Kỷ Nguyên Park Chung Hee Và Quá Trình Phát Triển Thần Kỳ Của Hàn Quốc

Lượt đọc: 798 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN IV
QUAN HỆ QUỐC TẾ
Chương 14
bình thường hóa quan hệ với nhật bản:
hướng đến một quan hệ đối tác mới
lee jung-hoon

Bất kỳ ai kể cả những người không quen thuộc với lịch sử Đông Á cũng sẽ tin vào bản chất độc nhất và phức tạp trong quan hệ Hàn - Nhật. Tính mâu thuẫn trong mối quan hệ thể hiện ở việc dù hai bên vẫn dễ bị tổn thương trước những mâu thuẫn lặp đi lặp lại về các di sản thực dân chưa được giải quyết, nhưng họ vẫn giữ quan hệ cộng sinh từ giữa những năm 1960. Bất chấp những cơn thịnh nộ bài Nhật vẫn thi thoảng nổ ra ở Hàn Quốc, Nhật Bản đã trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Hàn Quốc trong gần bốn thập niên, chỉ đứng thứ hai sau Hoa Kỳ. Những năm 1990 và thiên niên kỷ mới chứng kiến sự hợp tác an ninh mở rộng giữa hai nước, tuy nhiên các phong trào chống Nhật vẫn bùng lên khi có vấn đề về chủ quyền của hai đảo nhỏ và nhiều dải đá hình thành nên Tokdo (hay Takeshima theo tiếng Nhật), hay vấn đề lời xin lỗi của người Nhật về những sai trái thời thực dân. Mặc dù sự đối xử theo pháp luật dành cho 680.000 cư dân Hàn Quốc ở Nhật Bản đã cải thiện, nhưng sự bất lực của chính phủ Nhật khi giải quyết vấn đề “phụ nữ giải khuây” [181] từ thời thực dân đã gây nên nhiều nghi ngờ về lòng chân thành của Nhật Bản trong việc giải quyết quá khứ quân phiệt. Nhiều vấn đề đã tạo nên vết đen trong quan hệ Hàn Quốc-Nhật Bản hiện tại, từ những nghi vấn quá khứ, các xung đột bản sắc đến lời xin lỗi chính trị, nghề đánh cá và các quyền lãnh thổ, đều đáng chú ý vào thời điểm bình thường hóa ngoại giao với Nhật Bản năm 1965 như ngày nay. Khía cạnh “chính trị” trong mối quan hệ Hàn - Nhật có vẻ đóng băng trong khi khía cạnh “kinh tế" không ngừng cải thiện thành mối hợp tác thân thiết.

Theo nhiều cách, sự sóng đôi của một mối quan hệ chính trị rạn nứt với mối hợp tác kinh tế mạnh mẽ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản đã tác động đến cách thức nhìn nhận Park Chung Hee qua những nỗ lực bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Nhật Bản của ông năm 1965. Thay vì tìm kiếm lời xin lỗi và sự ân hận “thực sự” từ phía Nhật Bản vì những sai trái thời thực dân và buộc Tokyo công khai công nhận chủ quyền của Hàn Quốc ở Tokdo như đòi hỏi của chaeya và các đảng phái đối lập, Park chọn cách tiếp cận thực dụng để đạt được lợi ích kinh tế cũng như ổn định chính trị. Park nên được ca ngợi vì đã tạo ra hiện đại hóa bằng cách, bên cạnh những yếu tố khác, dẫn dắt quan hệ Hàn - Nhật vào một con đường mới mang tinh thần hợp tác, hay Park nên bị chỉ trích vì đã gạt bỏ lời yêu cầu của công chúng để chấp nhận vấn đề quá khứ nhanh chóng vì lợi ích kinh tế? Cũng như có nhiều tranh cãi khi đánh giá 18 năm cầm quyền của Park, vai trò của ông khi thiết lập mối quan hệ mới Hàn - Nhật cũng đẩy những đánh giá trái chiều. Rõ ràng là Park đã phá vỡ những rào cản quá khứ và đưa mối quan hệ song phương này vào một lộ trình tích cực hơn, mang lại lợi ích chung lần đầu tiên trong thế kỷ XX. Tuy nhiên, cũng rõ ràng là giai đoạn hòa giải thật sự không bắt kịp được tốc độ phát triển ở các mối quan hệ song phương rộng hơn.

Câu hỏi liệu Park có bỏ qua cơ hội có được một giai đoạn hòa giải thật sự hay không là cực kỳ khó trả lời vì thiếu những bằng chứng vững vàng. Hiện giờ, dù không thường được đặt ra, nhưng có lẽ câu hỏi xác đáng hơn nên là giai đoạn hòa giải chính trị có khả dĩ hay không nếu những thỏa thuận của Park với Nhật Bản đi theo hướng khác. Park có thể tạo ra giai đoạn hòa giải thật sự giữa Hàn Quốc và Nhật Bản không nếu ông giữ lập trường cứng rắn hơn khi giải quyết những vấn đề quá khứ? Nhật Bản phải làm gì để thỏa mãn yêu cầu khắc phục sai lầm lịch sử từ phía Hàn Quốc, và Nhật Bản có sẵn sàng để đáp ứng những yêu cầu này không? Với tình trạng mối quan hệ Hàn - Nhật dưới thời Lý Thừa Vãn cầm quyền (1948-1960), khó có thể tưởng tượng rằng Park có thể tạo ra điều khác biệt theo cách nào đó nếu chọn một quan điểm chống Nhật mạnh mẽ hơn. Rất có khả năng là hòa giải lịch sử vẫn là điều bất khả thi đối với cả hai nước vào giữa những năm 1960, cũng như ngày nay. Rõ ràng, Park cho rằng lịch sử không bao giờ có thể sửa sai. Dù sao, Hàn Quốc vẫn phải sống trong cái bóng lịch sử đau thương trong khi cố gắng tự đưa mình vào một quỹ đạo phát triển lịch sử mới thông qua chiến lược pu-kuk kang-byeong (nước giàu, quân mạnh) của Park.

Về phía Nhật Bản, tầm quan trọng của việc Park lên nắm quyền là ở nhờ ông mà Hàn Quốc cuối cùng cũng có một người không chỉ nhiệt thành, mà còn thật sự có sức mạnh chính trị để bình thường hóa quan hệ với quốc gia cựu thù và cũng là nước đã xâm chiếm đất nước này trước kia, bất chấp sự chống đối dữ dội trong nước. Người tiền nhiệm của Park, Chang Myon (1960-1961), cũng từng nhiệt tình cải thiện quan hệ với Nhật Bản, tuy nhiên lại không thể thực hiện được vì uy tín chính trị trong nước yếu. Tuy nhiên Park, người như chúng ta thấy đã lên nắm quyền theo cách không hề dân chủ, cần phải tìm càng nhiều cách càng tốt để bù đắp cho sự thiếu hụt tính chính danh bầu cử hiển nhiên của mình để từ đó củng cố quyền lực, điều hành xã hội thường xuyên tranh cãi của Hàn Quốc và thiết lập nền móng cho quá trình công nghiệp hóa. Đây là lý do để hình thành hiệp ước với Nhật Bản. Các liên kết thương mại không ràng buộc với Nhật Bản được xem là siêu quan trọng không chỉ vì chúng giúp tăng cường nền tảng tài chính cho liên minh chính trị cầm quyền của Park, mà còn vì chúng giúp thúc đẩy các kế hoạch phát triển của Park và, thông qua chúng, ông cải thiện tính chính danh chính trị dựa trên thành tựu kinh tế. Hơn nữa, bằng cách thỏa mãn chính sách từ lâu của Mỹ là tăng cường các liên kiết khu vực ba bên giữa Hàn Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ vì các lợi ích an ninh khu vực chung, sáng kiến hiệp ước cũng nhằm mục đích tăng cường phòng vệ quân sự chống lại Triều Tiên, cũng như ngăn cản Hoa Kỳ can thiệp vào chính trị nội bộ của Hàn Quốc theo hướng ủng hộ phe đối lập. Cũng như quyết định gửi lính chiến đấu đến miền Nam Việt Nam năm 1965 của Park (xem chương 14), giải pháp hiệp ước là một trường hợp khác mà Park sử dụng chính sách ngoại giao như một công cụ hiện đại hóa kinh tế, củng cố quyền lực và phòng vệ quân sự.

Theo quan điểm của Park, bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản khi không có lời xin lỗi công khai của nước này không làm cho ông giảm đi tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Trong chế độ của Park, tinh thần panil (bài Nhật) bị kìm nén để nhường chỗ cho một cách tiếp cận thực dụng hơn nhưng vẫn mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa kukil (đánh Nhật). Bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản được xem như là một phương tiện để có được vốn, công nghệ và thị trường cần thiết tạo điều kiện cho Hàn Quốc bắt kịp và cuối cùng là đánh bại Nhật Bản trong chính cuộc chơi hiện đại hóa theo chủ nghĩa trung ương tập quyền của Hàn Quốc. Chắc chắn rằng nhiều người Hàn Quốc đã cáo buộc Park theo những xu hướng thân Nhật (chinil), một quan điểm mà một số người vẫn giữ đến ngày nay. Những người phản đối này bỏ qua sự thật rằng vấn đề hòa giải - thông qua lời xin lỗi phù hợp và thái độ ăn năn của người Nhật — thật sự nằm ngoài khả năng của bất kỳ ai lúc bấy giờ. Đối với những nhà dân tộc chủ nghĩa chống Nhật quyết tâm buộc Nhật Bản phải đền bù cho những trải nghiệm thực dân nhục nhã của Hàn Quốc, Park là một đối tượng thuận lợi để trút cảm giác thất vọng sâu sắc về những gì đã xảy ra và những điều ít ỏi có thể thực hiện được trong quá khứ. Sự biến động trong mối quan hệ Hàn — Nhật, nếu có ý nghĩa nào đó, sẽ chỉ ra các cố gắng có ý đồ, chứ không phải mù quáng của Park, nhằm giải quyết các tuyên bố gây xung đột về địa chính trị, địa kinh tế, chính trị trong nước và các di sản lịch sử bất chấp cáo buộc từ những nhân tố chống Park, chống Nhật ở Hàn Quốc những năm qua.

Lợi ích hội tụ và đặc trưng phân kỳ

Hiệp ước bình thường hóa làm hiện rõ sự khác biệt giữa Park và Lý Thừa Vãn trong cách tiếp cận với Nhật Bản. Cá nhân hóa chủ nghĩa dân tộc Hàn Quốc chống Nhật, Lý đòi hỏi lời xin lỗi công khai từ Nhật Bản vì những sai trái thực dân. Khi Nhật Bản không thể thực hiện, Lý cố ý thúc đẩy những cảm tình chống Nhật không chỉ để thỏa mẫn sự căm ghét Nhật thực sự của ông mà còn để huy động công chúng ủng hộ Đảng Tự do (LP) với mục tiêu ổn định chính trị. Khi đã chiến đấu cả đời để có được độc lập từ Nhật Bản, bản năng sau giải phóng của ông là sẽ tiếp tục chống Nhật. Nhật Bản càng chống cự không ăn năn, các chiến dịch chính trị chống Nhật của ông càng trở nên căng thẳng.

Do đó, trong vòng 6 năm sau khi giải phóng Hàn Quốc khỏi Nhật Bản năm 1945, hai nước sống cách biệt, gần như hoàn toàn không có các kênh liên lạc chính thức. Chỉ với sự gia tăng cường độ chiến tranh lạnh ở Đông Á và những cuộc đàm phán tiếp đó vì Hiệp ước Hòa bình San Francisco mà bối cảnh để đối thoại về vấn đề bình thường hóa ngoại giao mới xuất hiện. Kể cả khi đó, khoảng cách vẫn còn quá rộng để các cuộc gặp song phương thi thoảng diễn ra có thể mang lại những kết quả cụ thể. Lý không cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải hợp tác với Nhật Bản, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ tiếp tục cam kết đóng quân ở Hàn Quốc. Cũng vậy, Nhật Bản không gấp gáp phải bình thường hóa quan hệ. Dĩ nhiên, nước này muốn giải quyết xung đột về lãnh hải và các quyền đánh cá với Hàn Quốc nhưng không phải với cái giá chính trị là đưa ra lời xin lỗi công khai về chế độ thực dân của mình. Kết quả là các cuộc đàm phán bình thường hóa ngoại giao trở nên nhàm chán suốt những năm 1950.

