LA MÃ SỤP ĐỔ

Lượt đọc: 2266 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

Hãy nhìn xem con là người thế nào. Bởi vì tất yếu lửa sẽ đến.”

Nhưng núi cao che giấu biển khơi và vận toàn bộ khối đá trơ ì chống lại cả Marcel và những giấc mơ không biết mệt mỏi của ông. Từ sân trường cao đẳng tiểu học Sartène, ông chỉ thấy rõ mũi vịnh, vịnh lấn sâu vào đất liền khiến biển khơi giống như một cái hồ lớn, yên bình và khiêm nhường. Ông không cần đến biển để mơ ước, những ước mơ của Marcel không được nuôi dưỡng nhờ vãn cảnh hay ẩn dụ mà bằng chiến đấu, một cuộc chiến không mệt mỏi chống lại sự trơ ì của sự vật, sự vật nào cũng y hệt sự vật nào, như thể dưới sự đa dạng bề ngoài của hình thức, chúng đều được cấu tạo từ một chất nặng nề, kết dính và dễ dát, nước sông còn đục nữa là, và trên hai bờ hoang vắng, tiếng sóng vỗ bập bềnh phả ra mùi đầm lầy lộn mửa, phải đấu tranh để chính mình không trở nên trơ ì và dần dà bị cát lún nuốt chửng, còn Marcel vẫn tiếp tục chiến đấu không ngừng chống lại những sức mạnh dữ dội của chính cơ thể mình, chống lại con quỷ dữ đang riết ráo đè ông nằm bẹp trên giường, miệng đầy vết lở loét, lưỡi bị dịch chua ăn mòn, như thể một mũi khoan đã đào vào ngực và bụng ông một giếng thịt sống, ông chống lại nỗi tuyệt vọng bị đóng đinh mãi mãi trên một chiếc giường ướt mồ hôi và máu, chống lại thời gian đã mất, ông chiến đấu chống lại cái nhìn chán nản của mẹ, chống lại sự im lặng nhẫn nhục của bố, vừa chiến đấu vừa chờ dịp lấy lại sức lực cũng như lấy lại quyền được ở đó, trong sân trường cao đẳng tiểu học Sartène, quang cảnh bị núi bưng bít. Ông là người đầu tiên và cũng là người duy nhất trong số các anh chị em của mình tiếp tục học lên sau khi đã có bằng tốt nghiệp và cả những con quỷ ám cơ thể ông hay sự trơ ì của sự vật cũng sẽ không ngăn nổi ông học đến cao đẳng sư phạm và hơn thế nữa, ông không muốn làm nghề giáo, ông không muốn dạy những bài học vô bổ cho những đứa trẻ nghèo khổ và bẩn thỉu, ánh mắt sợ sệt của chúng sẽ đưa ông về với tuổi thơ hỗn loạn của mình, ông không muốn rời bỏ làng quê để chôn mình trong một làng khác cũng giống y chang một cách tuyệt vọng, như một khối u bám vào đấy một hòn đảo trên đó không có gì thay đổi, bởi vì, thực tế mà nói, không có gì thay đổi và mãi mãi không có gì thay đổi. Jean-Baptiste gửi tiền từ Đông Dương về, và ông đã mua cho bố mẹ một ngôi nhà đủ lớn để mọi thành viên trong gia đình có thể hội tụ vào mùa hè mà không phải chen chúc ngủ bên nhau như những con thú trong chuồng, Marcel có phòng riêng, nhưng da chết vẫn còn bám trên đôi môi khô của bố ông, còn trán mẹ ông vẫn bị cày xới bởi vết nhăn sâu và thẳng thớm của tang tóc, họ có vẻ không già hơn cũng không trẻ hơn so với mười lăm năm về trước, ngay sau ngày tận thế, và khi ngắm mình trong gương, Marcel có cảm giác mình đã được sinh ra như thế, luôn loạng choạng và gầy gò, cảm giác tuổi thơ đã đóng vào ông một cái dấu oan nghiệt mà không gì có thể giải thoát cho ông. Trên những bức ảnh mà Jean-Baptiste gửi về, y có thay đổi bởi y sống trong một phần của thế giới nơi mà thời gian còn để lại dấu vết rõ ràng trên đường đi của mình, y béo lên rất nhanh rồi cũng gầy đi không kém phần đột ngột, như thể cơ thể y luôn chao đảo trước chính dòng đời vừa mãnh liệt vừa hỗn loạn, y chụp ảnh trong tư thế đứng nghiêm, cùng những quân những ngựa xếp hàng thành một đường thẳng hoàn hảo, hoặc ăn mặc lôi thôi lếch thếch, mũ kê pi đội ngược, trước những cái cây lạ hoắc, cùng với những quân sĩ khác và những cô gái mặc quần áo lụa, mặt y bị biến dạng vì mỡ và vì sự sung túc, hoặc nhăn nheo vì mệt mỏi, trụy lạc, sốt nhưng trên gương mặt đó luôn bộc lộ thái độ giễu cợt và hả hê, y lấy điệu bộ của kẻ ma cô và chính vì thế mà Marcel không ngưỡng mộ y nữa, ông ghen tị với y đang công khai hưởng thụ một kho báu mà y không xứng đáng. Ông không thể chịu đựng nổi mọi thứ gì thấy được từ người anh của mình nữa, sở thích gái gú rõ rành, khổ vai