông nghiệp năm 1964.
Các cuộc phỏng vấn mà tôi thực hiện vào tháng 2 năm 2001 cho thấy không chỉ tiềm năng mà cả các hạn chế trong chiến lược Cuộc trỗi dậy Xanh của Park, cũng như mức độ phức tạp trong tư duy chính trị của nông dân Hàn Quốc. “Nhà nước kêu gọi chúng tôi khai báo các khoản nợ”, một nông dân ở tỉnh Bắc Gyeongsang nhớ lại. “Họ nói với chúng tôi rằng sẽ hủy bỏ các khoản nợ lãi suất cao. Họ nghĩ rằng họ đang trao ân huệ cho chúng tôi, nhưng chẳng phải đó là trách nhiệm của họ ư? Tôi khai báo, nhưng không được gì cả. Tôi vẫn phải chịu những món nợ nặng lãi. Tệ hơn nữa, tình hình càng khó khăn hơn khi tôi cần vay tiền,” vì không còn người nào sẵn sàng cho vay ở mức lãi suất cắt cổ. Đợt phát hành đồng tiền mới vào tháng 6 năm 1962 với mục tiêu khơi ra số tài sản phi pháp của nền kinh tế ngầm trong tưởng tượng cũng không thể tạo được sự ủng hộ rộng rãi từ người nông dân. Một nông dân từ tỉnh Nam Chungcheong phàn nàn trong một bài phỏng vấn trên báo rằng việc thay đồng hwan bằng đồng won ở tỷ lệ 10:1 “thật tệ. Giờ càng khó khăn hơn để kiếm sống vì tiền thì giảm còn chi phí thì vẫn vậy.” Hình ảnh người nông dân nổi lên qua các cuộc phỏng vấn này là hình ảnh của một chủ thể kinh tế tương đối phức tạp ý thức được các hậu quả tiêu cực ngoài dự đoán từ chiến lược giải phóng nợ chungnong cũng như cuộc cải cách tiền tệ năm 1962 của ông. Câu hỏi bằng cách nào mà nhận thức về hệ quả phản tác dụng trong chính sách của Park biến thành quyết định bầu cử của nông dân vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng.
Thú vị không kém, nhiều nông dân được phỏng vấn không nghĩ họ sẽ gắn bó với Park bất chấp hình ảnh “người con của đất” được chăm chút cẩn thận của ông. Một số người nghi ngờ các ý định của ông. “Park có lẽ chỉ là con trai của một nông dân”, một nông dân nói. “Tuy nhiên, ông ta khác với những người bất hạnh chúng tôi. Ông ta được học ở Trường Bình dân và Học viện Quân sự Nhật Bản ở Mãn Châu Quốc. Vào lúc đó, chúng tôi không tin tưởng ông ta mấy. Nhà nước luôn nói rằng họ hoạt động vì chúng tôi. Chế độ Nhật là vậy. Lý Thừa Vãn cũng vậy. Cứ đợi xem. Đó vốn là những gì chúng tôi nghĩ về Park cho đến mãi sau này.” Việc Park có vượt qua được những suy nghĩ này trong ba năm chính quyền quân sự hay không không hề rõ ràng. Tuy nhiên, tình trạng hoài nghi chính trị là những minh chứng cho sai lầm khi mô tả người nông dân Hàn Quốc như những người tuân thủ chính trị, sẵn sàng chịu huy động từ trên xuống bất kể bản chất phân phối của cải của chính sách nhà nước. Ngược lại, như các cuộc phỏng vấn cho thấy, giới chóp bu nhà nước chân thành theo chungnong chắc hẳn sẽ khó được chấp nhận như là đồng minh của nông dân ở nông thôn. Để tạo được một liên minh như vậy, giới chóp bu sẽ cần phải luôn sát cánh với nông dân trong chính sách kinh tế.
Các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia tổ chức vào ngày 26 tháng 11 năm 1963 ngay sau cuộc bầu cử tổng thống cũng cho thấy cả những tiềm năng và giới hạn trong chiến lược Cuộc trỗi dậy Xanh của Park. Với DRP, cuộc cạnh tranh này cũng quan trọng không kém lần bầu cử tổng thống. Để thông qua hiệp ước bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản gây tranh cãi cao độ, DRP cần một đa số lập pháp đáng kể, và đảng này đã tổ chức chiến dịch tranh cử mạnh mẽ. Trong chiến dịch, báo chí đã phản ảnh nhiều sai phạm. Cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia trông càng giống với hoạt động chính trị mua bán phiếu bầu và huy động hệ thống quan liêu hơn là bầu cử tổng thống. Báo cáo sau bầu cử của DRP không né tránh những gì đã xảy ra và đề cập đến một “lần sử dụng quỹ tranh cử đúng lúc” “đã tiếp cận đến đầu xa nhất thông qua các kênh truyền dẫn hiệu quả” như là một trong những nhân tố đem lại chiến thắng ở các cuộc bỏ phiếu. Lần này, các tỉnh Chungcheong và Gangwon đã thay đổi quan điểm, họ bầu nhiều phiếu hơn cho các ứng viên DRP. Rõ ràng, chiến lược Cuộc trỗi dậy Xanh, hỗ trợ bằng các củ cà rốt, vượt qua sức mạnh từ chủ nghĩa địa phương Chungcheong và ý thức hệ an ninh Gangwon trong việc định hình hành vi bỏ phiếu của nông dân trong cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia, mang tính bảo trợ chủ nghĩa cao hơn.
Tuy nhiên, nguyên do quan trọng nhất trong chiến thắng áp đảo của DRP ở đợt bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1963 bắt nguồn từ hệ thống bầu cử mới của Hàn Quốc, hệ thống này ưu tiên cho đảng nào có số phiếu bầu lớn nhất và bỏ qua các đảng manh mún còn lại. Dù số phiếu DRP thắng được chỉ chiếm 32,4% tổng số, thấp hơn nhiều so với 42,6% của Park trong cuộc chạy đua vào ghế tổng thống một tháng trước đó, tuy nhiên DRP thắng được 88 ghế, đạt hai phần ba số ghế Nghị viện Quốc gia theo hệ thống đa số một đại diện được cạnh tranh trực tiếp nhờ sự phân mảnh của phe đối lập thành 11 đảng chính trị. DRP trung bình phải đối mặt với năm ứng viên đối lập ở một đơn vị bầu cử. Và vì hệ thống phân bổ 50% trong 44 ghế “danh sách” cho đảng chính trị chiếm số ghế Nghị viện Quốc gia lớn nhất, nên Park được hưởng ưu thế giành 22 ghế danh sách bổ sung. [153] Tổng số quận và số ghế danh sách lên đến 110, tạo cho DRP thế đa số vững chắc trong Nghị viện Quốc gia 175 thành viên.
Chèn ép nông nghiệp, 1964-1968
Thậm chí từ trước khi chế độ dân sự được khôi phục vào năm 1963, Park và các quan chức của ông đã phải bận rộn sắp xếp lại chiến lược phát triển kinh tế. Sự chuyển hướng từ chính sách chungnong bắt đầu thầm lặng nhưng không thể nhầm lẫn khi Park lệnh cho EPB xem xét lại chính sách kinh tế vào tháng 12 năm 1962, và đến tháng 5 năm 1964, các thay đổi trở nên rõ rệt. Tái định hướng chính sách liên quan nhiều đến các vấn đề kinh tế đang nổi lên mà Park phải đối mặt khi thực hiện Kế hoạch Phát triển Kinh tế 5 năm (FYEDP) lần thứ nhất bị đánh giá là “ôm đồm”. Vấn đề trầm trọng nhất là tình trạng thiếu vốn đầu tư, Park phải bù đắp tình trạng này bằng thâm hụt ngân sách, rốt cuộc lại làm tồi tệ hơn thực trạng lạm phát, và thông qua đó, gây bất ổn xã hội. Trong quá trình chuẩn bị cho các cuộc bầu cử tổng thống và Nghị viện Quốc gia lịch sử năm 1963 đồng thời thiết lập nền tảng để cất cánh kinh tế, chính quyền quân sự đã vạch ra các mục tiêu tham vọng quá mức và thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau cho FYEDP lần thứ nhất (xem chương 3 và 7).