Với lễ nhậm chức của chính quyền Đảng Dân chủ (DP) của Chang Myon năm 1960, lợi ích lớn hơn trong việc cải thiện quan hệ Hàn - Nhật được hình thành. Trái với Lý Thừa Vãn, người có mối quan tâm lớn nhất là tăng cường liên minh Mỹ - Hàn để phòng vệ trước Triều Tiên, Chang đặt tăng trưởng kinh tế làm ưu tiên cao nhất vì ông thấy đó là cách duy nhất để tạo tính chính danh chính trị cho chính quyền DP chia rẽ của ông. Sự công nhận tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế trong việc tạo ra tính chính danh tự nhiên khuyến khích Chang phát triển các mối liên kết chặt chẽ hơn với Nhật Bản, nước có nền kinh tế đang không ngừng mạnh lên. Ông trông chờ vào Nhật Bản như một nguồn cung cấp viện trợ kinh tế rất cần thiết chứ không phải là một kẻ thù vĩnh viễn cần phải đánh gục. Để khuyến khích mối hợp tác song phương, Chang mời các chính trị gia và các lãnh đạo doanh nghiệp Nhật Bản đến Hàn Quốc, tự do hóa hoạt động bán hàng hóa Nhật Bản, và chấm dứt đưa ra các đánh giá mang tính khiêu khích về Nhật Bản. Tuy nhiên khi tìm cách thúc đẩy các cuộc họp bình thường hóa, ông đã bị áp đảo bởi các lực lượng chống đối, bao gồm các phong trào bất đồng chính kiến do sinh viên lãnh đạo, các phong trào này đã tận dụng sự thiếu khả năng lãnh đạo của ông trong DP để chia rẽ bè phái. Cuối cùng, Chang không thể hành động như mong muốn để tạo ra thỏa thuận chính trị, kinh tế và lịch sử với Nhật Bản. Thủ tướng Nhật Ikeada Hayato cũng không hỗ trợ mà chọn lập trường chờ đợi và quan sát khi đối mặt với những lời mời chính trị của Chang Myon nhằm thu được tối đa sự nhượng bộ từ Hàn Quốc. Thời gian dĩ nhiên là một nhân tố quan trọng trong chính quyền Chang Myon yếu ớt, bị bao vây bởi những cuộc biểu tình quần chúng. Không may là không còn thời gian. Ngay khi Chang dũng cảm quyết định phá vỡ tình trạng bế tắc, ông đã bị buộc phải từ chức bởi cuộc đảo chính năm 1961 của Park.

Park Chung Hee có tiếng là một chuyên gia về nước Nhật với sự nghiệp trước đây của ông trong Quân đội Hoàng gia Nhật Bản. Giận dữ vì những chỉ trích dành cho mình, Park làm rõ sự ngưỡng mộ của ông đối với những nhà cách tân Minh Trị của Nhật Bản thế kỷ XIX và nhiệt tình theo đuổi hiệp ước bình thường hóa với Nhật khi ông có được quyền lực. Tuy nhiên, trái với hình ảnh kẻ bắt tay với thực dân mà các đối thủ chính trị và những nhà hoạt động chaeya đã vẽ nên về Park, ông không hề cho rằng việc học theo những nhà cách tân Minh Trị khiến ông giảm đi tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Ngược lại, những phát biểu của ông về Nhật Bản Minh Trị bị ảnh hưởng nặng nề bởi các tư tưởng và tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Park ngưỡng mộ những nhà cách tân Nhật Bản vì ông cũng muốn giúp Hàn Quốc trở nên giàu có về mặt kinh tế và hùng mạnh về mặt quân sự như Nhật Bản Minh Trị. Park còn hơn cả một người hùng quân sự. Ông là một lãnh đạo có quyết tâm sâu sắc, với sứ mệnh tự đặt ra là đưa Hàn Quốc ra khỏi tình trạng nghèo đói nặng nề. Đối với Park, Nhật Bản Minh Trị là một mô hình để sao chép cho những nhà dân tộc chủ nghĩa Hàn Quốc; nó chỉ ra con đường đến với “nước giàu, quân mạnh”.

Kể cả nếu là một người có cảm tình với Nhật Bản, tình cảm của Park cũng chỉ là nhân tố phụ trong quyết định vận động Nhật Bản hỗ trợ kinh tế và công nghệ. Những đòi hỏi vào thời của ông buộc Park phải dựa vào Nhật Bản, phải gắn tương lai kinh tế của Hàn Quốc với tương lai kinh tế của quốc gia láng giềng này. Vào thời điểm Park lên nắm quyền, GNP bình quân đầu người hàng năm của Hàn Quốc là 80 đô-la Mỹ, chỉ cao hơn 9 đô-la Mỹ so với thời điểm cuối Chiến tranh Triều Tiên năm 1953. Tốc độ tăng trưởng hàng năm là 1,1%, thâm hụt thương mại đạt đến 310 triệu đô-la Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp 11,7% và lạm phát ở mức 10,5%. Không chỉ vậy, Hoa Kỳ đang giảm dần viện trợ cho Hàn Quốc như một phần trong chính sách ngoại giao toàn cầu để thay thế trợ cấp chính phủ bằng các khoản cho vay. Dao động ở mức hơn 200 triệu đô-la Mỹ đến năm 1963, viện trợ Mỹ giảm còn 149,3 triệu đô-la Mỹ năm 1964 và 131,4 triệu đô-la Mỹ năm 1965. Như trưởng ban cố vấn Yi Dong-won đề nghị và Park đồng ý, vì sự bất lực của Hàn Quốc khi ký hợp đồng vay và chuyển giao công nghệ nước ngoài theo con đường thương mại, cần phải chuyển sang ngoại giao để đạt được thứ mà Hàn Quốc không thể đạt được thông qua các lực lượng thị trường.

Trên thực thế, nếu đất nước của ông tìm được những nguồn vốn và công nghệ nước ngoài thay thế, Park chắc hẳn sẽ phải cân nhắc trước khi mạo hiểm một cuộc khủng hoảng chính trị mà ông tự gánh lấy trong giai đoạn 1963-1965 bằng cách vội vàng lao vào bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản. Trong ngắn hạn, sự tái lập quan hệ gây tổn hại hơn là giúp ích cho các nỗ lực của Park nhằm củng cố nền tảng quyền lực trong nước vì ông bị kéo vào hoạt động chính trị theo bản sắc quốc gia đầy cảm tính. Thực chất việc ông mạo hiểm quyền thống trị chính trị của mình khi thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản cho thấy ông không có những phương tiện khác ngoài nền tảng thị trường để có được vốn và công nghệ. Đối với lực lượng đối lập cực đoan trong nước, Park ngang ngược nói “Hãy nhổ lên mộ tôi”, ông tin rằng tăng trưởng kinh tế cuối cùng sẽ biện minh cho quyết định thỏa thuận với Nhật Bản của mình. May mắn cho Park, Kế hoạch Phát triển Kinh tế 5 năm (FYEDP) lần thứ nhất thành công ngoài mong đợi vào năm 1964, khiến Park tin tưởng vào tiềm năng tăng trưởng của Hàn Quốc và nhờ đó càng tập trung hơn vào hiệp ước bình thường hóa. [182]

Lúc bấy giờ cũng có những lý do an ninh cho việc bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản. Hoa Kỳ lập luận và Park đồng ý rằng việc ngăn chặn mối đe dọa từ chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á không thể hiệu quả một khi các liên minh của Hoa Kỳ với Hàn Quốc và Nhật Bản còn chưa được hình thành. Căng thẳng chiến tranh lạnh đã tăng cao trên toàn thế giới vào đầu những năm 1960. Với sự kiện máy bay do thám U-2 và các tình hình khủng hoảng manh nha hình thành ở Cuba, Congo, Lào và miền Nam Việt Nam, quan điểm chi phối ở Hàn Quốc lúc đó là Xô-viết đang giành thế thượng phong trong chiến tranh lạnh. Từng là một trong những người chủ chốt ủng hộ quan điểm này, John F. Kennedy đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960 nhờ thế mạnh từ cam kết chắc chắn của ông về việc chống chủ nghĩa cộng sản, bên cạnh những yếu tố khác. Các sĩ quan quân đội trẻ tuổi đã lật đổ Thủ tướng Chang Myon tháng 5 năm 1961 cũng lấy điểm yếu trong nước của Hàn Quốc khi đối mặt với mối đe dọa đang tăng cao từ chủ nghĩa cộng sản là lý do quan trọng nhất của cuộc đảo chính.

Do đó, năm 1961 có vẻ hứa hẹn cho một sự đột phá ở mối quan hệ Hàn - Nhật. Đảo chính quân sự đã giải thoát Hàn Quốc ra khỏi lập trường chống Nhật ngoan cố của Lý Thừa Vãn cũng như khỏi sự thay đổi chính trị chậm chạp và sự bất lực trong quản trị của Chang Myon. Park tỏ ra có sức mạnh để đảm nhận những thử thách gồm cảm tình chống Nhật của công chúng cũng như tình trạng phức tạp trong bộ máy quan liêu. Chính quyền quân sự có vẻ đang sở hữu sức mạnh chính trị cũng như khát khao không chỉ đưa hiệp ước bình thường hóa đến một kết thúc thành công mà còn phải điều hành quốc gia tiến lên con đường tăng trưởng định hướng xuất khẩu trên cơ sở hiệp ước đó. Câu hỏi là làm cách nào để khiến ngoại giao thực hiện được công việc mà thị trường không thể làm cho Hàn Quốc.

Yi Dong-won ủng hộ chiến lược tìm kiếm vốn và công nghệ từ Nhật Bản dựa trên am hiểu chính trị về những vấn đề thu hút Nhật Bản:

Những gì còn thiếu ở các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các công cụ tài chính có thể được bù đắp thông qua những bước đi ngoại giao khéo léo tùy thời điểm chiến lược. Chính sách ngoại giao có thể xây dựng hoặc phá hủy một quốc gia. Nếu [chính quyền quân sự] có thể tập trung vào việc tăng cường các liên kết kinh tế với Hoa Kỳ cũng mạnh mẽ như với các liên kết an ninh và tập trung bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc có thể thu về rất nhiều viện trợ kinh tế ở thời điểm thích hợp. Với các nguồn lực có được thông qua ngoại giao, tôi tin [chính quyền quân sự] sẽ có cơ hội tạo ra điều thần kỳ về kinh tế.

Kể cả trước khi Yi Dong-won thúc đẩy ý tưởng hiện đại hóa kinh tế do ngoại giao dẫn dắt, Park đã tự hạ quyết tâm chính trị với chính sách theo đuổi thỏa thuận nhanh với Nhật Bản về các vấn đề song phương lúc bấy giờ nhằm dọn đường cho hợp tác kinh tế. Ngày 22 tháng 5 năm 1961, chỉ 6 ngày sau cuộc đảo chính, Park yêu cầu Bộ trưởng Ngoại giao Kim Hong-il, thiếu tướng trong lực lượng dự bị, tổ chức buổi họp báo để công bố rằng chính quyền quân sự quan tâm đến việc tiếp tục các cuộc đàm phán với Nhật Bản về vấn đề bình thường hóa quan hệ vào ngày sớm nhất có thể. Ngày 15 tháng 7, Yi Tong-hwan, cựu sinh viên Đại học Tokyo và lúc bấy giờ là Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại Hàn Quốc, được chỉ định làm bộ trưởng có toàn quyền với văn phòng đại diện Hàn Quốc ở Nhật Bản, với mục tiêu tận dụng tất cả các mối liên kết của khu vực tư nhân với các lãnh đạo chính trị và doanh nghiệp Nhật Bản nhằm để người Nhật biết đến các ý định bình thường hóa ngoại giao từ đầu. [183] Thế lực chỉ đạo đằng sau sáng kiến này của Hàn Quốc là Kim Jong-pil, cánh tay phải của Park và là giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA) mới thành lập.

