Lê Phong

Lượt đọc: 17191 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- III -
lê phong điều tra

Kể đến đó, Lê Phong lại ngừng, đôi mắt anh mơ màng nhìn tôi một lát rồi lại nói:

- Quả thực ngôi phúc tinh của tôi sáng lắm. Tôi gặp toàn những cái may. Không những tôi tốt số hơn các bạn đồng nghiệp ở nước nhà, tôi lại may hơn các bạn phóng viên bên Pháp hay bên Anh nữa. Anh đọc sách chắc cũng rõ: mỗi khi xảy ra vụ án mạng, công việc thứ nhất của nhà chuyên trách là ngăn việc điều tra của phóng viên.

“Việc tra xét riêng của tôi đã làm gần xong, không phải đợi đến ông đốc tờ hỏi. Mà việc lạ, thì tôi cũng đã tìm thấy nhiều cái lạ hơn những điều quan sát của họ. Thí dụ: tôi thấy một vết hằn in trên cái bàn gụ đen. Cái bàn này kê sát cửa sổ, cao, rộng và dài, mặt bàn vì đánh xi hơi dày, nên vết hằn trông rõ lắm”.

Tôi hỏi:

- Mà vết hằn đó thế nào? Sao anh lại chú ý đến?

- Cần chú ý lắm chứ. Một phần ba sự bí mật tôi có thể khám phá ra được là nhờ ở vết hằn ấy. Đó là một vết... (nói thế nào được nhỉ), một thứ vết in xuống bởi một sức nặng của một người khỏe mạnh: một vết đầu gối của một người quỳ lên - đầu gối của một người đàn ông. Cái vết ấy cho tôi thấy một tia sáng lạ lùng, nhưng tôi cần phải xét nghiệm lại cho cẩn thận đã. Vì, trong một việc như việc này, nếu không hợp các điều quan sát lại để phân đoán, để so sánh thì rất dễ nhầm, mà đã nhầm thì nhầm một cách thô thiển không biết chừng nào.

- Lúc nãy tôi thấy anh hỏi vợ người khách lai về việc cho con sen uống thuốc ngủ. Việc ấy có thực không?

- Thực chứ.

- Nhưng sao anh biết?

- Vì tôi thấy rõ cái vẻ nhọc mệt trên mặt nó và nhất là cái vẻ ngần ngại ngượng ngùng trên mặt người thiếu phụ mỗi khi trông thấy nó. Tôi lại nghe thấy Lường Duỳn khai rằng mọi khi chỉ gọi nó hai tiếng là nó đã dậy. Lần này người thiếu phụ kêu rất lớn, sau lại phải chạy vào đánh thức nó trong cái phòng chứa đồ... Rồi đến lúc tôi hỏi con sen để xem ý vợ Lường Duỳn thì cô ta không giấu được sự kinh ngạc...

- Nhưng mà, tại sao? Tại sao vợ Lường Duỳn lại cần cho con sen ngủ say như thế?

- Tôi cũng đã hỏi người thiếu phụ câu đó. Người thiếu phụ chưa kịp đáp, nhưng tôi cũng đoán được ra rồi. Song tôi còn phải tìm, còn phải ráp bao nhiêu trường hợp lại cho có liên lạc với nhau rồi mới có thể nói quyết được.

“Sáng hôm nay tôi đã đi xem xét chung quanh nhà cửa người khách lai, dò xét một mình thôi, không cho ai biết cả. Tôi lại đến sở cẩm hỏi kết quả sự khám nghiệm của thầy thuốc sau khi mổ tử thi Đào Ngung. Kết quả cũng đúng với lời đoán của tôi: Đào Ngung chỉ chết vì lưỡi dao đâm trúng tim, chết vào hồi mười giờ đêm, bữa cơm chiều ăn vào hồi bảy giờ rưỡi tối. Con dao của hung thủ họ gửi ngay về Hà Nội để Sở Liêm phóng ở đó xem vết tay. Công việc này vừa lâu vừa không có ích cho tôi mấy. Vì tôi muốn rằng việc tra xét của tôi phải rất chóng xong.

