Nhan đề của Chương XIII trong cuốn Corpus Hermeticum : “Bài giảng trên Núi Thần bí”. Người ta gọi là bài giảng trên Núi, cho dù chẳng có núi nào ở đây, truyền thống thường biểu hiện sự nhập định của người học trò bằng hình ảnh tượng trưng gắn với Núi Thiêng “Epi tes tou orous metabaseos ”.
Núi ở Hi Lạp là Olimpiek, ở phương đông là Sinai, Tabor, ở Iran là Albodj, ở Ấn Độ là Meru. Người ta thường gọi là Núi Thiêng của châu Âu, của Tây tạng, của da đỏ châu Mĩ.
Hai nhân vật của cuộc đối thoại: Toth và Hermes. Kẻ trước là học trò, người sau là thầy. Hermes là nhân vật đã Hi Lạp hóa của một cái tên Ai Cập cổ. Về nhân vật này chỉ cần ghi nhớ dường như thời cổ người ta hay cho rằng Hermes xuất thân từ dân tộc Seth. Là con trai thứ ba của Seth Adam và Eva, là nhánh thứ ba của nhân loại đầu tiên.
Cain là con người trần thế, là sinh linh thức tỉnh từ bên dưới đi lên, giống như sau này phái Ngộ đạo dạy: là nhà thờ thoái hóa. Nhà thờ ( ekklésia ) không được hiểu như một đám đông mà như một cộng đồng tâm linh đã được chọn lựa.
Những cách gọi lâu đời này gần như không có ngoại lệ, trong mọi trường hợp đều nói đến các hiện sinh tâm linh, ví dụ: politheia không có nghĩa là nhà nước, mà theo ngôn ngữ ngày nay: là tâm lí tập thể (kollektiv psyche).
Cain là hình ảnh tượng trưng của tâm linh bị hư hỏng của con người thế gian, con người vật chất mà làn khói, làn hơi thở mang tính chất nạn nhân hướng xuống lòng đất. Abel là con người từ trên cao đi xuống, là hình ảnh tượng trưng của nhà thờ trời. Tội ác giết người của Cain trong các thời gian cổ chỉ ra sự kiện phạm pháp của nhân loại nguyên thủy, khi con người vật chất đã chiến thắng người trời.
Seth, con trai thứ ba không đến từ trên cao hay từ lòng đất mà là một con người thật sự, không phải quỷ, cũng không phải thiên thần mà là con người, một thực thể bậc trung, hình ảnh tượng trưng của nhân loại. Trong Seth, dù vật chất cai trị, nhưng kí ức về những huyền bí lớn mang theo từ thế giới tinh thần vẫn còn sống động. Thế hệ của Seth không chất chứa những đặc tính Thần của Abel, nhưng cũng không mang nỗi đam mê máu-thịt tăm tối và thèm khát, tính chất vật chất hóa nặng nề của Cain.
Các thế hệ của Seth quay trở lại với thế giới của Adam Kadmon - những người thầy và những kẻ đi thức tỉnh của nhân loại. Các nhà tiên tri, các nhà lập pháp, các giáo chủ, các trưởng tộc. Đại diện nổi bật nhất của thế hệ Seth là Henoch, nhà tiên tri khải huyền.
Thế hệ của Seth là thế hệ lãnh đạo trên con đường Ánh Sáng “Trên con đường này bản thân dạy dỗ không quan trọng, mà là sự chuyển đổi bên trong không thể lường trước, thức tỉnh do sự dạy dỗ”. Seth một mình mang theo tri thức “Bằng hành động, hiện thực, hình ảnh tượng trưng không đếm xuể quay trở về MỘT, và bằng tri thức này cảm nhận nổi con người đánh mất gì, nếu sống ngoài MỘT”.
Không được phép hiểu những cái tên Cain, Abel, Seth như các cá nhân, con người lịch sử cá nhân càng không được phép. Những cái tên giống như ngôn từ, không ngoại lệ, đều để đánh dấu các hiện sinh huyền bí.
Manu ở người Hindu, Buddha, Bodhisattva, Tulku ở Ấn Độ và Tây Tạng, Zarathustra ở Iran, Toth và Hermes ở Hi Lạp đều từng là các hiện sinh huyền bí, không phải là cái Tôi lịch sử. Con người lịch sử đã nhân cách hóa các hiện sinh này. Các hiện sinh này nhập thể vào con người. Nhập thể của Cain, Abel, Seth không có nghĩa là các cái Tôi cá nhân hóa của những đứa con của Adam và Eva tái sinh, mà có nghĩa là hiện sinh tinh thần cổ và vĩnh cửu một lần nữa mang hình dạng trần thế trong thực thể người.
Hermes, như một người thầy của truyền thống Ai Cập vô cùng cổ xưa, xuất thân từ các thế hệ của Seth, và sau nạn hồng thủy là kẻ đã cứu tri thức cổ trước tai họa vũ trụ, là người đầu tiên giảng dạy tri thức cổ này. Từ đó đến nay Hermes trở thành hình ảnh tượng trưng của hiện sinh huyền bí như Seth: là kẻ nhập định, kẻ tiếp tục truyền bá tri thức Hermes cổ, Hermes đã nhập thể.