Đối với Hoa Kỳ, khi cảm giác hoảng hốt ban đầu vì không biết chuyện gì đang xảy ra với cuộc đảo chính tháng 5 năm 1961 qua đi, sự cầm quyền của Park được xem như là cơ hội để củng cố liên kết Seoul-Tokyo trong hệ thống các liên minh an ninh song phương của Mỹ. Chính quyền Kennedy đặc biệt thù địch với chủ nghĩa cộng sản, và xem Park, người trung thành chống chủ nghĩa cộng sản, là một yếu tố bổ sung đáng mừng trong danh sách các đối tác thế yếu thuộc thế giới thứ ba của nước này. [184] Dù Hoa Kỳ đánh giá cao những thành tựu dân chủ của Chang Myon, nhưng sự thật là ngày càng nhiều quan chức Mỹ trở nên hoài nghi về khả năng kiểm soát các lực lượng cánh tả đang nổi dậy của Chang ở Hàn Quốc. Giờ đây, với một vị lãnh đạo quân sự thực dụng và hùng mạnh đứng đầu, Hoa Kỳ hy vọng ngăn chặn được các lực lượng cánh tả ở Hàn Quốc cũng như xây dựng liên minh tam giác an ninh Đông Á giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc, như siêu cường đang nổi lên này vốn nuôi ý định từ thời của Ngoại trưởng John Foster Dulles. Không lâu sau cuộc đảo chính, Ủy ban Quan hệ Quốc tế Hạ viện Mỹ khuyến nghị Hội đồng An ninh Quốc gia tiến hành những biện pháp cải thiện quan hệ Hàn - Nhật: “Hãy thảo luận với Thủ tướng Nhật trong lần viếng thăm sắp tới, việc lên kế hoạch của Mỹ cho [Nam] Triều Tiên cùng cách thức thu hẹp khoảng cách kinh tế và chính trị giữa [Nam] Triều Tiên và Nhật Bản... Cần phải hiểu là dù Hoa Kỳ không chủ động tham gia vào các cuộc đàm phán nhưng cường quốc này đã sẵn sàng hành động như một chất xúc tác khi cố gắng đạt được thỏa thuận. Ngài Thủ tướng cần được khuyến khích tiếp tục các nỗ lực vốn đã khởi động gần đây nhằm phát triển thương mại Nhật Bản với [Nam] Triều Tiên, và nhằm cung cấp hỗ trợ kinh tế cho sự phát triển của [Nam] Triều Tiên có phối hợp với các chương trình của Mỹ.” Có lẽ là chính vì viễn cảnh xây dựng mạng lưới an ninh ba bên này mà Kennedy tiếp đón Park ở Washington ngày 14 tháng 11 năm 1961 để mở rộng sự ủng hộ liên tục của Hoa Kỳ dành cho Hàn Quốc, một động thái được nhìn nhận là sự ủng hộ dành cho quyền lãnh đạo chính trị của Park. [185]

Cũng như khi tin tức về cuộc đảo chính quân sự ở Hàn Quốc gây ngạc nhiên cho Hoa Kỳ, Nhật Bản hoàn toàn bất ngờ khi Park nắm quyền năm 1961. Cần có thời gian để hiểu được ý nghĩa đầy đủ của việc Park lên nắm quyền. Chỉ một tuần trước cuộc đảo chính quân sự tháng 5 năm 1961, phái đoàn nghị viện Nhật Bản trong một chuyến thăm Seoul đã vẽ ra một bức tranh màu hồng về tình hình chính trị nơi đây. Iseki Yujiro, với vai trò thành viên Bộ Ngoại giao của phái đoàn, đảm bảo với Ikeda rằng chính quyền Chang Myon “cực kỳ ổn định”. Noda Uichi, trưởng phái đoàn, cũng với tinh thần lạc quan đó, đánh giá những thành công của Chang Myon và khuyến khích Nghị viện Nhật Bản đặt niềm tin vào khả năng hoàn thành các cuộc đàm phán bình thường hóa của ông này. Một cách tự nhiên, tin tức về cuộc đảo chính không được đánh giá kỹ lưỡng bởi những người quan sát Hàn Quốc, họ bận rộn thuyết phục chính quyền của họ hợp tác với Chang Myon nhằm tạo ra quan hệ hợp tác kinh tế rộng hơn với Hàn Quốc. Giống như Kennedy, Ikeda Hayato cũng không vui vẻ gì khi chứng kiến chính quyền dân sự được bầu lên một cách dân chủ lại bị thay thế bởi một cuộc đảo chính quân sự. Các báo cáo về sự tham gia buổi đầu của Park vào các hoạt động chính trị do chủ nghĩa cộng sản truyền cảm hứng cũng không giúp ích gì. Quan ngại về định hướng tương lai của Hàn Quốc và hệ quả tiêu cực tiềm tàng cho an ninh Nhật Bản, Ikeda sốt sắng thu thập những thông tin về Park, lúc bấy giờ đang là một lãnh đạo tương đối ít người biết.

Không lâu sau, những lời đề nghị ngoại giao từ vị lãnh đạo mới của Hàn Quốc đã làm thay đổi tình hình mối quan hệ với Nhật Bản theo hướng có lợi cho Park. Đối với nhiều chính trị gia và quan chức Nhật Bản, cuộc đảo chính quân sự bắt đầu được xem là cơ hội hiếm có để theo đuổi các cuộc đàm phán bình thường hóa trên tinh thần thực dụng. Trong khi Chang Myon đã tỏ ra quá yếu về mặt chính trị để xóa bỏ được những ràng buộc từ ý kiến của công chúng Hàn Quốc, Park dường như có thể vượt qua các rào cản chính trị xã hội trong việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước nhằm đạt được thành công cho các chương trình phát triển kinh tế đầy tham vọng của ông. Những quan điểm như vậy càng có thêm độ tin cậy khi Park dùng vũ lực để ngăn chặn báo chí, các đảng phái chính trị, giới trí thức và các nhóm lợi ích nhằm thực thi tầm nhìn hiện đại hóa của ông. Cựu Thủ tướng Kishi Nobusuke có lần quan sát: “May mắn thay, Hàn Quốc được cai trị bởi một chế độ quân sự nơi Park Chung Hee và rất nhiều vị lãnh đạo có thể tự mình quyết định mọi chuyện... Chúng ta [cần phải] thuyết phục Park. [Chúng ta] có thể kỳ vọng ông ta thực hiện được, [đặc biệt từ khi] không có Nghị viện Quốc gia [ngăn cản ông ta]. Nếu báo chí phản đối, có thể kỳ vọng Park sẽ ngăn cản [fuzuru] họ.”

Kishi vốn đi đầu trong giải pháp xây dựng quan hệ gắn bó với Hàn Quốc của các nhà bảo thủ Nhật Bản. Lần này, được khuyến khích bởi tình trạng khẩn cấp của một chính quyền quân sự thực dụng, ông ủng hộ mạnh mẽ một thỏa thuận nhanh chóng về những khiếu nại tài sản [186] nhằm tránh gây nguy hiểm đến lợi ích an ninh của Nhật Bản trong tương lai. Trong mắt ông, sự sụp đổ chính quyền quân sự của Park có thể dẫn đến sự trỗi dậy của các lực lượng chính trị chống Nhật ở Hàn Quốc. Một cách rõ ràng, Kishi lý giải lập luận của ông về việc ủng hộ hợp tác chặt chẽ với chính quyền quân sự:

Thử hình dung Nhật Bản sẽ như thế nào nếu lực lượng cộng sản có thể mở rộng ảnh hưởng đến tận Busan... Lý do mà cha ông chúng ta, ít nhất từ thời Minh Trị trở đi, đã phải trải qua quá nhiều rắc rối với Bán đảo Triều Tiên - [kể cả việc phát động] Chiến tranh Trung - Nhật [1894-1895] và Chiến tranh Nga-Nhật [1904-1905] - không phải vì những tham vọng đế quốc mà vì quan ngại của họ về an ninh Nhật Bản, vốn luôn phải đối mặt với khả năng đáng sợ khi các lực lượng thù địch nổi lên ở [Bán đảo Triều Tiên]... Đó là lý do Nhật Bản phải bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc, cùng Hoa Kỳ cung cấp viện trợ kinh tế khổng lồ và qua đó góp phần xây dựng nền tảng kinh tế Hàn Quốc... Nếu chúng ta không làm gì cả và để cho Park sụp đổ, những hậu quả thảm khốc nhất sẽ đến. Hiện giờ không phải là lúc để ngồi chờ.

Sự ám ảnh về một “lá cờ đỏ phấp phới ở Busan” (Busan cheokkiron) thường xuyên được các nhà bảo thủ Nhật Bản đặt ra để biện minh cho lời kêu gọi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc của họ. Lần này, với cảm giác không chắc chắn, cơ hội và sự cấp thiết do cuộc đảo chính quân sự tạo nên, Kishi tiến hành vận động sự ủng hộ của LDP cho quá trình bình thường hóa quan hệ. Bằng cách xác định các mối quan ngại an ninh của ông về những vấn đề địa chính trị của Nhật Bản từ thời Minh Trị, Kishi xác định chính sách Hàn Quốc của ông sẽ phù hợp với chính sách truyền thống của Nhật Bản ở lục địa châu Á.

Đồng tình với ông là Kōnō Ichirō, Bộ trưởng Nông nghiệp và là lãnh đạo lớn trong các phe phái LDP. Không phải là một chuyên gia về Hàn Quốc, nhưng là chuyên gia về Liên Xô, và ở một chừng mực thấp hơn, là chuyên gia về Trung Quốc, Kōnō bắt đầu quan tâm đến các cuộc đàm phán bình thường hóa chủ yếu như là một phần của chính sách khu vực của Nhật Bản nhằm chống lại các mối đe dọa từ Xô-viết và Trung Quốc. Trong các cuộc gặp với Ikeda, Kōnō cố vấn: “Chúng ta có cơ hội trước mắt tốt nhất kể từ khi kết thúc chiến tranh để giải quyết vấn đề Nhật — Hàn. Trải qua khủng hoảng kinh tế trầm trọng, đây là thời điểm Hàn Quốc đang cần tiền nhất. Hiện giờ là thời điểm để đàm phán.” Kōnō cũng hối thúc Sugi Michisuke, ông trùm doanh nghiệp từ vùng Kansai và là chủ tịch Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO), dẫn đầu phái đoàn Nhật Bản đến vòng đàm phán bình thường hóa thứ 6 được định sẽ bắt đầu vào tháng 10 năm 1961. [187]

Tuy nhiên, đối với Thủ tướng Ikeda Hayato, hợp tác với Park không dễ dàng như Kōnō và Kishi lầm tưởng. Thứ nhất, Ikeda vẫn hoài nghi về khả năng chính quyền quân sự có thể sắp đặt lại trật tự nội bộ và vượt qua các thách thức chính trị. Thứ hai, ông không chắc về khả năng của chính mình trong việc định hướng ý kiến quần chúng Nhật Bản đằng sau vụ đàm phán về vấn đề các tuyên bố. Tình hình này cũng không được trợ giúp bởi phong cách cai trị độc tài của Park, vốn có thể tập hợp các đảng phái, báo chí và giới trí thức chống đối của Nhật, cũng như những thành phần tự do hơn bên trong LDP, chống lại các thỏa thuận chính trị với chính thể mà họ xem là chế độ quân sự đàn áp. Hơn nữa, còn có giới cánh tả của Nhật, những người đã tổ chức Hội đồng Liên lạc vào tháng 1 năm 1961 để điều phối chiến dịch của họ chống lại việc bình thường hóa quan hệ với Hàn Quốc do điều đó sẽ kéo theo mối nguy hiểm bị kéo vào mạng lưới quân sự với Mỹ làm trung tâm ở Đông Á và thậm chí có thể là một xung đột quân sự không mong muốn. Hội đồng này gồm các đại diện từ Đảng Cộng sản Nhật Bản, Đảng Xã hội Nhật Bản, Tổng Hội đồng Công đoàn (Sohyo), và Hiệp hội Nhật Bản - Triều Tiên, cùng các tổ chức chính trị và xã hội khác. Trong một bối cảnh phân hóa chính trị trong nước như vậy, chính Hoa Kỳ phải bước vào để thúc đẩy Ikeda đến bàn đàm phán.

Lời đề nghị ban đầu

Tháng 10 năm 1961, dưới sự chỉ đạo của Park, Kim Jong-pil đã tiến hành chuyến đi bí mật gặp gỡ Ikeda Hayato để sắp xếp cho chuyến viếng thăm nhà nước của Park đến Nhật Bản trên đường đi Washington một tháng sau đó. Kim sử dụng chuyến đi này để mở rộng đầu mối liên lạc của Hàn Quốc ở Nhật Bản, gặp gỡ không chính thức Kishi Nobusuke, Ishii Mitsujiro, Satō Eisaku, Kōnō Ichirō và Ono Bamboku. Đây là những cuộc gặp không chính thức đầu tiên mà Kim thực hiện với các lãnh đạo của Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (LDP) thông qua tiến trình của các cuộc đàm phán bình thường hóa. Park có hy vọng cao về một thỏa thuận nhanh chóng. Bằng cách gửi đi phái đoàn đa dạng nhất và chắc chắn là lớn nhất từ trước đến giờ đến các cuộc đàm phán, Park cho thấy sự sẵn sàng của ông trong việc giải quyết tất cả các lĩnh vực gây tranh cãi.

