Minh Triết Thiêng Liêng Tập 2

Lượt đọc: 210 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V. Thiên nhiên và cõi âm
1.

Truyền thống cổ dạy rằng con người ở mức độ nhập định cao có thể thu được những kiến thức tạo khả năng tiếp xúc với thế giới của những người chết. Ở Ấn Độ mức độ này gọi là pradzsapati , ở Iran gọi là amsaspand , ở Judea là sefiroth . Tên gọi này ở Ai Cập không còn, nhưng chắc chắn mức độ này từng có ở đây, giống như trong truyền thống Viễn Đông, và có liên quan đến số mười của dãy số. Pythagoras đã hếp nhận tri thức về mức độ nhập định cao, và sự dạy dỗ về những điều này của Pythagoras là bí truyền huyền học.

Sự sống mở-theo truyền thống - cần thiết và phải gìn giữ: đấy là ý nghĩa trong việc tiếp xúc với người đã mất ở thế giới bên kia. Thế giới bên kia là sự bổ sung những gì đã trải qua của đời sống trong thiên nhiên vật chất. Sự sống chỉ được gọi là sự sống mở nếu quan hệ giữa hai thế giới được duy trì.

Và nếu chỉ kẻ nhập định có khả năng giữ gìn mối quan hệ với thế giới bên kia trong một tri thức cao, thì sự tiếp xúc với thế giới này lại được đời thường bảo hộ trong vô vàn kiểu cách.

Ở La Mã dưới thời các vua chúa, các gánh xiếc, các cuộc đua ngựa, các bể tắm, caena romana , như Schuler viết, là các nghi thức mà ý nghĩa của chúng là sự bảo tồn cách thức mở ra của sự sống. Nhưng với các lares ở Judea, các patriarka (những kẻ cai trị) ở Iran, các fravasi ở Ấn Độ, các pitri ở Trung Quốc, các vị tiền bối ở Mexico và Peru, ý nghĩa của sự thành kính với người chết cũng y như vậy. Ý nghĩa về nền văn hóa của người đã khuất ở mọi dân tộc cổ đều giống như nhau.

Ở Ai Cập có vẻ như đời sống tự nhiên hoàn toàn mờ nhạt bên cạnh đời sống của người chết: trọng tâm của sự sống không phải ở đây mà ở bên kia.

Quan hệ với thế giới bên kia cần phải giữ gìn để đời sống đừng bị khóa kín, để các sức mạnh từ đây và từ đó phản chiếu tự do, hay nói cách khác để người sống với người chết, để các vị tiền bối với các thế hệ sau, để cha và con đừng đứt đoạn với nhau.

Để: người của thế giới bên kia có thể truyền tri thức và sức mạnh của họ vào những quy định của người sống? Không. Đây chỉ là tầm quan trọng thứ yếu.

Con người lịch sử chỉ mơ hồ cảm nhận về sự sống mở, họ khó tưởng tượng hướng mở của sự sống cần giữ gìn đối với thời cổ nghĩa là gì. Họ khó hình dung nổi bởi mức độ rõ ràng, tỉnh táo, tinh thần hóa cao của đời sống cổ họ không hề biết. Bí ẩn của đời sống cổ là: hướng mở của nó không gì có thể so sánh nổi. Và đời sống mở chỉ có nghĩa như sau: giữ gìn mối quan hệ với tinh thần của những người chết.

Về mức độ pradzsapati trước mắt chỉ có thể nói như sau: thời cổ sự hóa thân ( emanacio ) và đời sống nhân tạo ( kreatura ) được phân biệt cẩn thận và rõ ràng: đấy là một thực thể chiếu rọi và một thực thể được tạo ra.

Thực thể đầu là sự chiếu rọi của Thượng Đế Vĩ Đại, công cụ giúp đỡ của sự tạo dựng. Truyền thống biết đến mười hóa thân; sự hóa vào thân xác của mười thiên thần chính. Hình ảnh tượng trưng của thiên thần chính là mười con số. Ngoài mười thực thể này ra mọi thực thể, sự việc, sự vật khác không còn là sự chiếu rọi nữa mà là sự tạo dựng. Không trực tiếp quan hệ với Thượng Đế Vĩ Đại nữa mà chỉ còn quan hệ gián tiếp. Pradzsapati, amsaspand, sefiroth là các mức độ của sự nhập định, khi linh hồn con người cởi bỏ bản chất tạo dựng, quay lại đứng trước sự trở về với Tinh Thần Tạo Hóa trực tiếp.

Có mười pradzsapati . Trong truyền thống Iran và Do Thái, muộn hơn là trong các văn bản gnostic có thể tìm thấy những cái tên khác nhau của mười con số.

Kẻ nào bước vào vòng của sự sống, biết thể hiện toàn bộ bản chất của mình để các quy định tinh thần chỉ đạo và tạo ra thế gian, kẻ tách mình ra khỏi cái Tôi riêng biệt, từ bỏ mọi đam mê, không bao giờ còn ước vọng, mong muốn, mục đích cá nhân nữa, kẻ đó không bao giờ còn được coi là một linh hồn đã được tạo dựng. Ngược lại, kẻ đó biến thành tia chiếu rọi, thành công cụ trực tiếp: đấy là các mức độ pradzsapati, amsaspand, sefiroth .

Mối quan hệ với người chết do pradzsapati giữ gìn và chỉ nó được phép có mối quan hệ này. Chỉ linh hồn đã thánh hóa và đã tự thức tỉnh mới được phép sử dụng vị trí này của đời sống. Đây là mahamudra , còn gọi là Ghế Thượng Đẳng, là Hành Vi Vĩ Đại, là vị trí cai trị thế gian.

Bởi vì pradzsapati sở hữu một kiến thức mà từ thế giới người chết có thể dâng lên những sức mạnh nó muốn. Pradzsapati vì vậy sát cánh cùng vua chúa với các lời khuyên, trong cộng đồng điều khiển sự giáo dục, sự phê phán, điều hành tôn giáo và điều hành nhà nước.