Không ngạc nhiên khi FYEDP lần thứ nhất không thể tạo ra được kết quả kỳ vọng. Các chỉ tiêu đầu tư ít nhiều đạt được, nhưng phải trả giá bằng thâm hụt tài khóa tăng cao. Lạm phát mất kiểm soát bùng nổ cuối năm 1962, bị kích hoạt bởi vụ mùa thất bát. Giữa tháng 12 năm 1962 và tháng 5 năm 1964, chỉ số giá tiêu dùng tăng 58% và chỉ số giá bán sỉ tăng 66%, hạn chế thu nhập thực của đa số hộ gia đình. Không có cách nào để dễ dàng thoát khỏi lạm phát. Thu nhập chính phủ tỏ ra cực kỳ kém linh động trước sự gia tăng về giá và thu nhập danh nghĩa. Viện trợ Mỹ và lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước cũng đang giảm giá trị thực. Tỷ lệ tiết kiệm tư cũng sụt giảm vì cá nhân chuyển từ tích trữ tài sản có tính thanh khoản và các khoản đầu tư sản xuất sang thu mua nhiều loại hàng hóa thực và nhu yếu phẩm để tự bảo vệ trước lạm phát. Triệt tiêu hết lãi suất thực, lạm phát cao làm nản hy vọng tích lũy vốn đầu tư thông qua tiết kiệm trong nước của Park. Nền kinh tế gặp phải tình trạng suy giảm giá trị đầu tư sản xuất thực trong giai đoạn cuối của chính quyền quân sự.
Đối mặt với thâm hụt ngân sách, Park bật đèn xanh cho công cuộc tìm kiếm chiến lược hiện đại hóa mới của EPB. Từ các thất bại chính sách năm 1961 và 1962, Park học được một nguyên tắc kinh tế căn bản: gia tăng nguồn thu, hạn chế tiêu dùng và gia tăng đầu tư. Tháng 5 năm 1963, EPB bắt đầu chuẩn bị cho một bước tiến đến ngân sách cân bằng. Cho thấy sự ám ảnh của tăng trưởng đối với Park, cơ quan thí điểm này dự định tạo ra ngân sách cân bằng không phải bằng cách nới lỏng nỗ lực duy trì mức đầu tư cao, mà bằng một lộ trình chính trị mới để gia tăng gánh nặng thuế và hạn chế chi tiêu “thứ cấp”, bao gồm trợ cấp ngân sách cho các sản phẩm nông nghiệp. Sau khi các cuộc bầu cử năm 1963 củng cố quyền lực cho Park, Park bắt đầu thực thi các chính sách kinh tế mới được xây dựng của EPB. Và chính sách này đã bắt đầu cho hoạt động chính trị chèn ép nông nghiệp.
Chèn ép đôi
Công cuộc tìm kiếm vốn đầu tư cho các nhà sản xuất hàng hóa xuất khẩu đang phát triển của Hàn Quốc buộc EPB phải đấu tranh với MAF về ngân sách năm 1964. Trong khi MAF đề xuất nhà nước gia tăng 35% giá mua ngũ cốc, EPB, cơ quan nắm quyền ngân sách, lại nhấn mạnh vào việc đặt mức trần cho những gia tăng ngân sách loại này càng chặt càng tốt. 12 ngày trước các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1963, MAF công bố tăng giá 27%, một mức gia tăng tương đối với tỷ lệ lạm phát hai con số của Hàn Quốc. Sau bầu cử, logic kinh tế bắt đầu được cải thiện ở các bước đi chính trị, và câu thần chú của các nhà hoạch định chính sách đổi từ tăng trưởng “cân bằng” sang “không cân bằng”, [154] với các nguồn lực được chuyển từ khu vực nông thôn sang thành thị vì lợi ích của các ngành công nghiệp xuất khẩu. Ở trung tâm của bước đảo ngược chính sách này là việc nhà nước thu mua ngũ cốc với giá thấp. Bằng cách duy trì hoạt động thu mua ngũ cốc của MAF với giá thấp hơn thị trường, EPB đã loại bỏ một nguồn áp lực lạm phát và gia tăng cơ hội cân bằng ngân sách. Chính sách này cũng đảm bảo nguồn cung công nhân ổn định cho các ngành công nghiệp nhẹ, tiếp đó là trở thành trụ cột xuất khẩu của Hàn Quốc, bằng cách khuyến khích những nông dân túng thiếu rời khỏi vùng nông thôn trì trệ để tìm kiếm công việc ở khu vực thành thị. Giá thu mua ngũ cốc từ nông dân của MFA sẽ duy trì dưới giá thị trường trong giai đoạn 1961-1975 trừ năm 1972. Để giữ cho giá ngũ cốc thấp một cách không tự nhiên, MAF quy định hạn ngạch cho việc giao ngũ cốc đối với người nông dân. Nông dân cũng chịu thuế gián tiếp ở thị trường đầu vào. Vào đầu những năm 1960, Park thúc đẩy phát triển ngành phân bón không chỉ để tiêu dùng trong nước mà còn để thúc đẩy xuất khẩu. Để đạt được mục đích này, 9 công ty đã được lập ra. Ba trong số này là liên doanh với các doanh nghiệp sản xuất phân bón tổng hợp của Mỹ. Để thuyết phục các công ty nước ngoài tham gia vào liên doanh, EPB đảm bảo mỗi trong số ba công ty có lợi nhuận hàng năm tối thiểu là 20% bằng cách hứa mua một lượng phân bón nhất định. Sự đảm bảo về lợi nhuận không đổi cùng với bất lợi tương đối của Hàn Quốc trong hoạt động sản xuất a-mô-ni-ắc từ naptha khiến các loại phân bón sản xuất trong nước đắt hơn rất nhiều so với những sản phẩm từ nước ngoài, điều trên thực tế đã ngăn cản xuất khẩu trở thành một lựa chọn cho ngành này. Các nhà sản xuất thực sự phải tồn tại dựa vào thị trường phân bón trong nước, trong khi thị trường này lại trở nên bão hòa năm 1970. Để đẩy chi phí cao của hoạt động sản xuất cho người nông dân, MAF dựng lên các rào cản thương mại khó khăn dành cho các sản phẩm nước ngoài giá rẻ hơn và xử lý tất cả nhu cầu phân bón trong nước thông qua tổ chức bán nhà nước của mình, NACF. Độc quyền nhà nước trong nguồn cung phân bón khiến giá tăng và trên thực tế đã buộc nông dân phải trợ cấp cho ngành công nghiệp phân bón kém cạnh tranh của Hàn Quốc.
Giá phân bón ngày càng tăng cao đóng góp rất nhiều vào các quy định thương mại đang ngày càng tồi tệ hơn đối với các hộ gia đình nông thôn. Giá phân bón tăng vọt 80% chỉ trong năm 1964, tiếp đó là đợt tăng 44,4% nữa vào năm 1965. Một nông dân bình thường cho rằng đã phải tốn 55% chi phí nông nghiệp vào phân bón năm 1966. Giá cao cũng không đồng nghĩa với việc giao hàng đúng hạn; nông dân than phiền vì tình trạng chậm trễ liên tục. Các công ty cũng buộc nông dân phải mua các loại phân bón hóa học không thông dụng cùng với những loại thông dụng. Báo chí đưa tin rằng nông dân đang loại bỏ phân bón hóa học với giá bán tháo 200 won một bao hoặc thấp hơn, thua xa giá 500 won của NACF.
Bầu cử, 1967
Các cuộc bầu cử tổng thống và Nghị viện Quốc gia được tổ chức vào lúc giai đoạn chèn ép nông nghiệp đang ở mức đỉnh điểm. Như năm 1963, Park huy động đầy đủ không chỉ DRP mà cả MHA và các tổ chức hỗ trợ khác ở nông thôn để giành phiếu bầu. Cuộc bầu cử tổng thống diễn ra ngày 11 tháng 5, một lần nữa giữa Park và Yun Po-sun. Yun Po-sun là ứng viên đảng Đảng Dân chủ Mới (NDP) mới thành lập, đảng này đã thống nhất lực lượng đối lập chỉ mới ba tháng trước thông qua việc sáp nhập hai đảng. Mặc cho sự sáp nhập này, Park xoay sở để có được chiến thắng quyết định, tập hợp được 51,4% tổng số phiếu bầu, tăng 8,8% so với năm 1963. Ngược lại, Yun Po-sun chứng kiến mức độ ủng hộ mình vẫn gần như giữ nguyên ở mức 41%. Các ứng viên yếu thế hơn chiếm 7,6% phiếu bầu.
