Một
Suốt 2 tuần theo dõi phiên tòa rồi đắn đo đúc kết để viết cho xong những bài tường thuật trên tờ Thời Báo San Jose trong 1 thời gian gấp rút nhưng không sơ hở làm tôi mệt nhoài. Có lúc buồn nản ngồi nghe những chuyện hận thù, chửi bới trước tòa, cùng những lời khai có toan tính, tránh né sự thật của 2 bên nhân chứng. Rồi phải nhớ để ghi lại, điều này chẳng làm đầu óc thoải mái tí nào. Đôi lúc đã tưởng bỏ cuộc nửa chừng vai trò ký giả « tình cờ », nhưng sự xôn xao theo dõi của độc giả qua những bài báo gần như « độc quyền » của mình làm tôi cố gắng.
Tuy là những chi tiết bật mí trước tòa không có gì bí mật lắm đối với những người am tường sinh hoạt cộng đồng, như chuyện cuốn phim quay cảnh chiến khu giả tạo, chuyện lem nhem tiền bạc của lãnh đạo Mặt Trận, chuyện Hoàng Cơ Minh còn sống hay chết, … Những sự kiện đó được xác nhận công khai trước tòa bởi người trong cuộc thì vấn đề rõ ràng hơn. Không còn là chuyện tin đồn từ người này sang người nọ, người này bàn người kia kể. Người ta đã nói, đã viết những bài báo về cuốn phim chiến khu, nhưng lần này chính miệng Phạm Văn Liễu thốt ra thì không còn nghi ngờ gì nữa. Hoặc lúc tiến sĩ Hoàng Cơ Định, vụ trưởng Tài chánh, trả lời rằng ông không biết Mặt Trận có bổn phận phải khai thuế thì mọi người đều thấy rõ 1 con người « ngây ngô » mà nắm giữ tiền bạc của 1 tổ chức lớn như vậy thì vấn đề lem nhem tiền bạc tất nhiên sẽ xảy ra. Và nếu Hoàng Cơ Định không « ngây ngô » thì dĩ nhiên đó là lời khai dối trá không biết ngượng.
Rồi Nguyễn Thanh Hoàng, chủ nhiệm kiêm chủ bút VNTP, kiểm soát tất cả mọi bài vở. Thế mà khi luật sư chất vấn về lời tòa soạn giới thiệu cho 1 bài báo quan trọng thì ông nói là không biết của ai viết. Một nhà báo lão luyện, chịu trách nhiệm hoàn toàn về 1 tạp chí lớn nhất hải ngoại mà trả lời như thế. Thật là vô lý. Rồi Cao Thế Dung khai là đi dạy đại học nhưng không có bằng tiến sĩ. Khi luật sư hỏi « móc », ông lại lôi cả Nguyễn Ngọc Bích vào để đưa ra cái nhận định là ở thời VNCH dạy đại học không cần bằng tiến sĩ. Câu nói đó tuy có phản ánh được 1 phần nào tệ trạng đại học của 1 nước chậm tiến, nhưng còn bao nhiêu « tiến sĩ thật » đã giảng dạy sinh viên thì sao ? Và bồi thẩm đoàn sẽ có cái nhìn sai lạc về nền giáo dục Việt Nam. Cái bằng « tiến sĩ » ông nói được cấp ở 1 trường « Ecole Universelle de Paris » không phải là đại học làm cho mọi người thấy không ổn.
Rồi Trần Xuân Ninh, Nguyễn Xuân Nghĩa, 1 người là bác sĩ, 1 người là « trí thức », giữa chốn công đường vẫn còn chối leo lẻo là Mặt Trận đã không tuyên bố là có 10.000 quân kháng chiến. Họ dùng 1 lối ngôn ngữ không thành thật để tránh né 1 điều đã xảy ra trong quá khứ. Báo Kháng Chiến, các báo Việt ngữ và ngay cả tài liệu của Quốc hội Hoa Kỳ, và còn bao nhiêu người đã đọc, đều đã nghe lời tuyên bố đó.
