LỊCH SỬ VĂN MINH Ả RẬP

Lượt đọc: 4404 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II.
kinh coran

I. HÌNH THỨC

II. PHÉP TẮC TÍN NGƯỠNG

III. LUÂN LÍ

IV. TÔN GIÁO VÀ QUỐC GIA

V. NGUỒN GỐC TRONG KINH CORAN

I. HÌNH THỨC

Tiếng Kur’an có nghĩa là bài đọc hay diễn giảng và tín đồ Hồi giáo dùng nó để trỏ một phần hay toàn thể thánh thư của họ. Cũng như Thánh kinh của đạo Do Thái và Kitô, kinh Coran chứa rất nhiều bài xếp chung với nhau, và giáo hội chính thống bảo mỗi vần, mỗi tiếng trong đó đều do thiên khải. Trái với Thánh kinh Kitô giáo, nó chỉ do mỗi một người sáng tác, như vậy nó hiển nhiên là cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất mà của một người viết. Trong hai mươi ba năm cuối đời, Mahomet ngày nào cũng đọc một vài thiên khải cho tín đồ chép trên da cừu, trên da súc vật, trên lá kè hoặc trên những khúc xương, rồi đọc lớn lên cho đám đông nghe, sau cùng xếp trong những cái hộp đủ loại cùng với những đoạn trước, không theo một thứ tự hợp lí hoặc thứ tự thời gian gì cả. Thời ông còn sống, không có một bản sưu tập nào cả; nhưng nhiều môn đồ thuộc lòng hết, được coi như thánh kinh sống; người ta gọi những môn đồ đó là kurra. Năm 633, những kurra đó chết gần hết mà không có người thay, và vị calife (quốc vương) Abu Bekr ra lệnh cho Zaid ibn Thabit, viên thư kí giỏi nhất của Mahomet thu thập các đoạn trong kinh Coran. Tương truyền Zaid gom góp được “trên những lá chà là, những phiến đá trắng và trong lòng người”. Bản chép tay của Zaid được bổ túc rồi chép lại thành nhiều bản, nhưng những bản này không dùng mẫu tự[35], thành thử công chúng có thể đọc và hiểu mỗi tiếng theo nhiều cách, do đó có nhiều bản Coran ở các thị trấn khác nhau của đế quốc mà đế quốc mỗi ngày lại mở rộng thêm ra. Muốn chận đứng tình trạng hỗn độn, thiếu nhất trí đó, vị calife Othman sai Zaid và ba học giả lại coi bản chép tay của Zaid (651), sửa lại thành bản chính thức, rồi chép lại thành nhiều bản gửi tới các thị trấn Damas, Kufa, Bassora; từ đó bản chính thức được tôn trọng, thuần chính, không ai sửa đổi nữa.

Vì bản chất[36], bộ đó không tránh được hai khuyết điểm: lập đi lập lại, và hỗn độn. Tách riêng ra thì mỗi đoạn một nhắm mục tiêu rõ rệt: trình bày một thuyết, bắt phải đọc một kinh cầu nguyện, tuyên bố một đạo luật, vạch mặt một kẻ thù, chỉ một phương sách, kể một chuyện, gọi lính, bố cáo một thắng trận, kí kết một hiệp ước, hô hào quyên tiền, qui định lễ nghi, luân lí, chế định kĩ nghệ, thương mại hoặc tài chính. Nhưng chúng ta không biết Mahomet có muốn cho người ta thu thập tất cả các đoạn đó thành một cuốn không. Nhiều đoạn bàn bạc về một người nào đó, không chú thích hoặc không biết lịch sử, truyền thuyết thì khó mà hiểu được, và chỉ có tín đồ mới giải thích được thôi. Toàn kinh gồm một trăm mười bốn chương, không sắp đặt theo thứ tự sáng tác, vì ai biết được thứ tự đó ra sao đâu mà cứ sắp theo dài ngắn, dài đặt lên trên, ngắn để xuống dưới. Mà xét chung, những lời khải thị đầu tiên của Mahomet ngắn hơn những lời khải thị sau, thành thử về phương diện lịch sử, kinh Coran đảo ngược lại, truyện trước lại để phía sau. Đầu kinh là những chương viết ở Médine có tính cách thực tế; không thú vị gì cả; những chương viết ở La Mecque có thi vị, hay hơn cả đặt ở phía sau; thành thử phần đầu kém hay nhất, và nên bắt đầu đọc từ cuối kinh ngược lên.

Tất cả các chương, trừ chương đầu, đều là những lời của Allah hoặc thánh Gabriel khải thị cho Mahomet, môn đồ hoặc kẻ thù ông. Mahomet cảm thấy rằng không có một bộ điển lệ đạo đức nào buộc dân chúng tuân lời được, nếu họ không tin rằng điển lệ đó do Thượng Đế ban; mà dân chúng không tuân lời thì xã hội không có trật tự, không hùng cường được. Phương pháp đó hợp với một một lối văn hùng đại, có nhiệt khí. Lời của Mahomet nửa như thơ, nửa như văn xuôi, nhịp nhàng và có vần, nhưng cũng có lúc bỏ điệu, bỏ vần; và trong những chương cổ viết ở La Mecque có một nhịp điệu kêu và tao nhã mà chỉ những người biết rõ ngôn ngữ Ả Rập, có thiện cảm với Hồi giáo, mới cảm nổi. Lời văn trong bộ Coran rất thuần khiết, đầy hình ảnh rực rỡ, hoa mĩ quá đối với người phương Tây. Ai cũng nhận rằng nó là tác phẩm đầu tiên và hay nhất viết bằng văn xuôi của dân tộc Ả Rập.

II. PHÉP TẮC TÍN NGƯỠNG

Một tôn giáo, về phương diện nào đó, cũng như một thứ qui tắc luân lí. Sử gia không cần tự hỏi một nhà thần học nào đó đúng hay không – dựa theo một khoa học toàn tri toàn thức nào mà phán đoán điều đó được? – mà chỉ tìm hiểu xem những yếu tố xã hội và tâm lí nào kết hợp với nhau để phát sinh ra tôn giáo; rồi tôn giáo đó làm cách nào biến những sinh vật có thú tính thành những con người, những dân tộc dã man thành văn minh, những trái tim vô tình, vô tư lự thành những tâm hồn can đảm, tràn trề hi vọng; và tôn giáo còn giữ lại chút tự do nào để phát triển tinh thần của con người không, ảnh hưởng của nó ra sao tới lịch sử?

Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo đều nhận định rằng muốn cho một xã hội lành mạnh thì điều cần thiết thứ nhất là phải tin ở cái trật tự, cái luật luân lí của vũ trụ, tin rằng cả những khi cái ác hoành hành, vẫn có một cứu cánh công bằng, cao thượng, mặc dầu nhiều khi chúng ta không hiểu nổi sức toàn trí ấy tác động ra sao. Cả ba tôn giáo có công đào tạo tâm hồn của người (phương Tây) thời trung cổ, đều nghĩ rằng cái quyền lực toàn trí bàn bạc khắp vũ trụ là một đức Thượng Đế; nhưng Kitô giáo thêm rằng đức Chúa duy nhất đó xuất hiện thành ba vị khác nhau, còn Do Thái giáo và Hồi giáo cho quan niệm đó là một thứ đa thần giáo trá hình, và tuyên bố một cách nhiệt liệt, mạnh mẽ rằng chỉ có một Thượng Đế duy nhất, đơn độc thôi. Kinh Coran dành cả một chương (chương CXII) cho vấn đề đó; các tu sĩ Hồi giáo (muezzin) ngày nào cũng tụng chương đó từ trên cả trăm ngàn giáo đường ở khắp nơi.

Allah trước hết là nguồn gốc của sự sinh trưởng và mọi ân huệ trên thế giới. Allah nói với Mahomet:

Và con thấy sông cạn đất khô; nhưng khi Ta làm cho mưa trên cao trút xuống thì mặt đất chuyển động, phồng lên và tất cả những cây đẹp đẽ đâm chồi nẩy lộc (XII, 5)[37]… Loài người thử nhìn thức ăn của họ đi, Ta bảo thực này, (đó là nhờ) Ta đã cho trút nhiều nước xuống đấy. Rồi Ta đã làm cho đất nẻ sâu mà hạt lúa, cây nho, cỏ, cây ô liu và cây kè mới mọc lên, và mới có những vườn trồng đầy cây lá xum xê (LXXX, 24-30)… Khi cây có trái chín, các con ngó mà coi! Ta bảo thực này, kẻ nào hiểu biết tất nhận ra như vậy là dấu hiệu gì.

Allah là một vị thần toàn năng “đã dựng nên vòm trời mà không dùng cột cho các con thấy… chế ngự được mặt trời, mặt trăng, tạo ra mặt đất rồi đặt trên đó đây là sông, kia là núi” (XIII, 2-3). Hoặc trong tiết bất hủ về “ngôi báu”:

Allah! Ngoài ra không có vị thần nào khác. Ngài tự sinh, tự tồn! Ngài không bao giờ ngủ, lúc nào cũng thức. Tất cả những gì ở trên trời, dưới đất đều thuộc về Ngài. Nếu Ngài không cho phép thì ai là người dám làm trung gian giữa Ngài và những người khác? Ngài biết có cái gì ở trước mặt họ (tức loài người) và sau lưng họ… Ngôi báu (hoặc toà) của Ngài trùm cả trời lẫn đất, Ngài duy trì trời và đất mà không mệt vì Ngài là đấng Tối cao, Tối đại (II, 255). Ngài đã vạn năng, công minh, lại vô cùng nhân từ (VI, 100).

Tất cả những chương trong kinh Coran, trừ chương thứ chín, cũng như mọi thánh thư Hồi giáo, đều mở đầu bằng câu trang nghiêm này: “Nhân danh Allah chí nhân, chí từ”. Lời mở đầu đó, lấy tiếng đầu bismillahmà đặt tên, nhưng lúc nào cũng ca tụng đức nhân từ vô biên của Allah.

Allah là một đấng toàn tri, biết tất cả những tư tưởng thầm kín nhất của ta. “Ta bảo thật này, Ta đã sinh ra loài người và Ta biết linh hồn mỗi người ra sao vì Ta gần gũi nó còn hơn mạch máu ở cổ nó nữa” (I, 15). Vì Allah biết cả quá khứ lẫn vị lai cho nên việc gì cũng tiền định một cách vĩnh viễn do ý chí của Allah, ngay cả số phận cuối cùng của mỗi linh hồn cũng đã định trước rồi. Cũng như Chúa của thánh Augustin, Allah không những biết linh hồn nào được cứu rỗi trong các lai thế vô tận, mà Ngài còn tự ý, muốn cho ai được hưởng lòng nhân từ của Ngài thì cho (LXXVI, 31). Yahveh[38] làm cho tim của Pharaon[39] chai cứng lại; Allah cũng vậy, bảo những người không tín ngưỡng: “Ta bảo thật này, ta đã phủ lên tim của chúng một cái mền để chúng không hiểu gì cả, ta đã làm cho tai của chúng như điếc! Con có kêu chúng trở về chính đạo thì chúng cũng vẫn không được hướng dẫn” (XVIII, 58). Lời đó, – có lẽ để kích thích lòng tín ngưỡng – là một lời tàn nhẫn trong mọi tôn giáo, nhưng Mahomet còn quá khích hơn Augustin, thẳng tay đập: “Nếu ta (tức Allah) muốn thì Ta đã dẫn dắt mọi linh hồn rồi. Nhưng ý ta không thay đổi. Ta sẽ bắt cả thần lẫn người bị đày xuống chốn địa ngục” (XXXII, 13). Theo một truyền thuyết do Ali kể thì “một hôm chúng tôi ngồi với vị Tiên tri, người cầm cây gậy viết xuống đất câu này: các con ai cũng đã được Thượng Đế tiền định cho rồi; hoặc xuống hoả ngục hoặc lên thiên đường”. Sự tin tưởng ở tiền định đó làm cho sự cuồng tín thành một nét chính của tư tưởng Hồi giáo. Mahomet và các vị thủ lĩnh dùng nó để kích thích lòng dũng cảm trên chiến trường, vì ngày chết của mỗi người đã do tiền định thì tai nạn lớn lao nào cũng không làm cho ta chết trước ngày đó được, mà có thận trọng bao nhiêu cũng không làm hoãn giờ chết lại được. Tín đồ Hồi giáo, nhờ đó mà hiên ngang an mệnh thuận thiên trước mọi nghịch cảnh, mọi bổn phận của cuộc đời; trong những thế kỉ sau, lòng tin ở tiền định đó kết hợp với vài yếu tố khác, cũng làm cho đời sống và tư tưởng Ả Rập hoá ra bi quan, vô sinh khí.

