Lời Nhắn Cuối Cùng

Lượt đọc: 12735 | 6 Đánh giá: 9,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trợ Giúp Đang Tới

Khi chúng tôi quyết định tôi sẽ chuyển đến sống ở Sausalito, tôi và Owen đã bàn bạc xem làm thế nào để thay đổi này sẽ dễ dàng nhất có thể cho Bailey. Tôi rất kiên quyết, có lẽ kiên quyết hơn cả Owen khi không muốn Bailey phải chuyển khỏi nơi ở duy nhất nó biết - nơi nó sống từ bé tới giờ. Tôi không muốn làm gián đoạn cuộc sống của nó. Ngôi nhà nổi của nó - với xà nhà gỗ và cửa sổ lớn, nhìn ra cầu tàu Issaquah cảnh đẹp như trong truyện cổ tích - là thứ đảm bảo cuộc sống của nó vẫn được tiếp nối. Nơi ở an toàn của nó.

Nhưng tôi tự hỏi có phải vì thế mà việc một người nào đó sẽ chuyển đến sống tại nơi thân thương với nó nhất và nó chẳng thể làm gì để thay đổi điều đó lại càng thêm rõ ràng hơn bao giờ hết hay chăng.

Tôi gắng hết sức không gây xáo trộn cân bằng. Cân bằng của con bé. Tôi gắng duy trì hòa bình kể cả trong quá trình chuyển đến. Tôi đã sửa phòng ngủ của mình và Owen theo ý mình và chỉ trang trí lại một phòng khác trong nhà, thậm chí còn không được coi là phòng. Đó là hiên nhà xinh xắn ôm trọn mặt tiền. Cái hiên hoàn toàn trống trơn trước khi tôi chuyển đến. Nhưng tôi đã xếp đầy các chậu cây cùng bàn uống trà phong cách mộc. Tôi còn làm một cái ghế dài cạnh cửa ra vào.

Đấy là một cái ghế dài đu đưa được rất tuyệt - bọc gỗ sồi, gối ôm kẻ sọc êm ái.

Owen và tôi có lệ cứ cuối tuần là ra ghế uống cà phê cùng nhau. Chúng tôi kể nhau nghe về tuần làm việc vừa qua trong khi mặt trời từ tốn mọc trên vịnh San Francisco, hơi ấm dần ôm trọn nơi chúng tôi ngồi. Vào những cuộc trò chuyện ấy, Owen thường hoạt bát hơn so với trong tuần - anh cảm thấy nhẹ nhõm khi nghĩ tới ngày dài thoải mái không phải làm gì đang chờ đợi trước mắt.

Đó cũng là một phần lý do cái ghế mang lại cảm giác hạnh phúc cho tôi và vì sao chỉ đi ngang qua nó thôi cũng giúp tôi dễ chịu trong lòng. Và cũng vì thế mà tôi giật nẩy mình khi thấy có người ngồi đó lúc mang rác ra ngoài.

“Ngày đổ rác hả?” anh ta nói.

Tôi quay lại, thấy một người lạ mặt tựa người vào tay ghế, thoải mái như ở nhà. Mũ lưỡi trai đội ngược, áo gió, tay anh ta cầm cốc cà phê.

“Tôi giúp gì được anh đây?” tôi nói.

“Hy vọng thế.” Anh ta chỉ vào tay tôi. “Nhưng chắc cô muốn làm xong việc cái đã.”

Tôi nhìn xuống thấy mình vẫn cầm nguyên hai túi rác khá nặng. Tôi bỏ chúng vào thùng. Sau đó, tôi quay lại quan sát anh ta. Anh ta còn trẻ - chắc mới ngoài ba mươi. Và anh ta đẹp trai đến mức muốn giận cũng không xong, với chiếc cằm đầy nam tính và đôi mắt sẫm màu. Anh ta gần như quá đẹp trai. Nhưng nụ cười của anh ta phá hỏng hết cả. Anh ta biết rõ điều đó hơn ai khác.

“Hannah phải không?” anh ta nói. “Rất vui được gặp cô.”

“Anh là tên quái quỷ nào vậy?” tôi nói.

“Tôi là Grady,” anh ta nói.

