Trước khi thuật sang chuyện những chiến sĩ đánh địch rút chạy ở Cheo Reo - Củng Sơn và dọc con đường 7 trong bảy ngày đêm, từ 11 giờ trưa ngày 17 tháng Ba đến 16 giờ 45 ngày 24 tháng Ba, tôi xin giới thiệu một số bản phúc trình của những sĩ quan cấp cao nhất của quân đội ngay tại quân khu II để bạn đọc có điều kiện hiểu rõ nội tình của họ trong tháng Ba một cách khách quan nhất. Vì những bản phúc trình này được gửi lên các cơ quan cấp trên ở Sài Gòn để thẩm định, nên cái tư cách của đương sự có ít nhiều được tô vẽ. Dẫu là vậy, cái tâm lý trốn tránh trách nhiệm, trút bỏ tất cả vẫn hết sức rõ. Lại nữa, nhân theo chân bộ đội ta vào Sài Gòn vừa được giải phóng, tình cờ nói chuyện với mấy người lại có quan hệ bạn bè với một vài vai chính và phụ trong tấn thảm kịch ở Tây Nguyên và đường 7, cũng tiện đây mà kể lại luôn. Với những căn cứ còn nghèo nàn nhưng xác thực, ít nhiều chúng ta cũng hiểu được cái lẽ sâu xa của một đội quân vốn được Mỹ và đồng minh coi là thiện chiến chỉ trong vòng nửa tháng đã hóa ra một lũ người hoảng loạn.
Trong cuộc rút chạy khỏi Plâycu tôi có được nghe một câu chuyện khá bi đát về một người tên gọi là Tạc, trung tá Tạc, tiểu khu trưởng tiểu khu Plâycu. Tạc nguyên là liên đoàn trưởng khóa sinh ở trung tâm huấn luyện Quang Trung. Sĩ quan nhà trường, con đông, vợ dại, lại ở Sài Gòn nên cuộc sống nó khốn nạn quá. Nằm ở Sài Gòn mà nghe tụi bạn bè "trấn sơn bình ải" ở những miền đất xa xôi, tiền kiếm dễ như củi lụt, nghĩ mà thèm. Đã đành ở những nơi hóc hiểm ấy là phải dấn thân. Nhưng cái chết đâu có dễ. Hàng ngày chưa chắc đã phải chạm trán với nó, còn ở đây từng giờ từng phút đều phải chường mặt với cái nghèo. Ở cái xứ sở chiến tranh chưa bao giờ dứt, lại có lính Mỹ, lính đồng minh, có hàng viện trợ, có buôn và bán ma túy quả thật không thiếu gì cơ hội để làm tiền. Lại là một quân nhân, một sĩ quan cấp tá, thì cái cơ hội để kiếm tiền lại càng nhiều lắm. Nhưng phải có quan thầy, có phe cánh, có băng, nếu không, cửa sinh không đến lại chui đầu vào cửa tử thì cái thân còn không bằng con chó. Vì anh chàng Tạc này thuộc loại người kém tháo vát, nói cho đúng là nhát sợ những chuyện phiêu lưu. Muốn sống sướng, sống ngoài đồng lương mà lại nhát thì cứ nên cam chịu cái phận nghèo. Có một thời đã định chạy sang Bộ tư lệnh cảnh sát, xin một chân cảnh sát quận thì cũng là một chỗ ngồi rất dễ chịu. Nhưng từ ngạch quân đội xin chuyển sang ngạch cảnh sát lại phải được bộ quốc phòng biệt phái sang bộ nội vụ. Dĩ nhiên không thể trình bày ý nguyện trong một lá đơn, rồi đút cái lá đơn tội nghiệp nọ vào guồng máy hành chính mù mịt, rối rít, đợi ngày có quyết định phê chuẩn. Mà là phải đi ngõ sau, phải được người thân tín của mấy ông lớn dắt tay bày vẽ những thủ tục phải làm. Nhưng muốn được những người có uy quyền ghê gớm ở hậu trường hạ cố nắm tay thì hai bàn tay của kẻ đến nhờ việc phải được bọc bằng vàng, vàng ròng. Lại có người mách, nhiều anh sĩ quan đói nghèo, nhưng được mấy ông người Hoa giàu sụ ở Chợ Lớn tài trợ nên đã có cái cơ hội được đo bạc bằng thước sau một hai năm thực thi công vụ tại quận 5, quận 6 đô thành. Nhưng người tài trợ cũng không dễ kiếm. Họ có thể tung ra vài chục triệu để mua một anh quận trưởng cảnh sát, nhưng phải là mặt hàng họ đã biết và muốn mua. Còn cái thằng trung tá Tạc, sĩ quan huấn luyện, thì nào ai được biết? Nó có tài nghệ gì? Nó là chân tay của phe cánh nào? à, nếu nó chẳng có một chút gì đáng giá thì mua sao được, vài chục ngàn cũng không thể mua. Rồi, vẫn là do bạn bè xui mách, thử chạy đến cửa đại tá Quý xem sao? Đại tá Quý là chánh văn phòng của trung tướng Đặng Văn Quang. Quang lại là cố vấn an ninh của Thiệu. Qua Quý mà đến Quang. Nhưng cái ông xếp sòng CIA bản xứ này cũng là trùm buôn bạch phiến luôn. Dẫu ông ta có yêu ông đại tá Quý cũng không thể vì cái người quen biết của cấp dưới mình mà ra ơn suông được. Bởi rằng cũng cái ơn ấy mà đem cho một người khác còn được lại quả vài tệp ngân phiếu mà vẫn được tiếng là người thi ân. Ông ta tuy là người của giới quân sự, nhưng còn là người của giới thương mại tất phải có tính đến cái chuyện đó. Vẫn là rất khó, nhưng cứ nên thử xem sao? Quý là trung tá, mới lên cấp đại tá vào dịp "ngày quân lực" năm 1974. Đầu năm 1974, nhân gặp nhau tại nhà một người bạn, thấy Quý vận âu phục, thắt cà vạt Tạc còn hỏi đùa : "Mày vẫn là trung tá hay đã thăng đại tá để tao còn chào?". Quý cười : "Đã gì mà đại tá?". Trả lời thế tức là sắp làm cấp trên người ta rồi. Quả nhiên giữa năm y được thăng trật đại tá thật. Cũng là một kiếp người, cũng là một kiếp lính, nhưng cái anh chàng Denis Nguyễn Văn Quý kia mới tốt số làm sao? Hắn đã thoát ra khỏi cái cảnh ngộ chung và sống một cuộc đời bồng lai tiên cảnh bên trong cái vỏ áo lính. Cậu ấm vốn là dân Tây, lại là con trai duy nhất của một gia đình giàu có. Hồi Quý còn là đại úy công tố viên tòa án quân sự tại Nha Trang, một tháng hai lần cha mẹ từ Sài Gòn đáp máy bay ra Nha Trang thăm con và đưa tiền. Hai cụ không cho phép con trai về Sài Gòn vì sợ tai nạn dọc đường. Đi xe thì sợ mìn, sợ đâm xe, đi máy bay thì lo rớt, lo trục trặc. Từ ngày Quý về Sài Gòn làm người thân tín của trung tướng Quang thì cái thằng Tạc khốn khó chỉ đứng nhìn cũng đủ nhỏ dãi. Đã có lần, Tạc nói rất chua chát với người bạn được số phận quá cưng chiều : "Thôi, mình sẽ xin giải ngũ, làm sốp-phơ lái chiếc Von-va-ghen cho cậu. Vừa là lái xe, vừa là hộ sĩ, bằng lòng không?". Quý có ý muốn giúp đỡ người bạn cũ thật. Chỉ mách một nước đi thôi, có vẻ như phiêu lưu, nhưng kỳ thật hết sức chắc chắn, tức là nên xin về quân khu II với thiếu tướng Phú, vì Tạc vốn là đàn em của Phú, thời Phú còn làm chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Quang Trung. Quý bảo Tạc : "Ông Phú sống hảo hán lắm, rất hợp với tính cậu. Chịu khó về khuông phò ông ấy ít lâu lên được cái lon đại tá mình sẽ nói với ông Quang gọi cậu về Sài Gòn". Thế là trung tá Tạc xách hành lý, từ giã vợ con và cái đô thành luôn luôn nhăn nhó với kẻ túng thiếu theo chàng Phạm Văn Phú hào hoa, mã thượng ra đất Quân khu tìm đường mưu sống. Quân khu II đóng tại Plâycu, nên Phú liền bổ nhiệm đàn em của mình làm tiểu khu trưởng tiểu khu Plâycu. Cuộc đời coi như đã được Thượng đế an bài lại, hy vọng rằng một năm nữa sẽ đeo lon đại tá, từ giã quan thầy, trở lại Sài Gòn với một cuộc sống hoàn toàn khác trước. Trước khi rời Sài Gòn, Tạc có đến chơi nhà người bạn mà tôi mới có dịp được quen biết. ông này làm nghề thầu khoán. Nghề thầu là cái nghề cho phép người ta được biết tất cả. Tạc hỏi ông thầu khoán : "Lên vùng cao nguyên liệu có gì làm ăn ngoài được không?". Ông này liền mách cái cách thức ăn tiền đăng ký lộ trình của các xe đò từ Plâycu đi Quy Nhơn, ngược Công Tum hoặc xuôi Buôn Mê Thuột. Nhà xe muốn xin đường cho xe đò chở khách trước hết phải đút tiền cho tư lệnh vùng, rồi cho các tỉnh trưởng các tỉnh có con đường xe chạy. Đó là những món tiền to, còn những món tiền nhỏ hơn thì đưa cho ty cảnh sát, ty công chánh và tiểu khu trưởng(nếu tỉnh trưởng không kiêm nhiệm) để đảm bảo an toàn cho lộ trình. Có tiền đưa một lần, có tiền đưa hàng tháng, lại có tiền đưa từng chuyến nếu chuyến đó có chở hàng lậu. Tạc có ý chê vì nó vặt vãnh mà lại nguy hiểm nhưng ông thầu đã đưa ra một dẫn chứng mà cả Sài Gòn đều biết là vụ chuẩn tướng Thọ. Năm Thọ còn làm tỉnh trưởng Bình Định, ăn tiền quá nhiều nên bị báo Dân luận tố cáo. Tỉnh trưởng có quyền cấp giấy phép đại lý bán gạo, các môn bài đặc biệt, cho lộ trình xe và một trăm thứ có thể kiếm tiền dễ như vốn nó đã ở sẵn trong két rồi. Đàn em làm rồi đưa về nộp chứ ông tỉnh trưởng không cần dúng tay. Hai tay ông vẫn có thể sạch. Vợ Thọ nhận đỡ đầu cho một hãng xe đò lớn chạy đường Quy Nhơn - Sài Gòn và Quy Nhơn - Đà Nẵng - Huế, mỗi năm cũng được cầm tay từ một đến ba triệu. Đó là vợ làm chứ không phải chồng làm. Lúc báo chí ở Sài Gòn khui chuyện ra, vợ Thọ liền phái một sĩ quan cấp tá tới tận tòa báo đưa lót một triệu để họ im đi cho. Nhưng tờ báo vì nhờ vào cái vụ tố cáo tham nhũng này mà có bạn đọc, in được nhiều số, nên không muốn nhận tiền đút, cứ tiếp tục viết bài tố cáo. Kết quả thế nào? Thọ tuy không được ở Bình Định, nhưng được thăng cấp chuẩn tướng, được nhận một trách nhiệm còn thơm tho hơn cả thời làm tỉnh trưởng. Ông thầu khoán nhân đấy mà khuyên ông trung tá là đã muốn được sống hơn người thì đừng có sợ. Vả lại, đâu phải tội lỗi một riêng ai. Giả thử trưởng ty cảnh sát có đưa tiền cho tiểu khu trưởng thì đừng nên chối. Nó tha lính quân dịch, tha hàng lậu, cho phép đánh bạc, mãi dâm, mở nhà hàng ca nhạc là thu về hàng chục triệu trong nháy mắt. Giá thử một người nào đó bị tố cáo thì vẫn có thể hoàn toàn yên tâm. Một người bị lôi ra, vậy những kẻ khác thì sao? Ngay đến tướng vùng cũng có dính líu ít nhiều. Một tỉnh mà tỉnh trưởng làm tiền, trưởng ty cảnh sát làm tiền, tòa án cũng làm tiền thì còn lấy ai tố cáo? Mà dẫu có bị tố cáo thì ai sẽ đứng ra thi hành pháp luật? Cứ yên trí mà làm ăn, làm tới tới lên, nhưng chớ có tham quá, của thơm tho nếu biết cách chia hưởng thì còn được thơm lâu. Ở Plâycu cũng còn một món tiền rất dễ kiếm là các nhà thầu khai thác gỗ. Muốn khai thác gỗ phải có giấy phép của tướng vùng, của nha thủy lâm, nhưng cái anh tiểu khu trưởng nắm lực lượng quân địa phương cũng không thể bỏ qua được. Trong rừng có lực lượng của Giải phóng lại có cả lực lượng của tiểu khu. Anh em Giải phóng thì không có gì phải sợ, nhưng lực lượng của địa phương lại rất nên sợ. Chúng sẽ túm lấy anh mà la làng là chân tay của Việt cộng thì anh kêu ai? Cứ phải đấm vào miệng mấy thằng la dăm ba chục ngàn chúng mới chịu ngậm lại. Tất nhiên tiếng la to nhất, có uy thế nhất phải là của thằng tiểu khu trưởng. Đấy, chỗ làm tiền và cách làm tiền là như thế đấy. Trước khi giã từ, ông thầu khoán còn mách thêm một cách làm tiền khác nữa là tổ chức một đội chuyên bắn hổ nấu cao xương. Tôi sẽ giới thiệu mặt hàng cho anh, hổ cao nguyên xương tốt nấu cao phải biết là lời".