Thế giới vô hình trong kinh Coran đầy những thiên thần, quỉ thần (djinn) và một quỉ sứ. Thiên thần là thư kí và sứ giả của Allah, ghi những hành vi thiện và ác của mỗi người. Bản thể của quỉ thần là lửa; trái với thiên thần, bọn này ăn uống, giao cấu rồi chết, có một số ít theo kinh Coran nên từ thiện (LXXII, 8), còn đa số là hung thần, gieo rắc tội ác cho loài người, Iblis là chúa bọn hung thần đó, trước kia vốn là một thiên thần có uy quyền, chỉ vì không chịu phục tùng Allah[40] mà bị đày làm hung thần.

Coran cũng như Tân ước dùng sự thưởng phạt sau khi chết để tín đồ giữ đạo đức. “Cuộc đời này chỉ là một thú vui phù du làm cho người ta choá mắt” (LVII, 20); chỉ có một điều chắc chắn là ai cũng phải chết. Một số người Ả Rập cho rằng chết là hết, và mỉa mai những người tin thuyết linh hồn bất diệt, cho họ là “lạc hậu như cổ nhân” (XXIII, 83). Người chết không phục sinh ngay mà ngủ cho tới người phán xét; vì họ ngủ nên tưởng rằng tỉnh dậy (tức phục sinh) tức thì. Chỉ Allah biết được thời gian phục sinh cho mọi người. Nhưng có vài dấu hiệu báo trước thời đó sắp tới. Trong những ngày cuối cùng (trước khi tận thế), lòng tin ở tôn giáo tiêu tan, luân lí suy đồi, hỗn loạn, sẽ có cảnh loạn lạc, những cuộc đại chiến và hạng người sáng suốt chỉ muốn chết cho rảnh. Kèn sẽ kêu vang ba tiếng để báo hiệu sự tận thế. Tiếng thứ nhất, mặt trời sẽ tắt, vì các tinh tú sẽ rớt hết, vòm trời tan, chảy ra, núi đồi nhà cửa thành bình địa, địa dương khô cạn hoặc bốc lửa (XX, 102 và các đoạn kế tiếp). Tiếng thứ nhì, mọi sinh vật – thiên thần, quỉ thần và loài người – đều bị tận diệt, trừ vài kẻ được đặc sủng của Thượng Đế. Bốn chục năm sau, Israfel, thiên thần âm nhạc thổi tiếng kèn thứ ba, các thây đều đội mồ lên và nhập vào linh hồn của từng người. Thượng Đế cưỡi mây mà tới, theo sau là các vị thiên thần ôm sổ thiên tào ghi mọi hành vi, ngôn ngữ, tư tưởng của từng người. Hành vi thiện và ác đều được đem cân để Thượng Đế phán xét. Các vị Tiên tri đã được thiên khải tố cáo những kẻ cự tuyệt lời mình dạy dỗ, xin giùm cho những kẻ tin lời mình. Rồi cả kẻ thiện lẫn kẻ ác đều phải qua chiếc cầu al-Sirat nhỏ hơn một sợi tóc mà bén hơn một lưỡi gươm, bắt lơ lửng ở trên vực địa ngục; kẻ ác và không tín ngưỡng sẽ rớt xuống vực; người thiện sẽ yên ổn qua được mà lên thiên đường, không phải do công đức của họ mà chỉ do lòng nhân từ của Thượng Đế. Kinh Coran cũng như hình thức căn bản của Kitô giáo, có vẻ chú trọng tới đức tin của tín đồ hơn là phẩm hạnh của họ; có đến cả trăm đoạn (III 63, 131; IV 56, 115; VII 41; VIII 50; IX 63, v.v…) doạ những kẻ cự tuyệt lời kêu gọi của Mahomet rằng chết đi, họ sẽ phải đày xuống địa ngục. Vì có nhiều tội nặng nhẹ khác nhau, nên địa ngục chia làm bảy miền, mỗi miền có những hình phạt tương ứng với tội. Có miền nóng cháy da, có miền lạnh đứt ruột; ngay những kẻ nhẹ tội nhất cũng phải đi những đôi giày lửa. Nước uống thì hoặc là nước sôi hoặc là nước dơ (LVI, 40 và các đoạn tiếp theo). Có lẽ Dante[41] đã tưởng tượng cảnh địa ngục theo kinh Coran.

Nhưng trái với Dante, Mahomet tả cảnh thiên đường cũng rực rỡ như địa ngục. Những tín đồ ngoan đạo và những kẻ tử trận vì Allah sẽ được lên thiên đường; và kẻ nghèo được lên năm trăm năm trước kẻ giàu. Thiên đường ở thất tùng thiên hoặc cao hơn nữa, nơi đó là một khu vườn mênh mông có suối trong bóng mát; ai được lên cõi cực lạc đó cũng bận áo gấm thêu, đeo ngọc quí, nằm nghỉ trên giường, có thanh niên dung mạo mĩ miều hầu hạ, cành cây rũ xuống cho họ hái trái mà ăn; có suối sữa, suối mật và suối rượu; những người công minh chính đại được uống rượu (ở cõi trần thì bị cấm) trong những li bằng bạc mà không thấy sợ. Nhờ ân huệ của Allah, trong những bữa tiệc đó, họ tuyệt nhiên không phải nghe diễn văn (LXXVIII, 35) mà được ngắm những thiếu nữ “không hề bị thần hay người phá tân… đẹp như dạ hương lan và san hô… ngực nở nang mà cặp mắt e lệ, lớn, trông như những quả trứng tốt nhất”, da thịt bằng xạ hương, thân thể tuyệt mĩ, không có những cái xấu xa, dơ dáy như da thịt loài người. Mỗi vị được thưởng bảy mươi hai nàng tiên đó, sẽ sung sướng hoài và các nàng cũng trẻ hoài, không mỏi mệt, không chết, giữ được hoài vẻ đẹp (XLIV, 56). Vì các người phụ nữ ngoan đạo cũng được lên thiên đường, nên có thể xảy ra lộn xộn, nhưng đối với những người đã quen với chế độ đa thê rồi thì trở ngại đó có thể vượt được. Ngoài những thú xác thịt đó, Mahomet còn thêm những thú tinh thần nữa; một số người chính đại quang minh sẽ thích tụng kinh Coran; và mọi người đều được hưởng cái vui tuyệt trần là được ngắm mặt Allah. Và chung quanh họ là những thanh niên trẻ hoài.

