Người Mỹ đã duy trì sự hiện diện đông đảo ở Hàn Quốc từ những năm trước 1961. Mỹ đã giải phóng Bán đảo Triều Tiên khỏi ách cai trị của đế quốc Nhật Bản vào năm 1945, trực tiếp cai trị nửa phía nam của bán đảo này trong ba năm bằng một chính quyền quân sự và góp sức tạo ra một chế độ hùng mạnh. Nước Mỹ đã bảo vệ Hàn Quốc khỏi cuộc tấn công quân sự của Bắc Triều Tiên trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Như một hệ quả của cuộc xung đột vũ trang này, sự hiện diện đông đảo của quân đội Hoa Kỳ gắn khu vực phi quân sự hóa đã được người Mỹ, những người đang nắm giữ quyền tổng chỉ huy tác chiến các lực lượng vũ trang Hàn Quốc, duy trì. Cho đến năm 1960, sau khi các đơn vị trọng yếu trong quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Hàn Quốc, sức mạnh và sự hiện diện của Hoa Kỳ vẫn còn áp đảo. Hầu hết ngân sách Hàn Quốc là từ nguồn viện trợ của Mỹ cộng với khoản tiền lớn mà Mỹ trực tiếp chi cho quân đội Hàn Quốc trong Chương Trình Hỗ trợ Quân sự. Các cố vấn Mỹ góp mặt ở mọi đơn vị quân đội Hàn Quốc, bên cạnh đó hơn 500 quan chức của Phái đoàn Viện trợ Mỹ (USOM) có trách nhiệm quản lý khoản viện trợ và từ đó quản lý luôn khoản phân bổ ngân sách của Hàn Quốc, kết quả là trên thực tế họ đóng vai trò giám sát cũng như định hình các chính sách xã hội và kinh tế trọng yếu của Hàn Quốc. Hơn nữa, trong nhiều vấn đề Hàn Quốc cũng không có đủ chuyên môn cần thiết của một chính quyền hiện đại và thường xuyên phải dựa vào các cố vấn Mỹ để nâng cao năng lực của nhà nước.
Dù vậy nước Mỹ cũng không thể ngăn Park Chung Hee tổ chức đảo chính lật đổ Thủ tướng Chang Myon, người được bầu lên một cách dân chủ vào ngày 16 tháng 5 năm 1961. Khi Hoa Kỳ thừa nhận cuộc đảo chính như một sự việc đã rồi, nước này tuy thành công trong việc thuyết phục Park phải chấp nhận nguyên tắc chuyển giao quyền lực sau cùng cho nền dân sự nhưng lại thất bại trong việc xác định thời gian và điều kiện tiến hành chuyển giao quyền lực. Ngược lại, Park đã cao tay hơn khi hoãn bầu cử tới một thời điểm chưa xác định trong năm 1963 để tranh thủ thời gian xác lập nền tảng thể chế cho việc vận động và cưỡng bách có chọn lọc trên chính trường với mục tiêu củng cố vị trí ứng viên tổng thống của ông như một lãnh đạo quân-sự-chuyển-sang-dân-sự. Thậm chí cả trong lĩnh vực kinh tế mà Hoa Kỳ tưởng chừng như đã có đủ nguồn lực để tùy ý nâng đỡ hay vùi dập Park thì bên nhận viện trợ vẫn thường qua mặt nhà tài trợ chứ không để bị kiểm soát và điều chỉnh. Cả hai đều thống nhất về tính tối quan trọng của phát triển kinh tế tuy nhiên lại bất đồng mạnh mẽ về cách thức mang lại tăng trưởng kinh tế. Dưới áp lực chính trị phải chứng tỏ trước công chúng rằng chính quyền quân sự có đủ khả năng đem lại sự tăng trưởng như đã hứa và bên cạnh đó cũng phải củng cố nền tảng tài chính cho bè phái của mình ở chính quyền quân sự với cái giá phải trả cho các đối thủ, Park đã giao phó chính sách kinh tế vào tay Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc (KCIA) mà đứng đầu là vị phó tướng tâm phúc Kim Jong-pil, và cố gắng thúc đẩy nền kinh tế nhảy vọt bằng chuỗi các liệu pháp sốc. Trong khi đó, USOM lại yêu cầu thực thi các chính sách trái ngược nhằm bình ổn tài chính. Park cũng đã vô hiệu hóa được các áp lực từ Hoa Kỳ muốn hạn chế quy mô của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc trong những năm cuối của chính quyền quân sự.
Chương 2 cho thấy thất bại của Hoa Kỳ trong việc chuyển đổi các nguồn lực chính trị, quân sự và kinh tế thành sức mạnh bắt nguồn từ ba nguyên nhân. Thứ nhất, lợi ích quân sự của Hoa Kỳ ở Hàn Quốc vốn có vị trí ưu tiên hàng đầu cùng với những khó khăn an ninh trong công tác bảo vệ phía nam Bán đảo Triều Tiên ở một châu Á mà tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản lan rộng đã không cho phép Hoa Kỳ đe dọa đến khả năng nắm quyền của Park tại nơi vốn đã có tình hình chính trị lung lay và bất ổn. Khi vị thế chính trị của Park bị đe dọa thì Mỹ tin rằng cần phải giảm áp lực chính trị và nếu có thể thì thỏa hiệp với chính quyền quân sự. Thứ hai, vì tính phức tạp trong những lợi ích của Hoa Kỳ ở Hàn Quốc, từ việc phòng vệ quân sự đến dân chủ hóa và phát triển kinh tế, nên luôn có những cơ quan Hoa Kỳ cạnh tranh lẫn nhau trong việc định hình chính sách ở đất nước này. Nước Mỹ không phải là một thực thể thống nhất. Ngược lại, sự cạnh tranh lẫn nhau giữa các cơ quan là một hiện tượng đặc thù ngăn cản đồng minh lớn nhất của Park đối đầu với ông bằng một chính sách thống nhất. Thứ ba, để đạt được mục tiêu phòng vệ quân sự, dân chủ hóa và phát triển kinh tế, nước Mỹ cần sự hợp tác của Park, điều này đã vô hiệu hóa áp lực từ phía Mỹ.
Ưu tiên và lợi ích của Hoa Kỳ
Vào cuối những năm 1950, chính sách của Mỹ đối với Hàn Quốc bắt đầu dịch chuyển từ trọng tâm đơn thuần quân sự [26] sang một trọng tâm liên quan tới chính trị và kinh tế hơn. Kiểm soát quân sự vẫn là tâm điểm trong chính sách của Mỹ và biện minh cho việc một lượng lớn binh lính Mỹ đồn trú ở Hàn Quốc, việc phê chuẩn Hiệp định Quốc phòng chung với Hàn Quốc, và việc hỗ trợ hiện đại hóa lực lượng vũ trang của nước này, tuy nhiên các quan điểm về cách thức đảm bảo sự kiểm soát quân sự lại trở nên phức tạp hơn vì các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ nhận thức rõ hơn rằng nhiệm vụ này cũng mang tính chính trị và kinh tế bên cạnh tính quân sự. Cách nhìn nhận này xuất phát từ sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Liên Xô trong những năm 1950 và công cuộc tái thiết nhanh chóng của Triều Tiên sau chiến tranh đối lập với tình trạng trì trệ kinh tế và bất ổn chính trị dai dẳng ở Hàn Quốc. Đối với các nước kém phát triển, mô hình phát triển của Liên Xô trông hấp dẫn hơn hẳn mô hình của phương Tây và điều này đã khiến Hoa Kỳ phải đánh giá lại rằng mối nguy hiểm từ Liên Xô có tính chính trị mạnh hơn. Sức mạnh tổng hợp của lực lượng Hoa Kỳ đóng ở Hàn Quốc (USFK) và lực lượng vũ trang Hàn Quốc cùng sự cam kết chắc chắn của Mỹ sẽ bảo vệ Nam Hàn được xem là đủ lớn để ngăn chặn hiệu quả bất cứ hành vi tái khởi động chiến tranh nào của Bắc Hàn dù có hoặc không có trợ giúp từ Trung Quốc.
Tuy nhiên, mối đe dọa từ Bắc Hàn lại mang tính tâm lý và chính trị, nó khiến Hàn Quốc trông giống như một trường hợp vô vọng với tình trạng nghèo đói, băng hoại xã hội và bất ổn chính trị mà đã được định đoạt là sẽ thất bại trong cuộc cạnh tranh nội bộ để trở thành một chính quyền chính danh duy nhất của toàn thế nhân dân Triều Tiên. Năm 1961, GNP bình quân đầu người của Triều Tiên là 160 đô-la Mỹ, gấp hai lần Hàn Quốc và khoảng chênh lệch về thành tựu kinh tế này vẫn đang lớn thêm. Trong tình hình đó, việc ổn định chính trị bị phá vỡ càng khiến niềm tin ở Hàn Quốc thêm cạn kiệt. Năm 1951 sự ủng hộ dành cho Lý Thừa Vãn đã không thể giúp người dự kiến kế nhiệm ông ta, Yi Ki-bung, đắc cử ghế phó tổng thống, điều này khiến Đảng Tự do hoang mang về khả năng tiếp tục duy trì quyền lực trong thời kỳ hậu Lý Thừa Vãn. Hơn thế nữa, Cho Pong-am của Đảng Cấp tiến cánh tả đã giành được 2 triệu phiếu bầu (24% tổng số phiếu hợp lệ) làm cho toàn bộ nhóm bảo thủ lo lắng về sự phục hồi của các lực lượng cánh tả.
Quyết định của Mỹ về việc cân nhắc thêm các yếu tố chính trị và kinh tế trong chính sách phòng vệ quân sự cũng xuất phát từ những hạn chế về nguồn lực. Khi Dwight D. Eisenhower yêu cầu đánh giá chính sách của Hoa Kỳ đối với Hàn Quốc vào năm 1957, Hàn Quốc lúc bấy giờ là nước hưởng nhiều viện trợ từ Mỹ nhất trong thế giới thứ ba. Mỹ muốn hạn chế khoản viện trợ cho Hàn Quốc khi thặng dư thương mại của Mỹ sụt giảm và lâm vào thâm hụt, tuy nhiên việc cắt giảm viện trợ chỉ trở nên khả thi khi nào kinh tế Hàn Quốc bắt đầu tăng trưởng. Chính trong bối cảnh này Mỹ đã tiến hành đánh giá lại quy mô khổng lồ của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc mà nhu cầu của nó đã sinh ra một gánh nặng không thể kham nổi đối với nền kinh tế kiệt quệ vì chiến tranh này. Vào tháng 1 năm 1957, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NSC) chuẩn bị bốn chương trình thay thế với mục tiêu hạn chế quy mô của quân đội Hàn Quốc mà không làm giảm khả năng phòng vệ của lực lượng này thông qua việc nâng cấp vũ khí cho cả quân đội Hàn Quốc và USFK. Sau sáu tháng suy xét, chương trình NSC 5702/2 đã được lựa chọn, chương trình này yêu cầu chuyển 4 trong số 20 sư đoàn quân đội Hàn Quốc thành lực lượng dự bị đồng thời cung cấp các loại vũ khí kết hợp vũ khí thường và vũ khí hạt nhân cho USFK. Nắm bắt được tầm quan trọng mới của ổn định chính trị và phát triển kinh tế, NSC 5702/2 thêm hai điểm vào danh sách mục tiêu của Mỹ: (a) “Khuyến khích [Hàn Quốc] phát triển các tổ chức dân chủ ổn định và những mối quan hệ hợp tác với các quốc gia tự do khác ở châu Á” và (b) “thúc đẩy [Hàn Quốc] đạt được tốc độ phát triển kinh tế cao nhất tương thích với một mức ổn định hợp lý và mức tiêu dùng nhu yếu phẩm hiện tại.” [27] Sự chuyển dịch trọng tâm của Mỹ trở nên rõ ràng hơn trong chương trình NSC 6018, được sử dụng sau cuộc bầu cử tổng thống John F. Kennedy. Chương trình đó ủng hộ lý thuyết cất cánh trong phát triển kinh tế dựa trên học thuyết kinh tế Keynes, của nhà kinh tế học đồng thời là Phó trợ lý đặc biệt cho Tổng thống về an ninh quốc gia, Walt W. Rostow. [28] NSC 6018 cũng có xét đến Cách mạng của Sinh viên tháng 4 năm 1960 đầy kịch tính đã lật đổ chính quyền Lý Thừa Vãn. Nhận thức rõ dần về việc thực tế đói nghèo, nền cai trị chuyên chế và tệ tham nhũng có thể dẫn đến bất ổn chính trị triền miên đã khiến đề xuất của nhóm chuyên gia chính sách Hoa Kỳ ủng hộ sự dịch chuyển trọng tâm từ quân sự sang chính trị và kinh tế trở nên chính đáng hơn. NSC 6018 đã tái xác định mục tiêu dài hạn trong chính sách của Mỹ với Hàn Quốc là tìm cách xây dựng “một nước Triều Tiên thống nhất với một nền kinh tế phát triển, tự lực cánh sinh, có một chính phủ tự do, độc lập, mang tính đại diện có thể đáp ứng hiệu quả kỳ vọng của nhân dân và giải quyết tốt các vấn đề xã hội, hướng đến mô hình của Hoa Kỳ và các nước khác trong Thế giới Tự do, có khả năng duy trì an ninh nội bộ cũng như phản kháng quyết liệt trước các tấn công bên ngoài”.