Tạc lên Plâycu vào ngày 1 tháng Ba năm 1975. Nửa tháng sau, ngày 15 tháng Ba, bộ tư lệnh quân đoàn hạ lệnh rút lực lượng về Nha Trang để nghĩ mưu tái chiếm Buôn Mê Thuột. Chiều 15 tháng Ba, Phú triệu tập tỉnh trưởng Plâycu, trưởng ty ngân khố và chuẩn tướng Tất, chỉ huy trưởng lực lượng biệt động của quân khu II, để đốt ba mươi triệu bạc vì không thể mang theo được. Có thể mang theo tất cả lên máy bay riêng của thiếu tướng tư lệnh, nhưng lại không thể mang được ba mươi triệu bạc? Sĩ quan tham mưu của tiểu khu chạy về bảo Tạc : "Mấy ông lớn bay rồi, trung tá ơi! Mà xem ra họ có một chuyện gì mờ ám lắm". Sự thật thì không có chuyện đốt bạc. Có phúc trình lên trên là đã đốt bạc, với sự hiện diện của quý ông A, quý ông B, quý ông X, nhưng đến một cắc cũng không đốt. Các vị tai to mặt lớn đã chia nhau bỏ túi làm tiền lộ phí. Ơ hay! Vì cuộc tấn công này chúng tôi cũng mất bao nhiêu là của cải, chẳng lẽ không có quyền lấy đi vài chục triệu gọi là có chút ít đền bù. Sự ly kỳ vẫn chưa hết. Phú liền mách nước cho trưởng ty ngân khố phun xăng vào cánh tay phải rồi châm lửa cho cháy bỏng lượt da ngoài có nghĩa là vì đốt bạc mà bị bỏng. Thật là chứng cớ rõ ràng nhé. Không khéo còn được gắn huân chương vì đã hết lòng vì công vụ. Diễn xong tấn kịch che mắt thế gian, lập tức cả bốn người đều lên máy bay đi Nha Trang. Theo luật mà nói thì tư lệnh quân khu và chỉ huy trưởng biệt động có quyền rút về Nha Trang trước cùng với bộ phận nhẹ của quân khu, nhưng tỉnh trưởng và tiểu khu trưởng không được bỏ dân, bỏ lính đi di tản. Luật là như thế, nhưng ông tỉnh trưởng đã bỏ rồi, cả cái ông trưởng ty ngân khố vô danh tiểu tốt cũng được leo tót lên chiếc C.47, ngồi bên cạnh ngài tư lệnh. Vậy thì... vậy thì bọn ta cũng chuồn cho lẹ thôi! Ông tiểu khu trưởng liền bí mật tổ chức một nhóm di tản thật gọn nhẹ và thân tín gồm mười hai người trong cơ quan tham mưu, mang theo điện đài, địa bàn, bản đồ và súng M.16 trong đêm 15 tháng Ba rời khỏi thị xã Plâycu, chiếu hướng đông-nam mà đi tới. Họ tránh đường 7 vì đó là tử lộ, tránh luôn cả đường 21, cứ cắt rừng mà băng ra biển theo hướng thị xã Nha Trang. Đi mười ngày đêm trong rừng, uống nước bằng cách liếm hạt sương đọng trên mặt lá, liếm đến tứa máu ở đầu lưỡi mà vẫn chưa dịu được cái khát. Đói thì nhai lá vang, một loại lá chua mọc bên những gốc cây lớn. Lúc nào mệt thì nằm nghỉ, đỡ mệt lại dắt díu nhau kéo đi, không tính là đêm hay là ngày. Đến ngày thứ mười hai thì bọn họ ra khỏi cửa rừng, nhìn trên bản đồ đã là phía đông đèo Mơ Đrắc. Họ đi bộ đến quận Ninh Hòa. Rồi từ đó lên xe về Nha Trang gặp Phú. Nhìn ông trung tá quyết dấn thân để thay đổi cảnh ngộ, ai cũng phải thương. Râu tóc dài cợp, quần áo rách tung, mặt và hai bàn tay đã nề phù. Tạc chỉ còn kịp hét to trước mặt cấp trên của anh ta là anh vẫn còn sống nhăn, anh chưa thể chết được, anh chưa muốn chết rồi ngã ra bất tỉnh. Phú cho Tạc một bộ quần áo thay và hai chục ngàn. Nhân nỗi bất hạnh của một đội quân thua trận, ông chỉ huy đã kiếm ngon lành một chục triệu, nhưng cũng chỉ có thể thí cho không đàn em có hai chục ngàn! Sau này về Sài Gòn, Tạc đã thuật lại một cách uất ức với bạn bè như thế. Ở lại Nha Trang được vài ngày thì tuyến phòng thủ của lữ dù 3 ở đèo Mơ Đrắc bị vỡ, xe tăng Quân giải phóng tràn vào trung tâm huấn luyện ở Dục Mỹ, rồi tiến vào Ninh Hòa. Thế là Nha Trang lại chạy. Lại đến gặp Phú xin một chỗ máy bay về Phan Rang. Phú lại ra ơn lần thứ hai, cho ngồi cùng chuyến máy bay đưa Phú và cả trung tướng Thuần, chỉ huy trưởng trường hạ sĩ quan Đồng Đế về Phan Rang. Đến Phan Rang lại thấy mọi người thu xếp hành lý rục rịch chạy nữa. Chạy đi đâu? Hoặc vào Bình Thuận, hoặc đi Vũng Tàu, hoặc chạy tuốt vô Sài Gòn rồi bóc lon làm dân. Miễn là còn đem được cái xác về cho vợ con dẫu làm gì cũng được. Nhưng Thuần và Phú đã biến mất! Tất cũng biến mất! Lý, tham mưu trưởng quân khu cũng mất luôn! Xin ai được một chỗ lên máy bay hay xuống tàu biển bây giờ? Đang thương thân trách phận thế nào lại gặp một thằng đàn em cũ, nay là đại úy phi hành. Chưa kịp nới gì, nó đã hỏi : “Có muốn về Sài Gòn không?”. “Chú em ơi, anh có thể lạy chú một lạy vì cái ơn cứu mạng”. Chú em này đưa một chiếc C.47 ra Phan Rang với một trọng trách : Đón các ông chú, bà thím của tổng thống về Sài Gòn. Chỗ ngồi đã đủ, nhưng có thể ngồi lên thảm trải ở đằng đuôi. “Dầu tao có phải treo người dưới cánh, tao cũng đi. Mày cho đi là cảm ơn mày rồi”.
Trung tá Tạc đã đem cái xác nề phù vì đói khát, vì lo sợ vì uất ức về đến đất Sài Gòn vào ngày 5 tháng Tư, rồi nằm mê man trên giường cho tới ngày 30 tháng Tư. Vợ con đã phải cầm bán những thứ có thể cầm bán để chạy thuốc cho chồng. Xem chừng cái cảnh ngộ của cặp vợ chồng đông con này về lâu về dài cũng chẳng thể sáng sủa hơn những ngày đã qua. Làm sao được! Ở đâu cũng thế, một chế độ chính trị do đội quân xâm lược tạo dựng nên, khi sụp đổ không khỏi đè bẹp, nghiền nát hàng triệu con người đã bị lừa đảo từ đầu đến cuối.
⚝ ⚝ ⚝
Niềm vui của một người nhân “thời thế có tao loạn” mà được cầm gậy chỉ huy :
Chúc mừng của hội ái hữu cựu sinh viên sĩ quan khóa Cương Quyết 2 - Thủ Đức hân hoan mừng :
Bạn Phạm Duy Tất
Được danh dự vinh thăng đặc cách chuẩn tướng nhiệm chức tại mặt trận nhân dịp tạo nhiều chiến thắng vẻ vang tại chiến trường khu tây bắc cao nguyên Ban Mê Thuột ngày 13 tháng 3 năm 75.
Và cái nỗi buồn của một vinh quang đến quá muộn :
Phúc trình
Của chuẩn tướng Phạm Duy Tất chỉ huy trưởng Biệt động quân - Quân khu II về giai đoạn triệt thoái từ Pleiku về Nha Trang.
(Trích đoạn)
...Tối ngày 11/3 tôi được lệnh về trình diện Bộ tư lệnh quân đoàn II để được gắn cấp bậc chuẩn tướng và dự buổi hội do thiếu tướng tư lệnh quân đoàn chủ tọa, hiện diện gồm : chuẩn tướng Cẩm phụ tá hành quân, chuẩn tướng Sang, tư lệnh sư đoàn 6 không quân, đại tá Lý, tham mưu trưởng quân đoàn II. Thiếu tướng cho lệnh rút các lực lượng ở Kontum, Pleiku theo hướng liên tỉnh lộ 7 để tái chiếm Ban Mê Thuột, chỉ thị chuẩn tướng Cẩm và đại tá Lý thiết lập kế hoạch rút quân, sợ bị tiết lộ quyết định dùng mật lệnh chỉ thị từng giai đoạn rút lui.
Kế hoạch rút lui
a) Kế hoạch của lữ đoàn kỵ binh số 2.
Tăng phái Lđ 23/bđq [4*] và Lđ 6/bđq cho lữ đoàn 2 kỵ binh để an ninh lộ trình và yểm trợ công binh làm đường từ ngã ba Mỹ Thạch đến quận Sơn Hòa. Bộ tư lệnh Lđ 2/kỵ binh đặt tại thị xã Phú Bổn. Bộ chỉ huy Lđ 23/Bđq tại phi trường Phú Bổn. Tiểu đoàn 11/bđq an ninh đèo Chư Pao. Tiểu đoàn 24/bđq chặn phía tây Phú Bổn. Lđ 6/bđq giữ an ninh cho công binh từ Cà Lúi(trục 59) đến tây bắc quận Sơn Hòa(trục 76), đoạn đường còn lại do các tiểu khu Phú Bổn và Phú Yên đảm trách.
b) Kế hoạch rút lui Kontum.
Ngày 16 tháng 3, chuẩn tướng Cẩm chỉ thị tiểu khu Kontum rút Lđ 22/bđq và tiểu đoàn 222 Bđq về Pleiku bằng xe. Không đủ xe nên tiểu đoàn 22 phải đi bộ từ Chư Pao đến ngã ba Mỹ Thạch. Lđ 22/bđq đến Pleiku để giữ an ninh từ ngã ba Mỹ Thạch đến đèo Chư Túc.
c) Kế hoạch rút lui tại Pleiku
Trong khi rút quân tại Kontum, Lđ 25/bđq bị sư đoàn 968 tấn pháo. Tiểu đoàn 67/bđq tổn thất nặng. Ngày 15 tháng 3 bị đánh bạt khỏi đèo Thanh Bình. Địch tấn pháo tiểu đoàn 98 và 90/bđq tại phía tây và tây nam Thanh An, pháo dữ dội vào bộ chỉ huy liên đoàn, xâm nhập chi khu Thanh An. BCH/Lđ đã xin không quân yểm trợ nhưng không được đáp ứng. Pháo binh của ta hoàn toàn bị hủy diệt.
