Người ta thường nói cuộc đời chính là một sàn diễn. Nhưng tôi không nghĩ rằng những kẻ vẫn bị ý thức về sàn diễn ấy tóm lấy sau khi thời thơ ấu kết thúc giống như tôi là đa số. Đó là một suy nghĩ khá đúng đắn nhưng vì kết hợp với sự nông cạn của kinh nghiệm sống có phần nghèo nàn nên ở đâu đó trong trái tim, tôi nghi ngờ rằng người khác không chạm tới cuộc đời theo cách giống như tôi. Mặc dù vậy, lúc ấy khoảng bảy phần cảm giác của tôi lại tưởng rằng mình bắt đầu cuộc đời giống y như mọi người. Tôi tin tưởng một cách đầy lạc quan rằng, cứ kết thúc vai diễn là màn nhất định sẽ hạ xuống. Giả thuyết chết sớm của tôi tiếp nhận suy nghĩ đó, nhưng rồi thứ chủ nghĩa lạc quan đến mức độ ảo tưởng này của tôi phải hứng chịu một sự báo thù cực kỳ khốc liệt.
Để cho chắc chắn thì phải nói thêm, những việc tôi nói ở đây không phải là một ví dụ về sự tự ý thức . Đó đơn giản là vấn đề của tính dục, những thứ không thuộc phạm trù này vẫn chưa được tôi kể ra.
Ngay từ đầu, tôi đã bị liệt vào thành phần học sinh yếu kém, việc này cho dù là do tư chất bẩm sinh đi nữa nhưng vì muốn lên lớp như những học sinh bình thường khác nên tôi vẫn phải sử dụng một cách thức tạm thời. Tức là trong khi làm bài thi, hoàn toàn chẳng hiểu nội dung nhưng cứ sao chép nguyên đáp án của bạn rồi nộp bài bằng khuôn mặt giả ngây giả ngốc. Cách thức trơ trẽn, thể hiện sự ngu xuẩn hơn cả quay cóp bài này đôi khi cũng thu được những thành quả bề nổi.
Anh lên lớp. Lớp trên lấy những tri thức học được ở lớp dưới làm tiền đề cho những bài giảng, chỉ riêng anh hoàn toàn không hiểu, nghe giảng như vịt nghe sấm. Bởi thế, con đường mà anh đi chỉ có hai ngả rẽ. Ngả thứ nhất là nổi loạn để trở nên hư hỏng, ngả thứ hai là giả bộ đã hiểu một cách sâu sắc vấn đề. Chọn đường nào là vấn đề được quyết định bởi chất lượng sự mạnh mẽ và sự yếu đuối của anh, không phải là quyết định của số lượng. Bởi dù chọn ngả rẽ nào thì cũng cần lượng mạnh mẽ và lượng yếu đuối như nhau mà thôi. Và ở phía nào cũng cần khao khát lâu dài, những khao khát thơ mộng về sự lười biếng.
Một lần, tôi nhập vào đám học sinh vừa đi bộ bên ngoài hàng rào của trường học, vừa bàn tán ồn ào câu chuyện đồn đại về một đứa bạn không có mặt tại đây, rằng cậu ta có lẽ đã phải lòng cô gái bán vé trên tuyến xe bus từ trường về nhà. Câu chuyện đồn đại ấy cuối cùng thay bằng quan điểm phổ biến rằng liệu một cô gái bán vé trên xe bus thì có điểm nào đáng để yêu thích. Bằng điệu bộ lạnh nhạt của kẻ đã hiểu vấn đề, tôi nói như ném ra từng lời.
“Ừ thì là bởi đồng phục đấy. Đồng phục bó sát vào người không phải rất đẹp sao?”
Tất nhiên, tôi hoàn toàn không hề bị cô gái bán vé xe bus mê hoặc về mặt xác thịt. Suy đoán. Là một suy đoán hoàn toàn trong sáng nhưng sự huênh hoang đúng kiểu một đứa trẻ con, luôn thích bày tỏ quan điểm giống một kẻ háo sắc có khí chất lạnh nhạt, ra vẻ người lớn về một câu chuyện đã giúp sức thúc đẩy tôi nói ra những lời như vậy.
Phản ứng của tôi có lẽ hơi thái quá. Đám người này thuộc phái ôn hòa, ở trường là học sinh ngoan, thái độ cư xử nói chung không chê vào đâu được. Từng người một đáp lại tôi như sau:
“Bất ngờ đấy. Cậu cũng khá đấy chứ.”
“Nếu không có nhiều kinh nghiệm thì không nói liều được đâu.”
“Cậu ấy mà, cũng có vẻ ghê gớm đấy.”
Khi nhận được những lời chỉ trích đầy cảm xúc dành cho mình bằng sự ngây thơ đến thế, tôi nhận ra rằng chút thuốc kích thích tôi dành cho họ hẳn đã quá liều. Trong những tình huống tương tự, dùng lời thành thật thì chẳng có gì đáng chú ý nên cách nói như thế khiến tôi có vẻ là kẻ trải đời. Vậy mà ngay sau đó tôi thật sự hối hận, đáng lẽ ra nên lựa lời mà nói thì hơn.
Một đứa trẻ mới lớn mười lăm, mười sáu tuổi khi có những hành động được điều khiển bởi suy nghĩ không phù hợp với tuổi tác, sai lầm dễ mắc phải chính là nghĩ rằng để bản thân mình không đơn giản như lũ bạn thì phải có một hành động kiểu như vậy. Không phải thế. Việc này chính là sự bất an của tôi, sự không kiên định của tôi đang đòi hỏi một quy tắc về ý thức sớm hơn bất cứ ai. Suy nghĩ của tôi chẳng hơn gì một thứ đạo cụ của sự hoảng loạn, hành động của tôi chẳng qua là một hành động ba phải, tự mình đoán mò ra. Theo định nghĩa của Stefan Zweig thì “những điều tà ác chính là thứ vốn dĩ tồn tại ở bên trong con người, nguồn sống của nó chính là sự bất an ( Unruhe ) khi con người bị dồn đuổi về phía vô hạn, vượt lên trên bản thể, đi ra ngoài bản thể cá nhân của chính mình”. Và điều đó “cứ thế một cách tự nhiên từ bên trong sự hỗn độn của quá khứ để lại một bóng ma làm hiện ra một phần của nỗi bất an không thể nào gỡ bỏ”, một phần của bất an này mang theo sự căng thẳng, “khiến chúng ta tìm lại được cảm giác tự tôn và con người tự tôn trong chính bản thân chúng ta”. Tại nơi mà suy nghĩ kiểu này chỉ có thể được lý giải một cách đơn giản thì con người không ý thức được đầy đủ là đương nhiên.
Tự thân tôi không hề bị những quyến rũ xác thịt từ cô gái bán vé xe bus làm cho mê mẩn, thế mà lời nói phát ra một cách tự nhiên khi không biết lựa lời cùng những suy đoán hồn nhiên của tôi lại khiến lũ bạn bất ngờ, khiến chúng phải đỏ mặt vì ngại ngùng, vả chăng khả năng liên tưởng nhạy cảm của tuổi dậy thì khiến chúng bị lời nói của tôi trực tiếp kích thích nhục cảm mơ hồ. Đương nhiên sau đó, sự tự cao tự đại xấu xa rất con người sôi sục trong tôi. Nhưng cảm xúc của tôi không chịu dừng lại ở đó. Lần này tới phiên chính tôi phải im lặng. Sự tự cao tự đại này làm người ta tỉnh ngộ một cách rất chông chênh. Rồi rơi vào mê lộ như thể một phần của sự tự cao tự đại trở thành ảo tưởng sức mạnh, trở thành cảm giác trúng độc chính bởi thứ suy nghĩ mình tiến bộ hơn hẳn người khác, nếu một trong những bộ phận trúng độc này được giải độc sớm hơn các bộ phận khác thì cứ mặc kệ những bộ phận khác vẫn còn trúng độc mà phạm phải sai lầm được tính toán bằng ý thức đã giải độc toàn bộ. Bởi vậy cơn trúng độc suy nghĩ “mình tiến bộ hơn người” bị điều trị cho đến khi nhận thức được một cách khiêm nhường rằng: mày cũng là một con người giống hệt những người khác mà thôi. Bởi tính toán sai lầm của tôi mà điều đó có thể nói rộng ra theo kiểu: mày cũng là một con người mang gốc rễ tầm thường giống hệt những người khác, (nghĩa rộng này được bộ phận chưa được giải độc nhiệt tình ủng hộ), cuối cùng thì dẫn đến kết luận trơ trẽn: tất cả mọi người đều như thế. Từ thời điểm này trở đi, suy nghĩ chẳng khác gì đạo cụ của sự hoảng hốt càng trở nên mãnh liệt hơn... Và rồi tôi hoàn toàn biến thành một kẻ tự kỷ ám thị. Sự tự kỷ ám thị này, sự tự kỷ ám thị đầy phi lý, đểu cáng và giả dối, thậm chí đến tôi cũng nhận ra đó rõ ràng là lường gạt thế mà từ thời điểm đó, nó tối thiểu cũng chiếm 90% cuộc sống của tôi. Đến mức tôi nghĩ rằng có lẽ mình là loại người yếu bóng vía đã bị ma nhập rồi.
Người đang đọc những điều tôi viết chắc là hiểu rõ. Tôi có thể bật ra lời nói mang chút nhục cảm về cô gái bán vé trên xe bus, chẳng qua chỉ bởi một lý do đơn giản, thế mà tôi lại không hề chú ý. Lý do đó thực sự rất đơn giản, tôi thực ra không hề có sự ngượng ngùng bẩm sinh giống như những đứa con trai khác về những việc liên quan đến phụ nữ.
Để tránh khỏi sự vu khống rằng đang cố gắng phân tích bản thân của quá khứ bằng suy nghĩ trong hiện tại thì tôi muốn chép lại đây một đoạn văn tôi đã viết năm mười sáu tuổi.
Rikutaro chẳng hề do dự lao vào một mối quan hệ mà cả hai không mấy hiểu về nhau. Anh ta tin rằng bằng việc thích thú hoặc cố tỏ ra thích thú thì sẽ hãm lại được cảm giác ghen tị và buồn bã. Sự mù quáng, yếu tố cần thiết của tín ngưỡng, đặt anh ta vào trong một hình dáng tĩnh lặng khốc liệt. Vừa tham gia vào những lời đùa cợt ngu ngốc và những câu chuyện phiếm vụn vặt vừa thường xuyên nghĩ, “hiện giờ tôi chẳng bế tắc cũng chẳng chán nản”. Anh ta gọi điều đó là “quên đi đau khổ”.
Những người xung quanh đặt ra nghi vấn rằng, có phải anh ta luôn cảm thấy hạnh phúc không, có phải luôn thấy thoải mái không? Đó là sự tồn tại đúng đắn của hạnh phúc giống như cái thứ sự thực gọi là nghi vấn được củng cố một cách chắc chắn hơn.
Tuy nhiên, chỉ mình Rikutaro đặt bản thân vào bên trong niềm tin đi kèm với định nghĩa rằng: “bản thân thoải mái”.
Cứ thế, cảm giác của mọi người nghiêng hẳn về cảm nhận nói nôm na: Anh ta chắc chắn là thoải mái.
Rốt cuộc, mọi thứ mờ nhạt lại khá chân thực, bị chôn chặt bên trong guồng máy của sự giả dối. Guồng máy này hoạt động vô cùng mạnh mẽ, và rồi chẳng ai còn chú ý đến việc bản thân đang tồn tại bên trong thứ gọi là “một căn phòng lừa dối” nữa.
“Guồng máy hoạt động mạnh mẽ.”
Guồng máy hoạt động mạnh mẽ thật sao?
Thiếu sót lớn của thời niên thiếu chính là tin rằng nếu biến những xấu xa trở thành hành động anh hùng thì những xấu xa đó sẽ đem đến cho bản thân sự thỏa mãn.
Nào, dù thế nào thì thời khắc tôi phải tiến vào cuộc đời cũng đã đến rồi. Những hiểu biết đã được chuẩn bị cho chuyến du lịch này là rất nhiều tiểu thuyết, một cuốn sách chỉ dạy về chuyện tính dục, sách khiêu dâm chuyền tay nhau cùng đám bạn, những câu chuyện tục tĩu thường xuyên nghe được từ bạn bè mỗi đêm trong chuyến dã ngoại của trường... tạm thời chỉ có ngần ấy. Tính hiếu kỳ thiêu đốt đương nhiên cũng là bạn đường trung thành của tôi trong chuyến du hành này. Dáng vẻ lúc ra đi là bước chân vô cùng quyết tâm, một sự quyết tâm lấy lừa dối làm động cơ tiến bước.
Tôi nghiên cứu chi tiết rất nhiều tiểu thuyết, tìm hiểu xem những người ở độ tuổi của mình có cảm giác thế nào về cuộc sống, làm sao để đối thoại với bản thân. Không sống trong ký túc xá, không tham gia câu lạc bộ thể thao, hơn thế trong trường tôi có rất nhiều kẻ hợm hĩnh, qua thời kỳ chơi những trò vô ý thức kiểu trẻ con ý như “sờ chim” thì tuyệt nhiên không bao giờ tham gia vào những vấn đề tục tĩu nữa. Thêm vào đó là tính khí ngượng ngùng có vẻ hơi thái quá của tôi. Tất cả những điều này khiến tôi khó mà nhìn trúng được bản chất của từng người từng người một. Bởi thế tôi buộc phải thận trọng tiến hành từ những suy nghĩ cơ bản mang tính nguyên tắc đến những suy nghĩ lý trí kiểu như “một đứa con trai ở độ tuổi của mình” sẽ cảm thấy như thế nào về cuộc sống. Đúng lúc mang khuôn mặt tò mò như thiêu đốt tâm can như vậy, một thời kỳ ngắn ngủi gọi là tuổi dậy thì có vẻ đã ghé thăm tôi cũng giống như cách nó ghé thăm tất cả những đứa con trai khác. Thời kỳ này, trong đầu đám choai choai toàn là ý nghĩ chẳng ra đâu vào đâu về phụ nữ, mụn nổi lên, đầu lúc nào cũng nặng trịch những vần thơ ngọt lịm. Những cuốn sách nghiên cứu về tính dục có nói tác hại của việc thủ dâm thường xuyên, lại cũng đọc được lời một cuốn sách khác nói rằng việc thủ dâm chẳng có tác hại gì lớn. Bởi vậy mà thời gian này, những đứa trẻ mới lớn cứ thế nhiệt tình thủ dâm. Về điểm này tôi cũng hoàn toàn giống hệt chúng. Bất chấp điểm chung ấy, sự khác nhau rõ ràng về đối tượng trong cảm giác của “tật xấu” vốn có của tôi, liền bị kẻ lừa đảo trong tôi lờ đi.
Đầu tiên là chỉ vì một chữ “đàn bà”, chúng liền bị kích động mạnh. Nhân tiện, đối với tôi ký tự này không hơn gì ấn tượng khi nhìn thấy chữ “bút chì”, “xe ô tô” hay “cái chổi”. Sự khuyết tật năng lực liên tưởng cao đến mức đó, thỉnh thoảng biểu hiện ra trong những câu chuyện với bạn bè, tương tự như trường hợp câu chuyện về mẹ Katakura khiến tôi trở thành một kẻ ngốc. Chúng bạn nghĩ tôi là một nhà thơ mơ mộng. Vì không thích bị cho là giống nhà thơ (bởi loại người như nhà thơ có lẽ là kiểu thường bị phụ nữ bỏ rơi), để ăn khớp với ý tứ trong câu chuyện của bạn bè mà tôi phải tạo ra một kiểu liên tưởng giả dối.
Tôi không biết rằng, không chỉ về mặt cảm giác mà ngay cả với thứ không được biểu hiện ra ngoài, sự sai biệt giữa tôi và chúng bạn cũng quá rõ ràng. Nếu bọn họ nhìn thấy bức ảnh khỏa thân của một phụ nữ, ngay lập tức sẽ “chào cờ”. Chỉ riêng mình tôi không hề như vậy. Và đối tượng khiến tôi “chào cờ” (ngay từ đầu đã kinh qua sự tuyển chọn nghiêm khắc lạ lùng bởi tính chất của một thứ tình yêu lệch lạc), bức tượng khỏa thân của người thanh niên có nét thanh tao nhã nhặn rất nữ tính kiểu Ionia lại chẳng hề có năng lực dẫn dụ việc “chào cờ” ở họ.
Trong chương trước, tôi đã cố ý viết về việc “cậu nhỏ” cương cứng bởi việc đó có liên quan đến những sự việc trên đây. Vì những giả dối của tôi cũng bị điều khiển bằng sự vô tri giống hệt như vậy. Cho dù trong bối cảnh của nụ hôn mang tính tiểu thuyết như thế nào thì những miêu tả liên quan đến việc đàn ông “chào cờ” lúc hôn đều bị lược bỏ. Việc ấy là đương nhiên, không cần phải mất công viết ra làm gì. Thậm chí là trong sách nghiên cứu về tính dục, việc “chào cờ” lúc đang hôn cũng bị loại bỏ, không được nhắc tới. Tôi đọc được lời khuyên rằng cố gắng chỉ “chào cờ” trước khi quan hệ xác thịt, hoặc có những tưởng tượng về quan hệ xác thịt. Với tôi thì “chào cờ” bắt nguồn từ một kiểu dục vọng nào đó, đúng lúc, đột nhiên... hoàn toàn giống như một linh cảm đến từ nơi vô tận... 10% cảm giác liên tục thì thà thì thầm bằng giọng nói rất nhỏ, “trời ơi, chỉ mình mình không ‘chào cờ’”. Việc này trở thành toàn bộ nỗi bất an của tôi. Nhân đây, khi thực hành “thói xấu” kia, có lần nào đó tôi nên nghĩ về phụ nữ chăng? Dẫu cho chỉ là một sự thử nghiệm.
Tôi đã không làm thế. Tôi nghĩ rằng, việc không chịu tiến hành cuộc thử nghiệm đó chính là do sự lười biếng của tôi.
Rốt cuộc thì tôi đã không hiểu một thứ. Mỗi đêm trong giấc mơ của những đứa con trai khác trừ tôi ra đều là hình ảnh những phụ nữ mà chúng gặp hôm qua trên phố, từng người từng người một khỏa thân, đi qua đi lại. Trong giấc mơ của lũ con trai, bầu ngực đàn bà hiện ra bồng bềnh như con sứa tuyệt đẹp nổi lên trên mặt biển đêm. Bộ phận cao quý trên cơ thể những người đàn bà ấy, hé mở phần môi ướt đẫm, hàng chục lần, hàng trăm lần, hàng nghìn lần, liên tục cất lên tiếng hát của nàng tiên cá.
Vì lười biếng? Lẽ nào chính là vì lười biếng? Tôi đã hoài nghi như vậy. Toàn bộ sự chăm chỉ trong cuộc đời tôi, cuối cùng chỉ là bao biện cho sự lười biếng, cứ mặc kệ mọi thứ biếng nhác nguyên si như thế chỉ bởi cần một cảm giác an toàn.
Ngay lập tức tôi nảy ra ham muốn tập hợp lại những ký ức đã qua liên quan đến phụ nữ. Đáng tiếc, những phần ký ức ấy lại quá nghèo nàn.
Một lần, khi tôi tầm mười bốn hay mười lăm tuổi, có một việc xảy ra. Ngày bố chuyển công tác đến Osaka, sau khi đi tiễn bố ở ga Tokyo trở về thì vài người họ hàng đến thăm nhà tôi. Tức là sau chuyến đưa tiễn, họ cùng mẹ tôi, tôi, em trai, em gái tôi quay trở về căn nhà của chúng tôi. Trong số đó có chị họ Sumiko. Lúc ấy là trước khi cô kết hôn, tầm hai mươi tuổi.
Răng cửa trước của cô bị hô một chút. Khi cười, những chiếc răng cửa lóe sáng cảm giác như thể chủ nhân của chúng cố tình phô ra sự nổi bật của hai, ba chiếc răng cực kỳ đẹp đẽ, trắng sáng ấy. Kiểu rằng hơi hô kèm theo nụ cười duyên dáng khó nói nên lời. Sự mất cân đối mà những chiếc răng hô đem đến giống như những giọt hương liệu nhỏ vào cảm giác hài hòa của sự xinh đẹp, của sự tử tế trong bóng dáng và khuôn mặt, làm sự hài hòa đó thêm mạnh mẽ, tăng thêm điểm nhấn đầy hương vị mỹ miều cho vẻ đẹp của cô.
Nếu từ “tình yêu” được dùng không chính xác thì tôi có thể chữa lại rằng, tôi rất “thích” người chị họ này. Từ khi còn bé, tôi đã thích từ xa nhìn ngắm cô. Khi cô thêu thùa, tôi có thể ngồi im mơ màng bên cạnh cô cả giờ liền.
Sau khi bác gái tôi đi vào phòng trong, Sumiko và tôi cứ thế ngồi im lặng trên ghế ở phòng khách. Đám đông tiễn chân bố sau khi giẫm đạp tan hoang trong đầu chúng tôi, đến giờ vẫn chưa chịu biến mất. Tôi cực kỳ mệt mỏi.
“Ôi, mệt quá đi.”
Cô khẽ ngáp, dùng ngón tay trắng trẻo vỗ nhẹ hai, ba lần một cách uể oải vào cái miệng đã được che đi bằng chính những ngón tay ấy, như thể đang đọc thần chú.
“Em họ không mệt à?”
Chuyện gì thế này? Sumiko giấu khuôn mặt vào trong hai tay áo rồi úp khuôn mặt nằng nặng ấy lên đùi tôi. Sau đó cô chầm chậm thả lỏng, quay trở lại bộ dạng như trước, lặng thinh một lúc. Chiếc quần trên bộ đồng phục đi học của tôi run rẩy trong niềm vinh hạnh khi được gánh vác thay nhiệm vụ của một cái gối. Mùi nước hoa và mùi phấn của cô khiến tôi thẹn thùng. Khuôn mặt nghiêng nghiêng đăm đăm có đôi mắt tĩnh lặng trong vắt và mỏi mệt của cô làm tôi bối rối.
Chuyện chỉ có thế. Mặc dù vậy, lúc nào tôi cũng nhớ cái cảm giác nằng nặng xa hoa tồn tại chốc lát trên đùi mình. Không phải là cảm xúc xác thịt mà là một niềm hạnh phúc cực kỳ xa xỉ. Giống như sức nặng của một tấm huân chương.
Trên chuyến xe bus từ trường về nhà, tôi hay gặp một cô gái có vẻ ngoài mong manh. Vẻ lạnh lùng của cô thu hút tôi. Những lúc cô nhìn ra bên ngoài cửa sổ bằng bộ dạng mệt mỏi với những sự vật đáng chán bên đường thì sự căng thẳng trên đôi môi như thể đang suy nghĩ mông lung về điều gì đó của cô lại ở đúng tầm mắt tôi. Những lần không gặp cô, tôi cảm thấy chiếc xe bus thật trống trải. Không hiểu từ bao giờ, tôi lên xuống xe với niềm mong mỏi rằng cô đã có mặt ở trong xe rồi. Tôi từng nghĩ, phải chăng đó là tình yêu?
Tôi hoàn toàn không hiểu. Lúc đó, dù thế nào tôi cũng không hiểu tình yêu và tính dục có mối quan hệ như thế nào. Đương nhiên, tôi của khi đó không muốn lý giải thứ mê hoặc tà mị mà Omi đã gây ra cho tôi bằng chữ “yêu”. Tôi của khi đó nghĩ rằng chút cảm tình của mình dành cho người thiếu nữ gặp trên xe bus có lẽ là tình yêu nhưng đồng thời cũng bị quyến rũ bởi hình ảnh thô kệch của người lái xe bus trẻ tuổi lập lòe trong đầu. Suy nghĩ ngu ngốc cưỡng bức những lý giải đầy mâu thuẫn trong tôi. Trong ánh mắt tôi nhìn góc nghiêng khuôn mặt của người lái xe bus trẻ tuổi ấy, có cái gì đó muốn trốn tránh, có cái gì đó khổ sở, lại có cái gì đó đầy áp lực, còn trong ánh mắt nhìn cô gái mong manh kia, có cái gì đó miễn cưỡng, một thứ cảm giác dễ gây mệt mỏi và giả tạo. Không hiểu nổi mối quan hệ lệch pha ấy, hai ánh nhìn kia cứ thế chung sống trong tâm hồn tôi một cách dửng dưng mà chẳng hề than thở gì.
Là một thiếu niên ở lứa tuổi ấy, có vẻ trong con người tôi khuyết thiếu mất đặc tính “căm ghét những điều không đứng đắn”. Nói đúng hơn, trong tôi khuyết thiếu một thứ gọi là tố chất bẩm sinh về “tinh thần” thường thấy ở suy nghĩ của những chàng trai mới lớn. Nếu cho rằng sự tò mò quá mãnh liệt khiến tôi bỏ qua vấn đề luân thường đạo lý rồi lấy đó làm lời giải thích cho những suy nghĩ của tôi đi nữa, thì tính tò mò ấy giống hệt niềm khao khát tuyệt vọng dành cho thế giới bên ngoài của một người ốm đau liên miên. Mặt khác, sự tò mò này lại có sợi dây gắn kết không thể tách rời với một niềm tin không bao giờ trở thành hiện thực. Thứ niềm tin tôi gần như không ý thức được ấy cùng với những tuyệt vọng vô thức của tôi trở nên khoái hoạt đến nỗi những mong cầu lại bị nhìn nhầm thành sự thèm khát.
Vẫn ở lứa tuổi trẻ trung, vậy mà tôi không biết đến việc nuôi dưỡng quan niệm thuần khiết và đầy tin tưởng bên trong con người mình. Đó là bất hạnh ư? Đối với tôi, nỗi bất hạnh bình thường trong thế giới này mang ý nghĩa gì nhỉ? Sự bất an mơ hồ liên quan đến nhục cảm của tôi đại khái biến xác thịt trở thành một quan niệm của riêng tôi. Tôi tập cách tin rằng, sự tò mò không chút liên quan đến nỗi mong cầu hiểu biết, sự tò mò mang tính tinh thần và tinh sạch kia chính là ham muốn thể xác của mình. Cuối cùng, để bản thân có thể có những cảm xúc thật sự dâm loạn thì tôi lại trở nên thành thạo trong việc lừa đảo chính mình. Cứ như thế, tôi tự cho mình đã trở thành người lớn, đã trở thành một tay chơi. Tôi cũng làm ra vẻ như thể đã thực sự mệt mỏi vì đàn bà.
Rồi ngay lập tức nụ hôn cũng trở thành một quan niệm cá nhân. Biểu tượng của hành vi mang tên “nụ hôn” này, đối với tôi, thực tế chẳng khác gì biểu tượng của một nơi nào đó mà tinh thần của tôi cầu xin được trú ngụ. Nếu là tôi của hiện tại thì hoàn toàn có thể nói như thế. Nhưng vào lúc đó, vì tin tưởng mù quáng rằng mong muốn này là ham muốn thể xác nên tôi buộc phải thả trôi mình trên dòng sông giả dối ấy. Bởi vì cảm giác tội lỗi một cách vô thức gọi là giả vờ rằng mọi thứ bẩm sinh đã thế huấn luyện khả năng diễn xuất có ý thức của tôi một cách đầy cố chấp. Nhưng chẳng lẽ con người có thể phản bội thiên tính của bản thân hoàn toàn đến mức ấy sao? Cho dù chỉ là trong một khoảnh khắc đi nữa.
