Lính Thành Phố

Lượt đọc: 4918 | 6 Đánh giá: 9,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 8 -
đi xa thành phố

Có những ngày thật buồn, thật trống rỗng, tôi đã lìa bỏ thành phố, để đi tìm một vài người bạn thân…Những ngày lang thang ấy, có khi kéo dài hàng tháng, có khi chỉ chừng một ngày, tùy theo lòng tôi còn ham ở lại hay không.

Tính của tôi vẫn dễ dàng thay đổi. Cũng như trời mưa, trời nắng miền Nam. Đang nắng thì có những đám mây sẫm màu chì, từ chân trời lan rộng ra khắp bầu trời, những hạt mưa lác đác rơi, rồi mưa ào ạt, mặt trời như nằm yên trên chiếc nệm mây ngủ yên.

Tôi đã rời bỏ Sàigòn đang mùa mưa để đi về miền Trung. Những cơn mưa thường tới miền Trung rất chậm. Vào mùa này, khi rời bỏ miền Nam để đi lên miền Trung, người ta có cảm tưởng như rời bỏ một vùng ẩm ướt đầy những vũng nước để đi về miền có đầy nắng. Khi phi cơ vượt ra khỏi dãy núi Chứa Chan, trời như bừng sáng hẳn. Qua cửa kính phi cơ nhìn xuống, tôi thấy đầy màu xanh dưới thấp của rừng cây mướt lá…

Khi bắt đầu nhìn thấy biển xanh, tôi đã tưởng như bàn chân được đặt trên cát mỏng và được hưởng những buổi trưa đầy gió, đầy nắng, được nhìn qua cửa sổ thấy những cánh bướm vàng nhỏ bé, lạc lõng và ngủ thiếp đi trong tiếng rì rào của trùng dương ru ngủ, tiếng rì rào nhè nhẹ và thoảng lẫn vào mơ, những cơn mơ đầy chất ca dao.

Những nơi tôi tới, thường không phải những nơi xa lạ. Tôi đã sống ở hết các phi trường. Nơi lâu nhất là tám năm. Nơi ngắn nhất là sáu tháng. Những con đường trong căn cứ, trong phi trường thường ít thay đổi. Chỉ những vật nổi trên mặt đất là dễ thay đổi. Chuyện biển dâu vẫn là câu chuyện xảy ra tự ngàn xưa.

Những người bạn tôi hiện nay đã làm việc ở những nơi đẹp hơn, sạch hơn. Tôi hỏi thằng Thắng đang ngồi sau một chiếc bàn rộng mênh mông đầy giấy tờ, sách vở:

– Mầy như con chim bị nhốt trong lồng …Nhưng cái lồng thì lại được chủ sơn phết, thành một thứ lồng son. Mầy còn nhớ tới cái gian nhà dùng làm Ban Kiểm Kỳ, nhỏ xíu , trông như một cái cầu tiêu?

Thắng thở dai:

– Thôi, mầy đừng nói nữa. Tao khóc lên bây giờ . Những cái gì sạch quá, sang quá, không phải là nơi dành cho chúng mình. Kiếp của chúng mình là kiếp ăn cơm ở chợ, uống nước ở vòi nước , rồi chết, nằm ở tử sĩ đường. Nhiều lúc, quần áo hơn dơ một chút, ngồi lên chiếc ghế này, trước cái bàn này, tao thấy ngượng cho cái thân mình.

Tôi hiểu rõ tâm sự của Thắng. Những ngày xưa, ngày còn mang quanh mình đầy mỏ-lết, đầy tuộc-nơ-vít, đôi giày cả đời không biết đến “xia-ra”, sao mà xa xôi như xảy ra từ kiếp trước. Hăng-ga, sân đậu phi cơ đầy rác rưởi. Lăn lóc ở góc nhà, nhiều khi còn có cả những khúc bánh mì ăn dở, rắn như một cục đất, có thể liệng chết được một con chó cỡ lớn. Còn bây giờ thì không có một vật gì dính bụi, kể cả đôi giầy đi dưới chân.