Vị lãnh đạo chính quyền quân sự xem Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk là người trung gian thân thiện. Với việc Triều Tiên hoàn tất các thỏa thuận về hiệp ước quốc phòng chung lần lượt với Liên Xô và Trung Quốc vào tháng 7 năm 1961, Rusk đảm nhận vai trò người trung gian giữa Seoul và Tokyo, ông viếng thăm Nhật Bản tháng 11 năm 1961 để họp với Ikeda nhằm thuyết phục ông này về tầm quan trọng trong việc đạt đến một thỏa thuận ban đầu với Hàn Quốc. Rusk hối thúc Nhật Bản chia sẻ cùng Hoa Kỳ gánh nặng tài trợ cho các chương trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc bằng cách xem xét giải quyết đề xuất về các tuyên bố sở hữu. Ngược lại, Ikeda giải thích với Rusk những khó khăn về việc hợp tác với Hàn Quốc:

Các đảng đối lập [của Nhật], bao gồm Đảng Xã hội Dân chủ, phản đối mạnh mẽ việc chi tiêu những khoản tiền khổng lồ nhằm giải quyết vấn đề về các tuyên bố. Trong khi ở Hàn Quốc, chính quyền quân sự có thể thực thi các quyết định ngay lập tức, ở Nhật Bản mọi thứ phải được thông qua những quy trình Nghị viện. Chúng tôi chỉ đơn giản là không thể làm mọi thứ theo cách họ làm... Chúng tôi đã phải trải qua rủi ro về một cuộc khủng hoảng hiệp ước an ninh hết lần này đến lần khác [như lần năm 1960 bị kích động bởi Hiệp ước An ninh Chung Hoa Kỳ - Nhật Bản].

Tuy nhiên, trước khi cuộc họp kết thúc, Ikeda đi đến thỏa thuận với Rusk rằng ông sẽ cố gắng hết sức để giúp phát triển kinh tế Hàn Quốc và giải quyết nhiều trong số những khác biệt đáng kể giữa hai quốc gia. Ngài Thủ tướng Nhật có cảm nhận rằng Hoa Kỳ xem chính sách về Hàn Quốc của ông như cơ sở kiểm tra cam kết của Nhật với liên minh an ninh Mỹ - Nhật và với nguyên tắc chia sẻ gánh nặng trong địa chính trị khu vực. Ý thức được điểm mấu chốt, Ikeda phản hồi rằng ông sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán nghiêm túc với chính quyền quân sự mới ở Hàn Quốc. Ikeda trở lại với việc tiếp tục các cuộc đối thoại bình thường hóa bắt đầu từ tháng 10 năm 1961 và chấp thuận tổ chức cuộc họp với Park. Đối với ngài chủ tịch chính quyền quân sự, người cần phải cho nhân dân của ông thấy rằng cuộc đảo chính quân sự có được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, thì việc Ikeda bày tỏ quan tâm là một bước phát triển tích cực có thể giúp củng cố nền tảng quyền lực của mình.

Ngày 11 tháng 11, chưa đầy ba tuần sau chuyến đi bí mật của Kim Jong-pil đến Nhật Bản, Park tiến hành chuyến đi chính thức đầu tiên đến Nhật Bản ở vị thế người đứng đầu nhà nước Hàn Quốc trong thời kỳ sau chiến tranh. [188] Trước khi khởi hành, Park chỉ đơn giản bày tỏ hy vọng có “những buổi gặp thẳng thắn” với người Nhật. Khi ở Nhật Bản, ông không ngần ngại cho thấy quan điểm tích cực của ông về Nhật Bản trước rủi ro gây thù hận với các lực lượng chính trị trong nước của Hàn Quốc. Ở bữa tiệc cấp nhà nước được Ikeda Hayato tổ chức khi ông đến, Park gây ngạc nhiên thú vị cho người Nhật khi lập luận rằng “không khôn ngoan và cũng không có lợi chút nào khi cứ dằn vặt quá khứ [thực dân] và... cả hai quốc gia đều cần phải cố gắng hết sức để thúc đẩy hợp tác vì các mục tiêu và lý tưởng chung.” Ngày hôm sau, khi nói chuyện với Kishi Nobusuke, Ishii Mitsujirō, cùng các lãnh đạo LDP cấp cao khác, Park không giấu giếm sự ngưỡng mộ ông dành cho các nhà cách tân Minh trị, và tái khẳng định cam kết của ông với việc xây dựng “nước giàu, quân mạnh” theo cách mà giới lãnh đạo Minh Trị đã làm. Xúc động sâu sắc trước sự tôn trọng của Park dành cho tinh thần và lịch sử Nhật Bản, một trong những lãnh đạo LDP dự tiệc cho rằng Park giống với ishin no shishi (những nhà yêu nước Minh Trị).

Park quyết tâm hoàn tất thỏa thuận ngay lập tức nếu có cơ hội. Tuy nhiên, mặc cho cam kết công khai của Ikeda về một thỏa thuận ban đầu, Park nhận thấy ngài Thủ tướng Nhật cực kỳ cẩn trọng khi đối mặt với áp lực trong nước ngày một gia tăng về việc phải chấm dứt đàm phán bình thường hóa với Park. Công chúng Nhật trở nên quan ngại về việc Park sử dụng vũ lực để bịt miệng lực lượng chống đối Hàn Quốc. Thậm chí bên trong LDP, nhóm chống hiệp ước đang hình thành càng gây khó khăn hơn cho Ikeda trong việc xây dựng chính sách hướng tới tương lai với Hàn Quốc, đặc biệt kể từ khi những người phản đối gồm cả các lãnh đạo chủ chốt của LDP như Bộ trưởng Thương mại Quốc tế và Công nghiệp, Satō Eisaku, và Bộ trưởng Tài chính Mizuta Mikio. Satō Eisaku đặc biệt kích động khi chống lại thỏa thuận về vấn đề tuyên bố quyền sở hữu, công khai tìm cách ngăn cản đối thủ chính trị, Ikeda, đạt được thành tựu ngoại giao quan trọng. Sự chống đối của Mizuta Milđo là một vấn đề đau đầu khác đối với Park, vì ông này đứng đầu Bộ Tài chính, cơ quan chịu trách nhiệm sử dụng tiền công và điều tiết ngân hàng cùng các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Mizuta có thể làm chậm lại, nếu không phải là chặn đứng, các cuộc đàm phán bình thường hóa.

Chuyến viếng thăm tháng 11 năm 1961 không tạo ra những đột phá lớn về vấn đề bình thường hóa. Báo chí Nhật chủ yếu vẫn không quan tâm đến chuyến đi của Park, nên chỉ thông tin ít ỏi về cuộc gặp của Park-Ikeda, trong khi lặp lại yêu cầu hiện hữu của Nhật Bản rằng hai nước phải thỏa thuận về các vấn đề tuyên bố quyền sở hữu và bồi thường thiệt hại từ quan điểm “kinh tế” hơn là “chính trị”. Bằng cách nhấn mạnh vào kinh tế thay vì chính trị trong các vấn đề về tuyên bố sở hữu, người Nhật cho rằng quy mô của các khoản bồi thường thiệt hại nhỏ hơn rất nhiều so với Park kỳ vọng. Vì quan điểm của báo chí và công chúng Nhật không đổi, nên không gian cho Ikeda điều khiển tình hình chính trị trong nước Nhật bị hạn chế nặng nề.

Park gặp khó khăn trong việc nắm bắt các khó khăn chính trị trong nước mà vị đồng cấp người Nhật của ông phải đối mặt. Dựa trên kinh nghiệm chính trị ở Hàn Quốc, nơi quyền lực tập trung vào tay chủ tịch chính quyền quân sự, Park cho rằng việc thiết lập niềm tin chung, quan hệ hữu nghị, hay đơn giản là hoạt động cho nhận mang tính chính trị ở tầm chính quyền cấp cao giữa hai quốc gia sẽ đảm bảo một giải pháp nhanh chóng cho các vấn đề lãnh thổ, ngư nghiệp, lịch sử và bồi thường thiệt hại. Sự thiếu kinh nghiệm của ông trong các vấn đề ngoại giao và hình ảnh bị đơn giản hóa quá mức về quy trình ra quyết định của Nhật là các nguyên nhân dẫn đến sự thất vọng của ông về kết quả của chuyến viếng thăm, đặc biệt khi ban đầu ông nghĩ rằng chuyến đi sẽ mang lại một thành công ngoại giao.

Tuy nhiên, chuyến viếng thăm Tokyo của Park năm 1961 có ý nghĩa quan trọng ở ba khía cạnh. Thứ nhất, nó đảm bảo với người Nhật rằng Park sẽ không chính trị hóa các vấn đề lãnh thổ, ngư nghiệp, lịch sử và ý thức hệ thừa hưởng từ quá khứ thực dân, chắc chắn không đến mức như Lý Thừa Vãn đã làm những năm 1950. Người Nhật hiểu rằng Park đã chớp lấy cơ hội hợp tác, dù có hoặc không có sự hòa giải thực sự ở tầm nhân dân hai nước. Thứ hai, chuyến thăm Tokyo chỉ ra rằng Park sẽ nhượng bộ hơn so với “ranh giới hòa bình” được tuyên bố đơn phương của Lý Thừa Vãn nhằm mang lại một thỏa thuận về vấn đề lãnh hải và quyền đánh cá nếu Nhật Bản sẵn sàng thỏa thuận theo hướng có lợi về vấn đề tuyên bố sở hữu tài sản và khoản tiền bồi thường thiệt hại. [189] Thứ ba, chuyến đi cũng phát đi tín hiệu với Hoa Kỳ rằng Hàn Quốc đang tiến đến chính sách tăng cường quan hệ ba bên giữa Hàn Quốc, Nhật Bản, và Hoa Kỳ vì các lợi ích an ninh khu vực chung. Ba khía cạnh này đều là những thành tựu quan trọng cho mối quan hệ song phương vốn được ghi dấu bởi sự ngờ vực và thù địch. Tuy nhiên chúng vẫn chưa đủ để đem lại sự đột phá cho các cuộc đàm phán.

Trở ngại lớn là vấn đề tuyên bố sở hữu tài sản. Trái với hy vọng của Park về sự linh động của người Nhật, Nội các Ikeda khăng khăng về vị thế của Nhật rằng vấn đề này phải được giải quyết theo cách mà công chúng Nhật Bản có thể hiểu được và ủng hộ. Cụ thể, các nhà đàm phán Nhật nhấn mạnh rằng vấn đề tuyên bố sở hữu tài sản không phải là vấn đề gây tổn thất hoàn toàn cho Hàn Quốc trong thời thực dân. Nếu cần phải bồi thường cho các tổn thất thực dân, Iseki Yujirō, Giám đốc Cục Vấn đề Châu Á thuộc Bộ Ngoại giao Nhật Bản, lập luận rằng, cần phải giới hạn chỉ ở các khoản lương, lương hưu, trái phiếu nhà nước và trái phiếu doanh nghiệp chưa thanh toán của các công nhân và nhà đầu tư Hàn Quốc cùng những đối tượng khác. Hơn nữa, bên tuyên bố sở hữu phải chứng minh yêu cầu của họ bằng những bằng chứng pháp lý vững chắc. Các báo Nhật đã đưa ra các báo cáo rằng Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính đang xem xét một thỏa thuận ở mức 20-80 triệu đô-la Mỹ. Ngược lại, Park đang nhắm đến con số trong khoảng 600-900 triệu đô-la Mỹ.