Những thay đổi lớn trong kết quả bầu cử xuất hiện rõ rệt. Trái với khi Park giành được các tỉnh phía nam và mất các tỉnh phía bắc năm 1963, ông thắng vùng bờ biển phía đông và mất bờ tây bốn năm sau. Bờ đông gồm không chỉ các tỉnh nông nghiệp Gangwon và Bắc Chungcheong mà ông từng thua vào năm 1963 mà còn có cả thành phố Busan, thành phố lớn thứ hai Hàn Quốc sau Seoul. Tuy nhiên, sự phân chia này không phải là thành thị đối đầu với nông thôn. Dọc theo bờ tây, nơi Park thu về kết quả tệ hại, là các tỉnh Bắc và Nam Jeolla, “chén cơm” của Hàn Quốc, nơi từng bầu cho ông năm 1963. Trong khi Park thắng được tất cả 34 huyện ở tỉnh Jeolla và thua 6 trong số 7 thành phố năm 1963, ông mất đi 23 trong số 34 huyện và 6 trong số 7 thành phố năm 1967.
Thay đổi ở các cử tri Jeolla là một phong vũ biểu tốt hơn cho cảm tình vùng nông thôn, vì phiếu bầu của họ ít bị ảnh hưởng hơn bởi cảm tình địa phương. Ngược với tỉnh Nam Chungcheong có người con được ủng hộ (Yun Po-sun) tranh cử với vai trò ứng viên tổng thống của NDP và tỉnh Nam, Bắc Gyeongsang cùng người con của họ (Park Chung Hee) là ứng viên tổng thống DRP, người con được ủng hộ của các tỉnh Nam và Bắc Jeolla (Yi Cheol-sung và Kim Dae-jung) không chạy đua giành quyền lãnh đạo quốc gia. Cử tri Nam Chungcheong và Gyeongsang với những đứa con được ủng hộ đang chạy đua vào ghế tổng thống đi theo bản năng địa phương chủ nghĩa, bất kể họ từ nông thôn hay thành thị. Ngược lại, không có lựa chọn của địa phương mình, cử tri Jeolla có thể được cho là trung thành với các lợi ích nông nghiệp hơn với bất kỳ cảm tình, niềm tin hay hình ảnh dựa trên bản sắc nào. Việc sụt giảm đáng kể sự ủng hộ của nông dân dành cho Park ở các tỉnh Bắc và Nam Jeolla cho thấy rằng ông khó có thể nhận không sự ủng hộ từ nông thôn. Sự ủng hộ mà nông dân dành cho ông không phải tự động cũng như bất biến ở ngoài các tỉnh quê hương ông. Hình ảnh “người con của đất” mà ông đã chăm chút xây dựng trong những năm chính quyền quân sự vẫn có thể có ảnh hưởng tích cực đến quyết định bầu chọn của người nông dân khi Park luân phiên giữa hỗ trợ và cắt giảm ngân sách như trong năm 1962 và 1963, nhưng điều đó không còn khi ông chuyển hướng rõ rệt sang chính sách chèn ép nông nghiệp sau năm 1964.
Quan trọng không kém, cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 cảnh báo NDP không nên ảo tưởng rằng khu vực thành thị sẽ tự động ủng hộ ứng viên phe đối lập của mình. Park có được 50,4% tổng số phiếu bầu thành thị, trái ngược với chỉ 37,7% năm 1963. Chắc chắn là ông mất thành phố Seoul, vùng đất nuôi lớn lực lượng chống đối thành thị của Hàn Quốc. Tuy nhiên, kể cả tại nơi này, kết quả của ông cũng được cải thiện ở mức đáng chú ý so với năm 1963, theo sau 49% của Yun Po-sun với chỉ 3 điểm phần trăm. Phân phối phiếu bầu của Seoul năm 1963 là 30:65 nghiêng về Yun Po-sun. Khả năng thu hút phiếu bầu thành thị của Park được cải thiện là nhờ siêu tăng trưởng kinh tế từ năm 1964 của Hàn Quốc và trái ngọt đầu tiên của quá trình này thuộc về dân cư thành phố. Park đã biến đổi thành công “phát triển kinh tế [thành] ý thức hệ hiện tại”, điều này góp phần vào việc chính danh hóa vị trí tổng thống và tạo cho ông lượng phiếu bầu thành thị chưa từng có. Theo một khảo sát năm 1966 ở 1.515 chuyên gia và nhà báo cho thấy, thậm chí giới trí thức cực kỳ hay tranh cãi và dạy đời cũng đặt phát triển kinh tế làm ưu tiên cao nhất của đất nước. Nhiều người thậm chí còn nghĩ rằng tự do cá nhân có thể được hy sinh để phát triển kinh tế, do đó họ tha thứ cho nhiều vấn đề lạm quyền mà Park phạm phải trong giai đoạn 1963-1967 dưới danh nghĩa tăng trưởng kinh tế và an ninh quân sự.
Theo thông lệ, Park thuyết phục tài lãnh đạo của ông cần cho phát triển kinh tế vì các mục đích bầu cử. EPB công bố FYEDP lần thứ hai vào mùa hè năm 1966, cho Park một năm tuyên truyền trước các cuộc bầu cử năm 1967. Với khẩu hiệu “Phát triển Không gián đoạn”, DRP mô tả Park như một kiến trúc sư của “Phép màu Sông Hàn”, phối hợp một chương trình hiện đại hóa nhịp nhàng bằng cách sử dụng tinh thần đổi mới của quân đội, bộ máy quan liêu nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân. Đảng cầm quyền thuyết phục rằng việc tái đắc cử của ông là cần thiết để thực hiện FYEDP lần thứ hai, từ đó chính thức hóa bước chuyển ngược trong chính sách vốn đã diễn ra từ năm 1964. DRP nói về chungnong, nhưng như cho thấy ở FYEDP lần thứ hai, đảng này đã thay thế chiến lược Cuộc trỗi dậy Xanh bằng chiến lược cách mạng công nghiệp nhằm thu hút cử tri năm 1967. Và điều đó có tác dụng.
Vào tháng sau, ngày 8 tháng 6 năm 1967, Hàn Quốc tổ chức bầu cử Nghị viện Quốc gia. Dù 11 đảng phái chính trị đưa ra các ứng cử viên, nhưng cuộc đua thuộc về hai đảng chính, DRP và NDP. Họ tổ chức chiến dịch quyết liệt, nắm rõ vấn đề hệ trọng là gì. DRP hướng đến giành hai phần ba số ghế Nghị viện Quốc gia, cho phép đảng thông qua sửa đổi hiến pháp tạo điều kiện cho Park nắm quyền nhiệm kỳ thứ ba vào năm 1971. NDP chiến đấu một trận khó khăn nhằm ngăn cản sửa đổi hiến pháp. Không may cho NDP, kết quả lại là một chiến thắng cách biệt cho DRP hơn cả cuộc bầu cử tổng thống ngày 11 tháng 5. Đảng DRP cầm quyền thắng 129 ghế lập pháp; NDP, 45 ghế; và một lực lượng rời rạc mới hình thành (Đảng Đại chúng), 1 ghế. Không giống như bầu cử tổng thống, DRP phủ khắp nông thôn và các thành phố nhỏ. Kể cả ở các tỉnh Bắc và Nam Jeolla, 20 trong 22 khu vực nông thôn cùng 6 trong 8 khu vực thành thị ủng hộ các ứng viên DRP. Cuộc bầu cử cho thấy cư dân ở các thành phố nhỏ liên minh với khối cử tri nông thôn chống lại các trung tâm thành thị lớn do NDP lãnh đạo. Thành công của NDP tập trung ở những thành phố chính, gồm Seoul và Busan. Đảng đối lập chỉ giành được 3 khu vực bầu cử bên ngoài các thành phố chính.
Sự thay đổi đáng kể về cảm tình chính trị ở nông thôn, bao gồm cả cảm tình về yeo-chon ya-do, đặc biệt ở hai tỉnh Jeolla chỉ trong một tháng, đã cảnh báo về sự tổng quát hóa quá dễ dàng. Chắc chắn là, các sai phạm lan rộng đã góp phần làm nên thắng lợi áp đảo ở cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1967. Như đảng đối lập thông báo, mua bán phiếu bầu, đe dọa và nhồi phiếu [155] trở nên phổ biến ở nhiều khu vực. Tòa án thậm chí còn ra lệnh cho một thành viên DRP phải trả lại ghế Nghị viện Quốc gia của ông ta cho đối thủ NDP sau cuộc bầu cử trong giây phút độc lập tư pháp hiếm hoi. Để cải thiện tình trạng bất mãn trong công chúng, DRP cũng đã khai trừ 6 thành viên sau cuộc bầu cử vì dính líu đến các sai phạm bầu cử. Tuy vậy, cách biệt lớn mà nhờ đó DRP thắng trong cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia cho thấy rằng đó là thắng lợi của chính họ chứ không phải chỉ đơn thuần là kết quả từ sai phạm.