Anh ta ngậm vành cốc và giữ nó trên môi mình, đưa một ngón tay ra hiệu chờ một chút. Rồi anh ta thò tay vào túi rút ra một thứ trông giống như phù hiệu. Anh ta giơ ra cho tôi cầm.

“Grady Bradford,” anh ta nói. “Cứ gọi tôi là Grady. Hay phó cảnh sát trưởng Bradford, nếu cô muốn, dù nghe vậy hơi quá nghiêm túc cho mục đích của chúng ta.”

“Và mục đích ấy là gì?”

“Thân thiện,” anh ta nói. Rồi mỉm cười. “Các mục đích thân thiện.”

Tôi nhìn phù hiệu. Có một ngôi sao bên trong vòng tròn. Tôi muốn đưa ngón tay sờ lên vòng tròn và ngôi sao ấy, như thể làm thế sẽ giúp tôi xác định được đây có phải phù hiệu thật hay không.

“Anh là cảnh sát à?”

“Đúng hơn là cảnh sát tư pháp,” anh ta nói.

“Trông anh không giống cảnh sát tư pháp,” tôi nói.

“Thế cảnh sát tư pháp thì trông thế nào?” anh ta nói.

“Tommy Lee Jones trong Kẻ tị nạn ,” tôi nói.

Anh ta cười lớn. “Đúng là tôi trẻ hơn các đồng nghiệp khác, nhưng ông tôi phục vụ trong ngành nên tôi vào nghề sớm,” anh ta nói. “Tôi đảm bảo với cô đây là phù hiệu thật.”

“Anh làm gì ở văn phòng cảnh sát tư pháp?”

Anh ta lấy lại phù hiệu và đứng lên. Mất trọng lượng giữ thăng bằng, chiếc ghế đung đưa.

“À, tôi chủ yếu điều tra những người lừa đảo chính quyền liên bang,” anh ta nói.

“Anh nghĩ chồng tôi là thế sao?”

“Tôi nghĩ The Shop làm việc đó. Nhưng không, chưa đủ bằng chứng cho thấy chồng cô có dính líu. Phải nói chuyện với anh ấy thì tôi mới có thể đưa ra đánh giá chính xác về sự liên quan của anh ấy được,” anh ta nói. “Nhưng có vẻ như anh ấy không muốn trò chuyện gì hết.”

Không hiểu sao điều đó khiến tôi chú ý. Khiến tôi có cảm giác lý do không chỉ có vậy, ít nhất thì không phải là toàn bộ lý do vì sao anh ta có mặt trên cầu tàu nhà tôi.

“Tôi xem lại phù hiệu của anh được không:?” tôi nói.

“512-555-5393,” anh ta nói.

“Số phù hiệu của anh đấy à?”

“Số điện thoại chi nhánh văn phòng nơi tôi làm việc,” anh ta nói. “Gọi đi, nếu cô thích. Họ sẽ xác nhận tôi là ai. Và nói tôi sẽ chỉ cần nói chuyện với cô vài phút.”

“Tôi có lựa chọn nào khác không?”

Anh ta nở nụ cười. “Cô luôn có lựa chọn,” anh ta nói. “Nhưng tôi sẽ rất cảm kích nếu cô đồng ý nói chuyện với tôi.”

Tôi không thấy mình có lựa chọn nào, ít nhất thì cũng không phải là một lựa chọn tốt. Tôi cũng không biết mình có ưa anh chàng Grady Bradford cứ dài giọng đầy ý đồ này không. Nhưng làm gì có chuyện tôi ưa bất cứ ai định đặt ra cả loạt câu hỏi về Owen?

“Cô thấy sao?” anh ta nói, “tôi nghĩ ta có thể cùng đi dạo.”

“Tại sao tôi lại muốn đi dạo cùng anh nhỉ?”

“Trời đẹp,” anh ta nói. “Tôi lại có cái này cho cô nữa.”

Rồi anh ta thò tay xuống dưới chiếc ghế lấy ra một cốc cà phê khác, nóng hổi và mới pha ở tiệm Fred. Chữ NHIỀU ĐƯỜNG và HƯƠNG QUẾ viết lớn bằng mực đen trên thành cốc. Không chỉ mua cà phê cho tôi, anh ta còn mua đúng loại tôi thích.