Với những cuộc đối đầu về vấn đề lãnh thổ ở Tokdo, “ranh giới hòa bình” và các tuyên bố sở hữu tài sản tái xuất hiện cũng như phải đối mặt với sự chỉ trích của phái đoàn Nhật Bản về việc Hàn Quốc từ chối cấp phép thành lập văn phòng đại diện Nhật Bản ở Seoul, Park phải hủy bỏ các kế hoạch ở lại qua đêm tại Nhật Bản trên đường về nước từ Hoa Kỳ. Tình hình không tốt hơn với các cuộc bầu cử sắp đến ở Nhật Bản, sự kiện này ngăn cản những thành viên thân Hàn của Nghị viện Nhật Bản thay đổi quan điểm ở vấn đề tuyên bố sở hữu tài sản đầy nhạy cảm chính trị. Như một nỗ lực để kiểm soát tổn thất, Ikeda cầu cứu những người Nhật và Mỹ ủng hộ một thỏa thuận nhanh chóng vào tháng 1 năm 1962 với thông báo chính thức rằng sự ổn định chính trị của Hàn Quốc phục vụ cho các lợi ích an ninh của Nhật và rằng chính quyền của ông sẵn sàng theo đuổi các cuộc đàm phán bình thường hóa quan hệ một cách nghiêm túc. Để phá vỡ tình thế bế tắc, Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Choi Deok-sin họp với người đồng cấp Nhật, Kosaka Zentarō vào ngày 15 tháng 3 năm 1962. Sáu ngày sau, giám đốc KCIA Kim Jong-pil tiến hành chuyến viếng thăm Nhật Bản lần thứ hai để củng cố thêm cuộc gặp của các bộ trưởng ngoại giao. Không nỗ lực nào thành công, bất chấp việc Kim Jong-pil cho thấy nhiệt thành và lòng quyết tâm. Nếu có thì chuyến viếng thăm của ông ta chỉ làm tăng thêm sự phản đối của người Hàn Quốc về việc bình thường hóa quan hệ. Thời điểm của chuyến viếng thăm cũng không thuận lợi, vì nó trùng với sự kiện từ chức của Tổng thống Yun Po-sun vào tháng 3 năm 1962 nhằm chống lại chế độ độc tài của Park, sự kiện này càng làm mạnh thêm các lực lượng chống hiệp ước ở Nhật Bản. Sự bùng nổ các cuộc biểu tình sinh viên ở Hàn Quốc buộc Kim Jong-pil phải cắt ngắn chuyến viếng thăm của ông. Từ đó, các cuộc đàm phán bình thường hóa bị trì hoãn trong 5 tháng.

Chính trong tình hình chậm tiến triển, nếu không phải là bế tắc này, chính quyền Mỹ can thiệp vào các cuộc đàm phán Hàn - Nhật để thuyết phục các lãnh đạo Nhật Bản về tầm quan trọng của việc đạt được một thỏa thuận nhanh chóng với Hàn Quốc. Việc Kennedy hối thúc cựu thủ tướng Yoshida Shigeru vào tháng 5 năm 1962 góp phần xúc tiến các cuộc đàm phán. Các sĩ quan Mỹ khác cũng làm theo với một thông điệp tương tự trong các cuộc gặp với các lãnh đạo chính trị Nhật Bản. Tuy nhiên, cuối cùng Hoa Kỳ không thể buộc Ikeda dứt khoát đánh cược sự nghiệp chính trị của ông này vào việc bình thường hóa quan hệ với Hàn Quốc. Vị thủ tướng Nhật miễn cưỡng thúc đẩy các cuộc đàm phán bình thường hóa vì sợ rằng, như ông giải thích với Rusk, chúng sẽ làm bùng phát một cuộc khủng hoảng chính trị giống như cuộc khủng hoảng hình thành từ việc ký hiệp ước an ninh chung Mỹ-Nhật năm 1960. Cực kỳ thận trọng, Ikeda thậm chí còn cố gắng xoa dịu cánh tả bằng ý tưởng theo đuổi một lời đề nghị riêng với Triều Tiên vào tháng 8 năm 1962. Ikeda đề nghị rằng Nhật Bản “một ngày nào đó” có thể đàm phán một thỏa thuận riêng với Bình Nhưỡng về các vấn đề tuyên bố sở hữu tài sản, ngụ ý rằng Seoul không thể tuyên bố quyền tài phán cho cả Bán đảo Triều Tiên. Ý tưởng về một thỏa thuận riêng với Triều Tiên làm nảy sinh một nguyên nhân nữa, bên cạnh tinh thần dân tộc chủ nghĩa chống Nhật, để công chúng Hàn Quốc chống lại sáng kiến ngoại giao của Park.

May mắn cho Park, sự tái đắc cử áp đảo của Ikeda Hayato trong vai trò chủ tịch LDP ngày 14 tháng 7 năm 1962 có vẻ như đã khuyến khích ông này tiến hành chính sách hướng đến tương lai với Hàn Quốc. Với việc khởi động nội các mới, Ohira Masayoshi, Bộ trưởng Ngoại giao mới được chỉ định và cũng là phó tướng thân thiết của Ikeda Hayato, bắt đầu xử lý các cuộc đàm phán bình thường hóa. Ohira được giao nhiệm vụ thỏa thuận các vấn đề còn tồn đọng càng nhanh càng tốt. Trong một nỗ lực chi tiết nhất, Ohira đề xuất một hướng dẫn 4 điều để giải quyết vấn đề về tuyên bố sở hữu. Thứ nhất, ông đề xuất rằng Nhật Bản sẽ chỉ tiến hành những thỏa thuận tư nhân với tổng giá trị không vượt quá 70 triệu đô-la Mỹ. Thứ hai, một khoản viện trợ trị giá 100 triệu đô-la Mỹ sẽ được cung cấp dưới dạng hỗ trợ kinh tế. Thứ ba, ông thúc đẩy ý tưởng cung cấp cho Hàn Quốc các khoản nợ dài hạn lãi suất thấp để viện trợ cho việc tiến hành FYEDP lần thứ nhất của nước này. Thứ tư, thỏa thuận sẽ được thực hiện với đồng thuận rằng thỏa thuận chỉ giải quyết những vấn đề tuyên bố sở hữu của người dân sống ở phía nam ranh giới đình chiến. Việc chỉ sẵn sàng thực thi các thỏa thuận tư nhân có nghĩa là Nhật Bản không sẵn sàng xin lỗi về quá khứ thực dân. Ohira và những người khác tin rằng lời xin lỗi có thể làm tổn thương đến bản sắc dân tộc và uy tín quốc tế của Nhật Bản. Ngược lại, việc hạn chế thỏa thuận chỉ cho những tuyên bố sở hữu của người dân ở Nam Triều Tiên được cho là xoa dịu phe cánh tả chống đối ở Nhật Bản. Tuy nhiên, vì đây là lần đầu tiên những chi tiết về các tuyên bố sở hữu tài sản được đề xuất, nên Park chào mừng sáng kiến của Ohira, đặc biệt với công thức cơ cấu về việc phân loại các tuyên bố thành tuyên bố sở hữu tư nhân, các khoản viện trợ và cho vay.

Khi các cuộc đàm phán nối lại ngày 21 tháng 8 năm 1962, Sugi Michisuke và Pae Ui-hwan ngay lập tức tổ chức một loạt những buổi họp cấp sự vụ để xử lý các chi tiết. Tuy nhiên do không có tiến triển về số tiền thực tế liên quan đến các tuyên bố sở hữu tài sản, Kim Jong-pil phải đi Nhật lần thứ ba. Trên đường đến Washington theo lời mời của Bộ Ngoại giao Mỹ, Kim Jong-pil trải qua ba ngày ở Tokyo vào tháng 10 năm 1962 để đàm phán về số tiền với Ohira. Theo chỉ đạo của Park, Kim đặt ra mục tiêu từ 600 đến 900 triệu đô-la Mỹ. [190] Từ đó trở đi, Park giám sát chặt chẽ quá trình đàm phán, đưa ra những mệnh lệnh cụ thể cho Kim Jong-pil về một số chi tiết trong các vấn đề thỏa thuận, bao gồm tổng số tiền trong tuyên bố sở hữu tài sản phải nhận được từ Nhật Bản.

Cuộc họp từ chặng nghỉ này giỏi lắm chỉ mang ý nghĩa khám phá. Chỉ cho đến khi Kim Jong-pil và Ohira tổ chức cuộc họp thứ hai khi Kim trở về từ Hoa Kỳ thì các cuộc đàm phán mới bắt đầu nghiêm túc. Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản kỳ vọng Kim yêu cầu 800 triệu đô-la Mỹ dựa trên những buổi gặp từ trước với Phó Thủ tướng Kim Yu Taek vào tháng 9 năm 1961. Trái với lời đề nghị 50 triệu đô-la Mỹ của Nhật, Hàn Quốc cho rằng con số của Kim Yu Taek là một sự nhượng bộ từ phía Hàn, thấp hơn rất nhiều so với yêu cầu 2 tỷ đô-la Mỹ của Lý Thừa Vãn và con số 1,2 tỷ đô-la Mỹ của Chang Myon. Ohira thì rộng lượng hơn - nhưng không quá nhiều so với quan điểm của Hàn Quốc. Ohira ban đầu đề xuất 170 triệu đô-la Mỹ cho các thỏa thuận tư nhân và viện trợ, cộng với một khoản cho vay dài hạn lãi suất thấp chưa xác định. Một cách trùng hợp, Bộ Ngoại giao và Bộ Tài chính Nhật Bản đề nghị rằng toàn bộ gói này cần thấp hơn 100 triệu đô-la Mỹ. [191]

Ohira có lần nhớ lại những lời ông nói với Kim Jong-pil như sau:

Tôi có thể hiểu rõ những cảm giác của người dân nước anh về Nhật Bản. Tuy nhiên, tôi [không] nghĩ có bất kỳ lợi ích nào cho nước anh khi các anh chỉ nói những điều tức tối về Nhật Bản... Hai nước chúng ta là láng giếng mãi mãi, vì vậy [không phải chúng ta] cần quyết tâm loại bỏ mọi điều giờ đã thành dĩ vãng, như tàn thuốc trong gạt tàn và hướng đến tương lai [sao]? Nếu có một tư tưởng như vậy ở nước anh, Nhật Bản cũng sẽ đủ nhạy cảm để hành động theo. Hiện giờ các anh đã giành được độc lập và phải đối mặt với nhiệm vụ xây dựng quốc gia đầy khó khăn, Nhật Bản, với vai trò là một láng giềng mãi mãi, sẽ sẵn sàng hỗ trợ sự phát triển trong tương lai với quan hệ hợp tác kinh tế mạnh mẽ.

Sau một thời gian mặc cả, hai bên cuối cùng đồng ý với con số 300 triệu đô-la Mỹ viện trợ, 200 triệu đô-la Mỹ các khoản vay ODA (Viện trợ Phát triển Chính thức), và hơn 100 triệu đô-la Mỹ cho các khoản vay thương mại. Kết hợp các khoản viện trợ 300 triệu đô-la Mỹ là việc xóa món nợ 45,7 triệu đô-la Mỹ mà Hàn Quốc thiếu Nhật Bản. Để khiến các nhà lập pháp và quan chức Nhật Bản dễ chấp nhận thỏa thuận này hơn, và cũng cân nhắc tình trạng thiếu dự trữ ngoại hối của Nhật Bản, Ohira đề xuất thanh toán dần trong một giai đoạn dài. Kim Jong-pil đồng ý nhận cả các khoản trợ cấp và khoản vay ODA trong 10 năm. Ngược lại, các khoản vay thương mại sẽ được cung cấp kể cả trước khi hoàn tất quá trình bình thường hóa ngoại giao tùy từng trường hợp. Cuối cùng, hiểu được điểm yếu chính trị của nhau, cả hai đồng ý những cách giải thích khác nhau về thỏa thuận này. Trong khi Kim Jong-pil xem thỏa thuận này như một dàn xếp về các tuyên bố sở hữu tài sản và các khoản bồi thường thiệt hại cho những sai trái thời thực dân của Nhật, Ohira Masayoshi khẳng định đây là viện trợ kinh tế của Nhật cho Hàn Quốc. Với những điều khoản thỏa thuận được viết ra vào cuối cuộc họp, “Biên bản ghi nhớ Kim-Ohira” gây tranh cãi đã xuất hiện. [192]

Biên bản ghi nhớ Kim-Ohira thỏa thuận những vấn đề được cho là trọng tâm trong thỏa thuận toàn diện. Park vốn đã chỉ ra rằng ông sẵn sàng giải quyết các vấn đề về quyền đánh cá và tranh chấp “ranh giới hòa bình” nếu người Nhật cho thấy lòng chân thành ở vấn đề tuyên bố sở hữu tài sản. Tuy nhiên, ý thức được mối nguy hiểm về một đợt phản ứng kịch liệt của những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Hàn Quốc chống lại Biên bản ghi nhớ Kim-Ohira, hai nhà đàm phán đồng ý giữ bí mật về thỏa thuận này. Chỉ đến ngày 29 tháng 1 năm 1963, nội dung thật sự của bản ghi nhớ mới được Bộ Ngoại giao Nhật Bản tiết lộ. Như Park và Kim Jong-pil dự đoán, việc tiết lộ các điều kiện thỏa thuận đã khiến phe đối lập của Hàn Quốc, vốn đang phẫn nộ vì phương sách “ngoại giao một người” (ilin oegyo) của Kim Jong-pil, càng tức giận dữ dội. Không chỉ thế, bản chất bí mật của các cuộc đàm phán càng làm tồi tệ hơn nỗi sợ bị phản bội của công chúng. Các cuộc biểu tình toàn quốc nhanh chóng diễn ra, và đặc biệt là nhóm ủng hộ hiệp ước ở Nhật Bản, đã buộc Park - vốn trước giờ vẫn được cho là không bị tác động bởi ý kiến quần chúng - phải ngừng các cuộc đàm phán trong hầu hết cả giai đoạn 1963-1964.