Trong Lời Đối Thoại, Hermes đã dẫn dắt học trò Toth lên núi Thiêng nhập định, cốt lõi của lời dạy dỗ: sự tái sinh.
Lời Đối Thoại là cấp độ duy nhất của sự nhận định. Trước quá trình quyết định này, là những bàn luận về sự cần thiết phải đắm chìm vào suy tư, sự trong sạch của đạo đức, và sau cùng người học trò cần đưa mắt nhìn vào thế giới bên trong của mình.
Đây là bước chuyển hóa ( metanoia ). Thực ra việc tự đánh giá nỗi suy tư chìm đắm, kỉ luật đạo đức ngặt nghèo không có. Tất cả chỉ tạo ra khả năng đưa con người bước qua, đi qua metathésis, chuyển đổi từ thế giới vật chất sang thế giới tinh thần.
Sự giác ngộ phụ thuộc vào sự trong sạch của các tầng chăn bao phủ thực thể người: cần nhìn thấu suốt bến mê và ảo ảnh. Cần sống trong sạch về mặt đạo đức vì thế. Porphürios nói: Thần không xuất hiện chừng nào linh hồn chưa trong sạch, hay chừng nào con người tự mình chưa xua đuổi ma quỷ đi.
Sự tiếp nhận đạo đức trong sạch, trinh nguyên, lối sống khổ hạnh khiến mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên vật chất không còn căng thẳng, và để con người nhạy cảm hơn với những kinh nghiệm siêu nhiên. Mục đích: cần sự nhạy cảm. Bởi vậy Thánh Phao-lô trong Lá thư gửi những người Do Thái đã viết: hãy gắn chặt với niềm tin.
Ngày nay người ta sử dụng nhầm lẫn một cách cơ bản từ “niềm tin”, làm đảo lộn đến tận cùng toàn bộ các tôn giáo từ hàng thế kỉ nay. Niềm tin không phải một hoạt động tri thức hay cảm xúc hoặc bất kì một hoạt động tinh thần hay linh hồn nào của con người: mà niềm tin là kinh nghiệm siêu nhiên và là sự nhạy cảm siêu nhiên.
“Niềm tin không đối chọi với tri thức - theo thánh Saint-Martin - niềm tin là một cử chỉ phép thuật, không phải là tri thức”.
Niềm tin là một tâm trạng siêu nhiên, là sự nhạy cảm, sự cởi mở và khả năng siêu nhiên giúp con người hiểu biết thêm về những thế giới siêu vật chất. Bởi vậy từ Hi Lạp pisztisz - niềm tin - không dở nhưng cũng không diễn tả được điều này.
Thánh Phao-lô từng dạy dỗ về một niềm tin mang lại phúc lạc, có liên quan đến tâm trạng siêu nhiên, không kêu gọi sự mù quáng. Niềm tin là một kinh nghiệm cao cả hơn tạo khả năng cho con người chuyển hóa, biến động, tạo ra một bước ngoặt lớn.
Bởi vậy Thánh Saint-Martin cho rằng niềm tin là phép thuật. Là bước chuyển trong tín đồ, từng bị cất giấu nhưng mang tính chất quyết định, bởi vì: “Kẻ được niềm tin chỉ đường đi phía Thượng Đế, kẻ đó cần thay đổi hoàn toàn đến tận từng tế bào vật lí”.
2.
Bước ngoặt lớn của sự nhập định: quay vào bên trong. Trí thức của sự chuẩn bị này: ấn tượng về MỘT. Kẻ học trò cần hiểu về MỘT như một hiện thực bất biến, không thể đổi thay, vĩnh cửu, không bao giờ mất đi.
Những câu lập luận về bản chất vĩnh cửu bất biến của MỘT có thể bắt gặp trong các chương của kinh Veda nói về Atman, trong Kinh Dịch nói về dương, trong Đạo Đức Kinh nói về đạo, trong kinh Kabbala nói về một hay về alef.
Khi ấn tượng về MỘT tương đối mạnh, một tia sáng mờ nhạt bắt đầu le lói trong tinh thần kẻ học trò rằng, thiên hình vạn trạng của cảm giác nhìn bằng mắt trần là một ảo thuật thật sự. Hiện thực chỉ có: MỘT. Trong giây phút ấy nó kêu lên: “ con nhìn thấy toàn bộ, con nhìn thấy bản thân trong cái vĩnh cửu”. Lúc đó Hermes lên tiếng: “Con trai ta, đấy là sự hồi sinh”.
Sự nhập định không bắt đầu bằng lập luận này, cũng như không kết thúc bằng điều đó. Bước ngoặt lớn nhất của quá trình quay vào trong là ngưỡng quyết định. Nhưng đây không phải ngưỡng đầu tiên và cũng không phải là cuối cùng.
Thực ra giờ đây sự sống mới bắt đầu. Là “Niềm tin”. Sự nhạy cảm siêu nhiên giờ đây thức tỉnh. Kẻ học trò giờ đây mới phá tung đời sống bị khóa kín và bước vào sự sống mở.