bề thế, cơ thể gầy gò hay thừa mỡ, thái độ hỗn xược, kể cả sự hào hiệp của y, bởi vì toàn bộ số tiền đó không thể được tiết kiệm từ đồng lương chánh đội của y, mà chắc chắn là có được từ buôn lậu bất chính, buôn tiền, buôn thuốc phiện, buôn thịt người. Khi Jean-Baptiste về làng dự lễ cưới Jeanne-Marie, y cũng vạm vỡ y hệt như ngày y ra đi, nét thanh xuân vẫn còn soi sáng gương mặt của một người đã trưởng thành nơi kia, tại những vùng đất không tưởng, nơi mà bọt biển trong suốt lấp lánh dưới ánh mặt trời như một chùm kim cương, y về cùng vợ con, huy hiệu hình mỏ neo mạ vàng của quân đội thuộc địa được gắn lên ống tay áo và chiếc mũ kê pi, nhưng ảnh hưởng độc hại của nơi chôn nhau cắt rốn đưa y trở lại với con người cố hữu của y, một anh nông dân vô học và vụng về mà số phận đã đẩy vào một thế giới y không xứng đáng, những thùng rượu sâm banh y đã đặt mua cho lễ cưới của em gái hay dự định lố bịch là mở một khách sạn ở Sài Gòn sau khi giải ngũ cũng không thay đổi được điều gì. Tất cả bọn họ đều là những anh nông dân khốn khổ xuất thân từ một thế giới mà từ lâu đã không còn là một thế giới, một thế giới bám vào đế giày của họ như bùn lầy, cái chất nhớt nhát và dẻo quẹo, bọn họ cũng được tạo ra từ chất ấy, thứ chất mà họ luôn mang theo bên mình, tới Marseille cũng như tới Sài Gòn và Marcel biết chỉ có duy nhất mình mới có thể thực sự thoát ra. Bánh tẩm bột rán thì quá khô, được tẩm một lớp đường cứng, hơi ấm nhạt nhẽo của rượu sâm banh để lại trong họng cái vị của tro tàn và cánh đàn ông vã mồ hôi dưới nắng hè, nhưng Jeanne-Marie rạng rỡ một niềm vui e lệ và tấm khăn xa tanh cùng đăng ten trắng tinh làm nổi bật khuôn mặt trái xoan của chị đem lại cho chị vẻ duyên dáng của trinh nữ xứ Judée xưa. Chị khiêu vũ, choàng tay níu chặt vai chồng, người chồng mỉm cười, vẻ nghiêm trang như đã biết có lẽ mình sẽ không thể sống sót qua khỏi cuộc chiến tranh mới đang rình rập tất cả mọi người. Bởi phía bên kia núi cao và biển rộng, có một thế giới đang sục sôi, và ở nơi kia rất xa họ, không có họ, cuộc sống và tương lai của họ đang thêm một lần nữa lâm nguy như vẫn luôn lâm nguy như trước đó. Nhưng những đồn đoán về thế giới này mất hút ở xa khơi trước khi đến tai họ, còn những tin đồn đến được tai Marcel có vẻ xa vời và mơ hồ đến nỗi ông chẳng thèm để ý, ông còn nhún vai khinh thường khi, trong sân trường cao đẳng tiểu học Sartène, cậu bạn Sébastien Colonna cố chia sẻ niềm đam mê Maurras* của mình và nói với ông về buổi bình minh của thời mới, sự hồi sinh của đất nước từng bị lũ Do Thái và người Bolchevik đã làm cho suy tàn, Marcel nói với ông bạn mình, Này cậu đang nói nhảm nhí gì thế? Cậu đã bao giờ gặp người Do Thái hay người Bolchevik đâu! vừa nói vừa nhún vai một cách khinh khi bởi ông không tin người ta có thể bị kích động vì những điều viển vông mù mờ, không có thực đó. Điều khiến trái tim Marcel rung động, là ý nghĩ cụ thể và dịu vợi về đợt tòng quân sắp tới của ông, trình độ học vấn của ông sẽ giúp ông trở thành sĩ quan, ông đã mường tượng ra cái vạch mạ vàng trên lon chuẩn úy, và khi, trong lễ cưới, Jean-Baptiste, miệng đầy bánh tẩm bột rán, đùa nghịch bằng cách chào ông với một vẻ trang nghiêm rất buồn cười rồi vừa vò cho đầu tóc ông bù xù vừa cười, ví bằng ông mới mười tuổi, Marcel đã không thể kiềm chế được một niềm vui khôn tả vì lời tuyên chiến thậm chí không bị suy suyển. Jeanne-Marie đã về ở trong ngôi nhà nơi làng quê cùng với vợ con Jean-Baptiste. Họ chờ những bức thư thường ngày tới từ phòng tuyến Maginot kể với họ về nỗi buồn chán, sự ức chế và chiến thắng, người chồng trẻ của Jeanne-Marie viết thư nói với chị rằng anh nhớ chị, rằng đêm trở lạnh và anh nhớ đến hơi ấm làn da chị khi anh chạm vào người chị, anh nôn nao chờ đợi bọn Đức tấn công để anh có thể chiến thắng bọn chúng và trở về bên chị, anh nói với chị rằng anh sẽ không bao giờ rời xa chị nữa, anh

Charles Maurras (1868-1952) là nhà báo, chính trị gia và nhà thơ Pháp.

