Cổng Nam ga Sannomiya, thuộc tuyến đường sắt của Bộ Vận tải.
Seita ngồi bệt dưới sàn, hai chân duỗi thẳng, rệu rã tựa lưng vào cây cột trơ cả bê tông do tróc lớp gạch ốp. Dưới cái nắng cháy da, đã gần một tháng không tắm mà đôi má hốc hác của cậu vẫn trắng nhợt, hõm xuống.
Tối đến, cậu nhìn theo bóng gã đàn ông nghênh ngang đốt đuốc, oang oang mắng chửi như phường trộm cướp. Sáng ngày, cậu ngồi phân biệt đám học sinh vẫn tới trường như chưa có chuyện gì xảy ra. Áo màu kaki nhưng mang bọc vải trắng là trường Cấp hai Kobe 1, đeo cặp là trường cấp hai công lập cấp thành phố. Học sinh các trường cao đẳng nữ* như trường công lập cấp tỉnh 1, trường dân lập Shinwa, Shoin và Yamate đều mặc quần thụng, chỉ khác nhau ở cổ áo thủy thủ.
Tương đương với cấp 2, thuộc hệ thống giáo dục quốc dân áp dụng từ năm 1941, thay thế toàn bộ các hệ thống trước đó. (Các chú thích trong sách là của người dịch hoặc ban biên tập tiếng Việt.)
Trong đám đông ùn ùn đi ngang qua, có người ngửi thấy thứ mùi khó chịu nên nhìn xuống, rồi vội vã nhảy ra như tránh tà. Seita đã không còn cả sức để lết đến khu vệ sinh ngay trước mặt nữa.
Ở chân mỗi cây cột vuông rộng tầm 90 phân này đều có những đứa trẻ tương tự, cứ ngồi ì như đang tìm kiếm sự chở che của mẹ. Chúng đổ về nhà ga có lẽ vì đây là nơi duy nhất chúng được vào, vì nhớ những nơi đông người qua lại, vì có nước uống, và vì may ra được ai đấy bố thí cho.
Vừa vào tháng Chín, khu chợ trời dưới gầm đường sắt Sannomiya bắt đầu hoạt động, mở hàng là món nước đường cháy hòa tan đựng trong thùng sắt, một cốc múc đầy giá 50 sen. Chẳng mấy chốc mọc lên nào khoai hấp, bánh dango làm bằng bột khoai, cơm nắm, bánh giầy daifuku, cơm rang, chè zenzai, bánh manju, mì udon, cơm tempura, cơm cà ri... rồi thì bánh ngọt, gạo, lúa mì, đường, tempura, thịt bò, sữa, đồ hộp, cá, rượu shochu, whisky, lê, cam, ủng cao su, săm xe đạp, diêm, thuốc lá, bốt tẽ ngón, tã bỉm, chăn quân đội, giày quân đội, quân phục, bốt cổ lỡ...
Mấy ông chồng rao bán cả hộp nhôm đựng cơm trộn lúa mạch buổi sáng vợ chuẩn bị cho, “10 yên đây, 10 yên đây,” tay kia ngoắc lủng lẳng đôi giày cổ ngắn đã sờn, “20 yên, 20 yên mua không?”
Bị hấp dẫn bởi mùi thức ăn, Seita bất giác đưa chân vào chợ. Cậu bán lớp áo lót dài, đai obi, cổ áo rời, dây cột eo* của người mẹ quá cố cho sạp quần áo cũ bày hàng trên tấm chiếu bằng cỏ bấc đèn, nhờ đó mà xoay xở được khẩu phần nửa tháng.
Các phụ kiện của một bộ kimono.
Toàn bộ đồ đem bán đều ngấm nước trong hầm trú ẩn nên đã phai màu. Bộ đồng phục dệt bằng tơ nhân tạo, rồi giày ghệt của Seita cũng lần lượt tiếp bước, cậu chần chừ có nên bán cả quần không. Chẳng biết tự lúc nào Seita đã quen qua đêm ở nhà ga.
Một thiếu niên ăn mặc chỉn chu đi cùng gia đình có vẻ vừa trở về từ nơi sơ tán, khăn trùm đầu được gấp gọn gàng vắt trên túi vải, ba lô đeo lưng lủng lẳng cặp lồng, ấm đun nước, mũ sắt. Xem chừng họ đã chuẩn bị lương thực khẩn cấp để ăn trên tàu, nhưng giờ đến nơi rồi nên yên tâm quẳng cho Seita chiếc bánh dango làm bằng cám gạo đã nhão nhoét, như thể vứt bớt hành lý đi.
Seita còn nhận được mẩu bánh mì ăn dở, rồi bọc đậu tương rang của một anh lính phục viên thương người, hoặc của bà lão động lòng trắc ẩn vì có đứa cháu trạc tuổi. Họ rón rén đặt xuống ở đằng xa như đem đồ dâng Phật, dù gì cậu cũng rất biết ơn.
Thỉnh thoảng, Seita bị nhân viên nhà ga đuổi đi, nhưng hiến binh canh gác ở cửa soát vé lại đánh họ để bảo vệ cậu. Ít nhất trong ga muốn bao nhiêu nước có bấy nhiêu, nên cậu cứ mọc rễ ở đây. Nửa tháng sau thì không đứng lên được nữa.
Seita bị tiêu chảy, liên tục ra ra vào vào khu vệ sinh của nhà ga. Mỗi lần đứng dậy lại loạng choạng, tì cả người vào cánh cửa đã long mất tay cầm để gắng gượng đu mình lên, khi đi thì một tay phải bám vào tường. Cứ thế, cậu như quả bóng xì hơi, cuối cùng chỉ đành ngồi dựa vào cột, không nhấc nổi người lên nữa. Nhưng cơn tiêu chảy vẫn dồn dập tấn công, chẳng mấy chốc quanh mông đã vàng khè. Seita cuống quýt, xấu hổ muốn độn thổ mà không sao động đậy được, đành gắng lấy tay vun chút cát bụi trên sàn phủ lên, hòng giấu đi thứ màu đó. Nhưng tay cậu không với được xa, người ta nhìn có khi lại tưởng đứa trẻ lang thang đói đến mất trí nghịch cả nước phân mình thải ra.
Không còn thấy đói hay khát, Seita nặng nề gục đầu xuống ngực.
“Ôi bẩn quá!”
“Chết rồi à?”
“Quân Mỹ sắp đến mà nhà ga lại có cái của này, xấu hổ quá!”
Chỉ đôi tai cậu là còn hoạt động và nghe được vô vàn thanh âm. Đến tối, bỗng nhiên lặng ngắt như tờ. Không còn tiếng guốc vang vọng trong nhà ga, tiếng tàu chạy lanh canh trên đầu, không còn tiếng giày đột nhiên biến thành bước chạy, tiếng trẻ gọi mẹ, tiếng đàn ông nói chuyện lào khào gần đó, hay tiếng nhân viên nhà ga ném thùng một cách thô bạo.
Hôm nay là ngày bao nhiêu rồi? Ngày bao nhiêu nhỉ, mình ở đây bao lâu rồi? Khi tỉnh lại, Seita thấy sàn bê tông ở ngay trước mắt, nhưng không nhận ra mình đã đổ nằm xuống mà vẫn giữ nguyên tư thế co ro lúc ngồi. Cậu đăm đăm nhìn lớp bụi mờ cuốn lên khỏi sàn theo hơi thở yếu ớt của mình. Không biết là ngày bao nhiêu rồi nhỉ? Seita bám dính lấy băn khoăn ấy mãi, rồi ra đi.
Đó là ngày 21 tháng Chín năm 1945, sau hôm chính phủ thông qua “Đại cương Chính sách bảo vệ trẻ mồ côi do chiến tranh”.
Đến đêm nhân viên nhà ga dè dặt lục soát quần áo đầy chấy rận của Seita và tìm thấy một hộp kẹo giắt trong đai quấn bụng. Anh ta cố mở nắp, nhưng có lẽ hộp bị gỉ nên không mở được.
“Cái gì đây?”
“Kệ nó, kệ nó, vứt đi cho xong. Thằng này nữa, đến lúc rồi, mắt mở trừng trừng thế là sắp đi tong.” Một người khác lên tiếng. Người đó đang nhòm khuôn mặt rũ xuống của một đứa trẻ lang thang nhỏ tuổi hơn ở ngay cạnh xác Seita.
Seita vẫn nằm nguyên tại chỗ, chờ người của ủy ban Hành chính Quận đến dọn, chẳng được ai đắp cho dù chỉ một tấm chiếu manh.
Dường như không biết làm sao, tay nhân viên lắc hộp kẹo khiến nó kêu lọc xọc. Trước nhà ga có chỗ bị thiêu rụi, anh ta lấy đà liệng hộp ra khoảng tối cỏ mọc um tùm chỉ sau một mùa hè ấy.
Hộp kẹo rơi xuống, bật nắp, chất bột màu trắng đổ ra, ba mẩu xương nhỏ lăn lóc, khuấy động những con đom đóm đang trú ngụ trong cỏ. Hai ba chục con đom đóm lập lòe tán loạn bay lên, một lát sau lại trở về yên tĩnh.
Những mẩu xương trắng nọ là của Setsuko em gái Seita, mất ngày 22 tháng Tám dưới hầm trú ẩn ở Manchitani thành phố Nishinomiya. Người ta bảo là tại viêm ruột cấp tính, nhưng thật ra cô bé bốn tuổi đã bất động từ lâu và ra đi trong trạng thái li bì. Cô chết vì kiệt sức do suy dinh dưỡng, giống anh mình.
Mùng 5 tháng Sáu, 350 chiếc máy bay B29 ném bom xuống Kobe, khiến năm thị trấn Fukiai, Ikuta, Nada, Suma và Đông Kobe bị thiêu rụi hoàn toàn.
Seita mới học lớp Chín đã bị tổng động viên đi lao động ở nhà máy thép Kobe.
Hôm đó là ngày tiết kiệm điện. Cậu đang ngồi chờ trong nhà ở thị trấn Mikage gần bờ biển thì nghe báo động, liền hấp tấp vùi lò than Seto* xuống cái hố đã đào sẵn ngoài vườn, giữa những luống cà chua, cà tím, dưa chuột, rau mầm. Lại gom toàn bộ gạo, trứng, đậu tương, cá ngừ bào khô, bơ, cá trích khô, mơ muối, đường saccharin, trứng muối vào đấy rồi phủ đất lên trên.
Lò gốm cổ lâu đời ở Nhật Bản, đã có hơn một nghìn năm lịch sử.