Rồi nhà văn Nguyên Vũ kiêm tiến sĩ sử gia Vũ Ngự Chiêu kiêu hãnh về cái hiểu biết phương pháp nghiên cứu tài liệu của ông, nhưng cuối cùng cũng để tình cảm cá nhân của mình vào những trang sách với 2 chữ Nghi và Tin. Phải chăng cái tiêu chuẩn « tiết trực tâm hư » của người ghi chép sử liệu đã không còn đúng nữa ? Và Vũ Ngự Chiêu đã đem uy tín 1 người viết sử đặt vào canh bạc may rủi ở phiên tòa này.
Rồi 1 cựu thứ trưởng kinh tế VNCH là Nguyễn Kiển Thiện Ân làm công việc thông ngôn, chuyển ngữ Việt Anh, Anh Việt ở tòa, 1 công việc rất quan trọng vì chỉ cần sai hoặc dư thiếu 1 từ ngữ là có thể làm bị can Việt Nam vô tù hoặc được tự do. Và cũng chính người thông ngôn này xác nhận trước tòa là không đủ thẩm quyền để phán xét giá trị của 1 tài liệu đã phiên dịch, là không hiểu hết những ý nghĩa của ngôn ngữ Việt Nam.
Đó là vài biểu hiện qua 1 số nét về « trí thức Việt Nam » trong vụ xử án này. Quan chánh án và bồi thẩm đoàn sẽ nghĩ sao về những lời khai mâu thuẫn không rõ ràng, nghĩ gì về trình độ văn hóa của cả 1 dân tộc Việt Nam qua những thành phần được gọi là « ưu tú » đất nước ? Và công luận người Việt cũng đã có cái nhìn chán ngán về tâm thức của những con người này cũng như chính mỗi người mình, 1 tâm thức đã bị ảnh hưởng của lịch sử, của chiến trah, của hận thù, của sự đổi thay mau chóng làm lung lay gốc rễ những giá trị luân lý đẹp đẽ.
Đã có bao nhiêu người tốn phí tâm huyết để tìm ra sự thật. Sự thật về những con số khoa học giúp kiến thức phát triển, sự thật về những con số trong thương mại để kinh tế vững mạnh, sự thật về 1 tin tức nào đó để giải quyết cuộc sống, và sự thật …, sự thật …, sự thật … vẫn là mục tiêu chính của cuộc đời. Thế mà những « trí thức Việt Nam » trước tòa đang tìm cách che dấu sự thật, dù những sự thật này cũng chẳng có giá trị gì ghê gớm (như loại sự thật quan trọng nói về quả đất tròn chứ không vuông). Đành rằng ở trong cuộc chơi kiện tụng phải dùng mọi thủ đoạn, đòn phép, mọi xảo ngữ để dành thắng lợi trước phiên tòa Hoa Kỳ (những người bản xứ xa lạ làm sao hiểu được chuyện Việt Nam ?) nhưng tòa án công luận của mọi người cũng đã có phán quyết. Và phán quyết này quan trọng hơn cả.
Vì báo chí có viết cũng là để cho mọi người đọc, và Mặt Trận có kiện cũng chỉ muốn chứng minh với mọi người là tổ chức mình là tốt.
Trong cái dở cũng có cái hay. Vụ xử kiện này cũng là dịp để mọi người xem xét lại chuyện mười mấy năm qua ở hải ngoại. Như chuyện Mặt Trận có kháng chiến thật hay không, chuyện tiền bạc quyên góp của đồng bào đi về đâu, chuyện khủng bố ám sát ký giả thì ai là thủ phạm, chuyện báo chí thường viết bài chửi bới vô trách nhiệm, … Và còn 1 chuyện tuy không có tầm mức quan trọng nữa đối với hoàn cảnh của năm 1995 nhưng cũng đặt ra 1 vấn đề đối nghịch giữa Mặt Trận và báo chí. Đó là chuyện báo chí truyền thông loan tin Hoàng Cơ Minh đã chết năm 1987 trong khi Mặt Trận bảo là còn sống và đang lãnh đạo cuộc chiến đấu ở 1 nơi nào đó. Bên nào đúng ? Báo chí hay Mặt Trận ? Đó là điểm chính để cuốn sách có cái tên « Mặt Trận kiện báo chí » ra đời.