thề như vậy, khi tất cả những thứ này chỉ còn là một kỷ niệm vinh quang và xa xôi, anh sẽ không rời xa chị nữa. Thời gian trôi qua và anh còn viết thư nói với chị về những điều mà khi đối diện anh hẳn không dám nói, thậm chí thì thầm cũng không, anh nói về cái bụng của chị ưỡn lên khi được vuốt ve, mơn trớn, nói về cặp đùi, về bầu vú mà làn da xanh xao làm cho anh chết đi được, và còn nói về chiến thắng sắp tới nữa chứ, như thể niềm vinh quang của cơ thể vợ anh phải hòa vào cho tới khi lẫn với niềm vinh quang của đất nước mà anh đang bảo vệ trong chiến thắng đó, mỗi ngày anh lại trở nên hào hứng hơn, cụ thể hơn, sắt đá hơn, còn Jeanne-Marie thì say sưa với những lá thư anh viết và cầu Chúa sớm đưa anh về với chị mà không sợ không được đáp ứng. Vào tháng Ba năm 1940, sau khi khẳng định với bác sĩ quân y rằng mình chưa bao giờ có chút vấn đề gì về sức khỏe, Marcel cuối cùng cũng để lại người chị gái, để lại làng quê và bố mẹ để gia nhập trung đội chuẩn úy trong trung đoàn pháo binh Draguignan. Phía bên kia biển khơi, quỷ loét dường như bị tê hệt, không còn khả năng gây hại, và lần đầu tiên trong đời, Marcel có một sức sống mà ông tin chắc có thật, ông cư xử giống đứa học trò ngoan vốn là ông trước kia và ông hoàn toàn điếc đặc trước tất cả những gì còn lại, ông không nghe thấy tiếng xe tăng Đức gầm rú, không nghe thấy tiếng cây cối gãy gục trong những cánh rừng ở Ardennes, những tiếng la ó của đoàn người sơ tán và tiếng khóc than tủi nhục, ông không nghe thấy tiếng tất cả những giấc mơ chiến thắng bị một cơn gió bại trận thổi bay, ông không nghe thấy tiếng của Philippe Pétain nói về danh dự và về đình chiến, và giữa lúc lá thư đầu tiên mà Jean-Baptiste viết từ trại tù binh cùng bức điện thông báo cho Jeanne-Marie biết chị đã trở thành góa phụ ở tuổi hai lăm được gửi về làng, thì cuối cùng Marcel cũng nghe thấy, mà không thể tin nổi, người đứng đầu binh đoàn thông báo cho những người trong trung đội của mình biết rằng họ sẽ không bao giờ trở thành sĩ quan và tất cả họ được điều động đến trại thanh niên, ông nghe thấy rằng ông chỉ là một hướng đạo sinh có nhiệm vụ ngợi ca vinh quang của Thống chế, thế là dạ dày cùng ngực ông bị vết loét nóng rực chua cay cào xé khiến ông khuỵu xuống giữa các đồng đội, trước ông trưởng binh đoàn đang nhìn ông ói ra máu trong bụi bặm. Xuất viện sau khi đã phục viên, ông đến Marseille sống tại nhà một người chị gái và suốt ngày nằm dài trên giường, được ru ngủ bởi nỗi oán hận và cảm giác buồn nôn mà không thể nào quyết định về làng tìm lại gọng kìm bất di bất dịch của lo sợ và tang tóc, vì thế mà ông trì hoãn cuộc trở về của mình, tuyệt vọng bám vào cái thành phố rộng lớn và bẩn thỉu đó, như thể thành phố này sẽ mang lại cho ông sự cứu rỗi. Ông tin chắc rằng cuộc sống đã nợ ông một món rất lớn, và chỉ khi ông ở lại nơi này món nợ đó mới được trả hết, bởi vì ông biết rằng, ngay khi ông đặt chân lên mảnh đất quê hương, mọi nợ nần sẽ bị xóa bỏ, những thiệt thòi, mất mát, những bù đắp, và cuộc sống sẽ không nợ nần gì ông nữa. Ông chờ đợi điều gì đó sẽ xảy ra, ông rảo bước đi trên đường phố của cái thành phố mà sự rộng rãi và dơ bẩn làm cho ông sợ, ông đưa mắt lo lắng nhìn về phía cảng, cố cưỡng lại sức hấp dẫn độc hại của nỗi nhớ quê hương rồi ông bịt tai lại bởi ông sợ phải nghe thấy, từ phía bên kia biển khơi, sự dịu êm của những giọng nói thân quen yêu dấu đang mời mọc ông trở về với minh phủ, nơi ông ra đời. Sébastien Colonna đến chỗ ông và ngày nào cũng thế, hàng chục đồng hương của ông kéo đến Marseille tìm việc. Bác của Sébastien xin cho ông làm việc tại Ngân hàng Société générale. Nhưng nhiều