Bước đầu tiên của kĩ thuật phép mầu nhập định là kẻ học trò hướng toàn bộ sự chú ý của nó đến một điểm nằm bên ngoài thế gian (extramundális ). Có nghĩa là: nếu tri thức con người dưới tác động của sự tập trung và kỉ luật có chủ ý ngày càng tăng, trong một khoảnh khắc nó sẽ đứt rời khỏi hiện thực giác quan, và cần phải có một cái gì đó cho nó bám lấy.
Cần tới một điểm ngoài thế gian bởi vì chỉ những gì thật sự nằm ngoài thế giới giác quan mới gắn bó với con người. “Chỉ cái gì hoàn toàn khác biệt với cái Tôi mới có thể giải phóng và giải phóng nổi con người”. Ý nghĩa của khoảnh khắc này bất tử, mang tính bản chất, quyết định, và sâu sắc đối với toàn bộ số phận con người.
Bởi trong con người tri thức giải thoát này không phải một tri thức từ trước tới nay xa lạ chưa từng biết đến, mà là “một tri thức được ghi trong bầu khí quyển eter”, một tri thức đã xác định mà Hermes Trismegistos đã “viết vào bầu khí quyển eter”.
Linh hồn trong tri thức này nhận ra cội nguồn và hiện thực đích thực của bản chất mình. Nó thức tỉnh rằng: “Con người chỉ là bản sao, bản gốc chính là: Thượng Đế”. Đây là tri thức thiêng liêng, là khoa học thiêng liêng. Đây là sự bắt đầu và kết thúc, là thực chất, là ý nghĩa của mọi sự nhập định.
Đây là điều ở Ấn Độ người ta gọi là adhjátma-vidja.
Manu nói: “Kẻ nào không biết tri thức này, nó trống rỗng trong mọi hành động và tư tưởng … Chỉ kẻ nào biết tri thức này, kẻ đó có thể chỉ huy có hiệu quả quân đội, có thể kết án một cách quang minh, có thể cai trị một cách anh minh”.
Trong giây phút hiện tại chỉ có ngần này thứ cần còn lại: là kỉ luật tự thân, sự từ bỏ, chay tịnh, thực hành khổ hạnh, lời cầu nguyện, thiền định và các hoạt động chuẩn bị sự nhập định, là những thứ những kẻ theo thuật giả kim gọi là lửa; tiếng Sancrit gọi là tapas, ngọn lửa tự phủ nhận bản thân.
Cuộc sống khổ hạnh không là gì khác ngoài sự thức tỉnh của nguyên tố lửa vũ trụ. Lửa “tạo lập” các sự vật trong vũ trụ, lửa của Herakleitos và Jakob Böhme, hay đúng hơn, chính là logos - nguyên tố tạo dựng các thế gian.
Trong bản thân kẻ khổ hạnh ngọn lửa cháy bùng lên và bắt đầu tiêu hóa nó. Trong quá trình này nó hướng toàn bộ sức lực của mình vào một điểm độc lập với thế gian. Điểm này là hình ảnh cổ ban đầu ( elemental ).
Hình ảnh cổ này là nước của Thales, là apeiron của Anaximandros, là con số của Pythagoras, là trung của Khổng tử, là đạo của Lão tử. Lịch sử triết học gọi những hình ảnh cổ, điểm ngoài thế gian là lí thuyết cơ bản. Thực ra, không có lí thuyết cơ bản nào ở đây. Các hình ảnh cổ không phải là lí thuyết mà là các ý nghĩa.
Và các ý nghĩa không đứng riêng tách rời: “Mọi ý nghĩa giữ trong bản thân nó cái toàn bộ khác” (Saint-Martin). Những hình ảnh cổ ban đầu là các logos, hay như người Hindu gọi: mahavakja, những ngôn từ lớn của sự thông thái, các nguyên tử tạo hóa, hieroi logoi , như nhóm Pythagoras khẳng định. Là tư tưởng: “Lửa Thiêng”.
Không phải là những lí thuyết bởi chúng không tách rời nhau, không mang đặc tính độc lập và riêng biệt. Ý nghĩa của chúng chỉ cùng có trong “sự toàn hảo của sự vật” (pléroma), bởi sự toàn hảo của sự vật là ở nơi tất cả các ý tưởng của thế gian, nguyên tượng của tất cả vũ trụ tinh thần (intelligibilis kozmos) cùng tồn tại.
3.
Lửa khổ hạnh và sự tập trung vào một điểm ngoài thế gian dần dần tước linh hồn con người khỏi thế giới cảm giác. Bước ngoặt lớn, khi đạt đến một mức độ lỏng lẻo nào đấy, linh hồn bắt đầu đứt đoạn khỏi thiên nhiên vật chất.
Trong giây phút đó linh hồn cảm thấy thế gian vật chất mà nó tưởng là hiện thực duy nhất, nứt toác ra dưới chân. Đây là khoảnh khắc đầu tiên và khó khăn nhất của sự nhập định: trạng thái chân không. Linh hồn bị tước ra khỏi thế giới vật chất, bước ra khỏi thế giới giác quan. Ý thức không biết bấu víu vào đâu. Kinh nghiệm bên ngoài đứng lại. Đây là khoảnh khắc của sự đứt đoạn ý thức.