Vào tháng 2 năm 1961, tình trạng bất ổn chính trị dai dẳng ở Hàn Quốc thời hậu Lý Thừa Vãn đã lên đến mức báo động đối với các quan chức cao cấp của Washington, gồm cả các thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) đứng đầu là Walt Rowstow. Hugh D. Farley, người giữ chức Tổng thư ký của USOM tại Hàn Quốc đến tháng 2 năm 1961, đã tiến hành một cuộc đánh giá giữa các cơ quan về chính sách của Hoa Kỳ với một báo cáo trình lên Nhà Trắng vào đầu tháng 3. Farley cho rằng sự kết hợp của ba vấn đề đã dẫn đến “một yêu cầu tối quan trọng là chính phủ Mỹ phải nhận thức được mức độ trầm trọng của tình hình và phản ứng kịp thời để cải thiện nó”. Ông ta chỉ ra: (a) tệ tham nhũng thâm căn cố đế trong xã hội Hàn Quốc và hệ quả là tình trạng dân chúng mất tín nhiệm vào chính phủ và các lãnh đạo chính trị; (b) quá trình thoái hóa nhanh chóng của động lực chính trị ở Hàn Quốc đã làm thui chột khả năng quản lý đất nước của lãnh đạo Đảng Dân chủ giai đoạn hậu Lý Thừa Vãn; (c) USOM được lãnh đạo một cách thiếu quyết đoán và không thích đáng. USOM, một tổ chức hùng mạnh gồm khoảng 500 nhân viên điều hành các khoản viện trợ của Mỹ lại bị xem là thiếu năng lực và có lẽ cũng tham nhũng như chính quyền Hàn Quốc khi thực hiện sứ mệnh giám sát công cuộc tái thiết kinh tế của Hàn Quốc. Cho đến năm 1961, viện trợ của Hoa Kỳ vẫn chiếm hơn 90% ngân sách chính phủ Hàn Quốc nên sự kém hiệu quả của USOM đồng nghĩa với việc Hàn Quốc đang đánh mất cơ hội bắt kịp thành quả kinh tế của Triều Tiên cũng như cơ hội được hưởng lợi từ một chính quyền có tính chính danh cao hơn. Farley tiên đoán rằng một cuộc khủng hoảng chính trị trầm trọng có thể nổ ra vào những tháng tới, đặc biệt là khoảng thời gian quanh lễ kỷ niệm một năm cuộc Cách mạng của Sinh viên 19 tháng 4 đã lật đổ Lý Thừa Vãn. Farley không loại trừ khả năng xảy ra một cuộc lật đổ quân sự. Trái lại, ông ta cho rằng một cuộc đảo chính rất có thể sẽ xảy ra nếu Mỹ không hành động đúng lúc và dứt khoát.
Đại sứ quán Mỹ ở Hàn Quốc và Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ đã lờ đi những cảnh báo của Farley. Hai cơ quan này cho rằng khả năng xảy ra một cuộc đảo chính là xa vời, vì những ý tưởng như vậy sẽ bị “ngăn lại bởi họ biết rằng nước Mỹ sẽ đàn áp bất cứ kế hoạch nào như vậy.” Tuy nhiên, tất cả họ đều cùng chia sẻ quan điểm rằng tình hình rất u ám và dự đoán rằng “Hàn Quốc về cơ bản quá yếu về mặt kinh tế và thiếu vững chắc về chính trị đến mức trong những năm sắp tới, khủng hoảng nội bộ hay nguy cơ khủng hoảng đều là điều bình thường chứ không phải là dị biệt.” Trong một giác thư gửi đến Rostow tháng 3 năm 1961, Robert W. Komer của NSC lập luận:
Xem xét các vấn đề cản bản của ROK [Republic of Korea] (Hàn Quốc): (a) một đất nước nghèo nàn với rất ít tài nguyên và kỹ năng; (b) chịu áp lực nặng nề bởi nhiệm vụ quá sức phải duy trì một lực lượng quân sự lớn quá mức nó có thể gánh (hoặc nó cần phải gánh); (c) tệ tham nhũng dung dưỡng sự kém cỏi của chính quyền dân chủ; và (d) chủ nghĩa dân tộc độc lập và viễn cảnh tương lai huy hoàng đang đầy hứa hẹn lại bị làm vỡ mộng bởi sự miễn cưỡng ngày càng lộ rõ của Mỹ trong việc thiết lập vị thế bình đẳng giữa hai nước, thúc đẩy tiến trình thống nhất hoặc xóa bỏ tình trạng quá chú trọng vào quân sự ở ROK. Những căn bệnh tiềm tàng và các nhu cầu cơ bản bắt nguồn từ kinh tế. Định hướng chính cho các nỗ lực của Mỹ trong các thập niên tới phải là: (a) cắt giảm mạnh mẽ chi phí của quân đội ROK, từ đó đưa nguồn lực này vào đẩy nhanh phát triển kinh tế. Công tác quốc phòng của ROK có thể được đảm nhiệm bởi lực lượng quân đội của ROK kết hợp với quân Mỹ đang đóng ở Hàn Quốc và bằng việc liên tục nhắc nhở Khối [Xô-viết] rằng Mỹ kiên quyết bảo vệ Hàn Quốc khỏi các thế lực bên ngoài; (b) xây dựng nền kinh tế ROK, chú trọng vào khu vực công, hình thành các ngành công nghiệp nhẹ thâm dụng lao động và tận dụng hết mức nguồn lực lớn nhất của ROK - con người. (Nhấn mạnh theo vàn bản gốc)
Rowstow đã báo cho Kennedy về các bất đồng quanh báo cáo của Farley và chỉ ra rằng vấn đề căn bản là phải “chuyển hướng các khoản viện trợ khổng lồ cho [Nam] Triều Tiên theo cách nào để nước này không chỉ không bị suy thoái nữa... mà còn phải bắt đầu thúc đẩy [Nam] Triều Tiên phát triển.” Vào cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia ngày 5 tháng 5, Kennedy đồng ý thành lập Lực lượng Đặc nhiệm ở Hàn Quốc, đứng đầu là Vụ trưởng Bộ ngoại giao phụ trách khu vực Viễn Đông Walter P. McConaughy (ông này từng là đại sứ ở Hàn Quốc cho đến tháng 4), nhằm chuẩn bị cho chính sách mới ở Hàn Quốc. Trong khi bản dự thảo đang được chuẩn bị, cuộc đảo chính quân sự của Thiếu tướng Park Chung Hee với khoảng 3.600 binh sĩ đã nổ ra vào rạng sảng ngày 16 tháng 5.
Cuộc đảo chính
Nước Mỹ đã ý thức được sự tồn tại của những nhóm đảo chính tiềm ẩn vào đầu tháng 4 năm 1961. Tuy nhiên không hề có bằng chúng nào ủng hộ cho những nghi ngờ rằng Mỹ đã quá thất vọng về chính quyền Chang Myon đến mức phải bí mật tổ chức một cuộc lật đổ. Tuy vậy, cũng rất rõ ràng là ngoại trừ những ngày rối ren 16 và 17 tháng 5 khi Đại tướng Carter B. Magruder, vị tư lệnh của cả lực lượng quân sự Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ ở Hàn Quốc, tìm mọi cách thuyết phục Tổng thống Yun Po-sun chống lại cuộc đảo chính bằng việc huy động quân đội thì Washington đều chần chừ trong việc trấn áp chính quyền quân sự đã lật đổ một chính phủ được bầu lên từ nền dân chủ hoặc lưỡng lự khi khôi phục lại chế độ Chang Myon. Trong văn bản đầu tiên phát đi từ Bộ Ngoại giao vào ngày đảo chính, bức điện tín gửi đến đại sứ quán Mỹ ở Hàn Quốc, thứ trưởng Bộ Ngoại giao Chester B. Bowles, thay mặt Ngoại trưởng Dean Rusk, đã chỉ thị cho đại sứ quán giữ một thái độ “chờ đợi và quan sát” thay vì xác định luôn rằng Hoa Kỳ “sẽ ủng hộ chính quyền mà có thể sẽ bị lật đổ”.
Khi Thủ tướng Chang Myon thông báo từ chức cùng với các thành viên nội các ngày 18 tháng 5, Bộ Ngoại giao Mỹ đã hoan nghênh hành động của Chang trong một thông cáo báo chí và dự đoán rằng động thái này sẽ giúp chấm dứt bất ổn chính trị. Tờ Thời báo New York đăng một bài thúc giục chấp nhận cuộc đảo chính như một sự việc đã rồi. Các quan chức Mỹ đều biết về các hoạt động ủng hộ cộng sản của Park trong những ngày tháng hỗn loạn sau giải phóng Triều Tiên năm 1945, nhưng đều tin rằng ông đã chuyển hướng hoàn toàn sang chủ nghĩa bảo thủ Hàn Quốc. Lực lượng USFK cho rằng dân chúng nếu không đồng tình thì cũng không phản đối hoạt động lật đổ của chính quyền quân sự. Thật ra, có vẻ như chỉ trong vài ngày sau đảo chính, chính quyền Mỹ đã sẵn sàng chấp nhận những sự kiện vừa xảy ra và sẵn sàng hợp tác với các thủ lĩnh đảo chính. Vào ngày 25 tháng 5, Bộ Ngoại giao Mỹ phát đi một bức điện tín báo rằng đã nhận được thông điệp “chính thức” từ Trung tướng Chang Do-young, chủ tịch Ủy ban Cách mạng Quân sự đồng thời là Tổng tham mưu trưởng, trong đó trình bày các mục đích của cuộc đảo chính. [29] Tuy nhiên trong những ngày sau đó Washington cố ý trì hoãn bất kỳ thông báo đại chúng nào công nhận chính quyền quân sự là chính phủ mới của Hàn Quốc, và như vậy Mỹ có thể nâng cao vị thế trong các cuộc đàm phán sắp tới với các thủ lĩnh đảo chính về vấn đề lập lại chính quyền dân sự. Chang Do-young, người nhanh chóng trở thành chủ tịch Hội đồng Tối cao Tái thiết Quốc gia đồng thời là Thủ tướng, đã đến Washington gặp gỡ Kennedy trong một nỗ lực nhằm đảm bảo Mỹ công nhận cuộc đảo chính, và thông qua đó củng cố địa vị của ông ta trong chính quyền quân sự. Cuộc gặp gỡ lý ra đã làm vị trí của Chang Do-young trở nên chính đáng, nhưng ông ta lại chỉ nhận được lời phản hồi lạnh nhạt từ đại sứ quán Mỹ ở Seoul cũng như từ các lãnh đạo ở Washington. Park Chung Hee thậm chí còn bị đối xử tệ hơn trong những ngày đầu của cuộc đảo chính. Tại đại sứ quán Mỹ ở Seoul, Phó đoàn ngoại giao Mỹ Marshall Green đã cố vấn chủ yếu cho Chang Do-young và Trung tướng dự bị Kim Hong-il, Bộ trưởng Ngoại giao, về những sự vụ hàng ngày của chính phủ cho dù đã sớm thấy rõ rằng chính Park mới là người nắm giữ quyền lực thật sự dù cho trên danh nghĩa ông chỉ giữ chức Phó chủ tịch SCNR.
Có những lý do khác cho việc trì hoãn thiết lập quan hệ với chính quyền quân sự. Bên cạnh mục tiêu nâng cao vị thế trước quân đội, Hoa Kỳ cũng phải đối mặt với bối cảnh phức tạp của quá trình chuyển giao khi Yun Po-sun vẫn còn làm tổng thống. Tuy văn phòng của ngài tổng thống gần như chỉ có mang tính tượng trưng, với Yun là người đứng đầu nhà nước, nhưng sự hiện diện của ông cũng tạo được cảm giác về sự tiếp nối ổn định hợp pháp và có nghĩa là Mỹ không cần phải vội công nhận chính quyền quân sự là một chính quyền “mới” của Hàn Quốc. Hoa Kỳ có dư thời gian để đưa ra các điều kiện cho việc chấp nhận các lãnh đạo đảo chính. Hơn nữa cũng không thể chắc chắn ai mới là người chiến thắng trong cuộc đấu tranh quyền lực dữ dội trong nội bộ chính quyền quân sự. Vậy nên, không những không cần thiết phải liều lĩnh đặt cược sức ảnh hưởng của Mỹ vào một phe phái cụ thể, mà bằng cách rút lại sự ủng hộ, siêu cường viện trợ này còn có thể “thuần hóa” lớp lãnh đạo đang lên, cho dù đó cuối cùng sẽ là Park, Chang Do-young, hay một lực lượng thứ ba chưa xuất hiện. Trì hoãn là chiến thuật tốt nhất cho cường quốc này trước một tương lai không chắc chắn.