Và quả thật, vụ án đã vượt khỏi tầm tay của viên chánh án và 12 người bồi thẩm Hoa Kỳ để bay vào khoảng không gian của 4 phương trời hải ngoại nơi có người Việt Nam sinh sống và thời gian khởi từ mười mấy năm trước cũng đang tiếp tục vận hành để bánh xe lịch sử quay hoài. Và cuối cùng lịch sử sẽ đưa ra sự thật, 1 lịch sử không dài lắm, chừng 5, 10 năm nữa. Công chúng đang luận tội Phạm Văn Liễu về việc đi khắp nơi tuyên truyền dối gạt đồng bào về mặt trận kháng chiến dù ông đã trả 1 phần nào sự thật về cho lịch sử. Và cộng đồng muốn phát triển cũng là sự đóng góp của những sự thật, sự thật nào cũng có ích, sự thật quan trọng hay sự thật bình thường trong đời sống.
Người Việt Nam đã bị lừa gạt quá nhiều trong quá khứ và ngay trong hiện tại. Sự thật vẫn còn bị che dấu, bóp méo. Trách nhiệm thuộc về những người có phương tiện thông tin hướng dẫn dư luận và những người hoạt động đại diện cho cộng đồng.
Nhưng quan trọng hơn cả là trình độ văn hóa và kiến thức của mỗi người phải nâng cao cho kịp đà tiến của nhân loại, nhất là những người Việt đang sống ở xứ sở văn minh nhất hoàn cầu. Với hiểu biết và suy luận chín chắn, không có sự tuyên truyền nào, không cá nhân nào có thể đưa lời xảo mị để mê hoặc lừa gạt được.
Hai
Phiên tòa 2 tuần đã cho tôi thêm những kinh nghiệm phong phú. Những khuôn mặt 1 thời lừng lẫy nay đã mất đi vẻ tinh anh, năm tháng chất chồng cũng làm tàn phai mọi nét rực rỡ của những con người năm xưa ngang dọc. Những người lớn tuổi hơn tôi, tài giỏi và vinh quang hơn tôi nhưng bây giờ cũng phải e dè vì những bài tường thuật phiên tòa trên tờ Thời Báo San Jose. Họ cũng bối rối âu lo, buồn vui, tranh cãi có lúc như con nít mặc dù họ là người lớn và cũng may mắn thay, tôi được thưởng ngoạn trò chơi này mà không bị lôi cuốn vào cuộc.
Có những lúc tôi cảm thấy khinh bỉ vì những lời khai không đúng sự thật mà luật sư và quan tòa người Mỹ chẳng biết đâu là hư là thực. Nhưng cũng đôi khi cảm thấy tội nghiệp cho những câu trả lời lúng túng, vụng về làm trò cười cho mọi người. Và tôi cũng cảm nhận vai trò của báo chí lúc này quan trọng, vì nếu không có báo tường thuật phiên tòa thì dư luận Việt Nam cũng chẳng để ý gì nhiều và việc thắng thua vụ kiện 2 bên chỉ biết với nhau.
Tôi nhớ lại cách đây gần 30 năm, lúc còn nhỏ có đọc bài báo ghi nhận 1 phiên tòa viết rằng bác sĩ Phan Quang Đán đã khóc trước tòa xin tha tội vì đã tham gia vào cuộc đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm 1960. Lúc đó tôi cảm thấy nhục nhã cho 1 con người làm chính trị hèn yếu. Ấn tượng về ông này mãi ăn sâu trong trí nhớ cho đến khi tôi cũng đọc được 1 bài báo sau này nói rằng báo chí thời đó làm bồi bút cho chính quyền Diệm Nhu đã xuyên tạc sự thật để bôi nhọ Phan Quang Đán. Bài báo nào nói đúng tôi chẳng rõ. Hỏi chuyện người già thì không gặp được người tham dự vụ xử. Họ cũng chỉ đọc báo, nghe dư luận thời đó đồn đãi và đầu óc họ cũng có thành kiến, thiên vị. Nên rốt cuộc tôi cũng chẳng hiểu đâu là sự thật. Kể lại chuyện này cũng để nhắc độc giả khi đọc và nhắc mình thận trọng trong khi xử dụng ngòi bút tường thuật. Ngay cả khi ghi chép đúng những điều nhân chứng khai trước tòa cũng vẫn có thể làm mọi người ngộ nhận vấn đề. Lý do đơn giản là người nhân chứng đó khai láo.