Đêm 16 tháng 3 , tiểu đoàn 1 6 được lệnh rời Pleiku và căn cứ 711 để án ngữ ngã ba Phù Mỹ, ngã ba Hòn Rồng, nhiệm vụ tiếp đón liên đoàn khi rút quân.
Theo kế hoạch dự trù, BTL/QĐ II sẽ cấp xe cho các đơn vị biệt động quân ới chuyển. Phút chót không có xe nên phải dùng phương tiện cơ hữu và thiết giáp. Riêng Lđ 25/bđq phải đi bộ từ Thanh An về Phú Bổn.
2. Diễn biến cuộc rút quân.
a) Giai đoạn từ Kontum - Phú Bổn.
Lđ7/bđq ưu tiên rời khỏi vùng trách nhiệm để án ngữ từ phía đông Phú Bổn đến đèo Tuna. Lúc đó BCH/Bđq/QK II do đại tá Uy chỉ huy phó chỉ huy rút đến giữa ngã ba Phù Mỹ và Mỹ Thạch lập hệ thống liên lạc với các đơn vị tại đó Lđ 25/bđq từ Thanh An rút bộ sau cùng, bị tấn công dọc lộ trình.
Đêm 14 ngày 15 tháng 3 - Sư đoàn 6 không quân liên tục không vận quân nhân và gia đình. Có thể dân chúng đoán biết cuộc rút quân nên hoang mang. Thị xã Pleiku hỗn loạn. 17 giờ ngày 17 tháng 3, đài tiếp vận của BCH/Bđq/QK II tại đỉnh Hòn Rồng triệt thoái sau khi các đơn vị đã rút khỏi Pleiku.
Ngày 18 tháng 3 - Lđ 7/Bđq phối hợp với lữ đoàn kỵ binh giải tỏa chốt. Trong lúc đang có tiến triển tốt thì phi tuần khu trục oanh tạc lầm, gây thiệt hại nặng cho một tiểu đoàn của liên đoàn 7 và một số xe thiết giáp. Hành quân tạm ngừng. Lúc đó địch pháo kích vào thị xã Phú Bổn, người Thượng tràn vào cướp đồ xe cộ tranh giành nhau lưu thông.
– 17 giờ 5 phút ngày 18 tháng 3 - Thiếu tướng tư lệnh LĐ II và chuẩn tướng Cẩm chỉ thị nỗ lực diệt chốt. Các đơn vị phá hủy chiến cụ nặng và rút khỏi Phú Bổn.
– Lđ 23/bđq vẫn đối đầu với sư đoàn 320 thường xuyên bị tấn kích. Các đơn vị phải băng rừng vì trên đường lực lượng địa phương quân đã rút bỏ. Dân chúng tháp tùng các đơn vị gây hỗn loạn.
b) Giai đoạn Củng Sơn - Tuy Hòa.
Lđ6/Bđq ở khu vực ấn định, nhưng không bảo vệ công binh, mà đánh địch ở phía sau. Từ 20 đến 24 tháng 3, Lđ6/bđq bị tấn kích liên tiếp. Đến bến phà sông Ba, công binh cho biết qua dễ dàng, nhưng vượt sông bị trở ngại vì cát lún, dùng chinook [5*] cẩu, vì sắt PSP lót cát không được. Xe ùn lại.
Tại Nha Trang, các đơn vị biệt động quân chỉ còn thành phần khung của các liên đoàn và các đơn vị hành chính công vụ không có vũ khí, chỉ có một đại đội thuộc Lđ22/bđq còn nguyên vẹn, nhưng phải phân tán cấp tiểu đội để giữ an ninh thị xã, kiểm soát nút chân và yếu điểm : đèo Rù Rì, hải cảng, cổng phi trường, nhưng không có máy liên lạc.
Ngày 30 tháng 3, quân dân các nơi di tản tới, gây hỗn loạn thị xã. Ngày 31 tháng 3, địa phương quân giữ an ninh trung tâm cải huấn bỏ chạy, quân phạm thoát ra phá phách, quân trấn Nha Trang không duy trì được trật tự vì nhân viên công lực bỏ trốn, biệt động quân hết lực lượng.
Ngày 31 tháng 3, tư lệnh quân đoàn II giao phó cho tôi nhiệm vụ phụ tá hành quân. Ngày 1 tháng 4, tư lệnh quân đoàn II giao chức vụ chỉ huy trưởng Bđq/qk II cho đại tá Đại chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện biệt động quân Dục Mỹ.
c) Giai đoạn di tản tại Nha Trang
13 giờ ngày 1 tháng 4, tôi đang ở tại BTL/QĐ II, thiếu tướng tư lệnh bảo làm cơm ăn thì nhân viên bộ tham mưu quân đoàn tự động phân tán lên xe chạy, chỉ còn vài nhân viên tùy tùng. Lúc đó trung tướng Thuần đến. Tư lệnh quân dân chỉ thị cho tôi dùng trực thăng liên lạc với các đơn vị, đặc biệt là tiểu đoàn 34/bđq tại đèo Cả. Cả buổi chiều không liên lạc được với ai. Phi trường hỗn loạn. Phi công giành giật phi cơ để bay. Về Phan Rang đổ xăng, tướng Phú bảo tôi lấy phi cơ C.47 về Nha Trang liên lạc nữa, nhưng không có kết quả. Trở lại Phan Rang, tư lệnh quân đoàn lại bảo tôi lấy trực thăng trở ngay lại Nha Trang tìm cách liên lạc một lần chót. Tại Nha Trang, tôi cho bay thật thấp nhưng không bắt liên lạc được với một đơn vị nào hay biệt động quân cả. 17 giờ 30 ngày 1 tháng 4, tôi trở lại Phan Rang báo cáo với tư lệnh quân đoàn. Sau đó cùng tư lệnh quân đoàn trở lại phi trường Nha Trang gặp chuẩn tướng Oánh và chuẩn tướng Lượng. 20 giờ 30 ngày 1 tháng 4, tư lệnh quân đoàn II về Phan Rang nghỉ đêm.
Ngày 2 tháng 4, 8 giờ - chuẩn tướng Sang tư lệnh sư đoàn 6 không quân cho biết tư lệnh/qđ II và tiểu khu trưởng Ninh Thuận vừa rời Phan Rang không biết đi đâu. Đến chiều gặp thiếu tướng Lành tư lệnh phó không quân, và đại tá Phước, tư lệnh phó sư đoàn nhảy dù tại sư đoàn 6 không quân. Chuẩn tướng Sang cho biết kể từ sáng nay lãnh thổ quân khu III được nới ra đến Phan Thiết, riêng Phan Rang thuộc quyền chỉ huy của tư lệnh sư đoàn 6 không quân.
Sau hai ngày ở lại Phan Rang không có chỉ thị gì của cấp chỉ huy và đã nhiều lần liên lạc với bộ chỉ huy biệt động quân quân lực Việt Nam cộng hòa nhưng hệ thống bị gián đoạn nên lúc 8 giờ ngày 3 tháng 4 tôi đã dùng phương tiện của sư đoàn 6 không quân về Sài Gòn trình diện thiếu tướng chỉ huy trưởng Bđq/QLVNCH.
Theo bản phúc trình của Tất, thì khi về tới Nha Trang chỉ còn có một đại đội thuộc liên đoàn 22 biệt động quân là còn nguyên vẹn. Tính ra đã có hàng ngàn người không đến đích. May mắn thì họ được Quân giải phóng bắt làm tù binh, nghĩa là vẫn còn sống. Còn sống thì có ngày lại được gặp vợ, gặp con, nghĩ lại chuyện tháng Ba năm nào như một cơn ác mộng. Nhưng sẽ có nhiều người phải nằm lại dọc con đường 7, nằm lại ở các dải rừng. Tên tuổi họ, thân phận họ nào ai được biết, có chăng chỉ còn những người thân là nhớ đến. Ngay đến người thân cũng không thể nhớ tới họ mãi mãi, rồi cũng có lúc phải quên ới. Xương vùi trong đất, lá rừng phủ lên đất, cuối cùng là thời gian che phủ lên tất cả. Cũng là một kiếp người mà sao đau đớn đến thế, vô ích đến thế. Đáng thương hơn là đáng giận. Họ đâu có muốn thế. Họ đâu được biết cộng sản là gì mà bảo căm ghét. Những kẻ căm ghét cộng sản thật ra chỉ có rất ít và cái đám rất ít ấy mỗi ngày một tàn lụi mãi đi. Họ chỉ mong được sống sung sướng, sung sướng hơn đồng loại chút ít càng hay, và ai ai cũng muốn chạy vọt lên để được hưởng cái may mắn hơn những người khác. Trong một nước bị xâm lược, có quân đội nước ngoài tới chiếm đóng, lại có một đám người đứng ra xin thay mặt kẻ xâm lược mà cai trị lại dân, nhưng dân không lấy làm tức, lại còn muốn được sống yên phận, sống sung sướng hơn đồng loại? Mà muốn sống sướng hơn đồng loại thì không thể không cam chịu một nửa non sông đã bị bán đi, cái thân phận của mình đã bị bán đi. Cam chịu có nghĩa là sẽ cộng tác : Có cộng tác thì mới có cơ hội sống sướng hơn kẻ khác được. Lâu dần cái gốc gác của một cuộc sống sung sướng ngay cả trong chiến tranh cứ bị che lấp mãi, khiến người ta chỉ còn nhìn thấy có ông A giàu, bà B sướng, thằng X dại, thằng Y khổ. Thói thường ai chẳng muốn noi theo ông A, bà B. Tại sao lại làm thế? Chỉ vì bọn tôi muốn được sống khá hơn một chút. Vì muốn được sống khá hơn mà xin ra trấn thủ tại những chiến trường xa. Ở chiến trường xa thì dễ thăng trật, dễ kiếm chác. Chứ không phải vì ở đó được đối mặt hàng ngày với cộng sản, có cơ hội “uống máu ăn gan” họ. Những đứa thật sự muốn moi gan uống máu người cộng sản hầu hết nằm ở phía sau cả. Cuối cùng... cuối cùng là những nấm đất hiu quạnh trên một nẻo đường rừng nào đó ở một góc núi nào đó, ở một vùng quê nào đó. E rằng đến một nắm đất cũng không thể có. Chính là những quan niệm thiển cận và ích kỷ về mưu sống đã giết chết họ, đã ném họ vào những cạm bẫy hiểm ác của một cuộc chiến tranh do Mỹ xúi giục, Mỹ phát động, Mỹ nuôi dưỡng, nhằm phục vụ những ý định dài lâu của người Mỹ. Có một người bạn ở Sài Gòn đã nói với tôi : "Giá hàng ở Sài Gòn đắt hơn bất cứ nơi nào trên thế giới, vì phải trả bằng máu người". Không có máu người Việt Nam chịu đổ ra cho Mỹ, người Mỹ sẽ không bao giờ chịu đổ của ra để bù lại. Người Mỹ chỉ hào phóng khi họ có lợi. Nhưng máu đổ ở mãi ngoài xa, vết máu lại chóng khô nên người ta không dễ nhìn thấy. Còn hàng hóa và bảng giá thì lại được trưng bày, được rọi điện, được quảng cáo nên cứ ngỡ là giá rẻ. Họ có biết đâu trên bảng giá đã có vết máu của chồng con. Nói cho đúng, cũng còn nhiều người dầu đã được dẫn giải vẫn không thể tìm ra vết máu, bởi chưng những người ruột thịt của họ đều đã được sống rất sung sướng, rất an toàn. Cùng lắm trong giá hàng họ chỉ thấy có máu của người khác. Đồng tiền là của mình, còn máu là của người khác nên giá hàng vẫn cứ là rẻ.