Khủng hoảng hiệp ước

Cũng như khi khởi động lại các cuộc đàm phán tháng 10-11 năm 1961, một lần nữa chính Hoa Kỳ đã đưa Hàn Quốc và Nhật Bản đến bên bàn đàm phán vào giữa những năm 1960. Hoa Kỳ không bao giờ trực tiếp dính vào các cuộc đàm phán. Thay vì vậy, nước này chủ động chọn vị trí trung gian ở phía sau, nhanh chóng gây áp lực buộc Seoul và Tokyo phải đi đến một hiệp ước về các điều kiện thỏa thuận chung. Kể cả vào mùa xuân năm 1963, khi bất đồng với Park vì ông tìm cách hủy bỏ lời hứa trở lại chính quyền dân sự (xem chương 2), Hoa Kỳ vẫn tiếp tục nỗ lực quy tụ hai nước đồng minh của mình. [193] Thông qua sự hỗ trợ của Rusk, Đại sứ ở Hàn Quốc Samuel D. Berger, Đại sứ ở Nhật Bản Edwin O. Reischauer, Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề chính trị W. Averell Harriman, và Vụ trưởng ngoại giao phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương William P. Bundy, Hoa Kỳ đóng vai trò trung gian xuyên suốt giai đoạn 1964-1965.

Vai trò trung gian của Hoa Kỳ được gia tăng vào năm 1964 vì áp lực gia tăng từ xung đột quân sự ở Đông Dương. Những sự kiện ở miền Nam Việt Nam diễn ra nhanh chóng. Chiến thắng áp đảo của Johnson trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ tháng 11 năm 1964 dẫn đến sự leo thang các cuộc rải bom tấn công miền Bắc Việt Nam trong Chiến dịch Săm Rền. Lập luận rằng mình phải đảm bảo an ninh cho người Mỹ, Johnson cũng kêu gọi gửi đi số lượng lớn bộ binh. Cuối năm 1965, quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam có 184.314 người. Cuộc chiến không tuyên bố ở Đông Dương đã chính thức bắt đầu.

Cùng với sự kiện đó, Hoa Kỳ hăm hở chờ đợi bình thường hóa quan hệ Hàn - Nhật. Nhằm tiến hành hiệu quả chiến dịch quân sự ở miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ trông chờ vào sự hỗ trợ hậu cần của Nhật Bản và nguồn cung lính chiến đấu của Hàn Quốc. Như một phần trong chiến dịch chính trị nhằm tạo ra hình ảnh đoàn kết của thế giới tự do ủng hộ các nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, Johnson cũng xây dựng tình đoàn kết giữa các đồng minh chống cộng sản của ông ở Đông Á và, đặc biệt, một mạng lưới ủng hộ khu vực vững mạnh gắn kết Hàn Quốc và Nhật Bản. Trong cuộc họp với Park ngày 2 tháng 10 năm 1964, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Mc George Bundy thừa nhận rằng Hàn Quốc có những lý do chính đáng để yêu cầu lời xin lỗi vì những sai trái mà Nhật Bản phạm phải vào thời thực dân. Ông cũng khuyến khích Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Shiina Etsusaburō đến thăm Seoul. Khi Park bày tỏ sự sẵn sàng ủng hộ Mỹ trong Chiến tranh tại Việt Nam, Bundy hứa sẽ gánh trách nhiệm cá nhân thuyết phục Nhật Bản nhượng bộ Hàn Quốc. Sự sa lầy nặng nề của Hàn Quốc ở miền Nam Việt Nam đã làm thay đổi nhanh chóng vận may chính trị và kinh tế của Hàn Quốc.

Việc ngả về hướng Hàn Quốc là một sự đổi chiều - dù chóng vánh và hạn chế - trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ ở Đông Á, chính sách này vốn có truyền thống hướng theo quan điểm của Nhật Bản. Thậm chí vào mùa thu năm 1964, chuyên gia chiến tranh lạnh George F. Kennan còn nhắc lại về điều vẫn luôn là lập trường của Hoa Kỳ liên quan đến mối quan hệ Hàn - Nhật:

Những người [Nam] Triều Tiên phản đối việc thiết lập quan hệ thỏa đáng với một nước Nhật đầy lòng ưa chuộng hòa bình lúc này chứng tỏ họ ít trân trọng những lợi ích có được từ Mỹ và hầu như không có ý định giúp đỡ Hoa Kỳ trong việc thực thi nhiệm vụ vốn được xem là của nước này ở Hàn Quốc... Nếu chế độ ở Hàn Quốc, với những thất bại trong nước nghiêm trọng ở mọi mặt, chắc chắn là một gánh nặng cho chính sách của Mỹ với Nhật, rốt cuộc sẽ buộc phải có một sự xem xét lại trong chính sách đối với [Nam] Triều Tiên nói chung; vì [Nam] Triều Tiên quan trọng, nhưng Nhật Bản còn quan trọng hơn.

Chắc chắn Nhật Bản vẫn là đồng minh quan trọng nhất của Hoa Kỳ ở Đông Á mặc cho quan hệ Mỹ - Hàn được củng cố mạnh trong Chiến tranh tại Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc chiến này đặt những hệ quả to lớn lên bối cảnh chính trị-chiến lược ở khu vực Đông Á, tạo ra những thay đổi quan trọng trong cách thức Hoa Kỳ thực thi chính sách Đông Á. Với viễn cảnh lính chiến đấu Hàn Quốc tham gia cùng lính Mỹ ở Việt Nam, Hoa Kỳ am hiểu hơn về các vấn đề mà Hàn Quốc phải đấu tranh với Nhật Bản trong các cuộc đàm phán bình thường hóa. Kennan đã đúng khi cho rằng đối với Hoa Kỳ, Hàn Quốc mang tầm quan trọng chiến lược thấp hơn Nhật Bản. Tuy nhiên, do không cân nhắc đầy đủ việc Johnson chìm vào vũng lầy Việt Nam, Kennan không thể đánh giá chính xác những tác động chính trị từ sự tham gia quân sự của Hàn Quốc vào Chiến tranh tại Việt Nam. Nhờ có trận chiến, Park đã có thể ảnh hưởng đến định hướng chính sách của Mỹ về các cuộc đàm phán bình thường hóa hơn mức Kennan có thể tưởng tượng ra. Thay vì chỉ là một “gánh nặng vô ích”, Hàn Quốc sắp trở thành một phần trọng tâm trong chính sách của Mỹ ở Đông Á.

Cú hích cuối cùng để hoàn tất các cuộc đàm phán bình thường hóa chỉ đến vào cuối năm 1964 khi, với một sự tình cờ rất may mắn, các bộ trưởng ngoại giao mới mà hai bên chỉ định đều là những người ủng hộ hiệp ước mạnh mẽ: Yi Dong-won ở Hàn Quốc và Shiina Etsusaburō ở Nhật Bản. Nguyên là trưởng ban cố vấn của Park, Yi Dong-won được chọn với sứ mệnh phải hoàn tất các cuộc đàm phán bình thường hóa bất chấp mức độ phản đối chính trị trong nước. Ngay lập tức, vị Bộ trưởng Ngoại giao mới của Hàn Quốc đề xuất thay đổi địa điểm giữa Seoul và Tokyo. Từ trước đến nay, các cuộc gặp mặt chỉ được tổ chức ở Tokyo. Yi cũng thúc đẩy tiến hành “ngoại giao mở” nhằm hạn chế sự nghi ngờ của công chúng. Từng chiến đấu chống thực dân Nhật khi còn trẻ và cũng chống lại sự chiếm đóng quân sự của Mỹ trong giai đoạn sau độc lập, Yi Dong-won cảm thấy tự tin rằng ông có thể thu hút được công chúng.

Ở Nhật Bản, Satō Eisaku trở thành thủ tướng mới ngày 9 tháng 11 năm 1964, sau khi Ikeda Hayato nghỉ hưu vì bệnh tật. Là em trai của nguyên Thủ tướng Kishi Nobusuke, Satō Eisaku có chung sự ủng hộ của Kishi về một thỏa thuận nhanh chóng với Hàn Quốc. Trong bài phát biểu ở Nghị viện Nhật đầu tiên của mình với tư cách thủ tướng ngày 20 tháng 11, Satō trình bày ý định “giải quyết các vấn đề còn tồn đọng một cánh nhanh chóng và chính đáng như nguyện vọng của đại đa số người dân ở cả Nhật Bản và Hàn Quốc.” Trong buổi phỏng vấn báo chí đầu tiên, ông lạc quan cho rằng các cuộc đàm phán sắp hoàn tất, chỉ cần một số điều chỉnh nhỏ trước khi hiệp ước có thể được ký.

Đối với Park và Yi Dong-won, những lời tâm huyết đó đến từ người được biết đến với cách tiếp cận cẩn trọng đã tạo nên hy vọng rất lớn cho một thỏa thuận nhanh chóng. Tuy nhiên, Satō về bản chất là một người tạo dựng đồng thuận hơn là một chính trị gia có sức hấp dẫn cao sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Khi thời điểm ra quyết định khó khăn đến, chính Bộ trưởng Ngoại giao Shiina đã đón nhận thử thách. Theo sau bài phát biểu của thủ tướng ở Nghị viện Nhật, Shiina bày tỏ:

Khi chương trình nghị sự về cuộc đàm phán được thông qua, chúng tôi sẽ tiếp tục các cuộc họp về những vấn đề còn tồn đọng, đặc biệt quan tâm đến xung đột ngành cá. Hơn nữa, nếu chuyến đi Hàn Quốc của tôi buộc phải cải thiện bằng mọi giá sự đồng thuận giữa hai đất nước, tôi sẵn sàng tận dụng những cơ hội sớm nhất để tạo nên một thỏa thuận như vậy.

Shiina Etsusaburō không phải là một chính trị gia thân Hàn và cũng không phải là chuyên gia nổi bật về quan hệ quốc tế khi ông được chỉ định làm bộ trưởng ngoại giao năm 1964. Vốn đứng đầu Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp (MITI) và từng là Tổng Thư ký Nội các, bộ trưởng nhà nước dưới quyền Thủ tướng Kishi Nobusuke, Shiina được biết đến nhờ kinh nghiệm về chính sách kinh tế hơn là ngoại giao. [194] Về quan điểm của ông đối với Hàn Quốc, rất ít điều được biết ngoại trừ việc ông hiếm khi có cảm tình với Hàn Quốc. [195] Điều ngạc nhiên hơn nữa đó là khi Shiina đã đánh cược sự nghiệp chính trị của mình vào việc ra những quyết định độc lập về một số vấn đề thỏa thuận chính. Nếu có một bước ngoặt nào đó trong các cuộc đàm phàn bình thường hóa thì đó chính là khi Shiina đứng ở trạm đến tại sân bay Kimpo để công khai “xin lỗi” vì nỗi đau Nhật Bản đã gây ra cho nhân dân Hàn Quốc thời kỳ thực dân. Với lá cờ quốc gia Nhật Bản hinomaru bay cao trên Bán đảo Triều Tiên lần đầu tiên từ khi kết thúc chế độ thực dân năm 1945, vị bộ trưởng ngoại giao này nói một cách khó hiểu, nhưng vẫn là một tuyên bố quan trọng về các vấn đề lịch sử:

Là láng giềng, [Nam] Triều Tiên và Nhật Bản từ lâu đã có những trao đổi văn hóa, kinh tế cùng những hình thức trao đổi khác có ý nghĩa và thân thiện xuyên suốt lịch sử [hai nước]. Về mặt này tôi cảm thấy ân hận nhất khi chúng ta phải trải qua giai đoạn [thực dân] bất hạnh nhất trong lịch sử của mình. Tôi đắn đo sâu sắc [fukaku hansei suru] về vấn đề này... Tôi sẽ cố gắng hết sức để hiện thực hóa những ước muốn chung của chúng ta để thiết lập một khởi điểm mới trong lịch sử nhằm đảm bảo tình hữu nghị giữa hai nước trong nhiều năm sắp tới.