Nếu không nghĩ như thế thì chẳng phải cũng không thể nào mà giải thích nổi về một kiểu tình cảm mang tính thần bí gọi là khao khát những thứ không thể khao khát hay sao? Nếu đặt tôi ở phía sau con người đạo đức không khao khát những thứ mình thật sự khao khát thì chẳng phải tôi còn mang trong lòng sự cầu xin vô đạo đức hơn thế hay sao? Nếu vậy sự cầu xin của tôi chẳng qua cũng chỉ là một thứ đèm đẹp. Phải chăng từ đầu đến cuối tôi đã hành động như thể tên tù nhân của lề thói, tự mình giả mạo chính mình? Sự xem xét kỹ càng này trở thành một nghĩa vụ kiên định đối với tôi của ngày sau.
Khi chiến tranh bắt đầu, chủ nghĩa khắc kỷ giả tạo làm mưa làm gió ở đất nước này. Những học tập viện cũng không thoát khỏi vòng xoáy ấy. Niềm mơ ước được để tóc dài của chúng tôi từ những năm mới bước vào trung học, đến khi thực sự bước vào cao trung vẫn chẳng thể nào thực hiện được. Kể cả những đôi giày màu mè cũng trở thành dĩ vãng. Thời gian huấn luyện quân sự trong trường dài quá mức cần thiết, rất nhiều đổi mới có vẻ ngu ngốc được bôi vẽ ra.
Tuy thế, ở ngôi trường của tôi, chủ nghĩa hình thức kiểu giả vờ giả vịt vốn là một phong vị tinh tế mang tính truyền thống, bởi vậy trước giờ chúng tôi cứ sống trong môi trường học đường ấy mà chẳng cảm thấy một sự trói buộc quá đáng nào. Đại tá trưởng quản quân sự trong trường là một gã đàn ông khôn khéo, Chuẩn úy N vốn là cựu Thượng sĩ đặc vụ bị đặt cho biệt danh gây cười như một cách trả thù là Zutoku, xuất phát từ chất giọng vùng Tohoku của anh ta, một đồng nghiệp khác có biệt danh là Bakatoku [1] , thêm một người nữa có cái mũi thấp với cánh mũi rộng như mũi của một con kỳ lân được gọi là Hanatoku, tất cả đã khéo léo nuốt trọn phong vị riêng của ngôi trường này. Hiệu trưởng là một lão tướng hải quân có phần ẻo lả nhưng núp dưới sự che chở của cơ quan quản lý sự vụ Hoàng gia và chủ nghĩa thăng tiến vô thưởng vô phạt nên vẫn bảo vệ được vị trí của mình.
Tôi có nghĩ đến thuốc lá và rượu trong khoảng thời gian ấy. Tuy nhiên, như một đứa trẻ học đòi làm đàn ông, thuốc lá là bắt chước, rượu cũng là bắt chước. Chiến tranh mới là điều dạy chúng ta trưởng thành một cách đầy tổn thương, đó chính là suy nghĩ kết liễu đời mình ở tuổi hai mươi. Bởi vậy mà hoàn toàn chẳng nghĩ ngợi gì về tương lai. Có lẽ chúng ta nghĩ cái thứ gọi là cuộc đời là thứ nhẹ nhàng một cách kỳ quặc. Biển mặn của một cuộc đời kết thúc đúng ở tuổi hai mươi, thành phần muối sẽ càng nồng đượm, rồi người cũng nổi được trên mặt nước một cách dễ dàng. Chỉ khi thời khắc hạ màn không còn xa nữa, vở kịch mặt nạ mà tôi diễn cho chính tôi xem càng nhiệt tình diễn xuất hơn. Nhưng chuyến du hành của cuộc đời tôi sẽ xuất phát vào chính ngày mai, phải rồi, chính là ngày mai, nếu trì hoãn dù chỉ một ngày thì vài năm nữa cũng không thể khởi hành được. Đối với tôi, thời điểm này chẳng phải chính là thời khắc sảng khoái nhất hay sao? Cho dù điều đó chẳng hơn gì một nỗi bất an, một sự mơ hồ thì tôi vẫn hy vọng, ngày mai có thể ngắm nhìn cuộc sống bên dưới một bầu trời xa lạ. Ảo tưởng về chuyến đi, mơ tưởng về sự mạo hiểm, bức chân dung của một người thực sự trưởng thành mà lúc nào đó tôi sẽ trở thành, bức chân chân dung vị hôn thê xinh đẹp chưa từng thấy của tôi, hy vọng ai đó gọi tên mình... Tất cả những thứ đó vừa vặn đủ để mang theo cho một chuyến du lịch cứ như thể xà phòng, cà vạt, bít tất, áo sơ mi, bàn chải và kem đánh răng, khăn và cuốn sách hướng dẫn du lịch. Khoảng thời gian phải sắp xếp gọn gàng chiếc vali để có thể xếp vừa tất cả, đối với tôi mà nói thậm chí có chiến tranh xảy ra thì cũng mang một niềm hạnh phúc vô cùng trẻ con. Thứ mơ tưởng thừa thãi khiến tôi tin rằng cho dù có trúng đạn đi nữa mình cũng không hề cảm thấy đau đớn, thứ mơ tưởng ấy, vào thời điểm đó chẳng hề suy yếu chút nào. Thậm chí có tưởng tượng ra cái chết của bản thân đi nữa cũng khiến tôi run rẩy trong một niềm hạnh phúc mà trước đấy tôi chưa từng biết đến. Tôi cảm thấy như thể mình nắm trong tay tất cả mọi thứ. Có lẽ thế. Không có lúc nào mà chúng ta sở hữu hoàn toàn đến từng ngóc ngách chuyến đi của mình bằng lúc bận bịu chuẩn bị cho chuyến đi ấy. Sau đó, thông thường sẽ chỉ còn lại những hành động phá vỡ sự sở hữu này. Đó chính là sự tầm thường hoàn hảo mang tên những chuyến du hành.
Cuối cùng thì quan niệm cá nhân về nụ hôn của tôi đã ấn định một đôi môi. Điều đó chẳng phải xuất phát từ động cơ muốn bày tỏ những hoang tưởng một cách đầy đặn hơn nữa hay sao? Cho dù chẳng có nỗi mong cầu nào, thế mà một cách điên dại, tôi cứ cố gắng tin rằng đó chính là mong muốn của mình. Việc này tôi đã từng nhắc đến trước đây. Tôi nhầm lẫn thứ mong cầu trái lẽ thường, thứ mong cầu phải thật sự tin rằng cho dù thế nào đó cũng là những gì mình mong muốn thành mong muốn thật sự của mình. Tôi nhầm lẫn những mong muốn mãnh liệt bất khả thi khi tôi không muốn là chính tôi nữa mà mong muốn đang sôi sục ở nơi nào đó trong trái tim của bất cứ ai, ham muốn tính dục tồn tại ở trong con người bất cứ người nào sống trên thế giới này.
Thời gian đó, tôi thường qua lại với một người bạn mới dù chẳng hề hợp nhau. Đó là bạn cùng học tên Nukada, một anh chàng phù phiếm, hay thắc mắc về tiếng Đức sơ cấp, có lẽ chọn tôi làm bạn vì cho rằng tôi là một đối tượng nhã nhặn, dễ điều khiển. Trong mọi việc, tôi luôn là kẻ đầy hứng thú chỉ khi mới bắt đầu, bởi vậy đối với mớ tiếng Đức sơ đẳng ấy, tôi được cho là học giỏi. Tôi được gắn cho cái mác học sinh ưu tú (cảm giác gần giống với biệt danh “tên thầy tu” chỉ những nam sinh viên ít nói và có vẻ chăm chỉ) nhưng thật tâm lại căm ghét biệt danh này vô cùng (tuy nhiên, ngoài cái mác này ra thì cũng không tìm đâu ra được một vỏ bọc bảo hộ an toàn cho tôi hơn thế). Có lẽ nào bằng trực cảm của mình, Nukuda đã nhận ra được việc tôi có vẻ thích “những điều tệ hại”. Bộ dạng nhu nhược của tôi thu hút cậu ta. Tại sao ư, Nukada là một kẻ bị những tên nhát gái căm ghét, đa phần là vì ghen tị. Từ miệng cậu ta, tin tức về thế giới của bọn con gái bằng cách nào đó trở nên chấn động cứ như thể thông tin từ thế giới bên kia truyền đến khi tiến hành thuật gọi hồn. Trong lần gọi hồn đầu tiên của tôi từ thế giới của bọn con gái có sự hiện diện của Omi. Nhưng thời điểm đó tôi vẫn còn là chính tôi nên nếu bắt gặp cậu ta khi gọi hồn liền liệt kê sự đặc biệt chỉ có ở Omi, điểm khác hẳn với những đứa con gái, là một trong những vẻ đẹp của cậu ta và bằng lòng với kiểu giải thích đó. Nhưng vai trò gọi hồn của Nukada đã đóng khung một cách vô cùng tự nhiên lòng hiếu kỳ của tôi.
Cái gọi là “một đôi môi” là khi tôi đến chơi nhà cậu ta đã bắt gặp đôi môi của chị gái cậu ta.
Cô gái xinh đẹp hai mươi tư tuổi ấy đối xử với tôi thoải mái như với một đứa trẻ con. Nhìn lũ đàn ông vây quanh cô, tôi hiểu rằng bản thân mình chẳng có điểm đặc biệt nào thu hút phụ nữ. Việc này buộc tôi phải nhận ra rằng mình không bao giờ trở thành Omi được mà ngược lại, nỗi mong mỏi muốn được trở thành Omi chính là tình yêu tôi dành cho cậu ta.
Tuy nhiên, tôi tin rằng mình đã yêu chị của Nukuda. Để cố làm ra vẻ một người bạn ngây thơ của cậu em trai đang là học sinh, tôi lảng vảng quanh nhà cô hoặc kiên trì chờ đợi ở tiệm sách gần nhà cô để có cơ hội níu bước chân cô lại khi cô đi ngang qua, ôm chiếc gối trên sofa rồi tưởng tượng ra đang ôm cô, vẽ biết bao nhiêu bức tranh về đôi môi cô, tự vấn bản thân bằng bộ dạng tuyệt vọng. Đây là cái gì vậy? Tất cả những nỗ lực giả tạo này gây ra một cảm giác mệt mỏi giống như một sự tê liệt bất thường nào đó. Một phần cảm giác thật sự của tôi luôn cẩn thận để ý, đề phòng sự mất tự nhiên khi luôn tự nhủ rằng mình yêu cô bằng những rã rời tà độc. Sự khổ ải tinh thần ấy có lẽ là một thứ độc dược khủng khiếp. Tranh thủ lúc tôi đang nỗ lực vun đắp những cảm xúc giả tạo như thế thì sự giả dối trắng trợn giống như những cơn run rẩy lẻn vào tấn công tôi, để chạy trốn khỏi sự trắng trợn ấy, tôi lại tiến vào một mộng tưởng giả dối khác. Rồi đột nhiên tôi bắt gặp những hình ảnh kỳ quặc, tôi trở lại làm chính tôi, trở nên đầy sức sống. Hơn cả điều đó, ngọn lửa đột nhiên bùng cháy ấy được trừu tượng hóa, ghi dấu ấn sâu sắc trong tim tôi sau đó được chú thích xuyên tạc đi cứ như thể đấy là dấu ấn tình yêu nồng cháy dành cho cô. Và một lần nữa, tôi lại bắt chính tôi ngậm miệng lại.
Nếu có người chỉ trích rằng, những câu chuyện tự thuật của tôi cho đến thời điểm này mang quá nhiều tính trừu tượng và tính khái niệm thì tôi chỉ có thể trả lời rằng, tôi chẳng quan tâm đến những miêu tả dài dòng về dấu hiệu thời kỳ dậy thì của những đứa con trai khác, vốn là việc mà kẻ ngoài cuộc như tôi hoàn toàn chẳng thể lý giải nổi. Nếu bỏ qua phần cảm giác xấu hổ kia thì thời kỳ này của tôi, cho đến tận cùng cảm xúc cũng giống hệt như những đứa con trai bình thường. Có thể mọi người cho rằng, hình ảnh của tôi trước hai mươi tuổi là một nam sinh có thành tích tốt, lúc nào cũng kè kè bên mình bao nhiêu là sách, không tự tin rằng mình có tướng mạo khiến phái nữ phải say mê, do quá thèm thuồng việc tự giác ngộ, tính khí trở nên khép kín, bởi vậy có thể đỏ mặt ngay lập tức vì bất cứ việc gì, tò mò cũng là sự tò mò thông thường, hy vọng về cuộc đời cũng là những hy vọng thông thường. Và có thể mọi người thắc mắc rằng nam sinh ấy đã mơ tưởng đến phụ nữ theo kiểu nào, lo lắng phiền muộn theo kiểu nào, đau đớn trống trải theo kiểu nào. Thế nhưng sự thật thì lại hoàn toàn không giống những tưởng tượng thiếu hấp dẫn và đơn giản như thế. Đương nhiên là tôi đã lược bỏ đi những miêu tả chán ngắt kiểu rập khuôn để ăn khớp với những phỏng đoán, tưởng tượng của người khác về mình. Thời kỳ này của tôi, bề ngoài giống hệt thời kỳ cực kỳ đơn điệu của một học sinh hay ngượng ngùng, thực tế thì bản thân tôi đã thề trung thành tuyệt đối với vai diễn trong vở kịch này rồi.
Trong thời kỳ này, tôi dần dần hướng sự chú ý dành cho những thanh niên lớn tuổi hơn mình đến những cậu bé ít tuổi hơn. Đương nhiên những cậu bé này cũng ở độ tuổi tương tự Omi ngày trước. Sự thay đổi kiểu cách yêu đương này chẳng liên quan gì đến bản chất của ái tình. Cách thức bị thu hút thì vẫn y hệt như vậy nhưng đã được gia tăng thêm phần trang nhã cho thứ tình yêu hoang dại của tôi. Một thứ giống như tình yêu của người bảo hộ, một thứ tương tự tình yêu của một người đàn ông với một cậu bé, là điềm báo cho sự trưởng thành một cách tự nhiên của tôi.
Hirschfeld đã phân loại những người có xu hướng tính dục lệch lạc, loại chỉ bị hấp dẫn bởi những người đồng tính trưởng thành gọi là androphils , loại yêu thích vị thành niên và các cậu bé thì gọi là ephebophile . Tôi sẽ tiếp tục giải thích loại ephebophile này. Ephebe là từ chỉ những thanh niên từ độ tuổi mười tám đến hai mươi, chính là tuổi tráng đinh thời Hy Lạp cổ, nguyên nghĩa của từ này là tên người con gái Hebe của Zeus và Hera, người sau này sẽ trở thành vợ của vị thần bất tử Hercules. Nữ thần Hebe là người giữ cốc cho các thần trên đỉnh Olympus, là nữ thần của tuổi trẻ vĩnh cửu.
Một cậu bé đáng yêu mười tám tuổi mới nhập học vào trường cao trung của tôi, cậu bé có đôi lông mày dịu dàng, bờ môi mềm mại và nước da trắng. Tôi biết tên cậu ta là Yakumo. Cảm xúc của tôi hân hoan tiếp nhận nét mặt cậu ta.
Nhân đây nói thêm, trong lúc cậu ta chẳng biết gì, tôi đã ăn trộm một thứ tặng vật đầy khoái lạc từ cậu ta. Mỗi tuần một lần, lớp trưởng các lớp khóa trên sẽ cùng thay phiên nhau hô hiệu lệnh buổi sáng, giờ thể dục buổi sáng và giờ tập luyện buổi chiều cũng diễn ra tương tự như vậy (Trong các trường cao trung thực sự có một thứ gọi là “giờ tập luyện”, khoảng ba mươi phút đầu sẽ tập các động tác thể dục kiểu hải quân, sau đó dùng cuốc đào hố phòng không hoặc thu dọn cỏ dại), nên cứ bốn tuần một lần lại đến lượt tôi phải hô hiệu lệnh. Mùa hè đến, vào giờ thể dục buổi sáng và giờ huấn luyện hải quân buổi chiều, những ngôi trường ồn ào và đầy nghi lễ kiểu này rất thịnh hành vào thời đó với một lũ học sinh cởi trần, tập thể dục theo hiệu lệnh. Lớp trưởng đứng trên bục cao hô hiệu lệnh xong thì lại hô thêm câu: “Cởi áo”. Sau khi tất cả mọi người đều cởi áo, lớp trưởng liền từ trên bục cao bước xuống, hướng về vị trí của mình khi nãy mà bây giờ đã được thầy giáo thể dục đứng thế vào, hô to: “Cảm ơn”, rồi chạy đến tận cuối hàng cuối cùng của lớp mình. Tại chỗ này lớp trưởng sẽ tự mình cởi áo rồi thực hiện các động tác thể dục, tập thể dục xong thì giáo viên sẽ hô khẩu hiệu nên vai trò của lớp trưởng kết thúc. Việc hô khẩu hiệu khiến tôi sợ đến mức ớn lạnh nhưng vai trò vụng về khi tiến hành nghi thức quân đội như trên thỉnh thoảng lại là việc trúng với ý muốn của tôi. Bởi vậy, tôi thường chờ đợi phiên của mình cứ bốn tuần lại đến một lần. Tại sao ư? Nhờ có những lúc như thế mà tôi có thể nhìn trực tiếp hình dáng của Yakumo, hơn thế lại còn có thể ngắm cậu ta mà chẳng sợ cậu ta nhìn thấy phần thân trên ốm o của tôi.
Yakumo đứng ở hàng thứ hai tính từ cái bục xuống. Đôi má giống như má chàng Hyacinth rất dễ đỏ lựng lên. Chạy đến nơi tập hợp nghe hiệu lệnh buổi sáng, ngay trước khi xếp vào hàng, cậu ta thở gấp. Ngắm nhìn đôi má cậu ta lúc đó khiến tôi cảm thấy thật dễ chịu. Cậu ta thường vừa thở hổn hển vừa dùng bàn tay thô kệch cởi khuy áo khoác, sau đó giật mạnh tà áo sơ mi trắng đang đút trong cạp quần ra ngoài. Lúc ấy tôi đứng trên bục cao, cho dù không cố gắng nhìn thì phần thân trên trắng trẻo, trơn láng của cậu ta cứ thế tự nhiên hiện ra trước mắt tôi. Bởi thế mà khi nghe một người bạn tình cờ nói với tôi rằng: “Lúc cậu hô hiệu lệnh, mắt lúc nào cũng nhìn xuống dưới. Chẳng lẽ cậu yếu tim?”, sống lưng tôi chợt lạnh toát. Nhưng lúc ấy, tôi lại không có cơ hội đến được thật gần cơ thể cởi trần ửng đỏ màu hoa hồng của Yakumo.
Trong một tuần của mùa hè, toàn bộ học sinh hệ cao trung phải đến học viện hải quân của thành phố M để giao lưu học hỏi. Ngày hôm đó, trong giờ bơi lội, mọi người đều nhảy vào hồ bơi. Tôi thì chẳng biết bơi nên thờ ơ phân trần rằng mình đau bụng. Thế mà chỉ huy lại đưa ra chủ ý tắm nắng với lý do tắm nắng là thuốc trị bách bệnh, ngay cả người có bệnh như tôi cũng phải cởi áo ra. Nhìn ra mới thấy, một trong số những người đang ốm là Yakumo. Hai cánh tay cậu ta đan vào nhau căng cứng đến mức trắng toát, cảm giác cánh tay bị mặt trời hun cháy đang dầm mình vào cơn gió hiu hiu thổi qua, chiếc răng cửa rất trắng cắn chặt như muốn đùa cợt bờ môi dưới. Những người tự khai mình ốm đứng túm tụm dưới bóng cây quanh hồ bơi nên tôi có thể đến gần Yakumo mà chẳng gặp chút khó khăn nào. Ước lượng cái eo mềm dẻo của cậu ta, nhìn ngắm cái bụng đang thở trong im lặng của cậu ta, tôi chợt nhớ đến một câu thơ của Whitman như sau:
... Những người trẻ tuổi đang nằm ngửa,
cái bụng trắng nở ra trong ánh mặt trời.
Nhưng lần ấy tôi lại chẳng nói năng được dù chỉ một lời. Tôi xấu hổ vì bộ ngực hom hem và cánh tay xanh xao gầy nhẳng của mình.
Năm Chiêu Hòa thứ 19, tức là một năm trước năm kết thúc chiến tranh, tháng Chín, tôi tốt nghiệp trường học mà tôi đã học ở đây từ những ngày thơ bé và vào Đại học. Bằng sự cưỡng chế của người cha không cho phép ai trả lời có hoặc không với mình, tôi buộc phải chọn chuyên ngành luật. Nhưng tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ bị bắt lính, chết trận, cả nhà tôi sẽ bị không kích, chết sạch không còn một ai. Bởi niềm tin này mà chuyện bị ép vào ngành luật cũng chẳng khiến tôi quá khổ sở.
Một đàn anh sắp ra trận đúng lúc tôi nhập học đã cho tôi mượn bộ đồng phục, vào thời điểm đó, việc này cũng là chuyện bình thường. Tôi dự định sẽ trả lại bộ đồng phục cho gia đình anh ta trước khi mình ra trận nên cứ vậy mặc nó đến trường. Sợ những cuộc không kích gấp đôi người khác, thế mà đồng thời tôi cũng chờ đợi cái chết trong một thời gian dài bằng một kỳ vọng ngọt ngào. Như tôi vẫn nói, tương lai với tôi hoàn toàn là một gánh nặng. Cuộc đời này từ khi bắt đầu đã vặn chặt tôi vào quan niệm về nghĩa vụ. Dù hiểu việc hoàn thành nghĩa vụ này đối với tôi là bất khả thi nhưng cuộc đời lại cứ lấy lý do rằng tôi không hoàn thành nghĩa vụ ấy mà dày vò, dằn vặt tôi. Nếu tôi kết thúc cuộc đời này một cách lãng xẹt bằng cái chết thì chẳng phải là việc nhẹ lòng hay sao? Bằng sự nhạy cảm của mình, tôi cực kỳ đồng cảm với lý thuyết về cái chết thường được rao giảng trong chiến tranh. Vạn nhất tôi chết trong danh dự cho cuộc chiến này (điều chẳng phù hợp với tôi chút nào) nhưng thực tế là khép lại cuộc đời của xác thịt này, bên dưới nấm mồ, hạt giống nụ cười của tôi không bao giờ chết. Ấy vậy mà tôi của lúc đó, cứ thấy tiếng còi báo động vang lên là chạy trốn đến hầm trú ẩn nhanh hơn bất cứ ai.
Tôi nghe thấy tiếng đàn piano vô cùng tệ hại.
Tiếng piano vang ra từ nhà của người bạn nhập ngũ với tư cách học viên trường cán bộ đặc biệt. Cậu bạn tên Kusano ấy là người bạn mà tôi trân trọng, người duy nhất tôi có thể nói chuyện về các vấn đề tình cảm hồi còn học cao trung, cho dù chỉ một chút ít thôi. Tôi là một nam giới không dám đèo bòng thêm một thứ gọi là tình bạn nhưng những suy nghĩ tàn khốc bị tôi áp đặt vào chính mình khiến những sự việc mà tôi sẽ kể ra sau đây có thể làm tổn thương tình bạn duy nhất này.
“Tiếng piano này nghe kỳ nhỉ? Có vài chỗ nghe như tiếng cãi nhau vậy.”
“Em gái tớ đấy. Giáo viên piano vừa ra về là nó liền luyện lại bài học.”
Cuộc đối thoại kết thúc, chúng tôi lại tiếp tục dỏng tai lên nghe. Ngày nhập ngũ của Kusano đã cận kề nên e rằng thứ vang đến tai của cậu ta không đơn giản là tiếng piano từ phòng bên cạnh mà là vẻ đẹp của những điều thường làm cậu ta mất kiên nhẫn, những thứ dở dang “thường nhật” mà cậu ta sắp bị tách khỏi. Trong âm sắc của tiếng piano đó, nghe ra sự thân thuộc giống như miếng bánh chưa làm xong, vừa làm vừa nhìn vào sách ghi chép công thức. Tôi không nhịn được bèn hỏi.
“Em gái cậu năm nay bao nhiêu tuổi rồi?”
“Mười tám, là em gái kế ngay sau tớ,” Kusano trả lời.
Nghe ra mới thấy đâu đó lẫn trong tiếng đàn những âm điệu thơ ngây còn sót lại trên đầu ngón tay, những mộng mơ của tuổi mười tám. Hơn thế, thiếu nữ ấy lại không biết rằng đó là nét duyên dáng của riêng mình. Tôi mong bản piano dở tệ ấy cứ vậy mà kéo dài mãi mãi. Mong muốn của tôi được hiện thực hóa. Tiếng piano ấy, từ ngày hôm đó cho đến tận bây giờ, tức là đã năm năm sau, vẫn còn vang vọng trong tim tôi. Đã bao nhiêu lần tôi gần như tin rằng đó là ảo giác. Lý trí của tôi chế nhạo ảo giác ấy. Sự yếu đuối của tôi cười vào sự tự lừa đảo của tôi. Phớt lờ những việc ấy, tiếng piano chi phối tôi, nếu lược đi những ý nghĩa cầu kỳ hoa mỹ của từ ngữ gọi là Số phận thì thứ âm thanh này đối với tôi chắc chắn là thứ thuộc về Số phận.
Trước thời điểm đó một chút, tôi cũng đã ghi nhớ từ “Số phận”, tiếp nhận nó bằng sự cảm động sâu sắc dị thường. Sau lễ tốt nghiệp cao trung, bên trong chiếc xe ô tô tiến vào nội điện Hoàng cung để cảm ơn Thiên Hoàng bệ hạ cùng thầy Hiệu trưởng lão tướng hải quân, ông già buồn rầu khóe mắt đầy gỉ này khẳng định rằng với sức khỏe của tôi sẽ không thể nào mà chịu nổi cuộc sống của một quân nhân, chỉ trích quyết định muốn được gọi nhập ngũ như một quân nhân thông thường mà không phải là học viên trường cán bộ đặc biệt của tôi.
“Nhưng em đã quyết tâm rồi.”
“Em nói như vậy vì em chẳng hiểu gì cả. Nhưng thời hạn để nộp nguyện vọng vào trường cán bộ đặc biệt đã qua mất rồi, dù sao thì cũng đã muộn. Đây là số phận của em.”
Ông ta phát âm từ “Số phận” bằng tiếng Anh theo kiểu phát âm thời Minh Trị.
“Rồi thì sao ạ?” Tôi hỏi lại ông ta như vậy.
“Số phận đấy. Đấy là số phận của em.”
Sự vô tâm biểu hiện ra ngoài của tính cách ngại ngùng chỉ thấy ở người già cảnh báo tôi rằng: đừng bao giờ nghĩ đó là sự quan tâm của một người thầy dành cho học trò. Cũng bằng sự vô tâm ấy, ông ta lặp đi lặp lại từng lời nói một cách đơn điệu.
Cho đến lúc đó, chắc chắn tôi đã từng nhìn thấy thiếu nữ chơi piano trong nhà Kusano. Nhưng hoàn toàn đối lập với nhà Nukada, ở một gia đình theo kiểu cách của chủ nghĩa đạo đức như nhà Kusano thì ba người em gái cứ nhìn thấy tôi sẽ ngay lập tức tránh đi chỉ để lại cho tôi một nụ cười e lệ. Thời điểm nhập ngũ của Kusano đã cận kề nên tôi và cậu ta thường xuyên đến nhà nhau chơi như để níu kéo chút ít thời gian còn lại trước khi ly biệt. Tiếng piano làm tôi trở nên lóng ngóng vụng về khi đứng trước em gái Kusano. Từ khi lắng tai nghe tiếng piano ấy, tôi như nghe hiểu được những bí mật trong lòng cô, bởi thế khó có thể đứng đối diện với cô mà nói chuyện thoải mái được. Thỉnh thoảng cô bưng trà đến mời tôi uống, tôi lại nhìn thấy đôi chân cô nhanh nhẹn di chuyển nhẹ nhàng trước mắt mình. Có lẽ không quen nhìn thấy những đôi chân phụ nữ trong một cái quần Tây hay một chiếc quần kiểu Nhật mà gần đây đang thịnh hành nên vẻ đẹp của đôi chân cô khiến tôi cảm động vô cùng.