tuần lễ trôi qua mà nợ vẫn chưa được trả. Chẳng lẽ cuộc đời trả nợ như thế? Chẳng lẽ đó là cách cuộc đời an ủi ông vì không được phong sĩ quan khi bắt ông phải cắm đầu vào những quyển sổ tính toán khiến cho ông ngột ngạt vì buồn chán, chỉ thuận cho ông thoát ra khỏi tình cảnh đó để ông nghe Sébastien huyên thuyên về thành quả của cuộc cách mạng dân tộc, ngợi ca sự khôn ngoan của Chúa Trời khi giúp con người rút ra một bài học đạo đức bổ ích từ những thảm họa tồi tệ nhất và ca tụng đức hy sinh cũng như lòng nhẫn nhục bởi vì nước Pháp cần điều trị triệt để để tẩy rửa cái chất độc đang làm cho đất nước bại hoại - phải chăng là như thế? Phải chăng, trái với thái độ khinh miệt lặp đi lặp lại của mình, cuộc sống không đeo đẳng ông đến cả trong vòng tay của con đĩ mà ông đã quyết định đi lại để đồng thời thỏa mãn khát khao được biết và khát khao được an ủi? Cô ta có đôi mắt đen đầy thương cảm, ánh lên một sự hiền từ giả tạo, sự hiền từ này tắt ngấm ngay khi cô ở lại một mình với ông và không còn tia sáng nào trong ánh mắt cô nhìn ông nữa trong khi ông rửa chỗ kín trong một cái chậu rửa đít rạn nứt màu xam xám, cô tàn nhẫn nhìn ông còn ông thì run lên vì xấu hổ, cảm thấy nỗi cay đắng về điều mình sắp biết và không còn hy vọng có được niềm an ủi. Ông theo cô nằm trên những tấm ga trải giường bốc mùi mốc meo, chỗ mà ông phải chịu đựng cảnh cô sẽ làm nhục ông đến cùng bằng sự trơ ì của mình. Ông cảm nhận được hơi ấm ở chỗ hai cái bụng của họ ép vào nhau, hòa vào nhau như những lỗ huyệt của loài bò sát, ông cảm thấy mồ hôi xâm xấp trên bầu vú ép sát vào ngực mình, trên đôi chân đang quặp vào chân mình, những hình ảnh không thể chịu đựng nổi hiện ra trong đầu Marcel, ông là một con thú, một con chim lớn phàm ăn và run rẩy đang vùi đầu vào bụng một xác chết, bởi cô ta luôn giữ sự vô cảm tục tĩu của một xác chết, đôi mắt người chết của cô ta ngước nhìn lên trần, và ở chỗ hai làn da của họ chạm vào nhau, ở mỗi điểm tiếp xúc, nước hòa lẫn vào nhau, bạch huyết trong suốt, dịch sinh lý, chẳng khác nào cơ thể của ông phải lưu giữ vĩnh viễn, trong một sự hóa thân gớm ghiếc, dấu vết cơ thể người đàn bà mà ông sẽ không bao giờ gặp lại nữa, người đàn bà mà ông không biết tên, rồi ông bật dậy mặc quần áo ra về. Ông vừa ra phố vừa thở hổn hển, máu lạ chảy trong huyết mạch ông, mồ hôi đầm đìa trên mí mắt không còn mùi vị như trước nữa, và ông khạc nhổ xuống đất vì không nhận ra vị nước miếng của mình. Suốt nhiều tuần liền, ông lo sợ săm soi cơ thể, săm soi từng cái mụn cóc, từng nốt ban đỏ, ông cảm thấy mình bị eczêma, bị nấm, bị giang mai, bị bệnh lậu, nhưng dù căn bệnh đang chực lây vào người ông có tên gì đi nữa, đó cũng chỉ là bề ngoài hời hợt đang giấu kín nỗi đau riêng của ông, một căn bệnh vô phương cứu chữa, và tuần nào ông cũng quấy nhiễu các bác sĩ cho đến khi quân đội Đức chiếm đóng vùng tự do và buộc ông phải đau lòng dứt khỏi chính mình. Sébastien Colonna kinh hãi, hắn đả kích sự khinh suất của Đồng minh, sự xảo quyệt của Hitler là một kẻ nuốt lời, nhưng niềm tin của hắn vào quyền uy của Thống chế rõ ràng đã bị lung lay, hắn sợ phải đi lao động khổ sai trong nhà máy của người Đức, hắn nói với Marcel, Phải đi khỏi đây, phải đi ngay. Nhưng không có con tàu nào rời cảng nữa. Sébastien được ông bác cho biết vài hôm nữa, ở Toulon có tàu khách đi Bastia. Hắn cùng Marcel đi xe khách đến. Họ thấy từ biển ngút lên những cột khói đen sì, hải quân Pháp bị đánh đắm chỉ còn lại một đống tôn và thép khổng lồ làm tắc cả vũng tàu, máy bay tiêm kích-ném bom Đức vừa rít lên vừa đâm bổ vào số ít con tàu đang cố trốn thoát bằng cách len lỏi giữa đám