MỞ RA! MỞ RA! Chiếc búa gõ cửa kêu lên. NẾU KHÔNG TA SẼ ĐẬP TAN NHÀ CỦA NGƯƠI! Chuông thì át hơn. Chúng chỉ nói XIN CHÀO? CÓ AI Ở NHÀ KHÔNG? Nhà sở có một búa gõ cửa và một cái chuông, tôi đã thử cả hai nhưng vẫn chẳng có ai trả lời. Tôi chờ đợi, có lẽ cha sở đang nhúng chiếc bút lông ngỗng vào lọ mực, gắt gỏng “Chúa nhân từ, đã ba giờ rồi sao?” Tôi ép tai vào cửa nhưng căn nhà cũ to lớn chẳng phát ra tiếng gì. Ánh nắng tràn ngập bãi cỏ đang khát nước, hoa rực rỡ, cây ngủ gà ngủ gật trong gió. Một chiếc Volvo đầy bụi đậu trong ga-ra cần rửa và đánh bóng. (Volvo là thứ nổi tiếng duy nhất của Thụy Điển ngoài ban nhạc ABBA. Volvo có những thanh sắt trên mui nên ta sẽ không bị một chiếc xe tải lớn cán dẹp như bánh bích-quy lúc chạy trên đường.
Nửa khác tôi lại hy vọng không có ai trả lời. Nhà sở là một nơi tôn nghiêm, trái với nơi bọn trẻ cần đến. Nhưng khi tôi bò đến đây tuần trước vào ban đêm, có một phong bì được dán bằng băng dính vào hòm thư. GỬI ELIOT BOLIVAR - NHÀ THƠ. Bên trong là một lá thư ngắn viết mực tím trên giấy màu xám tím. Thư mời tôi đến nhà sở để bàn về tác phẩm của tôi vào lúc 3 giờ ngày chủ nhật. “Tác phẩm”. Chưa có ai từng gọi những bài thơ củaEliot Bolivar là “tác phẩm”.
Tôi sút một hòn sỏi dưới lối dành cho xe đi.
Chiếc then cửa rít lên như tiếng súng rồi một ông già ra mở cửa. Da của ông ta lốm đốm như vỏ chuối, ông mặc áo sơ-mi không cổ và có dây đeo - Xin chào?
— Chào, à, chào ông. (Tôi muốn nói “Vâng, chào ông” nhưng gần đây Gã treo cổ thích những từ có chữ “V”). Ông là cha sở?
Người đàn ông liếc quanh vườn như thể tôi là một con chim mồi - Ta chắc chắn không phải là cha sở. Tại sao? - rồi một giọng nước ngoài còn chua hơn giọng Pháp - cậu là cha sở?
Tôi lắc đầu. (Gã treo cổ còn chẳng để cho tôi nói “Không”) - Nhưng cha sở mời cháu tới - tôi chìa cho ông ta chiếc phong bì - chỉ có điều ông ấy không ký mình (tôi không thể nói từ “tên”), ông ấy không ký vào nó.
— A, aha - người không phải cha sở chắc đã nhiều năm không gặp điều gì ngạc nhiên - hãy vào nhà quan sát mặt trời. Cậu phải bỏ giày ra.
Bên trong đầy mùi gan và đất. Một cầu thang trải nhung chia đôi luồng nắng chiếu vào sảnh. Một chiếc ghi-ta màu xanh dựa vào chiếc ghế kiểu Thổ Nhĩ Kỳ. Trong khung bằng vàng của nó là tượng một người đàn bà khỏa thân ngồi trong thuyền thúng trôi trên hồ có hoa súng. “Nhà quan sát mặt trời” nghe có vẻ tuyệt. Một cung thiên văn chỉ theo dõi mặt trời chứ không phải các ngôi sao? Có lẽ trong thời gian rảnh rỗi, cha sở là một nhà thiên văn học.
Cha sở đưa cho tôi một chiếc bót đi giày, tôi không chắc phải dùng nó thế nào nên nói “Không, cám ơn ông” và tụt đôi giày ra như vẫn làm - Ông có phải là quản gia?
— Quản gia? A ha. Một cách mô tả hay về vị trí của tôi trong nhà này, tôi nghĩ thế. Xin mời theo tôi.
Tôi nghĩ chỉ có linh mục và giáo hoàng mới đủ tầm để có quản gia, nhưng các cha sở cũng có thể chứ. Lớp vá sàn tước ả xuyên qua tất và cứa vào lòng bàn chân tôi. Sảnh đi vòng qua một phòng khách buồn tẻ và một căn bếp sạch sẽ. Trần cao treo những đèn chùm nhiều ngọn chăng đầy mạng nhện.
Tôi suýt đâm sầm vào lưng ông quản gia.
Ông ấy dừng lại trước một cửa hẹp và nói vọng vào - Có một vị khách.
Trong nhà quan sát mặt trời này không có thiết bị khoa học nào dù cửa sổ trên mái đủ rộng để đặt các kính thiên văn. Khung cửa sổ lớn bao quanh khu vườn hoang đầy cây mao địa hoàng và cây pô-kơ đỏ. Các kệ sách ép sát vào tường. Những cây lùn tịt mọc trong các chậu bám rêu xếp quanh lò sưởi bỏ không. Khói thuốc lá bốc mù mịt che hết mọi thứ như trong cảnh hồi tưởng chiếu trên tivi.
Trên chiếc ghế mây có một bà già ngồi trông như con ếch.
Bà ta già nhưng trông oai nghiêm, như thể vừa bước ra từ một bức chân dung, mái tóc bạc trắng và choàng khăn màu tía kiểu hoàng gia. Tôi đoán bà này là mẹ của cha sở. Đồ trang sức của bà to như những quả chanh, như những cái kẹo. Có thể bà ta 60 tuổi, hoặc cũng có thể là 70 tuổi. Với người già và trẻ con thì chẳng chắc được. Tôi quay lại nhìn ông quản gia nhưng ông ta đã đi mất.
Hai con ngươi của bà già đảo nhanh đuổi theo những con chữ trên nhưng trang sách của bà ấy.
Tôi có nên ho một tiếng? Thế thì ngu ngốc quá. Bà ấy đã biết tôi ở đây rồi.
Khói uốn lượn bay lên từ điếu thuốc của bà ấy.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế sô-pha không tay vịn cho tới lúc bà sẵn sàng nói chuyện. Cuốn sách của bà có tựa Grand Meaules. Tôi tự hỏi Meaules là gì và ước mình giỏi tiếng Pháp như Avril Bredon.
Chiếc đồng hồ đặt trên lò sưởi chia từng phút thành các giây.
Các khớp tay của bà nhọn như Toblerone[85]. Thỉnh thoảng các ngón tay đầy xương lại phủi tàn thuốc trên các trang sách.
— Tên ta là Eva van Outryve de Crommelynck - nếu một con công đực nói giọng người, nó chính là bà ấy - cậu có thể gọi ta là quý bà Crommelynck - dù không chắc nhưng tôi đoán giọng của bà ta là giọng Pháp - những người bạn Anh của ta thuộc một dòng giống đang bị đe dọa hiện nay bảo ta rằng “Eva, ở vương quốc Anh của bà thì ‘quý bà’ quá kiểu cách. Tại sao không gọi đơn giản là bà Crommelynck?”. Và ta nói “Quỷ tha ma bắt các người! Kiểu cách có gì sai? Ta là một quý bà và âm ‘a’ của ta rất rõ”. Tiếp nào! Bây giờ là 3 giờ, hơn 3 giờ một chút, thế cậu là nhà thơ Eliot Bolivar, đúng không?
— Vâng (“Nhà thơ”). Rất vui được gặp bà...quý bà Crommelynck.
— Crom-mel-ynck.
—Crommelynck.
— Vẫn tệ, nhưng khá hơn. Cậu trẻ hơn so với ước đoán của ta. Mười bốn? Mười lăm?
Thật tuyệt khi bị nhầm với một đứa lớn tuổi hơn - Mười ba.
— Ặc, một cái tuổi tuyệt vời và tội nghiệp. Không phải một cậu con trai, chẳng phải một thanh niên. Thiếu kiên nhẫn nhưng cũng nhút nhát. Không kìm chế được cảm xúc của mình.
— Cha sở sẽ sớm tới đây chứ ạ?
— Xin lỗi? - bà ngả người về phía trước - Ai (nghe cứ như là “oa”) là “cha sở”?
— Đây là nhà sở đúng không ạ? - tôi cho bà xem lá thư mời, nhưng bây giờ thì không thoải mái lắm - Trên trụ cổng nhà bà có ghi thế, ở đường chính ấy.
— A - quý bà Crommelynck gật đầu - nhà sở, cha sở, cậu đã hiểu sai một thứ. Từng có một cha sở sống ở đây, không nghi ngờ gì, trước ông ta có một, hai, nhiều cha sở - bàn tay gầy giơ xương của bà vẩy một làn khói thuốc - nhưng bây giờ thì không còn ai. Nhà thờ Anh giáo đã trở thành kẻ phá sản, kẻ phá sản, theo từng năm, như hãng xe hơi British Leyland ấy. (Cha tôi nói rằng Cơ đốc giáo biết cách điều hành tôn giáo. Cơ đốc giáo và những người đa thê). “Hãy lôi kéo thêm những tín đồ mới”, họ nói với giáo đoàn của mình, “Nếu không ngươi sẽ phải xuống địa ngục”. Nhưng nhà thờ Anh giáo của cậu thì không. Hậu quả là những ngôi nhà tuyệt vời này của các cha sở Anh giáo bị bán hoặc cho thuê, các cha sở phải chuyển tới những ngôi nhà nhỏ. Chỉ có cái tên “cha sở” là còn lại.
— Nhưng - tôi nuốt nước bọt - cháu đã gửi thơ của mình qua hòm thư của bà từ hồi tháng giêng. Làm thế nào mà mọi tháng chúng vẫn được in ở tạp chí của giáo xứ?
— Cái này - bà Crommelynck hít một hơi thuốc mạnh khiến tôi có thể thấy nó ngắn hẳn đi - không nên là bí mật với một bộ não mong manh. Ta đã chuyển các bài thơ của cậu đến cha sở thật ở phòng sở thực sự của ông ấy. Một căn nhà gỗ một tầng xấu xí gần Hanley Castle. Ta không tính tiền việc đó với cậu, cái đó miễn phí. Đó là một bài tập tốt cho những bộ xương thiếu nhanh nhẹn của ta. Nhưng đổi lại, ta đọc các bài thơ của cậu trước tiên.
— Ồ. Cha sở có biết không ạ?