Mẹ đang ốm, Seita phải thay mẹ cõng em. Bố là đại úy hải quân, nhưng đã bặt tin từ ngày theo tàu tuần dương ra trận. Cậu tháo ảnh chụp bố mặc quân phục mùa đông ra khỏi khung, nhét vào ngực áo.
Sau hai trận không kích ngày 17 tháng Ba và 11 tháng Năm, Seita hiểu ra, đèo bòng phụ nữ trẻ con không thể dập tắt bom cháy*, mà căn hầm đào dưới sàn nhà cũng không an toàn nữa, cậu đành đưa mẹ đến trú trước ở hầm bê tông do ủy ban xã bố trí đằng sau trạm cứu hỏa.
Còn gọi là bom Napan hoặc lựu đạn lửa.
Đang mở tủ vơ vội quần áo ngày thường của bố vào ba lô, Seita nghe thấy tiếng kẻng leng keng ở vọng gác máy bay, bèn chạy ào ra cửa, và lập tức chìm trong tiếng bom rơi vang trời.
Sau đợt đánh bom kinh hoàng đầu tiên, cậu có ảo giác là mọi thứ bất chợt tĩnh lặng, nhưng rồi tiếng gầm gào nặng nề của những chiếc B29 lại ầm ĩ không thôi.
Seita ngước mắt nhìn lên.
Trước giờ cậu mới chỉ thấy vệt mây mập mờ phết ra từ mấy cái chấm nhỏ xíu bay về hướng Đông*. Hay như năm ngày trước trong trận ném bom ở Osaka, từ hầm trú ẩn của nhà máy, cậu nhìn đội máy bay mà tưởng đâu đàn cá đang luồn lách giữa những đám mây trên bầu trời vịnh Osaka.
Vệt mây trắng sau đuôi máy bay. Khí thải từ máy bay rất nóng, khi gặp không khí lạnh và ẩm trên cao, hơi nước từ khí thải sẽ ngưng tụ lại thành từng vệt mây trên bầu trời. Có thể gọi là mây nhân tạo.
Còn hôm nay, cậu thậm chí nhìn rõ đường kẻ đậm vẽ ra từ thân dưới máy bay. Nó đang bay từ biển về núi ở độ cao chỉ hơn tầm với, rồi đột nhiên chao cánh biến mất ở phía Tây.
Lại một tiếng bom rơi. Bầu không khí trở nên ngột ngạt, Seita đứng chôn chân tại chỗ, người như bị ai trói chặt.
Bỗng cậu nghe tiếng lạch cạch. Một quả bom cháy màu xanh đường kính 5 phân, dài 60 phân từ mái nhà lăn xuống, nảy đom đom như một con sâu đo, phun đầy dầu ra đất. Seita vội chạy vào nhà, nhưng từ trong nhà, một luồng khói đen cũng đang chầm chậm lan rộng, cậu lại lao ra cửa.
Cả dãy nhà vắng tanh, yên ắng như chẳng có chuyện gì. Căn nhà đối diện đã dựng sẵn chổi dập lửa và thang cạnh tường.
Dù thế nào cũng phải đến hầm tránh bom của mẹ đã, Seita tự nhủ. Trên lưng cậu, em gái bật khóc nức nở. Cậu vừa dợm bước thì một cột khói đen phun lên từ cửa sổ tầng hai căn nhà trong góc đường.
Cứ như được sắp đặt sẵn, bom cháy âm ỉ ở gác xép trước đó cũng đồng loạt bùng lên thành lửa, đốt cây cối trong vườn nổ lép bép. Lửa chạy dọc mái hiên, thiêu cửa chớp đến long ra, rơi đánh thình.
Seita thấy trước mắt tối sầm. Không khí lập tức nóng rực. Cậu bật chạy như bị ai xô mạnh. Kế hoạch ban đầu là sơ tán ở bờ đê sông Ishiya nên cậu chạy dọc theo đường tàu Hanshin trên cao về phía Đông, nhưng nơi này sớm đã nhung nhúc dân đi lánh nạn. Kẻ kéo xe bò. Ông nọ cõng bọc chăn đệm, bà kia the thé gọi người.
Sốt ruột, cậu chạy ra biển, lúc này tàn lửa vẫn bay tán loạn, bom rơi ầm ầm xung quanh. Thùng rượu cỡ 5400 lít được tận dụng làm bể chữa cháy bị vỡ, nước tràn ra lênh láng. Có người đang loay hoay chuyển bệnh nhân bằng cáng. Vừa qua một khoảnh đất hầu như không có ai, thì lại đến một quãng ồn ào bát nháo như tổng vệ sinh nhà cửa (kiểu kĩ càng tới mức lật tung cả chiếu trải sàn lên ấy).
Seita rời khỏi đường quốc lộ cũ, chạy mải miết trên con ngõ hẹp, đi qua khu phố vắng hoe, có lẽ dân chúng đã sơ tán cả rồi. Cậu trông thấy hầm rượu Nadagogo đen thui quen thuộc. Mùa hè mà ra đây sẽ ngửi thấy mùi biển phảng phất. Mỗi bể chứa rượu cách nhau tầm mét rưỡi, qua đó người ta có thể thấy bờ cát lấp lánh dưới nắng hè, mặt biển xanh ngắt trải rộng đến tận chân trời.
Bây giờ không phải lúc nghĩ ngợi vẩn vơ.
Bờ biển chẳng có hầm, nhưng mọi người đều nghĩ muốn tránh lửa thì cần nước, cho nên trên bờ cát chỉ rộng 50 mét mà tập trung bao nhiêu người, chẳng ai bảo ai cùng nép mình trong thuyền đánh cá hay dưới bóng tời kéo lưới.
Seita đi về phía Tây. Từ sau trận lụt năm 1938, người ta đắp lòng sông Ishiya thành hai tầng, cậu náu mình vào một trong mấy cái hố ở tầng trên, dù không có gì che phủ nhưng nấp được vào hố là tạm thời yên tâm.
Seita ngồi xuống, trống ngực đập dồn, cổ khát khô. Lúc nãy cậu hầu như không có thời gian để mắt đến Setsuko, giờ mới cởi dây địu, định ôm cô bé đặt xuống mà đầu gối cứ kêu răng rắc như muốn long ra.
Setsuko không khóc. Cô bé đội khăn trùm đầu chống đạn điểm họa tiết ô vuông, áo trắng, quần thụng cùng họa tiết với khăn, chân đi bao tất* màu đỏ, đôi guốc đen vẫn luôn giữ gìn giờ chỉ còn một chiếc đã lem luốc, tay ôm chặt con búp bê và chiếc ví đựng xu to đùng cũ kĩ của mẹ.
Bao tất thường mang khi mặc kimono và đi guốc gỗ, ngón cái tách riêng khỏi các ngón còn lại.
Mùi khét và thanh âm đám cháy theo gió bay đến như đang ở ngay chỗ cậu, nhưng tiếng bom rơi tựa tiếng mưa rào ầm ầm đã xa dần về phía Tây, thi thoảng hai anh em lại sợ hãi nép sát vào nhau.
Seita chợt nhớ tới hộp cơm trong túi vải mang theo khi chạy sơ tán, mở ra thì thấy trên bề mặt hộp cơm nửa trắng nửa nâu đã láng một lớp hơi nước mỏng. Phần trắng là cơm thừa tối qua, mẹ quyết định nấu toàn bộ số gạo trắng trong nhà vì chừa lại một ít chẳng để làm gì, còn phần nâu là cơm gạo lứt trộn đậu tương nấu sáng nay. Cậu lấy phần cơm trắng cho Setsuko ăn. Nhìn lên bầu trời nhuốm màu cam, cậu nhớ mẹ từng nói sáng hôm xảy ra trận động đất lớn ở vùng Kanto, mây đã chuyển màu vàng.
“Mẹ đâu?”
“Dưới hầm tránh bom, hầm đằng sau trạm cứu hỏa ấy, có thể chịu được 250 cân bom giội trực diện, đừng lo.” Seita như nói cho cả chính mình nghe. Thỉnh thoảng cậu lại nhìn xuyên qua hàng cây thông trên đê, bờ biển bên kia tuyến Hanshin vẫn đang bập bùng một màu đỏ. “Hẳn là mẹ đã tới chỗ hai cây thông trên sông Ishiya rồi, chúng ta nghỉ một chút thì đi.” Chắc mẹ phải ra khỏi đám cháy rồi, Seita ép mình nghĩ theo hướng khác. “Em có sao không Setsuko?”
“Mất một chiếc guốc.”
“Anh sẽ mua cho em cái đẹp hơn.”
“Em cũng có tiền đây.” Cô bé chìa ví, “Anh mở cái này đi.”
Nút cài rất chặt, Seita mở ra, thấy có ba hay bốn đồng một sen, năm sen, ngoài ra còn có túi đậu* họa tiết đốm hươu nai và những viên bi màu xanh, đỏ, vàng. Một năm trước, Setsuko đã nuốt phải một viên bi như vậy, và bị bắt đi tiêu vào những tờ giấy báo trải trên sân, đến tối hôm sau mới ra được viên bi.
Túi nhỏ để chơi tung hứng, bên trong đựng các hạt đậu.
“Nhà mình cháy rụi rồi à?”
“Có lẽ vậy.”
“Thế phải làm sao đây?”
“Bố sẽ trả thù cho chúng ta.” Câu trả lời không ăn nhập với câu hỏi, nhưng bản thân Seita cũng không biết tiếp theo phải làm gì. Cuối cùng tiếng nổ xa dần, chỉ năm phút sau, trời đổ mưa rào. Cậu nhìn những đốm đen đó, tự nhủ, “À, thì ra đây chính là cơn mưa sau khi bom nổ mà người ta vẫn bảo.”
Nỗi sợ hãi cuối cùng cũng vơi bớt, cậu đứng lên nhìn ra biển, mới đó mà mặt biển đã dập dềnh cơ man nào là đồ vật bẩn thỉu, đen ngòm.
Núi vẫn sừng sững, có vẻ núi ở mạn trái thị trấn Ichinosan bị cháy, luồng khói màu tím đang nhàn nhã bay lên.
“Nào, cõng.” Đặt Setsuko ngồi trên đê, Seita quay lưng lại cho em trèo lên. Con bé khá nặng, trong lúc mải chạy trốn cậu đã quên mất điều này, đành bám vào rễ cỏ để bò lên đê.
Trèo lên đến nơi, cậu thấy trường Quốc dân Mikage 1,2 và Hội trường Lớn Mikage ở rất gần như thể chúng tự đi đến đây. Hầm rượu, doanh trại quân đội ngày thường, thậm chí cả trạm cứu hỏa, rừng thông, tất cả đều biến mất, lộ ra dải đường sắt Hanshin ở ngay kia, ba đoàn tàu nối nhau bất động trên đường quốc lộ. Có vẻ dấu tích của trận cháy theo con dốc lên tận chân núi Rokko, phía cuối dốc mù mịt khói. Mười lăm mười sáu nơi, khói vẫn đang phun cuồn cuộn.