Giờ đây, khi sự liên tục của ý thức bị đứt, bên trong con người nhắc nhở tới một cái gì sơ khai hơn ý thức. Ở châu Âu người ta phân tích quá trình này một cách sai lầm, cần phải sửa lại điều này. Người ta cho rằng tựa như ở đây con người rơi vào một thế giới vô thức - mọi giá phải “vô thức”.
Sai lầm ở chỗ, đối diện với ý thức người ta chỉ nhắc đến cơ cấu gương của ý thức là vô thức. Ý thức là một bộ phận nằm trong thế giới vật chất. Nhưng phần lớn vô thức cũng như vậy. Vô thức là cái Tôi nằm dưới ý thức. Đây là cái Tôi samsara -luân hồi, là Kẻ Vật Vờ - chính là kẻ bằng cơ hội nhập định, người tu hành muốn thoát khỏi nó.
Khi sự liên tục của ý thức đứt đoạn không chỉ cái Tôi vô thức, mà cả cái Tôi siêu ý thức cùng đột nhập. Bên ngoài ý thức có một cái gì đó cao hơn và có một cái gì đó thấp hơn. Một cách dễ dãi có thể gọi những cái này là những cái Tôi. Cần gọi những thứ nằm dưới cái Tôi có ý thức, thân xác, ban ngày, kinh nghiệm, cá nhân là cái Tôi vô thức, cái Tôi cộng đồng; đây là cái mà tâm lí học hiện đại nhận thức được. Còn thứ ngự trị trên cái Tôi cá nhân: cái Tôi vũ trụ; đây là điều tâm lí học hiện đại không nhận biết.
Cái mà tâm lí học hiện đại không nhận biết, lại là cái mà những người thầy cổ xưa rất biết: trong khoảnh khắc chân không, trong sự nhập định cần gọi tên cái Tôi vũ trụ chứ không phải cái Tôi vô thức.
Điểm ngoài thế gian (extramundális) cần thiết vì khi chân không mở ra trong con người và đất lở dưới chân nó, nó cần bám vào một điểm tuyệt đối nằm bên ngoài thế gian. Thiếu điểm bám này sự đứt đoạn của ý thức liên tục trở thành một nỗi nguy hiểm vô hình.
Bằng kĩ thuật phép thuật, người thầy thời cổ rất biết điều này; người thầy biết một phương pháp có thể đánh thức được cái Tôi bên trong, cái Tôi siêu việt, cái Tôi mang tính chất Thần, pratjagatma, cái Tôi Thượng Đế. Nếu cái Tôi vô thức đột nhập trước, phần lớn đây sẽ là trường hợp “tử vong” của con người.
Nếu cái Tôi siêu ý thức đột nhập: đây là sự tái sinh. Nhưng cái Tôi siêu ý thức là tinh thần chủ quan. Bởi điều mà sự nhập định hướng tới, là giải phóng linh hồn con người khỏi những ràng buộc khóa kín của thiên nhiên vật chất, thoát khỏi luân hồi, khỏi nhu cầu và mở ra cho nó một sự sống mở. Đây là kaivaljam , cái MỘT cổ đã hiện thực hóa, là sự tan hòa vào trạng thái thống nhất của vũ trụ.
Chỉ cái Tôi siêu ý thức có thể bước vào sự sống phổ quát. Đây là cái Tôi mang tinh thần vũ trụ, biết tất cả, tỉnh táo, giác ngộ - là THẦN. Đây là cái Tôi không dính mắc vào những hình ảnh vật chất tăm tối và vào sự lặp lại của các hình ảnh này, không dính mắc vào sự vật vờ như cái Tôi vô thức.
Tiếp theo, ta nói đến sự phân biệt của truyền thống Hindu: bhéda-buddhi là sống trong và nhìn thấy thiên hình vạn trạng; adhéda-buddhi là vượt qua thiên hình vạn trạng để sống trong MỘT và nhìn thấy MỘT. Đây là hai dạng của trực giác tâm linh. Trước hết là Abhéda-buddhi . Tầm nhìn cổ. Hen panta einai - như Herakleitos nói.
Đây là tầm nhìn của kẻ đã nhập định, tầm nhìn của Thần, siêu việt, hiện thực, tuyệt đối, chân chính, vĩnh cửu, tỉnh táo, là tầm nhìn tâm linh. Tầm nhìn tuyệt đối tâm linh này tiếng Hi Lạp cổ gọi là theoria (nguyên lí). Đây là sự thông thái, là tầm nhìn trong sáng, tầm nhìn mang tính chất Thần. Con người nhìn thấy và đọc được những gì Hermes Trismegistos ghi trong bầu khí quyển eter. Đây là tava, là tầm nhìn sâu sắc-huyền bí, như người Tây Tạng nói.
Cái Tôi trên con đường tập trung tư tưởng hướng tới một điểm ngoài thế gian bay ra khỏi thiên nhiên vật chất và bình tĩnh đứng lại ở điểm nằm ngoài thế gian này. Từ đây, từ điểm này linh hồn soi rọi lại bản thân mình và thế gian. Nó được giải phóng. Tất cả mọi điều, cái xảy ra, xuất hiện, có, nó đều kiểm tra được. Nó có sự đo lường của mình. Có logo của mình - Bởi vì logo trong ngôn ngữ cổ Hi Lạp cũng có nghĩa là sự đo lường.