– Làm việc bây giờ mệt lắm. Mệt nhất là cái gì cũng phải sạch. Nhưng có một thứ bẩn hơn ngày xưa là trong đầu thằng nào cũng nghĩ cách làm giàu…

Tôi nhìn mái tóc đã đốm bạc của những người bạn mà cảm thấy thương cho chính thân mình. Tôi nhớ tới câu thơ “tóc vương màu khói…”. Khói, lửa và nước mắt đã đầy trên khắp nẻo đường mảnh đất quê hương. Đi tới đâu cũng chỉ thấy nghèo, đói, khổ. Khi còn là những người lính trẻ, lương trên ba ngàn đồng một tháng mà không cảm thấy thiếu thốn. Còn bây giờ, với số lương hơn mười ngàn, sự túng thiếu cứ hiện rõ ra theo từng ngày rơi dần trên tấm lịch. Thắng lơ đãng nhìn ra ngoài trời đầy nắng:

– Chúng mình cảm thấy thiếu tiện nghi, chỉ vì chúng mình lúc nào cũng chạy đuổi theo những tiện nghi. Cũng tại vì chung quanh mình, chúng nó giàu quá.

Rời xa thành phố, để không phải nghe chuyện thành phố, mà vẫn bị những níu kéo để trở về. Tôi thấy một chán nản tràn đầy….Gió bên ngoài thổi mạnh, ống gió nằm ngang, đuôi hướng chênh chếch phi đạo. Ở phi trường này, khoảng buổi trưa thường bị một giờ gió thổi ngang thật mạnh. Gió thốc từ ngoài biển vào. Những cánh chim non lạng vào trục đáp, lâng lâng như một cánh diều mỏng, đôi cánh bập bềnh nghiêng ngả.

Mắt của Thắng như mờ đục đi, khi có một đám mây che bóng rợp xuống sân:

– Chúng mình bây giờ chỉ còn là một kẻ hành khất, để xin xỏ một chút yên lành. Đừng để ai động tới, mà mình cũng chẳng nên động tới ai. Nhưng liệu có tránh được sự đụng chạm, dù rằng mình đã lái chiếc xe đời đi rất chậm, như chiếc xe tang đang dần tiến về nghĩa trang.

Hai đứa chúng tôi cùng đi ra khỏi cửa. Lúc này, tôi mới để ý tới bộ quần áo của Thắng mặc trên mình. Chiếc quần thì rộng quá, chiếc áo thì chật quá. Có lẽ bộ quần áo này từ kho quân trang, được phát ra là “ngự” ngay trên người Thắng. Chúng mình còn có tuổi trẻ gì nữa đâu. Để ý làm chi tới đường nhan sắc…Chẳng bù với những ngày, lúc nào cũng chỉ mong có những cặp mắt xanh để ý tới mình. Thắng ngừng lại bắt tay tôi, khi một nửa người tôi đã bước ra ngoài nắng:

– Thôi, lâu lâu gặp nhau thế này, để biết là mầy chưa chết, thế là tao mừng rồi. Cả một năm, cả một đời bận rộn lo chuyện cơm áo, không có thì giờ hỏi thăm tới nhau. Tối hôm nay, tới nhà tao chơi.

Tôi bùi ngùi hỏi một câu:

– Bây giờ, mầy có mơ ước gì không?

– Hết chuyện mơ ước rồi. Nếu có còn thì tao chỉ mơ ước có một cái cầu tiêu cho riêng mình.

Hai đứa chúng tôi cười vang thích thú. Những kỷ niệm ngày còn sống ở phi trường xứ Bưởi, lần lượt hiện về. Tôi bước đi, từng bước chậm rãi như đi vào trong gió muối, nắng vàng. Ngày còn ở Biên Hoà, cả một dãy nhà, bao nhiêu mạng người, mà chỉ có ba chiếc cầu tiêu. Hai chiếc bị nghẹt, khoá kín. Còn có một chiếc dùng được nên xảy ra rất nhiều chuyện đau khổ. Có thằng chờ đợi lâu quá, không thể nhịn được, bèn trải một tờ báo rồi làm một đống. Xong xuôi nó gói lại, quẳng đại qua cái cửa cầu tiêu, chỉ che khuất nửa chừng. Thằng ngồi bên trong lãnh đủ trọn gói, nhưng lúc mở được cửa chạy ra thì thủ phạm đã biến mất. Bèn chỉ còn một cách là chửi rủa một hồi cho hả giận.