Một tiếng ình vang lên, Seita còn đang suy đoán là bom chưa nổ* bỗng phát nổ hay bom hẹn giờ* thì nghe tiếng rít như gió bấc, một cơn gió lốc cuốn bay tấm tôn lên không trung. Cậu nhận thấy Setsuko đang gắng sức bấu chặt vào lưng mình.
Bom được ném xuống nhưng tình cờ không phát nổ, vẫn còn đó và có nguy cơ nổ.
Trong quả bom 250 kg được ném xuống có một bộ phận dùng để hẹn giờ, có thể trì hoãn giờ nổ từ 30 phút đến vài tiếng.
“Rộng mà sạch sẽ ghê nhỉ, trông quang đãng hơn hẳn, nhìn kìa, kia là Hội trường Lớn anh em mình từng đến ăn cháo đấy,” Seita bắt chuyện với Setsuko nhưng không thấy tiếng trả lời. Cậu bảo em đợi một chút, đi lại giày ghệt rồi dấn bước trên đê.
Bên phải còn ba căn nhà chưa cháy rụi, mái nhà ga Ishiyagawa tuyến Hanshin chỉ còn trơ trọi khung, ngôi đền trước ga cũng bị san phẳng, sót lại độc cái vại ở nơi rửa tay dành cho khách đến viếng.
Dần dà càng lúc càng nhiều người lục tục kéo đến, dẫn theo gia đình ngồi bệt xuống lề đường, miệng trò chuyện không ngớt. Họ treo ấm lên trạc cây, đun nước và nướng khoai bằng cục than đang cháy âm ỉ.
Để tới chỗ hai cây thông phải đi tiếp đường quốc lộ về phía bên phải dẫn ra núi. Cuối cùng Seita cũng lần được đến nơi nhưng không thấy bóng dáng mẹ đâu. Mọi người đang ngó xuống lòng sông, Seita ngó theo thì thấy năm cái xác chết vì ngạt thở trên bãi cát đã cạn nước, chân tay dang ra, đầu gục xuống. Seita chợt muốn đến xem trong đó có mẹ không.
Sau khi sinh Setsuko, đêm đến mẹ hay lên cơn co thắt ngực. Mẹ thường sai Seita chườm ngực giúp bằng nước lạnh, khó khăn ngồi dậy tựa người vào chồng đệm sau lưng. Dù cách một lớp áo ngủ, cậu vẫn có thể thấy ngực trái của mẹ rung lên theo nhịp tim. Mẹ chủ yếu dùng thuốc Đông y, uống thứ bột màu đỏ hai lần, sáng và chiều, cổ tay mẹ gầy guộc đến độ tay Seita có thế nắm được hai vòng.
Seita vẫn luôn tự trách mình. Mẹ không chạy được nên cậu đã đưa mẹ vào hầm tránh bom từ trước. Cậu hiểu một khi hầm bị lửa bao vây, đó có lẽ sẽ là nơi ra đi của mẹ, vậy mà khi con đường tắt đến hầm tránh bom bị lửa chia cắt, cậu không màng đến an nguy của mẹ, bỏ chạy thục mạng. Nhưng giả dụ có đến được hầm thì sao nào?
“Cùng Setsuko trốn đi, mình mẹ vẫn xoay xở được. Hai đứa các con không sống bình an là mẹ có lỗi với bố, hiểu không?” Mẹ từng nói như đùa.
Hai chiếc xe tải của hải quân chạy trên đường quốc lộ về phía Tây. Một anh lính dân phòng đi xe đạp đang hét gì đó qua loa phóng thanh.
“Hai phát bắn trực diện, tưởng đã che giấu kĩ rồi, vậy mà dầu lại loang ra...” Một thiếu niên trạc tuổi cậu đang nói với bạn.
“Những ai ở Kaminishi, Kaminaka, Ichirizuka hãy tập trung ở trường Quốc dân Mikage!” Tên thị trấn Seita sống được xướng lên, ngay lập tức cậu nghĩ có khi mẹ đang lánh nạn ở ngôi trường đó.
Xuống khỏi đê, cậu lại nghe thấy tiếng nổ, lửa trong đống tàn tích vẫn chưa tắt, con đường không đủ rộng sẽ không đi qua được vì bị hun trong hơi nóng. “Chúng ta ở đây thêm chút nữa nhé,” cậu nói với Setsuko.
Như thể đang đợi anh nói chuyện với mình, cô bé lập tức lên tiếng, “Anh ơi, tè.”
“Được rồi.” Seita chuyển em xuống, đỡ hai chân Setsuko hướng vào bụi cây, một dòng nước tiểu bắn ra mạnh bất ngờ, cậu lấy khăn lau cho em. “Bỏ khăn choàng đầu ra được rồi đấy,” cậu thấy mặt con bé lấm lem. “Nước này sạch.” Cậu lấy nước trong bình nhấp ướt một đầu khăn rửa cho em.
“Đau mắt quá,” mắt cô bé đỏ ngầu, chắc do cay khói.
“Đến trường rồi họ sẽ rửa cho.”
“Mẹ sao rồi?”
“Mẹ đang ở trường.”
“Thế mình đến trường thôi.”
“Anh cũng muốn đi nhưng vẫn nóng quá không đi được.”
“Đến trường cơ!” Setsuko òa khóc, em khóc không phải vì muốn làm nũng hay vì quá đau, giọng nói có điểm chín chắn đến kì lạ.
Đến sân trường, Seita nhờ lính cứu thương rửa mắt cho Setsuko, rửa lần đầu mắt vẫn đau nên hai anh em quay lại xếp ở cuối hàng để đợi được rửa lại.
“Seita, em gặp mẹ chưa?” Chị gái lỡ thì nhà đối diện bắt chuyện với cậu.
“Chưa.”
“Nhanh lên, mẹ em bị thương đấy!” Cậu chưa kịp nhờ trông Setsuko thì chị gái đã nói trước, “Để chị trông cho, sợ lắm phải không bé Setsu, có khóc không?”
Ngày thường cậu không thân với chị gái này mấy, tự nhiên người ta lại tốt như vậy, có phải vì biết tình trạng của mẹ tồi tệ lắm chăng.
Seita rời khỏi hàng, chạy đến phòng y tế quen thuộc của ngôi trường từng học sáu năm. Ở đó, cậu thấy la liệt nào chậu rửa mặt nhuốm máu, những cuộn băng dùng dở, áo blu trắng của các cô y tá cũng đều lấm lem máu. Một người đàn ông mặc trang phục Quốc dân* nằm sấp bất động, một phụ nữ mặc quần thụng bị cắt một bên ống để băng bó chân.
Trang phục phương Tây dành cho nam giới Nhật Bản thời kì Thế chiến thứ Hai, nhìn hao hao quân phục.
Seita đang đứng ngây ra không biết phải hỏi thăm thế nào thì ông xã trưởng Obayashi tới vỗ vai, “À Seita, chúng tôi đang tìm cháu, cháu không sao chứ? Đi đằng này.” Ông dẫn cậu ra ngoài hành lang. Khi trở lại từ phòng y tế, ông lấy từ trong miếng gạc trên khay y tế ra một chiếc nhẫn màu ngọc bích bị xước, “Cái này của mẹ cháu phải không?” Đúng là cậu thấy chiếc nhẫn quen quen.
Ai bị thương nặng sẽ được đưa đến Phòng Thủ công cách đó một tầng, thập tử nhất sinh thì nằm ở phòng giáo viên phía trong.
Thân dưới của mẹ bị băng kín, hai tay quấn băng như cây gậy bóng chày, mặt cũng quấn vòng vòng đầy băng, chỉ có phần mắt, mũi và miệng để hở ra những khe đen xì, chóp mũi trông giống hệt vỏ món tempura. Đến cái quần thụng quen thuộc cũng cháy sém lỗ chỗ, lộ cả quần bó dài màu da lạc đà bên dưới.
“Mẹ cháu mãi mới ngủ được, nếu có bệnh viện nào tiếp nhận thì nên đưa vào, tôi đã hỏi rồi, bệnh viện Kaisei ở Nishinomiya không bị cháy.”
Nói cho đúng là mẹ đang hôn mê, hơi thở rối loạn.
“Bác ơi, tim mẹ cháu không tốt, cháu có thể xin thuốc không?”
“Để tôi hỏi thử xem,” ông Obayashi gật đầu, nhưng ngay cả Seita cũng hiểu rằng việc này rất khó.
Cạnh mẹ có một người đàn ông đang nằm, hễ thở lỗ mũi lại sùi bọt máu, một nữ sinh mặc đồng phục thủy thủ hoang mang nhìn quanh quất như thể khó chịu điều gì hay muốn bỏ chạy, chốc chốc lại lấy khăn lau đi.
Đối diện là một phụ nữ trung niên để trần thân dưới, chỉ có một miếng gạc đắp lên vùng kín, chân trái từ đầu gối trở xuống đã không còn.
“Mẹ ơi,” Seita hạ giọng gọi thử nhưng vẫn không tin được sự thật này.
Cậu thấy lo cho Setsuko nên trở lại sân trường, con bé đang ở bãi cát chỗ có cây xà sắt cùng chị hàng xóm.
“Gặp chưa?”
“Rồi ạ.”
“Thật khổ quá, có gì chị giúp được thì cứ bảo nhé. Phải rồi, đã nhận bánh quy chưa?”
Seita lắc đầu.
“Vậy để chị lấy cho,” nói rồi chị rời đi.
Setsuko đang chơi đồ hàng với chiếc thìa múc kem nhặt được ở bãi cát.
“Cất cái nhẫn này vào ví đi, không được làm mất đâu đấy.”
Cô bé thả nhẫn vào trong ví.
“Mẹ hơi ốm, nhưng sẽ sớm khỏe lại thôi.”
“Mẹ đâu ạ?”
“Ở bệnh viện Nishinomiya, phải rồi, hôm nay em sẽ ở lại trường cùng anh. Ngày mai, em biết cô ở Nishinomiya không? Chỗ gần cái ao ấy, mai mình sẽ đến đó.”
Setsuko không nói gì, cô bé đang vun cát thành từng đống.
“Gia đình chị ở phòng học trên tầng hai, mọi người đều ở đó, các em có lên cùng không?” Chị hàng xóm trở lại, mang theo hai túi bánh quy màu nâu.