Ai mà khước từ được những lời khải thị như vậy?

III. LUÂN LÍ

Trong kinh Coran cũng như trong Pháp điển (hoặc Truyền kinh: Talmud) của Do Thái, luật pháp và luân lí chỉ là một, thế tục và tôn giáo là một, mà giới luật nào cũng do Allah ban cả. Trong kinh đó, người ta thấy các qui luật cho mọi việc, từ cử chỉ, lễ mạo tới vệ sinh, hôn nhân, li dị; từ vấn đề đối đãi với trẻ em, nô lệ, loài vật tới cả thương mại, chính trị, lợi suất, trái khoản, hợp đồng, di chúc, mỹ nghệ, tài chính, tội ác và hình phạt, chiến tranh và hoà bình.

Mahomet không khinh nghề buôn; tương truyền cả trong khi ông đang ngự trị ở Médine, ông cũng mua buôn rồi bán lẻ để kiếm lời, không ân hận chút nào cả; có khi còn bán đấu giá nữa. Ngôn ngữ của ông có nhiều hình ảnh thuộc về thương mại; ông hứa với người ngoan đạo sẽ được thành công trên cõi trần (II, 5) và kẻ nào có chút tín ngưỡng là được ông kí khế ước cho lên thiên đường. Ông doạ bọn con buôn gian trá, ăn cắp sẽ bị xuống địa ngục; ông lên án bọn giữ độc quyền và đầu cơ lúa để bán với giá cao; ông khuyên chủ ruộng phải trả công người cày thuê trước khi người này ráo mồ hôi; ông cấm chỉ việc lấy lời hoặc đưa lời cho chủ nợ (II, 275; III, 130). Không có một nhà cải cách nào đánh thuế nặng người giàu để giúp người nghèo như ông. Ai lập di chúc cũng phải chia một phần cho người nghèo; nếu chết mà không lập di chúc thì kẻ thừa kế tự nhiên phải quyên một phần gia tài cho công việc từ thiện (IV, 8). Cũng như những người đương thời, ông cho chế độ nô lệ là một luật tự nhiên, nhưng ông tìm mọi cách cho bọn nô lệ bớt khổ.

Ông cũng cải thiện địa vị phụ nữ ở Ả Rập, mà vẫn bình thản nhận rằng họ phải tuỳ thuộc đàn ông về pháp luật. Chúng ta thường thấy ông mỉa mai bọn đàn ông không ức chế được dục tình; gần như một mục sư Kitô giáo. Ông coi đàn bà là cái hoạ ghê gớm nhất cho đàn ông và cho rằng đa số phụ nữ sẽ phải xuống địa ngục. Ông đặt ra một luật cấm đàn bà nối ngôi vua mà trị dân. Ông cho phép đàn bà tới giáo đường, nhưng nghĩ rằng họ ở nhà lo việc nội trợ thì hơn; nhưng nếu họ vào giáo đường trong khi đàn ông làm lễ thì ông cư xử nhã nhặn với họ, dù họ bồng con theo để cho bú; tương truyền hễ ông nghe thấy một đứa bé khóc thì ông rút ngắn bài thuyết giáo để khỏi làm phiền người mẹ. Ông trừ tuyệt cái tục giết trẻ sơ sinh của Ả Rập (XVII, 31). Ông cho phụ nữ bình quyền với đàn ông trong các vụ kiện, và về vấn đề tài chính; họ có thể làm mọi nghề hợp pháp, giữ số tiền kiếm được, hưởng gia tài và tuỳ ý dùng của cải của họ (IV, 4, 32). Ông bỏ tục coi phụ nữ là một vật sở hữu cha truyền lại cho con. Gia tài phải chia đều cho con trai và con gái, không ai được dùng phụ nữ một cách trái ý họ. Một câu thơ trong kinh Coran có vẻ như bắt phụ nữ phải che mặt khi ra khỏi phòng the: “Các con nên ở nhà, đừng phô trương những trang điểm của con”; nhưng câu đó chỉ khuyên ăn bận nhã nhặn; và theo truyền thuyết thì Mahomet có lần bảo phụ nữ: “Các con được phép ra ngoài mua những vật dụng cần thiết”. Riêng các bà vợ của ông, ông bảo môn đồ muốn có nói gì với họ thì phải đứng cách sau một bức rèm. Ngoài những hạn chế đó ra, suốt thời ông và trong thế kỉ sau, phụ nữ Hồi giáo được tự do ra ngoài mà khỏi bị che mặt.