Pradzsapati giữ gìn mối quan hệ hợp luật với thế giới người chết. Nhưng một số kẻ khác cũng có thể học kiến thức này và có thể tiếp xúc với thế giới bên kia, dù bất hợp pháp. Đấy là các phù thủy, các đạo sĩ “đen” (Hắc đạo sĩ), những kẻ một cách đen tối, không hề thức tỉnh, chỉ sở hữu hóa quá trình kĩ thuật, và thường xuyên sử dụng các sức mạnh của thế giới bên kia cho mục đích riêng của họ.

Cần hiểu trước hết về pradzsapati : cần phân biệt sự tỉnh táo dương tính ( solaris ) và âm tính ( lunaris ).

Sự tỉnh táo âm tính là sự nhạy cảm mạnh mẽ trong thế giới mê tín: trong một vòng mà cả thực thể, sức mạnh, vật thể, sự liên hệ, bản năng đều không có tỉ lệ, mức độ, hình dạng xác định. Sự nhạy cảm âm tính có thể nhìn thấy và nhận thức sự vật ngoài vòng ý nghĩa, để hiểu bằng ấn tượng, bằng điềm báo. Sự chắc chắn của kinh nghiệm trong sự mơ hồ lấp lửng mang tính chất âm tính giống như sự rờ rẫm của người mù.

Còn sự tỉnh táo dương tính là sự tỉnh táo trực giác trí tuệ, là thứ mở, có mối quan hệ, nhìn thấu, dẫn dắt, nắm lấy, tạo liên hệ, chiếu sáng thông qua và nhìn đến tận đáy sự vật. Nó sắc sảo, nhanh như tên bay, lóe lên, tuyệt đối, sáng và rực rỡ.

Giữa âm tính và dương tính, sự tỉnh táo-Mặt Trăng và sự tỉnh táo-Mặt Trời có một khác biệt quan trọng nhất: chỉ dương tính có LOGO, còn âm tính thì không.

Bởi vậy sự tỉnh táo dương tính có logic còn âm tính thì không. Dương tính thấu suốt rõ ràng, biết lí do của mọi bước tiếp diễn, có lí tính, phù hợp, tuyệt đối thấu suốt và có trí tuệ. Điều này đi kèm với một nội dung tinh thần có thể diễn đạt, đặt tên, tuyên bố một cách dễ dàng. Đây là cái có logic. Còn những hình ảnh, các mối liên hệ của sự tỉnh táo âm tính mờ mịt, bí ẩn, mê tín, khó hiểu, rất khó khăn để truyền tải và không bao giờ có mối liên hệ với tri thức.

Mức độ pradzsapati là trạng thái hiện thực hóa sự đồng nhất của tỉnh táo dương tính và âm tính. Với các khả năng bí ẩn, mức độ này khám phá, thông báo, cảm nhận, quờ quạng, nhận biết và đánh hơi; với tri thức, mức độ này khơi đào, thấy và thống trị.

Cảm nhận và logic cùng một lúc diễn ra: tiếp cận các giá trị từ vòng tròn vô hình của sự sống bằng sự nhẹ nhõm của giấc mơ thu thập ở đấy - trong sự phân vân - cảm giác như ánh trăng mơ hồ nhưng cần thiết; nhưng không gì thống trị được nó, quyến rũ được nó, làm lu mờ, thôi miên được nó, bởi mức độ pradzsapati thu các kinh nghiệm vào vòng trí huệ rực rỡ và trưng ra bằng tri thức sáng rạng.

Chỉ mức độ này của sự nhập định đủ khả năng duy trì mối quan hệ với thế giới của những người chết một cách vô tội: bản năng mê tín và nhận thức sáng tỏ cùng lúc với nhau, là sự hợp nhất những nguyên tử của thế giới Mặt Trăng và Mặt Trời.

Bởi vậy ở Ai Cập người ta gọi giáo chủ là con của Mặt Trời và Mặt Trăng. Hình ảnh tượng trưng của Mặt Trời là con mắt phải, của Mặt Trăng là con mắt trái: con trai của Mặt Trời và Mặt Trăng ở giữa hai mắt, trên mũi, dưới trán linh hồn bất tử ẩn náu.

Ở Ai Cập giữa trán các linh mục đã đạt tới mức nhập định cao đều đeo một con rắn bằng vàng: hình ảnh tượng trưng của sự tỉnh táo.

Đây là pradzsapati .

2.

Trong thời cổ tất cả các dân tộc thấy vương quốc của thế giới bên kia một cách gần như giống nhau. Các truyền thống đều chọn lựa hai vòng tròn mà kinh Veda gọi là con đường của các vị thần và con đường của các vị tiền bối.

Con đường của các thần là sự thâm nhập thẳng tắp của linh hồn đã nhập định, đã thức tỉnh vào sự sống vĩnh cửu bất tử, nơi nó hợp nhất với Brahman , hay đúng hơn, biến thành Átman . Linh hồn này đã thức tỉnh, một lần và mãi mãi ra khỏi vòng quay, bởi đã trở về nhà, về sự sống bất tử trên cùng. Đây là Dévajana .

Còn linh hồn đi trên con đường của các vị tiền bối, vẫn tiếp tục duy trì mối quan hệ với thiên nhiên vật chất. Đây là pitrijana . Con đường của các vị tiền bối. Vị trí của họ ở thế giới bên kia là Mặt Trăng, trong truyền thống Do Thái là Seol , ở Mexico là Tlalokan , ở Ai Cập là Amduat , trong truyền thống Hi Lạp cổ là Hades . Những kẻ đã chuyển dời sống ở đây, trong sự tỉnh táo âm tính, trong sự sống thoái hóa, trong trạng thái run rẩy, như “các mùi hương” - nói theo cách của Herakleitos.

Sau khi ý thức ngủ yên, linh hồn còn ở trong thân xác một thời gian, đợi thân khí nhẹ nhõm đủ điều kiện ra đi sang thế giới bên kia, chỉ lúc đó linh hồn rời bỏ thân xác. Theo truyền thống Heber và Ai Cập thời gian này là ba hoặc ba ngày rưỡi. Hình ảnh tượng trưng của linh hồn thời gian này là cái đầu hai khuôn mặt.