Thêm vào đó, các lãnh đạo đảo chính đã nhiều lần gây khó chịu cho các quan chức Mỹ ở Seoul và Washington. Sau vụ việc chính quyền quân sự bắt giam Trung tướng Yi Han-lim, Tư lệnh Tập đoàn quân số 1 vào ngày 18 tháng 5 vì các hoạt động chống đảo chính, việc chính quyền này tiếp tục điều động hai sư đoàn của Tập đoàn quân số 1 từ tiền tuyến về thủ đô mà không được sự đồng ý trước của Đại tướng Magruder đã vi phạm hiệp ước Taejon ký ngày 12 tháng 7 năm 1950 về việc chuyển giao quyền tổng chỉ huy tác chiến quân đội Hàn Quốc cho tư lệnh Bộ Chỉ huy Lực lượng giám sát hiệp định đình chiến hai miền Triều Tiên của Liên Hợp Quốc, gọi tắt là UNC (thêm vào đó, người này cũng đồng thời là tư lệnh của USFK). Chang Do-young cũng đột ngột thông báo kế hoạch viếng thăm Washington để gặp mặt Kennedy mà không hề tham vấn đại sứ quán Mỹ. Rõ ràng là các lãnh đạo đảo chính đã tin rằng Mỹ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận những hành động của họ, vì thậm chí họ còn cố gắng đe dọa các quan chức Mỹ với lập luận “chính quyền quân sự chỉ có thể bị thay thế bởi một cuộc lật đổ của chủ nghĩa cộng sản.” Vì vậy, để đặt chính quyền quân sự vào thế phòng ngự và để áp đặt các điều kiện cho nền cai trị quân sự, Mỹ tin rằng giữ “lập trường thận trọng nhưng thân thiện [là] rất phù hợp để biểu đạt niềm tin và sự ủng hộ tuyệt đối”, đặc biệt là trong giai đoạn đầu còn bất ổn của cuộc đảo chính quân sự.
Cuộc gặp đầu tiên của Green và Park diễn ra vào ngày 9 tháng 6. Theo chỉ đạo của Bộ Ngoại giao, Green khẳng định rằng “Hoa Kỳ xem Hội đồng Tối cao Tái thiết Quốc gia là một ‘chính phủ được thừa nhận và Hoa Kỳ đã sẵn sàng hợp tác với Hội đồng trong thiện chí theo nguyên tắc thân thiện và hợp tác’; hoan nghênh sáu mục đích trong thông điệp ngày 16 tháng 5 từ ngài Chang Do-young và thừa nhận chúng với thiện ý; và hy vọng về một mối giao bang tốt đẹp phục vụ cho ‘nhân dân Hàn Quốc cũng như các lợi ích và mục tiêu chung của chúng ta’.” Sau buổi gặp, Green báo cáo về Washington rằng “các lãnh đạo quân đội thường xuyên phớt lờ những lời khuyên từ phía Mỹ, nhưng cũng bị ảnh hưởng ở một mức độ nào đó”. Ông ta đề nghị rằng vẫn còn “quá sớm để tiến tới quá thân thiết với họ, giữ thái độ lạnh nhạt sẽ nâng cao vị thế mặc cả của ta.”
Trong khi đó ở Washington, báo cáo hoàn thành vào ngày 5 tháng 6 của Lực lượng Đặc nhiệm ở Hàn Quốc được thảo luận và phê duyệt thành Kế hoạch NSC 2430 vào ngày 13 tháng 6. Kế hoạch này xác nhận chủ ý của Mỹ muốn thỏa thuận với chế độ quân sự mới trên tinh thần thân thiện và hợp tác, tiếp tục viện trợ kinh tế, quân sự và sẵn sàng ủng hộ một kế hoạch phát triển đất nước được hoạch định bởi chính quyền quân sự với điều kiện chính quyền này quyết tâm lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch đó. Bản báo cáo cũng khuyến nghị Mỹ nên chào đón Chủ tịch SCNR đến Washington trong cuộc họp với Tổng thống Kennedy, miễn là SCNR nghiêm túc về việc xây dựng và thực hiện một kế hoạch phát triển đất nước, sẵn sàng cân nhắc việc đi đến chuyển giao quyền lực cho chính quyền dân sự và công nhận thẩm quyền của USFK-UNC trong việc thực hiện quyền tổng chỉ huy tác chiến các lực lượng vũ trang Hàn Quốc.
Tuy vậy phải đến giữa tháng 7 năm 1961, nước Mỹ mới có cơ hội thỏa thuận với chính quyền quân sự về ba vấn đề phát triển kinh tế, chính quyền dân sự và quyền tổng chỉ huy tác chiến quân sự bởi nhà cầm quyền (danh nghĩa) và kẻ nắm quyền lực (thật sự) đã không thể thống nhất được với nhau về định hướng cho đội ngũ lãnh đạo mới. Trước khi hai bên đi đến thống nhất sau một loạt các cuộc thanh trừng đối thủ của Park khỏi chính quyền quân sự và trước khi Park đắc cử vị trí Tổng thống thì Hoa Kỳ đã không thể thỏa thuận với một chính quyền đồng cấp tại Hàn Quốc. Trước tiên, các lãnh đạo đảo chính phải xác lập lại trật tự ở sân nhà. Cơ hội thỏa thuận đến vào ngày 3 tháng 7, 9 ngày sau khi ngài đại sứ Mỹ Samuel Berger nhậm chức. Vào ngày đó Chang Do-young bị thanh trừng và Park chiếm lấy vị trí Chủ tịch SCNR, cuối cùng ông cũng đã bước lên từ nền chính trị kín của chính quyền quân sự. Park đã nhanh chóng xem Berger như một đối tác đầy thách thức nhưng cũng có tính cách xây dựng và đáng tin tưởng khi thỏa thuận về các điều kiện tái thiết mối quan hệ chính trị giữa hai nước.
Điều mà Berger nhận ra khi ông đến Hàn Quốc là một loạt biện pháp cải cách chung mang tính cách mạng mạnh mẽ được dẫn dắt bởi một nhóm sĩ quan cấp tá trẻ tuổi, nhiệt huyết nhưng thiếu kinh nghiệm. Một số biện pháp Berger cho rằng khá khó chịu, liên quan tới vô số những cuộc bắt bớ không có lệnh bắt và phiên tòa xử các đối thủ chính trị của Park với những tội danh được dựng lên. Những biện pháp khác thì thiếu suy xét về phương diện kinh tế, thường là trái với những nguyên lý cơ bản của thị trường. Chính quyền quân sự được Park dẫn dắt không hề che giấu xu hướng chủ nghĩa dân tộc, xu hướng này có thể dễ dàng dẫn đến bài Mỹ hoặc chấp nhận hệ thống tư tưởng không phù hợp với Mỹ vốn đang thịnh hành ở nhiều nước trong thế giới thứ ba. Tuy nhiên Berger vẫn tìm ra được những yếu tố tích cực như là “sự năng nổ, sự háo hức, lòng quyết tâm và sức sáng tạo” ở các lãnh đạo đảo chính, những phẩm chất này có thể dẫn dắt đất nước thoát khỏi đói nghèo. Thái độ phức tạp của Berger phản ánh quan điểm mâu thuẫn của người Mỹ về Park cũng như chính quyền quân sự của ông. Một mặt, các nhà hoạch định chính sách Mỹ cực lực phản đối chính quyền quân sự chuyên chế của ông và gây áp lực để khôi phục nền dân chủ. Mặt khác, do quan ngại về các yêu cầu địa chính trị nhằm duy trì một mặt trận thống nhất chống lại kẻ thù của cả hai quốc gia trong cuộc chiến tranh lạnh cũng như bị thuyết phục bởi tinh thần cải cách của chính quyền trên nhiều lĩnh vực nên các nhà hoạch định Hoa Kỳ cũng bị hạn chế trong việc dùng quyền lực thúc đẩy dân chủ hóa.
Sứ mệnh của Berger là đảm bảo ổn định chính trị và một cuộc chuyển giao sau cùng cho một chính quyền dân chủ, nhưng đồng thời cũng phải giúp chính quyền quân sự lợi dụng lòng nhiệt thành dân tộc của quần chúng làm động cơ cho quá trình phát triển. Ngày 16 tháng 7 năm 1961, Berger đến gặp Park và nhấn mạnh tầm quan trọng của các bước tiến dẫn đến tái lập chính quyền dân sự. Do đang nắm quyền kiểm soát chính quyền quân sự, Park đã chấp nhận hầu hết các yêu cầu của Berger ở mức phù hợp, trong đó có cả một lời hứa chuyển giao quyền lực cho một chính quyền dân sự trong một khung thời gian xác định. Kể từ lúc đó, mối quan hệ giữa Park với Washington trở nên khá khăng khít. Ngày 12 tháng 8, Park công khai hứa hẹn việc chuyển giao quyền lực cho một chính quyền dân sự vào giữa năm 1963. Tháng 9 năm 1961, Berger hoàn thành phần của mình trong thỏa thuận bằng cách gửi lời mời của Mỹ đến Park về một “chuyến công du” ở Washington. Park đi Mỹ vào tháng 11 và nhận được sự đón tiếp vượt quá mong đợi.
Sau chuyến đi của Park đến Washington, Berger gửi một bức thư đến Ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk và tỏ thái độ ca ngợi vị khách Hàn Quốc:
Chủ tịch Park Chung Hee đã tạo dựng hình ảnh của mình trước người dân [nước] Cộng hòa như một vị lãnh tụ quyết đoán, công bằng và thông minh, một người có thể tin cậy được để lên nắm quyền, để duy trì cách mạng một cách đúng đắn, chừng mực, và để thực hiện lời hứa mà ông đã tuyên bố vào ngày 12 tháng 8 về việc chuyển giao quyền lực cho chính quyền dân sự sau cuộc bầu cử tháng 5 năm 1963. Vì vậy Park chính là đại diện cho mối liên kết quan trọng nhất giữa chính quyền và nhân dân và là nhân tố-bình ổn quan trọng nhất trong tình huống này... Tuy nhiên, sự ủng hộ công khai mà Hoa Kỳ dành cho chính quyền quân sự và sự tiếp đón thân thiện trong suốt chuyến đi của Park đến Hoa Kỳ có lẽ mới là những nhân tố mang tính quyết định để ổn định tình hình. Một người Hàn Quốc đã nói với tôi câu này, “Bởi nước Mỹ có ấn tượng với Park, người dân Hàn chúng tôi càng trân trọng ông ta hơn.”
Việc địa vị lãnh đạo của Park được công nhận không chỉ cho ông cơ hội củng cố quyền lực trong giai đoạn hậu Chang Do-young mà còn cho ông thêm hai năm nắm quyền để thử nghiệm các cách thức mới nhằm phát triển kinh tế và tái thiết quốc gia với mục tiêu tạo được sự ủng hộ từ người dân trong các cuộc bầu cử năm 1963. Park đã có được thời gian cần thiết để xây dựng hình ảnh của mình như một người gây dựng lại đất nước, đổi lại ông phải làm theo yêu cầu của Mỹ về việc đưa đất nước trở lại với chính quyền dân sự trong khoảng thời gian quy định.
Nền chính trị quá độ, 1962-1963
Sau khi Mỹ công nhận cuộc đảo chính và tính chính đáng của SCNR trong cuộc gặp giữa Park và Kennedy tháng 11 năm 1961, Hàn Quốc bước vào một chương mới tối quan trọng trong lịch sử hậu chiến của đất nước này với những cống hiến của Park nhằm để lại một di sản trường tồn cho nền chính trị Hàn Quốc. Nền Cộng hòa Hàn Quốc bắt đầu một giai đoạn mới trong tiến trình lịch sử, được định hình chủ yếu bởi tài năng của Park trong việc giữ được sự ủng hộ của Mỹ và khả năng của Mỹ trong việc hướng Park tới khôi phục nền chính trị bầu cử dân sự.
Mặc dù Park đã tham vấn Berger trong các quyết định chính trị quan trọng sau tháng 11 năm 1963, [30] nhưng Washington vẫn phòng bị các ý định của chính quyền quân sự, đặc biệt là phe chính thống (churyu) do Park và cháu rể Kim Jong-pil đứng đầu, hai người này không ngần ngại phớt lờ Hoa Kỳ khi đưa ra các quyết định thiếu suy xét miễn là các bước đi đó giúp củng cố SCNR hoặc gia tăng cơ hội thắng cử của Park trong các cuộc bầu cử năm 1963 sắp đến. SCNR đưa các sĩ quan quân đội đối đầu với phe chính thống ra tòa với tội danh chống cách mạng để tiếp tục chuyển đổi lực lượng vũ trang Hàn Quốc thành một tổ chức tuyệt đối trung thành với Park. Như đề cập trong Chương 1, chính quyền quân sự cũng thông qua Luật Thanh trừng Chính trị để đàn áp những bất đồng trong dân chúng. Cũng nằm trong các động thái chính trị cực đoan dẫn đến sự phản đối của Mỹ là phiên tòa xét xử và buộc tội thủ tướng bị lật đổ, Chang Myon.