Lý do căn bản cho khả năng thay đổi làn sóng đối lập ở nông thôn của Jeolla và sự phản kháng mang tính địa phương của Nam Chungcheong chỉ trong vòng một tháng sau khi bầu cử tổng thống của DRP nằm ở bản chất của bầu cử Nghị viện Quốc gia. Không giống như cuộc chạy đua tổng thống, khi các lịch trình nghị sự quốc gia thống trị cuộc cạnh tranh bầu cử và xã hội phân hóa xung quanh sự lãnh đạo của Park, bầu cử Nghị viện Quốc gia chủ yếu “mang tính địa phương”, với khối cử tri nông thôn bỏ phiếu dựa trên các tiêu chí khác với các tiêu chí dùng trong bầu cử tổng thống. Quá xa trung tâm cả về tâm lý và địa lý, và quá yếu để nhận được ảnh hưởng có ý nghĩa từ kết quả, nông dân có xu hướng xem bầu cử tổng thống như một cuộc bỏ phiếu toàn dân để bày tỏ sự không hài lòng về khả năng lãnh đạo chính trị quốc gia thay vì một cơ hội để quyết định tương lai của họ. Ngược lại, trong bầu cử Nghị viện Quốc gia, nông dân ủng hộ ứng viên có thể đem lại lợi ích kinh tế và xã hội cụ thể, đó là người ứng viên có thể xây cầu, phát triển trường học, tăng thêm quyền cho NACF và các tổ chức làng xã tập thể khác với ngân sách lớn hơn, và tổng quát hơn, mở cánh cửa dẫn đến các trung tâm quyền lực địa phương bao gồm MHA, MAF và cảnh sát. Thứ mà nông dân tìm kiếm ở đại biểu nghị viện quốc gia là khả năng gắn kết làng xã với bộ máy quan liêu nhà nước đặt ở Seoul xa xôi. Khả năng trung gian đó được đảm bảo tốt nhất khi bỏ phiếu cho DRP, chứ không phải NDP, đảng này hầu như bị loại khỏi các trung tâm quyền lực quốc gia và địa phương. Các ứng viên DRP biết làm cách nào để ngăn chặn quan chức EPB và MoF tham nhũng tiến dành cho các dự án làng xã.
Theo đó, có thể lý giải việc giành lại Jeolla và các tỉnh nông thôn khác của DRP trong cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1967 mà không giả định rằng nông dân Hàn Quốc có văn hóa tuân thủ. Vì mức độ tập trung hóa cực độ trong bộ máy quan liêu nhà nước và việc cách ly các bộ ngành nhà nước khỏi các lực lượng bên ngoài trừ Nhà Xanh, DRP và chaebol, nên việc bỏ phiếu cho DRP trong các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia theo chủ nghĩa bảo trợ là điều được kỳ vọng từ một người “nông dân lý trí” không ngừng tính toán lợi ích và chi phí từ các lựa chọn chính trị đồng thời cân đo đong đếm thuận lợi và bất lợi của việc ủng hộ ứng viên đối lập.
Cuộc trỗi dậy Xanh lần thứ hai, 1968-1979
Cũng quan trọng không kém đối với khả năng tài trợ cho công nghiệp định hướng xuất khẩu của Park, chèn ép nông nghiệp đang gây ra những vấn đề chính trị nghiêm trọng cuối những năm 1960. Trong giai đoạn 1962-1971, khu vực sơ cấp, bao gồm nông nghiệp và các lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp tương đối nhỏ, hằng năm tăng trưởng trung bình 4%, thấp hơn 14,2 điểm phần trăm so với mức tăng trưởng của lĩnh vực sản xuất. Ở mỗi hộ gia đình, thu nhập nông thôn ở mức 55,8% mức thu nhập khu vực thành thị năm 1967, sụt giảm 47,5 điểm phần trăm kể từ năm 1963 khi chiến lược ELI đang bắt đầu hình thành. Và khoảng cách thu nhập thành thị-nông thôn tồi tệ hơn khi các hộ gia đình nông thôn nghèo nhất không ngừng di cư đến các thành phố đang phát triển. Theo dữ liệu của MAF, tỷ trọng các hộ gia đình nông thôn nghèo nhất với chưa đến 0,5 héc-ta đất canh tác giảm từ 42,9% năm 1960 còn 35,9% năm 1965 và còn 31,6% năm 1970 vì di cư. Tổng cộng 1,5 triệu người, hay 10% tổng dân số làm nông đã rời nông thôn giữa năm 1968 và năm 1970.
Cuối những năm 1960, di cư trở thành nguồn gốc của những lo ngại thay vì phước lành ẩn giấu để được nhà nước chào đón trong quá trình kiềm hãm chi phí tái sản xuất của lao động công nghiệp. Đầu tiên, quy mô dân số nông thôn bắt đầu giảm kể cả ở giá trị tuyệt đối sau năm 1967, làm thu hẹp pyobat, hay “cánh đồng phiếu bầu” cho DRP trong các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia theo chủ nghĩa bảo hộ. Thứ hai, chính sự gia tăng những người lấn chiếm đất trong khu vực thành thị đã trở thành một nguyên nhân của bất ổn xã hội, như cuộc nổi loạn năm 1971 ở vùng ngoại ô Seoul cho thấy. Di cư đe dọa đến sự ổn định chính trị của thành phố do sự tràn lan của những người nghèo thành thị không có công việc ổn định tại đây. Thứ ba, chính sách giá ngũ cốc thấp tuy hấp dẫn nhưng chắc chắn sẽ làm mất đi động lực sản xuất ngũ cốc và khuyến khích tiêu thụ thực phẩm đúng lúc Hoa Kỳ bắt đầu kết thúc chương trình viện trợ PL480. Do đó, Hàn Quốc phải dùng đến nguồn ngoại hối hiếm hoi để nhập khẩu ngũ cốc. Theo thống kê từ năm 1969 đến 1972, chỉ riêng nhập khẩu ngũ cốc đã chiếm đến hơn 10% tổng nhập khẩu, lấy đi những nguồn lực dành cho lĩnh vực sản xuất chiến lược. Cả về mặt chính trị và kinh tế, chính sách nông nghiệp cần phải được điều chỉnh. Bước thay đổi đảo ngược thứ hai của Park xuất hiện vào năm 1968.
Hệ thống hai tầng giá, hạt giống mới và Saemaul Undong
Năm 1968, sáng kiến hệ thống hai tầng giá của Park đã được áp dụng cho lúa mạch. [156] Theo kế hoạch này, MAP thu mua lúa mạch với giá trên mức thị trường và bán lại cho dân thành phố ở mức dưới giá thị trường thông qua mạng lưới phân phối do NACF độc quyền. Mục tiêu là thúc đẩy tiêu thụ lúa mạch thay vì gạo, MAF cho rằng làm như vậy sẽ gia tăng thu nhập nông thôn, giúp người nghèo thành thị bớt lệ thuộc vào gạo nhập khẩu đắt tiền và hạn chế thâm hụt thương mại. Chất xúc tác để áp dụng hệ thống mới này là việc chấm dứt có lộ trình chương trình viện trợ PL480 từ Hoa Kỳ, tuy nhiên chính sách mới này cũng có động lực chính trị. MAF công bố chính sách này như một phần trong chương trình của Park nhằm thu hút sự ủng hộ từ nông thôn cho cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc về việc điều chỉnh hiến pháp tạo điều kiện cho nhiệm kỳ tổng thống thứ ba. Giữa chiến thắng của Park trong cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc năm 1969 và bầu cử tổng thống năm 1971, MAF mở rộng hệ thống hai tầng giá để đưa gạo vào. Động thái này cho thấy sự đổi hướng căn bản trong chiến lược chính trị và chính sách kinh tế của Park. Việc đưa gạo vào hệ thống chắc chắn sẽ tiêu tốn của chính phủ rất nhiều tiền, do đó cần phải có sự thay đổi trong phân bổ nguồn lực.