Nếu cứ viết tiếp theo kiểu như thế thì việc tôi nghĩ đến nhục cảm từ đôi chân ấy là việc không thể tránh khỏi. Nhưng không phải như vậy. Như tôi vẫn nói, định kiến về nhục cảm dị tính trong tôi hoàn toàn khuyết thiếu. Chứng cứ thuyết phục nhất chính là tôi không hề biết đến mong muốn được nhìn thấy cơ thể khỏa thân của phụ nữ. Tuy nhiên tôi đã suy nghĩ một cách cẩn trọng về tình yêu dành cho phái nữ. Sự mệt mỏi đáng ghét thường lan ra đến tận sâu trong cảm giác gây cản trở cho việc đuổi theo suy nghĩ cẩn trọng ấy. Khi đó tôi phát hiện ra được niềm hạnh phúc trong suy nghĩ của một con người đã chiến thắng lý trí của bản thân, đem cảm xúc không thể duy trì lâu dài và lạnh lẽo của bản thân bắt chước cảm xúc giống hệt như thế ở một người đàn ông đã mệt mỏi vì phụ nữ cho đến khi đạt được sự thỏa mãn giả vờ giả vịt. Sự thay đổi cảm xúc này cố định bên trong tôi giống như chiếc máy của cửa hàng bán bánh kẹo rẻ tiền, cứ cho đồng xu 10 yên vào thì kẹo caramen sẽ rơi ra.
Đại khái tôi đã nghĩ rằng dù không mang trong lòng bất cứ khao khát nào nhưng vẫn có thể yêu phụ nữ. E là, từ thuở bắt đầu lịch sử của loài người đến nay, đây là kế hoạch liều lĩnh nhất. Tôi không hiểu điều đó (cách nói phóng đại quá mức này đã cầu xin sự cho phép từ đặc trưng tính cách của riêng tôi) nhưng cứ thế xây dựng kế hoạch trở thành Copernicus của những tín điều tình ái. Vì thế đương nhiên, một cách vô thức tôi tin vào quan niệm tình yêu của Platon. Trước đây tôi đã từng nói, nhìn qua thì có vẻ mâu thuẫn, nhưng tôi tin vào chuyện yêu đương một cách đơn thuần, chính trực đúng như những gì tôi đã biểu hiện ra ngoài. Không chừng, điều tôi tin vào chẳng phải là chuyện yêu đương mà chính là sự thuần khiết ấy chăng? Phải chăng tôi đã thề trung thành với chính sự thuần khiết ấy? Đó là những vấn đề của tương lai sau này.
Nguyên nhân của việc đôi khi tôi có vẻ không tin vào quan niệm tình yêu trong sáng kiểu Platon chính là suy nghĩ dễ hướng về những chủ đề liên quan đến xác thịt, một thứ khuynh hướng xác thịt khuyết thiếu ham muốn dục tình. Sự kiềm chế với những mệt mỏi giả tạo này đem đến cho tôi cảm giác thỏa mãn như một con bệnh mắc thứ bệnh tật gọi là thích giả vờ trưởng thành. Có thể nói là bởi vì tôi bất an.
Năm cuối cùng của cuộc chiến, tôi hai mươi mốt tuổi. Dịp Tết, sinh viên trong trường đại học của tôi nhanh chóng bị điều động đến làm việc trong công xưởng sản xuất máy bay ở thành phố M lân cận. 80% sinh viên trở thành công nhân, 20% còn lại, lũ sinh viên yếu ớt làm các công việc liên quan đến giấy tờ. Trong cuộc điều tra trưng binh năm trước đó, tôi được thông báo đỗ chứng chỉ hạng B nên có phần lo lắng về việc lệnh nhập ngũ sẽ đến trong nay mai.
Ở vùng đất ảm đạm, cô liêu, vần vũ bụi cát vàng này, cái công xưởng khổng lồ đến mức chỉ cần đi từ đầu này đến đầu kia cũng tốn ba mươi phút, cái công xưởng ấy điều khiển vài nghìn công nhân vận hành. Tôi cũng là một trong số vài nghìn người ấy, mang số hiệu 4409, nhân viên tạm thời mang mã số 953. Đại công xưởng này được xác định dựa trên chi phí sản xuất bí mật không cần suy nghĩ đến chuyện thu hồi vốn rồi cống hiến hết cho một sự vô nghĩa khổng lồ. Việc sáng nào cũng phải ê a lời tuyên thệ thần bí cũng có lý do. Từ trước đến nay, tôi chưa từng nhìn thấy một cái công xưởng nào như thế. Kỹ thuật của khoa học hiện đại, cung cách kinh doanh hiện đại, tư duy hợp lý, tỉ mỉ của nhiều bộ óc siêu việt, dù chỉ một thứ trong số đó được vận dụng thì cũng là để cung phụng cho cái chết. Đại công xưởng này sản xuất máy bay tiêm kích hạng nhẹ chuyên dụng cho quân cảm tử, một nơi giống như một giáo phái ám muội đang rống lên vì giận dữ, khóc lóc om sòm, gầm rú như động vật, gào thét như gió bão. Nếu không có sự khoa trương mang tính tôn giáo nào đó thì cũng chẳng thể nào tồn tại một cơ cấu khổng lồ như thế. Thậm chí, đến những tay giám đốc tham ô cũng mang đầy tính tôn giáo.
Thỉnh thoảng, tiếng chuông báo động có máy bay không kích vang lên như báo trước thời khắc thực hiện nghi thức Thánh Lễ Đen của thứ tôn giáo xấu xa ấy. Không khí trong phòng sự vụ đột nhiên trở nên gấp gáp, một giọng nói lồ lộ âm điệu nhà quê: “Thông tin thế nào rồi?” Chẳng có chiếc radio nào trong căn phòng này. Đứa con gái làm việc trong phòng chỉ huy đến cung cấp thông tin: “Địch có vài biên đội.” Trong lúc đó, giọng nói khó nghe trong loa phóng thanh ra lệnh trú nạn với học sinh nữ và học sinh tiểu học. Trưởng đội cứu nạn phát cho mỗi người một tấm giấy màu đỏ in dòng chữ: “Cầm máu... giờ... phút”, nhìn như thẻ giữ hành lý. Khi bị thương thì ghi thời gian cầm máu lên tấm thẻ này rồi đeo lòng thòng trước ngực. Sau khi tiếng chuông báo động vang lên, chỉ mười phút sau loa phóng thanh lại thông báo: tất cả mọi người trú nạn.
Những người trong phòng sự vụ cho tài liệu quan trọng vào trong một cái hộp rồi nhanh nhanh chóng chóng bỏ vào két sắt ngầm dưới đất. Sau khi cất xong tài liệu, họ cũng chạy về phía hầm trú ẩn, gia nhập vào đoàn người đội mũ sắt và mũ trùm đầu che mặt đề phòng bị máy bay phát hiện. Đoàn người ấy nhằm thẳng cửa chính tràn qua. Bên ngoài là một vùng đồng bằng trần trụi, vàng vọt và hoang vắng. Cách đó bảy, tám trăm mét là một rừng tùng nằm trên ngọn đồi thoai thoải, ở đó đã đào sẵn vô số chiến hào. Hướng về phía đó, một bầy đàn im lặng, cáu kỉnh, mù lòa rẽ hướng trên hai con đường trong đám bụi cát mù mịt, dù thế nào, bầy đàn ấy không phải là “cái chết”, đúng vậy cho dù đích đến là một cái lỗ trên nền đất đỏ dễ bị phá hủy đi nữa, họ dứt khoát cũng sẽ chạy về hướng không có cái chết hiện hữu.
Hiếm khi tôi về nhà vào ngày nghỉ, hôm ấy, lúc 11 giờ đêm, tôi nhận được lệnh nhập ngũ. Bức lệnh trạng viết rằng, ngày 15 tháng Hai tôi phải lên đường.
Kiểu người có thể trạng yếu đuối như tôi ở thành phố chẳng phải là hiếm. Bố tôi cho rằng, nếu khám sức khỏe theo nguyên quán ở quê, một kẻ yếu đuối sẽ trở thành một kẻ chẳng cần thiết trong đội ngũ đa số là những thanh niên khỏe mạnh khác, rồi sẽ có thể không được thông qua. Bởi vậy, tôi khám cùng những người có xuất thân ở tỉnh H, vùng Kinki. Những thanh niên nông thôn dễ dàng nâng bao thóc đến tận chục lần, cũng bao thóc ấy, tôi chẳng thể nào nâng lên đến ngực khiến người kiểm tra bật cười, thế mà rốt cuộc tôi vẫn phải tiếp nhận lệnh điều động bằng chứng chỉ loại B, nhập vào đội quân thô bạo của những tay nhà quê ấy. Mẹ tôi khóc lóc, bố tôi gần như mất hết ý chí. Bức lệnh trạng đến quả thực là không theo ý muốn của tôi, nhưng ngược lại tôi luôn chờ đợi tình trạng tuyệt vời của cái chết nên có chút cảm thấy dễ chịu. Tuy vậy, lúc đang ở trên tàu hỏa thì bệnh cảm bị lây trong công xưởng phát ra dữ dội, tôi liền ghé vào nhà một người quen khá thân tình của ông nội tôi, người này là người quen cùng quê của ông, nơi miền quê mà ông tôi chẳng còn dính líu gì kể cả một mét vuông đất. Tại đây, cơn sốt cao hạ gục tôi. Người y tá nhã nhặn của gia đình ấy cho tôi uống rất nhiều thuốc hạ sốt, cuối cùng cũng thấy hiệu quả. Sau đó, tôi được người ta vui vẻ tiễn vào đến tận cổng doanh trại.
Cơn sốt bị thuốc đánh bại lại ngóc đầu dậy. Trong lúc kiểm tra sức khỏe trước khi nhập ngũ, bị bắt khỏa thân đi vòng quanh như một con thú, tôi hắt hơi liên tục. Tay quân y tập sự nhầm lẫn tiếng khọt khẹt trong phế quản của tôi thành âm thanh bất thường, lỗi tay nghề này của gã quân y được tin tưởng hơn nữa bởi sự khai man nhảm nhí của tôi về tình trạng bản thân nên tôi bị bắt phải làm xét nghiệm đo độ lắng hồng cầu. Sốt cao do bị cảm nên độ lắng máu cũng tăng, tôi được lệnh về nhà ngay lập tức dưới danh nghĩa người bị bệnh lao phổi.
Bước ra khỏi cổng doanh trại, tôi chạy như bay. Con dốc mùa đông hoang vắng đổ xuống tận ngôi làng. Giống như khi ở công xưởng chế tạo máy bay, đôi chân của tôi không chạy về phía cái chết, cho dù thế nào cũng không bao giờ là cái chết.
Vừa tránh cơn gió lùa vào từ cửa kính đã vỡ của chuyến tàu đêm, tôi vừa bị cơn đau đầu và cảm giác ớn lạnh của cơn sốt làm phiền. Rồi tôi tự hỏi, mình về đâu bây giờ? Về căn nhà ở Tokyo nơi mọi người đang sống trong lo sợ khi bố tôi dứt khoát bám trụ lại không màng đến chuyện đi sơ tán ư? Trở về thành phố đầy bất an và tối tăm đang bao vây căn nhà đó ư? Về với đám đông luôn nhìn tôi như nhìn một con vật, lúc nào cũng muốn nhảy bổ vào hỏi han tôi rằng: “Không sao chứ? Vẫn ổn chứ?” ư? Hay là trở về ký túc xá của công xưởng sản xuất máy bay, nơi một đám học sinh bị lao phổi chẳng có chút cảm giác kháng cự nào đang túm tụm lại?
Tấm gỗ lót ghế dựa sau lưng tôi rung lên theo nhịp chuyển động của con tàu khiến mọi thứ trước mắt tôi cũng rung lên bần bật. Nhắm mắt lại, đột nhiên tôi tưởng tượng ra quang cảnh căn nhà của tôi bị máy bay không kích, hủy diệt hoàn toàn. Một sự chán ghét không thể nói nên lời sinh ra từ trong hoang tưởng. Đó là sự gắn kết giữa cái chết và những điều thường nhật, hơn thế điều đó còn đem đến cho tôi một cảm giác chán ghét kỳ lạ. Chẳng phải ngay cả con mèo đi nữa cũng không muốn nhìn thấy bộ dạng của cái chết, nên mỗi khi linh cảm cái chết đến gần liền giấu mình đi hay sao? Tưởng tượng ra cảnh chính mình nhìn thấy bộ dạng chết chóc bi thảm của gia đình mình, rồi cũng bị người trong nhà nhìn lại, chỉ cần suy nghĩ về điều đó thôi cũng khiến tôi cảm thấy ghê sợ đến mức buồn nôn. Điều kiện tương đồng mang tên cái chết đến thăm hỏi một gia đình, cha mẹ, con trai, con gái đang hấp hối, ánh mắt giao nhau, lòng tràn ngập đồng cảm. Cứ tưởng tượng ra những ánh mắt ấy là trong óc tôi lại gợn lên cảm giác ghê tởm với cảnh trí giống hệt cảnh một gia đình vui vầy, đầy hài lòng, sung sướng và hoàn hảo. Tôi không muốn chết theo kiểu như vậy. Tôi muốn chết một cách vui vẻ giữa những người tôi không quen biết. Cảm xúc thần thoại của Ajax, kẻ cầu xin được chết dưới ánh sáng mặt trời hoàn toàn khác với cảm xúc của tôi lúc đó. Thứ mà tôi mong mỏi là một sự tự sát cực kỳ tự nhiên. Như một con cáo non dại dột, sơ suất đi quanh sườn núi, vì sự ngu ngơ của mình mà bị thợ săn bắn trúng. Tôi đã mong cầu một cái chết như thế.
Nếu vậy thì chẳng phải việc gia nhập quân đội là quá lý tưởng với tôi hay sao? Nếu vậy thì chẳng phải tôi nên đặt hy vọng vào quân đội hay sao? Thế mà cũng chính tôi lại đã làm cái trò nhảm nhí ấy, tôi đã nói dối gã quân y về bệnh tình của mình. Rằng đã sốt nhẹ liên tục nửa năm rồi, vai đau mỏi chẳng cách nào trị dứt, đờm có máu, cả việc cho đến đêm hôm qua trong lúc ngủ vẫn đổ mồ hôi ướt sũng (đương nhiên đã uống aspirin), tất cả những việc ấy chẳng phải tôi đều đã nói ra hay sao? Khi nhận được lệnh phải quay trở về ngay ngày mai, chẳng phải tôi đã cảm thấy áp lực của nụ cười bị tôi cố gắng giấu đi đè lên má đến mức tưởng như gãy cả xương hay sao? Rồi chẳng phải cũng chính tôi khi ra khỏi cổng doanh trại đã chạy như bay hay sao? Tôi đã phản bội hy vọng của mình, sao lại không đi bằng những bước chân ủ rũ, cúi đầu nhỉ?
Đào thoát khỏi cái chết đầy danh dự trong quân đội, cuộc đời của tôi trong tương lai cũng sẽ không còn đủ đầy những hy vọng, ý nghĩa và giá trị. Dù hiểu rõ điều đó nhưng nguồn gốc của thứ sức mạnh đã ép tôi phải phi như bay ra khỏi cổng doanh trại là gì, tôi lại không tài nào hiểu nổi. Phải chăng đó chính là niềm khao khát được sống của tôi? Một kiểu sống giống như nghe thấy tiếng máy bay liền lao xuống hầm trú ẩn chỉ trong một khắc rồi thở hổn hển một cách hèn nhát.
Và rồi đột nhiên một tiếng nói khác trong tôi vang lên rằng, chắc chắn không bao giờ tôi nghĩ đến việc muốn chết. Lời nói đó cởi bỏ nút thắt của sự ngượng ngùng. Thật là khó nói nhưng tôi đã lý giải sự việc như thế. Thứ tôi hy vọng ở quân ngũ chỉ là cái chết, điều đó là tự dối lòng. Tôi ôm ấp một kỳ vọng rất nhạy cảm nào đó với cuộc đời quân ngũ. Và thứ sức mạnh bắt tôi phải duy trì kỳ vọng đó chẳng hơn gì niềm tin rằng tôi quyết không thể chết được, giống như niềm tin vào một câu thần chú nguyên thủy nhất mà bất kỳ ai cũng có.
... Mặc dù vậy, chỉ với riêng tôi, suy nghĩ này lại không phải là một suy nghĩ thích thú gì. Thay vào đó, tôi thích cảm giác mình là kẻ bị cái chết bỏ rơi. Làm ra vẻ đau khổ giống như kẻ muốn chết bị cái chết khước từ, tôi tập trung hệ thần kinh một cách cẩn thận nhất như một bác sĩ ngoại khoa xử lý mớ nội tạng trong một cuộc phẫu thuật. Đã thế, tôi lại còn thích thú việc nhìn chằm chằm vào hành vi của người khác. Mức độ khoái lạc trong cảm giác này có lẽ giống hệt như sự thích thú khi gây ra một tội nghiệt.
Có vẻ trường đại học đã xảy ra mâu thuẫn nào đó với công xưởng sản xuất máy bay N, đến hết tháng Hai, toàn bộ sinh viên bị rút về trường. Sau sự việc, kế hoạch là trong tháng Ba, các lớp học được mở lại, từ đầu tháng Tư trở đi, sinh viên lại bị điều động đến một công xưởng khác làm việc. Thế mà cuối tháng Hai, hơn một nghìn máy bay hạng nhẹ lao tới oanh tạc. Lớp học tháng Ba đơn giản chỉ là cái tên.
Trong lúc chiến tranh đang vào giai đoạn ác liệt nhất, chúng tôi bị buộc phải nhận một tháng trời nghỉ ngơi chẳng giúp ích được gì. Giống như thể buộc phải nhận những thùng pháo hoa bị ẩm. Hơn cả việc miễn cưỡng nhận một túi bánh mì khô dễ sử dụng, thứ tặng vật mang tên pháo hoa ẩm này là thứ khiến tôi thích thú. Bởi vì đó là món quà vô vị đúng chất quà tặng của trường đại học... Thời gian này dù chẳng đem lại ích lợi gì nhưng cũng là một món quà lớn.
Vài ngày sau khi tôi khỏi cảm cúm thì nhận được điện thoại của mẹ Kusano. Cuộc điện thoại thông báo rằng, hiện giờ đội của Kusano đang đóng quân ở thành phố M gần đây, từ ngày mùng 10 tháng Ba sẽ bắt đầu cho phép gặp mặt người thân, nếu tôi có thể thì cùng người nhà Kusano đến thăm cậu ta.
Tôi nhận lời, vì lời hẹn ấy mà đến nhà Kusano thăm hỏi. Thời điểm này, từ buổi chiều đến 8 giờ tối có lẽ khoảng thời gian thích hợp nhất. Khi ấy tại nhà Kusano bữa ăn vừa kết thúc, mọi người sẽ tĩnh lặng nghỉ ngơi. Mẹ cậu ta là một góa phụ. Bị chiếc bàn sưởi nơi có mẹ Kusano và ba người em gái đang quây quần mời gọi, tôi liền đến cùng ngồi. Người mẹ giới thiệu với tôi cô con gái chơi piano dạo trước, tên cô là Sonoko. Bởi tên cô giống với tên của phu nhân I, một nghệ sĩ piano nổi tiếng, nên tôi đã đùa cợt có chút mỉa mai về tiếng piano của cô. Cô gái mười chín tuổi ấy đỏ mặt bên dưới khoảng tối của bóng đèn điện, lặng thinh chẳng nói năng gì. Lúc ấy, cô đang mặc một chiếc áo bằng da màu đỏ.
Sáng ngày mùng 9 tháng Ba, tôi đợi gia đình Kusano trên hành lang đi bộ ở nhà ga gần nhà họ. Bộ dạng đổ nát của dãy cửa hàng nằm kẹp giữa những đường tàu khi cư dân đã bị cưỡng chế sơ tán, hiện ra trọn vẹn trước mắt tôi. Những hình ảnh đó xé rách bầu không khí trong sạch của một buổi sáng mùa xuân bằng âm thanh răng rắc tươi mới. Từ những căn nhà rách nát ấy thoáng thấy đám vỏ cây tươi giống như một ảo ảnh.
Thời gian này, buổi sáng vẫn còn lạnh. Vài ngày gần đây chưa một lần nghe thấy tiếng báo động không kích. Bầu không khí được sự quang đãng chải chuốt từng li từng tí, trưng ra dấu hiệu của sự sụp đổ, căng thẳng đầy nhạy cảm. Nếu vỡ tung, không khí sẽ giống như sợi dây quá căng phát ra những tiếng rít vao vao. Cảm giác sự tịch mịch ngập tràn một cách đầy trống trải và phong phú như thể muốn biến mình thành âm nhạc trong một vài khoảnh khắc. Thậm chí những tia nắng lạnh lẽo rơi xuống dưới đường vạch cảnh báo an toàn trên sân ga không một bóng người cũng run rẩy trong một dự cảm về âm nhạc nào đó.
Và rồi từ trên cầu thang phía đối diện bước xuống một thiếu nữ mặc áo khoác màu xanh. Cô kéo bàn tay em gái nhỏ của mình, vừa trông chừng em gái vừa di chuyển bàn chân trên từng bậc từng bậc thang. Người em gái lớn hơn, tầm mười lăm, mười sáu tuổi đi phía sau, dù có vẻ chồn chân vì sự chậm chạp ấy nhưng cô không hề vượt lên trước mà như thể cố tình chậm rãi bước xuống sau hai người kia theo hình zích zắc.
Sonoko vẫn chưa nhận ra tôi. Tôi thì lại có thể nhìn thấy cô rất rõ ràng và sinh động. Từ khi sinh ra đến giờ, tôi nhớ là mình chưa từng rung động trước vẻ đẹp của phụ nữ đến nhường này. Trái tim tôi ca vang, cảm giác trở nên tinh sạch lạ kỳ. Những dòng này, độc giả đã đọc đến đây hẳn cũng không thể nào mà tin nổi. Tại sao tôi lại nói như thế, đối với chị gái của Nukada, tình cảm của tôi đơn giản chỉ là một mối tình đơn phương mà tôi cố tạo ra, chẳng phải trong đó có thứ cảm xúc khác hoàn toàn với sự hân hoan của tình yêu như thế này hay sao? Bởi chẳng có lý do gì để những phân tích vốn không thể bỏ qua lúc này lại bị bỏ qua. Nếu bỏ qua thì cái hành vi viết ra của tôi đây, ngay từ đầu chẳng qua chỉ là viết về những thứ tầm phào. Và việc tôi đang viết ra có lẽ không hơn gì sản phẩm của việc thích gì viết nấy. Vậy nên về mặt logic thì mọi thứ đều OK nhưng bộ phận xác nhận ký ức của tôi cho đến tận bây giờ vẫn phát tín hiệu cảnh báo tôi về một điểm sai khác. Đó chính là sự hối hận.
Sonoko xuống thêm được hai, ba bậc cầu thang thì nhận ra tôi, nụ cười nở trên khuôn mặt có đôi má ửng đỏ tươi tắn của cô chìm vào bầu không khí lạnh lẽo mùa đông. Đôi mắt đen láy, mí mắt trĩu nặng có chút buồn ngủ ấy trở nên rạng rỡ như thể đang muốn nói điều gì đó. Cô giao tay của em gái nhỏ cho người em gái lớn hơn rồi chạy trên hành lang về phía tôi bằng điệu bộ uyển chuyển như một tia sáng đang đong đưa.
Buổi sáng hôm trước, lúc tôi đến thăm nhà họ, cô cũng chạy về phía tôi như thế. Từ thời niên thiếu, phụ nữ chưa bao giờ là một khái niệm thuộc về cảm xúc xác thịt trong suy nghĩ của tôi. Giá như tôi có thể tiếp nhận cô bằng những hy vọng dối trá. Nhưng khốn khổ thay, trực cảm của tôi lại bị buộc phải xác nhận sự khác biệt chỉ có ở Sonoko. Đó là tình cảm tĩnh lặng sâu đậm không hề xứng đáng với cô, tuy nhiên tôi lại chẳng có cảm giác thấp kém bỉ ổi chút nào. Mỗi khi nhìn thấy Sonoko trong mọi khoảnh khắc cô tiến đến gần, tôi lại như bị hành hạ bởi một cảm giác bi thương vì chẳng muốn rời xa cô. Cảm giác ấy tôi chưa bao giờ trải nghiệm. Cảm giác thống khổ ấy như thể làm run rẩy gốc rễ tồn tại của tôi. Cho đến tận bây giờ, tôi chỉ có thể nhìn phụ nữ bằng tình cảm lẫn lộn rất giả tạo của cảm xúc xác thịt dối trá và những tò mò trẻ con. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, trái tim không thể nào rung động một cách bi thống, không nói nên lời và sâu sắc đến nhường ấy, hơn thế sự bi thống kia vốn dĩ cũng là một phần sự giả trá của tôi. Tôi nhận ra rằng mình hối hận. Nhưng có thứ tội lỗi mang đến cho tôi tư cách để hối hận hay sao? Rõ ràng mâu thuẫn nhưng chẳng phải đó là sự hối hận khi đứng trước tội lỗi hay sao? Điều này có vẻ chẳng khác gì một linh cảm của tội lỗi.
Một cách tự nhiên, Sonoko đã đứng trước mặt tôi. Bởi tôi đang chìm vào trạng thái lơ mơ nên một lần nữa lại cúi gập người chào hỏi, khi nãy tôi mới chỉ hơi cúi đầu.
“Chắc phải chờ thêm một chút, có sao không ạ?” Rồi cô đỏ mặt vì sử dụng cách diễn đạt kỳ lạ như vậy. “Mẹ và bà em vẫn chưa chuẩn bị xong đồ ăn nên có vẻ sẽ đến muộn. Với lại, chờ một chút (cô nói lại lời vừa nói bằng giọng điệu có vẻ dè dặt), chờ một chút, nếu mà họ vẫn chưa đến thì mình cứ đi đến ga U trước nhé!”
Cô cao đến trán tôi. Nửa thân trên rất cân đối và thanh lịch, còn đôi chân thì tuyệt đẹp. Khuôn mặt tròn trịa ngây thơ không trang điểm giống hệt bức chân dung của một linh hồn trong sáng chẳng hề biết đến việc tô son điểm phấn. Trên môi có chút nứt nẻ thế mà nhìn cứ như thể một màu sắc tươi thắm nào đó.
Rồi chúng tôi nói với nhau dăm ba câu vô thưởng vô phạt. Tôi đã cố gắng hết sức để tỏ ra là một thanh niên vui vẻ, thông minh. Tôi cực kỳ căm ghét một thằng “tôi” như thế.