thủy lôi và những tấm lưới kim loại và Sébastien bật khóc. Khi thấy tình hình trở nên cấp bách, ít nhất cũng đáng chú ý như chính danh dự của hải quân, hắn giải thích cho Marcel rằng họ nhất thiết phải đi qua vùng quân Ý chiếm đóng nếu muốn tiếp tục nuôi hy vọng trở về nhà. Marcel đáp lại rằng mình không còn tiền để tiếp tục đi và mình sẽ về nhà bà chị ở Marseille nhưng Sébastien không chịu, không thể nào, hắn có tiền và hắn sẽ không bỏ rơi ông, thế là Marcel hiểu rằng tình bạn là một điều bí ẩn. Họ đến được Nice và về làng một tuần sau đó. Cái tang Jeanne-Marie phải chịu bao trùm cả ngôi nhà và bồng bềnh như một làn sương mù không gì làm tan biến đi được. Mọi thứ chìm trong một bức màn yên tĩnh nặng nề đến nỗi Marcel thỉnh thoảng giật mình thức giấc, tiếc nuối tiếng bom rít trong vũng tàu Toulon. Ông dậy uống nước và thấy bố mình đang đứng trong bếp, hoàn toàn bất động, mắt trân trân, Marcel hỏi, Bố làm gì đấy? mà không nhận được câu trả lời nào ngoài cái gật đầu đưa ông tới sự vĩnh hằng của im lặng, ông kinh hãi nhìn bố, cụ mặc áo sơ mi len cứng mình, bờ lông mi bị cháy, đôi môi trắng bệch, và bất chấp nỗi kinh hoàng đang xâm chiếm lấy mình, ông cũng không thể ngoảnh mặt đi, vận hết sức, ông lại gần bố, cầm lấy cái hũ rót nước uống rồi trở lại đi nằm, tự thề với mình là những đêm sau sẽ không dậy nữa dù cơn khát có giày vò đến mấy, bởi ông biết bố ông vẫn sẽ đứng ở chỗ ấy, bên ngoài thế giới, bất động trong một trạng thái sững sờ đớn đau mà cái chết cũng không thể giải thoát. Marcel muốn thoát ra khỏi cái vỏ bọc im lặng đó, ông lắng nghe cơn cuồng phong của cuộc nổi loạn đang thổi quanh mình, ông chờ đợi những cơn lốc đẫm máu của nó giật tung cửa chính và cửa sổ để không khí trong lành ùa vào. Sébastien Colonna thuật lại cho ông những câu chuyện nhảy dù, tấn công lựu đạn, hắn kể rằng, ở Alta Rocca, hai anh em họ nhà Andreani đã tàn sát một người Ý rồi gia nhập quân du kích, hắn lên án những hành động phi lý và đầy tội ác đó mà không nhận ra rằng Marcel không chia sẻ sự lên án của hắn và đã tưởng tượng mình đang cầm vũ khí chống quân xâm lược. Đầu tháng Hai, tuần nào cũng thế, một kẻ lạ mặt bắt đầu giết lính Ý đi riêng rẽ với một sự đều đặn khủng khiếp. Nhiều xác chết được tìm thấy trong bùn lầy, gần một chiếc xe mô tô bị lật ngửa, trên những con đường lên núi, trong bán kính cách làng vài cây số. Họ bị sát hại bằng súng săn và đôi khi bị kết liễu bằng một nhát dao vào cổ họng, bị chọc tiết như những con lợn, một số bị lột quần áo gần hết và tất cả đều bị tháo giày một cách rùng rợn. Không ai tìm ra giày của họ, và chính chi tiết tầm thường này tuy vậy lại làm cho mọi người vừa kinh hãi vừa kiêng nể, như thể kẻ sát nhân đã làm theo một nghi lễ ghê rợn, thêm vào đó lại bí ẩn nữa, và ông thầm nhủ rằng quân du kích chẳng liên quan gì đến chuyện này, rằng đó là tác phẩm của một du kích bí ẩn, sứ giả của thần chết hiệu nghiệm, bất nhẫn và cô độc như Tổng lãnh thiên thần của Chúa tể các đạo quân. Ngoài Sébastien Colonna mà sự khinh bỉ người Ý được bù đắp bằng sự ngưỡng mộ Mussolini và sự phục tùng chính quyền sâu sắc và si mê, tất cả các thanh niên trong làng đều muốn tham gia kháng chiến và trở thành những sát thủ đáng sợ, thành những chiến binh vì công lý. Họ không thể chịu được cảnh ăn không ngồi rồi. Họ tụ tập tranh luận về những việc có thể làm, họ định khử những kẻ phản bội và những kẻ cộng tác với quân chiếm đóng, cái tên Sébastien thậm chí đã được xướng lên nhưng Marcel nhiệt tình bênh vực hắn và nhắc lại rằng hắn chưa bao giờ làm hại ai cả. Cuối cùng, họ hẹn gặp nhau trên núi vào ban đêm cùng với một nhóm chiến binh rồi