“Ngày hôm nay Thời thế đã đăng tin này trước các báo. Đến mai có bài tường thuật rất kỹ lưỡng về vụ án mạng, rồi, chậm lắm, đến chiều ngày kia, trong lúc nhà chuyên trách còn tra vấn theo cái bước chậm chạp như vẫn theo xưa nay, Thời thế đã có kết quả hoàn toàn cuộc điều tra riêng của tôi. Phóng viên Thời thế là người trước nhất biết việc này, phóng viên Thời thế lại là người tìm ra manh mối trước nhất. Điều nguyện vọng của tôi là thế đó. Anh giúp tôi một tay”.

Tôi giương to hai mắt nhìn Lê Phong:

- Tôi giúp được anh? Mà giúp anh để nội trong ba, bốn hôm tìm được ra thủ phạm?

Phong cười:

- Không bắt được thủ phạm, thì cũng tìm ra được ai là thủ phạm và điều cốt yếu là biết được cách hung thủ vào nhà Lường Duỳn một cách bí mật như thế. Anh có nhận rằng hung thủ là một tay giỏi về phép giết người không?

- Ồ, nhưng mà việc bí mật này tìm ra ngay sao được? Mà người giúp anh lại là tôi... tôi thú thực rằng tôi kém về khoa “phân đoán” của anh lắm.

Phong liếc tôi tỏ ra vẻ khinh bỉ một cách khôi hài. Anh vừa cười vừa bảo tôi:

- Anh thú thực cái dốt của mình một cách tự nhiên quá. Nhưng không hề gì. Anh giúp tôi là thế này: anh viết bài tường thuật hộ tôi, viết cho thực khéo, vì đó là cái biệt tài của anh. Còn tôi, tôi chỉ nghĩ, tôi phải nghĩ nhiều lắm, rồi tôi kể cho anh nghe để anh viết. Như thế, tôi rộng thì giờ để làm việc cho nhanh chóng hơn.

“Bây giờ anh ra Sở Thương chính hỏi hộ tôi một việc sáng ngày tôi chưa kịp hỏi. Anh hỏi xem người đến tố cáo bọn buôn súng lậu đến hôm nào, đến lúc mấy giờ, và hình dáng thế nào? Việc này hơi khó làm, nhưng tôi chắc anh cũng khéo dò, không đến nỗi đụt lắm. Lúc trở về, anh ra bến tàu thủy, dặn thằng bé dẫn anh đến đây lúc sáng rằng đúng năm giờ chiều nay phải mua dây chão đến cho tôi theo như lời tôi dặn. Nhà nó ở số 15 bis, bên ngoài có hàng nước, mà tên nó là thằng Hài.

“Xong rồi, anh về viết bài ngay đi, viết để kịp gửi chuyến ô-tô ca sau cùng.”

Nói rồi anh đẩy tôi ra cửa, giục tôi đi. Lúc tôi bước lên cái xe hơi bấy giờ vẫn đợi trước cửa hàng An Wing, anh còn dặn với:

- À quên! Anh qua hiệu ảnh ở đầu phố giục người ta thế nào trước sáu giờ chiều hôm nay cũng phải rửa xong cuốn phim của tôi chụp để gửi về tòa soạn kèm theo với bài.

Ngồi trong xe tôi ôn lại việc án mạng mà Phong đã thuật lại. Từ đầu chí cuối, chỗ nào cũng thấy sự ly kỳ mỗi lúc một tăng lên hoài. Thế mà đối với Lê Phong thì hình như sự bí mật anh biết đã được gần hết. Quả nhiên người con trai này là một anh chàng tự phụ, nếu không thì thực là một người có kỳ tài.

Nghĩ đến việc dò hỏi xem người nào tố cáo bọn buôn lậu là ai, tôi không khỏi thấy khó chịu. Vì Sở Thương chính tất nhiên giữ kín không khi nào đem ngỏ cho bất kỳ ai cũng biết được tính danh người giúp họ. May sao tôi tìm ra được một cách rất chu đáo để hỏi ngay viên chánh Sở Thương chính: Tôi sẽ xưng là người nhà báo đến phỏng vấn ông về bọn buôn lậu, sẽ nói đến cái án mạng mà chắc thế nào ông ta cũng biết, và nhân đó sẽ nói đến Đào Ngung là người bị giết, vì bị nghi là đi tố cáo bọn kia. Rồi tùy cơ mà hỏi thì chắc thế nào cũng biết được những điều Lê Phong muốn biết.