Những con tàu dừng rồi lại chuyển bánh trên đường ray thép lạnh ngay trước mặt chúng tôi. Khách lên xuống ở nhà ga này không nhiều. Chúng tôi thoải mái tắm mình trong ánh nắng, những tia nắng thỉnh thoảng lại bị người qua kẻ lại chắn ngang trong giây lát nhưng cảm giác thư thái của chúng đọng lại trên má tôi lúc thân tàu chuẩn bị lao đi khiến tôi run rẩy. Những tia nắng được ban cho một cách tràn trề như thế đang ở trên thân thể tôi, trong suy nghĩ của tôi từng khoảnh khắc bình thản trôi qua mà chẳng cầu xin bất cứ điều gì, toàn bộ cảm giác ấy như thể một điềm gở, nhất định là thứ điềm gở kiểu như vài phút sau đột nhiên sẽ có một trận không kích, tại chính chỗ này chúng tôi sẽ chết vì bom nổ. Chúng ta cảm thấy chẳng xứng đáng chút nào khi nhận được một chút hạnh phúc nhỏ nhoi nhưng nếu nhìn nhận theo hướng ngược lại thì chúng ta đã lây nhiễm một thói quen xấu, thói quen luôn nghĩ rằng hạnh phúc nhỏ nhoi kia là một ân huệ. Và việc nói với Sonoko một vài câu thôi cũng đem đến cho tôi cảm giác khó chịu kiểu như thế. E rằng thứ sức mạnh đang chi phối lời nói của Sonoko cũng tương tự.
Vì bà và mẹ của Sonoko mãi không đến nên chúng tôi lên một con tàu hướng về ga U.
Ga U đông nghịt người, trong đám đông đó chúng tôi nghe thấy tiếng gọi của ông Oba cũng đang đi thăm đứa con trai cùng đội với Kusano.
Một chủ ngân hàng trung niên mặc bộ comple, đội chiếc mũ phớt nhìn có vẻ bảo thủ dẫn theo cô con gái là người quen của Sonoko. Cô ta không xinh đẹp bằng Sonoko, không hiểu tại sao việc này lại khiến tôi vui. Cảm giác này là gì vậy nhỉ? Đôi bàn tay hai cô gái nắm lấy nhau, vung vẩy đầy thân thiết, cho dù có nhìn thấy sự đùa giỡn vô tư đó, hiểu được sự sẵn sàng của lòng bao dung rất yên ổn là đặc quyền từ vẻ đẹp của Sonoko, tôi vẫn phát hiện ra rằng sự bao dung này khiến cô trông có vẻ người lớn hơn hẳn.
Đoàn tàu vắng khách. Một cách ngẫu nhiên tôi và Sonoko ngồi đối diện nhau bên cửa sổ.
Nhà Oba có tất cả ba người, bao gồm cả cô hầu gái. Chúng tôi tổng cộng có sáu người. Nếu chín người ngồi trên một hàng ghế thì sẽ dư ra một người.
Tôi nhẩm tính trong đầu phép tính đơn giản kia trong vô thức. Có lẽ Sonoko cũng nghĩ giống tôi chăng? Hai người chúng tôi cùng ngồi xuống ghế ở mặt bên kia rồi nhìn nhau mỉm cười hiểu ý.
Khó khăn khi thu xếp chỗ ngồi của tôi trở thành sự thông đồng cho việc tạo ra một hòn đảo nhỏ cô đơn chỉ có hai người chúng tôi. Theo lễ nghĩa, bà và mẹ của Sonoko ngồi đối diện cùng cha con nhà Oba. Em gái nhỏ của Sonoko chọn chỗ ngồi có thể vừa nhìn khuôn mặt mẹ mình lại vừa có thể ngắm cảnh sắc bên ngoài cửa sổ. Người chị kế của cô bé chọn chỗ ngồi theo em mình. Bởi vậy mà chiếc ghế trở thành một sân chơi để người hầu gái nhà Oba trông hai bé gái có ngoại hình lớn trước tuổi. Lưng chiếc ghế cũ kĩ ngăn cách chúng tôi với bảy người còn lại.
Trong lúc con tàu chưa chuyển bánh, câu chuyện của ông Oba thu hút sự chú ý của mọi người. Câu chuyện rất nữ tính với chất giọng trầm ấy chỉ cho phép người nghe tán thưởng nó. Qua lưng ghế, tôi nhìn thấy bộ dạng ngây ngốc vì nghe người đại diện nhà Kusano kể là người bà có tính cách khá trẻ trung của Sonoko. Bà và mẹ cô sau khi tỏ ra ngạc nhiên: “Thế à, thế sao?” thì bị nhiệm vụ phải cười mỗi khi nghe thấy điểm mấu chốt của câu chuyện phân tán sự tập trung. Đến con gái nhà Oba cũng chẳng nói một lời. Cuối cùng thì con tàu cũng xuất phát.
Khi con tàu đã rời xa ga, những tia nắng chiếu qua khung cửa kính bẩn thỉu rơi xuống đầu gối trên chiếc áo choàng dài của tôi và Sonoko. Cô cũng như tôi, vừa lắng tai nghe câu chuyện phiếm kia vừa im lặng. Đôi khi miệng cô khẽ nở nụ cười. Nụ cười ấy ngay lập tức lây nhiễm cho tôi khiến tôi cũng bất giác mỉm cười. Cứ mỗi lần như thế, ánh mắt chúng tôi lại giao nhau. Và cứ mỗi lần như thế Sonoko lại lắng tai nghe giọng nói bên cạnh, ánh mắt trở nên chẳng vương vấn gì, đầy nghịch ngợm, tỏa sáng lấp lánh trốn chạy khỏi tầm nhìn của tôi.
“Đến khi chết thì tôi cũng muốn chết bằng bộ dạng này. Mặc thường phục dân sự, đi bao chân, cho dù có chết cũng không nhắm mắt được. Tôi không bao giờ cho phép con gái mình mặc quần, là phụ nữ thì nên chết trong bộ dạng của một phụ nữ, đó chẳng phải là từ bi với cha mẹ mình hay sao?”
“Chà, chà.”
“Chuyện này không liên quan nhưng mà tôi xin được nói tới đồ đạc lúc di tản. Gia đình không có đàn ông thì cứ như thể bị khuyết tật vậy. Nếu cần giúp gì thì cứ nói cho tôi biết, đừng ngại nhé.”
“Thật cảm ơn anh quá.”
“Tôi đã mua nhà kho của khu suối nước nóng T, đồ đạc của nhân viên ngân hàng chúng tôi đều đem về đấy cả. Như vậy rất an toàn phải không ạ? Cả piano cũng không vấn đề gì.”
“Thật cảm ơn anh quá.”
“Chuyện này cũng không liên quan gì nhưng đội trưởng của cậu nhà là một người tử tế, điều ấy thật tốt nhỉ. Đội trưởng của con trai tôi thì khác, đồ ăn đem đến khi thăm nom đều bị anh ta bớt xén. Kẻ như thế sao không đưa ra biển nhỉ? Tay đội trưởng ấy, hôm sau ngày thăm nom có lẽ sẽ lên cơn co thắt dạ dày.”
“Chắc thế rồi, hi hi.”
Sonoko lại nở nụ cười mỉm nên trông có vẻ lo lắng. Rồi cô lấy từ trong túi xách ra một cuốn sách khổ nhỏ. Tôi có chút không vui, thế mà chính tôi lại bị tên của cuốn sách đó thu hút.
“Sách gì vậy?” Tôi hỏi.
Cô vừa cười vừa mở rộng cuốn sách ra trước mặt mình để cho tôi xem trang bìa cứ như thể đang xòe một cái quạt. Đó là cuốn Nữ thủy thần kế bên tựa sách, trong dấu ngoặc đơn, có đó viết tựa gốc cuốn sách là “Undine”.
Phía sau lưng ghế chúng tôi ngồi, hình như có người đã đứng lên. Đó là mẹ của Sonoko. Bà mẹ vừa có ý định chạy trốn khỏi câu chuyện của ông Oba vừa ra sức trấn áp cô con gái út đang nhảy nhót, lí lắc quá trớn trên ghế. Nhưng không chỉ có thế. Bà mẹ ấy còn nói rằng muốn kéo cô con gái ồn ào ấy cùng cô chị mới lớn của cô sang ghế bên phía chúng tôi.
“Chà, xin hãy cho những kẻ ồn ào này ngồi cùng với ạ.”
Mẹ của Sonoko là người phụ nữ xinh đẹp và thanh lịch. Thậm chí nhìn thấy cả sự cảm động rất đúng thời điểm trong nụ cười nhuộm lên cách ăn nói lịch sự của bà. Trong nụ cười của người phụ nữ này khi nói ra những lời trên, tôi có thể nhìn ra một sự lo lắng buồn bã nào đó. Lúc mẹ cô sắp đến gần, tôi và Sonoko thoáng nhìn vào mắt nhau. Tôi lấy cuốn sổ từ trong túi ngực ra, xé một tờ giấy rồi dùng bút ghi lên như sau.
“Mẹ em đang lo lắng đấy.”
“Sao cơ ạ?”
Sonoko nghiêng nghiêng khuôn mặt. Tôi ngửi thấy mùi tóc giống mùi tóc một đứa trẻ của cô. Sau khi đọc xong miếng giấy của tôi, cô cúi đầu xấu hổ, cả sau gáy cũng trở nên đỏ lựng.
“Này, đúng thế mà.” Tôi nói.
“À thì em...”
Rồi chúng tôi lại đưa mắt nhìn nhau như đã hiểu rõ mọi thứ. Tôi cảm thấy má mình đang dần nóng bừng.
“Chị ơi, cái này là gì vậy?”
Cô em gái nhỏ nắm lấy tay Sonoko. Sonoko vội giấu miếng giấy đi. Người em gái lớn hơn có vẻ đã hiểu câu chuyện. Cô tỏ ra tức giận rồi mắng em gái mình.
Ngược lại với dự tính của mẹ Sonoko, nhờ sự có mặt của hai cô em gái mà tôi và cô càng dễ nói chuyện cùng nhau hơn. Cô nói chuyện về anh trai và bao nhiêu cuốn tiểu thuyết đã đọc, tôi ngay lập tức tỏ ra rằng quan điểm của bản thân về những chuyện ấy cũng giống hệt số đông mọi người. Đó là bước đầu tiên của nghệ thuật dụ dỗ. Chúng tôi nói chuyện vô cùng thân mật, hai người em gái cảm thấy bị cho ra rìa nên lại quay về chỗ ngồi cũ của họ. Người mẹ vừa cười khổ vừa dẫn hai kẻ quan sát chẳng được tích sự gì này trở lại ngồi cạnh chúng tôi.
Tối hôm đó, thu xếp xong chỗ nghỉ tại một nhà trọ ở thị trấn M gần nơi Kusano đóng quân thì cũng là lúc phải lên giường ngủ. Tôi và ông Oba ở chung một phòng.
Khi chỉ có hai người chúng tôi với nhau, ông chủ ngân hàng tuyên bố lý luận phản chiến một cách đầy đanh thép. Xuất hiện từ mùa xuân năm Chiêu Hòa thứ 20, tôi đã từng nghe xì xào về mớ lý luận phản chiến này đến mức phát chán rồi. Ông ta kể rằng, có công ty đồ gốm lớn nọ, là đối tác vay vốn của ngân hàng ông ta, đã lên kế hoạch sản xuất đồ gốm sứ gia dụng với quy mô lớn, tất nhiên họ cho rằng thời thế sẽ yên ổn. Hiện giờ kế hoạch ấy đang nằm bên dưới danh mục bị chôn vùi bởi đống đổ nát của chiến tranh. Rồi ông ta nói về câu chuyện đàm phán hòa bình với Liên Xô. Tất cả đều được phát ra từ miệng ông ta bằng chất giọng trầm thấp,nghe rất khó chịu. Tôi càng thèm hơn cảm giác được một mình suy nghĩ. Khi gỡ đôi mắt kính ra, khuôn mặt ông ta nhìn sưng phồng lên một cách kỳ dị, chìm bên trong cái bóng nở ra của ngọn đèn bàn đã tắt, làm tràn ra nhẹ nhàng trong chăn tiếng thở dài ngây ngô hai, ba lần. Sau đó tiếng ngáy vang lên. Tôi vừa cảm thấy gợn vải ở chiếc khăn bông mới tinh bọc gối chọc vào má mình, vừa chìm vào suy nghĩ.
Mỗi khi cô đơn tôi thường bị nỗi bực bội đầy u uất uy hiếp, giờ lại thêm sự buồn bã khi nhìn thấy Sonoko sáng nay được gợi lại một cách đầy tươi mới, làm rung chuyển gốc rễ tồn tại của tôi. Điều đó vạch trần sự giả dối trong nhất cử nhất động, trong từng câu từng chữ của tôi. Bởi vì chẳng thể nào khổ sở hơn những phỏng đoán khó khăn rằng kết luận về những điều giả dối kia có lẽ vẫn còn vớt vát trong đó được chút thành thật, nên khi cố ý vạch trần điều đó cũng là cách để tôi cảm thấy yên tâm hơn. Lúc này, thứ được gọi là điều kiện căn bản mang tính con người, nỗi bất an đầy cố chấp dành cho một phần đã được xác thực trong trái tim con người của tôi chỉ có thể đưa tôi đến với mớ ngụy biện loanh quanh chẳng thể nào khiến tôi giác ngộ được. Nếu là những thanh niên khác, họ sẽ cảm thấy thế nào nhỉ? Nếu là những người bình thường khác, họ sẽ cảm thấy thế nào nhỉ? Nỗi ám ảnh ấy đè nặng lên tôi, đột nhiên làm vung vãi chút ít hạnh phúc mà tôi ngỡ đã thực sự có được trong tay.
“Kỹ năng diễn xuất” biến thành một phần thật sự trong hệ thống của riêng tôi. Bởi vậy, nó đã không còn là “kỹ năng diễn xuất” nữa. Ý thức khi hóa trang bản thân trở thành con người bình thường nuốt gọn sự bình thường nguyên bản có sẵn ở trong tôi, ý thức ấy nhả ra từng lời một giải thích cho tôi rằng sự bình thường nguyên bản của tôi chẳng khác gì một sự bình thường giả dối. Nếu nhìn nhận theo hướng ngược lại, tôi đã dần trở thành kẻ chỉ tin vào những điều giả trá. Nếu thế thứ tình cảm từ tận trong tim hướng về Sonoko cũng bị tôi nghĩ là giả dối, thứ tình cảm ấy đeo lên một chiếc mặt nạ rồi bị mong muốn bản thân coi đó là một tình yêu chân thực bắt phải thể hiện ra ngoài. Ở thời điểm này, tôi đã trở thành kẻ bác bỏ ngay cả bản thân mình.
Khi tôi đang mơ màng buồn ngủ thì bất ngờ một tiếng rền rĩ đầy mê hoặc từ đâu đó trong màn đêm bổ nhào đến mang theo cảm giác xui xẻo.
“Không phải là chuông báo động sao?”
Tôi bị con mắt thao láo của vị chủ ngân hàng làm giật mình.
“Chà.”
Tôi ậm ừ trả lời. Tiếng chuông liên tục vang lên, từng hồi từng hồi.
Vì cuộc thăm hỏi diễn ra sớm nên 6 giờ sáng tất cả chúng tôi đã thức dậy.
“Đêm qua tiếng chuông báo động ầm ĩ nhỉ?”
“Đâu có.”
Chào nhau khi gặp ở nơi làm vệ sinh buổi sáng, Sonoko đã nói như thế với tôi bằng khuôn mặt hết sức thành thật. Khi về phòng, điều ấy trở thành cái cớ để cô bị hai người em gái trêu chọc.
“Chỉ có mình chị không biết thôi. Lạ thật đấy.”
Cô em gái nhỏ nói thêm vào.
“Chúng ta đã tỉnh giấc vậy mà vẫn nghe thấy chị ấy ngáy rõ to.”
“Đúng rồi đấy. Chị cũng nghe thấy. Tiếng ngáy to đến nỗi át cả tiếng chuông báo động kia mà.”
“Chị đã nói rồi nhỉ? Đưa chứng cớ ra đây xem nào,” Sonoko đáp trả một cách bình tĩnh, nhưng vì đang ở trước mặt tôi nên khuôn mặt cô vẫn cứ đỏ lựng lên.
“Nói dối trắng trợn như thế, sau này mới thấy sợ đấy.”
Tôi chỉ có một người em gái. Từ lúc còn bé, tôi đã mơ ước về một căn nhà náo nhiệt với rất nhiều chị em gái. Những cãi cọ ồn ào mang nửa phần đùa cợt của chị em trong nhà này đối với tôi chính là hình ảnh chính xác nhất, tươi tắn nhất của hạnh phúc. Điều đó cũng đồng thời đánh thức nỗi đau khổ của tôi.
Trong câu chuyện của bữa sáng hôm ấy, tiếng chuông báo động đầu tiên của tháng Ba trở thành chủ đề nóng. Chỉ nghe thấy tiếng chuông cảnh báo mà chẳng thấy chuông báo động không kích thật sự vang lên nên tất cả mọi người đi đến kết luận là sẽ chẳng có gì to tát xảy ra, họ dần bình tĩnh trở lại. Đối với tôi, dù có chuyện gì xảy ra cũng chẳng phải là việc quá tệ. Giả như đúng lúc mọi người trong gia đình tôi có mặt ở nhà, ngôi nhà bị một trận không kích thiêu rụi, tất cả đều bỏ mạng, tôi nghĩ điều đó cũng không tệ. Những hoang tưởng tàn khốc và dị biệt đến mức không thể hiểu nổi ấy, mỗi ngày tôi đều cố gắng bình tĩnh tưởng tượng đến tận cùng kết cục của nó, điều này ngược lại lại khiến năng lực tưởng tượng của tôi trở nên nghèo nàn. Ví như tưởng tượng ra việc cả gia đình chết sạch dễ hơn nhiều so với tưởng tượng ra ánh sáng nhấp nháy của đèn neon trên bầu trời đêm và những chai rượu Tây xếp thành hàng trên kệ đầu tiên của cửa hàng rượu ở Ginza. Năng lực tưởng tượng không có bất cứ cảm giác kháng cự nào ấy lại mang theo bộ dạng vô cùng lãnh khốc chẳng chút liên quan gì tới sự lạnh lùng trong tim. Điều đó chẳng khác gì biểu hiện của một thứ tinh thần nửa vời, uể oải.
Tôi đã trở thành một diễn viên kịch bi vào lúc tôi biến thành con người mang những suy nghĩ đầy khổ sở, dằn vặt như tối hôm trước. Khác hẳn với con người ấy, ngay lúc vừa bước ra khỏi nhà trọ, tôi đã muốn mang giúp hành lý của Sonoko bằng điệu bộ của một hiệp sĩ phớt đời. Đó là cách tôi cố tình thể hiện ra trước mặt người khác. Hơn cả sự e thẹn với tôi, sự ngượng ngùng của cô được hiểu là sự e ngại thái độ của bà và mẹ cô. Bản thân cô cũng bị kết luận ấy lừa dối, chắc chắn là cô ý thức được tất cả sự thân mật của tôi đến mức độ phải e ngại bà và mẹ mình. Mưu kế nho nhỏ ấy của tôi đã thành công. Khi giao chiếc túi vào tay tôi, cô không rời xa tôi nửa bước giống như để nói một lời xin lỗi. Có một người bạn gái cùng tuổi ở ngay đó, thế mà cô không hề nói chuyện với người ấy, chỉ toàn nói chuyện với tôi. Cô khiến tôi say sưa ngắm nhìn bằng cảm giác có đôi chút kỳ lạ. Cơn gió đầy bụi lúc đầu xuân thổi tắt giọng nói ngọt ngào trong trẻo đến mức bi thương của Sonoko. Tôi xốc lại vai áo khoác ngoài rồi thử độ nặng chiếc túi của cô. Với trọng lượng này vừa đủ để biện bạch cho khúc mắc của những người tò mò về cảm giác thật sự ở sâu trong tim tôi dành cho cô. Bà của cô lên tiếng về việc có nên đi bộ ra đến tận ngoại ô không. Ông chủ ngân hàng chỉ đến ga rồi quay về, bằng cách nào đó, ông ta quay trở lại với hai chiếc xe đi thuê, đủ cho cả đoàn người chúng tôi.
“Chà, lâu quá rồi nhỉ?”
Bàn tay tôi bị Kusano nắm lấy liền trở nên luống cuống, cảm giác như đang chạm vào vỏ một con tôm hùm.
“Tay bị sao vậy?”
“À, bất ngờ phải không?”
Ở cậu ta toát ra cái vẻ ngây ngô đến mức ớn lạnh chỉ có ở một tân binh khi buông lời nói dối rồi đưa hai bàn tay ra trước mặt tôi. Những vết nứt nẻ vì thời tiết hanh khô, vết rộp do bị cước lạnh, vết mẩn đỏ ấy bị dầu và rác làm cho khô cứng khiến đôi bàn tay trở nên thô ráp giống hệt vỏ của một con tôm. Đôi bàn tay ấy lại còn vừa ẩm vừa lạnh.
Cách đôi bàn tay ấy nắm chặt tay tôi vừa đúng như cách mà hiện thực đang nắm chặt tôi. Tôi cảm thấy một sự sợ hãi đầy bản năng bên trong cảm giác của mình dành cho đôi tay ấy. Thực tế thì điều tôi sợ hãi chính là đôi tay tàn nhẫn này sẽ phát giác và tố cáo những điều xấu xa đang tồn tại sâu bên trong con người tôi. Khi đứng trước đôi bàn tay này, tôi sợ rằng mình sẽ không thể tiếp tục giả dối được. Trong giây phút suy nghĩ này nảy ra, sự tồn tại của Sonoko là tấm áo giáp duy nhất, sự bảo hộ duy nhất cho tâm hồn yếu đuối của tôi để tôi có thể kháng cự sức mạnh của đôi bàn tay kia. Cho dù có là sai lầm đi nữa, tôi cảm thấy mình phải yêu cô. Tình yêu ấy nằm ở vị trí sâu hơn cả cảm giác tội lỗi vốn đã nằm ở sâu thẳm trong tôi.
Kusano không biết được những suy nghĩ kia của tôi, vẫn vô tư nói:
“Lúc tắm dùng bàn tay như thế này còn tốt hơn dùng miếng bông kỳ cọ ấy chứ.”
Có tiếng thở dài nhè nhẹ của mẹ cậu ta. Tôi cảm thấy mình đứng đây như một người thừa không biết lễ nghĩa tối thiểu. Sonoko ngước lên nhìn tôi với vẻ mặt không biểu lộ cảm xúc gì. Tôi cúi đầu xuống. Có chút trái lẽ thường nhưng lúc đó tôi cảm thấy mình phải xin lỗi cô.
“Ra ngoài đi nào.”
Kusano lưỡng lự một chút rồi đẩy vào lưng mẹ và bà mình. Trên khoảng sân rộng có nhiều cỏ khô, nhiều gia đình đang ngồi lại thành từng vòng tròn. Đám lính mới bị người nhà bắt phải ăn thật nhiều. Đáng tiếc, dù có cố gắng thế nào tôi cũng không thể nhìn ra khung cảnh trước mắt có gì là đẹp đẽ.
Cuối cùng thì Kusano cũng ngồi khoanh chân ở trung tâm của một vòng tròn giống hệt như vậy, vừa phồng má nuốt chỗ bánh kẹo kiểu Tây vừa phải dáo dác nhìn lên bầu trời phía Tokyo. Từ khu đất quân sự này trở đi, ở phía đồng cỏ cháy khô là thung lũng rộng hút mắt của thành phố M. Nơi dãy núi thấp phía đối diện chịu thỏa hiệp với mặt đất có một khoảng không gian được gọi là “bầu trời phía Tokyo”. Những đám mây của buổi sáng đầu xuân lạnh giá đổ chiếc bóng mỏng manh xuống rợp cả một vùng.
“Tối qua phía đó đỏ rực cả lên, nhìn rất đáng sợ. Không biết căn nhà có sao không. Cả khoảng trời đỏ rực lên như vậy chắc là trận không kích ghê gớm nhất từ trước đến nay đấy.”
Kusano nói một mình bằng bộ dạng như muốn áp đặt câu chuyện, nhấn mạnh rằng nếu mẹ và bà cùng với các em gái mà không di tản sớm, mỗi đêm cậu ta sẽ chẳng thể nào ngủ yên được.
“Hiểu rồi. Phải nhanh chóng đi sơ tán thôi. Bà hứa đấy.”
Bà của cậu nói chắc như đinh đóng cột. Sau đó bà lấy từ trong đai áo ra một cái bút bi màu vàng mộc mạc như tăm tre và một cuốn sổ nhỏ, rồi ghi vào đó một dòng chữ chi tiết. Chuyến tàu trở về thật buồn bã. Ngay cả gia đình Oba cũng đột nhiên giữ thái độ im lặng. Mọi thứ, nhất là thứ được gọi là “tình cảm máu mủ” bình thường luôn được che giấu đi, nay lại bị phát giác thì ra đó chỉ là vỏ bọc đã trở thành nô lệ của cảm xúc giống như một cơn đau nhói. E rằng nếu gặp nhau bằng thứ cảm xúc trần trụi, mà ngoài thứ đó ra chẳng thể tìm thấy một kiểu cảm xúc nào khác, thì sau khi họ gặp được em trai, cháu trai, anh trai và con trai, liền rơi vào cảm giác trống rỗng, một sự trống rỗng không hơn gì việc cùng nhau phô ra sự chảy máu vô ích. Còn tôi lúc ấy đang bị ảo ảnh của đôi tay đau đớn kia truy đuổi. Đến lúc chiều tà, con tàu đưa chúng tôi về đến ga O, sau đó đổi sang một chuyến tàu nội thị.
Từ lúc ấy, chúng tôi mới bắt đầu phải chứng kiến những thiệt hại của trận không kích tối qua. Trên cây cầu đầy những nạn dân chiến tranh. Họ khoác một chiếc chăn mỏng, trưng ra đôi tròng mắt trống rỗng chẳng nhìn vào một điểm cụ thể nào, nói đúng hơn đấy là những đôi tròng mắt giản đơn. Có người mẹ như muốn lắc mãi đứa con trên đầu gối mình bằng một nhịp độ không đổi. Một cô gái bị mấy bông hoa giả đã gần như cháy đen dính vào tóc, gục đầu trên đống hành lý ngủ vùi.
Chúng tôi đi xuyên qua những cảnh tượng ấy mà chẳng nhận được gì, kể cả một ánh nhìn trách móc. Chúng tôi bị họ lờ đi. Có lẽ họ không cảm nhận được bất hạnh, bởi vậy mà sự tồn tại của chúng tôi bị họ phớt lờ và coi như một cái bóng.
Mặc dù vậy, trong tôi có thứ gì đó đang bùng cháy. Một hàng những “bất hạnh” bày ra đấy, cổ vũ tôi, ban cho tôi sức mạnh. Tôi hiểu được sự kích động mà những cuộc cách mạng đem đến. Họ biết rằng những điều tạo nên sự tồn tại của bản thân họ đã bị ngọn lửa bao trùm. Nhìn thấy các mối quan hệ với những người xung quanh, sự yêu ghét, lý trí, tài sản bị lửa thiêu rụi ngay trước mắt. Lúc ấy họ chẳng hề chiến đấu với lửa. Họ chiến đấu với mối quan hệ con người, với sự yêu ghét, với lý trí và tài sản. Khi đó họ cùng ngồi trên chiếc tàu sắp đắm, đã chấp nhận điều kiện rằng để một người được sống thì phải giết chết một người khác. Người đàn ông đã chết để cứu người yêu, không phải là ngọn lửa mà chính người yêu của anh ta đã giết chết anh ta, người mẹ chết để cứu đứa con nhỏ, chẳng điều gì khác ngoài chính đứa con ấy đã giết mẹ mình. Trong tình huống này, e rằng việc lao vào chiến đấu là tất cả điều kiện thuộc về con người mang tính bản chất và phổ biến hơn bất cứ thứ gì.
Tôi nhìn vào dấu vết của sự mỏi mệt mà vở kịch xuất sắc kia để lại trên lớp vỏ con người của họ. Niềm tin nồng nhiệt nào đó trong tôi dâng trào. Trong bao nhiêu khoảnh khắc, tôi cảm thấy như thể rũ bỏ được một cách đầy dũng cảm nỗi lo sợ liên quan đến điều kiện mang tính bản chất con người trong tôi. Suy nghĩ muốn hét lên tràn đầy trong cảm xúc.