Khi thân-khí phát triển, linh hồn chuyển dời đến re-staun , bước qua ranh giới giữa sáng và tối, và ra khỏi ban ngày. Linh hồn đi đến devajana nhẹ nhõm, bay lên thẳng. Trong đời sống trần thế, khi nhập định, người ta làm thức tỉnh sự tỉnh táo của nó. Nó làm được điều lớn nhất mà linh hồn có thể làm được: tỉnh táo bước qua ngưỡng của cái chết.

“Không quên mất tên của mình” - như người Ai Cập thường nói. Bởi trong bóng tối, kẻ sống ở đó không có tên. Theo Tử thư Ai Cập : “Không rời khỏi đây như một kẻ đã chết, mà như một kẻ đang sống”. Ở Tây tạng bởi thế Latma ngồi cạnh kẻ hấp hối và đọc Tử thư Tây Tạng cho họ nghe để duy trì sự tình táo trong họ, để “rời bỏ như một kẻ đang sống”, để đừng rơi xuống sự suy sụp, và trở thành con mồi của bóng tối.

Còn linh hồn đến với pitrijana , với kẻ sống một đời sống trần thế mê muội, sự nhập định bị cá nhân hóa một cách không hoàn chỉnh, bị các đam mê quyến rũ, nhầm lẫn mình một cách đui mù với cái Tôi kinh nghiệm, ở ngưỡng của cái chết, nó suy sụp: “quên mất tên của mình”.

Nó rơi vào bóng tối. Cư dân sống trong bóng tối không có tên. Ở ngưỡng, các quái vật tấn công họ. Sách tử thư của Mexico nói trước hết là rắn rết và cá sấu tấn công. Bão tố ập đến. Nóng bức ngạt thở tiếp đón. Linh hồn khủng khiếp chạy trốn, nhưng nó nhận ra rằng chân nó đang quay về. Ở Ai Cập ma quỷ tấn công và đớp tứ chi của kẻ chuyển dời.

Còn kẻ trong đời sống trần thế từng tốt bụng, cao cả, tham dự, vô tư, quái vật không hành hạ: nó rơi vào vương quốc của hạnh phúc. Quan tòa của thế giới bên kia cân trái tim của nó, như người Ai Cập thường nói, sau đó nó tới Thiên đường Phía Tây Vĩ đại. Đây là Sekhethetepet . Theo người Hi Lạp đây là khu vườn của Hesperis , theo người Tây Tạng đây là csenrezi . Vương quốc này tất cả mọi truyền thống đều cho rằng ở phía tây.

Linh hồn thưởng thức hoa trái của các hành động tốt của mình. Nhưng niềm hạnh phúc thiên đường không vô hạn và vô tận. Linh hồn này chưa giải phóng khỏi ảo ảnh. Nó vẫn cần một lần nữa quay trở lại vòng quay của đời sống. Khi vốn của các hành động tốt đã hết, nó cần phải tham dự vào vòng quay của thế gian.

Hành động tốt, sự cao cả, sự chia sẻ, sự bố thí, đời sống tôn giáo không giải phóng nó; duy nhất chỉ: sự tỉnh táo; Nhận thức rằng, hạt nhân của linh hồn người là linh hồn vĩnh cửu và bất tử - nó cởi bỏ ảo ảnh, vĩnh viễn phục hồi từ mọi nhầm lẫn. Bất kì trạng thái thiên đường nào cũng không phải là cái cuối cùng. Linh hồn không hề được giải phóng, ảo ảnh từ mọi nhiễu nhương, cái là đời sống, một lần nữa hút nó quay lại.

Còn những kẻ vô trách nhiệm, ích kỉ, độc ác, đam mê, ác ý, những kẻ tội ác chất chồng tội ác, rơi xuống địa ngục. Địa ngục là mức độ thấp nhất của thế giới trên thế giới tự nhiên; là thứ đứng gần thế giới vật chất nhất và trực tiếp có quan hệ.

Những linh hồn đầy rẫy các liên quan vật chất sống ở đây. Trong chúng vẫn đầy dục vọng, đam mê, luôn chực xông vào thế giới tự nhiên, nếu có thể, chúng đột nhập và đi đây đó, chỗ nào chúng có thể ăn uống thoải mái, cất giấu tài sản, nơi nhà là chỗ chúng thực hành những hành động đê tiện.

Phần lớn những thực thể thế giới bên kia như vậy, trong vòng quay thấp nhất, các linh hồn sống trong Hades . Con người lịch sử sống với niềm tin, đấy là những linh hồn có tên: các tiền bối truyền thống. Làm gì có chuyện đó!

Con người trong thời gian lịch sử Tuôn mắc sai lầm sau đây khi muốn cố gắng tìm hiểu truyền thống: trong mọi trường hợp họ đều dùng cái Tôi cá nhân làm nền tảng. Trong khi đó nền tảng của tư duy cổ là cái Tôi phổ quát. Không phải dzsiva , mà là átma , không phải cá nhân con người kinh nghiệm, mà là con người vĩnh cửu, homo aeternus . Khi truyền thống nói đến các vị tiền bối, không nói về từng vị tiền bối của con người cá nhân, mà muốn nói đến những người cha và những người mẹ của con người phổ quát.

Những mẩu vụn của tri thức pradzsapati nằm trong tác phẩm Agroucsada Parikcsai của Do Thái. Theo tri thức này: Pitrik là những linh hồn của các bậc tiền bối, những người sống ngoài vòng tự nhiên vật chất, có mối quan hệ vô hình nhưng thường xuyên với con người và họ điều khiển những sức mạnh của thế giới bên kia hướng về phía trái đất.

Trong buổi ban đầu của thời gian các pitrik nổi dậy chống lại Tạo Hóa, đánh mất tính hoàn hảo của sự sống. Một phần của các linh hồn đó đến nay thông qua đời sống trần thế quay lại với sự sống; một phần khác sống đời sống trần thế, nhưng không được giải thoát; những phần linh hồn này chờ đợi một đời sống mới nếu năm của thế giới kết thúc, và một thế giới mới xuất hiện .