Tôi hít hương cà phê rồi nhấp ngụm đầu tiên. Đó là chút sung sướng đầu tiên tôi được hưởng kể từ khi vụ lùm xùm bắt đầu.

“Sao anh biết tôi thích cà phê kiểu này?” tôi nói.

“Người phục vụ tên Benji giúp tôi đấy. Cậu ấy nói cô với Owen cứ cuối tuần là đến uống cà phê. Cô luôn thích hương quế, còn Owen luôn mua cà phê đen.”

“Đây là hối lộ.”

“Nếu không được việc thì mới là hối lộ,” anh ta nói. “Còn không thì chỉ là một cốc cà phê.”

Tôi nhìn anh ta trước khi nhấp thêm ngụm nữa.

“Phía đường có nắng soi?” [1] anh ta nói.

o

Chúng tôi rời khỏi cầu tàu đi bộ về phía đường Path nhằm hướng trung tâm thành phố - cảng Waldo Point hiện ra từ xa.

“Tôi đoán không có tin gì từ Owen nhỉ?” anh ta nói.

Tôi nghĩ đến nụ hôn tạm biệt lúc đứng cạnh xe anh hôm qua, từ tốn và khó dứt. Owen không có vẻ nôn nóng gì, anh nở nụ cười trên môi.

“Không. Tôi chưa gặp lại anh ấy từ lúc anh ấy đi làm hôm qua,” tôi nói.

“Và anh ấy cũng chưa gọi điện?” anh ta nói.

Tôi lắc đầu.

“Anh ấy có hay gọi điện lúc đi làm không?”

“Có,” tôi nói.

“Nhưng hôm qua thì không?”

“Có thể anh ấy đã gọi, tôi không biết. Tôi đã đến Ferry Building ở San Francisco, mà từ đây tới đó có rất nhiều khu vực bị mất sóng điện thoại, nên...”

Anh ta gật đầu, hoàn toàn không ngạc nhiên, tôi cảm giác như anh ta đã biết hết. Như thể anh ta đã đi trước tôi mấy nước trong trò chơi này.

“Lúc cô về thì sao?” anh ta hỏi. “Từ Ferry Building ấy?”

Tôi hít một hơi thật sâu và ngẫm nghĩ. Tôi tính đến việc kể sự thật. Nhưng tôi không biết anh ta sẽ nghĩ gì về bé gái mười hai tuổi cùng mẩu tin nhắn chuyển cho tôi và về tin nhắn Owen để lại cho Bailey ở trường. Về cả chiếc túi thể thao đựng tiền. Trước khi tôi hiểu rõ ngọn ngành, tôi sẽ không kể cho một người mình mới gặp những chuyện như vậy.

“Tôi không biết ý anh là gì,” tôi nói. “Tôi nấu bữa tối cho Bailey, hoàn toàn thất bại, rồi nó đi tập kịch. Tôi nghe tin về The Shop trên đài NPR khi đang chờ đón nó ở bãi đậu xe trường học. Chúng tôi về nhà. Owen thì không. Không ai ngủ.”

Anh ta nghiêng đầu đánh giá tôi, kiểu hoàn toàn không tin tôi. Tôi không chỉ trích anh ta vì điều đó. Đúng là không nên tin tôi. Nhưng hình như anh ta sẵn sàng bỏ qua.

“Vậy là... sáng nay cũng không gọi điện, đúng không?” anh ta nói. “Email cũng không?”

“Không,” tôi nói.

Anh ta ngừng hỏi, như vừa chợt nghĩ ra điều gì đó.

“Tự nhiên một người mất tích, đúng là điên rồ, nhỉ? Không một lời giải thích?” anh ta nói.

“Ừ,” tôi nói.

“Thế nhưng... trông cô không bực bội mấy.”

Tôi dừng bước, khó chịu khi thấy anh ta tưởng mình hiểu tôi đến độ dám đánh giá xem tôi phải thấy thế nào.

“Xin lỗi vì tôi không biết phải phản ứng thế nào mới đạt chuẩn khi công ty chồng bị khám xét và chồng biến mất,” tôi nói. “Còn gì khác tôi làm theo anh là không phù hợp nữa không?”