lúc một giờ sáng, họ rời khỏi làng, cùng bước đi trong đêm lạnh giá, lòng nhiệt tình anh dũng của tuổi trẻ thôi thúc họ, nhưng khi vừa đi qua trường học, họ nghe thấy những bước chân đều đặn vang lên và đang đi về phía họ, cách họ khoảng vài chục mét, thế là họ chạy xuống làng về nhà để rồi tim đập thình thịch, họ rình đội tuần tra Ý đi qua nhưng chẳng bao giờ thấy bởi họ đã ba chân bốn cẳng chạy trốn khi nghe thấy tiếng bước chân của chính mình dội lên trong đêm giá băng tĩnh mịch. Nỗi xấu hổ làm họ suy sụp hẳn. Họ khéo léo tránh mặt nhau để không phải đối mặt với nỗi ô nhục của mình. Vào mùa xuân, sát thủ bí ẩn thôi không khiến người ta phải nhắc đến mình nữa, không ai biết anh ta đã chết hay đã trở về với thiên đình trong khi chờ đợi ngày tận thế. Bí ẩn chỉ được giải mã trong cuộc nổi dậy vào tháng Chín, đối với Marcel, cuộc nổi dậy này chỉ gói gọn ở vài lần đi đi lại lại trên đường làng, khẩu súng vô ích trong tay. Ange-Marie Ordioni đi xuống từ chuồng cừu nhô cao trên rừng Vaddi Mali, nơi mà y cùng vợ sống một cuộc đời săn bắn hoang dã của thời kỳ đồ đá mới. Y đi giày brôđơcanh Ý và mặc một chiếc áo vest quân sự đã tháo lon cùng huy hiệu. Ngay giữa mùa đông, đôi giày duy nhất của y đã tơi tả tả tơi, y không tài nào vá lại được và cũng chẳng có tiền để mua giày mới. Y thấy dùng đồ của kẻ chiếm đóng là chuyện bình thường nhưng y đã mất nhiều thời gian mới tìm được một đôi giày vừa cỡ bởi vì dù có dáng vóc của kẻ ăn lông ở lỗ nhưng y có đôi bàn chân nhỏ một cách kỳ cục. Một kẻ có chức trách ở Mặt trận dân tộc gào lên rằng y là một thằng ngốc, một thằng vô ý thức, đáng nhẽ phải đem y ra bắn ngay nhưng Ange-Marie lạnh lùng nhìn anh ta và đáp lại rằng tốt hơn anh ta nên im lặng. Ở trên núi thì phải có giày tốt. Quân Pháp đã đến làng, mấy tay lính mộ vừa cười vừa uống rượu và hát bằng tiếng Ả Rập trên đường làng, Marcel sững sờ nhìn cái đầu cạo trọc của bọn họ, nhìn mớ tóc dài bện lại buông sau gáy họ, những con dao cong như dao của người Xaradanh của họ, và thế là Sébastien nói với ông, Cậu nhìn xem những người giải phóng cho chúng ta có dáng vẻ như thế nào, người Moritani và người da đen đều thế cả thôi, những tên mọi rợ này lúc đầu thì phục tùng, sau đó lật đổ và phá hoại Đế chế. Chúng ta sẽ chẳng còn gì nữa. Vài tuần sau, họ cùng nôn mửa bên nhau trên con tàu Liberty Ship, con tàu đang vượt qua bão tố phong ba để đưa họ đến Alger. Sóng tràn lên boong đặc như bùn, tẩy rửa sự ô uế trên người họ và khiến họ lạnh thấu xương, ở Maison-Carrée, một viên hạ sĩ quan ngồi sau một cái bàn nhỏ, cắm mặt vào một quyển sổ vô vị và uể oải đọc quyết định bổ dụng cho từng người và không có gì cho thấy là, sau cái bàn đó, những ơn huệ hay bản án tử hình đang được quyết định, bởi đó là một chỗ trang nghiêm, nơi các con đường phân rẽ, nơi chia rẽ chung cuộc giữa một bên là cừu cái một bên là dê đực, những con vật này thì ở bên trái, những con vật kia thì ở bên phải, nhưng không ai yêu cầu họ chọn lựa giữa cái chết vinh quang trên chiến trường và một cuộc sống vô nghĩa, và vào lúc Sébastien Colonna biết tên trung đoàn bộ binh của mình, hắn đã bắt đầu hành trinh tất yếu tới với những viên đạn súng máy đã từ lâu chờ hắn ở Monte Cassino. Marcel bất giác ôm chặt lấy hắn mà không biết rằng ông sẽ không bao giờ gặp hắn nữa, có chăng chỉ là thấy lại cái tên được những bàn tay xa lạ khắc lên tấm bia tưởng niệm, như thể thịt da phù du hơn đá hoa cương và ông lên tàu đi Tunis. Tới nơi, ông được biết mình được điều động đi Casablanca, cùng đội pháo của mình, để học cách sử dụng vũ khí phòng không của Mỹ. Ông không tài nào hiểu nổi quy luật thuyên chuyển