Đến nơi, tôi đã được một tin rất kinh ngạc là: ba người quan trọng trong bọn buôn lậu đêm vừa rồi đã tìm cách trốn được ra.

Tôi hỏi viên chánh đoan về việc bắt họ hôm xưa, thì ông ta nói rằng: Sở Thương chính nhận được một bức thư nặc danh gửi đến cách đó bốn hôm, chứ không có người chỉ dẫn tố cáo như trong mọi việc bắt bớ khác.

Lập tức tôi về chỗ Lê Phong trọ báo cho anh biết, chắc thế nào những tin mới lạ ấy cũng thay đổi được nhiều điều đoán định của anh. Tôi vào hiệu An Wing, thì không thấy Lê Phong đâu cả. Hỏi người khách chủ hiệu thì hắn bảo hình như anh ta lên gác, hoặc ra ngoài phố lúc nào không biết. Tôi cụt hứng, ngồi đợi đến hai mươi phút cũng không thấy anh về. Tôi lấy giấy bút ra để viết bài tường thuật theo lời Lê Phong kể và theo những lời ghi chép trong quyển sổ tay anh đưa cho tôi lúc nãy, nhưng viết chưa được ba trang đã đặt bút xuống: cái việc mấy người bị bắt mới trốn thoát, cứ luẩn quẩn mãi trong trí tôi. Bỗng thấy tiếng ngáy giòn đâu đây, tôi lắng tai nghe, rồi chạy lên gác, mở cửa buồng của Phong thì thấy anh ta đang ngủ một cách bình tĩnh.

Tôi liền nắm lắc anh ta dậy:

- Lê Phong! Lê Phong! Dậy! Dậy mau, một tin quan trọng lắm!

Anh mở một mắt ra nhìn tôi rồi lại nhắm ngay lại, càu nhàu:

- Để người ta ngủ yên một lúc không được à?

- Thế mà bảo việc cần, đùn cho người ta viết rồi đi ngủ. Này, dậy! Một tin quan trọng lắm. Tôi ở nhà đoan về đây.

Phong vươn vai mỉm cười, rồi mở cả hai mắt ra uể oải ngồi dậy. Tôi toan gắt:

- Anh...

Thì Phong cản lại:

- Anh tính suốt đêm hôm qua thức! Phải ngủ chuộc lại mới đủ sức làm việc chứ. Thế nào? Ở sở đoan có hỏi được gì không?

- Một tin rất cần. Ba người bị bắt vừa trốn đêm hôm qua. Ba người buôn lậu.

Tôi kinh ngạc hết sức, vì Phong dửng dưng một cách lạ để đón cái tin của tôi:

- Ừ, thế rồi sao?

- Sao? Việc này hẳn có liên lạc với vụ ám sát chứ sao?

Phong đưa cho tôi bản ráp một bức điện tín:

- Tin nay tôi biết rồi. Tôi đã đánh về tòa báo từ sáng.

- Từ sáng? Thế sao anh không nói chuyện ấy với tôi?

- Nói làm gì? Vì câu chuyện không có dính dáng gì đến việc án mạng hết.

Tôi càng lấy làm lạ:

- Thế thì tôi hiểu sao được. Cái án mạng này ai cũng ngờ cho bọn buôn lậu chủ mưu. Việc lại xảy ra đêm hôm qua, mà cũng trong đêm hôm qua, ba người buôn lậu vượt ngục... Việc càng ngày càng rắc rối thêm...

- Phải, rắc rối đối với anh, đối với cả Sở Cảnh sát nữa. Nhưng đối với tôi thì không! Đó chỉ là một sự tình cờ, một sự ngẫu nhiên cũng như bao sự ngẫu nhiên khác. Lúc tôi thoạt nghe thấy tin ấy, tôi cũng hơi lấy làm lạ, song khi xem xét lại thì tôi không lầm như bọn người chuyên trách và như anh. Bây giờ có lẽ họ hết sức đi lùng bắt ba người kia, còn chính hung thủ lại được thêm một dịp để ở yên ngoài vòng pháp luật.