Nếu trong tôi có nhiều hơn một chút năng lực giác ngộ, nếu tôi được ban cho chỉ một chút sự khôn ngoan thì có lẽ đã thử đồng ý với điều kiện kia rồi. Vậy mà, cùng với những dại dột, sự nhiệt tình đầy mơ mộng đã khiến tôi vòng cánh tay mình qua thân thể của Sonoko. Có lẽ nào chỉ với động tác nhỏ nhặt ấy đã chỉ cho tôi thấy ngoài thứ thường được gọi là tình yêu ra thì tình cảm này chẳng thể là một điều gì khác được nữa. Chúng tôi cứ như thế, dẫn đầu đoàn người rảo bước xuyên qua cây cầu trong bóng tối. Sonoko chẳng nói năng gì.
Nhưng rồi, bên trong con tàu điện nội đô sáng rực đến mức kỳ quặc, khi chúng tôi hướng khuôn mặt về phía nhau, tôi nhận ra đôi mắt Sonoko đang nhìn chằm chằm vào tôi vừa giống như dồn đuổi lại như đang tỏa ra thứ ánh sáng rạng rỡ, mềm mại, đen huyền.
90% hành khách cùng đổi sang chuyến tàu chạy quanh nội thành với chúng tôi là nạn nhân của trận không kích hôm qua. Tại đây, mùi của khói lửa càng nồng đậm hơn khiến họ tức điên lên. Họ nói về những nguy hiểm mà bản thân vừa trải qua bằng giọng the thé, bằng vẻ tự mãn. Họ chính là quần chúng “cách mạng” điển hình. Bởi vì họ là một bầy đàn mang theo sự bất mãn đầy phấn chấn, hân hoan đắc ý, một sự bất mãn tràn trề, một sự bất mãn rạng ngời.
Một mình tôi từ biệt mọi người ở ga S. Trả chiếc túi của Sonoko về tay cô. Đi bộ về nhà trên con đường tối om, mấy lần tôi như chợt nhớ ra chiếc túi của cô đã không còn trên tay mình nữa. Rồi tôi hiểu ra vai trò thực sự quan trọng của chiếc túi ấy trong mối quan hệ của tôi và cô cho đến lúc này. Điều ấy là một sự khổ sở nho nhỏ. Đối với tôi, để lương tâm không bước lên vị trí cao nhất khiến tâm trí lúc nào cũng nặng nề thì việc phải khổ sở là cần thiết.
Mọi người trong nhà đón tôi bằng biểu cảm bình chân như vại. Dù nói là Tokyo nhưng đây là một thành phố rộng lớn biết chừng nào. Hai, ba ngày sau tôi lại đến nhà Kusano, mang theo cuốn sách đã hứa cho Sonoko mượn. Trong tình huống này, nếu nói đến tiểu thuyết được một anh chàng hai mươi mốt tuổi chọn cho một cô nàng mười chín tuổi, chẳng cần nhìn nhan đề, đại thể ai cũng có thể đoán được phần nào chủ đề của nó. Thứ niềm vui khi bản thân làm những việc thông thường mà ai cũng làm ấy, đối với tôi mà nói chính là một điều vô cùng tuyệt vời. Đúng lúc ấy, Sonoko phải sang nhà hàng xóm rồi sẽ trở về ngay nên tôi đợi cô ở trong phòng khách.
Bầu không khí ngày đầu xuân sầm sì giống như váng mỡ, trời đổ mưa. Có lẽ Sonoko đi được nửa đường thì gặp mưa, cô bước vào phòng khách tối tăm khi những giọt nước vẫn còn long lanh trên khắp mái tóc. Rồi cô ngồi co người lại trên chiếc tràng kỷ nằm sâu trong góc tối. Trên khuôn miệng rỉ ra một nụ cười. Hai khối tròn trên ngực chiếc áo khoác màu đỏ nổi lên trong quầng sáng yếu ớt.
Chúng tôi ngượng nghịu trò chuyện bằng vài câu rời rạc. Đây là lần đầu tiên chúng tôi có cơ hội chỉ hai người với nhau như thế này. Cuộc nói chuyện vui vẻ trên tàu trong chuyến du lịch nho nhỏ trước đây, tám, chín phần là chuyện của hai em gái cô và chuyện phiếm của những người xung quanh. Thậm chí dũng khí trao cho cô một dòng chữ ẩn chứa tình cảm được viết trên miếng giấy nhỏ, đến hôm nay cũng chẳng còn để lại bất kỳ dấu vết nào. Tôi cảm thấy gượng gạo hơn trước rất nhiều. Thành thực mà nói, tôi là kẻ đã bỏ bê bản thân, nghĩa là khi đứng trước cô, tôi chẳng hề sợ hãi việc rơi vào tình huống gượng gạo kia. Tôi đã quên mất kỹ năng diễn kịch của mình rồi hay sao? Chẳng lẽ, tôi đã quên mất kỹ năng diễn vở kịch lặp đi lặp lại liên tục nội dung rằng tôi cũng yêu đương như mọi con người bình thường khác? Không hiểu vì lý do gì mà lúc ấy tôi cảm thấy mình không hề yêu người con gái này. Ý nghĩ ấy làm tôi thoải mái.
Cơn mưa rào đã tạnh, bóng chiều tà ùa vào bên trong căn phòng.
Ánh mắt và bờ môi của Sonoko đang tỏa sáng. Vẻ đẹp ấy bị cảm giác bất lực của tôi diễn giải, đè nặng lên tâm trí tôi. Những suy nghĩ khổ sở ấy, ngược lại, phơi bày ra sự tồn tại của cô một cách đầy phù phiếm.
“Chúng ta...” tôi nói, “chẳng biết sẽ được sống đến bao giờ. Hôm nay chuông báo động sẽ kêu. Có lẽ máy bay sẽ giội thẳng bom xuống đầu chúng ta.”
“Nói thế nào nhỉ?” Lúc ấy, cô đang mân mê nếp gấp trên chân váy in hoa văn sọc lớn kiểu Scotland nhưng khi nói ra những lời này cô liền ngẩng mặt lên. Ánh sáng trên những sợi lông măng nhỏ xíu như tô điểm thêm cho đôi má cô. “Cái đó... Máy bay đến trong im lặng, giội thẳng bom xuống... Có phải anh nghĩ như thế không?”
Đây là lời thổ lộ tình yêu mà chính bản thân Sonoko, người đang thổ lộ cũng không hề hay biết.
“Đúng rồi... Anh nghĩ thế đấy.”
Tôi đã trả lời chính xác như vậy. Sonoko chắc sẽ không hiểu rằng, câu trả lời này đang bén rễ sâu hơn vào trong hy vọng của tôi. Nhưng nếu thử suy nghĩ thì cuộc đối thoại như thế này quả là rất nực cười. Nếu đây là một thế giới yên ổn thì câu chuyện này hẳn là chỉ có thể trao nhau sau khi hai bên đã xác nhận cùng yêu thương nhau.
“Sinh ly tử biệt, anh thật sự chán ngấy rồi,” tôi nói bằng điệu bộ châm chọc để che đi sự bối rối. “Thỉnh thoảng, em không cảm thấy thế sao? Thời đại kiểu này, ly biệt đã thành chuyện thường, nên việc gặp được nhau cũng trở thành kỳ tích... Chúng ta cứ nói chuyện với nhau mấy chục phút như thế này, suy nghĩ kỹ ra thì cũng là kỳ tích đấy.”
“Vâng, chúng ta cũng...” Cô ngập ngừng nói. Rồi bằng sự nghiêm túc quá mức dù có vẻ khá bình tĩnh cô nói tiếp: “Vừa mới gặp nhau nhưng chúng ta lại sắp phải chia ly rồi. Bà em đã quyết định sẽ đi di tản. Hôm kia, lúc về nhà, bà em ngay lập tức đã đánh điện báo cho bác gái ở làng N, tỉnh N. Sáng nay bác ấy đã trả lời gia đình em bằng điện thoại đường dài. Nội dung điện báo là: “Tìm nhà giúp”, bác ấy trả lời là, bây giờ dù có tìm cũng chẳng có nhà nữa nên cứ di tản đến nhà của bác là được. Bác ấy nói rằng đó là một nơi náo nhiệt và vui vẻ. Bà em bảo trong vòng hai, ba ngày nữa sẽ đi, nên có hơi vội một chút.”
Tôi không gật đầu một lần nào để tỏ vẻ đang nghe cô nói, cho dù chỉ là một cái gật đầu nhẹ. Cú sốc giáng xuống cảm xúc của tôi mạnh đến mức độ chính bản thân tôi cũng không tưởng tượng nổi. Trong tình trạng bất biến như lúc này, không hiểu từ bao giờ ảo tưởng rằng nếu chúng tôi không ở bên nhau thì những ngày tháng về sau sẽ khó khăn thế nào bị dẫn dụ ra từ cảm giác dễ chịu của tôi. Trong một kiểu ý nghĩa sâu sắc hơn nữa, điều này chẳng khác gì hai lớp ảo tưởng chồng lên nhau. Ngôn từ của cô khi trịnh trọng tuyên bố với tôi lời từ biệt cho thấy sự vô ích của cơ hội gặp mặt hiện tại, vạch mặt sự giả tạo của niềm vui hiện tại, điều đó phá vỡ những ảo ảnh ngây thơ khi nghĩ rằng mọi thứ là vĩnh viễn, cho dù không dẫn đến kết cục chia ly đi nữa. Đồng thời, việc nhận ra rằng cái thứ gọi là quan hệ nam nữ sẽ chẳng bao giờ cho phép một mối quan hệ bất biến trong mọi hoàn cảnh. Sự tỉnh ngộ này đã phế bỏ thêm một ảo tưởng khác. Tôi bừng tỉnh. Tại sao không thể để mọi việc y nguyên như bây giờ? Khi còn thơ ấu, chẳng nhớ nổi đã mấy trăm lần tôi hỏi câu tương tự như thế. Tất cả chúng ta bị bắt phải thực hiện một nghĩa vụ kỳ lạ giống hệt nhau, đó là buộc phải giao phó toàn bộ bản thân vào bên trong sự biến động của số phận, buộc phải thay đổi vị trí của mình, buộc phải đạp đổ chính mình. Cái nghĩa vụ cực kỳ thiếu hứng thú như thế, trong thế giới này chẳng phải được gọi nôm na là “sống” hay sao? Chắc rằng chỉ đối với riêng tôi “sống” mới là một nghĩa vụ? Hoặc ít ra chỉ mình tôi cảm thấy nghĩa vụ ấy thật nặng nề.
“Chà, em sắp đi rồi... Nhưng dù em có ở lại đây đi nữa thì chẳng bao lâu nữa anh cũng phải đi thôi.”
“Anh đi đâu vậy ạ?”
“Cuối tháng Ba đầu tháng Tư, anh lại phải đến một công xưởng nào đó.”
“Nguy hiểm nhỉ, chắc sẽ có những trận không kích.”
“Ừ, nguy hiểm thật.”
Tôi liều mình trả lời như vậy. Sau đó nhanh chóng trở về nhà.
Ngày hôm sau, trong vòng một ngày, tôi yên tâm rằng mình đã thoát được nghĩa vụ là phải yêu cô. Tôi hát lên thật to, đá bay mớ sách luật học mà tôi căm ghét sang một bên, tâm trạng cực kỳ vui vẻ.
Tâm trạng vui vẻ này kéo dài liên tục trong trọn một ngày. Giấc ngủ cũng an lành như một đứa trẻ. Thế mà tiếng chuông báo động vang lên trong đêm thâu phá vỡ tất cả. Mọi người trong nhà tôi vừa càu nhàu vừa nhảy xuống hầm trú ẩn. Sau đó lại chẳng có chuyện gì xảy ra, tiếng chuông báo an toàn vang lên. Tôi mơ màng buồn ngủ trong hầm trú ẩn, đeo bình nước và mũ sắt bảo hộ lên vai sau đó leo lên mặt đất.
Mùa đông năm Chiêu Hòa thứ 20 dài đằng đẵng. Mùa xuân rón rén ghé thăm bằng đôi chân nhẹ nhàng như một con báo, thế mà mùa đông vẫn bướng bỉnh đứng chắn trước mặt con báo ấy giống hệt một chiếc chuồng mở cửa sẵn. Những vì sao vẫn tỏa ra thứ ánh sáng băng lạnh trong đêm.
Bên trong tán lá của cây thường mộc kẻ viền lên ánh sao, đôi mắt vừa mới tỉnh ngủ của tôi nhìn thấy từ bao nhiêu vì sao đang loang ra thứ ánh sáng vô cùng ấm áp.
Bầu không khí ban đêm sắc lạnh hòa trộn với hơi thở của tôi. Một cách tự nhiên tôi bị áp đảo bởi suy nghĩ rằng mình yêu Sonoko, nếu cuộc đời này của tôi không trải qua cùng cô thì cũng trở thành vô nghĩa. Có tiếng nói trong sâu thẳm tâm hồn tôi thủ thỉ rằng, nếu quên được cô thì hãy quên đi. Rồi sau đó, giống như đã mỏi mòn mong đợi, giống như thời khắc nhìn thấy Sonoko buổi sáng hôm ấy, trong tôi cuộn lên một nỗi bi thương khi mọi thứ nâng đỡ gốc rễ sự tồn tại của tôi đều trở nên lung lay.
Tôi không thể cứ như thế này mãi. Trong lòng tràn ngập cay đắng.
Dù như vậy thì tôi cũng nhẫn nại thêm một ngày nữa.
Đến chiều tối ngày thứ ba, tôi đến thăm Sonoko. Trước cửa, một người đàn ông làm nghề bốc vác đang đóng gói hành lý. Anh ta chắc phải chờ đợi khá lâu bên đồng hành lý đã được buộc lại bằng dây thừng và bọc trong chiếu đặt trên nền cát. Nhìn thấy cảnh tượng đó, tôi liền cảm thấy lo lắng.
Bà của Sonoko bước ra cửa. Phía sau bà là hành lý đóng gói xong chỉ chờ chuyển đi và lối vào nhà đầy rơm lót thùng. Từ biểu hiện phiền phức đột nhiên xuất hiện trên khuôn mặt bà, tôi liền quyết định trở về mà không gặp Sonoko nữa.
“Xin bà hãy đưa cuốn sách này cho Sonoko giúp cháu ạ.”
Tôi đưa ra trước mặt bà hai, ba cuốn tiểu thuyết tình yêu giống như thằng nhóc phụ việc trong cửa hàng sách, chẳng biết gì về nội dung cuốn sách mà mình đưa cho khách hàng.
“Lần nào cũng phiền cậu thế này thật là xin lỗi,” bà không gọi Sonoko ra mà cứ thế nói với tôi. “Tối mai cả nhà chúng tôi sẽ xuất phát đến làng N rồi. Ơn trời mọi việc trôi chảy, chẳng ngờ lại có thể xuất phát sớm như vậy. Ngôi nhà này đã cho anh T thuê, anh ta dùng làm ký túc xá cho công ty. Thật là tiếc quá. Bọn trẻ cũng quen với sự gần gũi từ mọi người, sống rất vui vẻ ở đây thế mà nay phải chuyển đi thế này. Lúc nào tiện cậu ghé làng N chơi nhé. Thong thả chúng tôi sẽ gửi thư cho cậu nên nhất định cậu phải đến chơi đấy.”
Vẻ cứng nhắc giống hệt một nhà ngoại giao bậc thầy của bà nghe ra chẳng có gì là không thoải mái. Nhưng bộ dạng ấy giống hệt hàm răng giả của bà, những lời nói phát ra cũng xếp thành một hàng dài không cảm xúc.
“Xin mọi người hãy bảo trọng ạ.”
Tôi chỉ có thể nói được mấy lời như thế. Không thể nào mà thốt ra nổi tên của Sonoko. Như thể bị sự do dự của tôi mời gọi, đột nhiên Sonoko đi ra từ trong góc cầu thang. Một bên tay cầm chiếc mũ rộng vành, tay còn lại ôm năm, sáu cuốn sách. Mái tóc như đang bùng cháy bên trong luồng sáng hắt vào từ cửa sổ. Cô kêu lên khiến bà cụ giật mình.
“Anh chờ em một chút nhé.”
Sau đó cô chạy lên tầng hai với kiểu bước đi của một cô nàng nghịch ngợm. Tôi nhìn người bà đang sửng sốt của cô bằng ánh mắt với ít nhiều đắc ý. Rồi bà cụ ấy vừa đi qua đống hành lý lộn xộn vừa nói mấy lời xin lỗi, bóng dáng có vẻ bận rộn mất hút vào tận sâu bên trong nhà.
Một lát sau, Sonoko từ trên cầu thang đi xuống, khuôn mặt đỏ lựng. Tôi đứng đợi cô ở một góc lối vào nhà. Cô đến trước mặt tôi chẳng nói chẳng rằng, cúi xuống xỏ giày rồi ngẩng lên nói sẽ tiễn tôi ra về. Thứ âm sắc đầy mệnh lệnh ấy khiến tôi cảm động. Tôi vừa sờ nắn chiếc mũ đi học bằng bàn tay lóng ngóng của mình vừa chăm chú nhìn vào từng bước đi của cô. Rồi đột nhiên, tôi cảm thấy có điều gì đó đã dừng lại trong tâm trí. Hai chúng tôi đi ra ngoài bằng khoảng cách gần đến nỗi tưởng như hai cơ thể đang cọ xát vào nhau. Và cứ thế chúng tôi đi trên con đường lát sỏi ra đến tận ngoài cổng mà chẳng nói với nhau một câu nào. Sonoko lại dừng bước để buộc dây giày. Việc này tốn thời gian một cách kỳ lạ nên tôi đi ra cổng trước, vừa nhìn ngó phố xá vừa chờ cô. Tôi hoàn toàn không hiểu đó là một hành động dụ dỗ đáng yêu của thiếu nữ mười chín tuổi ấy dành cho mình. Cô cố tình để tôi đi trước cô một đoạn.
Đột nhiên từ phía sau, ngực cô đập vào cánh tay phải của tôi. Đó là một vụ va chạm theo kiểu đang lơ đãng thì một sự việc đột nhiên diễn ra khiến người trong cuộc giật mình, trạng thái gần giống như một vụ tai nạn ô tô.
“À mà... cái này...”
Thịt ở lòng bàn tay tôi bị góc cạnh của một chiếc phong bì kiểu Tây rất cứng chọc vào. Tôi siết chặt chiếc phong bì nguy hiểm đó trong lòng bàn tay mình giống như bóp chết một con chim nhỏ. Không hiểu sao tôi cảm thấy bức thư này lại nặng một cách khó tin như vậy. Tôi lén lút liếc nhìn chiếc phong bì, là kiểu phong bì thường được các nữ sinh yêu thích như nhìn một thứ đồ cấm kỵ.
“Về nhà rồi anh hãy mở ra xem nhé.”
Cô thì thầm bằng giọng nói rất nhỏ, hổn hển như thể đang xúc động. Tôi liền hỏi lại.
“Anh phải gửi thư trả lời về đâu?”
“Ở bên trong thư em có viết sẵn địa chỉ rồi... địa chỉ ở làng N ấy. Anh cứ gửi thư về địa chỉ ấy cho em.”
Có chút kỳ quặc nhưng cuộc chia ly đường đột ấy khiến tôi khá vui vẻ. Tương tự niềm vui trong phút chốc khi chơi trò ú tim, lúc con quỷ đếm xong số lượng người chơi, mọi người vội vã đi tìm chỗ trốn. Đối với tôi, đó là một thứ tài năng kỳ lạ, thứ tài năng khiến tôi có thể hưởng thụ vui vẻ cả trong những tình huống kiểu này. Nhờ thứ tài năng đáng xấu hổ ấy mà thậm chí trong suy nghĩ của chính tôi, sự hèn nhát cũng bị ngộ nhận là dũng cảm. Tuy nhiên, có lẽ nên gọi thứ tài năng này là một phần thưởng ngọt ngào từ cuộc sống mà con người không được quyền lựa chọn.
Chúng tôi từ biệt ở chỗ cổng soát vé tại nhà ga. Chẳng hề nắm tay nhau.
Từ khi sinh ra, đây là lần đầu tiên tôi nhận được thư tình, việc này khiến tôi lâng lâng bay bổng. Bởi vậy không thể đợi cho đến khi về nhà được, chẳng cần quan tâm đến việc đang ở trên tàu điện, ngay trước mặt người khác, tôi cứ thế bóc phong bì ra xem. Bên trong chiếc phong bì rơi ra rất nhiều thẻ chơi trò chiếu bóng và những tấm thẻ nhiều màu sắc sản xuất ở nước ngoài của học sinh trường dòng nhìn có vẻ vui tươi. Lẫn số thẻ đó có một tấm là miếng giấy viết thư màu xanh đã được gấp lại, bên dưới hình một đứa trẻ và con chó sói Disney là nội dung bức thư được viết cực kỳ cẩn thận như thể đang luyện viết chính tả.
Em rất cảm ơn anh đã cho em mượn cuốn sách. Em đã đọc nó bằng tất cả hứng thú sâu sắc nhất của mình. Em cầu mong từ tận trái tim để anh trải qua những ngày tháng bình yên khi đối mặt với những trận không kích. Khi ổn định mọi chuyện em biết là anh sẽ gửi thư cho em. Địa chỉ của em là: Tỉnh... huyện... làng... số bưu điện... Em biết việc này thật là phiền phức nhưng anh hãy nhận những thứ trong phong bì này như một món quà cảm ơn của em nhé.
Đây là một bức thư tình nồng thắm sao? Cảm giác lâng lâng khi nãy của tôi bị giội một gáo nước lạnh. Tôi không nhịn được cười dù khuôn mặt đã trở nên tái nhợt. Làm sao viết nổi một bức thư trả lời đây? Thư trả lời cho một tấm thiệp được in ấn hàng loạt ư?
Vậy mà khi về đến nhà, chỉ bốn, năm mươi phút sau, tôi lại muốn viết một lá thư trả lời y như ý định lúc ban đầu, lấy cảm giác lâng lâng khi nãy để bao biện. Phong cách giáo dục của gia đình cô nhất định là không thích hợp để hiểu được cách viết một bức thư tình. Bởi có rất nhiều suy nghĩ hỗn loạn trong đầu nên ngòi bút của thiếu nữ lần đầu tiên viết thư tình cho một chàng trai chắc chắn có đôi chút run rẩy. Để trả lời bức thư chẳng có nội dung gì như thế này thì phải lấy từng hành động của cô mà tôi đã nhìn thấy để tạo ra một câu chuyện mới được.
Đột nhiên, một sự tức giận từ một chiều hướng suy nghĩ khác tóm lấy tôi. Tôi trút sự tức giận ấy vào đống sách luật học, ném chúng vào bức tường trong phòng mình. Tôi trách móc bản thân tại sao lại vô tích sự như thế. Đứng trước cô gái mười chín tuổi ấy, tôi chỉ biết chờ đợi sự si mê từ cô dành cho mình một cách tham lam. Tại sao tôi không nhanh chóng tán tỉnh cô, khiến cô say mê tôi. Sự tức giận ấy nói với tôi rằng, nhà ngươi thừa hiểu nguyên nhân của sự do dự ấy là sự lo lắng mang tính bản chất, một sự bất an dị dạng của chính ngươi. Nếu vậy, bằng mọi giá ngươi nhất định phải đến thăm cô ấy một lần nữa. Khi mười lăm tuổi, ngươi đã có thể sống cuộc sống tương ứng với lứa tuổi ấy. Khi mười bảy tuổi, tạm thời cũng có thể nói là giống như chúng bạn. Nhưng bây giờ, ở tuổi hai mươi mốt, ngươi làm sao vậy? Lời tiên đoán của một người bạn rằng ngươi sẽ chết năm hai mươi tuổi vẫn chưa ứng nghiệm, hy vọng chết trận cũng tạm thời chưa xảy ra. Cuối cùng khi đến tuổi này, cái thứ hy vọng có được tình yêu đầu cùng một cô gái mười chín tuổi chứng tỏ phải chăng ngươi đã tính toán nhầm thời gian trong chính cuộc đời ngươi rồi. Đến tuổi này rồi mà ngươi vẫn chưa từng biết đến mùi vị của một nụ hôn. Ngươi cũng chỉ giống một tên học trò thường bị lưu ban mà thôi.
Và rồi một tiếng nói dai dẳng, tăm tối khác lại cất lên những lời chế giễu tôi. Tiếng nói ấy cực kỳ thành thực, mang theo sự thanh lịch đầy nhân tính mà tôi chẳng hiểu nổi. Giọng nói ấy cứ thế liên tục tấn công tôi... Đó là tình yêu phải không nhỉ? Đó chẳng phải là điều tốt hay sao? Nhưng nhà ngươi cần gì ở phụ nữ? Ngươi lừa đảo bản thân rằng thứ ngươi hy vọng ở Sonoko không phải là những ham muốn tầm thường. Rồi ngươi lợi dụng niềm tin đó để quên đi rằng, ngươi chưa từng bao giờ có bất cứ ham muốn tầm thường nào với phụ nữ. Ngươi cho rằng dần dần rồi ngươi sẽ có tư cách sử dụng từ tầm thường như một tính từ hay sao? Rồi dần dần tự nhiên ngươi sẽ có ham muốn nhìn thấy cơ thể trần truồng của phụ nữ hay sao? Có lần nào ngươi thử tưởng tượng ra cơ thể khỏa thân của Sonoko chưa? Về lý mà nói rõ ràng một người thanh niên ở tuổi này khi nhìn thấy một cô gái trẻ trung thì nhất định sẽ tưởng tượng ra hình ảnh trần truồng của cô ấy, riêng đối với nhà ngươi, có thể dự đoán một cách rất tự tin rằng trong đầu ngươi chẳng có tưởng tượng nào cả. Tại sao lại nói như thế? Hãy tự hỏi chính mình đi. Chẳng thể nào mà chỉnh sửa dù chỉ một tấc cái dự đoán trúng phóc ấy đâu. Đêm qua, trước khi chìm vào giấc ngủ, chẳng phải ngươi đã phó mặc bản thân cho “thói quen” một chút hay sao? Nếu nói rằng việc đó giống như thói quen cầu nguyện thì cũng chẳng sai. Là điều tất cả mọi người phải làm trong nghi thức của một thứ tà giáo ti tiện. Nếu sử dụng thành thạo vật thay thế thì thứ cảm giác dễ chịu nhận được chẳng phải tràn ngập tồi tệ hay sao? Đặc biệt hơn nữa, hiệu quả tức thì của thói quen kia khiến ngươi ngủ ngon hơn bao giờ hết. Vậy mà khi ấy, hình ảnh nổi lên trong suy nghĩ của ngươi đâu phải là Sonoko. Cho dù kẻ hèn này nhìn thấy những việc kỳ dị bao lần rồi cũng không khỏi giật mình vì ngươi. Ban ngày đi bộ trên phố, ngươi chỉ chăm chú liếc nhìn những người lính trẻ măng và lính hải quân. Những thanh niên đang ở độ tuổi ngươi yêu thích, cháy nắng, thông minh biết bao với cái nhoẻn miệng trinh nguyên chưa vướng bụi trần. Đôi mắt ngươi đột nhiên thưởng thức vòm ngực của những người trẻ tuổi ấy. Học xong trường Luật, chắc ngươi có dự định làm thợ may chăng? Những khuôn ngực mềm dẻo giống như con sư tử con của những thanh niên mang cái vẻ vô tri của tuổi hai mươi ấy chính là thứ ngươi yêu thích nhất nhỉ? Nguyên ngày hôm qua, hình ảnh những thanh niên ấy đang trần truồng tràn ngập tâm trí ngươi. Nhà ngươi mang tất cả những hình ảnh đó về bỏ vào bộ sưu tập rất nhiều cơ thể Ephebe [2] trần truồng, chuẩn bị sẵn trong tâm trí những thứ giống như vật mẫu của bộ sưu tầm thực vật. Và rồi từ trong bộ sưu tầm đó chọn ra một vật hiến tế cho nghi thức tà giáo. Chọn ra một người yêu thích nhất. Chà, từ bây giờ trở đi mới thật là những chuyện gây sốc đây. Ngươi đưa vật hiến tế đến bên cạnh một hình trụ lục giác kỳ lạ. Rồi sau đó trói vật hiến tế vào hình trụ, tay bẻ quặt ra đằng sau bằng một sợi dây đã được giấu trước ở đó. Sự chống trả và la hét kịch liệt là rất cần thiết. Từ lúc này trở đi, ngươi phải tạo ra một loại ám thị chân thật về cái chết cho vật hiến tế dần hiểu vấn đề. Cùng lúc ấy, trên môi ngươi nở một nụ cười ngây thơ đến mức kỳ quặc, từ trong túi áo lấy ra một con dao sắc lẻm. Ngươi đến gần vật hiến tế, chọc nhẹ mũi dao vào làn da trên mé sườn đã bị trói chặt rồi vuốt ve nơi đó. Vật hiến tế kêu lên tuyệt vọng, co rút thân thể như muốn tránh xa con dao, trống ngực đập thình thịch vì sợ hãi. Đôi chân trần run lẩy bẩy, đầu gối va vào nhau. Con dao đâm sâu vào nách. Đương nhiên đây chính là tội ác của ngươi. Vật hiến tế uốn cong thân mình như một cây cung, kêu lên bằng tiếng kêu đau đớn và cô độc. Cơ thịt trên vùng bụng bị đâm co giật liên hồi. Con dao vùi mình trong thớ thịt bất ổn ấy bằng bộ dạng tĩnh lặng như thể được tra vào chiếc vỏ của chính nó. Suối máu trào dâng, sủi bọt, chảy về phía phần đùi non trơn láng.