Tôi bước vào một căn phòng có gắn máy lạnh. Khép cánh cửa lại, tiếng ồn ào phía bên ngoài như bị tắt nghẽn. Tất cả mọi người đều bận túi bụi suốt ngày với một hàng điện thoại.Tiếng chuông điện thoại của cái phòng này, reo đủ mọi giọng…Có tiếng rên rỉ nho nhỏ như tiếng dế kêu dưới cỏ. Có tiếng rền vang như đồng hồ báo thức. Có tiếng gõ cốc cốc như mõ đánh liên hồi. Tôi nhìn những bàn tay loang loáng đưa qua trước mặt. Có tiếng chuông reo là bốc lên., không khi nào bốc lầm phải chiếc điện thoại không có chuông reo.

Đất nước tôi ở vùng này dài quá. Một vùng mà chiều dài thì như bất tận mà chiều ngang thì quá hẹp. Chỉ nửa giờ bay ngang là đã tới biên giới Lào. Một bên là dãy Trường Sơn trùng điệp. Một bên là biển cả mênh mông. Chiều dài thì dài đến nổi một chàng thợ bay đi biệt phái đã ca bài “bay mãi, bay hoài mà chưa tới”.

Những người bạn tôi sống xa thành phố nhiều nhất, lâu nhất, là những thằng biệt phái. Có những cặp vợ chồng như Ngưu Lang, Chức Nữ, một năm chỉ gặp nhau một lần nhờ đàn chim Ô Thước, bắc cầu qua sông Ngân. Còn ở đây, có những người cùng một đơn vị mà cả năm chẳng nhìn thấy mặt nhau. Người thì về, người thì đi…Từ miền biển Phan-Thiết, Qui-Nhơn, Tuy-Hoà lên vùng núi Ban-mê-Thuột, Quảng-Đức, Cheo-Reo…Những nơi khỉ ho, cò gáy nhu Kon-Tum, Bồng-Sơn…

Tôi hỏi một người bạn trẻ:

– Các bạn nghĩ sao khi các bạn làm việc túi bụi như thế này mà có những thằng như chúng tôi, chỉ biết lang thang ngày tháng rong chơi?

Người bạn trẻ cười:

– Chúng tôi không có thì giờ để ganh tỵ. Lúc hết công việc là mệt quá, chỉ muốn hỏi thăm cái giường. Nằm xuống giường là ngủ ngay. Phải như vậy mới chống đỡ nỗi buồn, như những ngày nằm miền cao nguyên Quảng-Đức, Cheo-Reo…

Tôi hỏi thăm về cái chết của một người bạn. Chàng quan một Phó Nhòm đã chết tức tưởi ở một nơi biệt phái xa xôi. Một ngày đi qua nghĩa trang Mạc-Đỉnh-Chi, tôi gặp ông bố già, lủi thủi từ trong đó đi ra. Tôi hỏi thăm:

– Thưa bác, anh Minh bây giờ ở đâu ạ?

Ông bố già oà lên khóc:

– Nó nằm trong này đấy, cháu bị….

Tôi bàng hoàng, ruột gan như trống rỗng. “Chiếc lá xanh khi đã lìa cành rơi xuống đất, bay lang thang khắp các ngả đường rồi không biết sẽ mục nát ở một xó xỉnh nào”. Minh ơi, mầy đã có một chỗ nằm yên…Người bạn trẻ ngậm ngùi. Thôi, nói làm chi nữa, thảm lắm anh ơi! Anh hãy hỏi đến những chuyện lấy vợ, đẻ con tới những thằng có vợ, có người yêu ở những miền đầy núi, đầy rừng. Ở những nơi, con người làm việc hết mình như ở đây, tôi không thể nói chuyện được nhiều.

Tôi mở cửa để nghe tiếng ồn ào lùa vào như cơn lốc mạnh ngoài trời. Phi trường ở đây đang hồi sửa chữa. Phi đạo chính đóng cửa, chỉ còn cất cánh và hạ cánh ở một phi đạo ngắn ngủi. Ngay sát hai đầu phi đạo là con đường chính của căn cứ, xe cộ đi lại tấp nập. Khi phi cơ qua khỏi vị trí gió xuôi, tôi thấy phi cơ cứ nhằm vào sườn núi mà lao thẳng vào. Những chiếc xe kềnh càng bò chậm qua trước mũi tàu bay khi vào vòng chót. Chỉ cần sà thấp xuống một chút là tàu bay có quyền móc hai cái cẳng vào mui xe, rồi biểu diễn một đường nhào lộn thật đẹp mắt. Với một phi đạo ngắn như vậy, hạ cánh tối đa cách cản, đạp thắng liên tiếp cũng đủ làm cho những chàng lính thành phố toát mồ hôi.