Anh ta ngẫm nghĩ. “Không hẳn.”

Tôi nhìn xuống ngón tay đeo nhẫn của anh ta. Trống không. “Tôi đoán anh chưa lập gia đình?”

“Chưa,” anh ta nói. “Chờ đã... Ý cô muốn hỏi đã từng hay hiện tại?”

“Thế thì câu trả lời sẽ khác à?”

Anh ta mỉm cười. “Không.”

“Vậy đấy, nếu đã có gia đình, anh sẽ hiểu tôi đang lo lắng cho chồng mình hơn hết thảy mọi thứ khác.”

“Cô có nghĩ đã xảy ra chuyện xấu không?”

Tôi nghĩ đến tin nhắn và số tiền Owen để lại. Tôi nghĩ đến câu chuyện cô bé mười hai tuổi kể đã gặp Owen ở trường học và đến cuộc nói chuyện giữa Owen và Jules. Owen biết anh đang làm gì. Anh biết anh phải tránh xa nơi này. Anh chọn cách bỏ đi.

“Tôi không nghĩ anh ấy hiện đang bị bắt giữ trái ý muốn, nếu ý anh là thế.”

“Không hẳn.”

“Vậy anh muốn hỏi gì, Grady? Chính xác thì là gì?”

“Grady. Tôi thích thế. Tôi mừng vì chúng ta thân thiện hơn với nhau.”

“Anh hỏi gì?”

“Cô bị bỏ lại đây hứng chịu hậu quả. Ấy là chưa nói đến việc phải lo cho con gái anh ấy ,” anh ta nói. “Tôi mà thế thì tôi giận lắm. Nhưng cô không có vẻ giận dữ. Khiến tôi tin rằng cô biết điều gì đó nhưng không muốn nói tôi nghe...”

Giọng Grady siết lại. Đôi mắt của anh ta tối lại cho tới khi trông đúng với bản chất - một nhân viên điều tra. Đột nhiên, tôi bị đẩy sang bên kia ranh giới anh ta vừa vạch ra để phân tách bản thân với những người bị anh ta nghi ngờ đang làm việc sai trái.

“Tôi cần được biết nếu Owen nói cô biết về nơi anh ấy đến và lý do anh ấy bỏ trốn,” anh ta nói. “Đó là cách duy nhất để cô bảo vệ anh ấy.”

“Có phải đó là mối quan tâm chính của anh không? Bảo vệ anh ấy?”

“Đúng thế. Sự thực là thế.”

Tôi cũng thấy thế; điều đó khiến tôi bực bội. Khiến tôi bực bội hơn cả khi anh ta bật chế độ điều tra.

“Tôi nên về thì hơn.”

Tôi né xa anh ta. Grady Bradford đứng gần quá, khiến tôi khó chịu.

“Cô nên thuê luật sư,” anh ta nói.

Tôi quay lại nhìn. “Cái gì?”

“Vấn đề là thế này,” anh ta nói, “cô sẽ bị tra hỏi rất nhiều về Owen, cho tới khi anh ấy xuất hiện trở lại để tự đưa ra câu trả lời. Những câu hỏi cô không buộc phải trả lời. Sẽ dễ dàng hơn nhiều để đuổi họ đi nếu cô nói cô có luật sư.”

“Hoặc tôi chỉ việc nói sự thật. Tôi không biết Owen đang ở đâu. Và tôi chẳng có gì để giấu giếm hết.”

“Không đơn giản thế đâu. Mọi người sẽ nói những thông tin khiến cô có cảm giác họ đứng về phía mình. Và về phía Owen. Nhưng không phải. Họ không đứng về phía ai hết, trừ chính họ.”

“Như anh chẳng hạn?” tôi nói.

“Chính xác,” anh ta nói. “Nhưng sáng nay tôi đã gọi điện cho Thomas Shelton giúp cô. Anh ấy là bạn tôi, chuyên về luật gia đình ở bang California. Tôi chỉ muốn cô được bảo vệ đầy đủ nếu tự nhiên ai đó xuất hiện đòi giám hộ tạm thời Bailey trong thời gian này. Thomas sẽ tác động để đảm bảo quyền giám hộ tạm thời ấy được trao cho cô.”