Tôi nhìn Phong một cách soi mói, tự hỏi không biết có phải đó là những lý luận cốt để kinh hoặc tôi chăng. Nhưng anh vẫn giữ vẻ nghiêm trang, đôi mắt đăm đăm nhìn thẳng, nét mặt quả quyết, anh bảo tôi:

- Không, Văn Bình ạ, anh nên tin tôi, cũng như tôi tin ở trực giác tôi, ở bản năng tôi. Hai thứ này khi cùng đi với lý trí thì giúp ta được nhiều việc khi ta muốn tìm ra sự thực. Con chó săn có cái mũi thính đánh hơi giỏi, thì người xét việc bí mật cũng thế, phải có cái giác quan cho tinh tường. Người ta có phải cứ làm việc bằng lý luận mà thành cả được đâu: người ta phải tưởng tượng, phải cảm xúc nữa. Cái dở của phần nhiều thám tử là biện luận nhiều quá... mà (Lê Phong cười) cái dở của tôi cũng là biện luận nhiều quá về vấn đề trực giác với lương năng. Thà cứ nói trắng ngay rằng tôi biết việc đi trốn với việc ám sát là hai việc khác nhau, có lẽ anh dễ hiểu hơn. Tôi biết thế, vì Đào Ngung bị giết hồi mười giờ đêm, mà mãi hai giờ sáng họ mới trốn được.

- Nhưng sao anh biết họ trốn lúc hai giờ sáng?

- Vì tôi nghĩ ra được một cái mưu nhỏ.

- Tôi không hiểu.

- Có gì? Tôi giả tảng làm một người trong bọn “ngoại công” tính việc đi trốn cho bọn kia. Sáng hôm nay, trong lúc tra hỏi họ, tôi thừa lúc len vào được mấy tiếng lóng nhà nghề học được trong lúc đi rừng. Tôi hỏi họ, họ trả lời, thế là đủ.

Lê Phong nói thế một cách thản nhiên, coi như một việc tầm thường, rồi hỏi tôi:

- Thế còn người tố cáo tôi dặn anh hỏi lúc nãy?

Tôi trả lời:

- Không có người đến tố cáo. Nhà đoan Phủ Lạng chỉ nhận được một bức thư nặc danh.

- Thư nặc danh?

- Phải. Bức thư không viết, nhưng cắt từng tiếng ở một tờ báo quốc ngữ.

Lê Phong ngồi thẳng dậy, đôi mắt sáng quắc:

- Ồ! Hay lắm! Nếu vậy hay lắm, việc của tôi thành được rồi.

Tôi trông vẻ tinh nhanh của anh cũng biết anh để tâm đến việc tôi cho là tầm thường này lắm. Hai tay anh như run lên vì cảm động, tôi hỏi nhưng anh ta không đáp, chỉ nhắc lại câu lúc nãy:

- Việc của tôi thành rồi, tôi không ngờ lại được giản dị đến thế... Đâu? Thế anh có chép lại lời trong bức thư kia không?

Tôi đáp không, vì tôi cho là việc vô ích.

Phong cau mày xẵng tiếng nói:

- Thế thì anh còn biết quái gì nữa. Một điều quan trọng như thế mà không trông thấy. Bức thư ấy sẽ cho tôi biết ai là hung thủ đó, anh nghe không!

- Nhưng thư nặc danh kia mà!

- Phải. Nặc danh, nặc danh, tôi biết lắm! Nhưng cái tên ký không quan hệ gì... Tôi cần biết lời trong thư kia! Lời trong thư, anh nghe không. Nếu xét việc mà cứ thực thà như anh thì không đời nào tìm ra manh mối hết.

Anh đứng phắt dậy, lấy quần áo mặc, vừa mặc vừa lẩm bẩm:

- Ngốc! Mình ngốc thực, sao không nghĩ đến? Một bức thư nặc danh, lại cắt ở nhật trình!

Rồi anh không bảo tôi nửa lời, sầm sầm chạy xuống nhà, nhảy lên ô-tô; tôi theo ra đến cửa chỉ nghe thấy anh dặn người sốp phơ:

- Nhà đoan, mau lên, vội lắm!

Hung thủ bị bắt rồi

Nửa giờ sau thấy ô-tô đỗ trước khách sạn An Wing, tôi tưởng Lê Phong về, nhưng trên đó chỉ có thằng Hài, đứa bé đứng đón tôi ở đầu cầu lúc sáng.