trong quân đội. Tàu lại khởi hành đi miền Tây, chạy dọc theo bờ biển trong một hành trình kéo dài ba tuần. Ông cùng đồng đội nằm bệt xuống sàn phủ đầy rơm ẩm trong toa chở hàng, phần lớn thời gian ông ngủ gà ngủ gật, chỉ thoát khỏi sự đờ đẫn để chơi bài hay nhìn những cánh đồng và thành phố yên tĩnh buồn bã băng qua trước mặt, không có thành phố nào, cánh đồng nào giữ lời hứa thực hiện ước mơ của ông, biển lại mơn man bờ cát ỉu xìu, chẳng còn lại gì từ những câu chuyện ly kỳ đầy rẫy trong sách lịch sử, không còn lửa Baal, không còn những quân đoàn châu Phi của tướng Scipion, không còn kỵ sĩ người Numidia nào vây hãm tường thành Cirta để trả lại cho Massinissa nụ hôn bị đánh cắp của Sophonisbe, tường thành cùng những chiến binh vây hãm thành đều đã trở về với cát bụi và hư vô bởi đá hoa cương và thịt da đều phù du tất thảy, và ở Bône, nhà thờ đã từng thu nhận bài giảng của Augustin và hơi thở cuối cùng của ông bị át đi bởi những tiếng la ó của người Vandal* chỉ còn là một vùng đất hoang, mọc đầy cỏ vàng đã rạp xuống vì gió. Marcel nhập trại ở Casablanca, quyết tâm từ bỏ chây lười, biếng nhác để trở thành chiến sĩ nhưng người Mỹ chưa bàn giao vũ khí phòng không, ông không thể chịu nổi cảnh phải ngồi chờ và suýt quay trở lại nhà thổ. Ông không thể tin vào thời khắc mà tương lai của toàn thế giới đang bị đánh cược, người ta lại bắt ông phải chán chường và Đại Tây Dương mênh mông không an ủi ông được chút nào. Một tháng sau, ông được biết người ta đang tuyển sĩ quan quân nhu, thế là ông ứng tuyển ngay. Nếu như người ta không thỏa mãn ước nguyện chiến đấu của ông, chí ít ông cũng sẽ trở thành người mà mình hằng mong muốn. Cuối cùng ông cũng cảm thấy sung sướng và cứ như vậy cho đến khi viên đại tá triệu tập ông, chửi ông là đổ dốt nát với những lời lẽ ác ý chưa bao giờ có, y sùi bọt mép, đập tay lên bàn, anh chỉ là đồ giòi bọ,

Dân tộc Đông German (Đức), sống giữa vùng Oder và Vistule và bên bờ biển Baltic. Đầu thế kỷ thứ 5, dân tộc này đã vượt qua sông Rhin, xâm chiếm và tàn phá xứ Gaule (Pháp), Tây Ban Nha và Bắc Phi.

Antonetti ạ, thêm nữa còn là một kẻ hèn nhát, Marcel cuống lên, lắp ba lắp bắp một cách vô bổ, nhưng thưa đại tá, thưa đại tá, còn viên đại tá thì hét lên, sĩ quan quân nhu à? quân nhu à? nhắc lại từ “quân nhu” như một sự tục tĩu không tên làm ô uế miệng y, mày sợ ra chiến trường, phải thế không? Mày thích trốn tránh rồi ngồi đếm từng ký khoai và từng đôi giày à? Đồ giòi bọ! Đồ giòi bọ tiểu nhân! còn Marcel thì thề với y rằng ông chỉ sống để chiến đấu, rằng ông luôn khao khát trở thành sĩ quan và ông thấy đó là một cơ hội cần nắm bắt, nhưng viên đại tá không bình tĩnh được, nhẽ ra mày phải đến gặp tao nếu muốn làm sĩ quan, một sĩ quan pháo binh chứ! một sĩ quan đáng kính! tao đã có thể ghi tên mày vào một trung đội nào đó, quân nhu ư? Mẹ kiếp, quân nhu ư? Người của tao không có ai kết thúc ở quân nhu cả, mày hiểu chứ? Không một ai! Giờ thì mày cút đi nếu không tao tống mày vào tù đấy! Marcel đi ra, bụng nóng như có lửa đốt, tất cả hy vọng của ông lại tiêu tan một cách thê thảm, ông chỉ còn có thể tiếp tục chờ thiết bị phòng không của Mỹ, cho đến khi cuối cùng ông cũng được bổ dụng vào làm thư ký cho một trung úy quân nhu mà không ai thấy có gì đó ngược đời hay quá thể, kể cả viên đại tá. Cuối năm 1944, ông trở lại Pháp cùng viên trung úy và họ từ từ đi lên phía Bắc, phía sau tiền tuyến hàng trăm cây số. Marcel giữ sổ sách và pha cà phê dỏm. Ông không bao giờ nghe thấy tiếng súng. Chỉ một lần, ở Colmar, cách chiếc xe ông đang lái vài trăm mét, một trái phá lạc rơi xuống bắn tung bụi bặm và gạch vụn. Marcel dừng