“Bọn em sẽ lên sau ạ.” Seita lo Setsuko tủi thân khi thấy nhà người ta đầy đủ bố mẹ, và hơn hết là cậu sợ bản thân sẽ khóc. “Ăn không?”
“Em muốn đến chỗ mẹ.”
“Để mai đi, bây giờ muộn rồi.” Seita ngồi xổm xuống mép bãi cát, “Nhìn này, xem anh giỏi không?” Cậu bật lên bám vào thanh xà đơn, người treo lơ lửng, bắt đầu quay vòng vòng không dứt.
Sáng mùng 8 tháng Mười hai năm Seita đang học lớp Ba trường Quốc dân, chiến tranh nổ ra. Cũng với thanh xà này, cậu đã lập kỉ lục quay xà 46 lần.
Hôm sau, bảo đưa mẹ vào viện nhưng Seita không sao cõng được, đành đi nhờ xe kéo ở gần nhà ga Rokkomichi, ga còn sót lại sau trận cháy.
“Lên đi chú đưa đến trường.”
Họ chạy trên con đường lồi lõm cháy nổ. Từ khi chào đời đến giờ, đây là lần đầu Seita ngồi xe kéo.
Khi xe đến nơi, mẹ đã trong tình trạng cận kề cái chết, không di chuyển được nữa.
Phu xe phất tay quay đi, không lấy tiền.
Tối hôm đó, mẹ suy nhược vì bị bỏng nên trút hơi thở cuối cùng.
“Có thể tháo băng cho cháu nhìn mặt mẹ được không?”
Trước lời đề nghị của Seita, bác sĩ cởi bỏ áo blu trắng, để lộ trang phục quân y bên trong, “Không nên nhìn đâu, để như vậy tốt hơn.”
Mẹ nằm bất động, người cuốn đầy băng lấm lem vết máu, ruồi bâu từng đàn.
Người đàn ông sùi bọt máu và người phụ nữ cụt chân trái đều đã chết.
Một cảnh sát đến nói đôi câu thăm hỏi với thân nhân người đã khuất, vừa ghi chép gì đó vừa lẩm bẩm một mình, “Từ nay chắc cũng chẳng có xe tài đến chở đi, đành đào hố thiêu ngoài sân nhà hỏa táng Rokko vậy, thời tiết còn thế này chứ.” Ông ta cúi chào và đi ra ngoài.
Đám tang không hương khói, không hoa, không bánh cúng, không đọc kinh, thậm chí không có tiếng khóc. Một thân nhân của người đã khuất nhắm mắt để bà lão nọ chải tóc cho, một người khác đang mở ngực áo cho con bú, một thiếu niên cầm trên tay tờ báo phụ bản đã nhàu nát nói đầy cảm thán, “Kinh thật, bắn rơi được tận 60% của 350 máy bay ném bom!”
Seita tự nhiên nhẩm tính, 60% của 350 là 210 chiếc. Một việc chẳng liên quan đến cái chết của mẹ mình.
Trước hết cậu gửi Setsuko cho người họ hàng xa ở Nishinomiya. Nhà này và nhà cậu có giao hẹn, nhà ai bị cháy sẽ sang trú nhà người Ida. Gia đình họ gồm một góa phụ, cậu con trai đang học trường Thương mại Hàng hải, cô con gái, và một người ở trọ đang làm cho Hải quan Kobe.
Trưa mùng 7 tháng Sáu, thi thể mẹ được hỏa táng ở khu phố thương mại thị trấn Ichinosan. Vải băng cổ tay được tháo ra, thay vào đó là một tấm thẻ nhận diện buộc bằng dây đồng.
Cuối cùng Seita cũng trông thấy làn da của mẹ. Đã thành màu đen, không sao nhận ra là da người. Mẹ vừa được đặt lên cáng thì những con dòi rơi xuống.
Nhìn kĩ mới thấy hàng trăm, hàng nghìn con dòi đang bò lổm ngổm trong Phòng Thủ công, người ta giẫm lên như chẳng hề để tâm, khiêng ra ngoài những thi thể trông như mấy khúc gỗ cháy sém bọc chiếu, chất lên xe tải.
Trên chiếc xe buýt đã dỡ hết ghế ngồi, thi thể chết vì ngạt khói hoặc vì vết thương chí mạng xếp thành hàng để chở đi.
Tại bãi đất trống ở khu phố thương mại thị trấn Ichinosan, có một cái hố đường kính 10 mét ngổn ngang những xà nhà, cột nhà, vách ngăn và cửa kéo từ mấy căn nhà bị tháo dỡ*. Người ta đặt các thi thể lên trên đó.
Trong chiến tranh, người ta phải sơ tán, tháo dỡ bớt nhà cửa tạo khoảng trống giữa những công trình trọng yếu và khu tập trung mật độ dân số cao để đề phòng không kích, hỏa hoạn.
Dân phòng tạt mạnh can dầu mazut xuống hố như đang tập huấn phòng cháy chữa cháy, lấy giẻ châm lửa rồi ném vào, lập tức khói đen tỏa ra, lửa bùng cháy.
Những thi thể ngún lửa lăn ra ngoài được họ lấy que cời hất ngược trở vào đám lửa. Trên chiếc bàn phủ vải trắng đặt bên cạnh hố, vài trăm hộp gỗ thô sơ được chuẩn bị sẵn để đựng tro cốt.
Seita bị đuổi đi vì họ bảo sự hiện diện của gia quyến sẽ gây cản trở. Khi lễ hỏa thiêu thiếu thốn đến cả sư cầu siêu này kết thúc thì trời đã tối. Người ta đưa cho Seita hộp gỗ đựng tro cốt có ghi tên bằng than chẳng khác gì phân phối lương thực. Không biết chiếc thẻ nhận dạng giúp ích được đến đâu, mà khói đen kịt như vậy lại cho ra một mẩu xương ngón tay trắng toát.
Mãi đến khuya, Seitai mới về đến ngôi nhà ở Nishinomiya.
“Mẹ vẫn chưa khỏe à?” Setsuko hỏi.
“Ừ, mẹ bị thương trong trận ném bom.”
“Mẹ không đeo nhẫn nữa, có phải mẹ cho Setsuko rồi không?”
Seita giấu hộp tro cốt trong hộc cửa kéo phía trên kệ lệch*, cố gắng xua đi hình ảnh mẩu xương trắng đeo nhẫn hiện lên trong tâm trí.
Kiểu kệ với thiết kế các ngăn không dài hết bề ngang của kệ, xếp xen kẽ nhau.
“Cái nhẫn ấy rất quan trọng, cứ cất đi đã,” cậu nhẹ nhàng ngồi xuống đệm, nói với Setsuko đang nghịch mấy viên bi và chiếc nhẫn.
Cậu không ngờ mẹ đã chuyển quần áo và chăn màn đệm đến chỗ họ hàng ở Nishinomiya này.
“Làm lính hải quân lợi ghê, đồ đạc có xe tải chở hộ.” Bà cô góa nói, chẳng rõ cố ý châm chọc hay không, tay trỏ đống hành lý phủ mảnh vải có họa tiết uốn lượn ở góc hành lang.
Seita tìm mở chiếc giỏ mây, thấy ở trong có mọi thứ từ đồ lót của Setsuko và cậu đến quần áo hằng ngày của mẹ. Hòm quần áo đựng những chiếc kimono tay dài trang trọng, mùi băng phiến lâu không gặp xộc lên.
Hai anh em được dành cho căn phòng rộng 5m2 cạnh cửa ra vào. Ai có chứng nhận là nạn nhân chiến tranh đều được ưu tiên cấp cho gạo, cá hồi, thịt bò và đồ hầm đóng hộp.
Sau khi khói lửa nguội đi, Seita đào được lò than Seto trong đống đổ nát trên phần đất nhỏ hẹp đến độ cậu không chắc đó có phải nơi mình từng ở không, đồ ăn giấu trong lò đều không sao. Cậu mượn xe kéo cỡ lớn, vượt qua bốn con sông Ishiya, Sumiyoshi, Ashiya, Shukugawa, mất một ngày trời để chở đến Nishinomiya.
Khi cậu dỡ đồ đạc xuống và xếp thành đống ở cửa ra vào, bà cô góa than thở một lần nữa, “Đúng là chỉ nhà binh mới có cuộc sống xa xỉ đến vậy.” Bà ta chia mơ muối cho hàng xóm với vẻ mặt rạng rỡ mà trịch thượng.
Nước vẫn bị cắt nên có lẽ vì biết ơn Seita đi lấy nước hộ từ cái giếng cách đấy 300 mét, cô con gái học lớp Mười trường cao đẳng nữ hiện đang được điều động đi làm cho Nhà máy Sản xuất máy bay Nakajima cũng nghỉ làm để chơi cùng Setsuko.
Trong đoàn người đi lấy nước, một phụ nữ có chồng ra trận sống gần đó trở thành mục tiêu đàm tiếu của mọi người khi dám nắm tay cậu sinh viên trường đại học Doshisha đang cởi trần.
Seita và Setsuko trở thành đối tượng được người dân thương cảm, nhờ bà cô góa đã loan báo với vẻ ban ơn khắp nơi rằng, chúng là con đại úy hải quân, và là những đứa trẻ tội nghiệp mất mẹ trong trận không kích.
Cứ tối đến, đàn ễnh ương trong hồ trữ nước gần đó lại kêu ộp ộp. Nước trong hồ dồi dào, hai bên bờ cỏ mọc rậm rạp, đầu mỗi phiến lá đều đậu một con đom đóm lập lòe. Seita vươn tay ra, ánh lửa nhỏ bé đó dời sang ngón tay cậu.
“Này, nắm thử đi.” Cậu đặt nó vào lòng bàn tay Setsuko, cô bé nắm chặt lấy, con đom đóm lập tức nát bét, để lại ở lòng bàn tay một thứ mùi hăng hắc khó chịu.
Dưới màn đêm tháng Sáu lấp lánh, dù vẫn thuộc Nishinomiya, nơi rìa núi này lại như thể không hề dính dáng tới những trận ném bom kia.
Seita viết thư hỏi thăm bố và gửi đến căn cứ hải quân ở Kure, nhưng không có hồi âm. Trên đường từ bưu điện về, do trước đây từng nằng nặc gặng hỏi mẹ, cậu nhớ được ngân hàng Kobe chi nhánh Rokko và ngân hàng Sumitomo chi nhánh Motomachi, bèn ghé qua để kiểm tra lại số tiền tiết kiệm.
Khi nghe Seita thông báo con số 7000 yên, bà cô góa ưỡn ngực hãnh diện, “Khi chồng cô mất, tiền phụ cấp thôi việc của ông ấy những 70.000 yên cơ đấy. Yukihiko lúc ấy mới lớp Chín đã rất ra dáng, lễ phép chào ông giám đốc nên còn được khen, thằng bé chín chắn lắm.” Bà ta rất tự hào về con trai mình.