Luân lí tuỳ thuộc khí hậu một phần; ở Ả Rập, trời rất nóng, có lẽ làm cho tính dục phát triển sớm và mãnh liệt, cho nên phải khoan hồng ít nhiều với bọn đàn ông lúc nào cũng bừng bừng lửa dục. Luật pháp Hồi giáo nhằm giảm sự cám dỗ ở ngoài hôn nhân và tăng sự tự do ở trong hôn nhân. Trước khi lặp gia đình, phụ nữ phải giữ trinh tiết, đàn ông phải chế dục (XXIV, 22) và sự nhịn ăn, giữ trai giới giúp họ giữ được đức đó. Hai bên phải thoả thuận với nhau thì mới được làm hôn lễ; dù cha mẹ không bằng lòng, họ cũng được cưới nhau, và khi người con gái nhận giá kim (cũng như lễ hỏi) của người con trai thì hai bên coi như gắn bó với nhau theo luật pháp rồi. Đàn ông Hồi giáo có thể cưới một người đàn bà theo Do Thái giáo hoặc Kitô giáo, nhưng không được cưới một người theo đa thần giáo. Cũng như Do Thái giáo, Hồi giáo coi sự độc thân là một tội, hôn nhân là bổn phận làm vui lòng Thượng Đế (XXIV, 32). Mahomet cho phép đàn ông có nhiều vợ để đẻ nhiều con bù vào tử suất quá cao; còn hai nguyên nhân: vì đàn bà phải nuôi con; vì ở xứ nóng, sức sanh sản của họ mau tàn; nhưng ông hạn chế, chỉ cho phép bốn vợ là cùng, riêng ông thì ông không theo lệ đó. Ông cấm chế độ lấy nàng hầu (LXX, 29-31), nhưng cho rằng lấy nàng hầu còn hơn là cưới một người đa thần giáo thờ ngẫu tượng (II, 221). Vì vậy mà ít ai dám tố cáo những vụ gian dâm.

Kinh Coran cũng như Pháp điển Talmud cho phép chồng li dị rất dễ dàng, gần như vì lí do gì cũng được; vợ có thể li dị chồng sau khi trả sính lễ (II, 229). Tuy Mahomet theo tục cổ của Ả Rập cho người chồng được tự do li dị vợ như vậy, nhưng ông lại bảo Thượng Đế không ghét gì bằng sự li dị, nên mọi người đều ngán; bên chồng bên vợ đều cử người làm trọng tài và hai bên kiếm mọi cách hoà giải. Phải tuyên bố liên tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau một tháng, thì sự li dị mới hợp pháp; để buộc người chồng không được coi li dị là một trò đùa, người ta chỉ cho phép họ cưới lại vợ đã li dị, sau khi vợ đã cưới một người đàn ông khác và bị chồng sau ruồng rẫy.

Chồng không được ái ân với vợ khi vợ có kinh; những ngày đó đàn bà không bị coi là “ô uế”, nhưng trước khi nằm chung với chồng, cũng vẫn phải làm lễ tẩy uế. Phụ nữ bị coi như là “sở ruộng” của đàn ông để đàn ông gieo giống; và đàn bà có bổn phận sinh con để nối dõi. Người vợ phải nhận rằng chồng thông minh và tài giỏi hơn mình, và do đó, phải phục tòng chồng; nếu phản kháng thì chồng sẽ đánh bằng roi và bắt ngủ riêng (IV, 34). “Người vợ nào làm vui lòng chồng thì khi chết cũng được lên thiên đường” (IV, 35).

Ở Ả Rập cũng như ở các xứ khác, vì đàn bà có tài thuyết phục, dùng nhan sắc, tình âu yếm dụ dỗ đàn ông nên luật pháp phải hạn chế quyền của họ. Oman, sau làm calife (vua), mắng vợ là đã ăn nói vô lễ với mình. Bà bảo chính người con gái của ông ta là Hafsa, vợ của Mahomet và những người đàn bà khác của Mahomet cũng dùng giọng đó nói với vị Tiên tri. Omar bèn lại ngay nhà Mahomet mắng Hafsa và một bà vợ khác của Mahomet; hai bà này bảo đèn nhà ai, nhà đấy tỏ, ông ta la lên, quay về. Nghe kể lại chuyện đó, Mahomet cười ha hả. Cũng như các người Hồi giáo khác, ông thỉnh thoảng gây lộn với vợ, nhưng vẫn yêu họ và nhã nhặn, lễ độ nói về phụ nữ. Người ta bảo rằng ông có lần thốt câu này: “Một người đàn bà đức hạnh là vưu vật quí nhất đời”. Trong kinh Coran, có hai đoạn nhắc tín đồ rằng mẹ họ đã mang nặng đẻ đau và cho họ bú hai mươi bốn hoặc ba mươi tháng. Mahomet bảo: “Thiên đường ở dưới chân các bà mẹ”.

IV. TÔN GIÁO VÀ QUỐC GIA

Vấn đề căn bản của luân lí gia là trước hết làm cho sự hợp tác (của mỗi người với người khác, với vạn vật) hoá ra dễ chịu, thích thú, rồi sau xác định sự hợp tác đó nên rộng lớn ra sao. Một nền đạo đức hoàn hảo nhất phải nhắm sự hợp tác tối cao của một phần tử với đại thể – với vũ trụ nữa, nghĩa là hoặc với những luật thiên nhiên, hoặc với Thượng Đế; về phương diện đó, tôn giáo và luân lí chỉ là một. Nhưng luân lí do tục lệ mà có và tục lệ lại nhờ sự bó buộc mà có; cho nên luân lí chỉ làm phát triển sự hợp tác ở trong những tập đoàn mạnh thôi. Vì vậy luân lí thực sự nào cũng là thứ luân lí của tập đoàn.

Nền luân lí do Mahomet qui định vượt ra khỏi giới hạn của bộ lạc ông, nhưng còn bị hạn chế trong nhón tín đồ ông đào tạo. Sau lần thắng La Mecque, ông giảm bớt chứ không bỏ hẳn những vụ cướp bóc giữa các bộ lạc, tạo cho trọn bán đảo Ả Rập, toàn thể tín đồ Hồi giáo, một ý nghĩa mới về sự thống nhất, một khu vực rộng hơn cho sự hợp tác và sự trung thành. “Vì mọi tín đồ là anh em với nhau” (XLIX, 10). Nhờ cùng theo một tôn giáo mà sự phân biệt về huyết thống hoặc chủng tộc, trước kia rất mạnh trong các bộ lạc, nay giảm đi nhiều. “Nếu một người nô lệ da đen được giao phó cho việc chỉ huy con thì con phải tuân lời người đó, dù cho đầu người đó y hệt trái nho khô”. Làm cho mọi quốc gia trên thế giới hợp thành một dân tộc, đó là một ý niệm cao thượng và là vinh dự chung của Kitô giáo và Hồi giáo.