Những mâu thuẫn này cho thấy mối quan hệ Mỹ - Hàn trong những năm hình thành Đệ Tam Cộng Hòa không hề suôn sẻ. Trái lại, các lãnh đạo đảo chính thường xuyên hành động độc lập với những thu xếp riêng của mình nhằm củng cố quyền lực, trong lúc đó các quan chức Mỹ phải tạo áp lực để buộc họ đáp ứng nhiều nhất có thể các đòi hỏi từ phía Mỹ.
Chính trị: lập lại chính quyền dân sự
Mối quan hệ Mỹ - Hàn giai đoạn 1962-1963 đặc trưng bởi những nỗ lực từ phía Mỹ nhằm ép buộc Park vốn đang chần chừ, nếu không nói là miễn cưỡng, phải lập lại chính quyền dân sự. Trung tâm trong cuộc xung đột Mỹ - Hàn này là Kim Jong-pil, sĩ quan tốt nghiệp khóa 8 Học viện Quân sự Hàn Quốc (KMA). Với vai trò giám đốc KCIA và có được sự ủng hộ từ nhiều bạn học cùng lớp khi đảm nhiệm vị trí chủ tịch các ủy ban khác nhau trong SCNR, Kim Jong-pil không chỉ là người thân mà còn là một tâm phúc của Park. Nghi ngờ Kim Jong-pil đã đứng sau hầu hết các động thái gây khó chịu của chính quyền quân sự nên Hoa Kỳ đã hết sức hạn chế quyền lực và vai trò của ông này.
Mối lo ngại của Mỹ đến từ ba vấn đề. Thứ nhất, Kim nắm giữ quá nhiều quyền lực trong vai trò giám đốc KCIA với thẩm quyền không chỉ trong bảo vệ nhà nước khỏi các đe dọa an ninh bên ngoài mà còn trong duy trì trật tự trong nước. Thứ hai, rất lạ là việc tập trung quyền lực vào Kim Jong-pil lại làm tồi tệ hơn tình trạng bè phái vốn có trong chính quyền quân sự, bởi với việc khuyến khích khóa KMA 8 và các sĩ quan gốc ở các tỉnh Gyeongsang và Chungcheong tập hợp xung quanh trục quyền lực Park-Kim, ông ta đã khiến khóa KMA 5 - khóa này đôi khi đứng riêng nhưng đôi khi lại hợp tác với các tướng vùng Hamgyeong lớn tuổi hơn vốn được đào tạo ở Mãn Châu trong thời thực dân - tập hợp thành một phái phản chính thống để chống lại nguy cơ bị tước đoạt quyền lực. Thứ ba và quan trọng nhất, Kim Jong-pil và cộng sự của ông ta bị nghi ngờ là những nhà dân tộc chủ nghĩa cực đoan, cấp tiến và thậm chí có định hướng chính trị cánh tả.
Vào tháng 6 và tháng 7 năm 1962, chính trị Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng trầm trọng sau khi lực lượng chính thống do KCIA lãnh đạo liều lĩnh tiến hành cuộc chuyển đổi tiền tệ mà cuối cùng đã thất bại và bí mật đầu cơ chứng khoán để gây quỹ cho công cuộc công nghiệp hóa ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hóa chất (HCI), đặc biệt là dự án khổng lồ ở Ulsan và còn để lập nên một đảng chính trị chuẩn bị cho các cuộc bầu cử năm 1963 đang đến. Hai thất bại nhục nhã này đã kích động một cuộc đấu tranh quyền lực căng thẳng trong nội bộ chính quyền quân sự. Trong khi phải đối đầu với các đối thủ trong chính quyền, Kim Jong-pil cũng gặp phải xung đột với Berger. Trong một bức điện tín gửi đến Bộ Ngoại giao, Berger thể hiện sự thất vọng khi báo cáo về các tin đồn rằng Kim đã “cố gắng tiếp cận ‘một số người Mỹ’” và Park gửi thư cho đại sứ Hàn Quốc ở Mỹ, Jeong Il-kwon, yêu cầu rằng ông muốn Berger bị triệu hồi. Berger không thể chứng minh được những tin đồn này, nhưng trên phương diện cá nhân ông “tin rằng ý định tuyên bố [ông] là PNG [người không được chào đón] [đã] được tính đến.” Rusk khuyên Berger không nên cá nhân hóa vấn đề và đề nghị rằng Kim cần phải bị “loại khỏi cuộc chơi một cách nhẹ nhàng, như ngài Đại sứ ở Nhật Bản đã nói.”
Kim Jong-pil đã đẩy vấn đề lên đến đỉnh điểm khi tìm cách gặp Tổng thống Kennedy trong chuyến đi đến Washington vào tháng 10 năm 1962. [31] Dù nhìn chung Berger phản đối chuyến đi của Kim, nhưng ông cũng nhận thấy cơ hội “để trực tiếp phơi bày quan điểm và sức mạnh của Washington trước ông ta” và để “ông ta hiểu được những giới hạn mà chính quyền quân sự phải tuân theo nếu muốn duy trì sự ủng hộ của chúng ta.” Kim Jong-pil đã phải thất vọng vì không được gặp Tổng thống Kennedy và Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson, nhưng ông đã gặp được Ngoại trưởng Rusk, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara và Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy vào giữa cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Trong các cuộc đối thoại, phía Mỹ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức các cuộc bầu cử công bằng và tự do theo lịch trình đã hứa cũng như của việc cải thiện mối quan hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, điều Mỹ đã yêu cầu từ lâu mà giờ đây mới có thể thực hiện được bởi chính quyền nhất quyết bài Nhật của Lý Thừa Vãn đã bị loại bỏ. Trong khi Kim Jong-pil dùng chuyến đi này để nâng tầm ông ta trước công chúng trong vai trò một lãnh đạo nhà nước thế hệ tiếp theo của nền chính trị Hàn Quốc, ông ta đã thất bại trong việc thuyết phục đại diện của Washington rằng ông ta là người mà Hoa Kỳ phải đối phó. Nước Mỹ cũng đã không thể tiết chế những hành động của ông trong các tháng tiếp theo.
Ban đầu, việc lập lại chính quyền dân sự được tiến hành theo lịch trình đã thống nhất. Một bản hiến pháp mới đã được soạn thảo với sự tham gia của hai học giả Mỹ và được đưa ra trưng cầu dân ý vào tháng 12 năm 1962. Phản hồi của dân chúng đối với sự tái xác lập chế độ tổng thống là vô cùng tích cực. Cũng trong tháng này, Park tuyên bố cuộc bầu cử tổng thống sẽ được tổ chức vào mùa xuân năm 1963 sau đó sẽ là cuộc tổng tuyển cử vào Nghị viện Quốc gia vào mùa thu. Tuy nhiên khủng hoảng đã nổ ra khi Kim Jong-pil tiết lộ về công tác tổ chức bí mật của Đảng Cộng hòa Dân chủ (DRP) với vai trò là phương tiện để lực lượng đảo chính giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử sắp tới. Phái quân sự phản chính thống chống đối Kim dữ dội và kêu gọi thanh trừng Kim vì họ đã bị loại khỏi các vị trí quan trọng của DRP. Giới chính trị dân sự cũng tham gia vì họ đã bị pháp luật cấm tổ chức các đảng chính trị kể từ ngày đảo chính. Khi thiết quân luật được dỡ bỏ và hoạt động chính trị được cho phép vào tháng 12 năm 1962 để chuẩn bị cho việc lập lại chế độ dân sự, Kim rút lui khỏi quân đội vào đầu tháng 1 khi đang mang hàm chuẩn tướng và cũng từ chức luôn ở KCIA để trở thành đại diện của DRP.
Vì đảng DRP nói chung đã được thiết kế để loại bỏ và hạn chế quyền lực của những phái phản chính thống trong chính quyền quân sự cũng như để tạo ra sức mạnh độc quyền cho Park và Kim Jong-pil nên một nhóm các tướng lĩnh cao cấp, thường được gọi là phái Hamgyeong theo xuất xứ của nhóm này, đã công khai thách thức lực lượng chính thống Park-Kim và yêu cầu Kim từ chức chủ tịch đảng DRP. Cuộc đấu tranh phe phái trầm trọng đến mức đã có những đồn đoán lan rộng về một cuộc đấu tranh vũ trang sắp sửa xảy ra giữa các phe phái quân đội. Park đã xét đến cả việc sử dụng vũ lực để dẹp yên sự chia rẽ giữa các thuộc cấp của mình.
Berger nhân cơ hội này đã gây áp lực đòi Park phải loại bỏ Kim. Theo yêu cầu của ngài đại sứ, ngày 7 tháng 2 năm 1963, Washington tạm hoãn vô thời hạn việc giải ngân các khoản cho vay phát triển đã được thông qua từ trước. Berger cũng chấp thuận lời mời tiệc trưa của Yun Po-sun, người đã từ chức tổng thống vào tháng 3 năm 1962 và hiện đã sẵn sàng để khởi động Đảng Chính trị Dân chủ nhằm dẫn dắt những phong trào dân sự chống đối. Vào ngày 17 tháng 2, Bộ trưởng Quốc phòng Park Byeong-kwon, và tham mưu trưởng của cả bốn quân chủng - lục quân, không quân, hải quân và thủy quân lục chiến - đã có cuộc họp với Park để đưa ra tối hậu thư buộc Kim Jong-pil phải rút khỏi DRP và rời khỏi đất nước ngay lập tức. [32] Bị vỡ mộng bởi các xung đột phe phái, tuy nhiên cũng lên kế hoạch trả đũa với lực lượng mạnh hơn sau khi thời điểm tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng qua đi, nên Park đã khiến cả đất nước ngạc nhiên khi không chỉ buộc Kim từ chức khỏi DRP mà còn tuyên bố sẽ không chạy đua cho vị trí tổng thống trong thời gian sắp tới, miễn là lực lượng dân sự chống đối thỏa mãn chín điều kiện bao gồm cam kết không trả thù chính trị đối với chính quyền quân sự và các thành viên của nó vì đã lật đổ Chang Myon. Kim Jong-pil sau đó đã từ chức khỏi tất cả các vị trí đại diện, và bị “trục xuất” vào tháng 2 như một đại sứ lưu động.
Ngày 13 tháng 2, Berger gửi thư về Bộ Ngoại giao Mỹ viết rằng “Chính quyền Mỹ trong vòng ít ngày phải ra một quyết định cơ bản về thái độ đối với Chủ tịch Park, chính quyền của ông ta cũng như các kế hoạch bầu cử và chuyển giao quyền lực cho chính quyền dân sự.” Trong những ngày tiếp theo, theo như một bức điện tín gửi đến Berger, Bộ Ngoại giao cho thấy họ sẵn sàng từ bỏ Park và chấp nhận Heo Jeong - lãnh đạo của chính quyền lâm thời năm 1960 sau khi Lý Thừa Vãn bị lật đổ - như một người thay thế để dẫn dắt Hàn Quốc trong giai đoạn quá độ đến chính quyền dân sự đầy khó khăn.
Đại sứ quán Mỹ ngay lập tức công khai ủng hộ đề xuất của Park vào ngày 18 tháng 2 về việc rút khỏi cuộc chạy đua vào ghế tổng thống trong cuộc bầu cử đang đến và coi đó là “nguồn hy vọng lớn nhất cho việc ổn định chính trị và kinh tế".
Vào giữa tháng 3, tình hình chính trị xoay chuyển như mong đợi. KCIA lật tẩy một loạt kế hoạch đảo chính bí mật và bắt giữ một nhóm tướng lĩnh cao cấp, hầu hết trong số này thuộc phái Hamgyeong. Các vụ bắt bớ này đã loại bỏ luôn phái cuối cùng còn sót lại đang đòi hỏi chia sẻ quyền lực với tư cách những thành viên đầu tiên của cuộc đảo chính. Thêm nữa, phái chính thống đã huy động binh lính thường trực tiến hành biểu tình công khai ở trung tâm Seoul yêu cầu kéo dài chính quyền quân sự. Tối ngày 15 tháng 3, Park đã thông báo riêng với Berger kế hoạch của ông về việc kéo dài chính quyền quân sự thêm bốn năm thông qua một cuộc trưng cầu dân ý. Các hành động tiếp đó của chính phủ Mỹ trở thành một trong những can thiệp công khai và chủ động nhất của Mỹ vào chính trị Hàn Quốc.