— Ta cũng chuyển đến mà không ai biết, không nêu tên, thế nên vợ của cha sở không bắt được ta. Ồ, bà ấy tệ gấp trăm lần ông ta. Một con yêu quái mình người cánh chim hoặc một mụ chuyên ngồi lê đôi mách. Bà này bảo ta dùng vườn của ta để tổ chức tiệc mùa hè của nhà thờ thánh Gabriel. “Đó là truyền thống”, bà cha sở nói thế. “Chúng tôi cần không gian cho trò xếp người, cho các gian hàng”. Ta bảo bà ta là “Quỷ bắt bà đi! Tôi trả tiền cho bà mượn sao? Ai cần tới đấng sáng tạo thiêng liêng phải đi bán mứt cam chất lượng tồi?” - quý bà Crommelynck chép đôi môi nhìn như miếng da - nhưng ít ra chồng bà ta cũng đăng các bài thơ của cậu trong cuốn tạp chí buồn cười của ông ta. Có lẽ ông ta sẽ được cứu rỗi - bà ta ra hiệu, trỏ về chiếc chai đựng rượu đặt trên một chiếc bàn khảm trai - Cậu uống một chút không?
“Một cốc đầy”, Thằng em sinh đôi chưa hề ra đời nói.
Tôi có thể nghe thấy ba hỏi Con uống cái gì thế? - Không, cảm ơn bà.
— Đó là mất mát của cậu - quý bà Crommelynck nhún vai.
Một thứ nước trông như mực đổ vào cốc của bà ta.
Với vẻ mãn nguyện, bà gõ nhẹ vào một chồng tạp chí giáo xứ làng Thiên nga đen xếp bên cạnh - Vào việc thôi.
— Một chàng trai trẻ cần biết khi nào một phụ nữ muốn có người châm thuốc cho mình.
— Cháu xin lỗi.
Một con rồng bằng ngọc lục bảo quấn quanh bật lửa của quý bà Crommelynck. Tôi lo rằng mùi khói thuốc sẽ bám vào quần áo tôi, và tôi sẽ phải bịa ra một câu chuyện với bố và mẹ để giải thích mình đã ở đâu. Khi hút thuốc, bà ta lẩm nhẩm bài thơ Rocks (Đá) của tôi đăng trên tạp chí số tháng năm.
Tôi cảm thấy choáng váng vì mức độ quan trọng, vì những ngôn từ của tôi đã thu hút được sự chú ý của người đàn bà kỳ lạ này. Mà cũng thấy sợ nữa. Nếu ta cho ai đó xem cái ta đã viết, ta đã đưa cho họ một cái cọc sắc nhọn, nằm vào quan tài của ta rồi nói: “Hãy làm khi sẵn sàng”.
Quý bà Crommelynck gầm gừ nho nhỏ - cậu tưởng tượng thơ không vần là sự giải phóng nhưng không đúng. Bỏ vần điệu, cậu bỏ đi một cái dù... Cậu nhầm tính đa cảm với cảm xúc... Cậu yêu ngôn từ, đúng (một cái bong bóng tự hào phồng lên trong tôi) nhưng ngôn từ của cậu vẫn làm chủ cậu chứ không phải cậu làm chủ chúng...(bong bóng vỡ tan) - bà quan sát phản ứng của tôi - nhưng ít ra thơ của cậu cũng đủ sức sống cho người ta phê bình. Hầu hết những thứ được gọi là thơ đều vỡ ra khi người ta vừa chạm vào. Hình tượng của cậu là thế này, thế kia, mới mẻ, ta không cảm thấy xấu hổ khi gọi nó thế. Bây giờ ta muốn biết một điều.
— Chắc chắn rồi ạ, bất kỳ điều gì.
— Đời sống riêng của những bài thơ này, những căn bếp, khu vườn, chiếc ao này không phải...ẩn dụ của cuộc chiến lố bịch ở nam Đại Tây Dương năm nay?
— Chiến tranh về quần đảo Falkland diễn ra khi cháu đang viết những bài thơ này - tôi trả lời - cuộc chiến có ngấm vào chúng.
— Còn những quỷ quái gây chiến trong vườn này, chúng chính là biểu tượng của tướng Galtieri và Margaret Thatcher. Ta nói thế đúng không?
— Có vẻ thế ạ.
— Nhưng chúng cũng là cha, là mẹ cậu nữa.
Nếu người hỏi đã biết câu trả lời thì sự ngập ngừng là Có hoặc Không. Viết về cha mẹ là một chuyện, thú nhận việc đó lại là chuyện khác.
Quý bà Crommelynck ngân nga nhè nhẹ vẻ thích thú - cậu là một cậu bé 13 tuổi lịch sự, nhút nhát đến mức không dám cắt dây rốn của mình! Trừ - bà ta thọc một phát ghê gớm xuống trang tạp chí - chỗ này. Chỗ này, trong các bài thơ, cậu đã làm điều cậu không dám làm chỗ kia - bà ta thúc tay về phía cửa. Để thể hiện cái có ở đó. Bà ấy thọc một nhát vào tim tôi, đau đớn.
Những tia X làm tôi nôn nao cả người.
Khi một bài thơ đã thoát ra, nó chẳng quan tâm tới ta nữa.
— Những khu vườn sau - quý bà Crommelynck cầm cuốn tạp chí số tháng sáu lên.
Tôi chắc chắn bà ta nghĩ tiêu đề của bài thơ như một kẻ giết người.
— Nhưng tại sao tiêu đề nghe có vẻ ghê gớm thế?
— Vâng..., nó không phải lựa chọn đầu tiên của cháu.
— Tại sao cậu làm lễ rửa tội cho sự sáng tạo của mình bằng một cái tên thấp kém thế?
— Cháu định gọi tên nó là Ma quỷ. Nhưng thực tế có một băng nhóm mang cái tên này, ban đêm chúng mò quanh làng. Nếu cháu đặt tên cho bài thơ như vậy, chúng sẽ nghi ngờ người viết bài thơ và sẽ...tóm được cháu.
Quý bà Crommelynck khịt mũi vẻ coi thường tôi. Bà ta ngâm những dòng thơ của tôi ở khổ thứ tư. Tôi hy vọng ít ra bà ta sẽ nói điều gì đó về những dòng thơ mô tả hoàng hôn, ánh trăng và bóng tối.
— Có những ngôn từ đẹp ở đây...
— Cảm ơn bà - tôi đồng ý.
— Những từ ngữ đẹp làm hỏng thơ của cậu. Một chút đẹp sẽ làm cho món ăn hấp dẫn hơn, nhưng cậu lại đổ một núi từ như thế vào nồi! Không, mùi vị của nó phát nôn. Cậu tin rằng một bài thơ phải đẹp, nếu không nó sẽ chẳng xuất sắc. Tôi nói đúng chứ?
— Có vẻ như vậy.
— Kiểu “có vẻ” của cậu thật khó chịu. Xin hãy nói “có”, “không” hoặc xác định rõ. “Có vẻ” là một kẻ lười biếng, một kẻ phá hoại dốt nát. “Có vẻ” chính là “tôi xấu hổ vì sự rõ ràng và chính xác”. Thế nên chúng ta sẽ thử lại. Cậu tin rằng một bài thơ phải đẹp, nếu không nó chẳng là thơ. Tôi nói đúng chứ?
— Vâng.
— Vâng. Những kẻ đần độn tốn rất nhiều công sức vì nhận thức sai lầm này. Cái đẹp không phải sự xuất sắc. Cái đẹp là sự mất tập trung, là mỹ phẩm, rốt cuộc cái đẹp là sự suy kiệt. Chỗ này - bà ta đọc khổ thứ năm - Sao Kim nhô ra và sáng lên phía bên tai của mặt trăng. Bài thơ bị “xì hơi” ở đoạn cuối cùng. Xì...xì...xì. Lốp xịt, tai nạn xe hơi. Nó nói “Tôi không phải là thứ đẹp đẽ?” Ta trả lời “Quỷ bắt ngươi đi!”. Nếu cậu gặp một cây mộc lan trong sân, cậu có sơn hoa của nó? Có gắn thêm mấy bóng đèn nhấp nháy hay dùng trong Giáng sinh? Có gắn thêm mấy con vẹt nhựa? Không, cậu không làm thế.
Điều bà ấy nói có vẻ đúng, nhưng...
— Cậu nghĩ rằng - quỷ bà Crommelynck phì khói ra - mụ phù thủy già này điên rồi! Đã có một cây mộc lan tồn tại, mộc lan không cần thơ mới tồn tại được. Nếu là một bài thơ, một bài thơ, nó phải do ta sáng tạo ra.
Tôi gật đầu. (Nếu có vài phút thì tôi đã nghĩ thế thật).
— Cậu phải nói ra điều cậu nghĩ, nếu không hãy dành ngày thứ bảy vùi đầu vào một cái thùng chứ không phải dành cho cuộc nói chuyện với tôi. Cậu hiểu chứ?
— Được ạ - tôi nói nhưng trong lòng lo lắng “được” mà chẳng được tí nào.
— Được - bà ta nói - thơ được “làm”. Nhưng từ “làm” không đủ cho một bài thơ thực sự. “Sáng tạo” không đủ. Mọi từ đều không đủ. Bởi vì bài thơ tồn tại trước khi nó được viết ra.
Cái này thì tôi không hiểu - Ở đâu ạ?
— T.S. Eliot đã nói điều này - Thơ là cú đột phá vào cái không thể mô tả rõ”. Ta, Eva van Outryve de Crommelynck, đồng ý với ông ấy. Những bài thơ chưa bao giờ hoặc không bao giờ được viết ra tồn tại ở chỗ đó, trong vương quốc của cái không thể mô tả rõ. Nghệ thuật - bà ta cắm một điếu thuốc vào miệng và lần này thì tôi đã sẵn sàng với chiếc bật lửa có con rồng bằng ngọc - hoà quyện với cái không thể mô tả rõ chính là cái đẹp, ngay cả khi đề tài của nó xấu. Trăng bàng bạc, biển bao la, những lời khuôn sáo của những tay tai to mặt lớn đều làm hỏng cái đẹp. Kẻ nghiệp dư nghĩ rằng ngôn từ của hắn, màu vè của hắn, những nốt nhạc của hắn tạo ra vẻ đẹp. Nhưng tay bậc thầy biết rằng ngôn từ chỉ là phương tiện của cái đẹp, nhưng hắn không biết cái đẹp là gì. Bây giờ hãy cố gắng định nghĩa xem nào. Cái đẹp là gì?
Quý bà Crommelynck gạt tàn thuốc vào chiếc gạt tàn bằng đá đỏ có đốm.
— Cái đẹp là...
Bà ta khoái trá với thế bí của tôi. Tôi muốn gây ấn tượng bằng một định nghĩa thông minh nhưng tôi lại đâm vào Cái đẹp là cái gì đó đẹp.
Vấn đề là tất cả những điều này đều mới mẻ. Trong những giờ học tiếng Anh ở trường, chúng tôi học một quyển sách ngữ pháp do ông Ronald Ridout viết, đọc cuốn Rượu táo và Rossie (Cider with Rossie), thảo luận về chuyện săn cáo và đọc thuộc bài Tôi phải xuống biển lần nữa (I must go down to the seas again) của John Maseheld. Chúng tôi không phải tư duy thực sự.
Tôi thừa nhận - Cái đó thật khó.