Buổi tối Setsuko khó ngủ, đôi khi khóc thét lên như sợ hãi điều gì. Mỗi lần như vậy Seita đều choàng tỉnh nên sáng dậy muộn, lại phải nghe mấy lời bóng gió của bà cô góa.
Chỉ mới mười ngày, mơ trong chiếc lọ cổ rộng, trứng khô và bơ đã hết sạch, cả phần lương thực ưu tiên cho nạn nhân chiến tranh cũng ra đi.
Khi lương thực chỉ còn hơn ba lạng, trong đó già nửa là đậu tương, lúa mì và ngô thì bà cô góa nghi ngờ hai đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn đã khấu lẹm vào khẩu phần gia đình mình.
Cuối cùng mọi người chuyển sang ăn ba bữa cháo một ngày. Bà cô góa thường lấy muôi xúc tận đáy nồi, lấy toàn cái cho con gái mình, đổ vào bát Seita và Setsuko thì toàn nước với rau. Thỉnh thoảng, có thể do áy náy, bà ta bảo, “Con bé này đang được điều động làm việc cho đất nước, nó cần ăn nhiều để lấy sức.” Dưới bếp lúc nào cũng sồn sột tiếng muôi cạo cháo cháy dính nồi. Cứ tưởng tượng bộ dạng tham lam của bà cô góa là Seita phát tức, nhưng nghĩ tới lớp cháy đậm đà, bùi bùi giòn giòn ấy cậu lại rịn nước miếng.
Người đàn ông ở trọ nhà bà cô góa làm việc bên Hải quan, thông thuộc đường lối chợ đen, thường biếu thịt bò, đường mạch nha, cá hồi đóng hộp để nịnh bà. Anh ta đang để ý cô con gái.
“Chúng ta ra biển nhé?”
Seita hỏi em, vào một hôm hửng nắng giữa mùa mưa. Cậu rất lo lắng vì Setsuko bị phát ban khá nặng, dùng nước biển lau chắc sẽ đỡ hơn.
Không biết trái tim trẻ thơ đó đã chấp nhận hoàn cảnh thế nào, nhưng cô bé nhắc đến mẹ thưa dần và bám anh như keo.
“Ưm, thích quá!”
Cho tới hè năm trước gia đình họ còn thuê phòng ở Suma để nghỉ hè. Seita đã đặt Setsuko trên bãi biển, bơi ra tận chỗ quả cầu thủy tinh quấn lưới mà ngư dân thả nổi ngoài khơi rồi bơi về. Nơi họ thuê phòng gọi là nhà chòi bên bờ biển, có cửa hàng cho uống rượu ngọt, hai anh em đã nhấm nháp thứ chất lỏng có mùi gừng ở đó. Lúc cậu đi bơi về, Setsuko đang nhét đầy miệng bánh bột mì nướng hattaiko mẹ làm, má phồng lên, nghẹn cứng, mặt dính đầy vụn vỏ bánh.
Seita định hỏi Setsuko có nhớ những kỉ niệm đó không, nhưng chợt thấy không nên gợi cô bé nhớ lại.
Hai anh em đi dọc con sông nhỏ hướng ra bờ biển. Trên đường nhựa thẳng tắp, đây đó có những chiếc xe ngựa chở hành lý sơ tán đang nghỉ chân.
Một cậu bé béo tốt đeo kính, đội mũ đồng phục của trường Cấp hai Kobe 1, hai tay ôm đầy những cuốn sách có vẻ khó đọc đặt vào thùng xe. Con ngựa uể oải phe phẩy đuôi.
Hai anh em rẽ phải, đi lên bờ đê sông Shukugawa. Trên đường có quán giải khát Paboni bán kẹo thạch vị đường saccharin, Seita mua một ít để ăn.
Cậu còn nhớ nửa năm trước, cửa hàng bánh ngọt Juchheim do một người Do Thái mở ở Sannomiya đã bán hàng đến tận phút cuối cùng. Khi thông báo đóng cửa, họ làm những chiếc bánh trang trí tuyệt đẹp, mẹ đã mua cho hai anh em một cái.
Khoảng năm 1940, rất nhiều người Do Thái đến sơ tán ở Akayashiki gần Shinohara, nơi Seita học môn Số học. Tất cả bọn họ đều còn trẻ nhưng ai cũng để râu, cứ 4 giờ chiều lại đến xếp hàng trước nhà tắm công cộng.
Mùa hè mà có người vẫn khoác áo choàng dày cộp, hai chân đều đi giày bên trái, khi di chuyển phải kéo lê chân. Anh ta sao thế nhỉ? Chắc là tù binh được đưa vào nhà máy. Tù binh lao động rất tốt, người ta vẫn nói nhất tù binh, nhì sinh viên, ba lao động trưng dụng, tư lao động chính thức. Công việc chính của họ là sản xuất hộp thuốc lá bằng hợp kim đuyra, hay thước kẻ bằng nhựa tổng hợp. Rốt cuộc những thứ này có giúp Nhật thắng trận được không?
Toàn bộ con đê Shukugawa đều biến thành vườn rau, nở đầy hoa bí ngô và dưa chuột. Con đường dẫn ra quốc lộ hầu như không có người. Bên kia hàng cây dọc quốc lộ có một chiếc máy bay huấn luyện cỡ vừa phủ lớp lưới ngụy trang thưa thớt đến đáng thương. Nó yên lặng nằm đấy, để dành cho trận chiến quyết định vì tổ quốc.
Trên bờ biển có đứa trẻ và bà lão đang múc nước biển bằng chiếc lọ tầm 1,8 lít.
“Setsuko, cởi quần áo ra.”
Seita nhúng khăn xuống nước, rửa đi rửa lại những nốt đỏ lấm tấm trên vai và đùi cô bé, những đường nét nay đã tròn trịa ra dáng con gái. “Chắc sẽ hơi lạnh đấy.”
Hai anh em hay tắm ở nhà tắm công cộng Manchitani, chỉ cách nơi họ sống một căn nhà, nhưng thường là khách sau cùng. Do quy định hạn chế đèn đuốc của chính phủ nên hai anh em luôn phải tắm trong bóng tối, thành thử Seita không nhận ra, bây giờ nhìn Setsuko cởi trần cậu mới thấy con bé trắng trẻo giống bố.
“Người kia làm gì thế nhỉ, ngủ à?”
Ngó sang sườn đê thấp chắn sóng, cậu thấy một thi thể đắp chiếu, hai chân thò ra ngoài to hơn nhiều so với người thường.
“Thôi đừng nhìn. Đợi trời ấm hơn mình có thể bơi, anh sẽ dạy cho.”
“Bơi sẽ đói bụng đấy.”
Gần đây ngay cả Seita cũng không thể chịu đựng cơn đói, đến mức vô thức nặn mụn trứng cá bỏ nhân trắng nhờn vào miệng. Cậu có tiền, nhưng lại không biết cách mua thức ăn ở chợ đen.
“Mình thử câu cá đi.” Bình thường người ta có thể câu được cá bàng chài hay cá vược, bét ra cũng tìm được ít tảo biển, nhưng giờ đây chỉ còn những cây tảo thối rữa đang bập bềnh theo sóng.
Có tiếng còi cảnh báo vang lên nên hai anh em quay về. Đến cổng bệnh viện ở Kaisei, đột nhiên cậu nghe tiếng một cô gái trẻ, “Không, mẹ ơi!” Và thấy một cô y tá đang ôm chặt lấy người phụ nữ đứng tuổi đeo túi vải thắt dây, có vẻ là mẹ từ quê lên.
Seita thẫn thờ nhìn cảnh tượng đó, nửa ghen tị, nửa bị cuốn hút bởi vẻ mặt xinh đẹp của cô y tá. Có tiếng báo động “Sơ tán”, cậu quay phắt ra biển, một chiếc B29 thả ngư lôi đang bay là là trên mặt vịnh Osaka. Phải chăng nó đã thiêu cháy xong mục tiêu, trận ném bom quy mô lớn đó cách xa nơi đây?
“Nói nghe không hay lắm nhưng kimono của mẹ các cháu không còn dùng làm gì nữa, đem đổi lấy gạo được không? Trước giờ cô cũng phải đem đổi dần đồ của mình để bù vào đấy.” Bà cô góa bảo làm thế người mẹ đã khuất của cậu cũng sẽ vui mừng, rồi mở cái hòm quần áo ra trước khi Seita kịp trả lời. Có vẻ bà ta đã nhân lúc hai anh em đi vắng kiểm tra mọi thứ bên trong, thành thạo lấy hai hay ba bộ trải ra chiếu, “Cái này chắc đổi được yến rưỡi gạo. Seita cũng cần thêm dinh dưỡng, khỏe mạnh để còn đi lính chứ.”
Seita nhớ đây là bộ kimono mẹ đã mặc hồi trẻ, trong suốt buổi dự giờ của phụ huynh, cậu cứ quay lại nhìn để chắc chắn rằng mẹ đẹp nhất, nhìn mẹ đầy tự hào. Rồi lần đi gặp bố ở Kure, mẹ trẻ ra không ngờ, cậu vui vẻ sờ chiếc áo khi ngồi trên tàu. Nhưng giờ đây, nghe thấy từ yến rưỡi gạo, yến rưỡi, không hiểu sao cậu sướng run người. Khẩu phần gạo hiếm hoi phân phát cho cả cậu và Setsuko tính ra chưa được nửa rá, vậy mà hai anh em phải ăn trong năm ngày.
Quanh Manchitani toàn nhà nông.
Bà cô góa nhanh chóng quay về ôm theo túi gạo, đổ đầy vào chiếc lọ cổ rộng vốn đựng mơ muối của Seita, phần còn lại cho vào thùng gỗ để gạo của gia đình mình. Hai, ba ngày đầu, hai anh em được ăn no nê, nhưng ngay sau đó lại quay về ăn cháo. Khi cậu tỏ ra bất bình, bà cô nói, “Seita, cháu đã lớn rồi, phải nghĩ đến việc giúp đỡ lẫn nhau. Đã không góp chút gạo nào thì đòi ăn cái gì, không chấp nhận được.”
Dù chấp nhận hay không, bà ta vẫn vui vẻ chuẩn bị hộp cơm trưa cho con gái và cơm nắm cho người khách trọ bằng phần gạo đổi từ những chiếc kimono của mẹ Seita, trong khi chỉ cho hai anh em ăn khô dầu đậu tương.