Người bạn trẻ gật gù cái đầu:

– Ngày hôm qua đã có một anh chàng khu trục nằm hít đất ở cuối phi đạo. Thân xác của chàng còn nằm ở góc sân kia…

Tôi nhìn theo ngón tay trỏ của người lính trẻ. Chiếc cánh quạt cong queo nằm xiêu vẹo. Hai đầu cánh rách nát. Chiếc tàu bay ấy bây giờ cũng giống như thân xác tôi, một thằng lính thành phố, để nằm yên một chỗ, chờ ngày phế thải. Tự nhiên tôi có nhiều ý nghĩ thật buồn.

Tôi chưa phải là người buồn nhất. Còn rất nhiều cuộc sống khắc khoải hơn tôi. Như Đặng và Đoàn. Tôi đã nhìn hai đứa dành nhau một cái bàn, kê bên cạnh cửa sổ. Hai người đó là hai tên thợ bay, đã một thời vùng vẫy trên trời mây, không biên giới. Bây giờ thì đang sống như một con chim bị chặt cánh. Thì hai kẻ đó đang đứng trước mặt tôi đây.

– Xin mời anh ngồi vào cái bàn này. Anh là quan ba, anh phải ngồi ở cái bàn đẹp này mới được. Tôi ngồi chỗ đó, dưới cái quạt trần, gió lớn quá, chỉ sợ gió thổi bay mất.

Tôi nhìn Đoàn thì nhận thấy hắn ốm yếu quá. Có thể cởi trần cho học trò tiểu học thực hành một bài học cách trí. Hắn mà nhảy dù thì có lẽ sẽ lơ lửng trên trời lâu lắm. Tôi nhìn sang Đặng. Chàng quan ba này vẫn ngồi lì ở một góc nhà, nhất định không nhúc nhích. Hắn cất giọng trầm buồn:

– Thôi đi, Đoàn ơi. Chỗ này nhìn ra ngoài cửa sổ. Không còn bay bổng gì nữa, tao đã mất…không gian. Tao chỉ xin mầy một tí khung trời, có núi, có biển, có mây. Mầy bắt tao ngồi ở cái bàn ấy, để tao ngẩng mặt lên là nhìn thấy bức tường à? Tao năn nỉ mầy, chỉ xin mấy cho tao một tí khung trời, có núi, có biển, có mây….

Tôi muốn tránh gặp những cảnh đó. Tôi đi bộ dọc theo bờ biển, ngồi trong tiếng sóng và thùy dương cho tới chiều tối. Ghé qua nhà Thắng, tôi rủ hắn đi uống cà-phê. Trong cái u buồn của quán cà-phê Trang, hai đứa đã kể với nhau những kỷ niệm ngày xưa, về những thằng bạn đông con và những thằng chưa vợ. Bốn chục tuổi đầu mà gần một chục đứa con, cũng là một tình cảnh đáng thương. Bốn chục tuổi đầu mà chưa có vợ, cũng là một tình cảnh đáng thương. Rồi nhìn lại, nào biết thương ai, để rồi cuối cùng, lại thương cho chính thân mình.

Trở về Sàigòn, tôi lại phải đi…Lần này tôi đi gần hơn, về miền núi có mùi thơm hoa bưởi. Lúc này đã vào cuối năm. Trời năm nay, về cuối năm, tự nhiên có vài cơn mưa lớn, nước xối xả gõ đều nhịp trên mái tôn, hoà lẫn với tiếng thánh ca từ một máy phát thanh bỏ túi. Sinh hoạt ở phi trường này lúc nào cũng ồn ào mà nên thơ , sống động mà âm thầm lặng lẽ, những nét tương phản rõ rệt thật đậm nét.