Tôi xin thuật lại một câu chuyện cũng vẫn là không vui về một cặp vợ chồng muốn được sống sướng hơn xung quanh một chút trong cái cảnh ngộ khốn khó của một phần đất chưa bao giờ vắng bóng những tên lính xâm lược. Người chồng tên là Nguyễn Tất Biên, trung tá liên đoàn trưởng liên đoàn 23 biệt động quân và người vợ có cửa hàng nhỏ ở Gò Dầu Hạ, buôn hàng lậu từ Nam Vang đưa sang. Năm 1974 và trước đó, Biên làm ở bộ tham mưu biệt động quân quân khu III, ở Biên Hòa. Một sĩ quan rất điển trai, đã được bạn bè gọi đùa là Biên tây lai, cấp bậc cũng khá, lại an tọa ở một chốn không thể có tên bay đạn lạc, trừ phi... trừ phi anh ta muốn tự bắn vào đầu mình. Cô vợ lại chẳng phải người chịu ngồi ăn không, cũng chân nọ tay kia, buôn vào bán ra, trăm vạn thì khó, chứ trăm ngàn khi nào cũng sẵn. Đã có thể cảm tạ trời phật vì cái số phận hết sức dễ chịu rồi. Khốn nỗi, họ lại còn muốn được sống sướng hơn thế, được gia nhập vào cái giới thượng lưu ở Sài Gòn. Ví như bước thăng vận của một người bạn rất thân với gia đình là trung tá Phú. Phú trước ở cục quân huấn, về sau đổi đi Đà Lạt làm giáo viên trường đại học quân sự, đói rách quanh năm. Vợ sống ở Sài Gòn khi cầm bát họ, khi chạy hàng xách, nói chuyện với ai cũng xưng em, nước mắt ngắn dài, thê thảm tang thương hết chỗ nói. Người chồng ở Đà Lạt may mắn thế nào lại được một đại tá tên là Thường trong bộ chỉ huy tiếp vận 5 đóng ở Nha Trang, xin cho được chuyển sang tổng cục tiếp vận, đi học một lớp sĩ quan tiếp vận, rồi cũng vẫn là ông đại tá cứu tinh ấy cử đến Cam Ranh trông coi việc nhận và phân loại hàng phế bỏ của Mỹ đưa về cho quân lực Việt Nam cộng hòa. Kể ra anh chàng trung tá này cũng là người có bản tính lương thiện. Sống trong một quân đội mà từ anh hạ sĩ trở lên đều biết cách làm tiền, nhưng ông trung tá vẫn hoàn toàn ngơ ngác về những ngọn nguồn để muốn có tiền. Cho nên được quan thầy cho ngồi giữa một đống tiền mà lại than phiền rằng vất vả quá. Cô vợ cũng lại dại dột nốt, liền tong tong chạy đến than thở với bà đại tá về nỗi khổ của chồng mình. Bà kia phải phì cười mà bảo rằng : "Của ngon đã đưa đến tận miệng mà còn chưa biết ghé răng vào cắn ư? Cái bãi rác của Mỹ ở bán đảo Cam Ranh quả là thiên đường cho tất cả những ai muốn làm giàu. Một cái ghế xoay chỉ mất có cái vít, coi như của bỏ, bán theo ki-lô, khoảng mươi đồng một kí. Đem về, tra một cái vít đã hóa thành vài chục ngàn. Giường lò xo, tủ áo, máy lạnh đều thế cả, cứ xếp lại từng đống hoặc gọi nhà thầu đến bán ki- lô hoặc chuyển sang kho của tiếp vận là tùy ở sĩ quan đảm nhiệm việc phân loại. Lại như, khuân về tiếp vận năm mươi cái tủ lạnh, thì cứ lấy đại là một trăm, năm mươi cái thừa kia sẽ tung ra thị trường. Cũng không cần đến tay anh phải gọi mối mua mà đã có một đội ngũ đàn em hết lòng phục dịch. Ông trung tá cứ ngồi nguyên một chỗ, mỗi ngày cũng phải được cầm tay vài chục ngàn. Lương tháng có dăm chục ngàn, nay mỗi ngày tiền lót tay xấp xỉ với lương tháng, thì cửa thiên đàng thật ra cũng không đến nỗi quá hẹp. Trong vòng có một năm, cặp vợ chồng này đã gửi vào ngân hàng tới năm triệu bạc. Đồ đạc trong nhà cũng được thay cũ đổi mới hết, mà không phải tiêu ra đến một cắc. Rồi tậu nhà, rồi sắm xe hơi, mượn lái xe, thuê bồi bếp. Mỗi lần ông trung tá từ Nha Trang về Sài Gòn nghỉ ngơi hoặc có công vụ, bà vợ lại mở tiệc mời bạn bè tới ăn nhậu, nhảy nhót, vui vẻ không biết chừng nào. Anh chồng mặt mũi vẫn đen đủi, thân hình vẫn còm nhom, nhưng cô vợ thì thay đổi hoàn toàn như đã được lột xác. Mà cách ăn nói, cách đi đứng cũng mới quí phái, mới đài các làm sao, dường như bà ta biết cách sai khiến mọi người từ thuở còn nằm nôi bú mẹ. Cái cảnh sống bồng lai dưới hạ giới ấy kéo dài được năm rưỡi thì ông trung tá bất thần phải đổi về buya-rô [6*] làm nghề phát bông xăng, cũng vẫn được ăn, nhưng chỉ tém lẻ cấu vặt, không thể bì được với chỗ ngồi giữa đống rác sắt thép của Mỹ thải. Cả hai vợ chồng lúc ấy mới ngã người ra tự giận mình đã ngu quá. Họ kiếm được bạc triệu mỗi tháng, giả dụ thế, thì cũng phải biết cách đưa lên quan thầy hộ mạng năm trăm ngàn. Bởi rằng quan thầy cũng phải hàng tháng đưa quà lên xếp sòng là trung tướng Đồng Văn Khuyên, tổng cục trưởng tổng cục tiếp vận. Hoặc là họ ngu quá, hoặc là họ tham quá nên đã bỏ lỡ một cơ hội làm giàu rất hiếm có. Nhưng cái tấm gương thất bại ấy lại rất kích thích lòng ham muốn của cặp vợ chồng trung tá Biên. Họ chỉ cần khôn hơn những kẻ đi trước một chút là tất cả sẽ êm thấm. Nhưng tìm được ai làm quan thầy trong tổng cục tiếp vận bây giờ? Đành phải chạy vòng một chút vậy, Biên liền xin với Phú vốn là cấp trên trực tiếp thời cả hai còn ở lực lượng đặc biệt, được về quân khu II, với hi vọng một năm sau nhờ sự che chở của đàn anh sẽ được lên một cấp nữa. Đeo lon đại tá rồi, hoặc trở về Sài Gòn, hoặc tìm cách sang tổng cục tiếp vận cũng chưa muộn. Vả lại vợ Biên có quen một người bà con với trung tướng Khuyên. Qua người này tìm đến quan thầy mới xem chừng cũng chẳng khó khăn gì. Miễn là được lên một cấp, cái ấy mới khó. Trước tết Ất Mão một tháng, trung tá Biên về làm liên đoàn trưởng liên đoàn 23 biệt động quân đóng ở Công Tum tức là đã được bổ nhiệm vào chức vụ đại tá. Mấy ngày tết vợ đưa các con lên Công Tum ăn tết với chồng. Cái tết ở một thị xã trên cao nguyên có cái lãng mạn, thơ mộng của nó, mà lại rất lạnh, lạnh hơn ở Sài Gòn nên có vẻ tết hơn ở Sài Gòn. Tết ra, mọi sự vẫn rất bình an. Cái mộng cố gắng ở nơi nguy hiểm một năm để rồi sẽ được sống sướng hơn cả mọi người mãi mãi chưa có triệu chứng gì là không lành cả. Qua được tháng Hai, qua được mươi ngày đầu của tháng Ba. Rồi có tin Buôn Mê Thuột thất thủ. Các báo đăng tin ông Viucent Nguyễn Ngọc Vy, phó tỉnh trưởng Đắc Lắc tử nạn ngày 10 tháng Ba tại Buôn Mê Thuột. Rồi lại có tin ông đại tá tỉnh trưởng cũng bị tử thương chiều ngày 11 tháng Ba, còn ông Vũ Thế Quang, tư lệnh sư đoàn 23 phòng thủ Buôn Mê Thuột thì bị "cộng quân" bắt sống. Nghe xung quanh họ đồn đại thế, chứ tin chính thức của chính phủ vẫn quả quyết rằng Buôn Mê Thuột chưa mất, trong thị xã có quân của cả đôi bên. Rồi lại có tin "chúng ta" đã tái chiếm. Rồi lại có tin tướng Phú cùng bộ tư lệnh quân khu đã rút về Nha Trang. Rồi lại có tin cải chính là không phải, chỉ có tướng Phú đi, còn tất cả vẫn ở lại Plâycu. Điện từ Sài Gòn đánh đi không nhận được điện trả lời. Không có một ai được trả lời. Cái nơi ấy như đã thuộc về một thế giới khác. Bao giờ lại được thấy anh hơi cúi đầu bước vào căn phòng nhỏ hẹp của chúng ta? Bao giờ em lại được nói với các anh : "Rượu khai vị các anh thích uống Martell hay Gin? Hai vợ chồng mình cứ sống như xưa kia chẳng đã hạnh phúc lắm sao? Còn mong muốn gì hơn nữa? Chao ơi! Em dại dột quá! Bây giờ có hối cũng đã quá muộn rồi. Chỉ cầu nguyện rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra với anh. Có thể xảy ra với ông Vy, ông Quang, ông Luật, với những người khác nhưng sẽ không phải là anh. Có thể xảy ra với mọi gia đình nhưng sẽ không bao giờ là gia đình mình. Mới hôm qua chị muốn gia đình chị phải được sống sung sướng hơn cả mọi người, và hôm nay chị lại cầu xin gia đình mình sẽ ít chịu đau khổ hơn cả mọi người!
Nó đau đớn là thế. Mà cũng ngu dại là thế.!
⚝ ⚝ ⚝
Ngày 14 tháng Ba, khi Thiệu ra Nha Trang gặp Phú, tư lệnh quân khu II nghe thuyết trình tình hình quân sự trong quân khu, và hạ lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên, kịp thời bố trí lại lực lượng vùng duyên hải miền Trung, lập tức bị cả mọi người trong phe cánh lên tiếng chỉ trích. Đành rằng phải bỏ cái không thể giữ được để cố giữ cái có thể giữ nhưng nếu lại bỏ hẳn cả vùng cao nguyên trung phần thì sẽ không thể giữ lại những cái còn có thể giữ. Họ dẫn chứng : Ba tỉnh Tây Nguyên vẫn là cái vòm trần của miền Nam Việt Nam. Na-va thời Pháp và Oét-mo-len thời Mỹ dầu có bị đánh thua ở Điện Biên Phủ hoặc vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn cố sức giữ mấy tỉnh này. Vì mất nó có nghĩa là mất hết. Lại có một loại dư luận phân tích việc Thiệu cho rút khỏi Tây Nguyên như sau : một là, vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện đang bị áp lực của Cộng quân quá mạnh; hai là, muốn bi đát hóa tình hình Nam Việt Nam để lôi quân Mỹ nhảy vào chiến cuộc một lần nữa; ba là, âm mưu chia đôi miền Nam, từ Quảng Trị đến Đắc Lắc là của mặt trận Giải phóng, từ Đà Lạt đến An Xuyên là của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Nhiều tờ báo Mỹ đã bắt đầu than thở cho công lao của Mỹ trong bấy nhiêu năm, nay vì những quyết định rồ dại của Thiệu bỗng chốc hóa ra tay trắng. Nước Mỹ, cách xa xứ sở Việt Nam vừa nửa vòng trái đất, không có quan hệ gì với nhau về địa lý, về lịch sử, về chủng tộc và cả về chế độ chính trị nữa(cái chế độ chính trị do Mỹ lấy từ máu thịt của mình mà ghép vào, thật ra chẳng ăn nhập gọi với cái cơ thể của đất nước này, nếu không có máu mới, thịt mới từ Mỹ đưa sang lập tức có cái miếng ghép kia héo quắt lại và rớt ra), vậy mà đã có tới 2 triệu 50 vạn quân nhân Mỹ đã từng phục vụ ở Việt Nam, 30 vạn người bị thương, còn 5 vạn 6 ngàn người thì vĩnh viễn nằm lại ở một vùng sình lầy của châu Á. Rồi danh dự của một đất nước, uy tín của một số chính khách, tiếng tăm của một đội quân cũng vì cái mảnh đất xa lạ kia mà hóa ra nhem nhuốc. Họ kết luận : chúng ta đã từng có mặt ở Nam Việt Nam một nửa triệu quân đã tiêu tốn ở đây những một trăm năm mươi tỷ bạc và cả một thế hệ Mỹ còn lòng tin và hăng hái. Rút cuộc chúng ta vẫn cứ phải ra đi dầu được gọi là có danh dự. Vậy thì những gì đang xảy ra ở đấy trong những ngày này, nước Mỹ chỉ còn nên chấp nhận và hãy cố gắng mà quên đi. Có nghĩa là khi quân ta đã giải phóng hoàn toàn vùng cao nguyên thì tất cả mọi người đều thấy rõ : Chính quyền Thiệu không thể tồn tại được, cái chế độ chính trị do Mỹ gây dựng nên không thể tồn tại được. Nhưng... tôi xin nêu ra một giả thiết để bạn đọc phán xét vào lúc ấy hình như Thiệu vẫn còn tin rằng hắn sẽ có cách để tồn tại, hắn có thể tồn tại được. Vì, trong mấy năm nay, Thiệu như đã trót quên mất cái gốc gác của y, cái thân phận của y. Cũng như người dân thì nghĩ rằng mình đã là người tự do của một quốc gia đang bước vào một kỷ nguyên của tự do, kẻ cầm đầu của cái quốc gia đã bị mua đó cũng có thể nghĩ rằng y đã là một "chiến sĩ yêu nước", đã là một "lãnh tụ đang đấu tranh cho sự nghiệp tự do"? Vì đã tự cho mình là một chiến sĩ của tự do thì không dễ gì bị chinh phục, bị thua bại. Có thể tạm thời phải triệt thoái, phải cam chịu sự mất mát của bộ phận này hay bộ phận kia, nhưng cái toàn thể chắc chắn sẽ được cứu gỡ. Cho nên Thiệu mới khuyên quân đội của y là nên đánh giặc theo lối con nhà nghèo, nên dùng chiến thuật phân đội, nên hành quân bằng đôi chân chứ không nên dùng xe hoặc máy bay. Cho nên Thiệu mới khuyên các tướng tá của y là phải can đảm, phải tiếp xúc với binh sĩ, phải tử thủ với mỗi thước đất của quê hương. Rồi chính Thiệu trong cơn hoang tưởng nhất thời đã trịnh trọng tuyên bố dầu ở cương vị nào cũng sẽ chiến đấu đến cùng, chiến đấu như một chiến sĩ.