Sự vui sướng của ngươi trong phút chốc ấy trở thành một đặc tính hết sức con người. Tại sao ư? Bởi vì chính trong giây phút ấy, sự bình thường trong quan điểm cá nhân của ngươi là thứ thuộc về ngươi. Cho dù đối tượng là ai đi nữa thì từ sâu thẳm trong cảm xúc xác thịt của ngươi niềm khao khát dục tình cũng lên tiếng, sự thông thường của niềm khao khát ấy không thể nhầm lẫn dù chỉ một chút với khao khát của những người đàn ông khác. Sự ngập tràn của những phiền muộn nguyên thủy khiến trái tim ngươi chấn động. Trong tim ngươi, sự hoan hỉ cuồng loạn của bầy người man dã được hồi sinh. Đôi mắt ngươi tỏa sáng, máu toàn thân bốc cháy, trong ngươi tràn đầy biểu hiện sinh mệnh của man tộc. Sau Ejaclatio [3] , sự ấm áp của thơ ca man dã đã đọng lại tim ngươi. Sự bi ai giống như khi làm tình với đàn bà không tấn công ngươi. Ngươi đang tỏa sáng trong một sự cô độc đầy phóng túng. Ngươi trôi dạt rất lâu trong ký ức của dòng sông vĩ đại, cổ xưa. Phải chăng ký ức cảm động vô ngần mà năng lực sinh tồn của man tộc đã nếm thử ấy, đột nhiên xâm chiếm toàn bộ con người ngươi, chỉ chừa lại khoái cảm và chức năng tính dục? Ngươi còn định để bản thân cuốn vào sự lừa dối này đến bao giờ? Thỉnh thoảng ngươi có thể chạm vào niềm hân hoan sâu sắc như thế trong sự tồn tại rất con người nhưng lại chẳng thể nào thực sự chạm vào linh hồn của tình ái.
Thêm nữa, thế nào nhỉ? Nếu đứng trước mặt Sonoko tuyên bố luận thuyết biến thái của ngươi thì sao? Đó là luận thuyết được viết ra nhanh như chớp về “mối quan hệ hàm số của lượng máu chảy ra và đường cong trên cơ thể bán thân không đầu, không tay của Ephebe”. Cơ thể bán thân không đầu, không tay mà chính tay ngươi đã chọn, trơn láng, mềm dẻo, đầy thỏa mãn. Máu chảy lênh láng trên cơ thể ấy vẽ ra những đường cong kỳ diệu của một Ephebe trẻ trung. Bên trong bể máu đang tuôn trào ấy, Ephebe mang những đường cong giống vân gỗ trên mặt cắt của cây cổ thụ cổ xưa và dòng sông nhỏ ngẫu nhiên chảy xuyên qua cánh đồng, đó là thứ hoa văn diễm lệ nhất trần đời. Điều đó có gì sai không?
Không, điều đó hoàn toàn đúng.
Tuy nói thế nhưng năng lực suy ngẫm của tôi có cấu tạo khó hiểu giống như một vòng tròn tạo thành khi vặn xoắn miếng giấy dài và mảnh rồi dính hai đầu vào nhau. Tưởng là mặt trước nhưng thực ra là mặt sau. Cứ ngỡ là mặt sau nhưng thực ra là mặt trước. Những năm về sau, chu kỳ đó càng lúc càng trì trệ nhưng năm hai mươi mốt tuổi, tôi chỉ quay theo chu kỳ quỹ đạo tình ái trong trạng thái bị che mắt. Nhờ có cảm giác kết thúc đầy bất ổn của thời điểm cuộc chiến sắp kết thúc mà tôi hầu như không hề nhận ra sự tồn tại của vòng quay vội vã ấy. Nguyên nhân hay kết quả, mâu thuẫn hay đối lập, tôi không thể nào có được một chút thảnh thơi để suy nghĩ về chúng. Mâu thuẫn thì vẫn cứ là mâu thuẫn, đang bị bào mòn cực nhanh tới mức độ chẳng ai kịp phát hiện ra.
Trong cả giờ liền, tôi chỉ nghĩ về việc viết lá thư trả lời Sonoko sao cho trau chuốt nhất.
Trong lúc đó, hoa anh đào đã nở. Vậy mà chẳng có ai có thời gian rảnh để đi ngắm hoa. Những người có thể ngắm hoa anh đào ở Tokyo chắc chỉ có sinh viên ở khoa tôi. Trên đường về trường, tôi thường một mình hoặc cùng vài người bạn tản bộ quanh ao S.
Những bông hoa đẹp đến mức kỳ quặc. Tấm màn màu hồng phấn giống như tấm áo của hoa cùng với sự nhộn nhịp của quán trà, những nhóm người tụ tập ngắm hoa, cửa hàng bán bóng bay, người bán chong chóng, dù có tìm mỏi mắt cũng không còn thấy ở bất cứ đâu nên anh đào cứ lặng lẽ nở giữa những cây thường mộc, ngẫm nghĩ về sự trần trụi của chính mình. Sự dâng hiến một cách vô ích của tự nhiên, sự phung phí bản thân vô ích của tự nhiên, chưa bao giờ nhìn thấy tất cả những điều đó đẹp đến mức độ nghi hoặc như mùa xuân năm ấy. Tôi mang trong lòng cảm giác hoài nghi chẳng thích thú gì, rằng phải chăng tự nhiên đã trở lại xâm chiếm mặt đất này. Ngay cả sự rực rỡ của mùa xuân này cũng không phải là sự rực rỡ bình thường. Màu vàng của hoa cải, màu xanh của cỏ non, màu đen tươi tắn của thân cây anh đào, tàn hoa u uất đè nặng lên ngọn cây ấy, tất cả lọt vào mắt tôi là sự tươi tắn của màu sắc như phép ẩn dụ cho một ý nghĩa xấu xa nào đó. Có thể nói đó là một trận hỏa hoạn của màu sắc.
Chúng tôi vừa tranh luận về những lý luận luật pháp chán ngắt vừa đi bộ trên bãi cỏ nằm giữa cái ao và hàng anh đào. Tôi cực kỳ yêu thích tác dụng chọc cười của lớp học Luật Quốc tế do giáo sư Y giảng dạy. Bên dưới làn bom đạn của những trận không kích, vị giáo sư ấy vẫn có thể cực kỳ bình thản thao thao giảng bài về một thế giới đoàn kết. Những lúc như thế tôi cảm thấy thoải mái giống như đang được dạy về cờ vua hoặc cách chơi mạt chược. Hòa bình! Hòa bình! Thứ âm thanh giống như tiếng chuông đang rung lên liên tục từ phía xa xăm nào đó chỉ có tác dụng duy nhất là khiến người khác inh tai nhức óc.
“Đây là vấn đề mang tính tuyệt đối của quyền được thỉnh cầu quyền lợi thực tế,” đó là lời gã bạn học xuất thân nhà quê tên A, dù là một thanh niên to lớn da ngăm nhưng do bị chẩn đoán lao phổi giai đoạn đầu mà không thể nhập ngũ.
“Thật là tầm phào,” lời chặn họng này là của B, một kẻ xanh xao nhìn qua biết ngay bị lao phổi.
“Trên trời thì có máy bay địch, dưới đất thì có pháp luật... mẹ kiếp,” tôi bật cười chế giễu. “Trên trời là vinh quang, dưới đất là hòa bình chăng?”
Chỉ có một kẻ trong đám người này không thực sự bị lao phổi, đó chính là tôi. Tôi giả vờ rằng mình bị bệnh tim. Sống trong thời đại này, huân chương hay là bệnh tật đều là những thứ rất cần thiết.
Đột nhiên, tiếng sột soạt khi người ta giày xéo đám cỏ dưới tán anh đào níu chân chúng tôi lại. Chủ nhân của tiếng sột soạt ấy cũng đang hoảng sợ nhìn về phía chúng tôi. Đó là một thanh niên đi guốc mộc, mặc một bộ đồ lao động với những vết lấm bẩn nhàn nhạt. Từ màu tóc cắt năm phân thấp thoáng phía trong chiếc mũ nhà binh mà anh ta đang đội có thể đoán ra anh ta còn trẻ. Cái cần cổ dơ bẩn, tay chân đầy dầu mỡ, cái cằm có vài sợi râu lưa thưa và sắc mặt vàng ệch phô ra một sự khổ sở đầy buồn bã chẳng hề phù hợp với lứa tuổi của anh ta. Đứng chếch phía sau anh ta là một cô gái đang cúi đầu với vẻ dỗi hờn. Cô gái buộc tóc đuôi gà, mặc một chiếc áo sơ mi kaki và chiếc quần cộc có họa tiết mới tinh, tươi tắn kỳ lạ. Một cuộc hẹn hò lén lút của hai người làm cùng nơi trưng dụng đây mà. Chắc là trốn việc ở công xưởng một ngày để hẹn nhau đi ngắm hoa. Họ hoảng hốt khi nhìn thấy chúng tôi có lẽ do tưởng chúng tôi là hiến binh.
Đôi tình nhân liếc nhìn chúng tôi bằng ánh mắt e dè căm ghét rồi cứ thế đi thẳng. Từ lúc ấy chẳng ai trong số chúng tôi mở miệng nói năng thêm lời nào nữa.
Trong lúc hoa đào vẫn chưa nở bung hết, khoa Luật lại tạm dừng các lớp học, sinh viên bị tổng động viên đến công xưởng hải quân tại một số làng thuộc vịnh S. Cũng vào lúc ấy, mẹ và hai em tôi sơ tán đến nhà người bác đang sở hữu một nông trại nhỏ ở ngoại ô. Trong căn nhà Tokyo chỉ còn lại một người giúp việc đang học trung học có vẻ ngoài già trước tuổi, cậu ta cũng trở thành mối bận tâm lớn của bố tôi. Những ngày không có gạo, cậu ta cho đậu tương đã luộc vào trong cối giã, chế biến ra một thứ cháo nhìn giống như một bãi nôn rồi mang cho bố tôi ăn, chính bản thân cậu ta cũng ăn. Cậu ta cũng thường giấu một ít đồ ăn đi, nhân lúc bố tôi không có nhà sẽ lén lút ăn vụng.
Cuộc sống ở công xưởng hải quân khá vô lo vô nghĩ. Tôi được phân việc đào hầm và trông coi thư viện. Để sơ tán máy móc trong công xưởng khi bị ném bom, tôi phải cùng những công nhân trẻ con người Đài Loan đào mấy chiếc hầm lớn. Những thằng quỷ nhỏ mười hai, mười ba tuổi ấy chính là một kiểu bạn bè độc nhất vô nhị của tôi. Bọn chúng dạy tôi tiếng Đài Loan, tôi lại kể chuyện cho chúng nghe. Chúng chắc chắn rằng thần thánh của người Đài Loan che chở tính mạng chúng dưới làn bom đạn của những trận không kích, đến lúc nào đó sẽ chỉ đường dẫn lối cho chúng bình yên trở về cố quốc. Sức ăn của chúng đạt đến ranh giới của sự phi nhân tính. Một đứa ranh mãnh đánh lạc hướng người đến phiên nấu nướng, ăn trộm rau và gạo chạy đi sau đó đổ vào đó rất nhiều dầu máy, tạo thành món cơm rang. Chúng có mời tôi ăn món có mùi vị giống như bánh răng trong động cơ xe ô tô nhưng tôi từ chối sự khoản đãi này.
Trong vòng chưa đầy một tháng, việc trao đổi thư với Sonoko dần dần trở nên ít nhiều có ý nghĩa đặc biệt đối với tôi. Trong thư, tôi dùng những lời lẽ táo tợn chẳng chút gò bó nào. Buổi sáng hôm ấy, khi tiếng báo động không kích ngừng hẳn, tôi quay trở về công xưởng thì thấy thư của Sonoko đã đặt sẵn trên bàn. Đọc lá thư, tay tôi run lên, cảm giác như bị trúng độc nhẹ, miệng lẩm bẩm bao nhiêu lần từng câu từng chữ trong lá thư.
... Em nhớ anh...
Việc không thật sự đứng trước mặt cô đã khích lệ tôi. Khoảng cách xa vời giữa cô và tôi cấp cho tôi tấm bằng của “sự bình thường”. Nói cách khác “sự bình thường” đã tuyển dụng tôi làm lao động tạm thời cho nó. Sự tồn tại của con người được trừu tượng hóa rồi phô bày ra trong khoảng giữa của không gian và thời gian. Cảm giác càng lúc càng toàn tâm toàn ý hướng về Sonoko và thứ dục tình không nằm trong quy chuẩn thông thường chẳng chút liên quan đến cảm giác yêu đương kia, hợp nhất vào bên trong con người tôi với cùng một vị thế, trong từng khoảnh khắc định hình sự tồn tại không chút mâu thuẫn của một thứ mang tên là “Tôi”. Tôi hoàn toàn tự do tự tại. Cuộc sống hằng ngày của tôi trôi qua trong niềm vui chẳng bút nào tả xiết. Có tin đồn rằng, máy bay địch sẽ đáp xuống vịnh S, toàn bộ vùng quanh đây sẽ bị chiếm đóng, ước muốn được chết lại một lần nữa sôi sục trong tôi hệt như trước đây. Trong trạng thái ấy, tôi chính xác đã “mang một kỳ vọng rất con người”.
Hôm ấy là một ngày Chủ nhật nửa cuối tháng Tư, lâu lắm rồi tôi mới được phép ra ngoài nên đã trở về nhà ở Tokyo. Tôi dự định sẽ lấy một ít sách từ tủ sách cá nhân của mình sau đó đi bộ ra ngoại ô đến chỗ mẹ và các em tôi rồi ở lại đó một thời gian. Thế mà trên đường về gặp báo động không kích, đúng lúc lịch tàu điện hỗn loạn khi chạy khi dừng, tôi lên cơn sốt rét. Cơn mệt mỏi nóng giãy bao trùm cơ thể tôi, làm tôi choáng váng. Tình trạng viêm amidan này là chứng bệnh mãn tính của tôi nên tôi có thể đoán ngay ra nó. Lúc về đến nhà, tôi được người giúp việc đỡ nằm xuống nệm rồi ngủ thiếp đi.
Rất lâu sau đó, một giọng phụ nữ huyên náo ở tầng dưới, ong ong trong cái trán đang hầm hập sốt của tôi. Cảm thấy âm thanh ấy leo lên cầu thang bằng từng bước chân rất nhỏ. Tôi lờ đờ mở hé mắt ra liền nhìn thấy vạt của một chiếc kimono với hoa văn kẻ sọc lớn.
“Sao vậy? Tệ quá nhỉ?”
“Gì thế? Không phải Chako sao?”
“Cái gì mà ‘gì thế’. Năm năm rồi mới gặp nhau thế mà thái độ lạnh nhạt vậy sao?”
Cô là một người họ hàng xa của tôi. Thật ra tên cô là Chieko nhưng người trong nhà chúng tôi đều gọi là Chako. Cô lớn hơn tôi năm tuổi. Lần gặp nhau gần nhất của chúng tôi chính là hôn lễ của cô. Từ năm ngoái, sau khi người chồng tử trận, có lời đồn rằng tính cách cô thay đổi kỳ quặc, trở nên hồ hởi một cách bất thường. Là sự hồ hởi khi không muốn bày tỏ ra ngoài rằng trái tim mình đau đớn đến nhường nào. Tôi im lặng đến ngây ngốc rồi nghĩ rằng có lẽ nên vứt mấy bông hoa giả lớn màu trắng đang dính trên tóc đi thì trông cô sẽ ổn hơn.
“Hôm nay chị đến vì có việc cần nói với chú Tatsuo”, Tatsuo chính là tên bố tôi. “Muốn nhờ chú ấy chuyện hành lý lúc sơ tán ấy mà, bố chị nói nếu gặp chú Tatsuo thì nhờ chú ấy giới thiệu cho chỗ gửi hành lý đáng tin cậy một chút.”
“Đúng hôm bố em sẽ về muộn, làm sao bây giờ nhỉ,” tôi đột nhiên lo lắng vì đôi môi tô son quá đỏ của cô. Có lẽ do cơn sốt, màu đỏ ấy khoan vào mắt tôi, làm đầu tôi đau như búa bổ. “Nhưng mà, như thế thì... chị trang điểm như thế này, đi bộ ra ngoài không bị người ta nói gì sao?”
“Tuổi em mà cũng cần quan tâm đến việc trang điểm của phụ nữ sao? Cứ thế mà đi ngủ thể nào cũng bị nhìn ra bộ dạng đang cai sữa đấy.”
“Chị ồn ào thế, tránh xa em ra đi.”
Cô cố tình sáp lại gần tôi hơn. Ghét bị người khác nhìn thấy mình trong bộ đồ ngủ nên tôi kéo chăn lên đến tận cổ. Đột nhiên bàn tay cô sờ lên trán tôi. Cảm giác lạnh giá như một cú chích ấy, tình cờ lại rất đúng lúc, khiến tôi xúc động.
“Sốt rồi. Đã đo nhiệt độ chưa?”
“Vừa đúng ba mươi chín độ.”
“Em chườm đá đi.”
“Làm gì có nước đá chứ.”
“Thế chị có mặt ở đây làm gì nào?”
Chieko vẩy hai tay áo vào nhau rồi vui vẻ đi xuống tầng dưới. Một lúc sau cô trở lại, tĩnh lặng ngồi xuống.
“Cậu bé kia đi lấy nước đá cho em rồi.”
“Cảm ơn chị.”
Tôi nhìn lên trần nhà. Khi cô vươn người lấy cuốn sách ở cạnh gối của tôi, tay áo bằng tơ lụa mát lạnh cọ vào má tôi. Ngay lập tức, tôi thèm muốn cái tay áo mát rượi kia, phải kiềm chế ý định nhờ cô đặt cái tay áo đó lên trán mình. Ánh sáng mặt trời trong căn phòng dần tắt.
“Sao nó chậm chạp thế nhỉ?”
Đối với một người bệnh đang sốt cao thì cảm giác về thời gian cũng được xác nhận một cách khá bệnh tật. Chieko nhấn mạnh lời tôi, “chậm chạp nhỉ”. Có lẽ cô nghĩ đối với tôi thời gian trôi nhanh hơn mức thông thường. Hai, ba phút trôi qua cô lại nói: “Lâu thế, nó làm cái gì ở dưới đó vậy nhỉ?”
Tôi nổi nóng hét lên: “Chị đừng kêu ca nó chậm chạp nữa được không?”
“Nhìn em chờ đợi tội nghiệp thế. Thả lỏng chút đi. Đừng nhìn chằm chằm lên trần nhà bằng đôi mắt đáng sợ như thế chứ.”
Tôi nhắm mắt lại, khổ sở vì đôi mí mắt nóng bỏng của mình. Đột nhiên cảm thấy có cái gì đó chạm vào trán mình, kèm theo một hơi thở thoáng qua, như có như không. Tôi xoa trán rồi bất giác thở dài. Không ngờ sau đó hơi thở kia trở nên hỗn loạn, nóng giãy, đột nhiên môi tôi bị một thứ nằng nặng, bóng dầu khóa chặt. Răng chạm vào nhau phát ra âm thanh. Tôi mở mắt ra kinh hãi nhìn. Trong lúc ấy, bàn tay lành lạnh đã bóp chặt má tôi.
Cuối cùng Chieko nhấc người lên, tôi cũng nhổm nửa người dậy. Trong bóng hoàng hôn nhàn nhạt chúng tôi gườm gườm nhìn nhau.
Chị em của Chieko đều là những người phụ nữ phóng đãng. Rõ ràng là dòng máu ấy cũng đang hừng hực chảy trong người cô. Ấy thế mà, một cách kỳ diệu, dòng máu dâm dật kia cùng với bệnh sốt rét của tôi lại kề vai sát cánh bên nhau theo kiểu khó mà giải thích nổi. Tôi nhổm hẳn người dậy nói, “Thêm lần nữa”. Cho đến lúc tên giúp việc mang nước đến, chúng tôi đã hôn nhau không biết bao nhiêu lần. Còn cô thì liên tục lẩm bẩm, “chỉ được hôn thôi đấy, chỉ được hôn thôi đấy”.
Tôi hoàn toàn không hiểu trong những nụ hôn kia có chút cảm giác dục tình nào không. Cái thứ kinh nghiệm lần đầu ấy nếu được quy kết là một kiểu cảm giác thể xác thì cũng chẳng khiến ai giật mình nên trong tình cảnh của chúng tôi bây giờ, sự phân biệt rõ ràng hơn cũng chỉ là việc làm vô ích. Từ trong cơn đê mê của mình, cho dù thử lấy ra một thứ ý thức để xây dựng thành quan niệm cá nhân thì cũng chẳng đem lại ích lợi gì. Điều quan trọng là tôi đã trở thành một “gã đàn ông biết hôn”. Giống hệt một cậu bé khi nhìn thấy thứ bánh kẹo ngon lạ lùng liền bật ra suy nghĩ “muốn đem về cho em gái mình quá”, tôi vừa ôm ấp Chieko trong lòng mình vừa tơ tưởng về Sonoko với thái độ thật sự nghiêm túc. Cuối cùng, tôi tập trung toàn bộ suy nghĩ để tưởng tượng rằng mình đang hôn Sonoko. Đó là toan tính nhầm lẫn tai hại mà lần đầu tôi phạm phải.
Dù sao đi nữa, nghĩ đến Sonoko khiến trải nghiệm về nụ hôn đầu của tôi trở nên thật xấu xí. Hôm sau Chieko gọi điện đến, tôi liền nói dối rằng ngày mai sẽ trở về công xưởng ở vịnh S. Thực ra tôi chẳng có ý định thực hiện một lời hẹn hò ám muội nào với cô. Và sự thực là sự lạnh lùng gượng ép trong lòng tôi về nụ hôn đầu bắt nguồn từ việc tôi chẳng có chút thích thú nào. Sự thực ấy bị tôi phớt lờ đi, bắt bản thân phải nghĩ rằng chính vì yêu Sonoko mà nụ hôn với người khác mới trở nên xấu xí như vậy. Đây cũng là lần đầu tiên tôi lấy tình yêu dành cho Sonoko ra để phân trần cho mình.
Giống như tình yêu đầu của những kẻ dại khờ khác, tôi và Sonoko cũng trao đổi ảnh cho nhau. Trong thư, cô nói rằng đã lồng ảnh của tôi vào một mặt dây chuyền rồi đeo trước ngực. Còn tôi chỉ có thể để tấm ảnh quá lớn Sonoko gửi đến vào một kẹp tài liệu. Chẳng thể cho chiếc kẹp vào túi được nên tôi bọc lại bằng một miếng vải rồi mang theo. Nghĩ rằng công xưởng có thể bị cháy bất cứ lúc nào nên mỗi khi về nhà tôi đều mang theo cái bọc đó. Một lần khi trở lại công xưởng trên chuyến tàu đêm thì đột nhiên gặp báo động, đèn đóm tắt ngúm. Sau cùng, tất cả mọi người phải sơ tán khỏi tàu. Trong lúc tôi dùng tay mò mẫm tìm giá để hành lý thì cái bọc bị người ta lấy mất. Tôi là kẻ tin vào vận mệnh. Từ ngày hôm đó, tôi luôn lo sợ rằng sẽ sớm phải đối mặt với vận mệnh của mình.
Trận không kích đêm 24 tháng Năm cũng lựa chọn tôi giống như cái cách mà trận không kích lúc nửa đêm hôm mùng 9 tháng Ba đã lựa chọn. E rằng ở giữa tôi và Sonoko cần phải có một thứ giống như chướng khí phóng ra từ trăm ngàn bất hạnh. Thứ đó là giống như phản ứng hóa học cần axit sunfuric làm dung môi vậy.
Tôi cùng Hirano trốn vào một trong số rất nhiều hầm trú ẩn đã đào bên mé ngọn đồi, nhìn về khoảng trời Tokyo đang đỏ rực. Thỉnh thoảng hình ảnh lóe lên của một vụ nổ bị ném vào khoảng không gian ấy. Khi ấy, ở giữa những đám mây lộ ra bầu trời giống như lúc ban trưa, xanh đến mức kỳ dị. Lúc nửa đêm mà lại xuất hiện một bầu trời xanh đến thế. Trong ánh sáng yếu ớt của cái thứ thường được người ta gọi là đèn pha nghênh địch, ánh sáng le lói của những đôi cánh máy bay địch được giữ lại giữa những hình chữ thập, tạo thành bởi những luồng sáng nhàn nhạt. Rồi sau đó ánh sáng ấy trao lại cây gậy chỉ huy bản giao hưởng này cho một luồng sáng đèn pha khác gần Tokyo hơn, hoàn thành nghĩa vụ của mình bằng thái độ vô cùng ân cần, lịch sự. Thỉnh thoảng lại thấy những quả pháo rải rác được bắn lên từ súng phòng không. Chiến đấu cơ tối tân B29 cứ thế xâm nhập bầu trời Tokyo.
Từ giây phút đó chẳng thể nào phân biệt rõ ràng đâu là phía ta đâu là phía địch trong trận chiến diễn ra trên khắp vùng trời Tokyo nữa. Chẳng quan tâm đến điều đó, cứ mỗi khi thấy bóng máy bay bị bắn hạ trên phông nền đỏ rực ấy là quần chúng đang quan sát trận chiến lại đồng loạt ồ lên vui sướng. Gây tiếng ồn lớn nhất chính là mấy đứa trẻ công nhân người Đài Loan. Từ trong hầm của chúng vang ra tiếng cổ vũ và tiếng vỗ tay giống hệt trong kịch trường. Nhìn từ khoảng cách xa như thế, cho dù cái máy bay mới rơi ấy là của ta hay của địch thì về bản chất sự việc cũng không có gì thay đổi cả. Chiến tranh vốn là như thế.