Ngay khi nhận được báo cáo của Berger về kế hoạch của Park, Rusk lệnh cho Berger thông báo với Park rằng chính quyền Mỹ cũng như những nước khác “không thể chấp thuận và buộc phải công khai phản đối việc kéo dài chính quyền quân sự thêm bốn năm nữa.” Kế hoạch kéo dài chính quyền quân sự của Park cũng được báo cho Tổng thống Kennedy, ngay sau đó Tổng thống Mỹ đã lệnh cho Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng thảo một bức thư phản đối Park Ngày 8 tháng 4, Park phần nào lùi bước khi tuyên bố rằng sẽ trì hoãn nhưng không hủy bỏ ý định tổ chức trưng cầu dân ý và sẽ cho phép khôi phục lại các hoạt động chính trị. Hoa Kỳ chấp nhận đề nghị của Park dù nghe có vẻ như một sự mặc cả. Tuy nhiên Berger tin rằng “lập trường vững chắc của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng dẫn đến kết quả này.” Khi hạn chế được nguy cơ khủng hoảng chính trị, sự chú ý của Mỹ nhanh chóng chuyển sang khủng hoảng xã hội và kinh tế do nạn đói mùa xuân ở các làng quê.
Tới tháng 7, tình hình chính trị càng trở nên thuận lợi cho Park. Kim Jae-chun, một người trung dung trong chính quyền quân sự vốn tốt nghiệp khóa 5 của KMA, đã bị buộc phải từ chức giám dốc KCIA khi ông này hoàn thành nhiệm vụ chỉ huy chiến dịch loại trừ phái Hamgyeong trong tháng 3 trước. Trái với dự kiến, chiến dịch thanh lọc phái Hamgyeong đã hạ thấp tầm quan trọng của Kim Jae-chun cùng với khóa KMA 5 của ông ta. Vẫn dùng biện pháp chia để trị cổ điển, Park đã thay thế Kim Jae-chun bằng Kim Hyeong-wook, một thành viên trong hội kín của Kim Jong-pil. Berger lại thấy lo ngại. Ông đánh giá các đồng sự của Kim Jong-pil trong chính quyền quân sự là sở hữu một “ý chí giành quyền lực và sẵn sàng tàn nhẫn”, họ có xu hướng “thường xuyên gạt bỏ những lời khuyên của Hoa Kỳ về các vấn đề chính trị và thường áp dụng, ủng hộ các chính sách kinh tế thiếu lành mạnh”. Phái Kim Jong-pil cũng được xem là bị nhiễm “chủ nghĩa dân tộc cực đoan nhạy cảm và chủ nghĩa bài Mỹ thuần túy” và được trợ giúp bởi một “nhóm cố vấn chính trị thân cộng có sức ảnh hưởng phi thường”. Đại sứ Mỹ đã bị những cộng sự của Kim Jong-pil gây khó dễ, “những người này tin tưởng rằng [các nhà hoạch định chính sách] Hoa Kỳ phải đồng thuận với bất cứ điều gì mà họ [có thể] sẽ làm”, điều này khiến Berger phải “đau đầu để chứng minh cho họ thấy rằng họ đã sai.”
Khi phái của Kim Jong-pil quay trở lại nắm quyền, Park tuyên bố ông sẽ tham gia vào cuộc bầu cử tổng thống sắp đến, lúc bấy giờ đã được định vào ngày 15 tháng 10. Cuộc bầu cử được tổ chức đúng như kế hoạch có kết quả gây sửng sốt. Chênh lệch phiếu cho chiến thắng của Park chỉ là 150.000 phiếu bầu (1,4% trên tổng số), và Yun Po-sun còn nhận được từ quân đội nhiều phiếu hơn Park. Cuộc chạy đua sít sao cho thấy quy trình bầu cử nhìn chung là không có sai phạm, khác hẳn với quy trình bầu cử dưới chế độ Lý Thừa Vãn, và nhờ đó tạo ra tính chính danh cho sự tiếp tục cầm quyền của Park. Bộ Ngoại giao công nhận rằng cuộc bầu cử đã được tổ chức “một cách có kỷ luật”. Nhưng các cuộc bầu cử tháng 11 lại diễn ra trái ngược với dự đoán của đại sứ quán Mỹ về sự trở lại của nhóm đối trọng, với kết quả đảng DRP chiếm số ghế áp đảo trong Nghị viện Quốc gia (110 trong tổng số 175 ghế). Dù hệ thống bầu cử đa số giản đơn người-thắng-được-tất-cả của các đơn vị bầu cử một đại diện cùng với sự phân bổ thiên lệch thêm các ghế “danh sách đảng [party-list]” cho đảng có số phiếu cao nhất đã giúp ích rất nhiều để DRP chiếm đa số, sự thật rằng đảng DRP nhận được một lượng lớn phiếu bầu so với các đảng phái chính trị khác đã quá đủ để làm nản lòng lực lượng chống đối dân sự và thiết lập tính chính danh cho liên minh cầm quyền quân-sự-chuyển-sang-dân-sự của Park. [33] Những ngày tồi tệ nhất của tình trạng bất ổn chính trị xem ra đã qua mặc dù sự trở lại theo dự kiến của Kim Jong-pil từ “tình trạng bị trục xuất” đang dấy lên lo ngại từ Hoa Kỳ. [34]
Kinh tế: Kế hoạch Phát triển
Ngay sau cuộc đảo chính, chính quyền quân sự đã công bố một kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn cũng là kế hoạch kinh tế đầu tiên trong lịch sử dân tộc Hàn Quốc để cuối cùng mang lại cái được gọi là Kỳ tích sông Hàn. Chính sách kinh tế phát triển theo định hướng nhà nước dẫn dắt này được thiết kế không chỉ để thiết lập tính chính danh cho vị trí thống trị chính trị của Park mà còn để các lãnh đạo đảo chính, gồm cả Park, nhận được sự công nhận của Mỹ như là những người tái thiết quốc gia. Với sức mạnh và sự hiện diện áp đảo của Mỹ trong nền kinh tế chính trị Hàn Quốc suốt những năm 1960, có thể đoán được rằng nước Mỹ đã tham gia đáng kể vào công cuộc xây dựng Kế hoạch Phát triển Kinh tế 5 Năm (FYEDP) và đặc biệt là những chương trình cải cách cần thiết để tiến hành kế hoạch này.
Mặc dù vậy, vai trò của Mỹ trong việc lập kế hoạch kinh tế không phải lúc nào cũng mang tính xây dựng. Có khi là như vậy; có khi thì không. Tuy nhiên, điều không cần phải nghi ngờ là uy thế chính trị của Park vào đầu những năm 1960 hoàn toàn trùng khớp hoặc chỉ đến ngay sau thời điểm thay đổi chính sách viện trợ của Mỹ. Mối quan tâm về các vấn đề kinh tế đã đồng thời gia tăng ở cả hai bên bờ Thái Bình Dương khi hai đồng minh này cố gắng cùng giải quyết một thử thách là tạo ra một chính thể “tự lực” cho nhà nước Cộng hòa Hàn Quốc. Việc Mỹ quan tâm hơn tới phát triển kinh tế đã được phản ánh rõ trong một giác thư do Robert Komer, một thành viên NSC, soạn ra ngay sau bản báo cáo của lực lượng đặc nhiệm Hàn Quốc ngày 5 tháng 6 năm 1961. Trong giác thư gửi đến Trợ lý đặc biệt cho tổng thống về an ninh quốc gia, ông Mc George Bundy, vào ngày 12 tháng 5 dưới tiêu đề “Ưu tiên tương đối giữa trọng tâm quân sự và trọng tâm kinh tế ở Hàn Quốc”, Komer cho rằng “một trong những nguyên nhân căn bản cho việc [Hoa Kỳ] thành công quá ít ở [Nam] Triều Tiên từ năm 1953 [chính là ở] trọng tâm thiên về quân sự” trong chính sách của Hoa Kỳ. Ông tiếp tục:
Chúng ta đã chi tiêu cho MAP [Chương trình Hỗ trợ Quân sự] 1953-1960 nhiều hơn cả cho nền kinh tế quốc nội. Tình trạng lệch trọng tâm này phần lớn là do mối lo ngại khó xảy ra rằng tình trạng tại “vĩ tuyến 38” chỉ là một đợt ngừng bắn và chiến tranh có thể tái diễn bất cứ lúc nào. Kết quả là chúng ta rất ít quan tâm đến phát triển kinh tế trong khi lại dồn hết sức vào việc duy trì các lực lượng quân đội ROK khổng lồ... Với tất cả [những] đơn vị phòng vệ này, rủi ro ROK bị tấn công một lần nữa nhỏ hơn rất nhiều so với rủi ro sụp đổ từ những điểm yếu bên trong. Người dân Bắc Hàn đã bắt đầu cất lên bài ca quyến rũ chết người về sự thống nhất dân tộc và nó sẽ càng có sức lôi kéo hơn ở miền Nam yếu đuối và chia rẽ. Nếu Hàn Quốc sụp đổ, nó sẽ đi theo lộ trình đó chứ không phải là một cuộc nội chiến.
Đề nghị của Komer là “việc cắt giảm dần các lực lượng [quân sự] ROK xuống còn khoảng 14 và cuối cùng là 12 sư đoàn sẽ vẫn giữ cho [quân đội Đồng minh] khả năng kháng cự đáng kể và giải phóng những nguồn lực khổng lồ để giải quyết các vấn đề mà [Hoa Kỳ] thực tế đang phải đối mặt ở ROK.” [35]
Sự thay đổi trong chính sách viện trợ của Mỹ đã được thực hiện vào cuối những năm 1950, và đó là một phần của sự thay đổi lớn hơn trong chính sách viện trợ toàn cầu của Hoa Kỳ. Đầu tiên, thẩm quyền xử lý và giải ngân viện trợ được chuyển từ Bộ Chỉ huy Lực lượng giám sát hiệp định đình chiến liên Triều của Liên Hợp Quốc sang cho Đại sứ Mỹ, điều này cho thấy Mỹ ngày càng muốn sử dụng tiền viện trợ cho các mục đích phi quân sự. Cụ thể hơn, Mỹ bắt đầu ra sức tạo lập mối liên kết giữa hoạt động cung cấp viện trợ với nhiệm vụ tiến hành cải cách kinh tế và hoạch định phát triển được thực thi bởi nước nhận viện trợ như đã thể hiện trong “Thư Dillion” tháng 10 năm 1960. Mục tiêu là tạo ra khả năng tự lực phát triển kinh tế của Hàn Quốc để từ đó Hoa Kỳ có thể từng bước giảm bớt gánh nặng hỗ trợ kinh tế và đảo ngược xu hướng thâm hụt thương mại. Sự chuyển hướng trong chính sách viện trợ này gặp phải một phản ứng dữ dội bất ngờ ở Hàn Quốc khi sự kiểm soát chặt chẽ của Mỹ trong việc sử dụng viện trợ bị chỉ trích là xâm phạm chủ quyền dân tộc Hàn Quốc.
Hơn nữa, sự cắt giảm viện trợ của Mỹ càng làm tồi tệ hơn tình trạng kinh tế của Hàn Quốc. Nhưng mặc cho các hậu quả tiêu cực này, sự thay đổi chính sách viện trợ đã khiến ngay cả chính quyền Chang Myon kém cỏi còn phải chuẩn bị một kế hoạch phát triển kinh tế mà sau này đã trở thành nền móng quan trọng cho FYEDP đầu tiên của chính quyền quân sự.
Một thời gian ngắn sau đảo chính, nước Mỹ thành lập một nhóm quan chức ngoại giao mới ở Hàn Quốc và chỉ định Đại sứ Berger làm người đứng đầu. Đã được đào tạo về kinh tế học, Berger am hiểu lĩnh vực này “hơn hẳn những đại sứ khác” và giám sát quá trình tái định hướng chính sách viện trợ ở Hàn Quốc. Công tác tổ chức USOM sẽ được chỉnh đốn toàn diện bởi giám đốc mới được chỉ định, James Killen. Dưới sự lãnh đạo của James, USOM cắt giảm một nửa nhân sự và hoạt động hiệu quả hơn. Ban đầu, nhóm quan chức ngoại giao mới khá lạc quan về sứ mệnh kinh tế của họ. Berger đã được làm yên tâm bằng một loạt các cải cách của chính quyền quân sự song song với các cải cách của chính nhà viện trợ. Bị ấn tượng mạnh bởi quyết tâm của chính quyền quân sự khi thực hiện cải cách kinh tế với đầy “sự năng nổ, sự háo hức, lòng quyết tâm và sức sáng tạo”, Berger báo cáo:
[Đó] là... một cuộc cách mạng thật sự từ bên trên nhằm cố gắng tạo ra những cải cách rộng khắp ở mức nền tảng nhất. Những dự án cải cách đã được nhắc đến từ lâu hoặc được cân nhắc trong các chính quyền trước kia giờ đây đang thực sự được tiến hành ở lĩnh vực chính sách ngân hàng và tín dụng, ngoại thương, tăng thêm việc làm cho người thất nghiệp, nông nghiệp, tổ chức nghiệp đoàn thương mại, giáo dục, quản trị công, an sinh xã hội... và những lĩnh vực khác nữa. Những cải cách khác mặc dù có mục đích tốt nhưng được chuẩn bị quá vội vã hoặc thực hiện không tốt. Một số đã được sửa chữa sau đó, còn chính quyền thì ít ra trong một số trường hợp đã sẵn sàng thừa nhận và khắc phục các lỗi lầm.