— Khó? (Chiếc gạt tàn của bà ta có hình một cô gái cuộn người lại). Không thể thế được! Vẻ đẹp hoàn toàn xa với mọi định nghĩa. Khi cái đẹp biểu lộ, cậu biết. Mặt trời lên trong mùa đông ở vùng Toronto bẩn thỉu, người yêu mới trong quán cà phê cũ, những con chim ác trên mái nhà thật ghê tởm. Nhưng có tạo ra được cái đẹp của những thứ này? Không, cái đẹp ở đây, chỉ thế thôi. Cái đẹp ở đây.
— Nhưng... - tôi ngần ngừ, tự hỏi mình có nên nói điều này ra không.
— Một trong những yêu cầu của tôi - bà ta nói - là cậu nói ra suy nghĩ của mình!
— Bà chỉ chọn những thứ tự nhiên. Thế còn hội hoạ, âm nhạc. Chúng ta nói “Thợ gốm làm ra một cái bình đẹp”, phải không?
— Chúng ta nói, chúng ta nói. Hãy cẩn thận với việc nói. Ngôn từ bảo rằng “Anh đã nêu ra được ý niệm này, khái niệm này, nghĩa là anh đã túm được nó”. Không, chúng nói dối, hoặc không phải nói dối thì nói thật vụng về. Thật vụng về. Thợ gốm làm ra cái bình, đúng, nhưng chưa tạo ra cái đẹp. Đó chỉ là một vật thể cho nó tồn tại, cho tận tới lúc cái bình bị rơi vỡ. Đó là số phận cuối cùng của mọi chiếc bình.
— Nhưng - tôi vẫn chưa hài lòng - phải một vài người nào đó, ở nơi nào đó biết cái đẹp là gì? Trong một trường đại học chẳng hạn?
— Trường đại học? - bà ta phát ra một âm thanh có lẽ là tiếng cười - cái không thể lường được lại có thể đánh giá được, nhưng liệu có thể trả lời thì không. Có thể hỏi một triết gia nhưng hãy thận trọng. Nếu cậu nghe thấy “Eureka!”, nếu cậu nghĩ “Câu trả lời của ông ta trúng câu hỏi của tôi!” thì đó chính là bằng chứng cho thấy ông ta là kẻ giả danh. Nếu triết gia của cậu đã thực sự rời khỏi hang của Plato[86], nếu ông ta đã nhìn sâu vào mặt trời của những kẻ mù... - bà ta bấm đốt tay đếm ba khả năng - ông ta là kẻ điên, hoặc những câu trả lời của ông ta chỉ là những câu hỏi giả danh câu trả lời, hoặc ông ta im lặng. Im lặng bởi cậu có thể biết hoặc cậu có thể nói, nhưng cả hai thì không. Cốc của tôi hết rồi.
Những giọt cuối cùng là những giọt lớn nhất.
— Bà có phải là nhà thơ không? (Suýt nữa tôi nói “bà cũng”).
— Không, danh hiệu đó rất nguy hiểm. Nhưng hồi trẻ, tôi thân với vài nhà thơ. Robert Graves đã viết một bài thơ về tôi, không phải bài hay nhất của ông ta đâu. William Carlos đã đề nghị tôi bỏ chồng và... - bà ta thốt ra những từ này như thể một người diễn kịch câm - chạy trốn với người tình. Rất lãng mạn, nhưng tôi lại có một cái đầu thực dụng mà ông ta lại cơ cực như...épouvantail, một...cậu gọi một người đứng giữa đồng dọa chim là gì nhỉ?
— Bù nhìn?
— Bù nhìn, chính xác đấy. Thế nên ta nói với ông ấy “Quỷ bắt anh đi, Willy, tâm hồn chúng ta ăn thơ để sống, nhưng mỗi người phạm tới bảy tội chết người để kiếm cái mà nhai!” Ông ấy thù triết lý của ta. Thi sĩ là những người biết lắng nghe, nếu họ không bị đầu độc. Nhưng những người viết tiểu thuyết - quý bà Crommelynck làm vẻ mặt tởm quá - là những kẻ mắc bệnh loạn tinh thần, là bọn điên, bọn dối trá. Henry Miller sống ở thuộc địa của chúng ta ở Taormina. Một con lợn, một con lợn đẫm mồ hôi và Hemingway, cậu biết chứ?
Tôi đã nghe về ông này nên gật đầu.
— Con lợn dâm đãng nhất trong trại! Những nhà điện ảnh? Phì, phì, là thần Dớt nhỏ bé trong vũ trụ của chúng. Thế giới là bộ phim của riêng chúng. Charlie Chaplin nữa, ông ta là láng giềng của ta ở Geneva, sống bên kia hồ. Một Dớt nhỏ bé quyến rũ, nhưng là một Dớt nhỏ bé. Còn các danh họa? Họ ép tim mình đến khô để lấy bột màu. Chẳng trái tim nào dành cho con người. Hãy xem con dê Andalusia - Picasso. Những tay viết tiểu sử đến đề nghị ta kể những câu chuyện về lão, cầu xin, gạ nhận tiền. Nhưng ta bảo: “Quỷ bắt các người đi, ta không phải là một cái máy hát bằng xương thịt. Các nhà soạn nhạc? Cha của ta là một người thế, Vyvyan Ayrs. Tai ông ta đã cháy vì nghe nhạc của mình. Ta hay mẹ ta thì ông ấy rất hiếm khi nghe. Có vẻ vĩ đại trong thế hệ của ông ấy, nhưng bây giờ ông ấy đã bị ném khỏi kho và sống lưu vong ở Zedelghem, phía Nam Bruges. Điền trang của mẹ ta ở đó. Tiếng mẹ đẻ của ta là Flanders. Như cậu nghe thấy đấy, Anh ngữ không phải thứ tiếng ta nói tốt. Cậu nghĩ ta là người Pháp?
Tôi gật đầu.
— Người Bỉ. Số phận của những láng giềng lặng lẽ dễ bị nhầm với những láng giềng ồn ào sống cạnh. Nhìn con vật kia! Trên bãi cỏ, gần cây phong lữ ấy...
Trong khoảnh khắc, chúng tôi theo dõi sự co bóp của trái tim một con sóc.
Rồi nó biến mất.
Quý bà Crommelynck bảo tôi - Hãy nhìn tôi!
— Cháu đang nhìn mà.
— Không, cậu đâu có nhìn. Ngồi đây.
Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu. (Tôi tự hỏi phải chăng quý bà Crommelynck có quản gia bởi chân bà ta có vấn đề gì đó) - Được rồi.
— Đừng có che đậy bằng “Được”. Ngồi gần hơn. Ta không cắn đứt đầu các cậu bé đâu. Ta không làm thế khi đang no bụng. Nhìn đi!
Có một nguyên tắc là không được nhìn quá chăm chú vào mặt người khác. Quý bà Crommelynck đang lệnh cho tôi phá vỡ nguyên tắc đó.
— Nhìn sát hơn.
Từ những thứ màu xanh tím, tôi ngứi thấy mùi sợi, mùi nước hoa làm từ hổ phách và thứ gì đó đang thối rữa. Rồi một điều kỳ dị xảy ra, bà già biến thành điều kỳ dị đó. Chỗ hõm xuống làm tròng mắt và mí mắt đảo lộn, lông mi dính lại thành các đầu nhọn. Những vùng mạch máu nhỏ li ti bò lan sang các vùng lòng trắng. Những mống mắt nhìn lờ mờ như thể đá cẩm thạch bị chôn lâu dưới đất. Đồ trang điểm phủ một lớp bụi lên da ướp. Cái mũi làm từ xương sụn đang tụt vào lỗ trên hộp sọ.
— Cậu có thấy cái đẹp ở đây? - điều kỳ dị nói bằng giọng không chuẩn.
Phép lịch sự bảo tôi trả lời “Có”.
— Đồ nói dối! - nó lui lại và trở thành quý bà Crommelynck - Ba mươi, bốn mươi năm trước thì đúng. Cha mẹ ta đã tạo ra ta theo cách thông thường, giống như thợ gốm tạo ra chiếc bình. Ta lớn thành một cô gái. Trong gương, đôi môi quyến rũ của ta nói với đôi mắt xinh đẹp của ta rằng: “Bạn chính là tôi”. Đám đàn ông bày mưu, đánh nhau, tôn thờ, lừa dối, đốt tiền vì những hành động ngông cuồng, để giành được vẻ đẹp đó. Cái tuổi vàng ngọc của ta.
Có tiếng búa gõ ở một căn phòng cách xa.
— Nhưng cái đẹp của con người rơi rụng dần. Cậu bỏ quên giai đoạn khởi đầu. Người này bảo người kia Không, do tôi thấy mệt mỏi hay Ngày hôm nay thật tệ, chỉ thế thôi. Nhưng sau đó chẳng ai cài lại được chiếc gương. Từng ngày qua đi, nó cứ rơi rụng dần cho tới lúc chỉ còn lại là mụ phù thủy, để rồi phải viện tới thuốc độc hại của những thợ làm đẹp để làm cho giống cái thứ mà từ khi sinh ta đã được ban tặng. Ôi, người ta nói “Bà già vẫn còn đẹp!”. Họ hạ cố, họ nịnh bợ, có lẽ họ muốn tốt cho chính mình. Nhưng không, ăn mất gốc rễ của cái đẹp là một... - quý bà Crommelynck dựa hẳn vào chiếc ngai cọt kẹt, như kiệt sức - cậu nói thế nào, một con sên không có vỏ.
— Một con sên trần?
— Tham lam vô độ. Một con sên trần không thể tiêu diệt. Thuốc lá của ta ở quái đâu hết rồi?
Cái hộp đã rơi xuống chân bà ta, tôi nhặt và đưa lại.
— Bây giờ hãy về - bà ta nhìn đi chỗ khác - thứ bảy tuần sau trở lại, lúc 3 giờ, ta sẽ nói cho cậu nghe thêm lý do tại sao các bài thơ của cậu không đạt. Hoặc đừng quay lại. Một trăm tác phẩm khác đang chờ đợi. Quý bà Crommelynck nhặt lên cuốn Le Grand Meaulnes (Kẻ lãng du – Alain Fournie)(ND), ngồi lại và bắt đầu đọc. Hơi thở của bà kêu to như tiếng còi nên tôi tự hỏi liệu bà có bị ốm.
— Cảm ơn bà, thế thì...
Hai chân tôi đã tê cứng.
Khi quý bà Crommelynck chú ý, tôi đã ra khỏi nhà quan sát mặt trời.
Tiếng đàn ong bay vo vo trong bụi oải hương. Chiếc Volvo đầy bụi vẫn nằm trên lối xe chạy, vẫn cần rửa. Tôi chẳng nói với ba hay mẹ hôm nay mình sẽ đi đâu. Kể với ba mẹ về quý bà Crommelynck nghĩa là: a) thú nhận tôi là Eliot Bolivar, b) tôi vẫn chưa trả lời được hai mươi câu hỏi bà ấy là ai, vì bàn tay là một hình vẽ bằng những nét chấm không được đánh số, c) sẽ được nhắc không quấy rầy bà ấy. Trẻ con không được thăm các bà già nếu họ không phải bà, bác, cô, thím, dì hay mợ của mình.