Chính sách phân bón cũng thay đổi. Ý thức được rằng việc nhà nước đảm bảo lợi nhuận cao cho ba hãng sản xuất liên doanh lớn nhất làm tổn hại đến nông dân qua việc làm tăng giá phân bón, MAF liên kết với MoF để thiết lập quỹ công nhằm cung cấp phân bón cho nông dân ở giá dưới mức nhà nước đã trả. Thâm hụt từ Quỹ Quản lý Ngũ cốc do hỗ trợ giá và Quỹ Phân bón do hỗ trợ phân bón sẽ được tài trợ bằng tín dụng từ Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc theo cách tạo ra lạm phát. Đồng thời, Park áp dụng kế hoạch công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất (HCI) quá mức tham vọng. Park đang thiết kế liên minh “ngũ cốc và thép” theo kiểu Bismarck riêng của ông để đối phó với lực lượng chống đối được dự kiến khi ông chuyển sang chế độ độc tài tháng 10 năm 1972. Park điên cuồng theo đuổi các doanh nghiệp lớn bằng các dự án đầu tư lớn trong các ngành công nghiệp nặng và hóa chất đồng thời thu phục nông dân bằng trợ giá ngũ cốc và phân bón từ nhà nước. Tuy nhiên liên minh ngũ cốc-thép theo kiểu của Park gặp phải sự bất đồng nội bộ ngay từ lúc bắt đầu. Cộng đồng doanh nghiệp không vui với chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm áp lực của tình trạng lạm phát bị gây ra bởi việc đồng thời theo đuổi HCI và Cuộc trỗi dậy Xanh thứ hai. Đối với chaebol, các nông dân nhỏ lẻ của Hàn Quốc, những người khai thác nhân lực của gia đình họ chỉ để tồn tại chứ không thể trở thành “Đại địa chủ” của nước Đức thời Bismarck, xứng đáng với vai trò đối tác yếm thế trong liên minh yushin của Park. Thay vì hợp tác với nông dân để hỗ trợ con đường hiện đại hóa mang tính bảo thủ của Park, các chaebol thường xuyên cố gắng đá gánh nặng điều chỉnh sang cho khu vực nông thôn bằng cách vận động hành lang để giảm quy mô chính sách giá ngũ cốc cao và giá phân bón thấp của Park.
Mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp lớn và khu vực nông thôn nổi lên dưới dạng xung đột giữa các bộ. Năm 1972, EPB đề xuất chỉ tăng 5% giá mua gạo so với năm trước để kiềm giữ lạm phát ở mức 3%. MAP bác bỏ và cuối cùng thành công khi tăng 8% giá mua. Sau đó, 12 ngày trước cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp yushin độc tài mới được ban hành, Park hủy bỏ thỏa thuận EPB-MAF và ra lệnh tăng giá 13%. Không những thế, Park ra lệnh cho MAE trả cho loại gạo năng suất cao (HYR) ít phổ biến hơn bằng giá của các loại phổ biến và mua hết mức nông dân sẵn sàng bán. Đồng thời, Park hiểu rằng việc lệ thuộc vào riêng trợ cấp sẽ không thể tiếp tục lâu dài, ông lệnh cho MAF tiến hành nghiên cứu phát triển để hỗ trợ tăng sức cạnh tranh cho người nông dân và giảm bớt áp lực ngân sách nhà nước. Năm 1971, MAT tự hào giới thiệu giống HYR mới có tên tongilbyeo, hay gạo Thống nhất. Giống mới này giúp nâng cao thu nhập của vùng nông thôn nhờ chính sách của MAF thu mua tongilbyeo ở mức giá cao và số lượng lớn bất chấp giống này không được ưa chuộng vì hương vị kém.
Song song với những nỗ lực trợ giá này, Park khởi động Saemaul Undong, hay Phong trào Làng xã Mới vào năm 1970, phong trào này tượng trưng cho một bước ngoặt trong chiến lược chính trị và kinh tế nông thôn của ông. Mặc cho sự khởi đầu khiêm tốn, Saemaul Undong nhanh chóng lớn mạnh thành một chương trình phát triển nông thôn tổng hợp toàn diện. Nguồn gốc Phong trào Làng xã Mới hình thành từ việc NACF phân phối về nông thôn 335 bao xi măng dư thừa không thể bán, được sử dụng “cho các dự án làng xã [phục vụ] nhu cầu chung của dân làng” và được quyết định dựa trên sự “đồng thuận chung”. Ban đầu, Saemaul Undong không thể tạo ra nhiều kết quả tích cực vì, theo lời vị cố vấn về các vấn đề nông nghiệp của Park, phong trào này được xem là cuộc “cách mạng tinh thần” dựa trên các nguyên tắc “tự lực, tự cường và hợp tác.” Nói cách khác, ban đầu Park không có kế hoạch chi quá nhiều tiền cho Saemaul Undong. Nhiều nhất ông cũng chỉ nghĩ đến việc tài trợ cho các dự án công cộng “làm đẹp” làng xã. Do đó trong những bước đầu, người nông dân hoài nghi xem phong trào này như một cái cớ khác để nhà nước can thiệp vào các sự vụ làng xã và thắt chặt lưới kiểm soát hành chính để đổi lấy những thay đổi bề ngoài trong cuộc sống vật chất của họ. [157]
Tuy nhiên, mặc cho khởi đầu bất lợi này, sẽ là sai lầm nếu phớt lờ việc cho rằng lời hứa phát triển nông thôn của Park chỉ là xảo biện. Nhiều ý tưởng Park mô tả trong các diễn văn về Saemaul Undong có nguồn gốc từ ý tưởng về tăng trưởng cân bằng trong những bài viết của ông đầu thời chính quyền quân sự rằng ông miễn cưỡng từ bỏ ưu tiên công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu dưới các áp lực lạm phát năm 1964. “Công nghiệp của chúng ta,” ông chân thành tuyên bố, “chỉ có thể phát triển khi người nông dân trở nên giàu có và cộng đồng nông thôn nhanh chóng phát triển. Nông dân giàu có tạo ra sức mua rất lớn, đó là một trong các điều kiện cơ bản để phát triển công nghiệp. Khi công nghiệp phát triển nhanh, các nguồn lực được tạo ra từ đó sẽ sẵn sàng... cho tái đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Theo cách nhìn này, nông nghiệp và công nghiệp là không thể tách rời.” Những lời này bắt đầu tạo được sự tín nhiệm chính trị khi Park bác bỏ các áp lực nhằm giảm quy mô, nếu không phải là hủy bỏ toàn bộ, hệ thống hai tầng giá cho lúa mì và gạo năm 1973 và 1974 khi cuộc khủng hoảng đình lạm mạnh mẽ lan khắp Hàn Quốc sau cú sốc dầu bắt nguồn từ Trung Đông. Khi Hàn Quốc thoát khỏi cuộc suy thoái năm 1975 với sự trợ giúp từ giai đoạn bùng nổ xây dựng ở các nước Trung Đông giàu tiền của (xem chương 9), Park quyết tâm khởi động Saemaul Undong bằng cách dành hỗ trợ ngân sách cho Quỹ Quản lý Ngũ cốc, Quỹ Phân bón và các chương trình phát triển HYR của MAP, bên cạnh các công trình xây dựng công cộng ở nông thôn. Dòng nguồn lực thuần chảy vào nông thôn gia tăng đáng kể năm 1975 và duy trì ở mức cao đến cuối chế độ yushin.
Bầu cử
Khi Park chuẩn bị để đồng thời theo đuổi HCI và phát triển nông nghiệp cuối những năm 1960, lực lượng đối lập đã sẵn sàng cho một cuộc tái chạy đua bầu cử. Không có quyền lực để định hình chính sách kinh tế, Đảng Dân chủ Mới tập trung vào xác lập trật tự tại chính đảng của mình. Các lực lượng đối lập quyết tâm sẽ không lặp lại sai lầm năm 1963 và 1967 khi đồng thuận quá trễ về ứng viên đại diện cho cuộc chạy đua tổng thống. Tháng 9 năm 1970, NDP tổ chức đại hội quốc gia và đề cử một chính trị gia trẻ tuổi, Kim Dae-jung, làm ứng viên tổng thống. Là người gốc Nam Jeolla và là doanh nhân chính trị với các ý tưởng cấp tiến, Kim Dae-jung chứng tỏ mình là một nhà vận động tranh cử vững chãi. Vào giữa chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1971, đội của Park đã cảm nhận được áp lực. Kể cả ở Daegu, thuộc Bắc Gyeongsang, quê nhà của Park Chung Hee, Kim Dae-jung cũng thu hút được đám đông lên tới 300.000 người. Ở đây, ông cảnh báo rằng Park sẽ trở thành “Tưởng Giới Thạch” của Hàn Quốc nếu thắng cử trong nhiệm kỳ thứ ba. Phản hồi lại, Park đau lòng tuyên bố một cách rõ ràng rằng đây là sẽ lần tranh cử quyền lực tổng thống cuối cùng của ông.