Tuy nhiên, mãi cho đến năm 1965 Hoa Kỳ mới bắt đầu hỗ trợ hoàn toàn cho chương trình phát triển kinh tế Hàn Quốc bằng các nguồn vốn đầu tư dài hạn. Có nhiều yếu tố không cho phép những hỗ trợ như vậy đến sớm hơn. Thứ nhất, theo như Komer phàn nàn trong giác thư gửi đến Bundy, ý định chuyển dịch chính sách viện trợ từ chương trình quân sự sang kinh tế và giải phóng các nguồn lực Hàn Quốc cho nhiệm vụ phát triển kinh tế thông qua việc cắt giảm lực lượng vũ trang Hàn Quốc đã làm dấy lên sự phản đối mạnh mẽ từ giới lãnh đạo quân sự Hoa Kỳ, đặc biệt là Hội đồng tham mưu Liên quân. Thứ hai, Bộ Ngoại giao và ngài đại sứ ngày càng lo lắng về những ý định của chính quyền quân sự, đặc biệt là của thành phần cốt cán trẻ tuổi được Kim Jong-pil dẫn dắt khi họ tiến hành các liệu pháp sốc thiếu suy xét về mặt kinh tế. Washington cũng bày tỏ quan ngại vào năm 1961. Robert Johnson, một nhân viên NSC tham gia lực lượng đặc nhiệm Hàn Quốc viết:
Với chính quyền cũ của Chang Myon, chúng ta tin tưởng vào ý định tốt của họ hơn là năng lực chính trị. Còn ở chính quyền quân sự mới này, chúng ta phần nào đó tin tưởng hơn vào năng lực, ít ra họ cũng đã khởi động được các biện pháp cải cách, nhưng lại ít tin tưởng hơn vào các ý định của họ. Do đó, chiến lược vạch ra trong báo cáo này được dùng không chỉ để tìm ra các dấu hiệu cho thấy mục đích của chính quyền mới và tinh thần sẵn sàng hành động theo các mục đích này mà còn cung cấp cho ngài đại sứ sự tự do đáng kể để ra quyết định khi nào các hành động của họ đáng được chúng ta đáp lại.
Thứ ba, nhiều kế hoạch và chiến lược của chính quyền quân sự đã vấp phải sự hoài nghi ở Washington, điều đó đã ngăn cản Berger hỗ trợ cho Park các nguồn lực. Kế hoạch FYEDP đầu tiên được công bố tháng 1 năm 1962 bị Washington đánh giá là thiếu cẩn trọng và không thực tế. Kế hoạch này kêu gọi xây dựng một nền kinh tế độc lập thông qua quá trình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hướng nội, và xác định sự hình thành các ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp nặng là động lực cho sự tăng trưởng kinh tế. Bản kế hoạch này cũng đặt ra mục tiêu tăng trưởng hàng năm trên mức 7%. Những mục tiêu được đặt ra thiếu cân nhắc về nguồn cung vốn và trình độ kỹ thuật nghèo nàn của Hàn Quốc. Nó cũng không tính đến tình hình chính trị bất ổn đang ngăn cản các doanh nghiệp lớn đầu tư dài hạn.
Các dự án, kế hoạch và bê bối kinh tế năm 1962 càng làm trầm trọng hơn nữa những quan ngại của Mỹ về tính đúng đắn trong các chính sách kinh tế của chính quyền quân sự. Trong lúc lạm phát đang tăng tốc, chính quyền quân sự lại tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ và tìm kiếm các nhà đầu tư nước ngoài cho những dự án tham vọng như Khu phức hợp Công nghiệp Ulsan. Thất bại trong việc giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài đã không đưa chính quyền quân sự đến một cuộc đánh giá phê bình chiến lược phát triển mà ngược lại, dẫn họ đến một loạt các chương trình nguy hiểm nhằm huy động nguồn vốn trong nước mà kết quả cuối cùng là thảm họa kinh tế giữa năm 1962. Ban đầu chính quyền chỉ dùng các phương pháp kiểm soát lãi suất truyền thống để gia tăng mức tiết kiệm quốc gia. Khi chính sách này dẫn đến lạm phát thay vì đầu tư thì chính quyền đã đi một bước táo bạo hơn là thao túng luôn thị trường chúng khoán không chỉ để đảm bảo vốn cho công nghiệp hóa mà hơn nữa, như chúng ta đã biết, còn để tài trợ cho công tác thành lập tổ chức mà sau này sẽ là DRP. Thị trường chứng khoán không chỉ sụp đổ trong vòng 6 tháng, mà còn gây ra khủng hoảng niềm tin vào chính quyền quân sự khi báo chí đưa tin rằng chính KCIA đứng sau các vụ gian lận giá cả chứng khoán hàng loạt.
Vào ngày 10 tháng 6 năm 1962, SCNR thông qua kế hoạch về Biện pháp Khẩn cấp về Cải cách Tiền tệ cho phép đổi đồng hwan thành won theo tỉ lệ chuyển đổi 10:1. Biện pháp này cấm người dân rút tiền trên mức trần theo quy định hành chính. Khối tiền dư thừa sẽ bị đóng băng và sử dụng vào các dự án đầu tư được nhà nước thiết kế. Sáu ngày sau, SCNR thông qua một đạo luật khẩn cấp khác buộc nhân dân phải mua chứng khoán của Tập đoàn Phát triển Công nghiệp Hàn Quốc (KIDC), một doanh nghiệp phát triển nhà nước mới thành lập, bằng khối tiền đã bị đóng băng của họ. Nguồn tiền chuyển đến KIDC thông qua nghiệp vụ hoán đổi tiền-chứng khoán được sử dụng vào chương trình HCI. Liệu pháp sốc này được dùng để buộc lượng tiền bị cho là được cất trữ bí mật của người dân Hàn Quốc và người Hoa phải chảy vào ngân hàng và chảy tiếp vào các dự án công nghiệp hóa đầy tham vọng. Biện pháp đó chỉ càng làm hạ thấp thêm uy tín của chính quyền quân sự khi sự thật là không hề có lượng tiền cất trữ nào có quy mô như tưởng tượng của phái chính thống Kim Jong-pil. Park buộc phải chấm dứt cả hai biện pháp này khi Mỹ cáo buộc ông đang chuyển đổi Hàn Quốc thành một nền kinh tế chủ nghĩa xã hội. Nhưng tổn thất thì đã rồi. Liệu pháp sốc này làm chấn động hệ thống tiền tệ và làm tồi tệ thêm tình trạng lạm phát, đẩy nền kinh tế yếu ớt của Hàn Quốc đến bờ vực sụp đổ.
Hầu hết những hoạt động kinh tế bất thường này được tiến hành mà không hề có sự cố vấn từ phía Mỹ. Việc đổi tiền đã được cố ý giữ bí mật đối với đại sứ quán Mỹ cho đến 48 giờ trước khi nó được thực thi. Washington thất vọng về sự kiện này và Trợ lý Ngoại trưởng Edward Rice triệu tập đại sứ Hàn Quốc ở Mỹ, Jeong Il-kwon, để bày tỏ sự tức giận rằng chính quyền Hàn Quốc “đáng tiếc, dường như đã chọn con đường không cần tham vấn. Nếu Hoa Kỳ đang giúp ích,” Rice nói thêm, “Hoa Kỳ phải được biết kế hoạch này. Còn nếu những nỗ lực của Hoa Kỳ là vô ích, [Hoa Kỳ] sẽ phải đánh giá lại chính sách viện trợ.” Các quan chức Mỹ ở Seoul cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc tham vấn. Cùng với tình trạng không tham vấn, điều khiến các quan chức Mỹ đặc biệt không vui là sự thật đằng sau các biện pháp khẩn cấp ngày 10 tháng 6 và 16 tháng 6 năm 1962. Đại sứ quán Mỹ buộc Kim Jong-pil và các quan chức “dân tộc chủ nghĩa” khác của KCIA phải chịu trách nhiệm cho cuộc chuyển đổi tiền tệ và sự thành lập KIDC. Một số người xem sự kiện này như một âm mưu của những phần tử lật đổ nhằm chuyển hóa Hàn Quốc thành nền kinh tế kế hoạch chống chủ nghĩa tư bản - nếu không phải là một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn toàn. [36]
Hai biện pháp khẩn cấp này đã làm thay đổi mạnh trong đánh giá của Washington về các mục đích của chính quyền quân sự, đặc biệt là các kế hoạch của Kim Jong-pil. Kể từ đây chính sách Mỹ đối với sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc bắt đấu thay đổi. Kể từ đây nước Mỹ không còn đề cao mô hình phát triển của Rostow mà thay vào đó hướng nhiều hơn đến mục tiêu bình ổn. Cả Killen lẫn Berger đều cố gắng ngăn cản việc tiến hành kế hoạch HCI quá tham vọng. Để gây áp lực lên Park, cách hiệu quả nhất và thường được sử dụng nhất chính là đe dọa cắt viện trợ. Vì viện trợ của Mỹ không chỉ tạo nguồn vốn khởi sự cho kế hoạch HCI đầy tham vọng mà còn cung tiền cho các quỹ cứu tế vô cùng cần thiết trong tình trạng kinh tế biến động và vụ mùa thất bát, việc đe dọa cắt viện trợ đã tỏ ra có hiệu quả khi khiến Park phải chấm dứt hai biện pháp khẩn cấp. Tuy nhiên việc đe dọa như vậy không phải lúc nào cũng có tác dụng. Tháng 7 năm 1963, Berger yêu cầu Washington rút “15 triệu đô-la Mỹ viện trợ với lý do Hàn Quốc thực hiện không tốt các biện pháp bình ổn cho đến khi các hành động sửa chữa phù hợp được thực thi.” [37] Động thái này đã khiến Park điều chỉnh quá mức, hậu quả là lạm phát tăng trong ngắn hạn, và chỉ từ giữa năm 1964 trở đi ông mới thực sự quyết tâm ổn định tình hình. Thậm chí kể cả lúc đó thì chương trình “cải tiến” vẫn được sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - chứ không phải để ổn định nền kinh tế (xem Chương 7).
Tuy nhiên, tình trạng u ám của nền kinh tế Hàn Quốc năm 1962 cùng với việc Mỹ từ chối cấp vốn cho các dự án HCI đã buộc Park thay đổi FYEDP đầu tiên. Áp lực thâm hụt thương mại và tài khóa đòi hỏi phải hạ thấp chỉ tiêu tăng trưởng. Trong suốt nhiệm kỳ của Killen và Berger, áp lực ổn định hóa rất cao từ Mỹ đã làm bùng phát cơn phẫn uất của các quan chức Hàn Quốc. Trong chuyến đi của Killen vào tháng 8 năm 1964, Hankook Ilbo, một tờ nhật báo của Jang Ki-young, lúc bấy giờ là Phó thủ tướng và Bộ trưởng Ban Kế hoạch Kinh tế (EPB), đã đăng một bài viết nói rằng “nếu Mỹ không lặp lại sai lầm ở Việt Nam, có thể hy vọng Mỹ sẽ ý thức được thực tế rằng ở nơi này vẫn còn nhiều nhiệm vụ kinh tế - những vấn đề quan trọng hơn so với chương trình bình ổn tài chính mà các quan chức Mỹ ở Hàn Quốc... đã nhấn mạnh quá thường xuyên.”
Quân đội: cắt giảm lực lượng
Kế hoạch của Mỹ (NSC 5702/2) chuyển 4 trong số 20 sư đoàn thường trực của quân đội Hàn Quốc thành các đơn vị dự bị năm 1957 đã bị Lý Thừa Vãn chống đối. Quân đội Mỹ cũng phản đối bằng việc án binh bất động và từ chối gây áp lực buộc Hàn Quốc cắt giảm quân đội. Cuối cùng, Lý Thừa Vãn chỉ cắt giảm hai sư đoàn quân đội thường trực. Đáp lại nhượng bộ này, Mỹ đã hứa trang bị vũ khí kết hợp quy ước-hạt nhân và hỗ trợ hiện đại hóa hệ thống vũ khí phi hạt nhân của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc. Với sự cầm quyền của chính phủ Chang Myon năm 1960, tăng trưởng kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chương trình nghị sự quốc gia. Trong vòng vài tháng sau khi nhậm chức, Thủ tướng đã bắt đầu cắt giảm 100.000 binh sĩ trong lực lượng quân đội Hàn Quốc. Lần này, quân đội Mỹ đã công khai chống đối.