Nhưng một phần khác của các linh hồn chưa được sinh ra, bởi không rơi vào vật chất. Hoặc giữa bọn họ một vài người có thể xuất hiện trong hình dạng con người trần thế, như một vị vua lớn, một thủ một nhà tiên tri hoặc một nhà thông thái. Nhưng phần lớn các linh hồn này chưa mang trong mình số phận trần thế. Những linh hồn này là những người giữ gìn đời sống của nhân loại, là những người cha của nhân loại” .

Truyền thống cổ đặt tên các linh hồn này là pitrik , đây là những người đánh thức các tư tưởng cao cả trong con người, những người điều khiển số phận của các dân tộc, những người bản năng hóa nguồn cảm hứng tiên tri.

Tri thức pradzsapati cùng với sự thống nhất của thức tỉnh âm tính và dương tính các pitrik biết phân biệt sự khác nhau giữa nguồn cảm hứng của CHA và bản năng thực thể tầm thường của thế giới bên kia. Đây là điều mà các phù thủy và các đạo sĩ “đen” không làm được. Chính vì phù thủy chỉ là sự thức tỉnh âm tính nên phù thủy không phải là kẻ biết phân biệt.

Các bậc tiền bối không phải là tiền bối của cái Tôi cá nhân con người, mà là những người cha và những người bảo hộ của nhân loại, là những linh hồn cao và trong sạch cùng tri thức sâu sắc không gì đo nổi.

Pradzsapati tạo dựng quan hệ với tinh thần của CHA, bảo vệ và duy trì sự tiếp xúc này. Chính vì vậy nhân loại đứng dưới sự bảo trợ của các bậc tiền bối tốt đẹp. Bởi vì nếu con người bị đứt đoạn với tinh thần của các vị tiền bối, sẽ rơi vào sự thống trị của các sức mạnh ma quỷ tồn tại trong vật chất. Đấy là phần bắt đầu của thời kì lịch sử.

3.

Quá trình tạo dựng quan hệ với thế giới bên kia ở một vài dân tộc nguyên thủy vẫn được gìn giữ. Dân tộc nguyên thủy - một tinh thần cao bị lạc hậu trở lại, một mảnh vỡ, như dân da đỏ hoặc da đen, Malaj hoặc Papua - vẫn duy trì nghi lễ mở sự sống trong một hình thức méo mó.

Phần lớn các nghi lễ này đầy rẫy các yếu tố phù thủy, gần với pháp thuật đen hơn là các tiết điệu pradzsapati . Chỉ cần nêu lên hai nghi lễ pháp thuật như vậy là đủ: một do bộ lạc Bắc Mĩ, một do dân du mục phía đông Tây Tạng giữ gìn.

Ở bộ lạc da đỏ chân đen Bắc Mĩ nếu cần một quyết định quan trọng cho cả bộ lạc, lúc đó thầy phù thủy sẽ đi hỏi các linh hồn. Nghi lễ này tổ chức công khai, cả làng tham dự. Giữa lều những cái cọc vót nhọn cao quá đầu người rào quanh một vị trí nhỏ vài ba mét.

Thầy phù thủy bước vào khi toàn bộ bộ lạc đã có mặt. Thầy phù thủy bị trói chặt đến mức không thể động đậy bằng những cái thắt lưng, rồi bị khâu vào một mảnh da thú, đặt nằm xuống đất ngoài chỗ đóng cọc. Lúc đó người ta cất tiếng hát, đệm theo là tiếng còi và chuông. Thầy phù thủy bị khâu và bị buộc bắt đầu gọi hồn, lớn giọng và ngày càng gấp gáp. Tiếng hát và nhạc ngày càng mạnh hơn.

Bỗng thầy phù thủy nhảy dựng lên. Không ai hiểu bằng cách nào. Lúc đầu thầy phù thủy nhảy những bước ngắn bên ngoài khu vực đóng cọc, các bước nhảy ngày càng rộng hơn. Thật vô lí nhưng đúng như thế. Giữa chừng thầy phù thủy tiếp tục gọi hồn bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu đối với bộ lạc. Những người già nói đấy là ngôn ngữ cổ, một vài từ họ hiểu vì nhớ đến ngôn ngữ của cha mẹ họ.

Điệu nhảy ngày càng man dại, sau cùng thầy phù thủy bằng duy nhất một cú nhảy nhảy qua hàng cột cao hơn đầu người và rơi vào khu vực đóng cọc. Thật không thể tưởng tượng nổi! Lúc đó những âm thanh hỗn độn loạn óc vang lên từ trên trần lều. Gió gào thét, những cây chống cương lên, lều căng phồng như muốn đứt. Âm thanh này cũng gào rú bằng ngôn ngữ như của thầy phú thủy. Hỏi nhau, trả lời, thầy phù thủy hỏi, hồn trả lời. Bỗng một tiếng hét thấu tận xương cất lên. Một sức mạnh kinh hoàng nâng thầy phù thủy lên tận nóc lều. Rồi bỗng nhiên câm lặng.

Thầy phù thủy bám treo trên nóc lều, trần như nhộng. Sau nghi lễ những người già của bộ lạc họp nhau lại lắng nghe lời nhắn nhủ của các bậc tiền bối.

Một nghi lễ khác từ miền đông Tây Tạng. Môi trường bên ngoài ở đây: một dàn nhạc lớn với những cái còi, kèn, trống, dàn đồng ca gồm những phụ tá cho thầy phù thủy. Thầy ngồi trên ghế giữa đám đông dân chúng. Một vài phụ tá nhảy những bước nhảy có nhịp điệu xung quanh.

Ngagsz - đạo sĩ bắt đầu run bần bật, nói thật nhanh bằng một ngôn ngữ lạ, thì thào, thở dài. Những người xem tưởng như thấy các sức mạnh siêu giác muốn xé quần áo và ngửi tứ chi của đạo sĩ. Những âm thanh lạ tràn ngập. Nhiều lần delog xuất hiện, đấy là thân-khí quay trở lại trái đất và kể lể số phận của nó.