Nhưng... chỉ trong vòng có một tháng Ba, hai quân đoàn I và II đã mất tong. Các vị tướng kiêu hùng Ngô Quang Trưởng và Phạm Văn Phú còn chạy trước cả cơ quan tham mưu. Cơ quan tham mưu thì chạy trước cả binh lính. Còn cái đám binh lính đã mất đầu thì bắn lẫn nhau để thoát thân, bắn vào dân chúng để cướp của, và trong nháy mắt chỉ còn có cái quần cộc thất thểu chạy về nhà. Vậy là hết!
Cũng trong tháng Ba này những người bạn lớn ở bên Thái Bình Dương họ đang làm gì? Họ bàn cãi là có nên cho ông Thiệu thêm tiền hay không nên cho nữa? Cũng chẳng đi đến một kết luận nào cho rành rẽ là cho hay không cho. Câu chuyện tuy rất nghiêm trang và khẩn cấp đành để bỏ dở. Vì ông tổng thống Pho đã cùng gia đình đáp máy bay về nơi an dưỡng ở bang Ca-li-pho-ni-a nghỉ lễ phục sinh khoảng một tuần. Ông ngoại trưởng Kít-xinh-giơ cũng cùng đi với ông ta. Vì các nghị sĩ hầu hết đã trở về những khu vực bầu cử. Thậm chí đến ông thái thú của miền Nam là ngài Gra-ham Ma-tin cũng đang chơi nghỉ tại bang bắc Ca-ro-li-na sau khi mổ hàm. Có nghĩa là họ chỉ nghĩ đến họ và những công việc riêng của họ mà thôi. Tháng Ba đã qua đi, tháng Tư cũng đã sắp qua đi, Quân giải phóng thì tràn ngập tận cửa ngõ của Sài Gòn rồi. Hỏi người Mỹ, họ chỉ đáp : "Chúng tôi muốn quên đi cái quá khứ". Hoặc là : "Chúng tôi đã chán quá, đã mệt quá". Hoặc với cách nói sỗ sàng hơn : "Các ông tài nghệ đã kém, lại tham nhũng, lại buôn lậu mà còn thích huênh hoang, dầu có chết cũng là phải". Đến lúc ấy, phải đến cái lúc ấy, người "chiến sĩ đấu tranh cho tự do" kia mới chợt nhớ ra cái thân phận vốn dĩ của mình. Có thể ông ta quên, nhưng người Mỹ vẫn không quên, và chân tay của ông ta lại càng không thể quên rằng ngài tổng thống vốn xuất thân là một tên lính trong đội quân xâm lược của thực dân Pháp. Tức là một kẻ hầu bàn của các đội quân nước ngoài như "chúng ta". Nhưng có cái may mắn hơn "chúng ta" là được người Mỹ chọn làm tổng thống. Lúc duyệt binh, đọc tuyên thệ, gắn huân chương, chia bổng lộc thì tất cả dễ quên đi cái gốc gác, cái xuất xứ của mình và của người khác. Nhưng khi lâm trận, có gian nguy, có thử thách thì mọi người lại chợt nhớ đến cái cội nguồn. Nhớ như thế để được an ủi, để khỏi phải chịu trách nhiệm. Vì ông tổng thống cũng là phường bán nước cầu vinh, như nhiều người, hà tất mình lại phải lấy cái chết để đền đáp. Mình phải cứu lấy cái mạng của mình trước đã. Phải chạy thôi! Ai có cơ hội chạy được thì cứ nên chạy? Sau trận này, nếu Mặt trận chưa thắng hẳn, thì người Mỹ cũng sẽ tìm ra một ông tổng thống khác. Chắc chắn là thế. Chính Nguyễn Văn Thiệu vào những ngày cuối cùng hình như cũng đã nghĩ được : "Nếu cả mọi người đều đổ riệt cho tôi là tay sai của nước ngoài, vì tôi mà chiến tranh không thể chấm dứt, thì tôi sẽ xử sự theo đúng cái cung cách của những tên tay sai". Tức là xin rút lui, xin ông chủ cứ việc thu dụng người có tài có đức hơn tôi, nhưng tôi dám thách ông chọn được ai đấy, còn tôi xin đem vợ con ra nước ngoài, sống cuộc đời “nhà yêu nước bị lưu vong”.
Tôi không muốn suy diễn một cách gượng ép đâu, cũng không phải là mình đã thắng thì muốn chửi ai cũng được, muốn gán cho ai là bán nước là tay sai cũng được. Đều đã có chứng cớ cả. Thiệu tuyên bố sẽ sống chết với các chiến hữu trong trận này rồi lại xách khăn gói chuồn trước các chiến hữu tới cả tuần là một chứng cớ. Thiệu hạ lệnh cho tướng lĩnh phải lấy máu mà bảo vệ từng thước đất, không cho phép rút mãi nữa, nhưng các tướng lĩnh vẫn cứ tháo thân mà chạy, có khi chưa bị đánh cũng đã chạy, cũng là một chứng cớ. Trước khi rút lui, Thiệu đã đọc một bài diễn văn từ chức, chửi Mỹ, giận thân, hờn dỗi với đời, bộc lộ rất bất ngờ cái tâm lý của một kẻ đã được mua, đã được trả giá đắt, bỗng dưng bị hất bỏ, cũng lại là một chứng cớ. Nếu bạn đọc hãy còn nghi ngại thì xin đọc thêm mấy tài liệu sau đây :
Một là, hai bức công điện của Thiệu gửi tư lệnh các quân khu và binh chủng, hạ lệnh phải tử thủ phần đất còn lại. Hai là, bản đệ trình của tướng Phú tư lệnh quân khu II về giai đoạn rút lui từ Plâycu vào Phan Rang, có lời phê của Thiệu. Ba là, phiếu trình của Lý Bá Phẩm, đại tá tiểu khu trưởng tiểu khu Khánh Hòa gửi Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng. Chỉ như thế thôi, theo tôi nghĩ cũng đã đủ.
Thượng khẩn
CÔNG ĐIỆN MẬT
Nơi gởi: Tổng thống Việt Nam cộng hòa
Nơi nhận:
– Các tư lệnh quân khu
–Các tư lệnh quân binh chủng
– Tư lệnh biệt khu thủ đô
– Các tư lệnh sư đoàn
– Các tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng
– Tư lệnh cảnh sát quốc gia
Bản văn số. 013 - TT/CĐ/M.
Công điện này của tổng thống Việt Nam cộng hòa đặc biệt dành riêng cho cá nhân quý vị :
A- Đất nước hiện đang trải qua một cơn thử thách rất nghiêm trọng. Tình hình hiện tại rất dễ gây hoang mang trong quân đội và dân chúng. Tôi đã giải thích sơ lược tình hình chung trong ngày 20-03-75. Từ đây, tôi sẽ còn nhiều dịp nói chuyện với dân chúng về tình hình đất nước. Hôm nay tôi thấy cần lưu ý thêm quí vị về các sự kiện sau đây :
Thứ 1- Nhân danh tổng tư lệnh tối cao quân lực, tôi rất hãnh diện về tinh thần chiến đấu anh dũng của toàn thể chiến hữu các cấp trong thời gian qua.
Thứ 2 - Những việc làm của chính phủ và quân đội trong những ngày qua là do những quyết định can đảm được hội đồng an ninh quốc gia ban hành sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng. Để bảo toàn lực lượng ta, hầu đủ khả năng giữ vững những vùng đông dân cư và trù phú của đất nước. Tôi đã nhấn mạnh ngày 20-03-75 là tất cả những phần đất còn lại sẽ được bảo vệ đến cùng.
Thứ 3 - Mọi tin đồn và suy diễn bừa bãi trái với các sự kiện nêu trên đều nằm trong kế hoạch của cộng sản toan dùng chiến tranh cân não để phá hoại tinh thần chiến đấu của quân dân ta.
B - Trong giai đoạn này nhiệm vụ cứu quốc của quân đội có được chu toàn hay không là do nơi quí vị. Do đó tôi ân cần nhắc nhở quí vị lưu tâm thi hành các điểm sau đây :
Thứ 1 - Phải luôn luôn bình tĩnh trước mọi tình hình phải đối phó, có kế hoạch trong phạm vi trách nhiệm.
Thứ 2 - Phải luôn luôn đề cao cảnh giác. Sẵn sàng đừng để bị bất ngờ.
Thứ 3 - Lệnh chiến đấu và giữ đất bảo vệ dân phải cương quyết và phải được triệt để thi hành.
Thứ 4 - Phải duy trì kỷ luật tối đa. Những hành động hèn nhát trước mặt địch quân phải được trừng trị nhanh chóng và mạnh mẽ để làm gương.
Thứ 5 - Phải tích cực tiếp xúc với cấp dưới để tác động tinh thần hầu hun đúc ý chí bất khuất và lòng can đảm của chiến sĩ các cấp đúng với truyền thống quân đội.
Thứ 6 - Phải giữ vững tinh thần của anh em binh sĩ, để binh sĩ đừng nản lòng trước nghịch cảnh và khó khăn.
Thứ 7 - Phải bảo vệ tối đa quân dụng và chiến cụ. Toàn dân đang đặt hết tin tưởng vào quí vị và chiến hữu các cấp.
Sài Gòn ngày 21-3-1975
Tổng thống đã ký
Chánh văn phòng
Võ Văn Cầm
⚝ ⚝ ⚝
Hỏa tốc
CÔNG ĐIỆN
Nơi gởi : Tổng thống Việt Nam cộng hòa
Nơi nhận : Quí vị tư lệnh quân khu I, II, III và IV, tư lệnh biệt khu thủ đô
Bản văn Số 015TT/CĐ.
Dành riêng cho các tư lệnh quân đoàn và quân khu I, II, III, IV và tư lệnh biệt khu thủ đô.
Tiếp theo công điện số 013-TT/CĐ ngày 21-3-75, sau đây là nghiêm lệnh của tôi.
Thứ nhất: Tất cả những tỉnh, những phần đất hiện còn đến ngày hôm nay, 25 tháng 3 năm 75, phải được tử thủ bảo vệ đến cùng.
Tại mọi nơi phải nỗ lực tiêu diệt tối đa địch, chặn đứng đà tiến quân của địch, củng cố phòng thủ, sử dụng mọi sáng kiến và phương tiện để phản công.
Thứ hai: Các vị tư lệnh quân đoàn và quân khu chịu trách nhiệm chỉ thị hướng dẫn và kiểm soát mọi cấp chỉ huy đơn vị và chỉ huy lãnh thổ thuộc quyền chấp hành tuyệt đối nghiêm lệnh này.
Sài Gòn ngày 25-3-1975
Tổng thống đã ký
Chánh văn phòng
Võ Văn Cầm.