Nó đứng ngoài thế gian và không bao giờ cần quan tâm đến thế gian nữa. Nó có quan điểm độc lập, có sự đo lường chắc chắn. Đấy là là trung, là logo, là nước, là apeiron. Linh hồn tước bỏ thiên nhiên vật chất từ bản thân nó và nâng bản thân nó lên cao hơn từ vật chất.
4.
Không chỉ lập luận của Hermes Trismegistos, mà tất cả các văn bản truyền thống, khi nói về con người và xướng danh từ con người, không bao giờ, chưa một lần từng nhắc đến cái Tôi cá nhân. Con người luôn là con người, và không phải con người chung chung, tất cả mọi người, mà là con người phổ quát, homo aeternus, kẻ mà cái Tôi cá nhân chỉ là một sự xuất hiện phần nào của nó, đúng như cách thức xuất hiện nhân loại của các thời kì lịch sử, là nhiều dân tộc, nhiều chủng tộc, nhiều quốc gia.
Không được phép quên nhân tố này. Từ con người không mang nghĩa nói chung và không ngoại lệ cho tất cả mọi người, mà chỉ nói đến con người vĩnh cửu. Nhân chủng học thời cổ không nói về con người chỉ sống trong một thời gian lịch sử nhất định ( dzsiva ), mà là con người vĩnh cửu, homo aternus, luôn tồn tại.
Ghi nhớ thứ hai cũng không kém phần quan trọng. Quay vào trong không có nghĩa là trái ngược với hướng quay ra ngoài. Hình ảnh nói về một điểm nằm ngoài thế gian sẽ giải thích rõ điều này hơn. Linh hồn quay lưng lại với thế giới giác quan: từ lúc ấy nó bắt đầu nhìn xa hơn - giống hệt sự hiểu biết khiến nhận thức nhìn cao hơn sự vật và có thể nhận ra mối liên hệ của chúng - đúng như cách thức của trực giác lập tức thấy các mối liên hệ hiện ra nhanh như ánh chớp lóe.
Từ đây linh hồn bắt đầu nhìn thấy từ dưới, từ bên trên và nhìn vào trong. Bởi vì cái Tôi siêu nhân, CON NGƯỜI vĩnh cửu, linh hồn bất tử, cái Tôi mang tính chất Thần không ở bên trong, mà có ở cả bên trong, bên ngoài, bên trên. Đây là hạt nhân, là thực thể bí ẩn. Cái bên trong không phải kết cấu gương của cái bên ngoài mà là một thế gian trên cả mọi giác quan và thiên nhiên.
Nếu giờ đây một người bằng bước chuyển đổi của linh hồn bắt đầu phát hiện trong bản thân mình con người vĩnh cửu, con người vũ trụ và bắt đầu hiện thực hóa nó trong bản thân, ý thức vũ trụ trong nó chợt thức tỉnh. Ý thức này không nằm ở dưới hoặc ở trên ý thức, mà là ở “con người-thần” , là khả năng ẩn náu của “con người thượng đẳng”.
Sự thức tỉnh của ý thức không chỉ về nhận thức, mà còn cả về hành vi, ý tưởng, thần tượng, bản năng, sự trong sạch. Ý thức vũ trụ nâng mức sống người lên đúng như cách thức nó bứt con người ra khỏi thiên nhiên vật chất và chuyển đổi vào sự sống mở. Con người vật chất tự trị trong thiên nhiên, con người cá nhân trong đời sống; sau sự nhập định con người trong thế giới tinh thần là theocentrikus ; đây là theonom, con người vĩnh cửu.
Như vậy con người tiến đến gần một bước chuyển lớn mà những văn bản của Hermes đặt tên là müstérion mega. Mức độ thứ nhất của nhập định là học tập; mức độ thứ hai là: tầm nhìn, tầm nhìn của con người vĩnh cửu; mức độ thứ ba: sự quan tâm. Cái tôi cá nhân và con người vĩnh cửu tan hòa làm một.
Sau trạng thái rúng động tiêu cực chân không là -pleroma - ấn tượng tích cực của toàn hảo sự sống. Và chỉ trong kẻ ý thức vũ trụ tồn tại tỉnh táo mới đạt đến nơi đây, nơi số phận được giải quyết và giải thể - lüsis tes heimarmenes. Đây là kết quả lớn lao của sự nhập định.
Kẻ học trò sau bước đầu tiên cần lựa chọn giữa con đường của những đê mê trần thế ( pravritti-marga) và con đường thiêng ( nivritti-marga). Nó chọn con đường thiêng. Cần từ bỏ các khoái lạc. Cái Tôi trần thế cần đốt cháy trong lửa khổ hạnh, trong tapas, trong sự chối bỏ bản thân. Giờ đây con đường thiêng đã mở. Số phận dính mắc với thiên nhiên vật chất đã tan rời ra khỏi nó.
Ấn tượng này nhanh tới mức biến thành một quá trình diễn tiếp sau đó. Đây là sự tái sinh. Đây là müstérion mega, là điều lớn lao nhất của mọi huyền bí. Là sự bắt đầu cuộc đời của con người tinh thần. Đây là sự rúng động Platon từng nhắc đến, rằng đấy là sự bắt đầu của triết học: bởi vì từ thaumadzein có nghĩa là một sự thức tỉnh rúng động, không phải như khoa học thời hiện đại tin rằng, đấy đơn giản chỉ là một sự “đáng ngạc nhiên”.