Nhưng trong cả hai tôn giáo đó, ngoài tình thương siêu việt đó lại còn một sự đối kháng kịch liệt tất cả những kẻ ngoại đạo. “Đừng coi người Do Thái và người Kitô giáo là bạn thân… Nếu chính cha mẹ con, anh em con không theo đạo thì con cũng đừng nên thương họ” (V, 51, 55; IX, 23). Tuy nhiên Mahomet áp dụng các qui tắc đó một cách ôn hoà thôi. “Không nên tàn bạo về tôn giáo. Nếu những người đó theo Hồi giáo thì chắc chắn họ sẽ được hướng dẫn; nếu họ quay lưng lại với Hồi giáo, thì các con chỉ nên rán thuyết giáo thêm nữa thôi”. “Nên khoan với những người không theo đạo. Thỉnh thoảng nên tử tế với họ” (XXXVI, 17). Nhưng đối với những người Ả Rập không theo đạo, không chịu phục tùng thì Mahomet dùng Jihad, tức thánh chiến nhân danh Allah. Một khi ông đã khai chiến với bộ lạc Koraishite và các “Tháng thiêng liêng” hưu chiến đã qua rồi thì ông ra lệnh cho chiến sĩ phải diệt kẻ thù bất kì gặp họ ở đâu (IX, 5). “Nhưng nếu một kẻ thờ ngẫu tượng nương thân tại nhà con thì con nên bao dung nó để nó được nghe lời Allah… Nếu nó ăn năn và dốc lòng cầu nguyện thì con để cho nó theo đường của nó” (IX, 5-6). “Đừng giết người già không chiến đấu được, đừng giết trẻ con và đàn bà”. Ở Islam (quốc gia Hồi giáo), người đàn ông nào khoẻ mạnh cũng phải dự cuộc thánh chiến. “Allah yêu những kẻ vì Ngài mà chiến đấu… Ta thề cam đoan có Allah chứng giám, rằng đi suốt ngày để chiến đấu vì tôn giáo còn thích hơn là suốt ngày tụng niệm sáu chục năm ở nhà nữa”. Nhưng luân lí chiến tranh đó không phải là để xúi giục chiến tranh. “Các con phải chiến đấu theo cách Allah với những kẻ tấn công con, nhưng các con đừng khai hấn. Allah không ưa quân xăm lăng” (II, 90). Mahomet chấp nhận những luật chiến đấu mà các quốc gia Kitô giáo áp dụng thời đó (…).

Cái hố không thể tránh được giữa lí thuyết và thực hành ở đế quốc Hồi giáo[42] có vẻ hẹp hơn các xứ khác. Người Ả Rập bẩm sinh ham mê nhục dục và kinh Coran cho phép chấp nhận chế độ đa thê; ngoài ra thì luân lí trong thánh kinh cũng như luân lí của bọn Thanh giáo đồ[43] (nước Anh) sau này; chỉ những người không hiểu biết Hồi giáo mới nghĩ rằng nó quá dễ dãi về đạo đức. Người Ả Rập nóng tính, hay trả thù, và kinh Coran không bảo phải lấy đức báo oán. “Kẻ nào tấn công con thì con tấn công lại… kẻ nào bị người khác hại mà trả thù lại thì pháp luật không trừng trị” (II, 194; XLII, 41). Luân lí đó hùng tráng như luân lí trong Cựu ước, coi trọng những đức cương cường của nam nhi, trái với luân lí nhu thuận trong Kitô giáo. Không có tôn giáo nào khác mà không ngớt luyện cho con người hùng dũng như Hồi giáo, và xét chung nó thành công lớn. “Này các tín đồ, các con phải kiên nhẫn, đoàn kết nhau mà chiến đấu” (III, 200). Zarathoustra của Nietzsche cũng nói vậy.

Được tôn sùng tột bậc, được nhiệt thành chép lại, vẽ hình, tô màu rất khéo, kỹ lưỡng, kinh Coran dùng làm sách tập đọc rồi sách đại học, chứa các tinh tuý của nền giáo dục Ả Rập, và trong mười ba thế kỉ nay đã mở mang kiến thức, kích thích tưởng tượng, đào tạo tư cách, có lẽ đã ngạnh hoá trí tuệ nữa của hàng trăm triệu người. Nó đã cho những tâm hồn mộc mạc đó một tín ngưỡng đơn giản nhất, ít thần bí nhất, ít lễ nghi nhất, đã không thờ ngẫu tượng mà cũng không có chế độ tăng lữ. Nó nâng cao trình độ đạo đức, văn hóa của tín đồ, lập được trật tự và thống nhất trong xã hội, dạy bảo về vệ sinh, làm giảm óc mê tin dị đoan và tính tàn bạo, cải thiện thân phận nô lệ, làm cho kẻ ti tiện hoá ra có nhân phẩm, biết tự đắc, và khiến cho tín đồ (trừ một số calife truỵ lạc) sống đạm bạc, có tiết độ hơn bọn người da trắng. Nó dạy cho con người thản nhiên nhận những nỗi khó khăn, hạn chế trong kiếp sống, mà đồng thời lại tạo được một sự bành trướng lạ lùng nhất trong lịch sử nhân loại. Kinh đó đã định nghĩa tinh thần tôn giáo như sau mà bất kể người Kitô giáo hoặc Do Thái giáo chính thống nào cũng nhận là đúng:

Hiền minh chính đại[44] không phải là quay mặt về hướng Đông hay hướng Tây, mà là như vầy: Những người nào tin ở Thượng Đế, tin có ngày phán xét cuối cùng, tin có thiên thần, tin Thánh kinh và các vị Tiên tri, những người nào vì yêu Thượng Đế mà phân phát của cải cho bà con họ hàng, cho con côi, cho kẻ nghèo, kẻ lang thang hành khất và để chuộc những kẻ bị bắt giam; và những người nào tụng niệm đều đều… đã giao ước thì giữ ước; và kiên nhẫn chịu nghịch cảnh, chịu những thời bạo loạn; những người nào tin ở Chúa mới thực là hiền minh chính đại (II, 177).