Dĩ nhiên đây không phải là phiên tòa ở Việt Nam hay phiên tòa Hoa Kỳ xét xử người Mỹ liên quan tới chuyện của đời sống họ. Lúc đó ngôn ngữ không bị trở ngại. Luật sư, quan tòa đều nắm vững nội vụ nên có khai láo cũng bị chất vấn tới cùng để lòi ra sự thật. Đàng này tòa chỉ hỏi có chừng mực, cho đúng thủ tục pháp lý.
Ba
Qua phiên tòa Hoa Kỳ xét xử vụ kiện của 2 bên Việt Nam với nhau cũng đưa ra 1 số vấn đề quan trọng cho cộng đồng cần lưu ý cách giải quyết.
1. Vấn đề thông dịch tại tòa, cộng đồng Việt cần cộng tác chặt chẽ với chính quyền để nâng cao chất lượng tài liệu phiên dịch Việt Anh Anh Việt và trình độ của người hành nghề thông ngôn. Đã có 1 ý nghĩ sai lầm là người Việt ở đây chỉ cần giỏi Anh văn là có thể làm công việc chuyển ngữ này. Thực tế cho thấy cũng phải trau dồi Việt ngữ thường xuyên, có 1 trình độ văn hóa Việt kha khá thì mới có thể làm tròn vai trò khó khăn và quan trọng này.
Đa số người Việt đều không hiểu rõ thể thức tuyển lựa, tiêu chuẩn của người thông ngôn ra sao ? Cơ quan nào, tổ chức nào lo việc này ? Có 1 điều nhận thấy là đa số những người Việt đang làm công tác liên quan thông dịch này không nắm vững ngôn ngữ mẹ đẻ và đã làm cho nhiều vấn đề bị ngộ nhận.
Quý vị độc giả có dịp xem đề thi bằng lái xe viết bằng tiếng Việt ở Nha Lộ vận San Jose, có nhiều chữ đọc không hiểu. Trong khi đó đọc bản tiếng Anh thì rõ ràng hơn. Tại sao vậy ? Hỏi cũng là 1 cách trả lời.
2. Vấn đề người Mỹ hay đơn giản, bỏ sót chữ lót trong tên gọi của người Việt đã từ lâu mà không thấy những nhà làm văn hóa của cộng đồng góp ý với họ.
Những danh từ riêng, tên họ không có dấu khi thông dịch tài liệu cũng làm bối rối độc giả Việt. NGUYEN AN sẽ là NGUYỄN AN, NGUYỄN ÂN, NGUYỄN ẨN, NGUYỄN ẤN hay NGUYỄN ÁN ?
Cách đặt chữ viết dựa trên lối phiên âm bằng mẫu tự La tinh đã để lại cho chúng ta và con cháu Việt sau này nhiều khó khăn. Nhưng nêu ra vấn đề ở đây là cũng mong tất cả chung tìm cách giải quyết.
3. Trong cách nói chuyện của người Việt, yếu tố thời gian chỉ nhắc lúc đầu rồi thôi, sau đó người nghe, người đọc phải ngầm hiểu sự kiện xảy ra ở thời điểm nào. Chúng ta không có phân chia thời gian rõ ràng như người Pháp, người Anh qua việc dùng động từ ở các thì khác nhau.
Câu chuyện được kể ở 9 ngày phiên tòa rất dài và thay đổi phong phú. Mặt Trận lúc mới thành lập khác với lúc Mặt Trận chia hai năm 1984, đường lối chiến lược lại thay đổi vào thập niên 90. Những nhân chứng khai trước tòa, xử dụng tiếng Việt có lúc không để ý tới thời gian, và người thông ngôn dịch thẳng ra tiếng Anh làm cho bồi thẩm đoàn khó nhận thức rõ ràng sự việc ở thời điểm nào. Rồi những nhân chứng nói bằng tiếng Anh với vốn liếng ngoại ngữ giới hạn cũng không phân biệt đâu là thì Present Perfect, Past Tense, hay Past Perfect để kể câu chuyện của quá khứ còn tiếp tục trong hiện tại, hoặc quá khứ của quá khứ. Nếu là câu chuyện thông thường thì cũng có thể suy đoán theo nội dung để hiểu, đàng này là cả 1 pho truyện dài rối rắm, thứ tự lộn xộn.