Setsuko vừa được gợi lại mùi vị của cơm nên không còn muốn ăn món này nữa.
“Sao cô lại nói như vậy, đây là gạo của chúng cháu!”
“Cái gì, ý cháu là cô đang lừa mấy đứa? Nói hay quá nhỉ, cô đã cho hai đứa mồ côi đến ở rồi mà còn bị oán trách thì cô không chăm sóc cho nữa. Được, vậy chúng ta ăn riêng ra, hết phàn nàn rồi chứ? Mà này Seita, ở Tokyo cháu cũng có người thân đấy thôi, cái người nào đó ở đằng ngoại ấy, sao không viết thư cho họ? Biết đâu rồi Nishinomiya cũng sẽ bị ném bom.” Tuy không bảo Seita đi ngay nhưng bà ta đã nói huỵch toẹt suy nghĩ của mình.
Cũng không phải vô lý hai anh em cậu cứ bám mãi ở đây nhưng dẫu sao họ cũng chỉ là nhà vợ em họ của bố. Đúng là cậu còn họ hàng gần hơn ở Kobe, nhưng mọi thứ đã cháy hết nên không liên lạc được với họ.
Seita ra tiệm tạp hóa mua cái muôi làm bằng vỏ sò gắn thêm cán dài, một nồi đất, lọ đựng nước tương, và một cái lược bằng gỗ hoàng dương giá 10 yên cho Setsuko.
Buổi sáng và tối, cậu nấu cơm bằng bếp than đi mượn, rau thì có rau mầm, rau bí luộc lên, còn có món ốc bắt dưới ao đem hầm tương và mực khô ngâm nước rồi hầm.
“Cứ ngồi thoải mái, không cần nghiêm chỉnh quá đâu.”
Setsuko ngồi quỳ như vẫn được dạy, mặt hướng về chiếc bát đặt sơ sài trên chiếu, không có khay đựng.
Ăn xong, Seita lười biếng nằm ưỡn người ra.
“Anh sẽ biến thành con bò đấy,” Setsuko nhắc nhở.
Seita cảm thấy thoải mái khi tách riêng ăn uống, nhưng cậu không chu toàn được mọi việc. Không biết Setsuko bị lây ở đâu mà khi chải tóc cho cô bé bằng chiếc lược gỗ hoàng dương, chấy và trứng chấy rơi lả tả. Rồi khi giặt giũ cậu sơ suất phơi quần áo ra ngoài, “Máy bay địch sẽ phát hiện đấy!” Bà cô góa gắt gỏng. Cậu đã rất cẩn thận khi phơi quần áo nhưng không hiểu sao vẫn bị dính bẩn.
Chuyện hệ trọng hơn cả là hai anh em không được dùng nhà tắm nữa, ba ngày mới được vào một lần và phải tự mang nhiên liệu đến.
Sau một thời gian, Seita cảm thấy thật phiền toái. Ban ngày, cậu mua tạp chí phụ nữ mẹ hay đọc ở tiệm bán sách cũ trước ga Shukugawa về, nằm lăn ra đọc.
Còi cảnh báo vang lên, đài thông báo một đội hình máy bay quy mô lớn đang đến. Cậu không muốn chui xuống cái hầm tránh bom sơ sài của nhà nên kéo Setsuko trốn vào hang sâu đối diện bờ ao. Cũng lại “nhờ ơn” bà cô góa, hai anh em bị những người hàng xóm đàm tiếu. Họ vốn đã chán ngán bọn trẻ mồ côi do chiến tranh, bảo bằng tuổi của Seita lẽ ra phải hăng hái tham gia hoạt động phòng cháy chữa cháy của người dân mới phải. Nhưng với một người đã tận tai nghe tiếng bom rơi, tận mắt thấy tốc độ lửa lây lan như Seita, một hay hai chiếc máy bay thì còn được chứ cả một đội hình thì cậu không muốn đối mặt.
Mùng 6 tháng Bảy, giữa cơn mưa còn sót lại của mùa mưa, những chiếc B29 tấn công Akashi.
Từ trong hang, Seita và Setsuko lơ đễnh nhìn mưa rơi tạo ra những gợn sóng lăn tăn trên mặt ao. Setsuko ôm con búp bê vẫn thường mang theo, “Em muốn về nhà, em không muốn ở nhà cô nữa.” Trước đó cô bé không kêu ca gì mấy, nhưng giờ nói giọng như sắp khóc.
“Nhà chúng ta cháy hết rồi, không còn gì nữa.”
Nhưng đúng là hai anh em không thể ở nhà bà cô góa lâu hơn.
Tối đến Setsuko nằm mơ khóc toáng lên, bà cô góa ập đến như đã rình sẵn, “Con trai và con gái nhà này đều phải làm việc vì tổ quốc, cậu làm gì cho nó hết khóc đi, ồn ào thế này ai ngủ được!”
Bà ta đóng sập cửa. Setsuko càng nức nở to hơn vì thái độ hung hăng ấy, Seita đành bế con bé ra đường.
Những con đom đóm vẫn còn đó, trong thoáng chốc cậu nghĩ giá không có Setsuko ở đây. Trên lưng cậu, cô bé nhanh chóng rơi vào giấc ngủ. Có lẽ là tưởng tượng, nhưng cậu cảm thấy Setsuko nhẹ bẫng đi, muỗi đậu đầy mặt và tay con bé, nếu gãi nhất định sẽ mưng mủ.
Bà cô góa vừa rời nhà, Seita liền mở đàn organ cũ của con gái bà ta ra, ngập ngừng chơi Cờ cá chép, bài hát đầu tiên cậu học, và hát cùng Setsuko.
“A bê xê là xề bánh đúc, u cờ úc là cục mắm tôm, ô mờ ôm là nơm bánh dày...” Sau khi chuyển sang chế độ trường Quốc dân, a bê xê được cải biên thành a bờ cờ.
“Đủ rồi, thời buổi chiến tranh mà chúng mày làm gì thế, rồi cô chúng mày lại ăn mắng thôi, ngu xuẩn!” Không biết bà cô góa về từ lúc nào, tức giận đùng đùng, “Thật đúng là cái đồ xúi quẩy, nhà bị ném bom thì sao, chẳng được tích sự gì. Không tiếc mạng mình thì vào hang mà sống đi!”
“Đã thế đây sẽ là nhà của anh em mình nhé. Ở trong hang này không còn ai đến làm phiền nữa, anh cùng Setsuko hai người muốn làm gì cũng được.” Hang động được đào sâu vào trong, cột chống to chắc, chỉ cần mua một ít rơm từ nông trại về rải và mắc màn thì không phải lo gì nữa, nghĩ vậy Seita bị kích thích, phần nào cảm thấy như chơi trò mạo hiểm đúng với lứa tuổi. Khi còi cảnh báo tắt, cậu yên lặng thu dọn đồ đạc, “Xin lỗi đã làm phiền cô trong thời gian dài, chúng tôi sẽ chuyển đến một nơi khác.”
“Nơi khác? Nơi nào?”
“Chúng tôi cũng chưa biết.”
“Vậy sao? Thôi thì đi cẩn thận nhé. Tạm biệt bé Setsuko.” Bà ta cười miễn cưỡng rồi chui tọt vào nhà.
Seita cố gắng mang theo hòm quần áo, hộp tro cốt của mẹ cùng giỏ mây, chăn đệm, màn và đồ dùng nhà bếp.
Nhìn kĩ lại, nơi này chỉ là một cái hốc, phải sống ở đây cũng thật buồn. Cậu xin được ít rơm, mua được ít hành lá, củ cải ở một nông trại cậu xông đại vào. Nhưng hơn tất cả là Setsuko nô đùa nhảy nhót, “Đây là bếp, đây là cửa ra vào...” Đột nhiên có vẻ bối rối, “Nhà vệ sinh ở đâu?”
“Đừng lo, ở đâu cũng được hết, anh sẽ đi cùng em.”
Setsuko nhẹ nhàng ngồi xuống đống rơm. Seita nhớ bố từng nói, “Con bé này chắc chắn sẽ trở thành một người đẹp tinh tế.” Seita không hiểu từ tinh tế nghĩa là gì nên hỏi lại bố. “Ừm, có thể nói là tao nhã.” Đúng là cô bé rất tao nhã, hơn nữa còn giàu lòng trắc ẩn.
Tuy đã quen với việc hạn chế đèn đuốc, nhưng bóng tối trong căn hầm vào buổi đêm như nhuộm đen mọi thứ. Mắc dây màn lên cây cột chống, hai anh em chui vào trong, nghe tiếng muỗi bay vo ve thành đàn bên ngoài màn, vô thức xích lại gần nhau. Seita ôm hai chân trần của em vào bụng, đột nhiên lòng trào lên xót xa, bèn vô thức ghì cô bé chặt hơn.
“Anh ơi, đau!” Setsuko kêu lên sợ hãi.
“Đi dạo không?”
Không ngủ được, hai anh em dắt nhau ra ngoài đi tiểu. Trên đầu chúng, đèn hiệu xanh đỏ của máy bay Nhật nhấp nháy, hướng về phía Tây.
“Đặc công đấy.”
“Ừm,” Setsuko gật đầu mà chẳng hiểu gì cả, “Nhìn như đom đóm ấy.”
“Ừ nhỉ.” Seita bỗng nảy ra ý tưởng bắt đom đóm thả vào trong màn để sáng hơn một chút. Không hẳn là bắt chước Xa Dận*, nhưng cậu cũng tóm lấy những con đom đóm trong tầm tay mình thả vào màn. Năm hay sáu con bay lượn tạo nên ánh sáng lập lòe rồi đậu lên màn nghỉ lấy sức.
(?-400), chính trị gia Trung Quốc cuối thời Đông Tấn. Nhà nghèo nhưng ham học, ông bắt đom đóm bỏ vào túi lụa để đọc sách thâu đêm.
Seita bắt được hơn trăm con, không đủ nhìn rõ mặt nhau nhưng cũng cảm thấy yên tâm hơn. Dõi theo chuyển động nhẹ nhàng của bầy đom đóm, hai anh em dần chìm vào giấc mơ về những vệt sáng đom đóm.
Trong lễ duyệt binh Hải quân tháng Mười năm 1935, một màn trình diễn ánh sáng hình con tàu được tổ chức trên sườn núi Rokko. Nhìn từ đây, hạm đội liên hợp và tàu sân bay trên vịnh Osaka trông như những cái que lớn nổi trên mặt nước. Trên mũi tàu chiến, người ta căng bạt trắng. Bố lúc đó lên tàu tuần dương Maya, Seita ra sức tìm kiếm nhưng không thấy bóng dáng chiếc tàu nổi bật với đài chỉ huy dốc đứng như vách đá đâu. Tiếng nhạc Khúc quân hành của hải quân vọng lại đứt quãng, có lẽ là ban nhạc kèn đồng của Đại học Thương mại Osaka trình diễn. Những pháo đài sắt nổi trên mặt nước sẽ không bao giờ lùi bước trong bất cứ trận chiến phòng thủ hay tấn công nào.*
Một câu trong khúc quân hành của Hải quân Nhật Bản.