Cho dù thầy phù thủy không muốn liên hệ với nó, nhưng không đuổi nó đi được. Bởi vì lúc đó các hồn khác sẽ giận, sẽ làm khó dễ và một số hồn sẽ bỏ đi. Sau cùng xuất hiện một hồn có thể trả lời các câu hỏi. Ngagsz - đạo sĩ đọc chân kinh, đọc thần chú và hồn cần phải trả lời.

Hình thức bên ngoài kì lạ của các nghi lễ này thường gây hiểu lầm. Con người thích đặt giả thuyết rằng toàn bộ chỉ là một trò ảo thuật. Thật ra các hình dạng kì quái này ở Ấn Độ, Ai Cập, Trung Quốc, Tây Tạng đều có tri thức về nó, đây là nền tảng của kĩ thuật tiếp xúc với những người chết.

Một vài văn bản cổ, chủ yếu như Pho-va của Tây Tạng còn kể rõ những lúc đó cái gì xảy ra. Kẻ nhập định dưới sự điều khiển của người thầy, người biết rất rõ từng phần nghi lễ, triệu tập hồn người chết, nhận lấy tri thức của họ và bằng một cách thế nào đấy để hiểu. Đi hết các bước nhập định thiếu người thầy rất nguy hiểm. Không thể thực hiện nghi lễ pho-va thiếu người thầy.

Linh hồn con người cần đi hết con đường từng bước một mà người chết đã đi: cần bước qua re-staun , kéo các quái vật về phía mình, cần đọc các chân ngôn đúng lúc, nếu không như người ta nói: các hồn khác sẽ chiếm mất thân xác và bị mắc kẹt trong thế giới của người chết.

Nghi lễ ở đây còn nguy hiểm hơn, bởi một phần của các hồn-khí ngửi Pho-va. Các hồn-khí tụ tập và tranh giành nhau xem kẻ nào chiếm được thân xác sống. Có một dạng ma ở Tây Tạng người ta gọi là những kẻ cướp hơi thở, chúng chuyên đi cướp hơi thở ( prana , hay còn gọi là hồn-hơi thở).

Những sinh linh khí sống ở Hades cũng mang nỗi đói sống vô giới hạn và với tất cả những gì liên quan đến sự sống, chúng tranh giành không biết hổ thẹn. Nhưng không có gì làm chúng thèm khát hơn là máu: nơi nào có máu chảy ở đó hàng triệu sinh linh khí tụ tập. Bởi vậy các dân tộc nguyên thủy thời cổ, hoặc dân Aztek thường duy trì lễ hiến người hoặc lễ vật sống để làm dịu lũ ma và mong muốn chúng giúp đỡ.

Về những nghi lễ nhầm lẫn như vậy, Baader cho rằng những nạn nhân đẫm máu phần lớn do các tổ chức bộ lạc gây ra, là liên minh của các cộng đồng dân tộc thiểu số với quyền lực của sự tăm tối này. Nạn nhân thật sự là sự lạm dụng bằng nghi lễ này.

Ở Mexico sự đúng đắn của kết luận này có thể nhận ra ngay. Các dân tộc thiểu số ít ỏi muốn thống trị, câu kết liên minh với Thần chết Chính trị: bởi các cảm hứng bản năng quyền lực trong mọi trường hợp chính là thần chết.

Còn các Thần tinh thần lớn như CHA, như các vị tiền bối không hề biết đến tính dân tộc cũng như các tính chất thiên vị khác. Bản năng của Thần chết Chính trị bao giờ cũng dẫn đến đổ máu: đến các cuộc cách mạng, chiến tranh, xung đột, giết chóc. Còn bản năng của Cha là phục vụ cho hòa bình và quyền lợi của nhân loại phổ quát.

4.

Tạo quan hệ với thế giới bên kia là một quá trình có thể học được. Quá trình này những kẻ đã nhập định thời cổ đều biết, Pythagoras cũng biết và rất có thể đã từng dạy nữa. Có thể tóm tắt tri thức về việc thực hành quá trình này như sau:

Bước chuyển qua thế giới của những người chết xảy ra bằng sự chuyển giao kiến thức. Các bước của chuyển giao kiến thức đồng nhất với các bước của sự chuyển hóa. Kẻ nhập định cần phải tỉnh táo, hay nói khác đi: bước thứ hai, sự sáng sủa cần phải được duy trì.

Truyền thống cổ nối kết quá trình phức tạp này, như lời tuyên bố của tất cả sức lực-khả năng-tài năng với nguyên tắc mang giới tính nữ. Người đàn bà, Sakti, kẻ sinh trưởng và được sinh trưởng, hay nói cách khác là nữ thần của thế gian được tạo dựng. Là nguyên tố của các sức mạnh được tạo dựng. Như vậy kẻ nhập định cần thu thập những sakti , sức mạnh, khả năng, sẽ giúp cho nhiệm vụ của nó.

Mức độ pradzsapati quay về phía các nữ thần cao nhất: về với các dạng hình Sakti vĩ đại và tỏa sáng, về với Sự Thông Thái, Sophia. Thầy phù thủy và đạo sĩ không được kén chọn. Họ cần thỏa mãn với bất kì sự giúp đỡ của sức mạnh nào. Dạng hình của những sức mạnh phép thuật ở Tây Tạng gọi là dákini , ở Mexico gọi là cinapipiltin , ở Peru gọi là huitaka .

Niềm tin dân gian gọi những hóa thân này là các phù thủy. Đây là các nguyên tố siêu việt, ở Trung Quốc các Po giúp các thầy phù thủy gặp gỡ các linh hồn của thế giới bên kia, và bằng sự giúp đỡ này thực hiện các khả năng, các hành động của con người. Ở Hi Lạp cổ nữ thần của các phép mầu là nữ thần Hekaté . Những người đàn bà hầu hạ nữ thần và trong câu chuyện Argounauta ai cũng biết về phép thuật của Médeia, của nữ giáo chủ Hekaté . Hekaté là hoàng hậu của thế giới âm tính, trong không gian của thế giới bên kia Hades mang một quyền lực lớn.