Cuối cùng, Park thắng cử với 53,2% tổng số phiếu so với 45,3% của Kim. Các cáo buộc sai phạm bầu cử lại một lần nữa được đưa ra tòa. Xét về quy mô tổng thể, sự phân biệt nông thôn - thành thị cũng tái xuất hiện - lần này thuận lợi cho Park vì những nỗ lực phấn đấu cho Cuộc trỗi dậy Xanh lẫn thứ hai từ năm 1968. Park có được 58% phiếu bầu nông thôn, tăng 5,8 điểm phần trăm so với lần tranh cử tổng thống năm 1967.
Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng với hai người con được ủng hộ của các tỉnh Gyeongsang và Jeolla lần lượt đứng đầu DRP và NDP, phiếu bầu nông thôn ở hai vùng này là sự ủng hộ mang tính địa phương thay vì là cuộc bỏ phiếu cho chính sách nông nghiệp của Park. Các tỉnh Gyeongsang ủng hộ Park với 74,7% tổng số phiếu của họ, trái với các tỉnh Jeolla ủng hộ Kim Dae-jung với 62,3% số phiếu. Địa bàn thành thị của hai khu vực này, gồm thành phố Busan, thuộc tỉnh Nam Gyeongsang, cũng phân chia theo địa phương chứ không theo sự khác biệt về nông thôn-thành thị. Không như năm 1967, khi cử trị Jeolla đóng vai trò “cử tri lý trí”, trừng phạt Park vì chính sách chèn ép nông nghiệp giai đoạn 1964-1968, họ chống lại Park bất chấp những cố gắng của ông cho Cuộc trỗi dậy Xanh lần thứ hai từ năm 1968. Cuộc bầu cử tổng thống năm 1971 hoàn toàn là một cuộc chạy đua địa phương chủ nghĩa khi mà kết quả được xác định chủ yếu bởi các tỉnh Gyeongsang và Jeolla. Không may cho Kim Dae-jung, không chỉ các tỉnh Gyeongsang có nhiều cử tri hơn, mà số cử tri đi bầu ở đây cũng cao hơn. Ở các tỉnh Gyeongsang và thành phố Busan, Park giành được 1.586.006 phiếu bầu cao hơn Kim Dae-jung, trái lại Kim Dae-jung tập hợp được 621.806 phiếu bầu cao hơn Park ở các tỉnh Jeolla. Chênh lệch là 964.100 phiếu, gần bằng số phiếu khác biệt trên cả nước là 946.928.
Trớ trêu là Park đã phấn đấu cho Cuộc trỗi dậy Xanh lần thứ hai ngay lúc hai vùng rộng lớn nhất bị chi phối bởi các cuộc cạnh tranh địa phương, từ đó khiến cho chiến lược hai củ cà rốt, một cây gậy và chính trị hiện đại về xây dựng hình ảnh nhằm vận động nông dân từ trên xuống đã kém hiệu quả đi rất nhiều. Không chỉ vùng nông thôn mà cả nước ngày càng bị ảnh hưởng bởi chính trị cục bộ lan truyền, đối ngược hoàn toàn với các cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1963 và 1967, khi chỉ có cử tri tỉnh Nam Chungcheong và Gyeongsang cho thấy xu hướng này. Park đã tiến hành mua phiếu bầu nông thôn bằng chương trình kinh tế hào phóng khi một vùng lớn của khu vực nông thôn Hàn Quốc, các tỉnh Jeolla, không ngừng từ chối bị mua chuộc vì ảnh hưởng từ người con được ủng hộ của vùng đó.
Khi nhìn nhận lại, các tỉnh Jeolla cho thấy cảm tình nông thôn có thể biến động đến mức nào và vì sao Park không thể nhận không sự ủng hộ từ nông thôn. Diễn biến của vùng Jeolla qua các cuộc bầu cử tổng thống cũng đáng chú ý như sự thay đổi chính sách nông nghiệp liên tục của Park. Khối cử tri nông thôn vùng Jeolla ủng hộ Park vì các nỗ lực cải cách nông thôn năm 1963, nhưng lại thay đổi để ủng hộ Yun Po-sun của NDP vào thời kỳ đỉnh điểm của giai đoạn chèn ép nông nghiệp năm 1967. Sau đó, trong một giai đoạn của sự ưu tiên theo chủ nghĩa địa phương do ứng viên tổng thống của NDP Kim Dae-jung kích động năm 1971, cử tri Jeolla chống lại Park bất chấp nỗ lực của ông trong việc thúc đẩy Cuộc trỗi dậy Xanh lần thứ hai sau năm 1968. Nông dân Hàn Quốc không như những người ủng hộ yeo-chon ya-do nghĩ. Phiếu bầu của họ bị ảnh hưởng bởi các tính toán kinh tế và bản sắc địa phương chủ nghĩa hơn là bởi tinh thần tuân thủ có trong văn hóa. Họ thậm chí còn bỏ phiếu chống Park với số lượng lớn chưa từng có khi ông gia tăng khả năng tưởng thưởng với hai củ cà rốt, trừng phạt với một cây gậy và tham gia vào chính trị hiện đại về xây dựng hình ảnh thông qua việc liên tục tăng cường khả năng tổ chức của MHA, MAF, NCAF và Saemaul Undong. Năng lực về thể chế của nhà nước nhằm buộc nông dân phục tùng mạnh cùng với sự kháng cự không ngừng gia tăng của nông dân Jeolla đối với nhà nước ở các cuộc bầu cử tổng thống tăng lên đáng kể.
Bầu cử Nghị viện Quốc gia, diễn ra chỉ một tháng sau cuộc bầu cử tổng thống, được dẫn dắt bởi những động lực khác. Trái với bầu cử tổng thống thường có vai trò như cuộc bỏ phiếu toàn dân cho vị trí lãnh đạo của Park, cuộc đua Nghị viện Quốc gia một lần nữa liên quan đến trò chơi kinh tế tỉ mỉ của chủ nghĩa bảo trợ. Trong hệ thống bầu cử nhà lập pháp “khu vực” (chiyeokku) theo nguyên tắc đa số giản đơn và phân bổ 50-66% ghế “quốc gia” danh sách (cheonkukku) cho đảng chính trị đạt được số phiếu bầu lớn nhất, DRP giành được 86 ghế tại đơn vị bầu cử và 27 ghế niêm yết, trong khi đó NDP giành được lần lượt 65 và 27 ghế. Đảng cầm quyền giành được đa số cách biệt, điều này đảm bảo sự ủng hộ của nhánh lập pháp cho chính sách kinh tế của Park, nhưng đảng này thiếu đi 23 ghế để có được hai phần ba số ghế Nghị viện Quốc gia. Do đó, DRP không thể thông qua một lần sửa đổi hiến pháp nữa để kéo dài thời gian cầm quyền của Park. Tiến hành một thay đổi nữa trong giới hạn nhiệm kỳ tổng thống hiến định sẽ cần một biện pháp ngoài hiến pháp, dẫn đến quyết định trông cậy vào trưng cầu dân ý toàn quốc của Park năm 1972 (xem chương 8). Cho đến lúc đó, báo chí vẫn gọi cuộc bầu cử năm 1971 là chiến thắng của NDP vì NDP gần như đã tăng gấp đôi số ghế của mình so với bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1967. Trên thực thế, bầu cử Nghị viện Quốc gia năm 1971 cũng là một thắng lợi cho DRP. Đảng cầm quyền có thể giữ được vị thế đa số vì cử tri nông thôn ở các tỉnh Jeolla đã chọn ứng viên DRP, sau khi đã chọn Kim Dae-jung của NDP trong cuộc bầu cử tổng thống. DRP giành được sự ủng hộ của 14 trong số 17 khu vực nông thôn của tỉnh Nam Jeolla và 6 trong số 9 khu vực nông thôn của tỉnh Bắc Jeolla. Lòng trung thành địa phương chủ nghĩa không ngăn được cử tri Jeolla, những người muốn chọn DRP vì họ xem bầu cử Nghị viện Quốc gia là cơ hội để chọn ra người trung gian giữa làng xã và bộ máy quan liêu nhà nước. Mục tiêu đó dễ đạt được nhất bằng cách bầu cho ứng viên DRP.