Trước kẻ nhập định bỗng nhiên mở ra một cộng đồng người phổ quát mới, vượt lên trên cộng đồng vật chất tự nhiên hỗn loạn hời hợt từ ngôn ngữ, từ giống loài, từ dân tộc. Truyền thống Hermes đặt tên cho cộng đồng mới “gặp gỡ trong tinh thần của Thần” là giống loài logo. Những con người của giống loài logo này là những Toth, những Hermes, những Bodhisattva, và Tulk-hậu duệ của Seth.
Đối với họ nền tảng cộng đồng không phải là nòi giống, ngôn ngữ, dân tộc, quốc gia, huyết thống mà còn sâu sắc và nhất thiết hơn thế: ngay từ ban đầu họ đã cùng với nhau trong tinh thần của Thượng Đế, được buộc vào nhau bằng những sợi vĩnh cửu, được linh thiêng hóa trong huyền bí của logo.
Những cộng đồng người tan vỡ không chỉ trong cái chết mà trong cả thời gian. Đấy là những cộng đồng hữu hạn, không phải những sự thống nhất thật sự, chỉ là những bản sao không hoàn hảo của MỘT.
Cộng đồng lớn, cộng đồng của giống loài logo: là thể thống nhất trong tinh thần vĩnh cửu. Đây là sự tuyệt đối, là hiện thực, là sự bất tử không bao giờ có thể giải thể, là: ekklesia.
5.
Sau đây là những lời giải thích có liên quan đến các phần như: cái tên Trismegistos có liên quan đến nhân vật Hermes đầu tiên, kẻ đã cứu tri thức cổ có trước nạn hồng thủy và lần đầu tiên giảng dạy nó cho nhân loại sau nạn hồng thủy như thế nào. Nhưng, đồng thời Trismegistos cũng nói về mức độ nhập định, và là một trong những mức độ nhập định cao nhất.
Thiên nhiên nguyên sơ (primer) - “ thứ vật chất vượt quá các giác quan” là thiên nhiên chưa bị vật chất hóa. Còn cách gọi: Con của Thượng Đế rất có thể bắt nguồn từ gnostikus (phái Ngộ đạo). Ở phương Đông đấy là Con trai của Trời, thường được gọi là con trai của Vũ trụ.
“Sự dạy dỗ của loài giống này không có, nhưng nếu nó muốn, có thể làm nhớ lại kí ức của Thần” - đây đang nói về loài giống logo - Không thể giảng dạy logo. Nhập định, không phải sự dạy dỗ. Cái con người có thể học được chỉ là kiến thức vật chất, tiếng Sancrit gọi là vidnya, tiếng Tây Tạng gọi là rtogspa. Nhập định là sự thức tỉnh; sự tỉnh táo tiếng Sancrit là vidja, tiếng Tây Tạng là rtogpas.
Tri thức có thể chắt lọc từ sách, có thể sở hữu hóa cạnh bàn học. Còn sự tỉnh táo chỉ có thể thu thập được bằng sự giúp đỡ của người thầy - Hermes, guru - trên con đường của những quá trình khổ hạnh khó khăn và nguy hiểm.
“Tôi biến thành một cơ thể không bao giờ có thể chết”. Cơ thể bất tử này ở Ai Cập người ta gọi là sáhu. Theo kinh Kabbala trong cơ thể con người giữa xương sống có một đốt xương nhỏ bất tử, đây là mầm của cơ thể bất tử, cơ thể lúc phục sinh hồi sinh từ đây.
“Mơ khi ngủ nhưng không có giấc mộng” chỉ dẫn đến trạng thái cao hơn của ý thức. Đây là cái mà sau này nhiều lần người ta gọi là ekstázis . Con người giống như đang ngủ, bởi vì đối với thế gian vật chất nó đã bị mất, nhưng nó không mơ ngủ, mà: thấy.
Smriti (kí ức) trong kinh Veda có ba guna: tamas, radzsasz và szattva, thực ra là ba mức độ của nhập định. Khi con người chìm vào vật chất tối tăm đậm đặc tamas ngự trị nó; khi lửa trong nó tắt, radzsasz mê muội cháy; khi con người bước qua những cấp độ cao nhất của tâm linh, lúc đó nó ở trạng thái szattva.
Các mức độ của phái Pythagoras: trước tiên là sự chuẩn bị - tinh thần hóa tư duy; bước thứ hai thanh lọc - đây là kỉ luật đạo đức, tapas, khổ hạnh; bước thứ ba sự hoàn hảo - đây đã là mức độ tâm linh; bước thứ tư theophania - hiện thực hóa các sức mạnh của Thần: sự hoàn thành.