Sáng hôm sau, tôi giẫm lên thanh tà vẹt vẫn đang âm ỉ cháy trên đường ray, rồi phải chuyển đi tấm ván mỏng đã cháy gần hết mới đi qua được chiếc cầu bằng sắt, sau đó đi bộ nửa đoạn đường ngang qua những tuyến đường sắt tư nhân đã ngừng hoạt động mới về được nhà mình. Về đến nơi, tôi phát hiện ra chỉ riêng vùng quanh nhà tôi là còn nguyên vẹn, không bị thiệt hại nhiều. Ngẫu nhiên mẹ và hai em tôi cũng đang ở nhà nên tránh được tai họa. Để ăn mừng vì tất cả đều bình yên vô sự, mọi người liền đào hết những lon Yokan đã chôn dưới đất lên rồi cùng liên hoan.
“Anh đang thích ai phải không?” Cô em gái tinh nghịch mười bảy tuổi của tôi bước vào phòng tôi rồi nói như vậy.
“Ai nói với em như thế?”
“Em biết chắc chắn đấy.”
“Em không thích như thế à?”
“Không phải. Em chỉ muốn hỏi bao giờ anh làm đám cưới thôi?”
Tôi chợt giật mình. Cảm thấy như bị một người vốn chẳng biết chuyện gì bắt phải khai ra tình tiết của một tội ác tình cờ phạm phải.
“Không cưới xin gì đâu.”
“Đúng là chẳng ra gì. Ngay từ đầu không định cưới mà lại đi thích người ta à? Ghét thật đấy, đàn ông chính là những kẻ xấu xa.”
“Em không chạy ngay đi là anh ném lọ mực bây giờ.” Khi chỉ còn một mình, tôi lẩm bẩm trong mồm như sau:
Ừ nhỉ, kết hôn chẳng phải là việc quá bình thường trên thế giới này sao? Từ hôn nhân thì những đứa trẻ sẽ được sinh ra. Tại sao tôi lại quên mất điều đó nhỉ. Hoặc là tôi đã giả vờ quên chăng? Nhờ có sự khốc liệt từng ngày của chiến tranh mà thứ hạnh phúc tầm thường mang tên hôn nhân chỉ là ảo tưởng không bình thường. Một cuộc hôn nhân thật sự có lẽ là niềm hạnh phúc trọng đại vô cùng đối với tôi. Trọng đại đến mức làm tôi nổi da gà.
Dù suy nghĩ như thế nhưng cũng chính suy nghĩ này xúi giục tôi lao vào một quyết tâm đầy mâu thuẫn rằng dù là hôm nay hay ngày mai, tôi cũng nhất định phải gặp Sonoko. Đó là tình yêu phải không nhỉ? Không biết chừng đó là thời điểm một kiểu lo lắng trú ngụ bên trong ta, được ta biểu hiện ra ngoài bằng hình dáng kỳ dị của cảm xúc mãnh liệt. Đó chẳng phải là thứ giống hệt như “khao khát hiểu đến tận cùng sự lo lắng của mình” hay sao?
Đã mấy lần tôi nhận được thư mời đến chơi từ Sonoko, bà và mẹ của cô. Khi đến đó chơi, nếu ở lại nhà bác cô thì thật áy náy nên tôi viết thư cho Sonoko nhờ cô tìm giúp khách sạn. Vì lời nhờ vả ấy mà cô đã cẩn thận tìm hiểu từng khách sạn một ở quanh làng N. Vậy mà đâu đâu cũng bị chính phủ trưng dụng làm nơi giam lỏng người Đức nên chẳng có chỗ nào phù hợp với tôi.
Khách sạn. Tôi đã tưởng tượng về nó. Khách sạn chính là hiện thực của những tưởng tượng trong tôi từ thời niên thiếu. Đó cũng là ảnh hưởng xấu của những tiểu thuyết tình ái mà tôi từng vùi đầu đọc đến mê muội. Vậy thì cách mà những câu chuyện tôi được dựng lên cũng tồn tại một chút hơi hướm Don Quixote. Người say mê những câu chuyện về các hiệp sĩ, đa số sống trong cùng một thời đại với Don Quixote. Nhưng chỉ một mình Don Quixote bị những câu chuyện về các hiệp sĩ đầu độc triệt để. Trường hợp của tôi tương tự như vậy.
Khách sạn. Căn phòng bí mật. Cửa đóng then cài. Rèm cửa sổ. Sự kháng cự nhẹ nhàng. Sự ăn ý từ đầu đến cuối trong một trận chiến... Chính là thời điểm đó, chính là thời điểm đó, thời điểm mà tôi chắc chắn “có thể”. Sự bình thường của tôi chắc chắn sẽ cháy bùng lên. Trong nỗi ám ảnh hoàn toàn, tôi chắc chắn sẽ tái sinh thành một người đàn ông khác, đĩnh đạc và đường hoàng. Chính vào lúc đó, tôi sẽ ôm Sonoko vào lòng mà không hề ngượng nghịu, tôi chắc chắn sẽ yêu cô bằng tất cả trái tim mình. Khi mọi lo lắng, hoài nghi bị lau sạch trong từng ngóc ngách tâm hồn, tôi chắc chắn sẽ chân thành nói với cô: Anh yêu em. Từ sau đó, trên những con phố, ngay bên dưới những trận không kích, tôi chắc chắn có thể vừa đi bộ vừa gào lên rằng: Cô ấy là người yêu của tôi.
Đối với người có tính cách tự do và lãng mạn thì xu hướng không tin tưởng vào tác động của tinh thần sẽ càng lúc càng mạnh. Điều đó dẫn dụ họ đến với hành vi trái lẽ thường khi thường xuyên chìm vào hoang tưởng. Hoang tưởng không phải là một tác động của tinh thần mà ngược lại nó từ trong tinh thần đào thoát ra ngoài.
Giấc mơ khách sạn ngay từ đầu đã không thể thực hiện. Trong thư, Sonoko nhắc đi nhắc lại rằng tất cả khách sạn làng N đều không phù hợp nên mong tôi hãy ở lại nhà của bác cô. Tôi gửi thư trả lời rằng đã hiểu. Một cảm giác an toàn gần giống như mệt mỏi tóm lấy tôi. Nếu tôi từ bỏ cảm giác an toàn này thì chẳng có cách nào mà giải thích xuyên tạc sự thật thêm được nữa.
Ngày 12 tháng Sáu tôi xuất phát. Ở công xưởng hải quân, mọi người dần dần có thái độ bất cần. Để được nghỉ thì lý do nhảm nhí nào cũng bịa đặt ra được.
Con tàu nhếch nhác và trống không. Không hiểu sao nỗi nhớ về những con tàu thời chiến trong tôi (trừ những lúc vui vẻ ra thì) toàn là những hình ảnh buồn thảm như vậy nhỉ. Khi tôi bị suy nghĩ cố chấp đáng thương có vẻ trẻ con của mình giày vò thì con tàu lại lay nhẹ cơ thể tôi bằng nhịp lướt đi của nó. Suy nghĩ đó chính là, chừng nào chưa hôn Sonoko thì nhất định tôi sẽ không rời làng N. Cho dù như thế đi nữa suy nghĩ ấy cũng khác hoàn toàn với quyết tâm đầy kiêu hãnh khi con người chiến đấu chống lại nội tâm bị dục vọng của chính mình lôi kéo. Tôi cảm thấy mình giống như tên trộm đang trên đường đi thực hiện một phi vụ lớn. Cảm thấy mình như tên tay chân hèn nhát bị đại ca bắt ép đi ăn trộm. Cái thứ hạnh phúc mang tên “được yêu” như mũi kiếm đâm vào lương tâm của tôi. Thứ tôi mong đợi có lẽ là một thứ bất hạnh mang tính mấu chốt hơn nữa.
Sonoko giới thiệu tôi với bác của cô, rằng tôi là con nhà gia giáo, tôi là người chăm chỉ. Mọi người trầm mặc lắng nghe nhưng có lẽ họ đang trao đổi với nhau bằng suy nghĩ Tại sao Sonoko lại thích một tên đàn ông như thế nhỉ. Một gã sinh viên xanh xao như thế thì có chỗ nào đáng để thích nhỉ? Với suy nghĩ rất nghiêm túc rằng mình đang bị những người trước mặt phán xét, tôi không hành động theo ý mình như khi ngồi cùng hàng ghế với cô trong chuyến tàu dạo trước. Vừa gật gù tán thưởng câu chuyện về những ngày còn ở Berlin của người bà, vừa giúp các em gái cô học tiếng Anh. Kỳ quặc thay, làm những việc như thế tôi lại thấy gần gũi với Sonoko hơn. Ở trước mặt mẹ và bà của cô, không biết bao nhiêu lần tôi cả gan liếc mắt đưa tình với cô. Lúc ăn cơm, hai chúng tôi còn cọ chân vào nhau dưới gầm bàn. Dần dần cô cũng mê mẩn những trò ấy. Trong lúc đã quá chán những câu chuyện dài lê thê của bà cô, tôi tựa người vào cửa sổ có những chiếc lá non bên dưới bóng mây báo hiệu một cơn mưa rào, từ phía sau lưng bà mình, cô cầm mặt dây chuyền trước ngực lên vung vẩy như muốn ra hiệu cho tôi nhìn vào đó. Khuôn ngực trắng ngần của cô trở nên rõ ràng hơn trên chiếc cổ áo hình bán nguyệt. Trắng đến mức khiến tôi tỉnh mộng. Như thể có “dòng máu phóng đãng” nào đó làm ửng đỏ đôi má Juliet của cô khi cô cười. Kiểu phóng đãng ấy chỉ phù hợp với một xử nữ. Không giống như sự phóng đãng của một phụ nữ thành thục, nụ cười của cô khiến người ta say giống như một cơn gió thoảng. Sự phóng đãng trinh nguyên của cô là một kiểu sở thích tầm thường. Giống như sở thích cù nách một đứa trẻ để làm nó cười rộ lên.
Đột nhiên trong một khoảnh khắc, tôi say sưa trong hạnh phúc. Đã lâu lắm rồi, tôi mới đến được thật gần thứ trái cấm mang tên hạnh phúc. Hạnh phúc ấy dụ dỗ tôi bằng sự cố chấp đầy buồn bã. Tôi cảm thấy Sonoko giống như một vực sâu.
Chỉ còn hai ngày nữa là tôi phải trở về công xưởng hải quân. Nhiệm vụ phải hôn Sonoko mà tôi đặt ra trước chuyến đi vẫn chưa thực hiện được. Những cơn mưa nhạt nhòa của mùa mưa đang bao trùm lấy toàn bộ vùng cao nguyên này. Tôi mượn một cái xe đạp rồi đi đến bưu điện gửi thư. Hiện giờ cô đang bị trưng dụng đến làm việc tại một văn phòng của chính quyền, chúng tôi hẹn là sẽ gặp nhau tại bưu điện khi cô trốn ca làm buổi chiều. Bên kia tấm lưới thép han gỉ ướt nhẹp dưới cơn mưa rào là sân tennis buồn bã không một bóng người. Một cậu bé người Đức đạp xe vượt lên trước xe tôi. Cánh tay trắng và mái tóc vàng ướt mưa, tỏa sáng rạng rỡ của cậu lướt qua sát bên cạnh tôi.
Trong khi tôi chờ đợi rất lâu bên trong tòa nhà bưu điện được xây dựng theo kiểu cổ thì bên ngoài bầu trời đã dần sáng sủa trở lại. Mưa cũng đã tạnh. Một khoảnh khắc tạnh ráo tạm thời, như thể khoảnh khắc mà bầu trời giả vờ quang đãng. Những đám mây không tản đi mà chỉ im lìm rực sáng lên một màu bạch kim.
Chiếc xe đạp của Sonoko dừng lại bên ngoài khung cửa kính của bưu điện. Vai cô ướt nhẹp, hơi thở gấp làm bầu ngực nhấp nhô nhưng nụ cười vẫn tươi tắn trên đôi má ửng hồng. Chính là bây giờ, hành động thôi . Tôi cảm thấy mình như con chó săn bị kích động. Quan niệm nghĩa vụ này giống như một mệnh lệnh tà ác. Nhảy lên xe, tôi sóng đôi với Sonoko đạp xe ra khỏi trục đường chính của làng N. Chúng tôi đi xuyên qua rừng phong và linh sam. Trên từng thân cây rơi xuống trăm ngàn giọt nước long lanh. Mái tóc của cô tung bay trong gió trở nên tuyệt đẹp. Cặp đùi khỏe mạnh đạp chiếc pê đan quay vòng nhịp nhàng. Cô như thể là hiện thân của sự sống. Chúng tôi đi vào sâu bên trong một sân golf bỏ hoang, rồi dắt xe đi bộ trên một con ngõ nhỏ ẩm ướt nằm ven sân golf ấy.
Tôi nóng lòng như một anh lính trẻ. Ở đằng kia có một lùm cây. Cái bóng của nó thật là một nơi thích hợp. Khoảng cách từ chỗ chúng tôi đến chỗ đó là khoảng năm mươi bước chân. Khi đi được hai mươi bước thì tôi chủ động bắt chuyện với Sonoko. Cần phải thoát khỏi sự căng thẳng này mới được. Từ bước thứ ba mươi trở đi, nên nói một câu chuyện tầm phào nào đó. Thực sự đến bước thứ năm mươi rồi. Chúng tôi dựng xe đạp ở đây, sau đó cùng nhau ngắm nhìn phong cảnh bên phía rặng núi. Rồi tôi đặt tay lên vai cô. Bằng âm điệu rất thấp, cô nói, “Có thể cùng anh như thế này, thật giống như mơ vậy.” Đó là cách cô trả lời tôi một cách chân tình nhất. Tôi ấn mạnh hơn lên vai cô, kéo cơ thể cô về phía mình. Đại khái thì nụ hôn này cũng không khác gì nụ hôn với Chieko.
Tôi đã thề trung thành với vai diễn này. Không phải là tình yêu cũng chẳng phải là ham muốn.
Sonoko vùi đầu vào ngực tôi. Hơi thở rộn ràng. Khuôn mặt đỏ lựng như có lửa bên trong. Đôi hàng mi tĩnh lặng khép lại. Đôi môi bé bỏng đẹp tuyệt vời nhưng chẳng hề khiến ham muốn của tôi bùng cháy. Thế mà tôi đang gửi gắm hy vọng vào từng khoảnh khắc. Sự bình thường của tôi bên trong một nụ hôn có lẽ sẽ làm cho tình yêu chẳng chút giả dối nào của tôi xuất hiện chăng? Guồng máy vận hành rồi thì sẽ không bao giờ dừng lại nữa.
Tôi bao phủ môi cô bằng môi của mình. Một giây trôi qua. Chẳng có chút khoái cảm nào đến. Hai giây trôi qua. Vẫn y hệt như thế. Ba giây trôi qua... Tôi đã hiểu hết rồi.
Tôi buông Sonoko ra rồi trong khoảnh khắc nhìn cô bằng ánh mắt buồn bã. Phút chốc cô cũng nhìn vào mắt tôi. Chắc chắn cô cho rằng ánh mắt tôi đang biểu thị một tình yêu không thể nói bằng lời. Không ai có thể khẳng định được thứ tình yêu như thế có tồn tại trong trái tim con người hay không. Nhưng cô bị cảm giác thỏa mãn trong trắng và ngượng nghịu đánh gục, cúi mặt e thẹn như một con búp bê.
Tôi cứ im lặng mãi rồi nắm lấy tay cô giống như một bác sĩ đang tập trung tìm cách chữa trị cho bệnh nhân của mình. Hai chúng tôi cũng đi bộ về chỗ hai chiếc xe đạp.
Phải chạy trốn thôi. Dù chỉ sớm hơn một giây cũng nhất định phải nhanh chóng chạy trốn đi. Tôi thực sự sốt ruột. Để che giấu vẻ mặt thất vọng, tôi tỏ ra vui vẻ hơn mức bình thường. Lúc ăn tối, bộ dạng hạnh phúc của tôi trùng hợp quá rõ ràng với sự lơ đãng của Sonoko. Điều ấy vừa hay đập vào mắt mọi người nên cuối cùng vẻ giả vờ của tôi lại khiến tôi trở nên bất lợi.
Nhìn Sonoko tươi tắn hơn bao giờ hết. Trong hình bóng của cô vốn dĩ luôn ẩn chứa một câu chuyện. Đó là hình bóng đẹp đẽ của một thiếu nữ đang yêu bước ra từ trong truyện. Nếu nhìn thẳng vào trái tim một thiếu nữ nghiêm túc như cô thì cho dù tôi cố giả vờ vui vẻ đến thế nào đi nữa, với một kẻ chẳng có tư cách ôm cô vào lòng như tôi, mọi chuyện đang hiển hiện trước mắt đó dần dần trở nên nguội lạnh. Bởi thế mà mẹ cô buột miệng hỏi han tình hình sức khỏe của tôi. Sonoko phán xử mọi việc bằng một kết luận vội vàng có phần dễ thương. Để trấn an tôi, cô lại vung vẩy chiếc mặt dây chuyền như muốn nói với tôi rằng, đừng lo . Chẳng nghĩ quá nhiều, tôi nở một nụ cười.
Người lớn trong nhà nhìn thấy chúng tôi trao nhau nụ cười bạo dạn ấy liền trưng ra những khuôn mặt nửa phần ngây ngốc nửa phần khó chịu. Những người lớn đang nhìn vào tương lai của chúng tôi rồi suy nghĩ một điều gì đó. Một lần nữa tôi lại hoảng sợ.
Ngày hôm sau, chúng tôi lại đi đến sân golf đó, phát hiện ra bụi cúc dại với rất nhiều hoa vàng đã bị giẫm nát, là dấu vết lưu niệm mà chúng tôi để lại từ hôm qua. Hôm nay cả bụi hoa đều đã chết khô.
Thói quen chính là một kiểu sợ hãi. Rồi tôi lại hôn cô, nụ hôn làm khổ tôi hệt như nụ hôn hôm trước. Lần này còn tệ hơn, giống hệt như đang hôn em gái mình. Bởi vậy mà nụ hôn này còn mang đến mùi vị vô đạo đức.
“Lần tới mình có gặp nhau nữa không? Lúc nào hả anh?” Cô hỏi.
“Nếu quân Mỹ không đổ bộ xuống chỗ anh thì mình lại gặp nhau,” tôi trả lời. “Cũng phải một tháng nữa anh mới lại xin nghỉ được.”
Tôi hy vọng. Không những hy vọng mà còn dựa vào những tin tưởng mù quáng để khẳng định hy vọng ấy. Hy vọng rằng trong vòng một tháng nữa, quân Mỹ đổ bộ xuống vịnh S, tất cả đội quân sinh viên chúng tôi sẽ bị dồn đuổi rồi bị bắn chết sạch không còn một ai. Nếu không thì một quả bom khổng lồ đến mức không ai có thể tưởng tượng nổi sẽ giết chết tôi ở một nơi nào đó. Liệu đó có phải là lời tiên tri của tôi về vụ nổ bom nguyên tử mà chẳng bao lâu nữa sẽ thực sự xảy ra trên đất nước này không nhỉ?
Sau đó, chúng tôi đi về phía con dốc đang tràn trề ánh nắng. Hai cây phong trắng đổ bóng xuống con dốc bằng dáng vẻ hiền hòa như hai chị em gái. Sonoko vừa đi bộ vừa cúi mặt xấu hổ. Rồi cô nói:
“Lần tới gặp nhau, anh sẽ mang món quà như thế nào đến cho em?”
Tôi vờ như không hiểu, khổ sở trả lời, “Bây giờ mà nói đến quà anh có thể mang theo thì chỉ có máy bay đang chế tạo dở dang trong xưởng và xẻng đào hào dính đầy bùn thôi.”
“Ý em nói là một món quà có hình dáng cụ thể cơ.”
“Chà, cái gì được nhỉ?” Tôi vẫn giả vờ giả vịt trong khi cảm giác bị dồn ép càng lúc càng mạnh. “Vấn đề khó đây. Ở trên tàu anh sẽ từ từ suy nghĩ.”
“Vâng, anh cứ nghĩ đi nhé rồi báo cho em,” cô nói bằng âm sắc bình tĩnh và nghiêm khắc kỳ lạ. “Việc tặng quà cho em, anh hứa rồi đấy nhé.”
Sonoko nói ra từ “hứa” một cách mạnh mẽ nên tôi buộc phải bảo vệ mình bằng cái vẻ hớn hở đầy lường gạt ấy.
“Nào thì ngoắc tay cam kết,” tôi lớn tiếng nói. Cứ thế chúng tôi ngoắc tay với nhau, nhìn qua có vẻ là một cái ngoắc tay vô tư nhưng bỗng nhiên làm sống dậy trong tôi nỗi sợ hãi từ những ngày thơ bé. Nỗi sợ ám ảnh tâm hồn trẻ con của tôi đến từ lời dọa dẫm rằng nếu ngoắc tay rồi mà không thực hiện lời hứa thì ngón tay ấy sẽ bị thối rữa. Chẳng cần nói thêm, ý tứ cũng đã quá rõ ràng, món quà mà Sonoko nói đến là “Đơn đăng ký kết hôn”, đó chính là lý do vì sao tôi sợ hãi. Nỗi sợ hãi giống hệt nỗi sợ của một đứa trẻ khi phải một mình đi đến nhà xí trong đêm.
Đêm hôm đó, lúc cơn buồn ngủ sắp kéo đến, tôi nhìn thấy Sonoko lấp ló sau tấm rèm cửa phòng ngủ của mình, rồi cô nói rằng muốn tôi ở lại thêm một ngày nữa. Nghe xong tôi giật mình nhìn chằm chằm vào cô mà không để ý rằng mình vẫn còn nằm trong nệm. Nếu thử bỏ qua toàn bộ toan tính sai lầm lúc đầu - thứ toan tính mà tôi từng cho là chính xác thì tôi không biết phải giải thích thế nào cái cảm giác lúc tôi nhìn chằm chằm vào cô như vậy.
“Tại sao anh lại phải về?”
“Ừ, tại sao nhỉ?”
Ngược lại, tôi đã vui vẻ trả lời như vậy. Động cơ của sự lừa dối lại bắt đầu vận hành một cách cẩu thả. Sự vui vẻ ấy chẳng qua chỉ là phương tiện để chạy trốn khỏi nỗi sợ hãi thế mà được tôi diễn giải thành sự vui vẻ khi có được cảm giác mình giỏi giang hơn người, có trong tay một quyền lực mới, quyền được chọc ghẹo cô.
Việc tự lừa dối chính mình giờ đã thành tia hy vọng cuối cùng của tôi. Người bị thương thì một miếng vải băng kịp thời không nhất thiết là miếng vải băng sạch sẽ. Tôi ấn vào vết thương đang chảy máu của mình bằng suy nghĩ lừa đảo bản thân vốn đã quá quen thuộc với tôi để cầm máu rồi chạy đến bệnh viện. Tôi tưởng tượng cái công xưởng vô công rồi nghề kia là một doanh trại quân đội đầy kỷ luật và đầy hứng thú. Kiểu như nếu sáng ngày mai không quay về đó chắc chắn sẽ bị tống vào phòng biệt giam nội bộ.
Buổi sáng lúc xuất phát, tôi nhìn Sonoko đăm đăm. Giống như kẻ lữ hành nhìn ngắm lại cảnh cũ trước khi rời bước.
Toàn bộ đã kết thúc rồi, tôi hiểu điều đó. Nhưng tất cả những người đang đứng quanh tôi thì lại nghĩ mọi việc bây giờ mới bắt đầu. Tôi tiếp tục phó mặc bản thân cho những linh cảm tử tế ấy của họ và cầu xin rằng, hãy cứ để mặc mình bị lừa đi.
Dù vậy, vẻ bình tĩnh của Sonoko cũng làm tôi lo lắng. Cô vừa giúp tôi đóng góp hành lý vừa tìm khắp nơi trong phòng xem tôi có để quên thứ gì không. Rồi khi mọi việc xong xuôi, cô đứng bất động bên cạnh cửa sổ, nhìn ra bên ngoài. Bây giờ là buổi sáng của một ngày nhiều mây, tràn trề màu xanh lá non. Những con sóc chạy qua chạy lại đâu đó làm rung rinh ngọn cây. Nhìn từ phía sau, bóng lưng Sonoko có “cảm giác chờ đợi” vừa ngây thơ vừa im lìm. Bóng lưng ấy cứ giữ nguyên trạng thái suy tư rồi bước ra khỏi căn phòng, tương tự việc mở toang cửa tủ bếp rồi không thèm khép lại mà cứ thế bỏ ra ngoài. Đó là việc không chấp nhận được với một kẻ ngăn nắp như tôi. Tôi tiến lại gần, vòng tay ôm lấy Sonoko từ phía sau thật dịu dàng.
“Chắc chắn anh lại đến thăm em nữa nhỉ?”
Cô vui vẻ nói bằng bộ dạng có vẻ rất tin tưởng vào lời nói của mình. Niềm tin ấy còn hơn cả niềm tin vào tôi. Đó là thứ nảy mầm từ một niềm tin sâu sắc hơn tôi, vượt qua tôi. Vai của Sonoko không rung lên trong vòng tay tôi. Khuôn ngực áo đính đăng ten phập phồng hơi thở có chút nặng nề.
“Ừ, có lẽ vậy, nếu anh còn sống.”
Lời nói của tôi khiến chính tôi buồn nôn, bởi một thanh niên ở tuổi tôi sẽ khao khát biết chừng nào thời khắc trước khi ra trận, nói với người mình yêu những lời như thế.
Đến với em. Tôi sẽ vượt qua tất cả nguy nan rồi đến gặp em. Hãy an tâm chờ đợi nhé. Em chính là người sẽ trở thành bạn đời của tôi.
Mâu thuẫn lạ kỳ theo kiểu như thế trong cách tôi suy nghĩ, cách tôi cảm nhận biểu hiện lồ lộ trên khuôn mặt tôi. Trạng thái lưỡng lự khi nói rằng “Ừ, có lẽ vậy” không phải là tội lỗi trong tính cách của tôi mà là dấu vết còn sót lại của kiểu tính cách mà tôi đã từng có. Đó rõ ràng không phải là tội lỗi mà là bộ phận mang ít nhiều tội lỗi trong tôi đã dần tiếp cận được sự chỉ dẫn của những suy nghĩ bình thường một cách lành mạnh đến mức thô bỉ. Trải qua sự tự rèn luyện từ những ngày còn thơ bé, tôi đã trở thành kẻ chẳng biết tình yêu là gì mà lúc nào cũng tỏ ra khao khát được yêu, một kẻ tốt xấu lẫn lộn, một kẻ không đáng mặt đàn ông, một kẻ ba phải. Một kẻ như vậy chẳng bao giờ muốn chết. Thảo nào phần tội lỗi trong tôi là một lời chỉ dẫn có khả năng thực hiện nhưng cũng phần tội lỗi ấy ngay từ đầu đã là một lời yêu cầu không thể thực hiện. Bây giờ, trái tim tôi thực sự hướng về Sonoko bằng thái độ rõ ràng rất đàn ông, dù ai đó có mang sức mạnh của Samson cũng không thể nào làm được như tôi. Do dự là một nét tính cách đường như thuộc về bản chất của tôi, kẻ đang nhìn vào mắt Sonoko. Cái bóng của người đàn ông do dự trong tôi ghê tởm những suy nghĩ giả dối kia. Cái bóng ấy cũng cho rằng sự tồn tại của một kẻ như tôi chẳng có giá trị gì, xé nát lòng kiêu hãnh của tôi. Tôi chẳng còn tin vào tính cách hay là ý chí nữa, tối thiểu thì bộ phận chọn lọc ý chí cũng là đồ giả. Nhưng suy nghĩ đặt nặng vấn đề của ý chí giống như vậy hoàn toàn khác với mơ mộng, đó chính là một kiểu khoa trương. Dù là người bình thường chắc chắn cũng không bao giờ chỉ nghe theo ý chí mà hành động. Cho dù tôi có là một người bình thường đi nữa, điều kiện để tôi và Sonoko có được cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, chắc chắn không thể hội tụ đầy đủ. Nếu có thì con người bình thường kia của tôi có thể trả lời “Ừ, có lẽ vậy” hay sao? Thậm chí ngay cả lý lẽ dễ hiểu đến thế mà tôi cũng luyện được thói quen lờ đi. Cố gắng không bỏ sót một phần nhỏ nào của cơ hội bạc đãi bản thân. Đó là phương cách nhàm chán, lặp đi lặp lại khi con người đánh mất nơi có thể che chở mình bèn dồn đuổi bản thân đến một nơi an toàn trong suy nghĩ mình là kẻ bất hạnh.