V. NGUỒN GỐC TRONG KINH CORAN

Giọng văn trong kinh Coran bắt chước giọng các vị Tiên tri Do Thái, mà nội dung cũng phỏng theo các giáo lễ, truyền thuyết và chủ đề Do Thái, như vậy là Mahomet gián tiếp thành thực khen dân tộc Do Thái hơn ai hết. Những ý căn bản trong kinh: nhất thần giáo, tiên tri, tín ngưỡng, sám hối, sự phán xét cuối cùng, thiên đường, địa ngục, có vẻ như chịu ảnh hưởng trực tiếp của Do Thái, cả về hình thức. Nhất là khi kinh đó tuyên bố vị Cứu thế đã ra đời, thì rõ ràng là một ý của Do Thái. Mahomet thẳng thắn chép lại lời những người đương thời chê rằng những lời khải thị của ông chỉ là “bịa chuyện để gạt thiên hạ, và nhiều người đã giúp ông bịa ra… đọc cho ông suốt ngày, từ sáng đến tối” (XXV, 5; XVI, 105). Ông sẵn sàng chấp nhận rằng các thánh thư Do Thái giáo và Kitô giáo là do Thượng Đế khải thị (III, 48). Thượng Đế đã khải thị cho loài người một trăm lẻ bốn lần trong năm quyển Pentateuque[45]của Moïse, trong các Thánh thi của David, trong kinh Phúc âm của Kitô, và trong kinh Coran của Mahomet; kẻ nào chối bỏ một trong những kinh đó thì bị ông coi là dị giáo. Nhưng ba kinh trước đã sai lạc, bị nguỵ tạo nhiều, không thể tin hết được, bây giờ kinh Coran thay thế. Đã có nhiều vị tiên tri được khải thị như Adam, Noé, Abraham, Moïse, Enoch, Kitô, nhưng vị tiên tri cuối cùng, vĩ đại nhất là Mohamet. Mahomet chấp nhận tất cả các truyện trong Thánh kinh từ thời ông Adam (thuỷ tổ của loài người) tới Kitô, nhưng ông phải tuỳ chỗ sửa lại một chút để cứu vãn danh dự của Thượng Đế, chẳng hạn ông bảo Thượng Đế đã không để cho Kitô chết trên thánh giá (IV, 157). Ông bảo ông là thiên sứ của Thượng Đế chứng cớ là kinh Coran hợp với Thánh kinh của Kitô giáo; ông dẫn nhiều đoạn trong Thánh kinh báo trước rằng ông sẽ ra đời để truyền đạo.

Ông dùng những ý của Do Thái để chép truyện từ thời khai thiên lập địa cho tới ngày phán xét cuối cùng. Allah do chữ Al-Ilat rút lại, mà chữ này trỏ một vị thần cũ trong điện Kaaba và được nhiều ngôn ngữ Sémite dùng với nghĩa là Thần hay Thượng Đế, mỗi ngôn ngữ nói một khác, chẳng hạn người Do Thái gọi là Elohim, và chúa Kitô trên thánh giá gọi là Eli. Allah và Yahve đều là những vị thần nhân từ, nhưng cũng rất nghiêm và hiếu chiến, có nhiều đam mê của loài người và cương quyết tỏ thái độ “duy ngã độc tôn”. Điều thứ nhất tín đồ Hồi giáo phải tin là: “Ngoài Allah ra không có vị thần nào khác”. Điệp khúc “Đáng chí nhân chí từ” cũng rất thường thấy trong kinh điển Talmun Do Thái. Kinh điển Do Thái lập lại hoài “Cảm tạ đấng Chí Thánh”, thì kinh Coran cũng viết: “Cảm tạ Allah (hoặc Mahomet)”. Những lời dạy bảo trong kinh Coran về các vị thiên thần, sự phục sinh và thiên đường giống những lời trong kinh điển Do Thái hơn là giống kinh Cựu ước. Một phần tư những truyện trong kinh Coran bắt nguồn trong kinh điển Do Thái.

Mahomet bắt chước người Do Thái cả trong nhiều nghi lễ, trong những tiểu tiết cấm thực và vệ sinh, chẳng hạn phải tẩy uế trước khi cầu nguyện – nếu không có nước thì có lệ dùng cát để tắm rửa – cũng do một tục Do Thái. Mahomet cũng bắt chước lệ sabbat – nghĩ ngày cuối tuần – của người Do Thái, chỉ sửa đổi một chút: dùng ngày thứ sáu làm ngày tụng niệm. Kinh Coran cũng như luật Moïse (một vị thánh của Do Thái) cấm uống huyết, ăn thịt heo, thịt chó, hoặc thịt bất kỳ con vật nào bị bệnh mà chết, hay bị một con vật khác giết, bị người giết để tế thần (V, 3; VI, 146), nhưng kinh Coran cho phép ăn thịt lạc đà mà Moïse cấm, vì giữa sa mạc, không có vật nào để ăn thịt. Cách thức nhịn ăn trong tháng trai giới y hệt cách thức của người Do Thái. Tín đồ Do Thái giáo phải hướng về Jérusalem và Điện Thánh, phủ phục xuống, trán chạm đất để cầu nguyện mỗi ngày ba lần; Mahomet cũng phỏng theo cách cầu nguyện đó. Chương đầu của kinh Coran là bài cầu nguyện căn bản của Hồi giáo, nguồn gốc cũng do một bài cầu nguyện của Do Thái. Lời chúc cao đẹp “Xin Thượng Đế phù hộ cho ông được an lạc” của tín đồ Hồi giáo giống hệt lời chúc nhã nhặn: Sholom aleichem của người Do Thái. Sau cùng thiên đường trong kinh điển Do Thái cũng có những cảnh cực lạc về thể chất vừa về tinh thần như thiên đường trong kinh Coran.

Một số tín điều và nghi lễ có lẽ là di sản chung của dân tộc Sémite; một số khác – như thiên thần, quỷ sứ, quỷ Satan, thiên đường, địa ngục, Chúa phục sinh, ngày phán xét cuối cùng – là do người Do Thái mượn của Babylone hoặc của Ba Tư, và người Hồi giáo có thể mượn thẳng của Ba Tư. Theo thuyết “thế mạt”[46] của Zoroastre và của Mahomet, người chết, sau khi chết phải qua một chiếc cầu nguy hiểm bắt trên một vực thẳm; kẻ ác rớt xuống địa ngục, người thiện thì lên thiên đường, tại đó được hưởng mọi lạc thú, ăn ngon, mặc đẹp, sống với các thiếu nữ (houri) đẹp như tiên và trẻ hoài. Mahomet phỏng theo thần học, luân lí, lễ nghi Do Thái, thuyết thế mạt của Ba Tư và thêm vào thuyết ma quỷ Ả Rập, tục hành hương và hành lễ ở điện Kaaba, mà tạo nên Hồi giáo.