Xem lại thuyết yeo-chon ya-do
Mối quan hệ giữa cử tri nông thôn và chế độ của Park phức tạp hơn nhiều so với những gì mà quan điểm yeo-chon ya-do thịnh hành cho thấy. Như một phân tích hồi quy của Jae-On Kim và B. C. Koh về mẫu hình bầu cử của cử tri Hàn Quốc cho thấy, “khả năng giải thích” [158] của việc thành thị hóa biến đổi mạnh mẽ trong giai đoạn cầm quyền chính trị của Park, từ cao ở mức 66% trong cuộc bầu cử năm 1971 đến thấp ở mức 2% trong cuộc bầu cử năm 1967. Lựa chọn của khối cử tri nông thôn khá khác nhau ở lần bầu cử này so với lần khác, như các lựa chọn của cử tri Jeolla cho thấy. Họ ủng hộ Park vì cải cách nông thôn năm 1964, nhưng lại bỏ rơi ông để ưu ái Yun Po-sun của NDP vào cao trào của giai đoạn chèn ép nông nghiệp năm 1967. Sau đó, nhiệt liệt hưởng ứng việc ứng cử của người con được ủng hộ của mình vào NDP năm 1971, cử tri Jcolla chống lại Park bất chấp bước ngoặt đảo ngược trong chính sách nông nghiệp của ông. Ngược với hình ảnh người nông dân dễ bị gây ảnh hưởng và thuyết phục được mô tả bởi những người theo thuyết yeo-chon ya-do, cư dân nông thôn Hàn Quốc thể hiện rõ thái độ của họ mỗi khi không hài lòng.
Kể cả chủ nghĩa địa phương cũng đóng góp một số đặc trưng trong hành vi bầu cử mang tính kinh tế, ngoài ra còn hỗ trợ mạnh mẽ hoạt động chính trị theo bản sắc. [159] Nông dân ở các tỉnh Gyeongsang không ngừng hỗ trợ Park không chỉ vì lòng trung thành địa phương chủ nghĩa mà còn vì yếu tố mà Albert O. Hirschman gọi là “hiệu ứng đường hầm”. Hiệu ứng đường hầm xảy ra khi những người rơi lại phía sau chọn cách không nổi loạn mà sẽ kiên trì với niềm tin rằng họ cũng sẽ được chia sẻ trái ngọt từ tăng trưởng kinh tế như những người vốn đã đạt được thành quả trước đó. Nhìn thấy người dẫn đầu trong cuộc đua đến sự hiện đại không tạo ra sự xa lánh, mà thay vào đó là hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn cho những người bị bỏ lại phía sau. Nông dân Gyeongsang không hề có điều kiện tốt hơn nông dân Jeolla, nhưng không như nông dân Jeolla, họ có người thân và bạn bè gần Kumi và Ulsan, hai nơi sau này sẽ nhanh chóng trở thành các trung tâm công nghiệp trọng yếu. Người dân ở Gyeongsang tin rằng sự thịnh vượng của những nơi này một ngày nào đó cũng sẽ thẩm thấu xuống họ. “Chúng tôi không kỳ vọng nhiều thay đổi đến với mình,” một nông dân ở tỉnh Bắc Gyeongsang nhớ lại. “Có thời kỳ nào nông dân được đối xử công bằng không? Không. Vẫn vậy, vì Park xuất thân từ các tỉnh Gyeongsang, nên chúng tôi đã nghĩ rằng sẽ có gì đó cho mình. Chúng tôi cho rằng một tổng thống vùng Gyeongsang phần nào đó sẽ tốt hơn cho chúng tôi hơn tổng thống từ Seoul hoặc Jeolla.”
Phiếu bầu ở nông thôn trong các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia vốn khác về bản chất với bầu cử tổng thống cũng phải được xét đến ở đây. Yeo-chon ya-do xảy ra thường xuyên ở bầu cử Nghị viện Quốc gia hơn so với bầu cử tổng thống, nhưng tương phản với hình ảnh thịnh hành về “người nông dân mang tinh thần tuân thủ”, phiếu bầu của cử tri nông thôn cho DRP dường như dựa trên tính toán lý trí về lợi nhuận và chi phí, không phải hành động mang tinh thần tuân thủ theo người cao tuổi trong làng và mong muốn của quan chức địa phương. Lấy ví dụ về cử tri Jeolla một lần nữa. Năm 1967 và 1971, đa số họ bỏ phiếu chống Park trong các cuộc bầu cử tổng thống và coi đó như cuộc bỏ phiếu toàn dân để bày tỏ khiếu nại của họ, và các cuộc bầu cử tháng sau đó là để lựa chọn người trung gian sẽ vận động hành lang quyết liệt nhất trong các cuộc đấu tranh liên bộ về phân bổ ngân sách. Vì bầu cử nghị viện theo ngay sau bầu cử tổng thống trong giai đoạn 1961-1972, mà bầu cử tổng thống luôn dẫn đến chiến thắng của Park, điều đó đồng nghĩa với việc hỗ trợ DRP trong bầu cử Nghị viện Quốc gia.
Trong trường hợp cử tri nông thôn các tỉnh Gyeongsang, cả lòng trung thành địa phương và tính toán kinh tế đã vận hành cùng hướng. “Chứng tôi bầu cho ứng viên DRP vào Nghị viện Quốc gia,” một người được phỏng vấn nhớ lại, “vì cho rằng anh ta sẽ làm thêm một con đường hoặc một cây cầu nữa cho làng. Đại biểu nghị viện là đảng viên NDP có thể giúp gì cho chúng tôi? Dĩ nhiên, bầu cho ứng viên DRP không đảm bảo rằng anh ta sẽ thật sự thực hiện được lời hứa khi tranh cử. Nếu anh ta không hoàn thành được nhiều, chúng tôi có thể đuổi cổ anh ta khỏi văn phòng bằng cách này hoặc cách khác. Không phải vô tình mà không có đại biểu Nghị viện Quốc gia nào phục vụ ba nhiệm kỳ hoặc hơn ở các khu vực của chúng tôi. Sau hai nhiệm kỳ, tất cả họ đều thất bại vì không được ủng hộ nữa.” Một nông dân khác cũng hoài nghi và ngờ vực tất cả các chính trị gia đảng phái không kém: “Những kẻ lươn lẹo đó đều như nhau. Tất cả họ đều theo đuổi lợi ích riêng một cách ích kỷ. Dù ai thắng cũng có khác biệt gì đâu? Chúng tôi bầu cho người nào đối xử với chúng tôi tốt hơn, tặng chúng tôi một đôi giày cao su hay thậm chí một tô rượu gạo (makgeolli) .” Chính ứng viên DRP, với các nguồn lực của bộ máy quan liêu nhà nước, là những người có thể hấp dẫn cử tri bằng những khuyến khích kinh tế. Cũng người nông dân này đã đề cập về người ứng viên NDP có lần khẩn cầu nông dân rằng họ “uống makgeolli DRP mời, nhưng hãy bầu cho NDP.” “Nhưng con người không phải như vậy,” người được phỏng vấn thừa nhận. “Cuối cùng chúng tôi bầu cho người nào cho hoặc hứa hẹn về hàng hóa kinh tế, kể cả nếu điều đó chỉ có nghĩa là một bát makgeolli?
Rõ ràng, đa số người dân nông thôn bầu theo nhu cầu của họ, kỳ vọng hoặc hiện thời. Một số bầu cho ứng viên DRP với kỳ vọng được cung cấp nhiều hàng hóa công địa phương hơn, như xây dựng cầu đường. Những người khác bầu cho ứng viên nào cung cấp các nhu yếu phẩm gần như ngay lập tức, như bát makgeolli chẳng hạn. Họ làm vậy không chỉ vì cỗ máy chính trị đáng sợ của Park, do MHA, MAP, NACF và các cơ quan quan liêu khác dẫn dắt, mạnh mẽ vận động ủng hộ bầu cử với sự kết hợp hai củ cà rốt và một cây gậy mà còn vì sự khác biệt kỳ vọng giữa ứng viên DRP và NDP theo nhiều cách bị người nông dân xem là không đáng kể. NDP không khác biệt về ý thức hệ với DRP ngoại trừ vấn đề dân chủ tự do. Quan trọng hơn, NDP vẫn là đảng của những người có sức ảnh hưởng, không có khả năng tổ chức để phát triển một chương trình hành động chính sách cụ thể. Ngoài ra, NDP tự xem mình là người thừa kế các lý tưởng từ Cuộc cách mạng Sinh viên ở thành thị ngày 19 tháng 4 năm 1960, sự kiện mà Park đã ngăn cản bằng cuộc đảo chính của ông trong năm tiếp theo. Vì “những kẻ lươn lẹo đó đều như nhau,” nên không hề vô đạo đức hay phi lý khi người nông dân “bán” phiếu bầu của họ cho người trả giá cao hơn. Trong hầu hết các trường hợp, người ra giá cao hơn là ứng viên DRP có nguồn tài trợ tài chính tốt hơn.