Công việc đầu tiên của thầy phù thủy là thuyết phục và chinh phục những dákini , hay cinapipiltin , hay huitaka như thế, để linh hồn- po có được sự tỉnh táo âm tính. Trong tiểu sử của Naropa, một ngagsz-pa (đạo sĩ) Tây Tạng nổi tiếng có viết tỉ mỉ từng phần sự vất vả này của thầy phù thủy, với các nghi lễ, các lời kinh, các chân ngôn để sau cùng có được sự tham dự của dákini .

Rốt cuộc Naropa thu thập được một dákini mahámudra đã bị giết, hay khả năng phù thủy của dákini này. Khi kẻ nhập định đạt đến mức độ này sẽ trở thành sziddhi . Dấu hiệu nhận biết của sziddhi là vào vòng của Hekaté , mẹ Mặt Trăng. Có sự tỉnh táo âm tính. Lúc này nó đã bước qua cõi người, nhưng chưa đạt đến không gian của các thần. Đã có khả năng siêu việt, nhưng chưa biết thần thánh hóa những khả năng này cho nhân loại phổ quát.

Trong ba cấp độ: con người ( manava ) đạo sĩ ( sziddhi ) và thần ( divja ) kẻ nhập định mới đạt đến mức độ thứ hai. Thầy phù thủy mà truyền thống sufi gọi là araff - nếu đi vào con đường tăm tối, nếu muốn trở thành hắc đạo sĩ và không muốn cái gì khác ngoài việc chỉ muốn thực hành quyền lực siêu nhiên, sẽ dừng lại ở cấp độ sziddhi này. Và thỏa mãn với việc giải phóng hay đình chỉ các sức mạnh mê tín tùy theo ý định của mình.

Sziddhi không thể tạo dựng mối quan hệ với CHA. CHA không truyền vào các hành động thấp và đen tối. Các linh hồn biết nhận liên hệ sziddhi và sử dụng nó, trong Hades , là ma quỷ-khí sống, trong thế giới âm tính bên kia, là neküdaimonesz , như người Hi Lạp thường gọi, là linh hồn- po , như người Trung Quốc gọi.

Việc sử dụng các sức mạnh siêu nhiên ở pradzsapati mang tính chất phép thuật thần diệu ( theurgical ); còn ở thầy phù thủy chỉ mang tính chất ma thuật. Sự khác biệt này cần nhắc lại và nhấn mạnh.

Theurgical là sự thu thập các khả năng siêu nhiên, để dự phần vào sự sáng sủa và cao cả của thần trong linh hồn người, và phản chiếu sự sáng sủa cùng cao cả này xuống nhân loại phổ quát.

Ma thuật chỉ phục vụ quyền lợi của cái Tôi con người, tìm sự bảo trợ, phòng ngừa, đảm bảo các mong ước, tấn công. Kết quả của phép thuật thần diệu ( theurgical ) là pradzsapati tự thu lấy và thành bản chất bằng tinh thần của sự sáng sủa, bằng ánh sáng siêu việt.

Tinh thần của CHA - Manu nói - nếu kẻ nhập định trích dẫn một lần, sẽ đi theo kẻ đó một cách vô hình, và trở thành tất cả kẻ đó; CHA phù trợ trên tất cả các con đường của nó, và nếu nó ngồi xuống, họ sẽ ngồi bên cạnh ”.

Nhưng đi theo đạo sĩ chỉ có những sinh linh của Hekaté mà thôi.

5.

Từ nền tảng của những thấu định này giờ đây có vẻ như không còn quá đặc biệt để hiểu, khi truyền thống cho rằng nhiệm vụ của pradzsapati là duy trì mối quan hệ với các linh hồn sống ở thế giới bên kia. Truyền bá sự nhập định để dạy dỗ việc chuyển giao tri thức và nhận biết đặc tính của thế giới bên kia.

Các sinh linh sống ở thế giới bên kia cũng có cơ thể, nhưng theo hình dạng lửa-khí, khí eter, khí trong suốt. Khi Herakleitos nói: pszükhai oszmontaikat’Haiden - nghĩa là: các linh hồn trong Hades có sự nhạy cảm khí của chúng, nghĩa là: chúng sống trong cơ thể eter.

Nhưng ở thế giới bên kia không chỉ có Hades . Kẻ nhập định cần nhận biết về tất cả các vương quốc khác nhau phù hợp với các tầng khác nhau của sự thức tỉnh. Trong thế giới bên kia chỉ những mức độ thức tỉnh có liên quan với nhau cùng chung sống, thậm chí chỉ những kẻ đó nhìn thấy nhau.

Khi ý thức của người sống bắt đầu dò dẫm bằng sự thức tỉnh âm tính, tất nhiên nó khám phá trong vương quốc thấp nhất. Và đây cũng là nơi nguy hiểm nhất. Những linh hồn nổi loạn bị đọa đày lang thang nơi đây, những kẻ sống trong nỗi ham mê vật chất, những linh hồn-lửa tẩy rửa, những ma quỷ sơ khai ( elementális ), những ma quỷ vật chất, những kẻ ác khát máu, những kẻ bị tống ra khỏi mọi thế giới, và ở đây chúng sống một cuộc đời ngoại luật.

Một vài kỉ vật của truyền thống cổ, nhất là tác phẩm Agroucsada Parikcsa của Ấn Độ nhấn mạnh, những ma quỷ-khí này đặc biệt độc ác, tuyệt vọng so với các linh hồn người đã bị kết án, hay đang bị đày đọa ở địa ngục, ở gyehenna (vạc dầu).

Từ nền tảng của các tác phẩm Kabbala hiếm hoi tác giả Abbé Constan cho rằng các sinh linh trong hình hài khí này chỉ hơi thở của vũ trụ làm thức tỉnh nổi chúng, nhưng tác động của vật chất làm chúng không cưỡng lại được. Chúng luôn cố gắng quay lại trái đất và tìm kiếm sự hoạt động ở đấy. Chúng chen lấn vào những giấc mơ, xô đẩy nhau đến nơi chúng phạm tội. Nhưng trong những tia nắng vũ trụ chúng từ từ tan rã.