⚝ ⚝ ⚝
Diễn tiến những biến cố quan trọng trên chiến trường quân khu II từ ngày 10-3-75 đến ngày 02-4-75.
Tóm lượt đệ trình của Phạm Văn Phú tư lệnh quân đoàn II và quân khu II(kèm theo lời phê của Nguyễn Văn Thiệu).
Ngày 09-3-75 được tin lực lượng cộng quân gia tăng tại Ban Mê Thuật và Quảng Đức, tôi đã tới thanh sát tại chỗ và đã chỉ thị :
– Đại tá tư lệnh phó sư đoàn 23 bộ binh làm tư lệnh chiến trường. [7*]
– Kiểm soát hệ thống phòng thủ thị xã.
– Phân phối và phân tán kho xăng, kho đạn.
Đêm 09 rạng 10-3-75 quân số địch gấp 5, 6 lần quân ta, có chiến xa, đại pháo tấn chiếm Ban Mê Thuột. Lực lượng phòng thủ đã đẩy lùi nhiều đợt tấn công, tiêu diệt nhiều chiến xa, đặc biệt tại phi trường Phụng Dực. Ngày 11-3-75, lúc 08 giờ không quân ném hai trái bom làm sập trung tâm hành quân sư đoàn 23 bộ binh và bộ chỉ huy tiểu khu Darlac. Bị mất liên lạc với tư lệnh chiến trường và tiểu khu nên tình thế rất nguy ngập.
Ngày 12 và 13-3-75, theo lệnh của tổng thống và đại tướng tổng tham mưu trưởng đã cho tăng viện để giải tỏa Ban Mê Thuột gồm trung đoàn 44. trung đoàn 45 do tư lệnh sư đoàn 23 chỉ huy. Các đơn vị vẫn tiếp tục đánh gồm : trung đoàn 53, liên đoàn 21 biệt động quân, quận Buôn Hồ và Phước An. Tôi đã bay ra lệnh và khích lệ.
Áp lực địch quá mạnh đẩy lui dần ta ra khỏi thị xã, phía quốc lộ 21.
Trước tết âm lịch biết tình hình Ban Mê Thuột nặng đã dự trù đưa sư 23 về, lý do không thi hành để khi bị tấn công tăng viện không kịp?
Ngày 14-3-75, hồi 11 giờ tôi được thuyết trình tình hình quân đoàn II với tổng thống, tham dự có đại tướng, trung tướng Quang và đại tá Đức.
Lực lượng địch:
Đã biết được sư đoàn 320, sư đoàn 10 và các đơn vị địa phương. Mới phát giác sư đoàn 316, hai trung đoàn đặc công và một trung đoàn pháo.
Tình hình các mặt trận:
Kontum: Địch cố đẩy trung đoàn 45, liên đoàn 21 biệt động quân về hướng Thanh An. Nhờ một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 tăng viện nên sư đoàn 968 của địch không chọc thủng được phòng tuyến.
Trung đoàn 28(công binh) tiếp tục tấn công liên đoàn 23/bđq tại Kontum, quân số phòng thủ có thể chặn được địch tại thị xã.
Pleiku: địch hoạt động mạnh tại phía đông và tây. Phi trường Cù Hanh bị pháo kích liên tục ba, bốn ngày. Không có lực lượng tăng viện, cố gắng cho phi trường hoạt động để tiếp tế nhiên liệu, và đạn dược hàng ngày.
– Phía đông quốc lộ 19, trung đoàn 95 của cộng sản đánh liên đoàn 4/bđq(quân số giảm 50 phần trăm) và thiết đoàn 3 kỳ binh(bị cháy 12 trên 13 chiếc).
Bình Định: Các trung đoàn 141, 2, 12 nỗ lực từ phía đông để chiếm phi trường Phù Cát. Tin tưởng sư đoàn 22 có thể giữ vững được.
Trình bày xong tổng thống cho biết không có quân tăng viện và hỏi : “Đứng trước sự việc như vậy anh nghĩ sao?”. Tôi nói xin giữ Ban Mê Thuột bằng mọi giá, nên đã tăng viện hai trung đoàn 44 và 45(sư 23) cho Ban Mê Thuột. Được bộ tổng tham mưu tăng phái trực thăng của quân đoàn I đến chuyển quân nhưng phải mất ba ngày mới chuyển được một trung đoàn(1.500 quân), trực thăng bị hư hại nhiều nên đến ngày thứ tư mức chuyển quân sút kém phải mang hai liên đoàn biệt động quân ở Kontum về tăng cường cho mặt trận phía đông và tây, chuẩn bị chiến đấu đến cùng.
Sau đó tổng thống chỉ thị : quân viện bị cúp, thiếu đạn và tiền, địch đánh mạnh hơn năm 1968 và 1972. Kontum, Pleiku người ít, kinh tế không có, rút quân về cứu Ban Mê Thuột và giữ vùng duyên hải.
Lộ trình rút được chấp thuận là liên tỉnh lộ 7.
– Cuộc rút được thiết kế ngày 14-3-75 của các giới chức : thiếu tướng Phủ, chuẩn tướng Cẩm [8*] (phụ tá hành quân), chuẩn tướng Sang(sư đoàn 6 không quân), chuẩn tướng Tất(tư lệnh mặt trận Kontum, Pleiku) và tham mưu trưởng quân đoàn. Tất cả đều long trọng bảo mật. Ngày 15 và 16 tháng 3 diễn biến tốt. Ngày 17-3 [9*] Bộ tư lệnh nhẹ quân đoàn di chuyển từ thị xã Pleiku về phi trường hỗn loạn, kế hoạch đã bị tiết lộ một phạm vi do gia đình của một số sĩ quan cấp nhỏ.
Pleiku về Phú Bổn tốt đẹp.
Ngày 18-3 sư đoàn 320(cộng sản) đánh cắt ngay vì lý do :
– Báo cáo cuộc chuyển quân bị tiết lộ.
– Lính Thượng nổi loạn.
– Khoảng gần 100 cây số đường rừng trên liên tỉnh lộ 7 nhiều cầu cống bị hư.
– Cộng quân đóng chốt.
Ngày 25-3-75 đoàn xe về đến Phú Yên, lực lượng bị thiệt hại nặng(quân số, chiến cụ).
Bình Định, Khánh Dương nguy ngập. Đến 24 giờ chỉ liên lạc được với tỉnh trưởng Bình Định, mất liên lạc với các trung đoàn 41, 42, và 47(sư 22).
Biết liên tỉnh lộ 7 cầu cống hư, nhất là phà Củng Sơn(qua sông Ba Lài) không ước tính cho công binh chuẩn bị đem theo phương tiện làm cầu hoặc một lực lượng khác từ Tuy Hòa lên làm, để đoàn xe đến Củng Sơn chiều ngày 19 bị kẹt, bốn ngày sau mới qua sông được(vì phải cho phương tiện làm cầu từ Cam Ranh lên)?
Việc rút lui khỏi cao nguyên có được thiết kế một cách chủ đắc không? Có lực lượng đón tiếp và an ninh nào từ Tuy Hòa lên không?
Ngày 01-4-75, lúc 07 giờ chuẩn tướng Cẩm báo cáo Phú Yên bị tấn kích nguy ngập. Lúc 8 giờ 15 phút, tôi bay chỉ huy Phú Yên, Bình Định. Mất liên lạc với bộ tư lệnh nhẹ quân đoàn và chuẩn tướng Cẩm. Tỉnh trưởng Phú Yên bị thương. Lúc 9 giờ 30 phút, chỉ liên lạc được với phó đề đốc Minh, tư lệnh hải quân quân khu II vừa được trung ương chỉ định làm tư lệnh chiến trường Bình Định. Phó đề đốc Minh báo cáo địch tràn ngập thị xã, dầu tăng viện vài trăm quân cũng vô ích.
Sáng 01- 4, tướng tư lệnh quân đoàn bay liên lạc với Phú Yên, Bình Định và sư 22 hay trưởng phòng 3 quân đoàn?
Lúc 10 giờ 30 phút về Nha Trang được tin tuyến dù đã vỡ tôi liền triệu tập tư lệnh sư đoàn 2 không quân, chuẩn tướng Tất, phó đề đốc Châu và tham mưu trưởng quân đoàn II tìm biện pháp đối phó và cho các chỉ thị bảo vệ thị xã. Lúc 11 giờ 45 phút phi cơ phát hiện Dục Mỹ và Ninh Hòa bị địch tràn ngập.
Khi biết lữ đoàn 3 dù bị đánh bật khỏi phía bắc Dục Mỹ, tư lệnh có liên lạc ra lệnh cho biệt khu Dục Mỹ tổ chức chiến đấu không?
Quân nhân thuộc trung tâm huấn luyện Lam Sơn, biệt động quân, trường hạ sĩ quan cũng bỏ chạy. Hai nghìn quân phạm thoát ra cướp súng, bắn pháo(xin hỏi đại tá Đàm, cảnh sát quốc gia).
Khi các thị xã nhất là Nha Trang bị rối loạn, quân đoàn có ra lệnh giới nghiêm 24 giờ trên 24 giờ để vãn hồi trật tự không?
Lúc 12 giờ 30 phút trung tướng Thuần đến gặp tôi. Quân nhân phòng thủ bộ tư lệnh và tham mưu bỏ chạy hết, chỉ còn khoảng 20 người, thuộc toán hộ tống(xin hỏi trung tướng Thuần).
Trưa 1-4, các trưởng phòng vẫn ở bộ tư lệnh và khi tư lệnh ra đi có ra lệnh gì cho những người này không?
Lúc 12 giờ 55 phút tôi ra lệnh chuẩn tướng Lượng(sư đoàn 2 - không quân) đóng cửa phi trường vì hỗn loạn, dùng biện pháp mạnh giải tỏa và giúp đỡ bộ tư lệnh thu hẹp của quân đoàn. Liền bay chỉ huy, ra lệnh trung đoàn 40 và lực lượng dù bảo vệ thị xã. Tư lệnh sư đoàn 2 không quân có thái độ vô lễ.
Lúc 13 giờ 10, tôi cùng trung tướng Thuần bay chỉ huy nhưng không liên lạc được với các cánh quân, ngoại trừ lữ đoàn 3 nhảy dù, ra lệnh cho đơn vị này bảo vệ bộ tư lệnh quân đoàn.
Lý do bay đi chỉ huy và liên lạc lại có kèm tỉnh trưởng Pleiku và tướng Thuần? Tại sao khi rút lại không bảo nơi sẽ đặt bộ tư lệnh cho các đơn vị khi cần?
Lúc 13 giờ 55 phút, tôi đến Phan Rang lấy phi cơ C.47 cùng trung tướng Thuần bay chỉ huy, nhưng mất ba tiếng đồng hồ cũng không liên lạc được với quân bộ.
Lý do về sự có mặt của tướng Thuần tại BTL/QĐ? Có phải ông ta liên lạc với tư lệnh quân đoàn để xin cho di tản không? Tướng Phú có biết giờ phút nghiêm trọng cần sự hiện diện của cấp chỉ huy tại đơn vị không? Và tại sao lại cho trung tướng Thuần đi Phan Rang bỏ mặc các cấp trường hạ sĩ quan tự lo liệu là gây tan rã cho đơn vị không?
Từ 17 giờ 30 phút đến 20 giờ tôi gặp hai chuẩn tướng Oánh và Lượng tại bộ tư lệnh sư đoàn 2 không quân. Chuẩn tướng Oánh vừa được bổ nhiệm tư lệnh chiến trường Nha Trang. Hai vị tướng này đều có thái độ hỗn xược. Tham khảo ý kiến tướng Oánh và tướng Lượng về khả năng, lực lượng. Hai tướng này đều nói cần một sư đoàn tăng viện mới giữ được Nha Trang. Tướng Lượng dằn giọng : “Tôi cứ tiếp tục di chuyển”. Còn tướng Oánh nói : "Di chuyển về Phan Rang vẫn là đất của mình". Rời căn cứ không quân Nha Trang, tôi bảo tướng Oánh có toàn quyền hành động trong cương vị tư lệnh chiến trường.
Khi di chuyển vào phi trường nói là để lập sở chỉ huy nhẹ có phải tư lệnh đã tránh không cho các sĩ quan tham mưu theo vô không? Có phải sau khi liên lạc với Sài Gòn, tướng Phú đã ra lệnh cho sư 2 không quân di tản và sẽ chịu trách nhiệm nếu thượng cấp hỏi tới không?