Chính quyền Hàn Quốc dành cho Shiina buổi lễ tiếp đón hạng nhất, khá tương phản với lễ tiếp đón người tiền nhiệm của ông Kosaka Zentarō, năm 1960. Quan trọng hơn nữa, Shiina nhanh chóng chiếm được sự tin tưởng của giới lãnh đạo Hàn Quốc với tính cách chân thành và khiêm tốn của mình. [196] Hai bên nhanh chóng tổ chức các cuộc họp để giải quyết ba vấn đề chính sau: (1) quyền tài phán của Hàn Quốc có rộng khắp ở cả bán đảo hay chỉ phần phía nam dưới ranh giới đình chiến; (2) bình thường hóa quan hệ sẽ ảnh hưởng đến vị thế của các hiệp ước cũ bằng cách nào; và (3) nước nào trong hai nước có chủ quyền ở Tokdo. Chỉ cho đến đêm trước khi Shiina lên lịch trở lại Nhật Bản thì hai bên mới thỏa thuận được một bộ các nguyên tắc được viết cẩn thận. Về vấn đề vị trí của những “hiệp ước bất bình đẳng” cũ áp dụng từ Triều đại Joseon (của Hàn Quốc) hoặc trước cuộc xâm lược tháng 8 năm 1910, hai bên tránh vấn đề pháp lý trong cuộc xâm lược Joseon của Nhật Bản đơn giản bằng cách tuyên bố các hiệp ước đó “vốn không có hiệu lực” (Điều III). Về vấn đề ranh giới địa lý trong quyền tài phán của Hàn Quốc ở Bán đảo Triều Tiên và từ đó là tính chính danh trong tuyên bố là nhà nước có chủ quyền của Bắc Triều Tên, Yi Dong-won và Shiina Etsusaburō đồng ý rằng chính phủ Hàn Quốc là “Chính phủ hợp pháp duy nhất ở Triều Tiên như theo quy định của Nghị định 195 (mục III) của Tổng Nghị viện Liên Hợp Quốc” (Điều III). [197] Ngược lại, họ không thể tiến đến công thức thỏa thuận chung về vấn đề Tokdo. Đối mặt với sự khác biệt không thể dung hòa, Yi Dong-won và Shiina Etsusaburō quyết định trì hoãn vấn đề tranh chấp lãnh thổ để tiến hành Hiệp ước Quan hệ Cơ bản.

Để tận dụng động lực từ chuyến viếng thăm Seoul của Shiina Etsusaburō, các cuộc đàm phán cấp sự vụ nhanh chóng tiếp tục ở Tokyo về những vấn đề còn lại vào tháng 3 năm 1965. Trong một tháng, hai bên đã thỏa thuận tất cả các vấn đề. Về vấn đề quyền đánh cá, hai nước thành lập một vùng kiểm soát chung bên cạnh các vùng lãnh hải riêng. Một số giới hạn được đặt ra về số lượng và kích cỡ các thuyền đánh cá, và cả quy mô (165.000 tấn) tổng số cá được đánh trong vùng kiểm soát chung. Những người vi phạm các giới hạn này sẽ bị “xử lý bằng các biện pháp trong nước bao gồm các khoản phạt phù hợp”. Về quyền lợi của người dân tộc Hàn Quốc sống ở Nhật Bản, những người sống ở Nhật Bản trước khi nước này đầu hàng Đồng minh vào ngày 15 năm 8 năm 1945 và con cái của họ sẽ được ban cho quyền công dân vĩnh viễn của chính phủ Nhật. Đối với những “thế hệ thứ ba” chưa sinh ra, Hàn Quốc và Nhật Bản đồng ý “tham vấn” về tư cách pháp nhân của họ bất kỳ lúc nào trong vòng 25 năm sau khi thỏa thuận 1965 có hiệu lực. Người Nhật cũng đồng ý trao trả hay “chuyển” một số sách cổ Hàn Quốc và các tác phẩm nghệ thuật quý giá đã lấy đi từ thời thực dân. Tranh chấp lớn duy nhất không được đưa vào hiệp ước là vấn đề lãnh thổ Tokdo. Điều tích cực nhất người Nhật có thể đạt được là đưa vào hiệp ước một đoạn nói rằng tất cả những tranh chấp song phương sẽ được dàn xếp thông qua các phương tiện ngoại giao. Những quy định này trong bản soạn thảo của họ được biết đến như là Thỏa thuận Ngày ba Tháng tư. Chỉ với vài từ cuối cùng nữa được viết ra, 15 năm đàm phán đứt quãng và cảm tính nặng nề sẽ đi đến kết thúc.

Tin tức về thỏa thuận nhanh chóng kích động các lực lượng chống đối ở cả Hàn Quốc và Nhật Bản. Sự phản kháng chính trị trở nên đặc biệt nghiệm trọng ở Hàn Quốc, nơi mà giới trí thức bất đồng chính kiến tổ chức ủy ban chống đối mối quan hệ ngoại giao nhục nhã với Nhật Bản để lãnh đạo các cuộc biểu tình toàn quốc ngày 9 tháng 4 năm 1965. Ngày 14 tháng 4, hơn 5.000 sinh viên đổ ra đường phố Seoul, dẫn đến cái chết của một sinh viên Đại học Dongguk trong vụ đối đầu với cảnh sát. Sự kiện này dẫn đến các cuộc biểu tình quyết liệt hơn nữa, buộc chính phủ phải ban hành sắc lệnh quân đồn trú để duy trì trật tự chính trị.

Điều kích động sự lan rộng biểu tình chống đối là ý thức của công chúng rằng các nhà đàm phán Hàn Quốc đã nhượng bộ quá nhiều. Những người biểu tình đòi hỏi lời xin lỗi từ Nhật Bản vì cuộc xâm lược cưỡng bức năm 1910. Họ cũng gây khó khăn cho sự bất lực của chính quyền Park khi yêu cầu “các khoản bồi thường” từ phía Nhật. Đi ngược với hiến pháp Hàn Quốc, thất bại trong các văn bản hiệp ước khi không thể tuyên bố quyền tài phán lãnh thổ của Hàn Quốc mở rộng trên toàn bộ Bán đảo Triều Tiên là một chỉ trích khác mà chính phủ Park phải giải quyết. Cuối cùng, sự vô hiệu hóa Ranh giới Hòa bình, dẫn đến sự ràng buộc các ngư dân Hàn Quốc, bị phe chống đối chỉ trích hết lần này đến lần khác. Phe chống đối biểu tình một cách kích động đến mức tất cả kết thành một cuộc nổi loạn trên toàn quốc.

Để chống đối hiệu quả kế hoạch của Park về các vấn đề bình thường hóa, hai đảng đối lập lớn nhất - Đảng Công lý Dân chủ (DJP) và Đảng Dân chủ (DP) - sáp nhập ngày 30 tháng 5 năm 1965 để thành lập Quốc Dân Đảng (Minjungdang). Sự trầm trọng của tình hình khiến Hoa Kỳ phải can thiệp bằng cách gửi đi Phó Vụ trưởng Ngoại giao phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Marshall Green vào ngày 29 tháng 4 và Chủ tịch Hội đồng Kế hoạch Chính sách thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ Walt Rostow vào ngày 2 tháng 5 để dành sự ủng hộ về mặt đạo đức cho Park cứng rắn. Park sẽ không xem xét lại việc ký hiệp ước vì lực lượng chống đối; tuy nhiên, ông buộc phải hoãn việc đó lại cho đến khi tình hình trong nước dịu xuống.

Các văn bản hiệp ước được ký ở khu nhà chính thức của thủ tướng Nhật, và các dự thảo hiệp ước được Nghị viện Quốc gia Hàn Quốc và Hạ viện Nhật Bản lần lượt thông qua ngày 14 tháng 8 và ngày 12 tháng 11 năm 1965 và Thượng viện Nhật Bản vào ngày 11 tháng 12. Suốt năm 1965, Park quyết tâm trấn áp các cuộc biểu tình chống hiệp ước. Một số trường đại học bị đóng cửa để ngăn chặn biểu tình lan rộng. Ở Nhật, trái với nỗi sợ của giới lãnh đạo LDP rằng hiệp ước sẽ khởi động một cuộc khủng hoảng an ninh, chỉ có một số nghi ngờ về cách xử lý những dự thảo này ở Nghị viện Nhật Bản. Khi quá trình phê chuẩn hoàn tất, các văn bản hiệp ước được chính thức trao vào ngày 18 tháng 12 năm 1965 tại tòa nhà chính quyền trung ương ở Seoul.

Hiệp ước này không phải là vấn đề so bì quyền lợi được-mất giữa hai bên. Thay vì vậy, hiệp ước tập trung vào những điều hai bên có thể đồng thuận với nhau trong những ràng buộc khó khăn từ hoàn cảnh chính trị và kinh tế trong nước của họ năm 1965. Dù hiệp ước bình thường hóa thất bại trong việc hòa giải các bản sắc mang tính lịch sử của hai nước, thất bại hòa giải chính trị này được bù đắp bằng nền tảng vững chắc được thiết lập cho mối quan hệ dựa trên lợi ích ở tương lai tốt đẹp hơn rất nhiều. Về mặt kinh tế, các khoản viện trợ của Nhật Bản dưới hình thức tuyên bố sở hữu tư nhân, viện trợ chính phủ và các khoản vay thương mại, cũng như những chuyển nhượng công nghệ, đã góp phần làm nên nền tảng cho tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc. Về mặt quân sự, hiệp ước bình thường hóa tăng cường an ninh ở cả Hàn Quốc và Nhật Bản bằng cách củng cố - dù có một số giới hạn — hợp tác an ninh ba bên Mỹ - Hàn - Nhật. Về mặt chính trị, hiệp ước bình thường hóa gieo mầm cho sự phát triển một mối quan hệ gắn bó hơn giữa hai nước dựa trên những giá trị và lợi ích chung. Phe chống đối tấn công bản hiệp ước như một sự phản bội, nhưng tuyên bố khá cường điệu của họ rằng hiệp ước này là bản sao của Hiệp ước Ulsa năm 1910 lại phản tác dụng. Những điểm tương đồng giữa hiệp ước 1910 và 1965 do phe chống đối vạch ra khiến lực lượng chống đối có vẻ bị gắn mác cực đoan, gây xa lánh nhiều thành phần chống đối ôn hòa đối với hiệp ước này.

Bên ngoài thỏa thuận

Việc chọn thời cơ cho thỏa thuận này khá chính xác. Về mặt kinh tế, Hàn Quốc đang cực kỳ cần vốn đầu tư nước ngoài để tiến tới với các kế hoạch phát triển kinh tế tham vọng của mình. Về phần mình, Nhật Bản đã hồi phục hoàn toàn từ Chiến tranh Thế giới lần II và đang tìm kiếm một vai trò mới trong vũ đài thế giới và khu vực. Bỏ quá khứ quân phiệt lại phía sau, Nhật Bản tìm cách xây dựng uy tín mới cho mình như là một nền dân chủ tự do theo chủ nghĩa hòa bình. Thỏa thuận với Hàn Quốc phần nào là thuốc thử cho sự chuyển đổi thật sự của Nhật Bản thành một nước dân chủ tự do. Thời điểm gia tăng cường độ trong Chiến tranh tại Việt Nam giữa những năm 1960 cũng góp phần vào thỏa thuận này. Mối quan hệ tốt đẹp giữa Hàn Quốc và Nhật Bản được xem như là vai trò trung tâm trong những nỗ lực củng cố mặt trận quân sự chống cộng ở Đông Á. Sự trùng hợp của hai chính phủ Park và Satō ở tính chống cộng cũng góp phần gắn kết hai kẻ cựu thù lại với nhau. Hai lãnh đạo này cùng chia sẻ các mục tiêu phòng vệ quân sự và hợp tác kinh tế mang tính thực dụng. Nếu không có sự hội tụ của các lợi ích kinh tế và an ninh này trong giai đoạn hoàn tất các cuộc đàm phán bình thường hóa sẽ khó để thúc đẩy lãnh đạo hai nước tiến đến thỏa thuận toàn diện giữa những năm 1960.

Hơn nữa, quá trình công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu trung ương tập quyền giữa những năm 1960 không gặp nhiều sự phản kháng từ các cường quốc và nền kinh tế thế giới, trái ngược với những năm 1970 và 1980 khi các lực lượng của chủ nghĩa bảo hộ ở các nước phát triển chắc chắn sẽ hạn chế các cơ hội hiếm hoi cho các nước phát triển muốn trông cậy vào các chương trình thúc đẩy xuất khẩu được nhà nước tài trợ. Vào những năm 1990 và sau đó, các lực lượng toàn cầu hóa tài chính sẽ càng gây khó khăn khi nhà nước sử dụng “các khoản vay chính sách” có trợ cấp cho các mục tiêu phát triển. Nói cách khác, Hàn Quốc có thể đã phải đối mặt với khó khăn lớn hơn rất nhiều nếu sử dụng cùng chiến lược phát triển mà nước này đã theo đuổi ở một giai đoạn trễ hơn. Hiệp ước bình thường hóa với Nhật Bản có vai trò quan trọng trong việc khởi động lại toàn bộ quá trình phát triển vào thời điểm thuận lợi nhất.