Đấy là những linh hồn không chuộc lại lỗi lầm phạm ở thế gian mà sống kí sinh trong những linh hồn độc ác trong hình hài pha tạp. Constant gọi chúng là các phôi thai ( embrió ), có họ hàng với linh hồn- po . Các sinh linh khí đại đa số không bao giờ từ bỏ bầu khí quyển của thế gian và cũng không thể bước qua thế gian.

Trong dạng hình con sâu con, chúng bị đày đọa và thèm khát, chủ yếu là với cái nóng và máu. Những con sâu con này chạy trốn trước ánh sáng, và chỉ một tia lóe lên của tri thức cũng đủ để chúng suy sụp và rơi chìm vào bóng tối vô tận của vũ trụ.

Sampson từ nền tảng của những văn bản Ai Cập và Alexandria cho rằng trong những thời kì đen tối, nhất là giữa các cuộc chiến tranh và cách mạng, những sinh linh-khí tuyệt vọng này tràn ngập trái đất. Đôi khi còn xảy ra chuyện những thiên thần hư hỏng cũng bước xuống trần gian. Nhưng không bao giờ các quyền lực đen tối đến mà không có lời mời hoặc một sự ủy quyền nào đấy.

Những sinh linh (được gọi là) các nhân vật lịch sử, những kẻ làm đảo lộn trật tự, khiến các dân tộc căm ghét lẫn nhau, họ triệu hồi chiến tranh, gây đổ máu, làm nghèo đói và hủy diệt hàng triệu người, đẩy con người vào đói rách, biến con người thành những kẻ sống ngoài pháp luật. Đấy là những sinh linh ma quỷ bẩn thỉu và bỉ ổi, nhu truyền thống nhân chủng học đã dạy, cô độc trong tạo hóa, những kẻ trong chúng thiếu tia lửa vĩnh cửu Thượng Đế, Ngọn Lửa sống.

Chúng đã đánh mất tia lửa này như thế nào và từ bao giờ, truyền thống không nói đến. Sách thiêng Irán gọi những sinh linh này là đội quân của Ahriman . Truyền thống Do Thái gọi là ráksasza gandhava . Những kẻ này là tông đồ của Typhoon , là những kẻ tôi đòi của Séth , là những đứa con của sự bất mãn, của tội ác và sự phản bội mà Henoch gọi là nephilim .

Nếu sức mạnh của CHA trên thế gian không đủ lớn, và các bậc tiền bối không rải đủ sự sáng sủa cho con người, lúc đó những đứa con của sự bất mãn và tội ác nắm quyền lực. Hoạt động của pradzsapati là cùng sự giúp đỡ của CHA hãm phanh các quyền lực đen tối. Sức mạnh của con người không đủ. Cũng như toàn bộ nhân loại cùng nhau không đủ sức xua đuổi ảnh hưởng của thế giới bên kia. Con người không thể nắm bắt và tiếp cận nổi ảnh hưởng này, và quyền lực của ảnh hưởng này mạnh hơn con người.

Pradzsapati, amsaszpad, szefiroth là kẻ duy nhất có quan hệ với CHA và có thể yêu cầu CHA hãm phanh quyền lực của sự đen tối. Pradzsapati biết một điều mà kẻ nhập định cần học ngay từ bậc thang đầu tiên: trong sự sống không bao giờ được đối mặt với con người. Con người là những linh hồn sống bất lực trong tự nhiên vật chất, là những kẻ mà hoạt động của họ do các quyền lực dẫn dắt.

Kẻ nào muốn can thiệp vào số phận trần thế, cho dù muốn thành thủ lĩnh, muốn đưa ra những lời khuyên hay dạy dỗ, đều đối mặt với các sức mạnh chứ không phải đối mặt với con người. Và không phải sức mạnh người hãm phanh các quyền lực đen tối mà là các Vị thần của sự tỉnh táo. Pradzsapati là giáo sĩ của các quyền lực tỉnh táo, của CHA.

6.

Sau khi bước qua ngưỡng của cái chết, Veda nói, đầu tiên tất cả các linh hồn đều bay vào Mặt Trăng. Kẻ nào đã sống một đời sống vô đạo đức, ngu muội, mù mờ từ Mặt Trăng trong dạng hình đầu tiên quay trở lại trần thế. Ai sống một đời sống thức tỉnh, đều vượt qua mặt Trăng bay lên với Brahman để đồng nhất.

Cách hiểu về hình ảnh tượng trưng của Mặt Trăng không khó khăn lắm. Đấy là Amduat, Tlakokan, Seol . Người ta không hiểu về Tlalokan của truyền thống Mexico, thế giới-nước, không hiểu tại sao ở Mexico lại có sự kính trọng Tlalokan đến thế, Tlalok là thần mưa, là tên thần nước, là Okeanos ở người da đỏ.

Người ta không hiểu văn hóa Nilus Ai Cập, văn hóa Eufrates-Gages, Brahmapura và văn hóa Giang tử cũng không hiểu nốt, và cả sự kính trọng nước của dân chúng thời cổ, siêu hình học của Thales mà theo đó mẹ ruột của đời sống là nước.

Cần đi sâu vào một số điều thích hợp của Veda để có thể hiểu rõ điều này. Nước là nguyên tố cổ cần thiết cho sự sinh trưởng. Nước còn nhiều hơn thế. Là “ ân sủng ” của trời. Linh hồn bước vào thế giới bên kia như một ân sủng quay trở lại trái đất. Văn hóa mưa Mexico, Ai Cập, Iran, Trung Quốc, Ấn Độ có quan hệ khăng khít với văn hóa của người chết, và phép thuật mưa của họ có quan hệ với thế giới bên kia.

Sự kính trọng nước là một dạng kính trọng người đã chết, hay CHA: Tlalok , thần mưa ở Tlalon, Hades là thần ở lĩnh vực Mặt Trăng. Mối quan hệ giữa nước và Mặt Trăng từ những nguồn gốc khác cũng có thể thấy. Chiêm tinh học biết rất rõ điều này.