lại. Quanh ông là một thành phố đổ nát mà không trái phá nào có thể hủy hoại hơn nữa. Tai ông ù ù một cách dễ chịu trong vài phút. Ông quay lại viên trung úy hỏi xem anh ta có ổn không rồi lấy tay phủi bụi, hơi cau mày và đó là chiến công duy nhất của ông, điều duy nhất cho phép ông nghĩ rằng chiến tranh chưa hoàn toàn cách ly ông. Và bây giờ, chiến tranh đã kết thúc và ông đang sống cùng gia đình ở làng quê. Ông để cho bố ôm chặt mình cùng Jean-Baptiste, ông bố thả ra rồi lại ôm chặt hai người, như thể ông cụ không thể tin được rằng người ta chưa lấy đi của cụ người con nào. Jean-Baptiste hớn hở lắm, y đã béo lên khủng khiếp. Y đã sống ba năm cuối chiến tranh trong một trang trại ở Bavière, do bốn chị em gái quản lý, y vừa kể về bốn chị em này vừa nháy mắt, sau khi yên tâm rằng vợ y không nhìn y còn Marcel thì sợ y lôi ông ra một chỗ để mà tâm sự dài dòng và tục tĩu. Ông không muốn nghe y nói. Ông đã hai mươi sáu tuổi. Ông sẽ không quay trở lại trường cao đẳng tiêu học Sartène nữa, ông đã quá tuổi, và khi nhìn tay mình, ông cảm giác như đôi tay ấy sẽ sớm rã vụn như đôi bàn tay cát. Tại Paris, trên đường đi tìm Jean-Baptiste, Jeanne-Marie đã gặp ở khách sạn Lutetia một chàng trai trẻ hơn mình nhiều, một chiến sĩ đi đày về, và thông báo mình sẽ lấy anh ta. Chị đã hư hao rất nhiều do phiền muộn, vô phương cứu chữa và chị biết điều ấy, nhưng chị làm như thể mình còn tin tưởng ở tương lai. Marcel giận chị vì đang hoài công vô ích tỏ ra mình đang sống, ông đau khổ khi thấy chị gái mình đang đóng kịch, đang giả vờ quên, ông không chịu giả vờ vui vẻ, và trong khi cô chị đang lu bu chuẩn bị lễ cưới thì ông chống đối bằng một sự im lặng lầm lì và khinh khi. Nhưng ở nhà thờ, trong lúc bước lên bàn thờ Chúa nơi Aadré Degorce, vóc người thanh mảnh và trẻ trung trong bộ đồng phục của trường quân sự Saint-Cyr, đang chờ, chị dừng một lúc, quay lại nhìn Marcel và nở một nụ cười trẻ thơ mà ông chỉ có thể đáp lại một cách bất đắc dĩ. Chị không hề đóng kịch, không hạ mình chối bỏ cũng chẳng hạ mình bắt chước bởi vì suối nguồn tình yêu bất tận trong mình luôn giữ cho chị khỏi làm việc ấy. Marcel xấu hổ vì sự sáng suốt và thái độ vô liêm sỉ của mình, và trong ánh sáng ban mai, ông lại cảm thấy xấu hổ, xấu hổ vì con tim nhu nhược của mình, con tim u tối của mình, ông xấu hổ trước André vì mình là một người lính quá tồi, ông xấu hổ trước sự may mắn nhục nhã của mình và còn xấu hổ vì thậm chí không biết cách sung sướng vì cơ may đó, ông nhìn André với sự kiêng nể đầy đố kỵ, ông xấu hổ vì tiếp đón André trong ngôi làng khốn khổ đó, tất cả khách khứa đến dự lễ cưới đều làm cho ông xấu hổ, nhà Colonna, vẫn còn đang chịu tang, và nhà Susini, cái nhà đã cho cô con gái đần độn đang chửa hoang không biết lần thứ mấy của mình được đi theo và Ange-Marie Ordioni, đỏ mặt vì hãnh diện, ôm chặt vào bộ ngực gắn đầy huy chương của mình thằng con ú bự mà vợ y mới đẻ trong chuồng cừu đầy ghét bẩn, ông xấu hổ vì bố mẹ của chính mình, xấu hổ vì sức sống tục tĩu và tràn trề của Jean-Baptiste và xấu hổ vì chính mình, kẻ đang mang trong ngực một trái tim nhu nhược và u tối. Ông nhìn bà chị đang khiêu vũ trong vòng tay André. Đám trẻ con chạy giữa những cái bàn cập kênh. Ange-Marie Ordioni nhúng ngón tay vào ly rượu vang phớt hồng rồi cho con trai mình mút. Marcel nghe những tiếng cười và những nốt nhạc accordéon sai bét, giọng nói như sấm rền của Jean-Baptiste. Ông ngồi dưới nắng, cạnh mẹ, mẹ ông cầm lấy tay ông rồi buồn bã lắc đầu. Dường như chỉ có cụ mới không vui khi thấy cuộc sống tiếp diễn. Làm sao cuộc sống có thể tiếp diễn khi nó chưa khởi đầu?

« Lùi
Tiến »