Tôi bấm chuông.
Nhà sở mất hàng tiếng mới nghe thấy tiếng chuông.
Chẳng có ai. Bà ấy ra ngoài đi dạo chăng? Tuần trước ông quản gia không để tôi lâu thế này.
Tôi dùng đến búa gõ cửa, chắc chắn rằng nó không vô dụng.
Tôi đã đạp xe như điên tới đây bởi đã muộn 30 phút. Tôi nghĩ rằng quý bà Crommelynck có thái độ của một vị tướng chiến trường đối với việc đúng giờ, nhưng dường như chẳng có thứ gì hết. Tôi đã mượn cuốn Ông già và biển cả của Ernest Hemingway từ thư viện chỉ vì quý bà Crommelynck đã nhắc tới ông ấy. (Phần giới thiệu nói rằng khi được đọc trên đài, cuốn sách này khiến nhiều người Mỹ oà khóc. Nhưng nó chỉ nói về một lão già bắt một con cá dữ. Nếu người Mỹ khóc vì chuyện này thì chuyện gì họ chẳng khóc được). Tôi vò mấy bông hoa oải hương trong lòng bàn tay và ngửi. Oải hương là thứ mùi tôi thích, sau mùi bút xoá Tip-Exx và vỏ của thịt xông khói. Tôi ngồi xuống bậc thềm, chẳng biết sẽ phải đi đâu.
Khi tôi đạp xe tới đây, những chuyện rắc rối do ảo ảnh tạo ra hiện lên lờ mờ trên đường Welland.
Suýt nữa thì tôi ngủ trên những bậc thềm nóng.
Như bọn kiến trần trụi.
Chiếc then cửa rít lên như tiếng súng rồi ông quản gia mở cửa - Cậu lại đến đấy à - hôm nay ông ấy mặc một chiếc áo nịt len của dân chơi gôn - cậu phải bỏ giày ra.
— Cảm ơn ông - khi tụt giày ra tôi nghe thấy tiếng piano hoà theo là tiếng violin nhè nhẹ. Tôi hy vọng quý bà Crommelynck không có khách. Khi có ba người thì có thể xuất hiện cả trăm người, cầu thang cần sửa. Một chiếc ghi-ta xanh dùng để đỡ lấy đồ được đặt trên một chiếc ghế gãy. Trong chiếc khung trang trí lòe loẹt, một người đàn bà nằm ườn ra chiếc thuyền thúng trên một cái ao bị lấp. Một lần nữa ông quản gia lại đưa tôi vào phòng quan sát mặt trời (Tôi xem từ “solarium”, nó chỉ có nghĩa là một căn phòng thoáng khí). Thứ tự các cửa chúng tôi đi qua khiến tôi nghĩ về tất cả những căn phòng trong quá khứ cũng như tương lai của tôi. Phòng bệnh viện mà tôi đã sinh ra, những lớp học, lều, nhà thờ, văn phòng, khách sạn, bảo tàng, nhà hộ sinh, căn phòng tôi sẽ chết. (Nó được xây chưa nhỉ?). Xe hơi là phòng, rừng cũng vậy. Bầu trời là trần, khoảng cách là những bức tường. Dạ con là phòng làm từ các bà mẹ. Mộ là những căn phòng làm từ đất.
Tiếng nhạc to dần.
Một chiếc máy quay đĩa Jules Verne âm thanh nổi có các nút và mặt tráng bạc chiếm một góc phòng quan sát mặt trời. Quý bà Crommelynck ngồi trên chiếc ngai mây, nhắm nghiền mắt và lắng nghe. Cứ như thể tiếng nhạc là một phòng tắm ấm áp. (Và tôi biết bà ấy sẽ chẳng nói gì trong vài phút nên tôi ngồi xuống chiếc sô-pha không tay vịn). Một đĩa cổ điển dung lượng lớn đang chạy. Chẳng có gì giống những tiếng “tưng tưng” mà thầy Kempsey chơi trong tiết âm nhạc. Thứ nhạc này ngọt ngào và hờn ghen, thổn thức và sáng rỡ, mờ mịt và trong suốt. Nhưng nếu những ngôn từ chính xác như vậy tồn tại thì đã chẳng cần tới âm nhạc.
Chiếc đàn piano biến mất. Bây giờ tiếng sáo hoà cùng tiếng violin.
Một lá thư viết dở nằm trên bàn của Eva Crommelynck. Chắc chắn bà đã cho chiếc đĩa kia vào khi không nghĩ phải viết câu tiếp theo thế nào. Một chiếc bút to bằng bạc nằm trên trang thư bà vừa dừng lại. Tôi phải kìm chế lắm mới không cầm nó lên đọc.
Chiếc kim máy hát va vào giá đĩa - Cái không thể nguôi - quý bà Crommelynck nói - lại có khả năng an ủi - bà ta chẳng có vẻ gì vui khi thấy tôi - Cậu đeo mẩu quảng cáo gì ở ngực thế?
— Quảng cáo gì ạ?
— Mẩu quảng cáo trên áo len của cậu.
— Đây là áo đội bóng Liverpool của cháu. Cháu đã ủng hộ đội này từ khi cháu 5 tuổi.
— HITACHI nghĩa là gì?
— Liên đoàn bóng đá Anh thay đổi quy định nên các đội bóng có thể mang biểu tượng của nhà tài trợ. Hitachi là một công ty điện tử. Cháu nghĩ đây là một công ty ở Hồng Kông.
— Thế các cậu trả tiền cho một tổ chức để được quảng cáo cho họ à? Tiếp nào. Trong may mặc, ẩm thực, người Anh dễ tự gây tổn thương không thể tả. Nhưng hôm nay cậu muộn rồi.
Giải thích những chuyện liên quan đến ông Blake sẽ mất quá nhiều thời gian. Tôi không thể nhớ bao nhiều lần mẹ, ba và cả Julia (khi chị ấy cảm thấy hằn học) từng nói Chúng ta sẽ không nói thêm gì về chuyện đó, nhưng năm phút sau lại xới nó lên. Thế nên tôi chỉ bảo quý bà Crommelynck rằng tôi phải tự rửa bát trong một tháng để bù cho một thứ mình đã làm vỡ, hôm nay lại ăn trưa muộn bởi mẹ quên rã đông cái đùi cừu.
Quý bà Crommelynck chán ngấy trước khi tôi kịp kết thúc. Bà ra hiệu, trỏ chiếc chai đựng rượu đặt trên chiếc bàn khảm trai - Hôm nay cậu uống chứ?
— Cháu chỉ được phép uống một hớp vào những dịp đặc biệt.
— Nếu hầu chuyện ta không được coi là “đặc biệt”, hãy rót vào cốc của ta.
(Vang trắng có mùi hoa quả của hãng Granny Smiths, có mùi thuốc ngủ để lạnh và những bông hoa li ti).
— Luôn rót sao cho người ta vẫn thấy nhãn rượu! Nếu rượu vang ngon, người được cậu rót cần phải biết. Nếu rượu tồi, cậu đáng phải xấu hổ.
Tôi tuân lệnh. Một giọt rượu chảy xuống cổ chai.
— Thế hôm nay ta sẽ biết tên thật của cậu hay ta vẫn phải bày tỏ lòng mến khách với một kẻ lạ mặt giấu mình dưới một bút danh lố bịch?
Thậm chí Gã treo cổ còn ngăn tôi nói Xin lỗi. Tôi thấy nóng người, tuyệt vọng và giận dữ nên tự nhiên lại buột ra “Xin lỗi!” nhưng lại to đến mức nghe như thô lỗ.
— Lời xin lỗi lịch thiệp của cậu không trả lời được câu hỏi của tôi.
Tôi lầm bầm “Jason Taylor” và muốn khóc.
— Jay nào? Phát âm rõ xem! Tai tôi cũng già như tôi vậy! Tôi không cài tai nghe để nghe từng lời thì thầm đâu!
Tôi ghét cái tên của tôi - Jason Taylor. Vô vị như mấy đơn thuốc bị nhai nát.
— Nếu cậu là một Adolf Quan tài hay Pius Đần độn thì ta hiểu. Nhưng tại sao lại giấu “Jason Taylor” dưới một nghệ sĩ theo trường phái tượng trưng và một nhà cách mạng Mỹ La-tinh?
Chắc hẳn tôi đã Hử?
— Eliot! T.S! Bolivar! Simon!
— Chỉ vì Eliot Bolivar nghe...thơ hơn.
— Cái gì thơ hơn Taylor - một anh hùng Hellen? Ai đã đặt nền móng cho văn học châu Âu nếu không phải người Hy Lạp cổ? Không phải nhóm trộm mộ của Eliot, tôi đảm bảo với cậu! Và một nhà thơ là gì nếu ông ta không là thợ may những con chữ? Nhà thơ và thợ may kết nối thứ mà không ai khác có thể kết nối, họ giấu nghề của mình bằng chính nghề đó. Không, ta không chấp nhận câu trả lời của cậu. Ta tin vào sự thật rằng cậu sứ dụng bút danh bởi cậu thấy việc mình làm thơ là một bí mật đáng xấu hổ, đúng không?
— “Xấu hổ” không phải một từ chính xác.
— Vậy thì từ nào mới chính xác?
— Làm thơ... - tôi nhìn quanh nhà quan sát mặt trời nhưng quý bà Crommelynck đã soi thẳng vào tôi... - là gay.
— “Gay”? Một việc vui vẻ hả?
Thế này thì thật vô vọng - Làm thơ là việc...bọn đàn ông ẻo lả hay làm.
— Thế cậu là một trong số bọn đàn ông ẻo lả đó?
— Không!
— Thế thì lý luận của cậu vẫn cứ lảng tránh tôi.
— Nếu cha của bà là một nhà soạn nhạc nổi tiếng và mẹ bà là một quý tộc, bà có thể làm những việc mà bà không thể làm khi bố bà làm ở các siêu thị của Greenland và bà học trường phổ thông. Làm thơ là một trong số những việc đó.
— Aha! Sự thật! Cậu sợ những kẻ thô lỗ đầy lông lá sẽ không cho cậu vào bộ tộc của chúng nếu như cậu làm thơ.
— Vâng, đó ít nhiều là lý do...
— Nhiều? Hay là ít? Chính xác thì đâu là từ đúng?
Đôi lúc bà ta thật khó chịu - Lý do là thế, chính xác.
— Và cậu muốn trở thành một kẻ thô lỗ đầy lông lá?
— Cháu là trẻ con, cháu mới 13 tuổi. Bà đã nói rằng 13 là tuổi tội nghiệp, bà đúng. Nếu không hoà vào chúng, chúng làm cho đời ta khốn khổ. Như Floy Chaceley và Nicholas Briar.
— Bây giờ thì cậu đang nói như một nhà thơ thực sự.
— Cháu không hiểu khi bà nói những điều như vậy!
(Nếu là mẹ thì mẹ đã bỏ đi, Đừng nói với mẹ với cái giọng như thế!).