Seita băn khoăn không biết bố đang chiến đấu ở đâu, tấm ảnh đã lốm đốm vết đen do thấm mồ hôi. Cậu so sánh đạn chiếu sáng bắn ra từ máy bay địch pằng pằng pằng với ánh lửa đom đóm, đúng rồi, đạn chiếu sáng của pháo cao xạ cậu thấy trong trận ném bom đêm 17 tháng Ba hệt như những con đom đóm bay lơ lửng trong gió rồi bị nuốt chửng vào trời đêm. Đạn bắn thế có trúng không nhỉ?
Sáng ra, phân nửa số đom đóm chết rơi xuống sàn, Setsuko chôn xác chúng ở cửa hầm.
“Em đang làm gì đấy?”
“Em đang làm mộ cho đom đóm!” Cô bé vẫn cúi gằm, “Mẹ cũng đang ở dưới mộ mà.”
Seita không biết phải nói gì.
“Em hỏi cô, cô bảo mẹ đã chết rồi và đang ở dưới mộ.” Lần đầu tiên Seita khóc, mặt lem luốc nước mắt, “Khi nào đó chúng ta sẽ đi thăm mộ mẹ. Em nhớ không Setsuko? Em đã từng đến nghĩa trang Kasugano gần Nunobiki rồi đấy, mẹ đang ở đó.” Trong một ngôi mộ nhỏ dưới cây long não. Phải rồi, nếu không để khúc xương này ở đó, có lẽ mẹ sẽ không siêu thoát được, Seita nghĩ.
Người dân địa phương đã trông thấy Seita đi lấy nước và đổi kimono của mẹ cho nông dân để lấy gạo, họ nhanh chóng biết hai anh em đã đến sống trong hang động, nhưng không ai lại gần.
Seita nhặt cành cây khô để thổi cơm, cơm không đủ mặn thì đổ ít nước biển vào, tuy dọc đường đi lấy nước trở thành mục tiêu của máy bay P51, nhưng nhìn chung là những ngày thanh bình. Tối đến hai anh em được đom đóm trông nom nên dần quen với cuộc sống trong hang.
Seita bị chàm giữa các ngón ở cả hai tay. Setsuko cũng ngày càng suy yếu. Hai anh em thường đợi đến tối mới lần ra hồ trữ nước, Seita vừa tắm cho em vừa nhặt ốc trong hồ. Xương vai và xương sườn Setsuko ngày một trơ ra.
“Em phải ăn nhiều hơn mới được.” Seita định bắt mấy con ễnh ương nên đưa mắt nhìn xung quanh, tiếng kêu ầm ĩ mà không thấy con nào. Tuy bảo em phải ăn nhiều hơn, nhưng số kimono có thể đổi lương thực của mẹ đã hết. Ở chợ đen bán 3 yên một quả trứng, 100 yên gần 2 lít dầu, 20 yên chưa được 4 lạng thịt bò, 250 yên cân rưỡi gạo, nhưng nếu không biết đường đi nước bước thì khó mua như bắt sao trên trời.
Sống gần thành phố, mấy người nông dân dần khôn ra, không bán gạo lấy tiền nữa, nên chẳng bao lâu hai anh em đành quay lại ăn cháo đậu tương.
Đến cuối tháng Bảy, Setsuko nổi ghẻ. Tối đến Seita có cố làm sạch đống bọ chét bám trên người Setsuko đến mấy, thì sáng hôm sau chúng sẽ lại bám tầng tầng lớp lớp trong nếp áo cô bé. Những con chấy màu tro nổi điểm đỏ như màu của máu. Cho rằng đó là máu Setsuko, Seita điên tiết vặt từng cái chân bé tí của chúng ra, tra tấn đến chết. Nhưng những nỗ lực của cậu cũng không giải quyết được vấn đề, cậu thậm chí còn nghĩ xem đom đóm có ăn được không.
Chẳng mấy chốc, Setsuko chắc phải kiệt sức lắm nên khi cậu đi ra biển, cô bé chỉ bảo “Em sẽ đợi ở đây” rồi ôm lấy con búp bê, nằm vật ra.
Hễ ra ngoài, Seita lại thó trộm mấy quả dưa chuột hay cà chua xanh mới bằng ngón tay út từ vườn rau nhà dân cho Setsuko ăn. Lần nọ, thấy một cậu bé năm hay sáu tuổi đang gặm thứ gì tròn như quả táo, cậu liền giật lấy chạy về, “Setsuko, anh có táo cho em ăn đây!”
Đúng như cậu mong đợi, cô bé sáng mắt, cắn một miếng, nhưng rồi lập tức bảo đây không phải táo. Seita cắn thử, đó là một củ khoai sống đã gọt vỏ.
Vui mừng quá thất vọng nhiều, Setsuko ứa nước mắt.
“Khoai cũng tốt chứ sao, ăn nhanh lên không là anh lấy đấy.” Seita mạnh miệng thế thôi chứ bản thân cũng nghẹn ngào.
Cậu không biết hoạt động phân phối thức ăn hiện nay thế nào, hồi trước họ từng nhận được diêm, muối hạt và gạo. Thỉnh thoảng đọc trên báo thấy tin về việc phân phối lương thực, nhưng những thứ này hai anh em không nhận được vì không phải dân địa phương. Những thứ lấy trộm từ vườn rau nhà dân không đủ cho hai người nên tối đến, Seita lại bới trộm ruộng khoai hay nhổ trộm mía ở các nông trại để lấy nước cho Setsuko uống.
Tối 31 tháng Bảy, Seita đang bới ruộng thì còi cảnh báo hú vang, cậu bất chấp tiếp tục đào khoai, nhưng ngay cạnh đấy có một căn hầm ngoài trời, nông dân đang trú bên dưới phát hiện ra và đánh cậu một trận nên thân.
Khi còi cảnh báo kết thúc, cậu bị lôi về hang của mình. Dưới ánh đèn pin, người nông dân bắt quả tang nắm lá khoai cậu để dành định hầm ăn, một chứng cứ không thể chối cãi.
“Cháu xin lỗi, xin hãy tha cho cháu.” Trước mặt Setsuko đang run rẩy, Seita chắp tay xin lỗi nhưng người nông dân không tha. “Em gái cháu đang ốm, nếu cháu không ở đây nó sẽ không sống nổi mất.”
“Dù với lý do gì thì bới ruộng trộm rau thời chiến vẫn là tội nặng.” Ông ta đá cậu ngã sấp, tóm lấy lưng, “Đi nhanh lên, họ sẽ tống mày vào tù.”
Thế nhưng, viên cảnh sát trong đồn lại rất từ tốn.
“Có vẻ trận ném bom đêm nay nhằm vào Fukui,” anh ta xoa dịu người nông dân đang kích động và giáo huấn Seita một bài nhưng rồi thả ngay.
Khi cậu ra khỏi đồn, không biết bằng cách nào, Setsuko đã đứng đó. Hai anh em quay trở lại hang động, Setsuko xoa lưng Seita đang khóc nức nở không thôi, gặng hỏi, “Anh đau ở đâu à? Không được rồi, phải gọi bác sĩ đến tiêm thôi.” Setsuko nói với giọng điệu giống hệt mẹ.
Tháng Tám, những chiếc máy bay đậu trên tàu sân bay đến tấn công liên tục, Seita đợi khi có báo động ném bom mới ra ăn trộm.
Mọi người khiếp sợ đống máy bay nhấp nháy đèn trên bầu trời mùa hè, nhìn thì ở tít xa nhưng bất cứ lúc nào cũng có thể rải đạn lên đầu mình, nên ai nấy đều rúm ró dưới hầm. Seita thừa cơ luồn vào bếp nhà người ta bằng cửa chính đang mở toang, vơ mọi thứ trong tầm tay.
Đêm mùng 5 tháng Tám, khu vực trung tâm Nishinomiya bị thiêu rụi làm người dân Manchitani đang sống an bình trước đó cũng sợ run, nhưng với Seita đây lại là cơ hội tốt.
Giữa màn âm thanh hỗn độn khủng khiếp xen lẫn tiếng bom nổ, cậu lẻn vào một khu phố vắng ngắt, không cả người lớn lẫn trẻ con, như nơi cậu đã bắt gặp hôm mùng 5 tháng Sáu. Cậu lấy một bộ kimono để đổi gạo, bỏ qua ba lô, không thể cầm hết đi vì còn phải phủi tàn lửa vương vãi rồi nấp dưới nắp cống bằng đá, khom mình tránh dòng người ào ạt chạy nạn.
Trên bầu trời đêm, khói bay ra từ những đám lửa trôi lờ lững, đội B29 bay về phía núi. Seita không còn sợ nữa, thậm chí muốn giơ tay hướng ra biển vẫy gọi, “Này!”
Lợi dụng lúc hỗn loạn, cậu chọn lấy chiếc kimono sặc sỡ xem chừng đổi được nhiều thức ăn hơn. Hôm sau, cậu không có gì để bọc lại, đành giấu chiếc kimono tay dài màu sắc hoa lệ dưới áo và trong quần mình, cứ bước đi nó lại tụt xuống, trông như cái bụng phệ của con ếch. Hai tay cậu ôm lấy phần bụng phình ra, mang nó đến hộ nông dân. Nhưng năm nay hình như không được mùa, mọi người bắt đầu có xu hướng không bán gạo.
Seita sợ bị dân trong vùng để ý nên phải tìm đến tận Nigawa ở Nishinomiya Kitaguchi, nơi đồng lúa la liệt những hố bom, dù vậy cũng chỉ đổi được ít cà chua, đậu nành lông và đậu cô ve.
Setsuko bị tiêu chảy không dứt. Nửa người bên phải trắng nhợt đến trong suốt, nửa bên trái mưng mủ đầy vảy ghẻ.
Khi Seita đem em ra biển tắm, cô bé cứ khóc rấm rứt không thôi. Cậu mang bé đến bác sĩ ở trước nhà ga Shukugawa.
“Cần bổ sung dinh dưỡng nhé,” bác sĩ đặt ống nghe lên ngực Setsuko khám qua loa, cũng không kê thuốc gì cả.