Trở về Biên Hoà, tôi như trở về miền đất quê hương. Tôi không muốn đóng vai một người khách lạ, một kẻ đứng bên lề. Khi gặp các bạn bè cũ, tôi biểu diễn một bộ mặt buồn buồn và thở một hơi rất dài, dài như xa lộ Saigon – Biên-Hoà: tao đổi lên đây rồi! Lại ăn nằm với chúng mầy. Lại phải “đi khách” với mấy chiếc tàu bay khốn nạn. Có nhiều thằng tin, mời tôi về phòng, nhường cho một chiếc giường. Có nhiều thằng không in, chửi ầm lên. Tôi cười, đi lên chỗ ngồi trên cao nơi mà tôi đã ngồi đây hàng mười năm. Người cũ đã phiêu bạt đi tứ phương. Còn lại vài ba thằng, thì một thằng lủng phổi, phải nằm nhà thương. Còn có thằng phải mang đôi kiếng lão. Ôi, làm cái nghề này mà nó mang kiếng lão thì cái tương lai của nó là sẽ được nằm trong khám Chí-Hoà.

Vừa thò đầu lên từng lầu cao nhất, đã thấy tiếng thằng Trọng la lớn:

– Mệt, mệt quá….Tàu bay ở đ… đâu mà nhiều thế?

Vùng trời như rợp hẳn lại vì bóng phi cơ. Tiếng left , right loạn xà ngầu…Hai phi đạo song song, cái nằm bên trái, cái nằm bên phải. Tàu bay nào làm vòng phi đạo bên phải thì cho hạ cánh phi đạo bên phải. Làm vòng phi đạo bên trái thì hạ cánh phi đạo bên trái. Không biết vị trí tàu bay là có quyền …vỡ mặt. Tôi giơ cả hai tay chào chúng nó, nhưng chỉ nhận được một cái cười nở toe toét và một cái gật đầu.

Trọng trao micro cho một người lính trẻ kèm theo một câu căn dặn: cẩn thận đấy nhé. Cái gì không hiểu thì hỏi lại…Không có gì mắc cỡ. Rồi Trọng lùi lại về sau, nắm lấy tay tôi thật chặt. Tôi gợi lại một chút bàng bạc, tiếc thương hoài cổ:

– Ôi, còn đâu cái ngày xưa thân ái…của phi trường Biên-Hoà. Cứ sáu giờ chiều là tao với mầy, xách súng hoả pháo, đứng dưới chân đài. Chờ cho một thằng “tớp tớp” lang thang vào tới vòng chót mới bắn một phát hoả pháo xanh, rồi mặc cho nó hạ cánh. Thời đó, biết đến bao giờ mới tìm lại được.

Trọng nhắm mắt, làm ra cái điều đau khổ:

– Thôi, còn gì mà nói nữa!

Núi Bửu-Long như gần hơn vì cây cối khai quang trống trải. Ngày xưa, ngày đó đã xa lắm rồi…Ngày đó, anh viết thư cho em: Anh cứ lầm lẫn nhiều lần về đèn đặt hai bên cánh phi cơ. Đèn bên trái màu đỏ, đèn bên phải màu xanh. Nhưng rồi anh nghĩ tới em. Bên trái anh, có trái tim,, mỗi lần cầm lấy tay em, là nhịp tim đập liên hồi. Bao nhiêu máu anh đều tụ lại ở tim. Màu máu đỏ tụ lại ở bên trái. Có phải vì vậy mà chiếc đèn phi cơ đặt bên trái, mang màu đỏ hay chăng?

Trọng chán nản:

– Lang thang ở khắp nơi, rồi cuối cùng lại về đây. Nhưng buồn hơn ngày xưa vì không có bạn.

Phải rồi, chúng mình sống là phải có bạn. Lúc nghèo đói, về đến nhà mà không mang theo chút đỉnh tiền, vợ con cằn nhằn là lẽ thường rồi. Đến con chó nhà mình, nó thấy vậy cũng sủa ầm ỹ. Chỉ có những thằng bạn là chịu đựng được nhau. Tôi cười:

– Mầy còn quên một loại có thể nuôi mình. Mầy quên các em Dốc-Sỏi ngày xưa rồi sao?