Nó mở cửa xe nhảy xuống tất tả chạy vào đưa cho tôi một bức thư:

“Anh Văn Bình! Anh nhớ viết ngay bài tường thuật về ‘Cái án mạng ly kỳ ở Phủ Lạng Thương’ đi. Phải viết cho xong ngay. Việc điều tra của tôi tiến hành mau lắm. Bức thư nặc danh rất có giá trị, tôi nắm được đâu mối dây rồi.

Một tin buồn: bà Lường Duỳn vừa bị thổ huyết và ngất đi hồi lâu. Hiện bà đang năm ở nhà thương, bệnh tình cũng đáng lo. Tôi sẽ đi thăm rồi sẽ đến sở cẩm báo một việc quan trọng.

Thằng bé đưa thư này giúp tôi được mấy việc khá lắm. Một nhà phóng viên tương lai đấy. Anh thưởng cho nó năm hào hộ tôi - Lê Phong”.

Đứa bé nghếch mắt nhìn tôi một cách hóm hỉnh trong lúc tôi đọc thư. Thấy tôi đọc xong, nó liền nói:

- Ông Lê Phong bảo tôi nói với ông rằng, ông phải theo đúng lời ông ý dặn, nhất là câu cuối cùng.

Tôi lườm nó mỉm cười, đưa cho nó năm hào rồi cho nó ra.

- Ông không trả lời ư?

- Không cần.

- Mà ông cũng không hỏi xem tôi giúp ông Phong được những việc gì?

- Hỏi làm gì?

- Thế thì ông chả tò mò tí nào nhỉ?

Tôi bật cười và chú ý đến vẻ thông minh lanh lợi của đứa bé.

- Ừ, thế mày giúp ông Phong được những gì?

- Nhiều lắm chứ. Trước hết, tôi mua hộ ông ấy một cuộn dây chão tốt lạ thường, rồi tôi giúp ông ấy trèo cây đi rình nhà người ta.

- Nhà ai?

- Nhà chú Duỳn. Sau nhà chú ấy có cái cây cao lắm. Ông Phong lấy dây quàng lên cây, rút chặp đôi lại, buộc thòng lọng thắt nút cổ chó, rồi leo lên.

- Lúc nào?

- Lúc ông ấy ở nhà chú Duỳn ra. Chú Duỳn đi vắng. Ông ấy ở trên cây một hồi lâu lắm, rồi xuống vỗ vai tôi... Rồi ông ấy viết cái giấy này để tôi cầm đến đây cho ông...

- Được rồi, em đi ra đi, và đừng nói với ai những chuyện ấy nhé!

- Vâng, ông Phong cũng dặn tôi thế... Bây giờ tôi lại phải đến nhà thương với ông Phong, còn nhiều việc cần lắm.

Đứa bé bước ra, mở cửa ngồi vào ô-tô, nét mặt ra vẻ quan trọng trông đến buồn cười. Nó đi khỏi, tôi đọc lại bức thư của Lê Phong, rồi ngồi viết cho xong bài tường thuật theo như lời anh ta dặn.

Bốn giờ chiều hôm ấy tôi đang viết, bỗng lại thấy đứa bé đến, nó đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ, chữ viết nguệch ngoạc và nói:

- Ông Lê Phong đợi ông ở nhà thương.

Trong giấy chỉ có mấy dòng sau này:

“Dù viết xong hay không, anh cũng đến nhà thương ngay. Hung thủ đã bị bắt rồi, bị bắt bởi tay tôi. Tối hôm nay ta về Hà Nội được”.

Hung thủ đã bị bắt? Mà sau việc án mạng không đầy hai mươi bốn giờ. Tôi không hiểu Lê Phong có những phương pháp thần thánh gì mà khám phá được việc chóng đến thế, hơn nữa, lại bắt được hung thủ, là một điều mà chính anh ta cũng không thể ngờ làm được ngay.

Đến nhà thương hỏi lại Lê Phong thì anh cười bảo tôi:

- Anh ạ, tôi cũng không ngờ chuyện này lại giản dị thế, cái mối bí mật tôi đã gỡ xong cả rồi.

- Xong rồi? Nghĩa là anh đã tìm ra được người giết Đào Ngung?

- Phải.

- Tìm ra cách nó lẻn vào cái phòng cửa kín bốn bề để giết người?

- Phải. Nhưng anh đừng cau mày nhìn tôi một cách dữ dội đến thế?