— Ta muốn nói rằng - quý bà Crommelynck gần như đã hài lòng - cậu là con người đúng với những ngôn từ của cậu.
— Thế nghĩa là gì?
— Cậu trung thực một cách hoàn hảo.
— Bất kỳ ai cũng trung thực được.
— Nói về bề ngoài, Jason, thì đúng, dễ thôi. Nhưng về nỗi đau thì không. Thế nên cậu cần một cuộc sống hai mặt. Một Jason Taylor tìm cách được bọn thô lỗ lông lá chấp nhận. Một Jason Taylor khác là Eliot Bolivar tìm cách được thế giới văn chương chấp nhận.
— Cái đó không thể thực hiện được?
— Nếu cậu muốn làm một kẻ xếp vần - bà lắc chỗ rượu trong cốc tạo thành xoáy - thì rất khả thi. Nếu cậu là một nghệ sĩ thực sự - bà nhấp một ngụm rượu - thì tuyệt đối chẳng bao giờ có. Nếu cậu không nói thật với thế giới cậu là ai, là cái gì thì nghệ thuật của cậu sẽ bốc mùi giả dối.
Tôi không tìm được câu trả lời cho điều đó.
— Không ai biết những bài thơ của cậu? Một giáo viên? Một bạn thân?
— Thực ra chỉ có bà thôi.
Mắt quý bà Crommelynck lấp lánh, chắc chắn không phải do ánh sáng bên ngoài - Cậu giấu thơ cả với người yêu của cậu à?
— Không - tôi nói - cháu, à, không.
— Không giấu thơ hay không có người yêu?
— Cháu không có bạn gái.
Nhanh như một khấu súng bắn nhanh, bà ta hỏi - Cậu thích con trai hơn?
Tôi vẫn không thể tin là bà ta nói thế - Cháu bình thường!
Những ngón tay của bà ta gõ nhịp trên chồng tạp chí như muốn nói Bình thường?
— Thật ra cháu có thích một đứa con gái - tôi buột miệng nói, mục đích để thanh minh - Dawn Madden. Nhưng nó có bạn trai rồi.
— Ô hô! Vậy bạn trai của Dawn Madden là một nhà thơ hay một kẻ thô lỗ? (Bà ta khoái chí vì cách moi được cái tên Dawn Madden từ tôi).
— Ross Wilcox là một thằng ngu chứ không phải nhà thơ. Nhưng nếu bà có gợi ý cháu viết thơ cho Dawn Madden thì không đâu, cháu sẽ thành trò cười ở làng.
— Tuyệt đối đúng, nếu cậu sáng tác những vần thơ về Thần tình yêu hay những lời khuôn sáo, cô Madden sẽ vẫn tiếp tục bám lấy thằng ngu vàcậu chỉ nhận được sự nhạo báng. Nhưng nếu một bài thơ là cái đẹp và sự chân thành, cô Madden sẽ quý những ngôn từ của cậu hơn tiền bạc, hơn bất kỳ bằng cấp nào, ngay cả khi cô ấy già như ta.
— Nhưng - tôi lảng chủ đề này - bao nhiêu nghệ sĩ chẳng dùng bút danh đó sao?
— Ai?
— Ừm... - chỉ có hai cái tên Cliff Richard và Sid Vicious xuất hiện trong đầu tôi.
Một chiếc điện thoại bắt đầu đổ chuông.
— Thơ đúng nghĩa là sự trung thực. Nhưng sự trung thực không phổ biến nên thơ cũng thế.
— Nhưng... trung thực về cái gì?
— Ồ, cuộc sống, cái chết, con tim, ký ức, thời gian, nỗi sợ hãi. Bất kỳ cái gì. (Có vẻ ông quản gia cũng không trả lời điện thoại). Trung thực có ở mọi nơi, giống như hạt giống, ngay cả những điều lừa dối cũng chứa những yếu tố của sự trung thực. Nhưng con mắt bị mờ đi vì những thứ tầm thường, định kiến, lo lắng, bê bối, việc thanh toán nhau, những ham thích, sự buồn chán, và tệ nhất là tivi. Cái máy đáng khinh bỉ. Trong nhà quan sát mặt trời này của ta từng có tivi. Khi ta đến, ta đã ném nó vào hầm, nó đang xem ta. Một nhà thơ ném mọi thứ vào hầm, trừ sự trung thực. Jason, có chuyện gì à?
— Ơ... điện thoại nhà bà đang đổ chuông.
— Ta biết một máy điện thoại đang đổ chuông! Có thể cho nó xuống địa ngục! Ta đang nói chuyện với cậu! (Nếu nhà có cháy ba mẹ tôi cũng xông vào nhà nếu họ nghĩ mình đang có điện thoại chờ). Cách đây một tuần, chúng ta đồng ý rằng Cái đẹp là gì? là câu hỏi không thể trả lời. Còn hôm nay lại là một bí ẩn lớn hơn. Nếu một nghệ thuật trung thực và hoàn toàn không có sự giả tạo thì thật sự nó chính là cái đẹp.
Tôi cố gắng tiêu hoá những điều này.
(Cuối cùng tiếng chuông điện thoại cũng dứt).
— Bài thơ hay nhất của cậu nằm ở đây - bà ta lật qua mấy cuốn tạp chí của giáo xứ - là bài “Gã treo cổ”. Nó chứa đựng những phần sự thật về khó khăn trong phát âm của cậu, ta đúng chứ?
Một nỗi hổ thẹn tương tự làm tôi nghẹn họng, nhưng tôi gật đầu.
Tôi nhận ra rằng chỉ trong những bài thơ của mình tôi mới bộc lộ hết được những điều mình muốn nói.
— Tất nhiên là ta đúng. Nếu “Jason Taylor” là cái tên ở đây chứ không phải “Eliot Bolivar, tiến sĩ, OBE (được tặng thưởng huân chương của vương quốc Anh), RIP (đã nghỉ ngơi trong yên bình), BBC (được giải Sách hay nhất)” - bà ta di di trang tạp chí có in bài “Gã treo cổ” - sự thực sẽ tạo nên hổ thẹn khủng khiếp nhất trước những kẻ thô lỗ lông lá ở làng Thiên nga đen, đúng chứ?
— Khi đó cháu có thể tự treo cổ.
— Phù? Eliot Bolivar có thể tự treo cổ nhưng cậu thì phải viết. Nếu cậu còn sợ cho xuất bản thơ với cái tên của mình thì đừng nên xuất bản nữa. Nhưng thơ có sức sống hơn cậu nghĩ. Trong nhiều năm tôi đã hỗ trợ Tổ chức ân xá quốc tế. ( Julia thường nói về tổ chức này). Thơ vẫn sống trong những xà lim, những khu giam giữ, những phòng tra tấn. Ngay trong cái hố đau khổ đó thơ vẫn có tác dụng. Merdegate, không, chỗ quái nào trên biển Manche, tôi hay quên thế nhỉ... - bà ta vồ trán để cái tên bật ra - Margate[87]. Vì vậy hãy tin tôi, trường phổ thông không ghê gớm đâu.
— Thứ âm nhạc mà cháu nghe được khi bước vào có phải là nhạc của cha bà không? Bản nhạc rất hay. Cháu không biết rằng có loại nhạc hay như vậy.
— Bộ sáu của Robert Frobshier. Đó là người ghi chép cho cha ta khi ông ấy quá già, quá mù lòa, quá yếu tới mức không thể cầm nổi cây bút.
— Cháu đã tìm tên Vyvyan Ayrs trong từ điển bách khoa Britannica ở trường.
— Ồ, thế tác giả sùng kính cha ta thế nào?
Phần đó ngắn đến mức tôi có thể thuộc - Nhà soạn nhạc người Anh sinh năm 1870 tại Yorkshire, mất năm 1932 ở Neerbeke, Bỉ. Các tác phẩm nổi bật: Matruschyka Doll Variations, Untergehen Violinkonzert và Tottenvogel....
- Die TODtenvogel! TODtenvogel!
— Cháu xin lỗi. Khi sinh thời rất được trọng vọng ở châu Âu. Ngoài những dòng chú thích về âm nhạc thế kỷ 20, bây giờ Ayrs rất ít được nhắc tới.
— Tất cả có thế thôi à?
Tôi đã hy vọng là bà ấy rất ấn tượng kia.
— Một bài tán dương trang trọng - bà ta nói dứt khoát như không.
— Nhưng thật tuyệt khi có một người cha là nhà soạn nhạc.
Tôi giữ chắc chiếc bật lửa có con rồng khi bà hạ thấp đầu điếu thuốc xuống ngọn lửa - Ông ấy đã gây những bất hạnh khủng khiếp cho mẹ ta - bà hít vào rồi nhả ra một làn khói run rẩy - cho đến tận hôm nay, vẫn rất khó tha thứ. Khi bằng tuổi cậu, ta đi học ở Bruges và chỉ cuối tuần mới được gặp cha. Ông ấy có bệnh, có âm nhạc của ông ấy, chúng ta không liên lạc với nhau. Sau khi chôn cất cha, ta muốn hỏi ông ấy cả ngàn điều. Quá muộn, chuyện cũ rồi. Gần đầu cậu có một cuốn album ảnh. Đúng, cuốn đó, đưa cho ta.
Một cô gái chừng tuổi Julia ngồi trên lưng một con ngựa con đứng dưới gốc cây lớn, khi đó chưa có ảnh màu. Một lọn tóc uốn sát má, hai đùi kẹp chặt vào hông ngựa.
— Chúa ơi - ý nghĩ của tôi bật thành tiếng - cô ấy tuyệt quá!
— Phải. Dù cái đẹp có là gì chăng nữa thì những ngày đó ta đã có nó. Hoặc là nó có ta.
— Bà? - giật mình, tôi so sánh quý bà Crommelynck với cô gái trong ảnh - cháu xin lỗi.
— Thói quen dùng từ đó làm giảm tầm cỡ của cậu đấy. Nefertiti là con ngựa con đẹp nhất của ta. Khi ta và Grigorie bỏ trốn tới Thụy Điển khoảng bảy, tám năm sau khi chụp tấm ảnh này, ta đã giao phó nó cho nhà Dhondt, họ là bạn bè của gia đình ta. Nhà Dhondt bị giết năm 1942, khi bọn phát xít chiếm đóng. Cậu tưởng tượng họ là những anh hùng kháng chiến? Không, đó chỉ là do chiếc xe thể thao của Morty Dhondt. Phanh xe bị hỏng, thế là bùm. Ta không biết số phận của Nefertiti ra sao. Nếu ta thực tế thì có thể tưởng tượng nó bị nấu làm keo, làm nước sốt, món hầm cho bọn chợ đen, bọn Digan, bọn sĩ quan quốc xã. Tấm ảnh này chụp ở Neerbeke năm 1929, 1930...phía sau cây kia là Zedelghem Chateau, nhà của tổ tiên ta đấy.
— Nó vẫn thuộc về bà?