Và chính ngay nhân chứng khi xử dụng tiếng Anh cũng đã lựa chọn từ ngữ không chuẩn để diễn tả ý nghĩ trong đầu. Như thay vì trong tiếng Việt, 1 nhân chứng của Mặt Trận sẽ nói : « đó là 1 bài phê bình (hoặc chỉ trích) nghiêm túc, đứng đắn hoặc xây dựng … » nhưng ông ta dùng chữ « nice critic article … » khi nói tiếng Anh. Chữ « nice » nghĩa tổng quát là dễ thương, dùng tĩnh từ này không chính xác làm người nghe cũng lơ mơ về bài báo đó.
4. Biên bản Anh ngữ của phiên tòa vẫn được lưu trữ. Chỉ xin lưu ý người nào muốn dùng nó để tham khảo thì nhớ rằng đó là những lời khai của người Việt nói tiếng Anh, hoặc nói tiếng Việt rồi được dịch sang Anh ngữ tại chỗ. Những khó khăn trở ngại của ngôn ngữ khác biệt là điều không thể tránh được. Nguyên văn lời khai bằng tiếng Việt sẽ chẳng có ai nhớ rõ hoặc ghi lại chính xác vì không được phép ghi âm hay quay phim.
Bốn
Những âm vang của phiên tòa rồi cũng mờ nhạt dần. Mùa Giáng sinh và Tết dương lịch cũng đã qua, tôi nào có thấy yên bình trong những ngày vui của thiên hạ vì mải gấp rút viết cho xong cuốn sách này.
Đã có nghe thấy phản ứng của bên nguyên đơn qua các bài cậy đăng trên báo và buổi nói chuyện trên đài phát thanh. Luận điệu và ngôn ngữ đã đổi khác, có vẻ đàng hoàng nghiêm chỉnh hơn, tôn trọng độc giả hơn. Ít ra vai trò của truyền thông báo chí đã được thể hiện để tạo ra cuộc đối thoại nghiêm chỉnh và cảm thông giữa mọi người với nhau.
Trong những ngày tòa đang xử, tờ báo San Jose Mercury News, tờ báo Mỹ đầu tiên có đặt văn phòng thường trực đại diện ở Việt Nam để lấy tin tức nóng hổi từ quê nhà, đã có 1 bài tường thuật 1 phiên tòa cũng đồng thời đang xảy ra tại Hà nội. Bài báo viết rằng có mấy ngàn người dân kéo tới pháp đình để xem vụ xử 1 công an cướp của giết người. Trong cơn khích động, họ đã ấu đả với lực lượng công an, tạo thành 1 tin thời sự hấp dẫn lan đi khắp thế giới. Những cơn phẫn nộ đó cũng là 1 biểu hiện của tiếng nói người dân muốn đòi hỏi tinh thần thượng tôn pháp luật mà tòa án là nơi giải quyết, điều hòa những xung đột trong đời sống xã hội 1 cách tương đối công bằng, được mọi người chấp nhận.
Một trùng hợp tình cờ giữa 2 vụ xử, trong nước và bên này xứ Hoa Kỳ tự do dân chủ. Với cái nhìn xa, lạc quan về tương lai, phải chăng đây là 1 dấu hiệu tích cực ?
Những ngày đầu năm dương lịch tất bật và tháng chạp âm lịch cũng đã giữa chừng, đã nghe xôn xao trong lòng cái Tết quê hương.
Cuốn sách cũng đã xong những dòng chữ cuối. Tôi thở phào xua đi bao suy nghĩ nặng đầu.
Những ngày mưa bão Cali đã qua, trời quang đãng, những thân cành đã nhu nhú mầm lộc, thoáng niềm hy vọng của mùa xuân lâng lâng.
San Jose, Hoa Kỳ
Tháng giêng 1995
Trần Củng Sơn