Ngược lại, chính quyền mới của Kennedy, đặc biệt là lực lượng NSC đã bày tỏ sự quan tâm mạnh mẽ tới việc thu hẹp quy mô các lực lượng vũ trang Hàn Quốc. Giác thư của Komer gửi cho Bundy và Rostow ngày 15 tháng 3 năm 1961 là một việc làm cũng với mục đích giải phóng các nguồn lực của Hàn Quốc để sử dụng cho mục tiêu cải thiện tình trạng kinh tế. Tuy vậy báo cáo của lực lượng đặc nhiệm, đưa ra ngày 5 tháng 6 không hề phản ánh đầy đủ các mối quan tâm của lực lượng NSC, trong đó có Komer. Vào buổi họp NSC ngày 13 tháng 6, Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu Liên quân Lynman Lemnitzer nhất trí phản đối ý định cắt giảm quân đội. Kennedy chọn giải pháp trung gian, đề xuất sử dụng những biện pháp nhằm “tăng thêm đến bất cứ mức độ nào đo lường được những đóng góp của các lực lượng vũ trang vào nhiệm vụ dân sự” trước khi cắt giảm quy mô của quân đội Hàn Quốc. Trong khi việc cắt giảm quân đội bị hoãn lại để những nhân vật hữu quan ở NSC xem xét kỹ hơn, Đại sứ Berger và vị tư lệnh mới của Bộ Chỉ huy Lực lượng giám sát hiệp định đình chiến hai miền Triều Tiên của Liên Hợp Quốc Guy S. Meloy, Jr., lại mâu thuẫn về việc phân bổ viện trợ Mỹ vào các chương trình kinh tế và quân sự như thế nào. Cho thấy tư duy chiến lược đang thay đổi của Nhà Trắng và tư duy của một nhà kinh tế, Berger kiên quyết yêu cầu chú trọng hơn tới phát triển kinh tế, trái lại Meloy lập luận rằng quy mô lực lượng 600.000 binh sĩ hiện tại của Hàn Quốc là “bất khả xâm phạm”. Quân đội Hàn Quốc cũng tỏ ra không vui với quan điểm của Berger, và đe dọa sẽ đơn phương cắt giảm quân đội nếu Berger tiếp tục đòi hỏi phân bổ viện trợ nhiều hơn cho kinh tế. Phía Hàn Quốc phản ứng như vậy với hy vọng quân đội Mỹ sẽ phản đối việc cắt giảm lực lượng này. Ngược với kỳ vọng, Meloy lại báo cáo về sự phẫn uất của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc đối với những đòi hỏi của Mỹ và về mâu thuẫn với Berger trong vấn đề phân bổ viện trợ lên các cấp cao hơn ở Washington.
Vấn đề cắt giảm lực lượng đã được nêu ra liên tục trong các cuộc họp NSC suốt nửa đầu năm 1962. Hội đồng tham mưu Liên quân đã phản đối đúng như mong đợi. Họ cho rằng vì Hàn Quốc là một phần thiết yếu của chiến lược phòng thủ tiền phương của Mỹ ở Đông Bắc Á nên bất kỳ sự cắt giảm lực lượng nào của nước này cần phải được xem xét trong mối tương quan lực lượng không chỉ ở Bán đảo Triều Tiên mà còn ở khu vực Đông Bắc Á rộng hơn. Đặc biệt, Hội đồng Tham mưu Liên quân lập luận rằng cắt giảm quy mô quân đội Hàn Quốc sẽ làm gia tăng rủi ro quân sự trên toàn khu vực, hạ thấp ảnh hưởng của Mỹ ở châu Á, hạ thấp khả năng Mỹ duy trì được cuộc xung đột vũ trang ở Bán đảo Triều Tiên ở mức chiến tranh phi hạt nhân, buộc Mỹ phải đảm nhiệm một vai trò to lớn hơn trong trách nhiệm gìn giữ an ninh toàn cục với việc nâng cao năng lực của quân đội nước này, và làm phức tạp thêm công tác hậu cần quân đội khi phải giảm đáng kể thời gian cho phép để tập hợp và đưa lực lượng Mỹ từ bên ngoài Bán đảo Triều Tiên vào Hàn Quốc khi chiến tranh xảy ra. Theo quan điểm của Hội đồng, “không thể khẳng định quá chắc chắn rằng quy mô lực lượng hiện tại của Mỹ/Hàn ở Hàn Quốc đã đạt mức tối thiểu để bảo đảm an ninh lâu dài ở Đông Bắc Á.”
Ngược lại, trong một báo cáo tháng 9 năm 1962, tổ chức CIA của Mỹ chỉ đưa ra một đánh giá chung chung. Trong khi đồng tình rằng mối đe dọa lan truyền chủ nghĩa cộng sản đối với Hàn Quốc có thể đã chuyển thành hình thức chiến tranh chính trị và lật đổ chính trị hơn là xâm lược quân sự, CIA cũng cảnh báo về nguy cơ bất ổn chính trị nếu các lực lượng vũ trang Hàn Quốc bị cắt giảm quá nhiều. Bản báo cáo khẳng định: “Chừng nào các cường quốc chủ nghĩa cộng sản còn tin Mỹ sẽ bảo vệ Hàn Quốc, gần như chắc chắn rằng họ sẽ không tổ chức một cuộc xâm lược quân sự công khai. Vì vậy, việc cắt giảm các lực lượng vũ trang Hàn Quốc lên đến một phần ba mức hiện tại có thể sẽ không gia tăng nguy cơ bị phương Bắc xâm lược. Tuy nhiên điều đó lại có thể gây nên căng thẳng chính trị đáng kể trong nước, điều có lẽ đủ nguy hiểm để gây lo ngại cho bất cứ chính quyền nào sử dụng tới biện pháp này.”
Một nghiên cứu khác, do vị tướng không quân đã về hưu John Cary thực hiện theo đề nghị của Bộ Quốc phòng đã phản đối việc cắt giảm quân đội với quan điểm chính trị tương tự như của CIA. Báo cáo của Cary kết luận: “Chính sách quốc phòng của Mỹ đối với an ninh Hàn Quốc hiện tại không nên bị điều chỉnh quá nhiều và... các lực lượng vũ trang của Cộng hòa Hàn Quốc cần được giữ ở quy mô tương đương với hiện tại.” Phiên bản được công khai của báo cáo này không đưa ra lập luận dẫn đến lời khuyến nghị chính sách, nhưng các bình luận của Komer dường như ám chỉ lo ngại chính của Cary là về chính trị chứ không phải quân sự. Theo Komer “bản báo cáo [của Cary] phản đối việc cắt giảm vào lúc này, chủ yếu bởi điều đó có thể gây thất vọng cho chính quyền của Park và thứ đến là vì nó có thể tác động tiêu cực tới các đồng minh của Mỹ ở toàn bộ khu vực Đông Á, những nước này có thể sẽ cho rằng Hoa Kỳ cũng giảm mức quan tâm về vấn đề quốc phòng của họ.” Komer bác bỏ cả hai lập luận này. Theo ông, Park ưu tiên Hoa Kỳ cung cấp viện trợ cho quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc hơn là cho việc hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, vì tính chính danh của Park phụ thuộc vào khả năng ông có thể đem lại tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, mức tín nhiệm của Mỹ sẽ không chịu rủi ro lớn vì đa số quân bị cắt giảm thuộc quân đội Hàn Quốc. Đảo ngược toàn bộ lý lẽ của Cary, Komer cho rằng nếu việc cắt giảm không gây rắc rối cho chính quyền của Park thì nhiều lập luận trong bản báo cáo sẽ ủng hộ cho việc cắt giảm quy mô quân đội Hàn Quốc. Đại sứ Berger tiến đến một thỏa hiệp, đề xuất cắt giảm các lực lượng vũ trang Hàn Quốc khoảng 30.000-40.000 binh sĩ mỗi năm trong những năm 1963 và 1964 rồi sau đó sẽ đánh giá khả năng cắt giảm nhiều hơn. Đồng thời Berger đề xuất giữ nguyên ngân sách cho quân đội Hàn Quốc và Chương trình Hỗ trợ Quân sự Mỹ dù vẫn cắt giảm quân đội. Vấn đề trở nên bế tắc và đã không có quyết định nào được đưa ra dưới thời Kennedy. Sau khi Johnson nhậm chức năm 1963, ông ta cho thực hiện một đánh giá toàn diện hơn. Năm 1964, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra một kế hoạch cắt giảm các lực lượng vũ trang Hàn Quốc ở mức 500.000 người bù lại cho công cuộc hiện đại hóa quân đội mà Bộ Quốc phòng Mỹ đã rất miễn cưỡng đồng ý. Trái với dự kiến, sau tất cả những mâu thuẫn ngấm ngầm giữa các quan chức ở Washington, chương trình hiện đại hóa được thực hiện nhưng cắt giảm lực lượng thì không. Khi lực lượng chiến đấu Hàn Quốc bắt đầu tham gia vào chiến tranh tại Việt Nam, việc cắt giảm quân đội đã bị loại khỏi chương trình nghị sự.
Sức mạnh của Hoa Kỳ và các lựa chọn chính trị của Park
Việc Hàn Quốc lệ thuộc vào Hoa Kỳ để phòng vệ quân sự và duy trì nền kinh tế đã tạo cho đại sứ Mỹ, các tư lệnh USFK-UNC cũng như giám đốc USOM quyền lực, danh tiếng và vị thế rất lớn để gây ảnh hưởng lên xã hội cũng như chính phủ Hàn Quốc. Nước Mỹ đã sử dụng quyền lực của mình theo ít nhất ba cách. Đầu tiên, có vô số những kênh truyền dẫn sức ảnh hưởng của Mỹ bị thủ tục hóa và thể chế hóa trong quy trình xây dựng ngân sách và trong những cơ chế hoạch định chính sách cho phép các quan chức viện trợ Mỹ tác động đến công tác thi hành chính sách kinh tế ở Hàn Quốc. Ở tầng trên cùng của cơ chế hoạch định chính sách xuyên quốc gia này là vị giám đốc USOM, cố vấn kinh tế cho thủ tướng trong chế độ Chang Myon và người đồng cấp Hoa Kỳ với Bộ trưởng EPB trong hội đồng hợp tác song phương dưới thời của Park. Bộ chỉ huy lực lượng giám sát hiệp định đình chiến hai miền Triều Tiên của Liên Hợp Quốc thì luôn được yêu cầu cố vấn trong những cuộc họp quân sự kể cả cuộc họp với tổng tham mưu trưởng của quân đội Hàn Quốc. Một hội đồng khác cũng đã được lập do USOM và EPB đồng lãnh đạo với nhiệm vụ giám sát quá trình phát triển kinh tế trong thời gian chính quyền quân sự do rất nhiều hoạt động tài trợ đến từ các nguồn quỹ của phía bên kia.
Thứ hai, Hoa Kỳ thật ra vẫn có quyền phủ quyết khi nước này không tin tưởng vào các chính sách và động thái chính trị của Hàn Quốc. Chắc chắn rằng, người Mỹ nói chung miễn cưỡng can thiệp công khai vào các vấn đề của Hàn Quốc, đặc biệt là các vấn đề chính trị vì họ e sợ các phản ứng dữ dội mang tính dân tộc và họ cũng cần sự hợp tác của Park để đạt được những mục tiêu của mình. Khi Park đồng ý về cơ bản việc lập lại chính quyền dân sự vào giữa năm 1963, Hoa Kỳ đã rất sẵn sàng để Park chuẩn bị các cuộc bầu cử mặc dù việc này sẽ dẫn đến những o ép chính trị. Ngược lại, khi sự thống nhất nền tảng giữa hai đồng minh bị xem là vi phạm, như khi KCIA phá vỡ các nguyên tắc thị trường để thành lập KIDC từ khối tiền “đóng băng” trong một biện pháp khẩn cấp giữa năm 1962, hoặc khi Park tuyên bố kéo dài chính quyền quân sự vào đầu năm 1963, Hoa Kỳ đã công khai phản đối giới cầm quyền Hàn Quốc và đòi hỏi sự tuân thủ bằng cách đe dọa rút viện trợ.