— Nó không còn tồn tại nữa. Người Đức đã xây một sân bay ở chỗ cậu nhìn thấy, rồi người Anh, người Mỹ cũng thế... - bàn tay của bà ta làm hiệu bùm - đá, hố bom đạn, bùn đất. Bây giờ là tất cả các lô nhà nhỏ, một trạm xăng, một siêu thị. Căn nhà của chúng ta từng tồn tại trong một nửa thiên niên kỷ nay chỉ còn lại trong vài cái đầu già nua, cả trong vài tấm ảnh cũ. Cô bạn thông thái Susan của ta đã viết thế này: “Bằng cách cắt rời và đóng băng khoảnh khắc này...” - quý bà Crommelynck ngắm nghía cô gái một thời chính là bà và gẩy tàn thuốc – “tất cả những bức ảnh làm nổi rõ sự hủy hoại đầy nhẫn tâm của thời gian”.
Một con chó buồn bã sủa lên cách một hay hai khu vườn.
Một cô dâu và một chú rể đang tạo dáng trong một nhà thờ nhỏ xây bằng đá. Những nhánh cây trơ trụi cho biết khi đó là mùa đông. Đôi môi mỏng của chú rể như nói Xem tôi đã có được gì này. Một chiếc mũ chóp cao, một cây gậy, một nửa ông ta trông giống cáo. Nhưng cô dâu thì một nửa sư tử. Nụ cười của cô ta là ý tưởng về một nụ cười. Cô ấy biết về người chồng mới của mình nhiều hơn anh ta biết về cô. Phía trên cửa nhà thờ, một phụ nữ bằng đá nhìn chăm chú hiệp sĩ đá của cô. Những người bằng xương bằng thịt nhìn vào ống kính máy ảnh nhưng những người bằng đá nhìn xuyên qua cả ống kính máy ảnh vào ta.
— Những người sản xuất ra ta, quý bà Crommelynck nói.
— Cha mẹ bà? Họ có tốt không? - Điều này nghe có vẻ ngốc.
— Cha ta chết vì bệnh giang mai, bách khoa toàn thư của cậu không nói tới điều đó. Đó không phải một cái chết “hay”, ta khuyên cậu nên tránh. Cậu biết đấy, thời đại đó (thời đại là một tiếng thở dài) khác. Những cảm xúc không được bộc lộ tự do, ngay cả trong tầng lớp của ta khi đó. Mẹ ta, ôi, bà ấy có khả năng yêu thương cuồng nhiệt nhưng khi đã giận dữ thì thật khủng khiếp. Bà ấy áp đặt quyền lực của mình đối với mọi kẻ bà ấy chọn. Không, ta nghĩ không “hay”. Chỉ hai năm sau bà ấy chết vì chứng phình mạch.
Lần đầu tiên trong đời, tôi nói “Cháu rất tiếc” như mọi người cần phải nói.
— Thật may mắn cho bà ấy vì không phải chứng kiến cảnh Zedelghem bị phá hủy - quý bà Crommelynck nâng cặp kính để nhìn gần hơn tấm ảnh cưới - Trẻ thế! Những tấm ảnh làm ta quên thời gian tiến về trước hay lùi về sau. Không, những tấm ảnh làm ta tự hỏi liệu thời gian tiến về trước hay lùi về sau. Cốc của ta hết rồi, Jason.
Tôi rót rượu cho bà, cho nhãn rượu quay ra đúng yêu cầu.
— Ta chưa bao giờ hiểu nổi cuộc hôn nhân của họ, sự giả dối của nó. Còn cậu thì sao?
— Cháu? Cháu có hiểu cuộc hôn nhân của cha mẹ cháu không à?
— Đó là câu hỏi của ta.
Tôi nghĩ một cách khó khăn - Cháu (Gã treo cổ giữ chặt từ “chưa bao giờ” và không chịu bỏ ra), trước đây cháu chưa bao giờ nghĩ đến điều đó. Cháu muốn bảo...ba mẹ cháu vẫn ở cùng nhau. Họ cãi cọ khá nhiều, cháu cho là thế, nhưng khi mâu thuẫn, họ vẫn nói chuyện với nhau nhiều. Họ có thể vui vẻ với nhau. Nếu sinh nhật mẹ mà ba đi vắng thì ba vẫn gửi điện hoa qua dịch vụ Interflora. Nhưng bố cháu phải làm việc hầu hết các dịp cuối tuần bởi kinh tế suy thoái, còn mẹ cháu thì sắp mở phòng trưng bày ở Cheltenham. Bây giờ hình như đang có chiến tranh lạnh về chuyện đó. (Nói chuyện với một số người chẳng khác gì phải đạt đẳng cấp cao hơn khi chơi điện tử). Nếu cháu giống cậu con trai lý tưởng trong phim Little House on the Prairie (Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên), nếu cháu ít hờn dỗi hơn thì có lẽ cuộc hôn nhân của ba mẹ cháu có thể đã (nói chuẩn xác là “sáng sủa hơn” nhưng hôm nay Gã treo cổ hoạt động mạnh) ổn hơn. Julia...(Gã treo cổ lại trêu tôi với những từ tiếp theo) chị gái cháu rất giỏi trêu ba. Điều đó làm ba thích. Và chỉ cần nói dông dài, chị ấy cũng làm cho mẹ vui lên được. Nhưng mùa thu năm nay chị ấy sẽ vào đại học. Khi đó sẽ chỉ còn ba người nhà cháu. Cháu chẳng bao giờ có thể nói ra được những từ đúng, không giống Julia - những kẻ nói lắp thường đau buồn đến mức không cảm thấy tội nghiệp cho bản thân, nhưng tôi cũng có một chút cảm giác thấy tiếc cho bản thân - chưa bao giờ cháu có thể nói ra bất kỳ từ nào cháu muốn.
Phía xa hẳn, ông quản gia đã bật chiếc máy hút bụi lên.
— Ặc - quý bà Crommelynck nói - ta là một mụ phù thủy già tọc mạch.
— Không, bà không phải thế.
Bà già người Bỉ dành cho tôi một cái nhìn sắc nhọn qua cặp kính.
— Không phải lúc nào cũng thế.
Một nghệ sĩ trẻ đang ngồi trên chiếc ghế và chơi piano, dáng điệu thoải mái, đang cười và hút thuốc. Tóc ông vuốt sáp bóng như những ngôi sao điện ảnh thời cũ, nhưng ông ta chẳng trông quý phái. Ông ta trông giống Gary Drake, trong mắt có đinh sắc, trong miệng cười có con sói rình vồ.
— Hãy gặp Robert Frobisher.
— Ông ấy là người - tôi kiểm tra lại - đã viết bản nhạc hay không tin nổi?
— Đúng, ông ấy là người viết bản nhạc hay không tin nổi đó. Robert sùng kính cha ta. Như một môn đệ, một đứa con trai. Họ cùng chia sẻ sự thấu cảm âm nhạc, sự thấu cảm này còn gần gũi hơn cả quan hệ tình dục. (Bà ấy nói “tình dục” giống như bất kỳ từ nào khác). Nhờ Robert mà cha ta có thể sáng tác được kiệt tác cuối cùng, Die Todtenvogel. Ở Warsaw, ở Paris, ở Vienna, trong một mùa hè ngắn ngủi cái tên Vyvyan Ayrs đã trở lại với vinh quang. Ôi, ta là một cô gái ghen tị.
— Ghen tị? Tại sao lại thế?
— Cha ta không ngừng ca ngợi Robert! Thế nên cách đối xử của ta thật đáng xấu hổ. Nhưng sự sùng kính, sự thấu cảm như vậy tồn tại giữa họ, họ rất dễ bị khích động. Tình bạn là thứ êm đềm hơn. Robert rời Zedelghem vào mùa đông.
— Trở lại Anh?
— Robert không có nhà cửa. Cha mẹ ông ấy tước quyền thừa kế của ông ấy. Ông ấy sống trong một khách sạn ở Bruges, mẹ ta cấm ta gặp ông ấy. Năm mươi năm trước, danh tiếng là một tấm hộ chiếu quan trọng. Những thiếu nữ và quý bà dòng dõi đều có một bà đi kèm từng phút. Nhưng dù thế nào đi nữa, ta cũng đâu có muốn gặp. Grigoire và ta đính hôn, Robert có trục trặc gì đó về thần kinh. Cảm hứng, bệnh tật, những phút lóe sáng, bão tố, bình lặng, như một ngọn hải đăng, một ngọn hải đăng bị cô lập. Lẽ ra ông ta có thể làm lu mờ Benjamin Britten, Olivier Messiaen[88], tất cả. Nhưng sau khi ông ấy hoàn thành Bộ sáu của mình, ông ấy tự bắn vào đầu trong phòng tắm khách sạn.
Nghệ sĩ piano trẻ vẫn đang cười.
— Tại sao ông ấy làm thế?
— Tự sát chỉ có một nguyên nhân sao? Vì bị gia đình từ bỏ? Chán đời? Ông ấy đọc quá nhiều bản Nietzsche của cha ta? Ông ấy bị ám ảnh bởi sự trở về vĩnh hằng. Sự trở về là tâm điểm âm nhạc của ông ấy. Chúng ta sống một cuộc sống hoàn toàn giống nhau, Robert tin như vậy, và chết cũng hoàn toàn giống nhau, cứ thế, cứ thế, cứ thế và trở lại nốt thứ ba mươi. Tới sự vĩnh hằng. Hoặc do cái gì đó khác - quý bà Crommelynck châm lại điếu thuốc tắt dở chừng - chúng ta có thể đổ lỗi cho cô gái.
— Cô gái nào?
— Robert yêu một cô gái ngờ nghệch, nhưng không được cô ta đáp lại
— Vậy ông ấy tự sát chỉ vì cô ấy không yêu ông ta?
— Có lẽ đó là một yếu tố. Nó lớn hay nhỏ thì chỉ có Robert mới cho chúng ta biết được.
— Nhưng tự giết mình. Chỉ vì một cô gái.
— Ông ấy không phải người đầu tiên, cũng sẽ không phải người cuối cùng.
— Chúa ơi. Theo bà, cô gái ấy có biết điều đó không?
— Tất nhiên có! Bruges là một thành phố nhưng chỉ như một cái làng, cô ta biết. Và ta đảm bảo với cậu rằng năm mươi năm sau, lương tâm của cô ta vẫn cắn rứt, như bệnh thấp khớp ấy. Cô ta sẽ sẵn sàng trả mọi giá để Robert khỏi chết. Nhưng cô ta có thể làm được gì?
— Bà vẫn giữ liên lạc với cô ấy?
— Đúng, chúng ta thật khó mà tránh nhau - quý bà Crommelynck vẫn không rời mắt khỏi Robert Frobisher - trước khi chết cô gái này muốn được ta tha thứ. Cô ấy cầu xin ta “Khi đó tôi 18 tuổi! Sự tận tâm của Robert chỉ là một...là một...trò phỉnh nịnh đối với tôi! Làm sao tôi có thể biết một con tim đói khát sẽ cắn mất cái đầu? Nó có thể giết cơ thể của mình không?”. Ôi, ta tiếc cho cô ấy. Ta muốn tha thứ cho cô ấy. Nhưng sự thực thế này. (Bây giờ bà nhìn tôi). Ta ghê tởm cô gái đó! Ta ghê tởm cô ta suốt cuộc đời và ta không biết làm thế nào để chấm dứt cảm giác ghê tởm ấy.