Ngày 1-4-75, Tuyên Đức mất liên lạc. Thiếu tướng Lâm Quang Thơ chỉ huy quân di tản đến Phan Rang. Bộ chỉ huy 5 tiếp vận được lệnh Sài Gòn phá hủy các cơ cấu và cùng bộ tư lệnh hải quân quân khu n di chuyển đêm 1-4-75.
Ngày 2-4-75 tôi cùng tư lệnh sư đoàn 6 không quân và tỉnh trưởng Phan Rang thảo kế hoạch phòng thủ Phan Rang. Hồi 5 giờ sáng tỉnh Phan Rang trình tỉnh bị hỗn loạn vì tình đánh cướp kho bạc. Bay đến Cam Ranh thấy vắng người, không có liên lạc. Tôi ra lệnh cho tư lệnh sư đoàn 23 tập trung quân số còn lại điều động đến Phan Rang.
Lúc 14 giờ 00, thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu, tư lệnh phó quân đoàn III đến Phan Thiết cho biết phần đất còn lại của quân khu II được lệnh sáp nhập quân khu III. Tướng Hiếu, tướng Thơ và các sĩ quan tham mưu cùng khuyên tôi về trình diện trung ương.
Tôi xin trinh bày là ở cương vị tư lệnh quân đoàn II đã làm tất cả cố gắng nhưng bị thất bại vì :
– Việc rút cao nguyên gặp hỏa lực mạnh của địch, gây thiệt hại cho quân dân nên bị hỗn loạn...
– Lực lượng địch quá đông. Ta không có lực lượng tổng trừ bị, quân số phải phân tán nhiều mặt trận.
– Dân chiến nạn từ quân khu I đến tạo nên sự hỗn loạn, làm sai kế hoạch của quân khu. Đã trình phó thủ tướng Đán [10*] nhưng không được giải quyết.
– Trung ương chỉ định trực tiếp các chức quyền địa phương làm quân khu bị tê liệt.
– Quân trú phòng Nha Trang mất tinh thần khi lữ đoàn 3 nhảy dù bị chọc thủng phòng tuyến.
– Dân chúng hoang mang vì các lời đồn đại và các cơ sở Hoa Kỳ di chuyển.
Tôi xin đại tướng tổng tham mưu trưởng thẩm định.
Ngày 7 tháng 4 năm 1975
Tôi vào Sài Gòn đã được một tuần, một hôm cô cháu họ chợt nói với tôi : "Tướng Phú tự sát rồi cậu ạ". Tôi hỏi lại : "Tướng Phú là ai?". "Một nhân vật đang lên như diều, vừa rồi là tướng tư lệnh vùng 2". Tôi vẫn hỏi hừng hờ : "Tự sát bằng súng hay thuốc độc?". “Uống chloroquine, thuốc trị sốt rét của Mỹ”. Tôi không nói gì thêm nữa. Cô cháu tôi vẫn liến thoắng : "Y như là có mệnh giời hay sao ấy. Bắt đầu như thế, kết thúc như thế, thật xứng quá. Cứ nghĩ giời không có mắt, hóa ra vẫn có". Rồi cô ta nói tiếp : "Ông ta thích chơi súng lắm, sưu tập được một bộ súng rất có giá, cổ kim đông tây đủ cả. Nhà của ông ấy toàn treo có súng. Tướng vùng mà thích chơi súng thì đẹp quá. Ai ngờ lúc tự tử lại uống chloroquine, ngắc ngoải đến hai ngày mới chết. Súng đạn có sẵn trong tay mà không dám tự sát bằng súng cho trọn vẹn, lại dùng thuốc tự tử của đàn bà". Rồi tôi cũng quên đi. Đến lúc lấy tài liệu về các trận đánh của bộ đội ta trong tháng Ba ở Tây Nguyên và vùng duyên hải miền Trung, rồi lại được xem một đống giấy má, sổ sách thu được ở Bộ tổng tham mưu quân đội nguy, thấy tên Phạm Văn Phú cũng hay được nhắc, nên mới bắt đầu chú ý. Trong số những bạn bè mới quen biết lại có người vốn thân thuộc với gia đình Phú từ lâu nên cũng góp nhặt được một vài chuyện có liên quan tới sự tìm hiểu trạng thái tâm lý và tinh thần của một đội quân tiêu xài rất tốn kém, nhưng chí khí chiến đấu lại không có là bao.
Phạm Văn Phú xuất thân là đại úy nhảy dù của đội quân xâm lược Pháp, đã từng bị bộ đội ta bắt sống ở Điện Biên Phủ rồi lại được tha về. Cuối năm 1954, Pháp rút quân đội và cơ quan cai trị vào trong Nam thì Phú sống ở Đà Lạt, chờ đợi được trở lại quân ngũ. Trong thời gian này, Phú lấy vợ. Vợ tên là Lâm Đệ, gọi trung tá Lựu, nguyên là tư lệnh phó sư đoàn ngự lâm quân thời Bảo Đại là dượng. Còn bố đẻ là người Hoa ở Chợ Lớn. Chị vợ chẳng những là người có nhan sắc mà còn biết cách đưa chồng tới cảnh phú quý, giàu sang. Đại uý quân nhảy dù của Pháp, học vấn không có gì, thân hình lại thấp bé, sau này đã lên tới cấp tướng vẫn không trút bỏ được cái lốt ngang ngáo của một thằng lính dù, thế nào lại vớ được một cô vợ tài mạo song toàn phải kể là trúng số độc đắc. Năm 1961, Phú là thiếu tá liên đoàn trưởng liên đoàn 77. Sau được Mỹ trực tiếp huấn luyện và chỉ huy thì đổi là lực lượng đặc biệt. Tức là cái lực lượng thám báo, biệt kích, mặc áo lính có ít, mặc áo dân thì nhiều, tai mắt không chỉ của quân đội mà còn của cả một phe đảng. Khi liên đoàn 77 trở thành lực lượng đặc biệt thì do anh em đại tá Lê Quang Tung và Lê Quang Triệu chỉ huy. Năm 1963, anh em Ngô Đình Diệm bị phái quân nhân giết chết, thì anh em nhà này cũng bị thủ tiêu luôn. Trong cuộc thanh trừng giữa các phe cánh mà họ thường gọi là "cách mạng 63", Phú chẳng những thoát hiểm mà còn được thăng cấp chức, là trung tá tham mưu trưởng thay Triệu, còn Đoàn Văn Quảng, đại tá, là chỉ huy trưởng. Gặp Quảng, Phú trở thành đối thủ của nhau bắt đầu từ cái năm ấy, rồi đánh đuổi nhau cho mãi những năm về sau này. Tôi chưa tìm hiểu được vì lẽ gì họ lại căm ghét, thù hằn nhau, chỉ biết được ít lâu thì Quảng đuổi Phú ra vùng chiến thuật I. Thế là ngôi sao Lâm Đệ lập tức chiếu sáng. Chẳng hiểu cô ta đã tới cửa nào, đã ăn nói làm sao, đã phải chịu những thể thức gì, trung tá Phú liền được thăng cấp đại tá nắm quyền chỉ huy sư đoàn 2 dưới quyền trung tướng Lãm. Một thời gian sau đại tá Quảng thế yếu lực mảnh bị nhổ đi, chuẩn tướng Lam Sơn về thay. Được nửa năm Lam Sơn lại đi và chuẩn tướng Phạm Văn Phú về làm tư lệnh Lực lượng đặc biệt. Khi ra đi là anh trung tá uất ức, căm hận, nay trở lại là ngài chuẩn tướng đang được Sài Gòn yêu dấu. Mà con người ấy thì chẳng thể có tài cán gì, bất quá là biết ăn nói ngổ ngáo như một tên lính dù, ăn nói thôi, còn đánh đấm lại chẳng ra sao. Nhờ vợ cả. Nhờ ở sự khéo léo của phu nhân cả. Lúc này Lâm Đệ đã được gọi bà Thiệu, bà Khiêm là các chị. Chuẩn tướng Phú trở về cái nơi đã dám khinh rẻ mình, thi ân thi oán được ít lâu lại ra trung tâm huấn luyện Quang Trung thay Quảng làm chỉ huy trưởng, còn Quảng một lần nữa lại bị đầy đi nơi khác. Phú không dính líu gì đến vụ này, chỉ là người được chứng kiến sự đầu hàng của kẻ thù bấy lâu hắn vẫn căm tức. Người đã đánh đòn quyết định lại là mụ nhà thầu câu lạc bộ của trường huấn luyện. Vì Quảng thấy mụ ta ăn bẫm quá mà không thèm có lời thưa lại với ngài chỉ huy trưởng của trung tâm nên lấy làm tức, cho tay chân gây khó dễ. Nhưng đến là dại dột! Vì bà nhà thầu nọ dẫu mua cơm thừa canh cặn của nhà trường với giá thật rẻ là để đưa sang hai trại nuôi heo của hai vị phu nhân, có quyền thế nhất của Việt Nam cộng hòa. Một là tổng thống phu nhân, hai là thủ tướng phu nhân. Vậy cho nên ngài chỉ huy trưởng lập tức bị biếm chức còn kẻ đối đầu từ bấy lâu lại lù lù dẫn xác tới nhận quyền. Vì lẽ gì tướng Quảng bị đuổi đi thì ta đã rõ, còn tướng Phú được về thay thế là hoàn toàn nhờ ở sự mẫn tiệp của vợ biết lựa lúc giới thiệu với hai chị về người chồng rất mực trung thành của mình. Cứ khoanh lại cái khu vực câu lạc bộ đã là lãnh địa riêng của bà nhà thầu thì ông chỉ huy trưởng vẫn còn nhiều khoản kiếm chác khác hết sức ngon lành. Ví như ăn tiền hoãn dịch và miễn dịch cùng với các bác sĩ giám định y khoa của trung tâm. Vì là nhà trường huấn luyện tân binh nên còn là nơi trình diện lứa tuổi nhập ngũ của vùng III, một vùng dân đông và cũng giàu. Hoãn dịch sáu tháng hoặc một năm, hoặc hoãn dịch vô thời hạn vì lý do sức khỏe dẫu đã có giá từ một trăm ngàn, ba trăm ngàn đến nửa triệu, có trường hợp lên tới một, hai triệu là tùy theo cái giá máu mà người có máu muốn trả. Học tại trường xong, nhưng không phải đi bổ sung cho các sư đoàn bộ binh, vẫn được ở lại trường hoặc làm những công việc phục dịch lại cũng là một giá nữa. Dẫu sao cái chỗ ngồi ở một trung tâm huấn luyện không thể lừng lẫy bằng chỗ ngồi ở một quân khu. Làm ông chủ một vùng gồm hàng chục tỉnh vừa có tiền lại vừa có danh mà đường thăng tiến lại hết sức mau mắn, dễ dàng. Tư lệnh một vùng đã là chức vụ của một trung tướng, là bậc thang đầu để trèo lên những ngạch bậc chót vót trong quân đội và trong chính phủ. Giả dụ có phải về vườn cũng kiếm được cái ghế thượng nghị sĩ, đại sứ, lãnh tụ của một phe đảng. Tức là sẽ trở nên một người có mặt, có tên, chỗ đứng đã vững mà cái cơ hội để trở thành tỷ phú, tậu đồn điền ở nước ngoài, cho các con đi du học cũng chẳng lấy gì làm khó. Phú tuy ngồi ở trưng tâm huấn luyện nhưng vợ Phú vẫn dòm ngó những chỗ trống của bốn quân khu để lựa lúc thưa với hai chị, cho ông chồng được nhào tới thay thế. Quân khu I có trung tướng Ngô Quang Trưởng, một người bị Thiệu ghét, ghét trong bụng chứ không dám ra mặt, nhưng người Mỹ lại rất yêu, thế Vững như núi, tất nhiên không thể hy vọng gì được. Vùng 1 tiếng rằng vất vả nhưng cũng là miếng ngon, vì có cảng Đà Nẵng, chuyển hàng đến đưa hàng đi hết sức thuận lợi cho việc tìm ra đồng tiền. Lại có Tỉnh Quảng Nam nổi tiếng về quế, quế Quảng. Thời tướng Hoàng Xuân Lãm còn làm tư lệnh vùng 1 thì Nguyễn Văn Toàn gần như được coi là phụ tá kinh tài của Lãm, là “ông vua quế'” chỉ trong có mấy năm trong tay đã có bạc tỷ. Toàn bị phe cánh tố là tham nhũng, nhưng bản cáo trạng vừa công bố thì lại được lên cấp thiếu tướng, quyền tư lệnh quân khu II. Đều là nhờ ở sức mạnh của đồng tiền buôn quế Quảng mà có cả. Năm 1973, Toàn bị gọi về bộ tổng tham mưu để nắm lực lượng thiết giáp của quân lực. Nói thế cho sang chứ sự thật là không có công việc gì, là một cách bị thất sủng. Nhưng chỉ ít lâu sau trung tướng Nguyễn Văn Toàn lại được tổng thống bổ nhiệm làm tư lệnh quân khu III. Chắc là vẫn nhờ vào đồng tiền. Khi Toàn bị gọi về bộ tổng tham mưu, tức là đã có một cơ hội rất hiếm hoi để vợ Phú thưa với các bà chị đưa chồng mình ra nhận chức tư lệnh quân khu. Bữa tiệc của thiếu tướng tư lệnh quân khu chiêu đãi các ngài tỉnh trưởng và các hàng chức sắc trong tỉnh là hết sức quan trọng. Những lời tán tụng lẫn nhau trên bàn tiệc tất nhiên chỉ là cái vỏ ngoài. Còn yêu ai hay ghét ai là ở cái lõi cái ruột bên trong. Tức là những quà biếu của các vị khách được mời đưa tới làm lễ ra mắt. Chẳng hạn một cái bình cắm bút nặng vài kí, chẳng lấy gì làm đẹp, nhưng lại được đúc bàng vàng, vàng y; là những chiếc bánh xem ra chẳng lấy gì làm ngon, có điều nhân bánh thay vì đổ thịt là những hạt xoàn; là những hộp bích qui hết sức giản dị, nhưng bên trong xếp toàn vàng lá. Đại loại mỗi vị tỉnh trưởng trong dịp lễ ra mắt này phải tiêu đi ít ra cũng là năm triệu, nói tắt là năm tê. Đại loại là thế. Phú nhận chức giữa năm 1973, qua được một năm 1974, đến mùa Xuân năm 1975 thì đã tự kết thúc số phận như ta đã rõ.