Thứ ba, quyền lực và sự hiện diện áp đảo của Mỹ có tác dụng thay đổi chương trình nghị sự và chiến lược của Hàn Quốc khi xác định những giới hạn cho phép các lực lượng trong nước được và không được làm những gì. Trong lúc lên kế hoạch cho cuộc đảo chính, Park đã hỏi Yi Dong-won, một nhà khoa học chính trị được đào tạo ở Oxford rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng như thế nào. Yi trả lời chắc chắn, “Nước Mỹ phải ủng hộ nó miễn là ông tuyên bố chống chủ nghĩa cộng sản giống như mục đích của nước họ.” Park rõ ràng đã nghe theo lời khuyên này, tuyên bố về chủ nghĩa chống cộng, tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc, tôn trọng và tuân thủ tuyệt đối tất cả các hiệp định, thỏa ước quốc tế chính là hai điều đầu tiên trong bản tuyên ngôn cách mạng sáu điều vào ngày đảo chính. Hai điểm này được đưa vào không chỉ để đảm bảo sự ủng hộ của nhóm bảo thủ Hàn Quốc mà còn để ngăn ngừa sự phản đối của Mỹ. Mặc cho các xu hướng dân tộc và sự thiếu niềm tin vào nước Mỹ đã ăn sâu ở Park, ông vẫn không thể xem xét sử dụng chính sách trung dung làm một lựa chọn khác cho mình. Cũng trong tinh thần tránh xung đột với Mỹ và thỏa mãn các lợi ích thiết yếu của nước này, Park đã mời hai giáo sư luật người Mỹ về giúp chính quyền quân sự soạn thảo bản hiến pháp mới năm 1962 nhằm “giải tỏa những quan ngại của người Mỹ.” Cả các quan chức Mỹ đều biết rõ về quyền lực của họ đối với chính quyền Hàn Quốc và điều này đôi khi hạn chế khả năng điều chỉnh linh động của họ trước những thay đổi chính trị của nước này. Ví dụ, nhằm bác bỏ khả năng đảo chính quân sự vào thời điểm tháng 3 năm 1961 vì cho rằng lực lượng đảo chính sẽ bị ngăn chặn bởi sự đàn áp của Mỹ, Đại sứ McConaughy đã mô tả về mức độ ảnh hưởng của Mỹ mà ông cho là sẽ gây tác động lên chính trị Hàn Quốc dù chưa sử dụng đến sức mạnh đó.
Đồng thời cũng không nên phóng đại sức mạnh của Mỹ. Vì vai trò quan trọng của Hàn Quốc đối với chiến lược an ninh toàn cầu của Mỹ vẫn luôn như là một tiền đồn của “thế giới tự do” nhằm kiểm soát sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á nên nước Mỹ không thể áp đặt ý chí của nó lên quốc gia tiểu nhược này. Thực tế này lại càng trở nên rõ ràng hơn khi nước Mỹ phải xác định lại chính sách kiểm soát từ phòng vệ quân sự đơn thuần chuyển thành phòng vệ lật đổ xã hội và chính trị vì sự phòng vệ lật đổ đòi hỏi phải có sự phát triển kinh tế mà thành công của yếu tố này phụ thuộc nhiều hơn vào sự hợp tác với giới cầm quyền chính trị Hàn Quốc. Chương trình nghị sự này về tăng trưởng kinh tế đã củng cố vị thế của Hàn Quốc nhiều như khi nó trao cho Hoa Kỳ một công cụ để tái sắp xếp các ưu tiên của giới cầm quyền chính trị Hàn Quốc.
Với vị thế nước tiểu nhược xuất phát từ địa chính trị Chiến tranh Lạnh dai dẳng của Đông Á và sự chuyển dịch trong chiến lược kiểm soát của Mỹ, điều gây bất ngờ là không phải các kế hoạch chính sách của Mỹ mà chính là nền chính trị bất ổn của Hàn Quốc mới định hình nên mối quan hệ Mỹ - Hàn. Các mục tiêu chính sách dài hạn của Mỹ ở Hàn Quốc đều đã bị điều chỉnh sau cuộc Cách mạng của Sinh viên 19 tháng 4 năm 1960 và cuộc đảo chính quân sự 16 tháng 5 của năm 1961 thay vì ngược lại. Thường thì các quan chức Mỹ phải đối phó với các thay đổi chính trị của Hàn Quốc hơn là dẫn dắt chúng ngay cả khi giai đoạn tồi tệ nhất của bất ổn chính trị đã chấm dứt, và điều đó đã trở thành đặc trưng cho chính sách Mỹ giai đoạn 1961-1963. Mặc dù sức mạnh và sự hiện diện của Mỹ ở Hàn Quốc là áp đảo, nhưng Hoa Kỳ không có nhiều không gian để định hình lịch sử Hàn Quốc. Trong giai đoạn chính quyền quân sự, chính sự vận động nội tại của xã hội Hàn Quốc đã định hình hướng phát triển chính trị của Hàn Quốc. Hoa Kỳ đóng một vai trò hạn chế hơn khi tác động đến định hướng và tốc độ của tiến trình phát triển chính trị được khởi phát từ các lực lượng chính trị trong nước.
Ngoại trừ những giới hạn chung như trên của quyền lực Mỹ, nghiên cứu kỹ hơn các tài liệu ngoại giao Mỹ cho thấy một khuôn mẫu khác biệt về cách thức quyền lực được sử dụng bởi Hoa Kỳ. Siêu cường quốc này hầu như chỉ dùng quyền lực trực tiếp và công khai ở mảng chính sách kinh tế. Hàn Quốc từ chối tham vấn Mỹ về công cuộc chuyển đổi tiền tệ và chính sách tiền tệ đã khiến Hoa Kỳ phải đe dọa cắt giảm và trì hoãn viện trợ. Người Mỹ tin rằng họ có thể can thiệp hiệu quả vào việc xây dựng chính sách kinh tế nhờ lượng viện trợ kinh tế khổng lồ họ cung cấp. Hơn nữa, xung đột kinh tế không phải là loại vấn đề khiến các đất nước đấu tranh sống chết vì vậy càng khiến các quan chức Mỹ sẵn sàng đối đầu với Park. Trái với dự đoán, sự sẵn sàng phản đối của Hoa Kỳ đối với chính quyền quân sự đôi khi lại thúc đẩy Park lờ đi các quan chức Hoa Kỳ. Ví dụ như khi Bộ trưởng Tài chính Cheon Byeong-gyu biết về kế hoạch chuyển đổi tiền tệ và ủng hộ việc tham vấn Hoa Kỳ thì Park đã phản đối ý định này vì ông biết Hoa Kỳ sẽ chống đối lại kế hoạch.
Ngược lại, Hoa Kỳ mềm mỏng hơn nhiều và bị giới hạn trong việc sử dụng sức mạnh khi quyền lực chính trị của chính quyền quân sự gặp phải rủi ro, họ ưu tiên bàn bạc và đưa lời khuyên hơn là đối đầu công khai với giới lãnh đạo Hàn Quốc. Trong một phản hồi cho lời phàn nàn của Berger về sự khinh suất của Kim Jong-pil, Rusk xác định lập trường như sau “vì [Hoa Kỳ] không nên hỗ trợ bất kỳ ai với tư cách cá nhân, nó cũng không nên quá công khai chống đối một ai cả. Tuy nhiên [Hoa Kỳ] có thể khẳng định rõ... rằng một giám đốc tình báo và cảnh sát mật không nên cùng một lúc là người xây dựng chính sách quan trọng và lãnh đạo cao cấp hạng hai của một quốc gia hiện đại.” Các quan chức Mỹ trong lĩnh vực này đã quan ngại rằng sự can thiệp “quá mức” của Mỹ vào chính trị Hàn Quốc có thể tổn hại đến những lợi ích dài hạn của Mỹ do sự lan truyền tinh thần chống Mỹ ở người Hàn. Ngoại lệ duy nhất cho ưu tiên dàn xếp nhẹ nhàng và thương lượng kín của Mỹ về các vấn đề quyền lực chỉ xảy ra vào tháng 3-4 năm 1963 khi các quan chức Mỹ liên kết với các chính trị gia dân sự chống đối ở Hàn Quốc công khai phản đối đề xuất kéo dài chính quyền quân sự của Park.
Các khó khăn ngăn cản sự can thiệp có hiệu lực của Mỹ vào các chính sách kinh tế, an ninh Hàn Quốc xuất phát từ tình trạng cạnh tranh giữa các cơ quan của Mỹ hơn là từ chính quyền quân sự Hàn Quốc. Hoa Kỳ không phải là một thực thể thống nhất trong mối quan hệ với nước tiểu nhược. Mặc dù Beger có nhiều quyền tự do hơn cương vị của một đại sứ bình thường, không gian hoạt động của ông vẫn thường bị quân đội Mỹ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, bởi vì những nguồn lực ông có thể đảm bảo cho các mục đích phát triển bị phụ thuộc vào việc ông có khả năng lấy được những nguồn lực nào từ quân đội Mỹ. Xung đột của ông với Đại tướng Meloy về sự phân bổ viện trợ giữa quân đội và các chương trình kinh tế là một vấn đề công khai ở cả Washington và Seoul. Sự rạn nứt nội bộ trong chính quyền Mỹ đôi khi tạo cho nước yếm thế một cơ hội vô hiệu hóa các nỗ lực thay đổi chính sách từ phía Mỹ. Sự chống đối cắt giảm quân sự của các lực lượng vũ trang Hàn Quốc là một trường hợp điển hình.
Vì vậy, những năm tháng của chính quyền quân sự không thể được hình dung dựa trên những giả định cơ bản về thắng-thua hay mạnh-yếu một cách tách bạch. Thật ra sẽ chính xác hơn nếu diễn tả giới cầm quyền chính trị hai ước bị kẹt trong một trò chơi trốn tìm và kiểm soát lẫn nhau rất phiền toái. Biết rằng nước Mỹ sẽ phản đối kế hoạch huy động vốn thông qua chương trình chuyển đổi tiền tệ và vụ giàn xếp hoán đổi tiền-chứng khoán KIDC, Park đã giữ bí mật với các quan chức Mỹ cho đến những ngày chuẩn bị cuối cùng rồi lại phải rút lại chương trình trước lời đe dọa hủy viện trợ của Mỹ. Mặc cho McConaughy tin tưởng vào hiệu quả ngăn chặn đến từ sự phản đối mang tính ý thức hệ của Mỹ đối với hoạt động can thiệp quân sự vào chính trị thì một cuộc đảo chính quân sự vẫn diễn ra chỉ 2 tháng sau khi ông bác bỏ các báo cáo cho rằng cuộc đảo chính đang được chuẩn bị, điều này cho thấy rằng nước Mỹ không hẳn kiểm soát được các sự kiện chính trị ở Hàn Quốc. Hơn nữa, tương phản với sức mạnh phủ quyết của Mỹ đối với kế hoạch huy động vốn của Park, quân đội Hàn Quốc dưới sự lãnh đạo của Park có thể và thật sự đã thúc đẩy lịch sử theo hướng ngược lại với chính sách của Hoa Kỳ - mặc dù theo những cách ngấm ngầm vì chính quyền này có vị thế yếu hơn. Ngược lại với những lý thuyết thực tế lý giải kết quả dựa trên tương quan quyền lực, chính quyền quân sự đã đạt được vị thế đàm phán nhất định nhờ các vấn đề mà Mỹ quan tâm trong việc bình thường hóa quan hệ Hàn — Nhật, tình trạng cạnh tranh giữa các cơ quan trong Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng Mỹ, và việc Mỹ phụ thuộc vào Hàn Quốc nhằm bảo vệ nước đồng minh quan trọng ở châu Á, Nhật Bản, trước những ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Chính quyền quân sự thường cố gắng giới hạn ảnh hưởng của Berger bằng cách tận dụng sự hỗ trợ của quân đội Mỹ — như khi Chang Do-young cố gắng sắp xếp một “cuộc họp cấp cao” với Kennedy nhờ sự giúp đỡ của Đại tướng Maxwell Taylor. Tương tự như vậy, Kim Jong-pil tìm kiếm sự giúp đỡ của Đại tướng James A. Van Fleet để nâng cao vị thế của ông ta ở Mỹ. Quan trọng nhất, như các quan chức Mỹ đã nhiều lần chứng kiến, chính quyền quân sự thường xuyên hành động dựa trên niềm tin rằng “nước Mỹ sẽ phải chấp thuận bất cứ điều gì” để giới hạn tầm ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Trục Park-Kim cố gắng áp đặt những ý muốn của họ xuống các nhà hoạch định chính sách Mỹ bằng cách biến những hành động này thành các sự việc đã rồi khiến Mỹ phải chấp nhận bởi giải pháp thay thế duy nhất có vẻ sẽ gây nên bất ổn chính trị và rủi ro quân sự. Sự phá rào đôi khi có kết quả, như trong trường hợp cuộc đảo chính 16 tháng 5. Những lần khác, như sự kiện chuyển đổi tiền tệ 1962, đã thất bại một cách đáng tiếc. Và những lần khác nữa, như trường hợp mâu thuẫn năm 1963 về việc kéo dài chính quyền quân sự đã giúp cả Park và Hoa Kỳ đều chiến thắng, mỗi bên đều đạt được mục tiêu ưu tiên cao nhất trong khi để bên kia hiện thực hóa lịch trình nghị sự tiên quyết của họ thông qua các chuỗi sự kiện chính trị lắt léo. Khi đánh giá mức độ ảnh hưởng của Mỹ, cần đặt trong hoàn cảnh mà ở đó Mỹ cố gắng sử dụng quyền lực của nó và chiến lược của các nhân vật địa phương để đáp trả lại điều đó. Đúng là nếu không có áp lực của Mỹ, chính quyền quân sự có lẽ đã kéo dài thêm 4 năm nữa sau năm 1963. [38] Nhưng cũng đúng là Hoa Kỳ cuối cùng đã phải thuận theo các điều kiện của Park về quá trình chuyển giao cho chính quyền dân sự và phải chấp nhận vị trí tổng thống của ông năm 1963.