Quá trình quay vào trong được giải nghĩa như sau: những nỗ lực cá nhân, danh vọng cá nhân, nếu biểu hiện trong học tập, trong sáng tạo, trong hành động, luôn chỉ ở mức độ con người vật chất, cùng lắm là đi trước, vượt lên một số người. Các nghệ sĩ, những kẻ cai trị nhà nước, các nhà tư tưởng thể hiện hoạt động của mình, và bằng điều này bỏ lại sau lưng những kẻ khác, như vậy người ta thường bảo, họ vượt lên trước thời đại của mình. Nhưng những thế hệ tiếp theo bao giờ cũng đuổi kịp họ. Tại sao? Bởi những hoạt động mang tính chất cá nhân ( individuális ) không bao giờ có thể nâng cao lên quá mức độ vật chất và lịch sử.
Quá trình quay vào trong, nói đúng hơn: hướng quay về phía thế giới siêu nhiên không song song, mà vuông góc với con đường lịch sử. Đây là nỗ lực mang tính vũ trụ, phổ quát, có nghĩa là sự nâng cao lên theo chiều dọc. Những con người của giống loài logo là các thực thể siêu lịch sử, những kẻ từ thời gian đột phá theo chiều dọc và sống trong sự thống nhất của thế giới siêu nhiên. Đây là ekklesia.
Hình ảnh mười hai đao phủ của Corpus Hermeticum (mười hai chướng ngại của sự nhập định là: sự vô thức, sự tuyệt vọng, sự vô độ, dục vọng, bất công, tham sắc, lừa dối, ghen tị, giả dối, giận giữ, vội vã, độc ác) giới thiệu sự hoạt động phức tạp và khó khăn bên trong của quá trình nhập định.
Tính chất cá nhân không mang ý nghĩa gì khác ngoài ý nghĩa sau đây: con người cần nhiều thời gian, cần nhiều đến mức thời gian không bao giờ đủ, luôn hết “trước thời hạn” của nó. Sự nhập định kéo dài thời gian, cho linh hồn thấy nó vĩnh cửu và bất tử. Từ khoảnh khắc nhận thức được điều này linh hồn thôi chết ngạt trong sự vội vã tuyệt vọng để đạt đến chính bản thân mình. Nó không bao giờ rơi vào trạng thái khủng khiếp vội vã ở một vị trí nữa. Nó biết rằng nó không chậm trễ và không thể chậm trễ.
Số Mười Hai không là gì khác ngoài hình ảnh tượng trưng của đời sống tồn tại trong thế gian vật chất: Zodiakus (hoàng đạo). Còn số Mười là thế giới siêu nhiên: ở Iran có mười amsaspand, ở Judea có mười sefiroth ; hệ thống con số của Pythagoras là mười.
Ở Ai Cập Mười là hình ảnh tượng trưng của cái toàn bộ. Số Mười Hai và Mười liên quan đến nhau như thế gian (thiên nhiên vật chất) và tinh thần (abszolutum). Ở đây là vấn đề huyền bí học của cầu phương hình tròn.
6.
Poimandres - mục đồng của Con người - là một luận điểm có ý nghĩa nhất của truyền thống Hermes. Ta cần giải thích cặn kẽ phần XXI. Trong văn bản Hermes này nói về các bậc sinh thành trong mối quan hệ với sự tái sinh.
Trong thời cổ, quan điểm nhân chủng học mang ý nghĩa phổ quát. Ý nghĩa của điều này diễn đạt bằng ngôn ngữ ngày nay: chỉ coi thực thể bị rơi vào u mê là cái Tôi cá nhân. Kẻ nào mang trong mình chút ít sự tỉnh táo le lói, kẻ đó đã có thể hiểu chút ít về các phạm trù phổ quát, như một lời tuyên bố nào đấy của tinh thần vĩnh cửu.
Cái Tôi cá nhân không phải là lời tuyên bố của bất kì tinh thần nào, bất kì logo nào, bất kì hiện thực cổ nào mà chỉ là hiện tượng luân hồi (samsara) chỉ là một kẻ vật vờ trong sự hỗn loạn của thế gian thiên hình vạn trạng. Cần tước bỏ cái Tôi cá nhân, biến nó thành phổ quát để con người trở thành thực thể tinh thần.
Đẳng cấp thời cổ không là gì khác ngoài các lĩnh vực của tinh thần vĩnh cửu. Sự nhập định vào đẳng cấp ý thức hóa điều này trong các thành viên của các đẳng cấp. Đẳng cấp tinh thần-giáo chủ, đẳng cấp chiến binh-cai trị, đẳng cấp kinh tế từng đã có sự nhập định riêng của mình nhưng tất cả đều dự phần vào sự nhập định phổ quát - ở Ấn Độ trong lời dạy dỗ của kinh Veda, ở Judea trong sự dạy dỗ của Kinh Thánh và kinh Kabbala, ở Ai Cập trong sự nhập định Hermes.
Tại Hi Lạp cổ, Orpheus và Pythagoras từng thí nghiệm phổ thông hóa một quá trình nhập định lớn thời cổ. Các nguyên lí triết học đầu tiên chính là tiếng vang vọng của nỗ lực này, mà Platon là triết gia cuối cùng của nó; nhưng Platon không hiểu rõ mình muốn gì, thậm chí cần và muốn cái gì?
Cần phân biệt sự nhập định trong đẳng cấp, trong nghề nghiệp, trong điều hành công việc khác với cái được đặt tên là Seth, là giống loài logo, là Hermes, là Tulku, là Bodhiszattva. Đây là sự thức tỉnh của chủ thể tâm linh. Chủ thể tâm linh cần một quan hệ mật thiết hoàn toàn với một chủ thể tâm linh khác.