Mưa là ân sủng của thế giới bên kia: từ đây đời sống, lúa mì, ngô, gạo, hoa quả nảy sinh. Từ đây nảy sinh những dinh dưỡng cần thiết để duy trì đời sống. Từ nước, hay từ những người chết, hay từ Mặt Trăng, hay nói cách khác từ Hades, từ các vị tiền bối. Các vị tiền bối, trong hình dạng mưa, trong hình dạng chất dinh dưỡng quay trở lại. Đây là ý nghĩa của văn hóa ngô Mexico và Peru, văn hóa lúa mì của Ai Cập và Hi Lạp.

Thời cổ không nhìn thấy vật chất mà nhìn thấy các nguyên tố cổ tạo dựng thế giới trong nước, thậm chí nguyên tố của sự sinh trưởng, của ân sủng và phước lành. Nước tồn tại trên trời, bởi vậy người Ai Cập nói “Nước sống, quê hương của nó là thiên đường”. Quan điểm này đứng sau hành động tắm rửa, trong suốt cả thời gian sau này như thời mohamedan .

Thế giới của Mặt Trăng, thiên đường-Nước, như ở Mexico người ta thường gọi, không là gì khác ngoài thế giới của sự thức tỉnh âm tính. Điều này có quan hệ thế nào với các nguyên tố của các sức mạnh tạo hóa, chúng ta đã nói đến. Thế giới này là một thế giới sinh trưởng thực chất, là vòng quay Sakti . Nếu suy ngẫm kĩ, một khía cạnh quan trọng của quan niệm cổ, vị trí siêu hình học của đàn bà từ điều này không có gì khó hiểu.

Trong thiên đường-Nước, hay trong Tlalokan , trên Mặt Trăng chứa đựng những sức mạnh tạo dựng và sinh trưởng, Goeth gọi là Müttel , như một thế giới ảo ảnh mới của Mẹ. Và không chỉ Mặt Trăng, Sakti , thế giới Mẹ là sự Sinh Trưởng mà thời cổ con người kính trọng và thờ phụng, chứ không phải mưa, một tạo phẩm của khí quyển - còn điều này nữa, hình ảnh tượng trưng của Mặt Trăng khiến ta tiếp cận gần hơn toàn bộ các nữ thần thời cổ: Artemis, Hera, Demeter, Perszephone, Hekate ở Hi Lạp, Izis, Nu và các nữ thần khác ở Ai Cập, và toàn bộ các nữ thân ở Mexico, Peru, Ấn Độ, Iran, Tây Tạng và Trung Quốc.

Trong tổng thể này còn nổi lên một điều khác.

Khoảng một trăm năm nay, thế giới đàn bà cổ được Bachofen ghi lại đã mang một ý nghĩa đáng kể; nhiều người giả thuyết rằng thế giới đàn bà cổ này như một chế độ mẫu hệ từng có thật trước thời lịch sử. Tất nhiên giả thuyết này trừu tượng và ấu trĩ.

Thực trong một thời gian dài, sự tỉnh táo âm tính đã ngự tri đời sống thế gian, và huyền thoại bằng hình ảnh về (cái gọi là) các vong linh ( lemur ) đã nói lên điều này. Sự tỉnh táo âm tính cũng ngự trị trong cả đời sống của thế giới bên kia, thực thể đàn bà, sự sinh trưởng, sản vật, Mẹ, và sau cùng, Mặt Trăng, phù hợp với sự tỉnh táo âm tính. Là nước.

Thật sai lầm khi nói về chế độ mẫu hệ, hay còn gọi là quyền lực đàn bà. Cái cần nhắc đến là bản chất đời sống mang tính chất của Mặt Trăng, mờ mịt, run rẩy thể hiện ra trong vật chất và tinh thần, trong bói toán, trong nguồn cảm hứng, trong trực giác tâm linh giống hệt như trong sự tăng trưởng, phát triển, ẩn giấu dưới hình thức mê tín. Hình thức mê tín bởi vì vòng quay này là thế giới đặc thù của sự mê tín.

Nếu bây giờ con người nghĩ rằng huitaka, dakini, Hekate , hay linh hồn- po mờ mịt nhưng thế giới linh hồn mẹ sống động hơn, cần phải nói cách khác: thế gian, con người, thực thể, bị bao phủ bởi tấm voan Izis hoặc Maja đều gặp nhau trên một điểm. Rất dễ dàng hình dung ra điểm này, truyền thống cổ gọi nó là nguyên tố của đời sống sinh trưởng, được đặt tên là Sakti và Mặt Trăng là hình ảnh tượng trưng.

Còn điều kinh Veda nhắc đến: sau sự chuyển hóa, đầu tiên linh hồn cần rơi vào Mặt Trăng, có nghĩa là: trong giai đoạn đầu tiên bước vào thế giới bên kia linh hồn trước tiên có sự tỉnh táo âm tính ( lunáris ).

Còn khi Veda nói: những linh hồn mơ ngủ và mê muội từ Mặt Trăng trong dạng hình đầu tiên quay trở lại trái đất, có nghĩa là: đây là những linh hồn mà hồn-Mẹ sinh trưởng không buông nó ra, những linh hồn này như sức sản xuất cần thể hiện một lần nữa sự hoạt động của nó trong tự nhiên: đây là những linh hồn như Mẹ duy trì đời sống.

Từ điều này sự khác biệt giữa pradzsapati và đạo sĩ hoàn toàn lộ rõ. Đạo sĩ ở lại thế giới của dakini , linh hồn- po , của Hekate của Mặt Trăng. Thế giới của Mẹ. Pradzsapati nâng lên cao khỏi thế gian và đi vào thế giới dương tính của pitrik, fravasik, patriarkák , của linh hồn- huan và nối kết hai thế giới này lại.

Tất nhiên không được phép tin rằng ở đây có các mức độ giá trị giữa các thế gian, giữa Cha và Mẹ. Po huan là hai cực, như âm và dương, như Mặt Trời và Mặt Trăng. Hai nguyên tố thế gian này thể hiện là hai, trong thực tế Mặt Trời và Mặt Trăng sống trong cuộc hôn nhân và là MỘT.

Pradzsapati đứng bên trên đạo sĩ không phải vì pradzsapati hiện thực hóa sự tỉnh táo dương tính, mà bởi vì nó làm cân bằng hai cực này.

« Lùi
Tiến »