Dinh dưỡng có nghĩa là thịt cá trắng, lòng đỏ trứng, bơ, có thể cả thức uống bổ sung dinh dưỡng nữa. Trước đây đi học về cậu thường ăn sô cô la sản xuất ở Thượng Hải bố gửi qua bưu điện, khi bụng dạ ậm ạch sẽ nạo táo, lấy gạc vắt nước uống.
Nghe qua tưởng như đã là chuyện rất xa xưa, nhưng thật ra cách đây hai năm, anh em cậu có mọi thứ, mà không, chỉ mới hai tháng trước thôi mẹ vẫn ninh đào với đường và mở hộp thịt cua rồi bánh thạch cho hai anh em, nhưng Seita không ăn vì không thích đồ ngọt. Cậu còn vứt cả hộp cơm nấu từ gạo Indica mẹ làm trong ngày “Vì sự nghiệp chấn hưng Châu Á”* bởi thấy nó có mùi rất kinh, rồi cả những món cậu nuốt không trôi khi ăn lần đầu như đồ chay chán ngắt của chùa Obakusan Manpuku, bánh canh bột mì.
Một phần trong công cuộc Tổng động viên Tinh thần Toàn dân, bao gồm các hoạt động như lễ kéo cờ, cúi lạy cung điện, phúng viếng đền, chùa, lao động tự nguyện.
Tất cả đều như giấc mơ.
Setsuko không còn cả sức để giữ con búp bê vật bất ly thân. Nó nằm trong tay cô, đầu lắc lư theo nhịp chân. Chân tay lấm lem bụi đất của búp bê trông còn mũm mĩm hơn Setsuko.
Seita ngồi bệt xuống bờ đê sông Shukugawa.
Ngay cạnh đó có người đàn ông và chiếc xe kéo chất một cây đá lạnh, ông ta đang dùng cưa kèn kẹt cưa nhỏ nó ra.
Seita nhặt những mảnh đá vụn, chấm ướt môi Setsuko.
“Đói rồi phải không?”
“Ừm.”
“Em muốn ăn gì nào?”
“Tempura này, sashimi này, mì thạch nữa.”
Hồi xưa, khi nhà nuôi con chó tên Bell, Seita không thích tempura nên hay lén lút chừa lại, vứt cho nó ăn.
“Hết chưa?”
Gọi là muốn ăn, thật ra chỉ là nhớ lại mùi vị của các món, thế cũng tốt chán. Xem kịch ở Dotonbori xong, trên đường về, hai anh em được mẹ cho ăn lẩu cá ở Maruman. Mỗi người được một quả trứng nhưng mẹ đã nhường cho hai anh em phần của mình.
Seita còn được bố cho đi cùng đến chợ đen khu Nankin* ăn món Trung Hoa. Cậu kéo ra một sợi dài từ củ khoai hầm với nước đường và tương, thắc mắc “Có phải nó bị thiu không nhỉ?” làm mọi người bật cười. Cậu từng móc lấy một viên kẹo ngậm từ bọc đồ thăm hỏi lính ra trận, xỉa chút sữa bột của Setsuko, trộm quế trong cửa hàng kẹo, khi đi tham quan cùng lớp còn chia táo cho cậu bé nghèo chẳng có gì ngoài viên ngậm và kẹo Glico*.
Khu phố Trung Hoa nổi tiếng ở Kobe.
Một nhãn hiệu bánh kẹo Nhật Bản.
Đang suy nghĩ về những thứ đó, Seita bỗng quay lại thực tại. Phải rồi, cần cho Setsuko ăn nhiều dinh dưỡng hơn. Cậu bồn chồn không yên, bế cô bé lên quay về hang.
Nhìn Setsuko nằm ôm con búp bê lơ mơ ngủ, Seita đã nghĩ hay cắt ngón tay cho cô bé uống máu. Mà không, chỉ thế thôi chưa đủ, còn phải bắt ăn cả thịt trên ngón tay nữa.
“Setsuko, tóc em bù xù quá.”
Chỉ mỗi mái tóc là đầy sức sống, mọc rất dày.
Seita nâng em dậy để tết tóc, vừa luồn tay qua tóc tay đã bám đầy chấy.
“Cảm ơn anh.” Khi tóc được tết gọn lại, hai hốc mắt hõm xuống sâu hoắm của cô bé lại càng nổi bật. Không biết Setsuko đang nghĩ gì mà nhặt hai viên đá gần tầm tay lên, “Mời anh.”
“Gì cơ?”
“Anh có muốn ăn cơm hay uống trà không?” Đột nhiên cô bé trở nên hoạt bát, “Để em lấy cho anh bã đậu xào nữa nhé,” và xếp mấy cục đất đá lại như chơi đồ hàng, “Mời anh, anh không ăn à?”
Trưa ngày 22 tháng Tám, Seita đi bơi ở hồ trữ nước về thì Setsuko đã tắt thở.
Cô bé gầy xơ xác, chỉ còn da bọc xương, tắt tiếng từ hai hay ba ngày trước, kiến bò lên mặt cũng không đủ sức phủi đi, nhưng đến tối mắt cô bé dường như động đậy, dõi theo ánh lửa đom đóm.
“Chúng bay lên, bay xuống, a, dừng lại rồi,” Setsuko thều thào yếu ớt.
Một tuần trước, khi Nhật Bản tuyên bố thua trận, Seita bất giác hét lên, “Hạm đội liên hợp sao rồi?”
Một ông già đứng cạnh đó nói chắc nịch, “Họ chìm lâu rồi, không còn chiếc nào.” Tức là tàu tuần dương của bố cũng chìm rồi sao?
Trên đường về, Seita nhìn bức ảnh nhăn nhúm của bố lâu nay đã trở thành một phần không thể tách rời, “Bố cũng mất rồi, bố cũng mất rồi!”
Cảm giác thấm thía chân thật hơn cả khi mẹ qua đời.
Cuối cùng chỉ còn lại hai anh em, Seita mất hoàn toàn ý niệm tiếp tục sống, buông xuôi tất cả. Tuy vậy, vì Setsuko, cậu vẫn đi quanh khu phố lân cận với vài tờ 10 yên rút từ tiền tiết kiệm để trong túi, có lúc mua một con gà giá 150 yên, rồi gạo, tăng giá rất nhanh, cân rưỡi giờ đã 40 yên. Cậu cố gắng cho Setsuko ăn nhưng cô bé không nuốt nổi nữa.
Đến đêm bão về, Seita co ro dưới bóng tối trong hang, đặt xác Setsuko trên đầu gối.
Dù có lúc gà gật ngủ, cậu cũng tỉnh ngay lập tức, vuốt ve mái tóc em, áp vầng trán đã lạnh ngắt vào má mình.
Cậu không khóc.
Gió hú, lá cây rung lắc dữ dội. Giữa cơn bão gầm rú, đột nhiên Seita như nghe thấy tiếng khóc của Setsuko, rồi những ảo giác về lễ diễu hành tàu chiến liên miên ập đến.
Sáng hôm sau, cơn bão đi qua, bầu trời bỗng mang sắc thu, không có lấy một bóng mây, ánh nắng chan chứa.
Seita ẵm Setsuko trèo lên núi, hỏi người của tòa thị chính. Nhà hỏa táng đã đầy, thi thể từ một tuần trước còn chưa xử lý xong, cậu nhận lấy phần phân phối đặc biệt là 15 cân than.
“Với trẻ em, cháu có thể mượn một góc chùa, họ sẽ cho cháu hỏa táng em ở đó, nhớ cởi hết quần áo ra nhé, dùng vỏ đậu châm lửa sẽ cháy rất đượm,” người đàn ông trong nhóm phân phối than có vẻ đã quen với các công đoạn, đã chỉ dẫn cho cậu.
Seita đào một cái hố trên ngọn đồi nhìn xuống Manchitani, đặt Setsuko vào giỏ mây, nhét búp bê, ví, đồ lót của cô bé ở xung quanh, rải vỏ đỗ tương theo chỉ dẫn, xếp cành cây khô lên, đổ hết than vào và đặt cái giỏ trên cùng.
Xong xuôi, cậu châm lửa vào cành cây có tẩm lưu huỳnh, ném xuống hố, lửa lan nhanh trên vỏ đỗ nổ lách tách, làn khói phất phơ từ ngọn lửa đang cháy đột ngột bùng thành một luồng khói nghi ngút bay lên trời.
Seita bỗng thấy nặng bụng. Cậu ngồi xổm xuống, vừa giải quyết vừa nhìn chằm chằm ngọn lửa, chứng tiêu chảy mãn tính cũng bắt đầu tấn công tới cậu.
Bóng tối buông xuống, mỗi cơn gió thổi đến lại phát ra tiếng rít làm ngọn lửa đỏ trên đống than củi bập bùng. Bầu trời về đêm đầy sao, Seita nhìn xuống phía dưới, hai ngày trước lệnh hạn chế đèn đuốc đã được dỡ bỏ, cậu trông thấy ánh sáng đầy hoài niệm lác đác từ những dãy nhà dưới thung lũng.
Bốn năm trước, cậu đến vùng này với mẹ để kiểm tra hoàn cảnh gia đình người được giới thiệu làm vợ cho em họ của bố. Cậu dõi nhìn về phía nhà bà cô góa. Quang cảnh vẫn không thay đổi chút nào so với kí ức ngày đó.
Đến nửa đêm lửa cháy hết. Trời tối đến nỗi Seita muốn nhặt xương cũng chẳng trông thấy gì.
Seita bất chấp, nằm xuống cạnh hố hỏa táng, xung quanh đom đóm bay thành đàn, nhưng Seita không bắt. Có chúng đến đây bầu bạn, Setsuko mới khỏi cô quạnh.
Những con đom đóm bay lên, bay xuống, rồi bay là là, chẳng bao lâu cũng sẽ không ở đây nữa, và cùng em lên thiên đường.
Seita tỉnh giấc lúc bình minh, thu nhặt những mẩu xương trắng đã vỡ vụn như vụn sáp, rồi đi xuống núi.
Trong căn hầm tránh bom ngoài trời đằng sau nhà bà cô góa, cậu thấy vo tròn một mớ thấm nước gồm lớp lót mặc trong kimono và dây cột eo của mẹ.
Có lẽ bà cô góa đã vứt vào đây những thứ cậu quên mang theo. Seita nhặt lên, khoác trên vai đi ra và không bao giờ quay lại nữa.
Chiều 22 tháng Chín năm 1945, xác cậu bé Seita chết cô độc ở sân ga Sannomiya được hỏa táng tại một ngôi chùa thuộc khu phố trên thị trấn Nunobiki, cùng hai ba chục xác trẻ lang thang khác.
Tro cốt gửi vào nhà lưu tro dành cho những linh hồn vô thừa nhận.