Trong thời cổ cũng chưa từng có lời tuyên bố mang tính chất cá nhân. Tất cả hiện tượng tinh thần đều mang tính phổ quát, nghĩa là trong sự thống nhất siêu nhiên, chủ thể tâm linh cần gặp gỡ với một chủ thể khác, sự phổ quát mang ý nghĩa như vậy.
Kẻ học trò không coi thầy, không sống cùng và kinh nghiệm về thầy như với một cái Tôi cá thể, mà như với guru, một người lãnh đạo, Hermes, như với một lời tuyên bố tuyệt đối của tinh thần phổ quát. Còn Hermes, người lãnh đạo không là người dạy dỗ mà - điều này rất quan trọng: là người cha sinh thành - là người trưng bản chất chân chính của học trò ra thế gian.
Sự truyền bá kiến thức cho học trò của Socrates mang một khía cạnh ánh sáng hoàn toàn khác biệt. Socrates là nhân vật đã nhập định, một Hermes, người đã giúp học trò mở rộng linh hồn của họ tuy ông hoàn toàn không có ý thức về điều này. Quả khá là đặc biệt. Nhưng nếu ai quan tâm tới các văn bản truyền thống người đó cần phải làm quen với một thứ ngôn ngữ nhanh, nhạy cảm hơn ngôn ngữ ngày nay rất nhiều.
Ở Ấn Độ, Iran, Tây Tạng guru là cha-mẹ. Người học trò khi bước qua ngưỡng cửa lớn nhất của tâm linh: họ chết đi và tái sinh. Chết đi, có nghĩa là bước ra khỏi hàng ngũ thiên nhiên. Cha không bao giờ còn là cha, mẹ không bao giờ còn là mẹ, bởi vì nó không bao giờ còn là thực thể, là đứa con của cha-mẹ thiên nhiên nữa.
Cha của nó giờ đây là guru, là người lãnh đạo tinh thần. Là Hermes. Mẹ của nó trong các huyền bí tâm linh khác là Sophia. Bởi vậy khi tái sinh nếu là con trai của Sophia: sinh ra từ Trinh Nữ. Nếu là con trai của Isis: sinh ra từ Thánh Mẫu.
Mức độ Isis trong các hàng nhập định là một trong những mức độ cao nhất. Phù hợp với điểm này ở Hi Lạp cổ có mức độ Demeter Eleusis. Ở Ấn Độ có mẹ Maja hoặc Sakti. Ở Tây Tạng có nữ thần bảo trợ của các nhà khổ hạnh. Linh hồn đã nhập định sẽ là con gái của Thánh Mẫu Magna Mater - từ Hi Lạp gọi là: Perszephone.
Là con gái bởi vì trong thời trung cổ muộn mằn sau này, người ta gọi linh hồn là cô dâu: là kẻ đợi chờ và khao khát, là người yêu của chú rể trời. Đây là những hình ảnh cực kì sống động nảy sinh trực tiếp từ ấn tượng của sự nhập định.
Khi người học trò tái sinh từ đấng sinh thành Trời và tinh thần, nó nhận lấy một tên mới. Ý nghĩa của việc đặt tên đặc biệt lớn. Bởi vì đặt tên cho một người nghĩa là đặt lên nó một quyền lực. Việc xướng danh mang ý nghĩa đánh thức. Tôi gọi tên một người, tôi đánh thức người ấy và người tôi đặt tên, người ấy là của tôi. “Tôi ngự bên trên nó bởi cái tên”.
Sự lựa chọn tên ở các vị vua chúa và các giáo phái không hề tùy tiện. Lí do bởi tên con người có mối quan hệ với tinh thần vũ trụ, từ bỏ cái Tôi cá nhân và mong muốn gánh vác, tiếp tục đại diện và gìn giữ tinh thần phổ quát trong cái tên. Bởi vậy các giáo phái thường lấy những tên các thánh. Bởi vậy vua chúa thường lấy tên những kẻ trị vì trước đó, vì muốn cai trị tiếp trong tinh thần của họ.
Kẻ nhập định thẩm thấu cái Tôi cá nhân, cải hóa, nâng lên và thay đổi cái Tôi cá nhân. Truyền thống gọi kẻ chưa nhập định là con trai của đàn bà, gọi kẻ đã nhập định là con của Thượng Đế hoặc con của Trời.
Trái ngược với sự sinh ra tự nhiên người ta gọi tái sinh cũng là sự sinh ra từ Thượng Đế. Theo Thánh Phao-lô tái sinh là sự khác biệt giữa con người thiên nhiên và người Trời. Sự tái sinh thực ra chính là sự ra đời: ousiodes genesis. Thánh Phao-lô tuyên bố: “Ta nói cho các ngươi biết, kẻ không sinh ra từ bên trên kẻ đó sẽ không nhìn thấy vương quốc của Thượng Đế”.
Điều này mang lại ánh sáng mới cho văn bản Hermes. Truyền thống Hermes, tri thức của các thế hệ Seth là nhận thức về sự bí ẩn khi con người sinh ra từ bên trên. Lời đối thoại trên Núi huyền bí cũng dạy như vậy.