Tôi đã đưa Trọng về một dĩ vãng mù tịt mà bây giờ như không còn dấu vết. Những mái nhà tranh tối mù, leo lét ngọn đèn dầu, có những người con gái vụt tới, vụt biến như những người con gái liêu trai. Ban ngày, nơi đây mang nhiều nét uể oải, chán chường. Mặt trời như xa lánh nơi đây. Con đường xe lửa, lâu lâu mới có một chuyến, ì ạch phun khói, chở vật liệu vào trong căn cứ, rồi lại ì ạch đi ra, gió cuốn bay tung những mảnh giấy báo trắng xoa đằng sau thân tàu. Những đứa con gái, thích chuyện lạ, đổ xô ra ngoài cửa, tay còn cầm từng vốc đậu phộng rang, bốc từng hạt liệng những người lính hộ tống, ngồi trên thành cửa, chân thòng xuống đường đu đưa. Phía cuối toa, một người lính đứng “tè” xuống đường tàu làm thanh một cầu vồng nước phản chiếu ánh sáng buổi sớm lung linh, tự nhiên và bình thản… Cảnh đó thoáng qua với Trọng như những bóng ma ngày cũ. Trọng hỏi:

– Mầy còn nhớ em Ngọc không?

– Sao không nhớ? Cái em bé nói tiếng Tây vi va, vi vút, nhưng nói tiếng Việt thì lại ngọng líu, ngọng lô. Nhớ lắm!

Những đứa con gái ở Dốc-Sỏi, không biết sinh trưởng ở miền nào, nhưng cứ khi nào hỏi tới lại tự xưng mình là người Hà-nội . “Em ở đâu ngoài Bắc ta” – “Dạ, thưa anh, em người Hà-lội”. Nhiều lúc, tôi, đã chửi thầm: Bố em, chỉ được cái phịa. Anh còn lạ gì đất Hà-nội . Những ngy cuối thu, lá vàng rơi đầy mặt đất. Con đường Rollandes, Carreaux tràn ngập lá vàng , nổi bật màu xanh của rừng áo Trưng-Vương. Trọng bắt chước giọng em Ngọc:

– Gớm, anh “nàm” em giật “lẩy” cả mình!

Rồi Trọng hỏi tôi:

– Tối nay, mầy ngủ ở đâu?

– Chưa biết!

– Thế thì tối nay lên đây ngủ một đêm nhìn đèn phi đạo màu trắng, nhìn đường vận chuyển màu xanh biết, ngủ trong tiếng máy phát thanh hét vang bên tai…Chắc đã lâu rồi mầy nhớ những tiếng này lắm.

Tôi thẫn thờ bước xuống thang lầu. Phi trường này thường hay ăn đạn pháo lích. Nằm ở chỗ này cũng đáng sợ đây. Nhưng cái chết đột nhiên tức khắc, chắc là sung sướng mát mẻ hơn cái sống mòn, chết dần. Tôi đi vào khu Tiếp Liệu, chỉ cách một quãng đường ngắn mà như đi vào một thế giới khác. Tiếng người nói chuyện thì thầm. Tiếng máy chữ gõ đều đều. Phất phơ một vài bóng dáng áo mầu làm mát mẻ hẳn phi trường. Tôi còn nhớ hai hàng phượng vĩ trên lối đi mà mỗi mùa hè, hoa nở đỏ thắm nổi bật trên những mái nhà fibro trắng. Nhưng những cây phượng giờ này không còn. Tôi hỏi thăm một người bạn già về hai hàng hoa phượng, thì người bạn già cười:

– Tại thuốc khai quang đấy!

Tôi ngạc nhiên:

– Khai quang ngay ở trong căn cứ?

– Không, nhưng gió đã thổi thuốc khai quang ở rừng Tân-Phong về, mầy không thấy tất cả cây cối trong căn cứ này đều chết khô cả rồi sao?

Tôi bùi ngùi nhớ tiếc vườn cao su xanh um lá, hai hàng hoa phượng nơi đây. Chắc mùi thơm hoa bưởi cũng không còn. Đất nước quê hương tôi còn chịu đựng chiến tranh không biết tới bao giờ? Hai chiếc kho cháy rụi vì đạn pháo kích ở nơi đây còn trơ lại những dàn sắt cong queo, khoảng nền đất đen sì, vẽ đậm nét hình ảnh chiến tranh của quê hương bi thảm. Tiếng người bạn già lẫn vào tiếng phi cơ cất cánh ở đầu phi đạo:

– Tao đã về đây, thế mà đã gần hai chục năm rồi đấy, mầy ạ. Từ ngày ở Tây về, thuyên chuyển lên đây, rồi cứ nằm đây hoài hoài, bền bền…Làm việc ở đây, mới đầu thấy cực nhọc, nhưng rồi cũng quen đi. Tao đã tính mua một khoảng đất nghĩa trang nơi đây.