Sonoko bắt đầu nói bằng âm điệu êm dịu:
“Không sao đâu ạ. Anh cố gắng đừng để mình bị thương. Mỗi đêm em sẽ cầu xin thần thánh che chở cho anh. Từ trước đến giờ, những lời cầu xin của em đều linh nghiệm cả.”
“Em thật có niềm tin. Có lẽ vậy nên nhìn em cực kỳ yên ổn, yên ổn đến mức khiến anh sợ hãi.”
“Tại sao vậy?”
Cô mở to đôi mắt có đôi đồng tử thông minh, đen nhánh. Khi bắt gặp ánh mắt thắc mắc ngây thơ chẳng chút nghi ngờ nào của cô, tim tôi loạn nhịp đến mức quên mất câu trả lời. Tôi không cưỡng lại được ý muốn đánh thức cô khi trông cô như thể đang ngủ bên trong sự yên ổn kia, nhưng ngược lại, đôi đồng tử của Sonoko đã đánh thức kẻ đang mê muội trong tôi.
Các em gái cô sắp đi học nên đến tạm biệt tôi trước.
“Tạm biệt anh.”
Em gái út của cô muốn nắm tay tôi, khi tôi chìa tay ra thì nắm tay nhỏ bé ấy liền dụi vào lòng bàn tay tôi rồi chạy nhanh ra ngoài cửa. Bên dưới tán cây có những ánh nắng nhạt nhòa xuyên qua kẽ lá, cô giơ hộp cơm trưa màu đỏ có móc khóa màu vàng lên cao rồi vẫy chào tôi.
Bà và mẹ của Sonoko cũng đi tiễn chân tôi nên chúng tôi vô tư chia tay nhau ở ga. Chúng tôi nói đùa với nhau, cư xử với nhau chẳng chút ý tứ đặc biệt nào. Cuối cùng con tàu cũng tiến vào sân ga, tôi chọn ghế ngồi ngay cạnh cửa sổ. Lúc ấy tôi chỉ cầu mong một điều rằng, con tàu hãy nhanh chóng rời khỏi đây.
Rồi một giọng nói trong trẻo từ một nơi nào đó cất tiếng gọi tôi. Đó chính xác là giọng Sonoko. Giọng nói quen thuộc ấy bây giờ lại trở thành một tiếng gọi xa xăm, tươi mới đến mức khiến tôi giật mình. Suy nghĩ rằng giọng nói đó chắc chắn là giọng của Sonoko chiếu rọi vào tim tôi giống như một tia nắng ban mai. Tôi nhìn về hướng mà giọng nói đó phát ra. Cô băng qua cửa ra vào chỗ nhân viên nhà ga đang đứng rồi bị thanh chắn bằng gỗ thâm đen cản lại trước khi bước qua đường kẻ an toàn. Từ bên trong chiếc áo khoác ngắn điệu đàng tràn ra rất nhiều đăng ten bay bay trong gió. Mắt cô hướng về tôi mở to sinh động. Con tàu dần chuyển bánh. Đôi môi gợi cảm giác hơi nặng nề của Sonoko cứ như thể đang muốn nói điều gì đó, dần khuất khỏi tầm mắt tôi.
Sonoko! Sonoko! Trong lòng tôi thầm gọi cái tên ấy mỗi khi con tàu lắc qua lắc lại. Có lẽ đó là một cái tên mang theo sự thần bí khó lý giải thành lời. Sonoko! Sonoko! Cảm xúc của tôi bị sự lặp lại của cái tên đó hạ gục. Nỗi đau khổ nhói buốt khi cái tên đó cứ liên tục lặp lại, sâu sắc như một sự trừng phạt. Cho dù bản thân có cố giải thích cho chính mình hiểu đi nữa thì bản chất của thứ đau khổ rất rõ ràng này cũng là một vấn đề khó hiểu chưa từng có. Bởi quỹ đạo cảm xúc tương ứng của con người là nỗi đau khổ vô cùng khác biệt nên để tôi cảm thấy đó là đau khổ thì cũng là việc vô cùng khó khăn. Nỗi đau khổ cứ như thể một người chờ đợi tiếng súng vang lên báo thời điểm đúng 12 giờ trưa, thế mà quá thời điểm lại chẳng nghe thấy tiếng súng ấy, anh ta mò ra sự im lặng kia tại một nơi nào đó trên bầu trời không một gợn mây và anh ta đau khổ. Một nỗi nghi hoặc đầy sợ hãi. Trên thế giới này chỉ có mình anh ta biết súng không nổ đúng 12 giờ trưa mà thôi.
Tất cả kết thúc rồi. Tất cả thực sự kết thúc rồi. Tôi thì thầm như vậy. Lời than thở của tôi giống hệt lời than thở của một thí sinh nhát gan bị điểm liệt. Thất bại rồi. Thôi xong rồi. Bỏ sót chi tiết X đó nên cả bài thi sai bét rồi. Nếu giải quyết từ chi tiết X đó thì chẳng bao giờ lâm vào cảnh ngộ này. Nếu tôi cũng giải bài toán cuộc đời bằng phương pháp diễn dịch giống hệt cách mọi người vẫn làm thì mọi sự có phải ổn rồi không. Sự hợm hĩnh của tôi tồi tệ hơn bất cứ thứ gì. Một mình tôi giải bài toán bằng phương pháp quy nạp nên đã rước lấy thất bại.
Suy nghĩ của tôi vô cùng hỗn loạn nên mấy vị khách ngồi đối diện nhìn sắc mặt tôi đầy nghi hoặc. Đó là một y tá của hội chữ thập đỏ mặc áo blu màu xanh đậm và một nông phụ nghèo khổ có vẻ là mẹ của người kia. Trong khi bị họ chú ý, tôi đưa mắt nhìn khuôn mặt người y tá. Cô con gái có khuôn mặt mập mạp, đỏ lựng giống như một trái tầm bóp kín đáo nũng nịu mẹ mình.
“Mẹ ơi, con đói rồi.”
“Vẫn còn sớm mà.”
“Nhưng mà con đói. Ăn đi, ăn đi thôi.”
“Con cái không biết nghe lời gì cả.”
Người mẹ dần chịu thua bèn lấy cơm hộp ra cho con gái ăn. Bên trong hộp cơm ấy nhìn còn kinh khủng hơn một bậc so với bữa ăn mà chúng tôi buộc phải nuốt ở công xưởng. Nữ y tá cứ thế ăn nhồm nhoàm thứ cơm toàn khoai có thêm hai lát củ cải muối. Bởi chưa từng vô tình nhìn thấy người nào có cách ăn uống như vậy nên tôi bất giác dụi mắt. Kết cục, tôi kết luận chắc chắn rằng sự quan sát tỉ mỉ những điều trước mắt bắt nguồn từ việc tôi đã mất sạch khao khát sống.
Tối hôm đó, khi đã yên ổn trong chỗ ở ngoại ô, lần đầu tiên từ khi sinh ra tôi nghiêm túc nghĩ đến việc tự sát. Trong lúc mông lung suy nghĩ về điều đó thì một cảm giác cực kỳ bứt rứt kéo đến, nghĩ lại thấy suy nghĩ tự sát mà tôi cho là nghiêm túc kia thật là thứ ngớ ngẩn. Bẩm sinh tôi khuyết thiếu hứng thú với việc thua rồi bỏ chạy. Xung quanh tôi có vô số cái chết chồng chất như một vụ mùa bội thu, chết vì tai họa chiến tranh, chết trong khi đang làm nhiệm vụ, chết vì ốm khi ra trận, chết vì bị tàu cán ngang người, chết bệnh, cái chết có lẽ chẳng đời nào lại không ghi tên tôi vào danh sách của nó. Kẻ bị kết án tử hình thì không tự sát. Vả lại cho dù nghĩ thế nào đi nữa, thời tiết này cũng chẳng phù hợp để tự sát. Tôi chờ đợi một thứ gì đó sẽ giết chết tôi giống như chờ đợi một thứ sẽ giúp tôi hồi sinh.
Hai ngày sau khi tôi trở về công xưởng thì nhận được lá thư tràn đầy tình yêu nồng cháy của Sonoko. Tình yêu đó là hàng thật. Tôi cảm thấy ghen tị. Cảm giác ghen tị khó mà chịu nổi giống như ngọc trai nhân tạo ghen tị với ngọc trai thiên nhiên. Dù vậy cô yêu tôi, trong thế giới này có tên đàn ông nào ghen tị với tình yêu ấy không nhỉ?
Sau khi từ biệt tôi ở nhà ga, Sonoko liền đạp xe đi làm. Bởi trong lòng rối bời nên cô không thể tập trung làm việc được, người bạn làm cùng hỏi thăm vì nghĩ rằng cô không được khỏe. Cô làm sai tài liệu rất nhiều lần. Hết giờ làm, cô liền trở về nhà ăn trưa, nhưng khi trở lại chỗ làm ngang qua sân golf hôm trước, cô liền đạp xe quanh đó một vòng rồi dừng lại. Cô nhìn thấy khóm cúc dại vàng ươm bị chúng tôi giẫm nát vẫn y nguyên như vậy. Sương đã tan trên bề mặt của ngọn núi lửa, cùng với đó là màu nâu vàng mang theo rất nhiều ánh sáng trải rộng dần ra. Rồi cô lại thấy màn sương tối bay lên từ thung lũng, lá của hai cây phong trắng hiền hòa như chị em rung rinh giống như một một dự cảm không rõ ràng. Khi tôi nỗ lực hết mình để trốn chạy khỏi tình yêu mà bản thân đã gieo vào lòng Sonoko theo cách nào đó, thì cũng lúc ấy tôi an tâm phó thác mình cho lời phân trần đáng thương, không chừng lời phân trần ấy thực ra lại chính là điều chính xác nhất. Lời phân trần rằng, chính vì yêu cô mà tôi buộc phải chạy trốn khỏi cô.
Sau đó mấy lần tôi viết cho Sonoko những lá thư mà đến tôi cũng cảm thấy không thể lạnh nhạt hơn được nữa. Chưa đầy một tháng sau, lần thứ hai Kusano được phép thăm thân. Hiện giờ đội của cậu ta đã di chuyển đến ngoại ô Tokyo và gia đình Kusano lại gửi thư cho tôi thông báo về cuộc thăm hỏi. Tính cách nhu nhược thúc giục tôi đi thăm Kusano một lần nữa. Thật sự kỳ quặc khi tôi đã hạ quyết tâm không gặp cô nữa, thế mà lại không thể cưỡng lại cơ hội có thể gặp được cô. Gặp cô, tôi thấy mình đổi thay trong khi cô vẫn không hề thay đổi. Tôi chẳng thể nói gì khi cô buông một lời đùa cợt hóm hỉnh. Cô, anh trai cô, thậm chí mẹ và bà của cô sẽ cho rằng sự thay đổi đó chẳng qua chỉ chứng tỏ tôi là người trung thực. Kusano thì nhìn tôi bằng ánh mắt ấm áp, rồi nói một câu khiến tôi run rẩy.
“Một ngày gần đây tớ sẽ gửi thư cho cậu thông báo một chuyện có chút quan trọng. Cậu cứ chờ nhé.”
Một tuần sau, vì là ngày nghỉ nên tôi đến chỗ mẹ và các em đang sơ tán, đúng lúc ấy thì bức thư đến. Nét chữ trẻ con đúng kiểu chữ của Kusano biểu thị một tình bạn không hề giả dối mà cậu ta dành cho tôi.
Tất cả mọi người trong nhà tớ đều rất nghiêm túc nghĩ đến chuyện của Sonoko. Tớ được giao trách nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền đây. Câu chuyện cũng đơn giản thôi nhưng tớ rất muốn nghe cảm xúc thật sự của cậu với em ấy.
Mọi người đều tin tưởng cậu. Sonoko thì đương nhiên là tin tưởng cậu rồi. Có lẽ mẹ tớ đã suy nghĩ đến việc khi nào thì tổ chức lễ cưới rồi đấy. Lễ cưới thì chưa biết thế nào nhưng tớ nghĩ quyết định ngày cưới thì cũng không có gì là sớm cả.
Đương nhiên đó là dự đoán của mọi người. Tớ thì muốn nghe cảm giác của cậu. Vô cùng mong muốn sẽ được trò chuyện với cậu như người trong gia đình, nhưng dù nói thế đi nữa tớ hoàn toàn không muốn trói buộc ý nguyện của cậu. Nếu chuyện của cậu và em gái tớ là sự thật thì tớ vô cùng yên tâm. Nếu cậu trả lời là KHÔNG, tớ cũng dứt khoát sẽ không tức giận cậu. Kết quả thế nào cũng không ảnh hưởng gì đến tình bằng hữu mà chúng ta đã có. Câu trả lời là CÓ thì đương nhiên là hạnh phúc lớn nhưng nếu là KHÔNG thì cũng chẳng có gì là tệ cả. Tớ muốn cậu hãy trả lời một cách thành thực nhất, xin đừng quyết định mọi chuyện dựa trên hoàn cảnh và đạo lý. Chờ câu trả lời của cậu với tư cách một người bạn vô cùng thân thiết.
Tôi sửng sốt. Vừa nhìn quanh vừa nghĩ không biết có ai nhìn thấy tôi đọc bức thư này không nhỉ?
Trong đầu tôi bắt đầu nảy ra ý nghĩ đây là chuyện không thể. Trong cách suy nghĩ, cách cảm nhận của tôi đối với một thứ mang tên chiến tranh chưa bao giờ tính đến sự khác biệt đáng kể giữa tôi và gia đình họ. Mới hai mươi mốt tuổi, vẫn là sinh viên, phải làm việc ở công xưởng sản xuất máy bay chiến đấu, dưới bầu trời của cuộc chiến không hề có dấu hiệu chấm dứt, tôi đang trưởng thành. Và tôi cũng nghĩ quá lên về sức mạnh của cuộc chiến ấy theo chiều hướng lãng mạn hóa. Cho dù đang ở trong lòng một cuộc chiến bi thảm đến nhường ấy nhưng thỏi nam châm bản năng con người trong tôi vẫn luôn hướng về một phía. Cho đến bây giờ, tôi luôn muốn yêu thương nhưng tôi lại chẳng biết phải làm thế nào. Tôi vừa nở một nụ cười nhạt và kỳ quặc vừa đọc đi đọc lại bức thư.
Vậy mà một cảm giác rất bình thường, cảm giác muốn hơn người cứ thôi thúc cảm xúc của tôi. Bởi vì tôi là kẻ thắng cuộc. Tôi đương nhiên hạnh phúc, chẳng ai phủ nhận điều đó, nên tôi có quyền xem nhẹ hạnh phúc.
Dù trong lòng đầy lo lắng và buồn bã đến mức không thể chịu nổi, thế mà tôi vẫn để nụ cười hợm hĩnh đểu cáng đó dán chặt lên miệng mình. Cứ cho rằng tôi nhảy qua cái rãnh nhỏ mà chính tôi đã đào ấy đi. Cứ cho rằng bao nhiêu tháng trời đó đều là nhảm nhí đi. Cứ cho rằng ngay từ đầu tôi không hề yêu Sonoko, không hề yêu cô gái bé bỏng ấy đi. Cứ cho rằng tôi đã không cưỡng lại được chút hy vọng ấy, (có lẽ là dối trá!) và đã lừa đảo cô đi. Tôi không chối cãi những điều đó. Chỉ là hôn thôi thì đâu phải chịu trách nhiệm gì.
Mình không hề yêu Sonoko.
Kết luận đó làm tôi lâng lâng vui sướng.
Đó thật là một kết luận tuyệt vời. Không yêu mà đi quyến rũ một phụ nữ, khi tình yêu của đối phương bắt đầu bùng cháy liền vứt đi chẳng thèm ngó ngàng đến nữa, tôi đã trở thành một tên đàn ông như vậy. Một kẻ như thế chẳng phải đã cách rất xa hình ảnh một sinh viên ưu tú hay thuyết giảng đạo đức và cực kỳ trung thực hay sao?... Lẽ nào tôi lại không biết điều đó. Tôi đã làm cái việc không thể tin nổi ấy, trở thành một tên Don Juan, không đạt được mục đích thì vứt bỏ người ta. Tôi lờ việc đó đi như thể mình vô tội. Tôi dần hình thành thói quen bịt tai mình lại vì chẳng muốn nghe bất cứ điều gì như thể một bà già ngoan cố.
Sau đó, bằng cách này hay cách khác chỉ còn một vấn đề duy nhất là cản trở việc kết hôn này. Giống như thể cản trở việc kết hôn của tình địch.
Tôi mở cửa sổ ra rồi gọi mẹ.
Trong vườn rau rất rộng, ánh nắng của vầng mặt trời mùa hè đã trở nên rực rỡ. Màu xanh trên thửa cà tím và cà chua khô nẻ kiêu hãnh hướng về phía mặt trời đầy thách thức. Mặt trời bôi lên những đường gân lá mạnh mẽ đó một thứ ánh sáng màu xanh lục, nhòe nhoẹt như bị hầm nhừ. Sự tràn đầy của sinh mệnh thực vật tăm tối bị nghiền nát bên dưới vẻ rạng rỡ của vườn rau rộng hút mắt. Ở đó có khu rừng phía sau đền thờ đang hướng khuôn mặt tối tăm kia về phía này. Thỉnh thoảng có tàu điện chạy qua vùng đất thấp ở đằng ấy, nơi mà tôi không nhìn thấy được, làm tràn ra những rung động thật mềm mại. Cứ mỗi lần như thế, ánh sáng phản chiếu trên đường dây điện xuyên qua hàng cọc trên dải phân cách, ủ dột đu đưa qua lại. Ánh sáng đó lấp ló phía sau đám mây mùa hè nặng trĩu, một cách hữu ý, lại như thể vô tình, cứ thế run rẩy tỏa sáng.
Ở giữa vườn, một chiếc mũ cói lớn buộc ruy băng xanh nhô lên khỏi màu xanh của những thửa rau. Đó là mẹ tôi. Chiếc mũ cói của bác tôi, tức là anh trai mẹ vẫn chẳng hề chuyển động nhìn giống một bông hoa hướng dương đã gục đầu.
Sau khi bắt đầu cuộc sống thôn dã, da mẹ tôi đã cháy nắng nên từ xa nhìn lại, hàm răng trắng sáng trở nên rất nổi bật. Đi đến gần hơn thì nghe thấy tiếng mẹ gọi tôi bằng chất giọng hơi chói tai có vẻ trẻ con:
“Có chuyện gì đấy? Sao con lại đến đây vậy?”
“Có chuyện quan trọng mẹ ạ. Mẹ đến đây một chút có được không?”
Mẹ tôi chầm chậm đi đến chỗ tôi với vẻ không hài lòng. Chiếc giỏ trên tay đựng đầy cà chua chín. Mẹ đặt chiếc giỏ đó lên cạnh cửa sổ rồi hỏi tôi, có chuyện gì thế.
Tôi không cho mẹ xem bức thư, chỉ nói tóm tắt câu chuyện cho mẹ nghe. Vừa nói tôi vừa dần dần không hiểu tôi tìm mẹ vì việc gì. Tôi cứ thao thao bất tuyệt như thế này chẳng phải để giải thích cho chính mình hiểu ra sự việc hay sao? Với tính cách nghiêm khắc, không kiềm chế được lời nói lúc nóng giận của bố tôi, người sẽ bước vào nhà, trở thành vợ tôi hẳn là sẽ rất khổ, cho dù như vậy đi nữa, ngay lúc này tôi cũng chưa nghĩ đến chuyện kết hôn, rồi thì gia đình sống theo lối cũ như gia đình tôi và một gia đình suy nghĩ cởi mở như gia đình Sonoko có lẽ là không phù hợp, vì bây giờ vẫn còn rất trẻ để lấy vợ nên tôi không muốn rơi vào hoàn cảnh khổ sở. Bao nhiêu lý do bất lợi cũ rích được tôi giãi bày bằng khuôn mặt cực kỳ bình thản. Tôi muốn mẹ phản đối chuyện này đến cùng. Tuy nhiên mẹ tôi lại là người rất phóng khoáng và dịu dàng.
“Chuyện này có gì đó lạ nhỉ,” mẹ chẳng cần suy nghĩ nhiều liền chen ngang lời tôi. “Cảm xúc của con nó lộn xộn thế nào ấy nhỉ? Yêu? Hay là ghét?”
“Cái đó thì con...” Tôi ậm ừ nói. “Con không nghiêm túc lắm, chỉ muốn trêu chọc cô ấy chút thôi. Thế mà cô ấy lại có vẻ nghiêm túc, con thực sự khó xử.”
“Nếu thế thì đâu phải vấn đề gì lớn. Nhanh chóng nói rõ với nhau là được. Đằng nào thì đúng lúc có bức thư thăm dò ý tứ kia còn gì. Hãy trả lời một cách rõ ràng đi... Mẹ phải quay lại làm việc đây. Ổn chưa?”
“Vâng...”
Tôi nhè nhẹ thở dài. Mẹ đi đến cái cổng vòm bị những cây ngô che khuất rồi lại quay trở lại chỗ cửa sổ nơi tôi đang đứng thật nhẹ nhàng. Sắc mặt mẹ hoàn toàn khác hẳn lúc trước.
“Mẹ bảo này, bây giờ nói câu chuyện của hiện tại nhé,” như biến thành người khác, ánh mắt mẹ nhìn tôi như ánh mắt của một phụ nữ nhìn người đàn ông mình chẳng hề quen biết. “...Chuyện của Sonoko ấy mà. Con… chẳng lẽ... à, ừ thì...”
“Mẹ nghĩ gì vậy. Mẹ kỳ thế...” Tôi bật cười. Cảm giác như thể từ khi tôi sinh ra đến giờ chưa từng cười cay đắng như thế. “Con á? Mẹ nghĩ con có thể làm cái việc như thế sao? Mẹ không tin con đến thế sao?”
“Hiểu rồi, hiểu rồi. Hỏi cho chắc thôi mà,” khuôn mặt mẹ lại trở lại thần thái rạng rỡ, xua đi lời tôi nói với vẻ ngượng ngùng. “Bố mẹ mà, sống là để lo lắng cho con cái. Tất nhiên là mẹ luôn tin con.”
Tối hôm đó, tôi viết lá thư từ chối quanh co mà chính tôi cũng cho rằng nó chẳng thuyết phục chút nào. Tôi viết rằng, như vậy hơi vội vàng, vả lại cảm xúc hiện tại chưa tiến triển đến mức độ đó. Sáng hôm sau, trên đường từ công xưởng về nhà, khi ghé vào bưu điện để gửi thư, nữ nhân viên bưu điện nhìn bàn tay đang run rẩy của tôi bằng đôi mắt ngờ vực. Tôi nhìn chằm chằm vào con tem đang được dán lên lá thư một cách máy móc bằng ngón tay thô lỗ, bẩn thỉu của cô ta. Nhìn thấy bất hạnh của chính mình bị đối xử như thế khiến tôi cảm thấy được an ủi.
Những trận không kích dần chuyển mục tiêu về những thành phố nhỏ. Có vẻ như nguy hiểm sống chết cận kề thường xuyên treo lơ lửng trên đầu đã tạm thời lùi xa. Trong đám sinh viên râm ran lời đồn về chuyện đầu hàng. Gã trợ giảng trẻ tuổi đưa ra ý kiến đầy ám thị để mở màn cho bài giảng, như một cách thu hút sự chú ý của sinh viên. Nhìn thấy thái độ hợm hĩnh đầy thỏa mãn của gã khi suy diễn thêm ra những lý giải vô cùng ngờ vực, tôi thầm nghĩ, tôi không cả tin đến thế đâu. Mặt khác, tôi ngạc nhiên với một đám cuồng tín, ở thời điểm hiện tại mà còn tin vào thắng lợi của cuộc chiến này. Đối với tôi, cuộc chiến này dù thắng hay thua cũng đều là kết quả tốt. Tôi chỉ đơn thuần muốn được đầu thai.
Tự nhiên lên cơn sốt không rõ lý do, tôi lại trở về ngôi nhà ở ngoại ô. Vừa nhìn chằm chằm lên trần nhà đã trở nên mờ ảo trong cơn sốt vừa liên tục lẩm bẩm trong đầu tên của Sonoko như cầu kinh. Lúc tỉnh dậy, tôi nghe tin bom nguyên tử đã san phẳng Hiroshima.
Cơ hội cuối cùng. Mọi người đồn đại rằng, mục tiêu tiếp theo sẽ là Tokyo. Tôi đi bộ quanh khu phố trong chiếc áo sơ mi trắng và chiếc quần sooc trắng. Quanh tôi, mọi người cũng đang đi bộ với khuôn mặt rạng rỡ khi rơi vào tâm trạng buông xuôi mọi thứ. Từng khắc từng khắc trôi qua mà chẳng có chuyện gì xảy ra. Rộn ràng vui vẻ giống như khi bơm thêm không khí vào quả bóng bay đã căng lên, trong lòng ai cũng tự nhủ, sắp nổ rồi, sắp nổ rồi. Tuy vậy, từng khắc từng khắc trôi mà vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra. Những ngày như vậy kéo dài hơn mười ngày, ai cũng gần như phát điên.
Một ngày nọ, lẫn trong làn đạn của những khẩu pháo cao xạ trì độn, một chiếc máy bay lướt nhẹ trên bầu trời mùa hạ thả xuống bao nhiêu là truyền đơn. Nội dung truyền đơn là thông tin về việc đầu hàng. Chiều tối hôm ấy, sau giờ làm, bố tôi về thẳng căn nhà ở ngoại ô mà chúng tôi đang tạm trú ngụ.
“Này, nội dung tờ truyền đơn đó là thật đấy.”
Bố đi vào trong vườn, ngồi xuống dưới mái hiên rồi ngay lập tức nói như vậy. Sau đó, bố đưa một bản copy nguyên văn bằng tiếng Anh xác nhận những gì bố vừa nói cho tôi xem.
Tôi cầm lấy bản sao đó, đọc lướt qua liền hiểu ra sự thực. Sự thực đó không phải là đất nước tôi đã trở thành phe chiến bại. Sự thực là những ngày đáng sợ với tôi đã bắt đầu. Tôi liên tục lừa dối bản thân kiểu như chỉ nghe về sự thực đó thôi cũng đủ làm tôi run sợ, hơn thế điều đó dứt khoát không xảy ra đâu. Sự thực là bởi tôi không cách nào chối từ nên cuộc sống bình thường của con người nào đó từ ngày mai sẽ thực sự bắt đầu.
***Line Note Zone***
Baka nghĩa là “ngu ngốc”.
Từ cổ Hy Lạp, nghĩa là công dân từ 18 đến 20 tuổi.
Ẹaclatio (Tiếng La Tinh): Nghĩa là xuất tinh.