- Anh lại bắt được hung thủ?

- Tôi không bắt được, vì tôi chỉ là một tay phóng viên. Hung thủ hiện ở trong tay luật pháp.

- Thực?

- Thực chứ!

- Thế hung thủ là ai?

Phong kéo tôi bước qua cổng nhà thương và mắng bỡn tôi:

- Anh khó chịu lắm. Anh hỏi lục vấn tôi nhiều quá. Hẵng vào đây tôi cho anh thấy mặt một người thiếu phụ đẹp hiếm có.

- Ai? Bà Lường Duỳn ấy à?

- Phải, bà Lường Duỳn.

Rồi Lê Phong nhất định không nói gì nữa.

Đến trước một căn phòng rộng, anh nhẹ bước đến bên cửa đứng lại vẫy tôi:

- Đi khẽ chứ, cô ta vừa mới ngủ. Anh trông kia kìa, trên chiếc giường sắt tồi tàn của nhà thương, cô ta có vẻ một vị Hằng Nga đang “nồng say trong giấc quế”. Anh xem, đứng trước sắc đẹp, ai cũng đâm ra nói văn chương.

Tôi gật đầu vì tôi cũng nhận ra người thiếu phụ là đẹp. Mặt cô ta rất đều, nét rất thanh, nước da trắng xanh, nổi trong làn tóc đen lánh ở hai bên gối. Đôi mắt lúc ấy nhắm, không để cho tôi được thấy cái màu đen sâu xa mà Phong thường ca tụng. Trong cái nhan sắc nhọc mệt ấy, tôi thấy có vẻ đau đớn còn trên nét mặt, khiến cho vẻ đẹp như cao quý hơn lên.

Lê Phong se sẽ bảo tôi:

- Có phải không, một người đàn bà đẹp như thế, ai chẳng phải mê đẳm. Chính tôi, tôi cũng thấy cái “quả tim bằng đá” trong ngực này nhiều lần chực tê tái hẳn đi... Không ngờ con người như thế mà mang trong lòng những điều bí mật, với cả một cái thảm kịch nữa. Lúc nãy đến nhà Lường Duỳn, tôi nghe thấy nói bà ta phải vào điều trị ở đây vì thổ huyết, tôi cũng không lấy gì làm lạ lắm. Nhưng bệnh tình xem ra cũng không quá nguy kịch như tôi tưởng, vì tôi đã có dịp phỏng vấn cô ta ở đây.

Rồi, không có liên lạc gì, anh nói ngay sang chuyện khác:

- Anh ra đây tôi bảo. Hiện bây giờ các báo mới biết một phần mười việc án mạng, Sở Liêm phóng cứ theo bước cẩn thận nhưng chậm chạp mà đi thì không bao giờ xét ra được manh mối, những trường hợp vụ ám sát đối với hết thảy mọi người đều có vẻ thần bí, bằng ấy điều đủ làm cho dư luận sôi nổi dẫu việc xảy ra ở một tỉnh nhỏ như đây. Anh phải tính với tôi làm việc cho rất nhanh, rất nhanh anh nghe chưa, để cho cái bí mật dày đặc lạ thường ấy đột nhiên rõ được ngay, đột nhiên bị khám phá ra một cách nhanh chóng cũng lạ thường. Mà khám phá bởi tôi, Lê Phong, phóng viên của Thời thế. Cái danh diện của tôi vì thế sẽ bắt người ta chú ý đến đã hẳn, nhưng điều tôi cần cho người ta biết nhất là Thời thế không những có tin chóng, tin lạ, Thời thế lại còn có những tay làm việc minh mẫn như tôi nữa.

“Cho nên tôi cần phải suy nghĩ dò xét rất chóng để tìm thấy kết quả ngay lập tức. Kết quả thấy rồi: kẻ giết người đã tìm ra rồi, kẻ giết người đã sa vào ‘lưới pháp luật’ như người ta thường nói. Mà hung thủ là ai? Tôi sẽ cho anh biết sau... Vì tôi muốn cho anh theo câu chuyện do những đường ngoắt ngoéo của nó. Nếu cứ thấy rõ các tình thế, các trường hợp như tôi, thời câu chuyện không có chỗ nào hồi hộp cả; mình không hồi hộp thì độc giả của báo mình cũng không hồi hộp, vì thế cho nên tôi không muốn tường thuật, để việc ấy phần anh.