Điều này không có ý bác bỏ tầm quan trọng của công tác huy động từ trên xuống diễn ra ở nông thôn vì thắng lợi bầu cử của Park và DRP. Park có sẵn hàng loạt phương tiện để huy động và đã dùng chúng để giành lấy phiếu bầu. Quyền lực đó căn bản hình thành từ việc hiện đại hóa bộ máy nhà nước, tuy nhiên cũng chính xã hội nông thôn truyền thống vốn gắn bó của Hàn Quốc đã thúc đẩy việc sử dụng sức mạnh quan liêu để hỗ trợ huy động tranh cử. Vì bản chất không phụ thuộc của làng xã nông thôn Hàn Quốc, nên những người tổ chức DRP và quan chức nhà nước có thể dễ dàng phân biệt người ủng hộ NDP và DRP. Tình trạng giấu tên rất ít khi tồn tại, nếu không phải là không bao giờ. Một dân làng không thể gặp những người vận động cho NDP mà hàng xóm của anh ta không hay biết. Thông tin về ưu tiên chính trị của anh ta sẽ nhanh chóng lan rộng, khiến anh ta dễ bị DRP trả thù. Đoạn trích sau từ một cuộc phỏng vấn cho thấy điều đó.
Tôi nghĩ đó là vào năm 1963. Vợ tôi vận động cho ứng viên đối lập, người họ hàng xa của cô ấy. Vì đã gặp nhiều người nên tất cả mọi người trong làng đều biết đến công việc chính trị của cô ấy. Sau bầu cử, đại diện NACF đột ngột yêu cầu chúng tôi trả lại các khoản vay tôi đã mượn từ NACF. Tôi mượn tiền để cho tụi nhỏ đi học ở Daegu. Đại diện NACF biết tất cả điều đó nhưng bỗng yêu cầu tôi trả lại vì tôi sử dụng tiền vay không phải để đầu tư cho nông nghiệp, mà dùng vào các mục đích gia đình. Tôi van nài sự thấu hiểu của ông ta, nhưng một ngày nọ ông ta đến cùng với người của mình và dán giấy đỏ lên tất cả mọi thứ tôi có trong nhà. Chúng tôi không thể sử dụng bất cứ đồ dùng gia dụng nào [vì đồ dùng có dán giấy đỏ sẽ bị tịch thu để trả nợ]. Tôi phải vay “tiền nóng” từ những người cho vay tư nhân với lãi suất cao một cách vô lý để trả các khoản nợ nông nghiệp. Cuối cùng, tôi đã mất đi hai (majigi) [mảnh] ruộng.
Hồi tưởng của người nông dân đó trùng khớp với sự thay đổi chính sách nông nghiệp của MAF năm 1964. Để đối phó với lạm phát mất kiểm soát bắt đầu vào cuối năm 1963, NACF dưới sự định hướng của MAF bắt đầu yêu cầu người dân thanh toán nhiều khoản vay quá hạn. Vì vợ của ông ta không còn phù hợp cho chính quyền địa phương, nên người được phỏng vấn ít có khả năng được miễn khỏi chủ trương thắt chặt này.
Mặc dù vậy, cũng chính xã hội nông thôn truyền thống gắn bó này đã cung cấp lá chắn bảo vệ cho một số người ủng hộ NDP. Một nông dân khác nhớ lại: “Không khó để đoán biết ai bầu cho ứng viên NDP. Mọi người trong làng đều biết chuyện của nhau. Nhưng anh ta có thể làm gì khi người thân và hàng xóm của anh ta bầu cho phe đối lập? Sống trong cùng một khu làng với cùng những người đó trong suốt cuộc đời và hiểu quá rõ mọi người trong làng, làm sao anh ta có thể báo cáo những người ủng hộ NDP cho chính quyền địa phương? Điều đó sẽ khiến họ trở thành kẻ thù suốt đời. Khả năng hầu hết chúng ta hành động chống lại những người ủng hộ NDP chỉ vì trưởng thôn yêu cầu như vậy là không thể.”
Các cuộc phỏng vấn cho thấy cử tri nông thôn rất khác biệt so với những hình dung qua cách diễn giải phổ biến của yeo-chon ya-do. Một số nông dân Hàn Quốc, như nông dân ở tỉnh Nam Chungcheong năm 1963 và 1967 và các tỉnh Jeolla năm 1967 và 1971, bày tỏ những khiếu nại của họ bằng cách bầu cho phe đối lập. Tuy nhiên họ thường xuyên để mình bị vận động vì cơ cấu kết quả từ bầu cử hơn là vì tinh thần tuân thủ có trong văn hóa. Họ không chỉ toan tính thuận lợi và bất lợi của việc không ủng hộ Park, mà còn xem xét độ hữu dụng kỳ vọng của họ giữa DRP so với NDP trước khi ra quyết định một cách lý trí trong các cuộc bầu cử Nghị viện Quốc gia. Chiến lược tồn tại này chính là chiến lược mà người nông dân đã học được khi sống trong một nền kinh tế lay lắt, khi mà sự cách biệt giữa tồn tại và chết đói là rất mỏng manh. Vì sự yếu ớt như vậy trong đời sống nông thôn, nên hầu hết nông dân có xu hướng giữ im lặng về vấn đề của họ cho đến khi họ không thể chịu nổi. Chắc chắn giống với khái niệm “nông dân lý trí” của James C. Scott, [160] người nông dân Hàn Quốc ưu tiên việc tối thiểu hóa mất mát hơn là tối đa hóa lợi ích vì những hình phạt phải nhận sau thất bại là rất nặng nề. Ngược lại, trong các cuộc bầu cử tổng thống, không chỉ cử tri Gyeongsang (1963, 1967 và 1971) và Chungcheong (1963 và 1967), mà cả Jeolla (1971) cũng đi theo bản năng địa phương chủ nghĩa hơn là theo những lợi ích kinh tế theo nghĩa hẹp, khi người con của những vùng đó được ủng hộ chạy đua vào vị trí ứng viên tổng thống. Ở những nơi khác, họ xem bầu cử tổng thống như cuộc bỏ phiếu toàn dân cho chính sách nông nghiệp của Park.
Tương tự như hành động của những người nông dân lý trí trong bầu cử Nghị viện Quốc gia, Park là một nhà huy động lý trí. Hiểu rằng nông dân Hàn Quốc cố gắng tối thiểu hóa tổn thất thay vì tối đa hóa lợi ích, Park trang bị cho cỗ máy chính trị hai củ cà rốt và một cây gậy. Park biết mình phải huy động nông dân mà không cho họ quá nhiều, và ông đi theo bản năng này. Khi ông cảm thấy khó khăn trong việc theo đuổi “tăng trưởng cân bằng”, thì nông thôn chính là khu vực phải gánh chịu hậu quả từ những cắt giảm ngân sách, như giai đoạn chèn ép nông nghiệp năm 1964-1968. Park cố gắng thu được nhiều nhất từ những điều ít ỏi ông làm cho nông dân Hàn Quốc. Ông tổ chức bầu cử Nghị viện Quốc gia ngay sau cuộc đua tổng thống nhằm khiến các làng xã xem các ứng viên DRP của ông như một lựa chọn hấp dẫn để kết nối dân làng với bộ máy quan liêu nhà nước. Khi Park sử dụng chính sách chèn ép nông nghiệp để thúc đẩy lộ trình công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu, ông cẩn thận để chèn ép nông nghiệp không trở nên quá rõ rệt bằng cách áp dụng các phương pháp ép buộc tiết kiệm gián tiếp, ví dụ như tài trợ lạm phát. Trong năm bầu cử, ông cũng cố gắng củng cố, dù là tạm thời, hình ảnh “người con của đất” bằng cách hạn chế nguồn lực chạy trực tiếp ra khỏi nông thôn, và cùng lúc tăng cường trợ cấp trực tiếp cho khu vực nông thôn. Và hiểu được kỳ vọng thấp của dân làng về khác biệt đáng chú ý giữa ứng viên DRP và NDP trong bầu cử Nghị viện Quốc gia, Park đã yêu cầu ứng viên DRP tập trung hứa hẹn về các dự án xây dựng được đánh giá cao ở địa phương, hoặc chỉ đơn giản gửi đi một đôi giày cao su, một bát makgeolli, một cái khăn, hay thậm chí là tiền mặt đưa trực tiếp để có được đa số ghế lập pháp.