Cái mệt nhọc như thấp thoáng ẩn hiện trong cặp mắt thẫn thờ. Bên ngoài thì nắng vẫn chói, trời vẫn xanh. Nhưng ở con người, màu xanh mái tóc đã đổi thành màu trắng bạc phơ.

– Anh có điều gì bất mãn không ?

– Làm gì còn có điều bất mãn. Nói cho đúng thì cố làm cho con người mình thật lạnh. Thằng con tao yêu quý nhất mà hay bị thằng hàng xóm giỡn nghịch , cầm cái hộp quẹt “díp-pô” gõ sưng u cả đầu, mà tao còn không muốn gây chuyện. Chỉ dặn dò con mình nên tránh mặt chú Tư. Chỉ một chuyện nhỏ như vậy, mầy cũng thấy con người tao hồi này như thế nào rồi!

Cái tật của những thằng già là ngồi đâu cũng nó xấu những người trẻ. Tại sao lại như vậy được nhỉ? Phải tha thứ cho tuổi trẻ. Người lính trẻ “bắt” tàu bay vào sân đậu, hai cánh tay đưa lên, ngoắc tới, ngoắc lui, khi đưa hai cánh tay bắt chéo nhau cho tàu bay tắt máy là ù té vào trong chỗ rợp tránh nắng. Không cần cho tàu bay nằm ngay hàng, thẳng lối. Nhiều khi quên cả việc đá hai miếng gỗ chèn vào hai bánh tàu bay. Tôi cũng vẫn phải đồng ý với anh. Ừ, những cái ngày chúng mình bằng tuổi chúng nó, chúng mình đâu có như vậy…Tôi hiểu rằng những người như anh, lúc nào cũng bàng bạc một tinh thần hoài cổ. Kể chuyện gì cũng bắt đầu bằng hai tiếng ngày xưa… Ngày xưa, tàu bay mà chúng mình coi sóc, sạch lắm, cả chỗ ống khói phun ra cũng được rửa kỹ. Bây giờ thì….Tôi lại nghĩ tới Thắng. Tại sao những cái tương phản chỉ cách nhau có một quãng đường ngắn ngủi?

Khi những người dân thành phố muốn làm dáng cho mình, nghĩa là muốn tỏ ra có một chút lòng yêu nước, ai cũng nghĩ đến việc đi thăm chiến sĩ. Nhưng thường họ chỉ nghĩ tới lính chiến. Ít khi, người ta nghĩ tới lính thành phố. Dân thành phố, không muốn nghĩ tới lính thành phố. Họ cho rằng lính thành phố cũng cùng một giai cấp, không còn gì phải ủy lạo, tặng quà hay nói vài câu an ủi…

Một ngày trực, tôi phải đi kiểm soát vòng đai phi trường . Tôi đã thấy cả một gia đình sống trong lô-cốt ngay sát hàng rào kẻm gai. Tôi đã hỏi ông “chủ gia đình”:

– Sao không để vợ con ở nhà? Mang ra đây, lỡ xảy ra chuyện gì thì sao?

Người “chủ gia đình” ngậm ngùi:

– Để ở nhà rồi mỗi bữa cơm, phải mang cơm ra đây cho tôi thì cũng quá tội. Ở gần nhau, lo cho nhau thì vẫn hơn. Với lại, thà chết một đống, còn hơn sống một người..

Nơi đây rất gần thành phố. Đằng sau lưng, thành phố lên đèn sáng rực. Đằng trước mặt là khoảng mù mù, tím thẫm . Cũng có tiếng ếch kêu hoàng hôn. Cũng có tiếng gió rì rào thổi luồn vào đám cỏ. Những thứ đó làm nơi đây như xa cách hẳn thành phố. Nếu không có tiếng động cơ vang ầm thì không khác gì một tiền đồn và kẻ sống ở đây như lính thú đời xưa “miệng ăn măng trúc, măng mai”. Lính thành phố thì có gì sung sướng đâu.

Trời miền Nam , hai mùa mưa nắng không thay đổi. Hết mùa mưa rồi tới mùa nắng. Nghĩ tới thân phận lính thành phố, tôi cũng không mong được hưởng cái váng vất khó chịu của giữa mùa nắngười, tự nhiên nổi một cơn mưa….

DƯƠNG HÙNG CƯỜNG

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của dương hùng cường