Khi Julia thực sự làm tôi nổi điên, tôi thề sẽ không bao giờ nói chuyện với chị ấy nữa. Nhưng đến bữa trà, thường thì vậy, tôi quên sạch - Năm mươi năm giận một người là quãng thời gian dài.
Quý bà Crommelynck gật đầu, rầu rĩ - Ta không khuyên cậu nên thế.
— Bà đã cố gắng vờ tha thứ cho cô ấy?
— Vờ - bà nhìn ra vườn - không phải sự thật. Nhưng cậu đã nói hai thứ đúng, phải không? Thứ nhất là cậu ghét cô gái này. Thứ hai, cậu muốn cô ta ổn hơn. Nếu cậu quyết định rằng sự thực của cái “muốn” quan trọng hơn sự thực của cái “ghét”, chỉ cần nói với cô ta rằng cậu đã tha thứ, mặc dù thực lòng cậu không thể. Chí ít ra cô ta sẽ thấy ổn hơn, có lẽ điều đó cũng sẽ làm cậu thấy ổn hơn.
Quý bà Crommelynck xem kỹ cả hai mặt hai bàn tay của mình vẻ đăm chiêu - Ngụy biện - bà thốt lên.
Tôi không chắc “ngụy biện” nghĩa là gì nên im lặng.
Phía xa, ông quản gia đã tắt máy hút bụi.
— Bộ sáu của Robert bây giờ không thể mua được. Cậu chỉ tình cờ nghe được nhạc của ông ấy trong các nhà sở vào các buổi chiều tháng bảy. Đây là một cơ hội trong đời cậu. Cậu biết sử dụng chiếc máy hát này không?
— Chắc chắn có rồi.
— Thế thì ta hãy nghe mặt kia, Jason.
— Tuyệt quá - tôi đảo chiếc đĩa. Những chiếc đĩa dung lượng lớn loại cổ, dày như đĩa ăn.
Ở mặt A, tiếng kèn clarinet nổi lên và quấn quanh tiếng cello.
Quý bà Crommelynck châm một điếu thuốc mới và nhắm mắt lại.
Tôi nằm xuống chiếc sô-pha không tay vịn. Tôi chưa bao giờ nghe nhạc trong khi nằm. Nếu ta nhắm mắt thì nghe giống như đọc.
Âm nhạc là một khu rừng mà ta đi xuyên qua.
Một con chim hót thỏ thẻ trên bụi cây sao. Mặt quay ở máy chạy đĩa dừng lại và phát tiếng “cạch” khi chiếc kim quay đến điểm cuối cùng. Khi tôi đứng dậy để chuẩn bị châm thuốc, bàn tay quý bà Crommelynck ra hiệu cứ ở nguyên tại chỗ - Nói cho ta nghe, thầy của cậu là những ai?
— Cháu có nhiều thầy cô dạy nhiều môn khác nhau.
— Ý ta là cậu sùng kính những cây bút nào nhất?
— Ồ - tôi lướt lại giá sách để tìm những cái tên thực sự ấn tượng - Isaac Asimov, Ursula Le Guin, John Wyndham.
— Assy-Smurft? Ursula Gunt? Wind-'em? Đây là những thi sĩ hiện đại?
— Không. Viễn tưởng, tưởng tượng. Cả Stephen King. Ông ấy hay viết truyện kinh dị lắm.
— Tưởng tượng? Phù! Hãy nghe những lời thuyết giáo đạo đức của Ronald Reagan! Kinh dị? Afghanistan? Nam Phi? Idi Amin, Mao Trạch Đông, Pol Pot? Có đủ kinh dị không? Ta muốn hỏi ai là sư phụ của cậu? Chekkov?
— Ơ...không.
— Nhưng cậu đã đọc tác phẩm Quý bà Bovary chưa?
Tôi chưa bao giờ nghe tên những cuốn sách của bà ấy - Chưa ạ.
— Thậm chí cũng không đọc - bây giờ bà ta đã phát cáu - Hermann Hesse?
— Chưa ạ - một cách ngu ngốc, tôi lại làm tăng thêm sự phẫn nộ của quý bà Crommelynck - Trong trường bọn cháu không thực sự học nhiều về các tác giả châu Âu....
— Châu Âu? Bây giờ nước Anh trôi sang Caribbean à? Cậu là người châu Phi? Hay người Nam cực? Cậu là người châu Âu, đồ con khỉ mới lớn mù chữ! Thomas Mann, Rilke, Gogol! Proust, Bulgakov, Victor Hugo! Đây là văn hoá của cậu, là những gì cậu được kế thừa, là bộ xương của cậu! Cậu cũng chẳng biết Kafka?
Tôi do dự - Cháu có nghe tên.
— Còn cái này? - bà cầm lên cuốn Le Grand Meaulnes.
— Chưa. Nhưng tuần trước cháu thấy bà đọc.
— Nó là một trong những cuốn kinh thánh của ta, năm nào ta cũng đọc. Thế nên - bà gõ cuốn sách cứng vào tôi khá mạnh, khiến tôi đau điếng - Alain-Fournier là người thầy thực sự đầu tiên của cậu. ông ấy theo trường phái hoài cổ, bi kịch và khiến người ta say mê, ông ấy đau khổ và cậu cũng đau khổ. Và tuyệt vời nhất, ông ấy chân thực.
Khi tôi mở cuốn sách, một loạt từ nước ngoài ùa ra. Il arriva chez nous un dimanche de novembre 189... - Cái này viết bằng tiếng Pháp.
— Bản dịch giữa các thứ tiếng châu Âu không được hay - bà phát hiện ra cái tội của tôi ẩn trong sự im lặng - Ô hô? Các cậu học sinh của Anh thời văn minh những năm 1980 lại không thể đọc một cuốn sách bằng tiếng nước ngoài?
— Chúng cháu có học tiếng Pháp ở trường... - quý bà Crommelynck buộc tôi phải tiếp tục... - nhưng bọn cháu mới chỉ học tới Youpla boum! quyển 2.
— Xìiiiiiiiiiiiiii! Khi 13 tuổi, ta đã nói trôi chảy tiếng Pháp và tiếng Hà Lan. Ta có thể nói chuyện bằng tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Italia. Ặc! Với các vị hiệu trưởng, bộ trưởng giáo dục của cậu, điều hành quá tốt! Không phải chỉ sự kiêu ngạo đâu! Đó là một đứa trẻ quá khờ đến mức không biết cái bỉm của mình đang thối um lên và sắp bục ra! Người Anh các cậu đáng phải chịu đựng chính phủ của Margaret Thatcher! Ta nguyền rủa cho các ngươi phải chịu hai mươi năm dưới thời Thatcher! Có lẽ khi đó cậu sẽ hiểu rằng chỉ biết một ngôn ngữ quả là địa ngục! Dù sao cậu vẫn có một cuốn từ điển và một cuốn sách ngữ pháp tiếng Pháp chứ?
Tôi gật đầu. Julia có.
— Thế thì hãy dịch chương đầu tiên của Alain-Fournier từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, nếu không thì thứ bảy tới đừng trở lại đây. Tác giả không cần đám học sinh phổ thông làm méo mó sự thật ông ấy đưa ra, nhưng ta cần cậu chứng tỏ rằng cậu không làm phí phạm thời gian của ta. Đi đi.
Một lần nữa tôi lại rời nhà sở. Tôi giấu cuốn Le Grand Meaulnes dưới chiếc áo của câu lạc bộ Liverpool. Bị đẩy khỏi Ma quỷ đã ném tôi vào nhà tù của sự không ưa. Bị phát hiện mang theo một cuốn tiểu thuyết Pháp sẽ đưa tôi lên ghế điện.
Trong suốt tiết học giải trí vào buổi cuối cùng trước khi nghỉ hè, trời nổi sấm liên tục. Khi chúng tôi về đến làng Thiên nga đen thì mưa như trút. Xuống xe buýt, Ross Wilcox đẩy mạnh giữa hai vai tôi khiến tôi ngã ngồi xuống vũng nước mà các ống máng xả xuống. Ross Wilcox, Gary Drake và Wayne Nashend cười như điên với nhau. Bọn con gái ngốc nghếch thì quay đi và cười khúc khích dưới những cái ô. (Thật bí ẩn là lúc nào bọn con gái cũng gợi tới những cái ô). Andrea Bozard cũng trông thấy nên tất nhiên nó huých Dawn Madden và chỉ tôi. Dawn Madden cười rung cả người như bọn con gái. (Con chó, tôi thực sự không dám nói. Mưa làm dính một lọn tóc đẹp của nó trên cái trán nhẵn nhụi. Nếu có thể ngậm lọn tóc đó vào miệng và mút hết nước mưa ra, tôi đến chết mất). Ngay cả ông lái xe Norman Bates cũng sủa lên một tiếng cười. Nhưng tôi thì ướt sũng, mất mặt và giận điên lên. Tôi muốn tước từng mảnh xương ra khỏi cơ thể đáng ghét của Ross Wilcox, nhưng Maggot nhắc tôi rằng hắn là đứa dữ nhất trong những đứa học năm thứ hai, có thể hắn sẽ vặn rời hai cổ tay tôi rồi tung lên trên làng Thiên nga đen - Ôi, buồn cười thật, Wilcox. (Maggot ngăn tôi nói “buồn cười cái chết tiệt” để đề phòng Ross Wilcox đòi đánh nhau) - Thế thật thảm hại.... - nhưng đến thảm hại thì giọng tôi the thé như thể hai hòn cà của tôi chưa tuột xuống. Tất cả đều nghe thấy. Một tràng cười mới nổ ra như bom, xé tôi thành từng mảnh nhỏ.
Tôi nện chiếc búa gõ cửa của nhà sở thành nhịp và kết thúc bằng việc bấm chuông. Những con sâu đào lỗ trong bãi cỏ nổi bọt nước trông như những cái đầu đen bị ép xuống, đám sên trần thì đang leo lên tường, cổng vòm đang nhỏ nước, chiếc mũ trùm đầu trên áo paca của tôi cũng nhỏ nước. Hôm nay mẹ đi Cheltenham để bàn với thợ xây dựng nên tôi nói với ba rằng có thể (“có thể” là một từ có tác dụng giống như ghế bật dù của phi công) tôi sẽ đi đánh điện tử Battleships (Tàu chiến) ở nhà Alastair Nurton. Kẻ từ vụ nhà ông Blake, Dean Moran bị coi là kẻ có ảnh hưởng xấu. Tôi đi xe đạp để nếu gặp ai đó tôi chỉ cần nói “Xin chào” và đạp xe đi luôn, nếu đi bộ có thể sẽ bị tra hỏi. Nhưng hôm nay ai cũng xem trận tennis Jimmy Connors đấu với John McEnroe trên tivi. (Tại đây trời mưa nhưng ở Wimbledon thì trời nắng). Cuốn Le Grand Meaulnes cùng bản dịch bọc trong giấy bọc của hàng Mark&Spencer và giấu dưới áo sơ-mi. Tôi đã mất nhiều giờ cho cuốn này. Khi dịch mọi từ tôi đều phải tra từ điển ngay cả Julia cũng nhận thấy. Hôm qua bà ấy bảo: “Tao nghĩ càng đến cuối kỳ mọi thứ càng chán hơn”. Tôi bảo mình muốn làm cho xong bài tập về nhà. Điều kỳ lạ là dịch không có cảm giác dài lê thê như mọi lần tôi từng thấy. Thú vị hơn nhiều so với Youpla boum! Le francais pour tous (Phương pháp học tiếng Pháp) nói về Manuel, Claudette, Marie-France, Monsieu et Madame Berri (ông và bà Berri). Tôi đã định hỏi cô Wyche dạy tiếng Pháp kiểm tra giúp bản dịch. Nhưng bị nêu ra như một học sinh tiêu biểu trong một môn dành cho bọn con gái như môn tiếng Pháp sẽ phá nốt thứ hạng trung bình còn rớt lại của tôi.