Phong nói tới đó bỗng chăm chú nhìn ra ngoài cổng nhà thương:

- Kìa, ai như ông Lường Duỳn đã đến. Chính ông ta rồi.

Rồi vui vẻ, anh chạy ra cười nói vồn vã:

- Chào ông Lường Duỳn!

Người đàn ông bước vào là một người khỏe mạnh trắng trẻo, nét mặt đầy đặn và tươi, tuy những sự lo âu có làm sút kém đi một chút.

Lường Duỳn đã 36 tuổi theo như lời khai hôm trước, nhưng trông ra dáng chỉ độ 31, 32. Ông ta mặc một bộ âu phục hàng sang cắt rất khéo. Cử chỉ tự nhiên và lịch sự tỏ ra người có học thức và lịch duyệt. Đôi mắt rất nhanh nhẹn, miệng hơi nhỏ, mỗi khi cười nói lại để lộ ra hai cái răng vàng lấp lánh ở khóe môi.

Duỳn bẳt tay Phong và nói:

- Tôi xem ra việc điều tra riêng của ông tấn tới và chu đáo lắm. Ông thực là một nhà phóng viên hoàn toàn.

Phong “vâng” một tiếng nghe rất chướng tai. Anh ta có thói nhận những lời khen một cách không khiêm tốn chút nào hết.

- Vâng, tôi cũng vui lòng rằng không thấy việc này khó khăn mấy. Ông có đến qua sở cẩm đó không?

- Không. Sao? Có việc gì?

- Không. Tôi muốn hỏi xem có chuyện gì lạ không, ông ở nhà đến đây đó chứ?

- Vâng. Tôi lo quá. Nhà tôi không bao giờ lại có chứng thổ huyết với ngất đi như thế. Cái nạn xảy ra đêm vừa rồi thực là một cái khổ lớn cho gia đình tôi.

Thấy người khách lai nhìn tôi ra dáng hỏi, Phong sực nhớ ra, chép miệng nói:

- Tôi vô ý đến thế đấy, chưa giới thiệu được người bạn tôi với ông: ông Văn Bình ở báo Thời thế mới phái lên sáng hôm nay, một người rất chăm chú đến việc này.

Người khách lai bắt tay tôi và tự xưng tên:

- Léon Yune, buôn bán. Thưa ông, tôi hâm mộ báo của các ông lắm, và rất lấy làm hân hạnh được gặp ông.

Câu này ông ta nói bẳng tiếng Pháp, nói đúng âm, nhưng giọng nói hơi văn hoa.

Phong lại nói:

- Chúng tôi vừa đang định tới nhà ông và xin ông một bức chân dung.

Người khách lai ngần ngừ rồi đáp:

- Vâng, tôi vui lòng lắm, song tôi thì không có bức ảnh nào chụp gần đây.

- Không hề gì, vì chúng tôi xin chụp ngay ông ở đây cũng được.

Nói rồi Phong nhảy ra xe hơi lấy máy ảnh vào bấm liền.

Đoạn anh ta lễ phép nói:

- Cảm ơn ông lắm. Bây giờ ông vào thăm bà Duỳn phải không? Vậy tiện đây xin chào ông, chiều hôm nay chúng tôi đi Hà Nội.

Người khách lai ngạc nhiên:

- Tối nay các ông đã xuôi?

- Vâng. Vì việc chúng tôi đến đó là hết. Thôi, xin phép ông.

Lúc Phong ngồi trên xe hơi, tôi hỏi anh:

- Anh bảo hung thủ bị bắt rồi, sao không đưa tin ấy cho ông Duỳn biết.

Anh không đáp, nhìn ra bên đường như chăm chú ngắm cảnh vật buồn tẻ một lát, rồi bỗng ngảnh lại nhìn tôi:

- Anh là đồ gàn! Không phải là tin nào cũng có thể gào lên cho người ta biết được.

- Tôi không hiểu ý anh thế nào cả.

- Vì anh là đồ tồi, chứ sao? Anh đừng hỏi gì tôi nữa, cứ lặng yên lắng tai, mở mắt ra mà nghe, mà xem, mà làm công việc của cái máy thu thanh với cái máy ảnh.

« Lùi
Tiến »