Tôi thở một hơi dài, không giấu nổi cảm giác nhẹ nhõm. Tôi hiểu ra rằng nếu chuyện này kéo dài quá lâu, nhiều khả năng tôi sẽ mất quyền giám hộ Bailey. Con bé không có ai thân thích - ông bà đã qua đời, không họ hàng gần. Nhưng chúng tôi không có quan hệ ruột thịt.

Tôi chưa nhận nó làm con nuôi. Liệu tiểu bang có quyền đưa nó đi không? Ít nhất cho đến khi họ xác định được người giám hộ duy nhất của nó đang ở đâu và tại sao người ấy lại bỏ nó như thế?

“Anh ta có khả năng làm vậy à?” tôi nói.

“Có. Và sẽ làm.”

“Tại sao?”

Anh ta nhún vai. “Vì tôi nhờ,” anh ta nói.

“Tại sao anh làm vậy cho chúng tôi?” tôi hỏi.

“Để cô tin tôi khi tôi nói với cô rằng việc tốt nhất cô nên làm cho Owen là nằm yên và thuê luật sư,” anh ta nói. “Cô có quen ai không?”

Tôi nghĩ đến một luật sư quen trong thị trấn. Tôi nghĩ đến việc mình không muốn phải nói chuyện với anh ta đến mức nào, đặc biệt vào lúc này.

“Rất tiếc là có,” tôi nói.

“Gọi điện cho anh ta đi. Hoặc cô ta.”

“Anh ta,” tôi nói.

“Được, gọi cho anh ta đi. Và nằm yên.”

“Anh có định nhắc lại lần nữa không?” tôi hỏi.

“Không, nói thế đủ rồi.”

Rồi nét mặt anh ta thay đổi, nở một nụ cười. Chế độ điều tra đã được bỏ lại phía sau.

“Owen chưa dùng thẻ tín dụng, chưa dùng séc, chưa dùng gì suốt hai mươi tư giờ qua. Và sẽ không. Anh ấy quá thông minh. Cô nên dừng việc gọi điện, bởi tôi biết anh ấy đã vứt điện thoại từ lâu.”

“Thế thì sao anh cứ hỏi anh ấy có gọi điện không?”

“Anh ấy có thể dùng điện thoại khác,” anh ta nói. “Điện thoại sim rác. Kiểu điện thoại không ai lần dấu được.”

Điện thoại sim rác, dấu vết giấy tờ. Tại sao Grady cố tình nói như thể Owen là một tên tội phạm thông minh như thế?

Tôi định hỏi thì anh ta đã nhấn nút trên chùm chìa khóa. Một chiếc xe bên kia đường tỉnh giấc, đèn bật sáng.

“Tôi sẽ không giữ chân cô nữa, cô còn khối việc phải lo,” anh ta nói. “Nhưng khi liên lạc được với Owen, nhớ bảo anh ấy tôi sẽ giúp được nếu anh ấy đồng ý để tôi giúp.”

Rồi anh ta đưa tôi khăn giấy cửa hàng Fred có ghi tên GRADY BRADFORD, bên dưới là hai số điện thoại - chắc của anh ta - một số đề kèm chữ di động.

“Tôi cũng giúp được cả cô nữa,” anh ta nói.

Tôi bỏ khăn giấy vào túi trong lúc anh ta sang đường chui vào xe. Tôi quay về nhà. Đúng lúc anh ta khởi động xe, tôi bỗng nghĩ ra một việc nên vội sang đường.

“Chờ chút. Việc gì?” tôi nói.

Anh ta hạ kính xe. “Việc gì là gì?”

“Anh giúp được tôi việc gì?”

“Việc dễ ấy,” anh ta nói. “Vượt qua vụ này.”

“Còn việc khó là gì?”

“Owen không phải là người cô tưởng,” anh ta nói.

Rồi Grady Bradford biến mất.

[1] On the sunny side of the street là tên một bài hát nhạc Jazz rất nổi tiếng, được nhiều ca sĩ thể hiện, trong đó có cả nghệ sĩ Jazz huyền thoại Louis Arstrong.

« Lùi
Tiến »