Dịch nửa như làm thơ, nửa như giải ô chữ và chẳng dễ chút nào. Nhiều từ không phải từ thực sự mà ta tra được, nhưng ngữ pháp như những ốc vít liên kết chúng thành câu. Phải mất nhiều thời gian mới hiểu được nghĩa của chúng. Le Grand Meaulnes kể về thằng nhỏ Augustin Meaulnes. Augustin Meaulnes có nét giống như Nick Yew - có ảnh hưởng đối với nhiều người. Là một học sinh nội trú, nó tới sống cùng con trai thầy hiệu trưởng tên Francois. Francois là người kể chuyện. Chúng tôi nghe tiếng bước chân của Meaulnes ở căn phòng trên tầng trước khi nhìn thấy nó, truyện cực hay. Tôi đã quyết định nhờ quý bà Crommelynck dạy tiếng Pháp, thứ tiếng Pháp chuẩn chứ không phải tiếng Pháp học ở trường. Tôi đã mơ mộng tới chuyện đến Pháp sau khi thi xong bằng O, bằng A. Hôn kiểu Pháp là kiểu hôn bằng lưỡi.
Ông quản gia lâu khủng khiếp. Thậm chí lâu hơn cả tuần trước.
Không đủ kiên nhẫn chờ tương lai của mình tới, nên tôi bấm chuông.
Ngay lập tức, một người đàn ông hồng hào mặc đồ đen xuất hiện - Xin chào.
— Chào ông.
Mưa đã nặng hạt hơn một chút.
— Xin chào.
— Ông có phải quản gia mới?
— Quản gia? - người đàn ông cười - Trời ơi, không! Đó là chuyện mới đấy! Ta là Francis Bendincks, cha sở của nhà thờ thánh Gabriel - chỉ đến bây giờ tôi mới nhìn thấy cổ áo đứng của ông ấy - còn cháu là...?
— Ồ, cháu tới đây để gặp quý bà Crommelynck...
— Francis! - Tiếng bước chân lộp cộp trên cầu thang gỗ. (Tiếng giày đi ngoài trời chứ không phải dép mềm đi trong nhà). Một giọng phụ nữ vừa nhanh vừa sắc cất lên - nếu đó là người của bên truyền hình thì hãy bảo họ rằng tôi đã ngó đủ chỗ nhưng tôi nghĩ chắc chắn họ đã chở cái thứ đó đi... - rồi bà ta nhìn thấy tôi.
— Chàng trai trẻ này đến thăm Eva, rõ ràng rồi.
— Này, nên để chàng trai này vào trong phải không? Ít cũng phải đến lúc tạnh mưa.
Hôm nay sảnh tối âm u như nằm phía sau một thác nước. Lớp sơn xanh của cây ghi-ta bong từng miếng như bị bệnh ngoài da. Trên cái khung vàng của nó, một người đàn bà đang chết dần quét những ngón tay xuống nước.
— Cảm ơn - tôi cố nói thành lời - quý bà Crommelynck đang đợi cháu.
— Ta tự hỏi tại sao lại thế? - vợ cha sở như thọc câu hỏi vào người khác chứ không phải hỏi bình thường - Ô! Cậu là con út nhà Marjorie Bishampton đến đây dự cuộc thi chính tả có tài trợ hả?
— Không ạ - tôi nói, chẳng muốn cho bà ta biết tên tôi.
— Thế thì - nụ cười của bà ta như dính vào miệng - cậu là ai?
— Ơ...Jason.
— Jason...?
— Taylor.
— Cái tên này nghe quen quen...Kingfisher Meadows! Con út của Helena Taylor, láng giềng nhà bà Castle tội nghiệp. Bố là một nhân vật có cỡ của chuỗi siêu thị Greenland, đúng không? Mùa thu này chị gái sẽ đi học đại học. Ta gặp mẹ cậu trong triển lãm nghệ thuật năm ngoái ở hội trường làng. Bà ấy mê mẩn một bức sơn dầu của Eastnor Castle, dù ta lấy làm tiếc khi nói rằng chẳng bao giờ thấy bà ấy quay lại. Một nửa lợi nhuận thu được dành cho Quỹ từ thiện Cơ đốc đấy.
Bà ta không nhận được câu “Xin lỗi” từ tôi.
— Này Jason - cha sở nói - bà Crommelynck có người gọi đi xa, khá bất ngờ.
— Ồ, liệu bà ấy có quay lại...(Bà vợ khiến tôi nói lắp như thể bị dị ứng vậy. Tôi bị tắc ở chỗ “sớm”).
— “Sớm”? - bà vợ cười với tôi có ý Không thể qua mắt được tôi đâu khiến tôi mất mặt - Khó mà như thế! Họ đã biến mất như trong truyện Mất tích (Gone[89])! Chuyện đó xảy ra...
— Gwendolin - cha sở giơ tay lên như một học sinh nhút nhát trong lớp. (Tôi nhận ra cái tên Gwendolin Bendincks từ tạp chí của giáo xứ. Bà ấy viết tới nửa cuốn tạp chí) - ta không chắc liệu có đúng không nếu...
— Vớ vẩn! Đến bữa trà thì chuyện đó sẽ lan ra khắp làng rồi. Sự thật sẽ phơi bày. Chúng ta có vài tin cực kỳ đáng sợ, Jason - hai mắt Gwendolin sáng lên như đèn pha - nhà Crommelynck đã bị dẫn độ!
Tôi không rõ điều đó nghĩa là gì - Bị bắt?
— Đúng ra ta phải nói thế, bị cảnh sát Tây Đức cùm chân giải về Bonn! Sáng nay luật sư của họ đã liên hệ với chúng ta. Ông ta từ chối nói cho ta biết tại sao họ bị dẫn độ, nhưng khi kết nối mọi việc với nhau - ông chồng nghỉ hưu ở ngân hàng Bundesbank sáu tháng trước - thì đó là một dạng lừa đảo tài chính. Biển thủ. Hối lộ. Chuyện đó ở Đức có đầy.
— Gwendolin - cha sở cười mà như nghẹt thở - có lẽ còn quá sớm...
— Nhắc cho anh nhớ, một lần bà ta đã nói đến chuyện sống ở Berlin vài năm. Anh có nghĩ là bà ta đang làm gián điệp cho khối Warsaw không? Em đã nói với anh rồi, Francis. Em luôn cảm thấy rằng họ sống khép kín hơn bình thường.
— Nhưng có lẽ họ...(Gã treo cổ bóp nghẹt từ “không” trong “không có tội”).
— “Không có tội”? - đôi môi của Gwendolin Bendincks vén lên - Bộ Nội vụ sẽ chẳng để cho Interpol bắt họ đi nếu như bộ đó chưa chắc chắn về sự thực, phải chứ? Nhưng đó là một cơn gió độc, ta luôn bảo thế. Rốt cuộc bây giờ chúng ta có thể sử dụng bãi cỏ để tổ chức tiệc mùa hè.
— Còn - tôi hỏi - ông quản gia thì sao?
Trong giây lát, Gwendolin Bendincks hoàn toàn im lặng - Quản gia? Francis! Chuyện một ông quản gia là thế nào?
— Grigoire và Eva - cha sở nói - chẳng có quản gia. Ta đảm bảo với cậu thế.
Tôi hiểu điều đó. Tôi quả là một thằng khờ.
Người quản gia chính là ông chồng.
— Cháu đã nhầm - tôi nói vẻ ngượng ngùng - bây giờ cháu nên đi.
— Chưa đâu! - Gwendolin Bendincks vẫn chưa dừng - Cậu phải hiểu đến tận cùng! Vậy hãy nói cho chúng ta nghe, quan hệ giữa cậu với Eva Crommelynck thế nào?
— Bà ấy dạy cháu.
— Thật không? Bà ta đã dạy cậu cái gì?
— Ơ... - Tôi không thể thú nhận chuyện làm thơ - tiếng Pháp.
— Thoải mái quá nhỉ! Ta nhớ mùa hè đầu tiên của ta ở Pháp. Hồi đó ta 19 hay 20 tuổi. Cô ta đưa ta đến Avignon, cậu biết đấy, nơi đó có bài hát về khiêu vũ trên những cây cầu. Tiểu thư người Anh quả thực đã gây xao động trong đám ong tại đó...
Bây giờ thì nhà Crommelynck đã trong xà lim của cảnh sát Đức. Một thằng bé nói lắp 13 tuổi ở vùng hẻo lánh nhất nước Anh sẽ là điều cuối cùng đọng lại trong đầu bà Crommelynck. Nhà quan sát mặt trời đã mất, những bài thơ của tôi là đồ bỏ. Làm thế nào để chúng không thế? Tôi 13 tuổi, tôi biết gì về Cái đẹp và Sự trung thực? Tốt hơn là hãy chôn cất Eliot Bolivar chứ đừng để hắn tiếp tục nhả ra những thứ hôi thối. Tôi? Học tiếng Pháp? Tôi đang nghĩ gì? Chúa ơi, Gwendolin Bendincks nói cứ như năm chục chiếc tivi mở cùng một lúc. Số lượng từ và mật độ của chúng như lấp hết không gian và thời gian. Trong tôi, một con tàu cô đơn đang chạy với tốc độ cao nhất. Tôi muốn uống một lon Tizer và một lon Toblerone, nhưng cửa hàng ông Rhydd lại đóng cửa vào chiều thứ bảy.
Làng Thiên nga đen đóng cửa vào những chiều thứ bảy.
Cả nước Anh đang dầm mưa cũng sập cửa.
[85] Một loại kẹo sô-cô-la có hình khối tam giác.
[86] Nhà triết học duy tâm thời Hy Lạp cổ đại, xây dựng học thuyết về ý niệm.
[87] Một thành phố nhỏ gần biển vùng đông nam nước Anh.
[88] Hai nhà soạn nhạc nổi tiếng của thế kỷ 20.
[89] Tên một tiểu thuyết nổi tiếng.