⚝ ⚝ ⚝
Giả thử tôi có được cái may mắn chứng kiến những gì đã xảy ra trong mấy chục ngày sau cùng của một xã hội được tổ chức gần giống như một bang của nước Mỹ, đương nhiên sẽ không phải dùng đến bản báo cáo này. Còn như cũng chỉ được nghe kể lại thì thà giới thiệu với bạn đọc một người trong cuộc kể lại sự tình vẫn là hay hơn. Vả chăng họ lại kể lể với cấp trên của họ, sợ hãi có, căm uất có mỉa mai có, nên lời chứng càng có giá trị. Lấy bản báo cáo này để kết thúc cái phần này tôi nghĩ là hợp lý.
Ngày 1-4 của tiểu khu trưởng tiểu khu Khánh Hòa.
Phiếu trình của Lý Bá Phẩm, đại tá tiểu khu trưởng.
Trân trọng kính trình đại tướng,
Tôi xin lược trình diễn tiến đưa đến việc mất tiểu khu Khánh Hòa và thị xã Nha Trang.
Sáng sớm ngày 31-3-75, sau khi lữ đoàn nhảy dù bị tấn công ở cầu 24(cách trung tâm huấn luyện Lam Sơn 3 km) các diễn tiến kế tiếp xảy ra như sau :
Ngày 01-4-75:
–Trung tâm huấn luyện Lam Sơn, biệt động quân và pháo binh chạy về phía Nha Trang mờ sáng.
– 10 giờ có nhiều quân nhân và biệt động quân kéo về bến xe Nha Trang bắn hỗn loạn, cướp xe và tràn về hướng Cam Ranh.
– Chỉ huy trưởng cảnh sát quốc gia tỉnh báo cáo nhân viên bỏ đi hết lúc 9 giờ 30 không ai tuần tiễu.
Vì hàng không Việt Nam dọn di, nhân viên tòa hành chánh phải lo phát vé và lãnh gạo phát cho trại tạm cư nhưng đã bỏ hết lúc 11 giờ.
– Lúc 10 giờ được báo tù nhân trại trung tâm cải huấn(1091 người) phá khám, lính gác có bắn chết một số(khám có tăng cường một trung đội biệt động quân ngày hôm trước để giữ).
– 10 giờ 30, quận trưởng Ninh Hòa báo cáo từ sáng sớm trung tâm huấn luyện biệt động quân ở Dục Mỹ cùng lính dù kéo qua khỏi quận, có cả pháo binh và thiết quân vận, và xin chỉ thị. Tôi trả lời là phải ở tại chỗ. Tình hình thị xã lúc bấy giờ tuy hỗn loạn, nhưng bộ chỉ huy tiểu khu vẫn làm việc.
– 12 giờ 30 phút, được báo cáo của đại úy đại đội trưởng phòng vệ bộ tư lệnh quân đoàn II: anh em binh sĩ ở bộ tư lệnh quân đoàn được các sĩ quan cho về nhà lo di chuyển vợ con, vì còn hai giờ nữa địch sẽ đến Nha Trang và bộ tư lệnh đã dời đi hết.
– Nửa giờ sau tôi lái xe đến bộ tư lệnh thì nơi đây đã di chuyển nhưng không biết đi đâu.
– 13 giờ 30 phút, đại tá Dực(tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh) điện thoại từ Diên Khánh nói không liên lạc được với bộ tư lệnh quân đoàn. Tôi trả lời quân đoàn đã bọn đi, đại tá Dực nói : nếu thế tôi cũng rút.
– 13 giờ 45 phút, điện thoại tới trung tướng Thuần, chỉ huy trưởng trường hạ sĩ quan, nhưng không ai trả lời(trường hạ sĩ quan phụ trách phòng thủ mặt bắc Nha Trang).
– 14 giờ họp sĩ quan tham mưu của tiểu khu đặt kế hoạch hành động. Lúc bấy giờ chỉ còn lại sĩ quan trưởng phòng. Mặc dù tiểu khu trưởng có trách nhiệm chiến đấu trong tiểu khu, nhưng sau khi bàn luận tôi nhận thấy:
1. Quân đoàn rút không nhận được chỉ thị về kế hoạch phối hợp đơn vị bạn, vị trí của quân đoàn.
2. Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh ở Diên Khánh, 2 tiểu đoàn chủ lực quân phía bắc Nha Trang đã rút lui.
3. Các trung tâm huấn luyện Lam Sơn, biệt động quân, pháo binh có nhiều quân nhân và đại bác không lập vị trí chặn địch trên đường tiến vào thị xã.
4. Tôi biết chắc chắn bộ tư lệnh sư đoàn 2 không quân đang xin cầu không vận để di tản.
Các sự kiện trên đưa chúng tôi đến kết luận bộ tư lệnh quân đoàn II đã bỏ khu vực Khánh Hòa, Nha Trang.
Về lực lượng tiểu khu, hầu hết các tiểu đoàn đã bị sứt mẻ, lại được phối trí ở các đồi và chân núi xa xôi(vùng núi Đồng Bò) để chống pháo kích và ngăn chặn địch xâm nhập, bảo vệ quốc lộ, quận ly, xã ấp nhằm kịp thời báo động để quân đoàn phản ứng khi có địch. Tiểu khu còn một tiểu đoàn thiếu ở phía tây thị xã nhưng không thấy lên máy liên lạc.
Vì hoàn cảnh như trên, tôi cảm thấy cuộc chiến đấu tại tiểu khu trở nên vô vọng, cho nên lúc 14 g 30 tôi ra lệnh cho các sĩ quan hiện diện truyền lệnh đến các đơn vị còn liên lạc được rút về Cam Ranh và Phan Rang đợi lệnh.
Tôi đích thân ra lệnh quận trưởng Diên Khánh, Vĩnh Xương cùng tập hợp về khu vực này. Quận trưởng Ninh Hòa thì đã có mặt tại thị xã.
Sau khi anh em rời khỏi, tôi vào phi trường tìm hiểu tình hình của bộ tư lệnh quân đoàn.
Theo lệnh chuẩn tướng Lượng, khó khăn lắm mới vào được phi trường. Quang cảnh trong phi trường hết sức hỗn loạn. Tất cả mọi người đều quyết chen lấn nhau giành di tản, vũ khí chất thành đống, nhân viên giữ trật tự bị tràn ngập, tiếng súng nhỏ nổ bừa bãi. Tôi và đại tá Lý, tham mưu trưởng quân đoàn, đến chỗ chuẩn tướng Lượng để xin chỗ trên trực thăng vận tải chinook, nhưng chỉ gặp có đại tá Phúc, tham mưu trưởng sư 2 không quân. Một lúc sau, chuẩn tướng Lượng đến, đại tá Phúc trình : “Lệnh Sài Gòn phải tử thủ khu vực Nha Trang, sẽ có lực lượng hùng hậu đến giải vây”. Chuẩn tướng Lượng trả lời : "Đ.m. tử thủ cái gì? Lính đi hết rồi, bỏ tù tôi chịu, không thi hành được!".
– 19 giờ 45 phút, trực thăng của tư lệnh quân đoàn II đáp xuống phòng làm việc của tư lệnh sư đoàn 2. Thiếu tướng tư lệnh nói như phân trần là tình hình đã như vậy, các anh bảo tôi làm gì được bây giờ. Có điện thoại kêu tại phòng hành quân. Nghe nói thiếu tướng tư lệnh điện thoại về bộ tổng tham mưu và tổng thống, không rõ nội dung điện đàm. Lúc trở lại, thiếu tướng tư lệnh nói: “Tôi cho phép các anh di tản, sau này nếu tổng thống có hỏi tôi sẽ là người chịu trách nhiệm và trả lời trước tổng thống”. Chuẩn tướng Lượng đáp: “Cảm ơn thiếu tướng tư lệnh”. Khi thiếu tướng tư lệnh ra đi, tôi hỏi chuẩn tướng Oánh: “Trước đây được lệnh chiến đấu dưới quyền chuẩn tướng, bây giờ có lệnh di tản của quân đoàn, chuẩn tưởng có cần tôi nữa không?”. Chuẩn tướng Oánh cảm ơn tôi và nói bây giờ không còn gì mà làm và tôi xin một chỗ trực thăng của chuẩn tướng Tất về đến phi trường Phan Rang vào lúc 22 giờ. Trước khi đi ngủ, thiếu tướng tư lệnh quân đoàn II chỉ thị tôi lập bộ tham mưu cho ông.
– Sáng 2-4-75, lúc 8 giờ tôi đến chỗ ngủ đêm của thiếu tướng tư lệnh thì thiếu tướng đã lên trực thăng vào Phan Thiết lúc 7 giờ 30.
Tôi xin đại tá Tự(tỉnh trưởng Ninh Thuận) cho một GMC để ra Cam Ranh đón quân nhân của Khánh Hòa. Đại tá Tự chở tôi trên xe Jeep vào thị xã, nhưng khi ra cổng phi trường bị ngăn chặn không cho ra. Đại tá Tự bảo: có vào thị xã không chắc đã có xe và xăng. Tôi trả lời đi như vậy cũng vô ích và đại tá Tự cũng nói là ở lại thì tốt hơn.
Trở lại phi trường Phan Rang, gặp đại tá Tiễu tại bộ tư lệnh sư 6 không quân. Cho đến tối vẫn không gặp tư lệnh quân đoàn cho nên khi phi cơ C.130 đáp xuống phi trường, tôi và đại tá Tiễu lên phi cơ về đến Sài Gòn lúc 21 giờ.
Sáng hôm sau trình diện bộ nội vụ, được ông tổng trưởng chỉ thị sẵn sàng trình diện thủ tướng chánh phủ.
Đến ngày 5-4-75, thủ tướng vẫn còn mắc họp nên tôi đã trình diện trung tướng tham mưu trưởng bộ tổng tham mưu lúc 11 giờ.
Kính thưa đại tướng,
Vì nhận thấy tình hình của BTL/QĐ II và các đơn vị chủ lực quân là như vậy, mặc dù là tiểu khu trưởng, lúc bấy giờ không có một lực lượng nào khả dĩ chiến đấu được trong tay, cho nên đã lấy quyết định như đã trình trên. Kính mong đại tướng rộng xét nếu thấy quyết định đó không hợp lý, hèn nhát tôi xin chịu tất cả mọi tội hình mà đại tướng chế tài. Nếu có phần nào hữu ý kính xin đại tướng rộng lượng cho tôi được nhờ.
Trân trọng kính trình