Mặt khác, đối với mối quan hệ song phương Hàn — Nhật, việc phê duyệt hiệp ước năm 1965 đã kéo theo sự hợp tác đáng chú ý đến cuối nhiệm kỳ của thủ tướng Satō Eisaku năm 1972. Trong vòng một năm sau bình thường hóa quan hệ, Nhật Bản vượt qua Hoa Kỳ ở vị trí đối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc. Xuất khẩu từ Nhật Bản đi Hàn Quốc tăng từ trung bình 180 triệu đô-la Mỹ năm 1965 lên 586 triệu đô-la Mỹ năm 1970. Từ năm 1971 đến 1975, con số này đã tăng gấp ba lần thành 1,8 tỷ đô-la Mỹ. Xuất khẩu từ Hàn Quốc sang Nhật Bản cũng tăng mạnh, nhưng không đủ để ngăn cản tình trạng thâm hụt thương mại tăng cao. Việc mở rộng các hoạt động thương mại giữa hai nước tạo nên một trong những động cơ thúc đẩy siêu tăng trưởng kinh tế ở Hàn Quốc. Đồng thời, viện trợ và đền bù kinh tế từ Nhật Bản trở thành nguồn vốn khởi sự để tài trợ cho các dự án FYEDP chiến lược của ông và thiết lập nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và hóa chất những năm 1970. Bên cạnh hoạt động thương mại song phương bùng nổ và sự tiến hành đúng thời điểm các chương trình viện trợ kinh tế, hai nước còn gia tăng mức độ hợp tác ở lĩnh vực quân sự dưới sự giám sát của Hoa Kỳ. Trong tuyên bố chung Nixon-Satō ngày 21 tháng 11 năm 1969, một “Điều khoản Hàn Quốc” được đưa vào mà trong đó an ninh Hàn Quốc được xem là thiết yếu với an ninh Nhật Bản.

Tuy nhiên đồng thời, cần phải nhấn mạnh những hạn chế trong giai đoạn khôi phục quan hệ của hai nước. Những chỉ đạo của Satō Eisaku diễn ra cùng lúc với một loạt những thay đổi to lớn trong quan hệ an ninh Đông Á - tuyên bố về Học thuyết Guam của Nixon (1969), sự tham gia của Trung Quốc vào Liên Hợp Quốc (1971) và chuyến viếng thăm Trung Quốc của Nixon (1972) - đã gây ra một giai đoạn khó khăn cho Park. Đầu tiên, theo sự dẫn dắt của Mỹ, Nhật đã cải thiện quan hệ song phương với Trung Quốc. Quan trọng hơn, Thủ tướng Tanaka Kakuei đã xem xét lại mối quan hệ của Nhật với hai nước thuộc bán đảo Triều Tiên. Lập luận rằng các cuộc họp Chữ thập Đỏ vừa được lên kế hoạch giữa hai nước thuộc bán đảo Triều Tiên ở Panmunjeom tháng 9 năm 1971 có tác động hạn chế căng thẳng ở Bán đảo Triều Tiên, Tanaka bắt đầu “chính sách một Triều Tiên” được người tiền nhiệm của ông ủng hộ. Tanaka sử dụng cách tiếp cận thực dụng và linh động hơn khi làm việc với Nam-Bắc Triều Tiên, không như thời kỳ của Hatoyama Ichiro (1954-1956). Tanaka lập luận rằng giai đoạn hòa dịu trên bán đảo Triều Tiên làm cho “Điều khoản Hàn Quốc” năm 1969 không còn phù hợp nữa.

Những sự kiện khác cũng xảy ra để kiểm chứng sự vững chắc trong mối quan hệ Hàn - Nhật sau khi bình thường hóa. Một trong những sự kiện gây thiệt hại lớn nhất là vụ bắt cóc Kim Dae-jung, thủ lĩnh đảng đối lập của Hàn Quốc lúc bấy giờ đang sống ở Nhật Bản, do những gián điệp KCIA thực hiện vào tháng 8 năm 1973. Vị ứng viên của Đảng Dân chủ Mới (NDP) trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1973, Kim Dae-jung lúc bấy giờ, đang cố gắng vận động quốc tế lên tiếng cáo buộc việc Park ban hành hiến pháp yushin vào tháng 11 năm 1972 sẽ kéo dài vĩnh viễn chế độ cai trị chính trị của ông. Park cáo buộc Kim Dae-jung âm mưu thiết lập chính quyền lâm thời ở Nhật Bản. Ông cũng cáo buộc Kim kết nối với các chosoren thân Bình Nhưỡng ở Nhật Bản. Khi Kim Dae-jung bị bắt cóc tại khách sạn của ông ở Tokyo vào ngày 8 tháng 8 năm 1973 bởi các gián điệp KCIA, hình ảnh của Park bị hoen ố trầm trọng. Bị chọc tức bởi các sự kiện diễn ra trên đất Nhật, nhiều lãnh đạo có sức ảnh hưởng tới quần chúng của Nhật Bản bắt đầu công khai chỉ trích chế độ độc tài của Park. Tổn thất có thể được hạn chế ở mức chính phủ, tuy nhiên Park trở nên giận dữ vì điều ông cho là sự can thiệp của Nhật vào chính trị nội bộ Hàn Quốc. Tháng 2 năm 1974 ông cấm phát hành Asashi Shimbun, một tờ nhật báo cấp tiến của Nhật.

Vào tháng 8 năm 1974, khi một người Hàn sinh sống ở Nhật Bản, dưới một nhân thân giả người Nhật, bắt và giết chết đệ nhất phu nhân Hàn Quốc trong một nỗ lực ám sát Park, sự giận dữ bùng nổ lên một đỉnh điểm mới. Người Hàn buộc chính phủ Nhật phải chịu trách nhiệm cho sự việc này. Khi chính quyền Nhật từ chối xin lỗi vì những gì đã xảy ra, theo như yêu cầu từ chính phủ của Park, các cuộc biểu tình nổ ra rộng rãi, thậm chí còn dẫn đến một cuộc tấn công vào đại sứ quán Nhật ở Seoul. Vai trò trung gian đúng lúc của Shiina Etsusaburō góp phần làm dịu những căng thẳng nặng nề này, nhưng thiệt hại thì đã rồi. Quan hệ song phương suy sụp xuống mức xấu nhất kể từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1965. Tuy nhiên kể cả lúc này, quan hệ Hàn - Nhật vẫn duy trì. Cũng như khi hai nước ký hiệp ước bình thường hóa năm 1965, quyền lực chính trị trong khu vực đã ngăn cản sự suy sụp của quan hệ này vào những năm 1970. Việc Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam năm 1973 và việc miền Nam Việt Nam được giải phóng năm 1975 đã cảnh báo nước Nhật và thúc đẩy nước này kết hợp chiến lược gắn kết hòa giải mới với lập trường chiến tranh lạnh phòng vệ quân sự trước đó. Với các mối đe dọa quân sự tiếp diễn từ Trung Quốc và Triều Tiên, Nhật Bản không thể duy trì chính sách của Tanaka Kakuei vốn bị cáo buộc là “giữ khoảng cách bằng nhau” với hai nước Triều Tiên. Thay vì vậy, người kế nhiệm của Tanaka tiến đến việc xác nhận “Điều khoản Hàn Quốc” trong tuyên bố chung Nixon-Satō năm 1969 mà theo đó Hàn Quốc được xem như là nhà nước có tính chính danh duy nhất trên Bán đảo Triều Tiên. Thủ tướng Miki Takeo, người thay thế Tanaka Kakuei đầy bê bối vào tháng 12 năm 1974 đã quyết định từ bỏ chính sách “giữ khoảng cách bằng nhau”, ông này tin rằng việc Bán đảo Triều Tiên rơi vày tay Bình Nhưỡng sẽ gây nên rắc rối nghiêm trọng cho lợi ích an ninh của chính Nhật Bản. Điều này đồng nghĩa với việc sẽ nối lại những khác biệt mà Nhật Bản có với Hàn Quốc về vụ bắt cóc Kim Dae-jung.

Được cảnh báo bởi nỗi sợ hãi về hiệu ứng domino gây ra bởi chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, Park cũng gác lại phía sau vấn đề về cái chết của vợ mình. Giai đoạn khôi phục quan hệ tiếp diễn với cả Fukuda Takeo và Ohira Masayoshi, hai thủ tướng Nhật cuối cùng mà Park gặp trước vụ ám sát ông vào tháng 10 năm 1979. Trên thực tế, chỉ vài tháng trước cái chết của mình, Park có thể đưa quan hệ song phương lên một tầm cao mới, vượt khỏi vai trò hợp tác kinh tế để thiết lập nền tảng cho hợp tác an ninh. Bắt đầu với những chuyến thăm lịch sử đến Hàn Quốc của cả Nagano Shigeo, tham mưu trưởng Lực lượng Tự vệ Đất liền (SDF) của Nhật Bản, và Yamashita Ganri, giám đốc Cơ quan Quốc phòng Nhật Bản, những nhà làm luật từ cả hai bên thiết lập một hội đồng nghị viện chính thức để thảo luận các vấn đề an ninh. Mối quan hệ Hàn - Nhật đã gần đạt đến sự hoàn chỉnh. Ngoài các vấn đề lãnh thổ, lịch sử và chính trị còn tồn đọng, hai nước đã cố gắng bước lùi để xây dựng mối quan hệ toàn diện, cả hai cùng có lợi mà họ bắt đầu với sự bình thường hóa quan hệ năm 1965 trên nền tảng các lợi ích an ninh chung.

Đồng thời, cũng cần phải chú ý rằng tính năng động từ sự hội nhập thị trường được giải phóng bởi quyết định bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản năm 1965 đã trở thành một cơ chế an toàn mới, bên cạnh các lý luận cũ về an ninh trong việc ngăn chặn thời chiến tranh lạnh, bảo vệ quan hệ Hàn — Nhật khỏi những điểm yếu và xung đột chính trị. Khi quan hệ hợp tác kinh tế song phương tiếp tục trở nên sâu sắc và mở rộng hơn, Hàn Quốc và Nhật Bản cho rằng họ không thể chịu được việc để cho các xung đột chính trị ngăn cản quan hệ của họ. Chính việc tạo ra các lý luận kinh tế mới nuôi dưỡng quan hệ Hàn — Nhật mạnh mẽ là di sản lớn nhất của Park.

Cũng như chế độ chính trị của Lý Thừa Vãn đánh dấu việc tiến đến một giai đoạn khác biệt trong quan hệ Hàn — Nhật, việc Park nắm quyền tạo ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ hai nước. Xác định bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản là một mục tiêu trong chính sách ngoại giao quốc gia mà trước khi chết, Park đã đạt được. Bất chấp những khác biệt trong nửa đầu những năm 1970, Hàn Quốc và Nhật Bản đã tạo ra các mối liên kết thương mại phát triển mạnh mẽ, tất cả đều diễn ra cùng lúc với giai đoạn củng cố các kết nối an ninh chống cộng sản. Lòng tôn trọng từ Nhật Bản dành cho Hàn Quốc có thể đã không tiến đến tầm quốc gia, nhưng nó chắc chắn đạt được ở mức độ cá nhân khi nhiều lãnh đạo Nhật Bản trong chính phủ và các doanh nghiệp lớn đánh giá cao tầm nhìn phát triển, phong cách lãnh đạo và quyết tâm thắt chặt quan hệ song phương của Park. Lòng mến Nhật mà ông có thể có hoặc không có, tầm nhìn thực dụng và hướng đến tương lai của Park đã giúp tái định hình mối quan hệ Hàn Quốc — Nhật Bản. Được thiết lập từ tinh thần của hiệp ước bình thường hóa năm 1965, mối quan hệ Hàn Quốc - Nhật Bản mới mẻ, được vun vén cẩn thận theo nhiều cách đã đóng góp vào sự tăng trưởng của Hàn Quốc như một quốc gia hiện đại, mạnh mẽ về kinh tế mà chúng ta biết đến ngày nay. Đó là điều Park luôn mong muốn.

« Lùi
Tiến »