Ông chịu ảnh hưởng của Kitô giáo ít hơn. Xét kinh Coran thì ta thấy ông biết rất sơ sài về Kitô giáo, không đọc nguyên văn Thánh kinh Kitô giáo, mà chỉ biết phần thần học trong đạo đó qua hình thức Cảnh giáo[47]của Ba Tư. Lời ông khuyên tín đồ phải ăn năn sám hối kẻo bị Chúa trừng phạt là một tư tưởng có màu sắc Kitô giáo. Ông lẫn lộn Thánh mẫu Marie (tiếng Do Thái là Miriam) với Miriam, bà chị (hay em) của thánh Moïse, và thấy tín đồ Kitô giáo hồi đó thờ Thánh mẫu Marie, ông tưởng người Kitô giáo coi là nữ thánh hợp với thánh Cha, Chúa Kitô thành tam vị nhất thể (V, 116). Ông tin nhiều truyền thuyết về Kitô và về sự trinh khiết hoài thai của Thánh mẫu Marie (III, 47; XXI, 91). Ông nhận rằng Chúa Kitô làm được những phép mầu và ông khiêm tốn không cho mình có tài đó (III, 48; V, 110). Như một số tín đồ Kitô giáo dị đoan ở mấy thế kỉ đầu, ông tin rằng Thượng Đế đã đặt một con ma lên cây thánh giá thay chúa Kitô, còn Chúa thì được vô sự đưa lên trời. Nhưng Mahomet không chịu nhận rằng Kitô là con của Thượng Đế: “Allah là Thượng Đế duy nhất! Ngài thực quang vinh! Làm sao Ngài có con trai được!” (IV, 171). Ông khuyên người Do Thái và Kitô giáo – mà ông gọi là “dân tộc theo Thánh kinh” – nên thoả hiệp với ông cùng thờ chung Allah với ông (III, 64).

Mặc dầu không tán thành sự giao thiệp thân mật với người Kitô giáo, ông cũng có thiện cảm với họ. “Các con nên là người bạn tốt của người Kitô giáo” (XXXI, 15). Ngay sau khi xích mích với người Do Thái ông cũng vẫn khuyên tín đồ khoan dung với các “dân tộc theo Thánh kinh”[48]. Hồi giáo tuy cũng cuồng tín như các tín ngưỡng khác, nhưng cho rằng những kẻ ngoại đạo cũng có thể được cứu rỗi (V, 73), và ông khuyên tín đồ tôn trọng “Luật”, tức kinh Cựu ước, kinh Phúc âm và kinh Coran, cả ba đều là “Lời của Thượng Đế”; tinh thần khoáng đạt đó thật là tươi mát. Mahomet yêu cầu các tín đồ người Do Thái tuân “Luật” của họ, người Kitô tin lời trong Phúc âm (V, 72); nhưng cũng khuyên họ coi kinh Coran là lời khải thị cuối cùng của Thượng Đế. Các lời khải thị trước đã bị sai lạc đi, rồi lời khải thị cuối cùng, tức kinh Coran, có mục đích đoàn kết họ lại, giải tội cho họ và cho toàn thể nhân loại một tín ngưỡng tạo ra sinh lực và sự thống nhất.

Ba kinh đó: Kinh thánh Kitô giáo, kinh điển Talmud của Do Thái giáo và kinh Coran của Hồi giáo đã tạo nên “thời đại tín ngưỡng” (thời Thượng cổ và Trung cổ), có một nền đạo đức siêu nhiên do Thượng Đế khải thị là mới lập lại được trật tự trong xã hội và trong tâm hồn con người. Cả ba kinh đó đều của các dân tộc Sémite, đặc biệt là dân tộc Do Thái. Bi kịch trong lịch sử (phương Tây) thời Trung cổ có lẽ là sự tương tranh về tinh thần của ba tín ngưỡng đó và sự xung đột đổ máu giữa các tín đồ các tôn giáo đó.

[35] Ví dụ chữ sheik viết là shk (bỏ ei), chữ kur’an viết là cr’n (bỏ u và a). (ND).

[36] Nghĩa là vì Mahomet tuỳ hứng, tuỳ hoàn cảnh mà đọc những lời giáo huấn, luật lệ cho thư kí chép, chứ không có ý viết một cuốn có hệ thống, bố cục hẳn hoi. (ND).

[37] Chương XII, câu 5. Sau cũng vậy, cứ số La Mã chỉ chương, số Ả Rập chỉ câu. (ND).

[38] Cũng viết là Iahvé hoặc Jahvé, tức Thượng Đế theo Do Thái giáo, như Allah trong Hồi giáo (ND).

[39] Chỉ chung các vua Ai Cập thời Thượng cổ, không theo Do Thái giáo. (ND).

[40] Bản tiếng Anh chép là: Adam (Goldfish).

[41] Thi hào bậc nhất của Ý (1265-1321), tác giả bộ trường thi La divine comédie trong đó ông tả cảnh thiên đường và địa ngục. (ND).

[42] Từ đây chúng tôi gọi là Hồi giáo cho gọn. (ND).

[43] Một giáo phái nghiêm khắc chủ trương sống thật thanh khiết. (ND).

[44] Cũng như ta nói: Hiền nhân quân tử. (ND).

[45] Tức năm quyển đầu trong kinh Cựu ước. (ND).

[46] Nghĩa là con người sẽ ra sao khi chết và sau khi thế giới hết kiếp. (ND).

[47] Một phái Kitô giáo cho Chúa Kitô là người thường. (ND).

[48] Sau này, từ ngữ “dân tộc của Thánh kinh” có nghĩa rộng hơn, bao gồm cả Ba Tư vì họ cũng có một thánh kinh, kinh Avesta).

« Lùi
Tiến »