Cách tính toán xác suất cũng có những giới hạn của nó. Chẳng hạn khi người ta bắt Anthony Knowles, anh ta thú nhận mình xoay xở, giả mạo sổ quyết toán và vụ tống tiền mà mọi điều người ta muốn biết nhưng trình bày một chứng cứ ngoại phạm rõ ràng trong giờ Sy Kramer bị bắn chết.
Như vậy dù làm cách gì kết quả vẫn là con số không. Đã đến lúc phải lao vào những giả thiết táo bạo.
Nếu người cảnh sát thiếu óc tưởng tượng thì sẽ hỏng việc. Vì có thể tổng hợp lại các sự việc và thấy rõ như sau:
Kramer tống tiền, nhiều khoản và đã biết ba nạn nhân. Giá cả đã được Kramer độc đoán quy định. Ba trăm đô la về chai nước quả có chuột chết, năm trăm do những bức ảnh khoả thân, một nghìn một trăm vì sơ xuất nhỏ nhằm che dấu tội ăn cắp.
Nhưng Kramer còn một nguồn thu nhập khác. Nguồn bóc lột chưa rõ này cung cấp cho hắn ngôi nhà đẹp, hai chiếc xe, tủ đầy ắp quần áo cắt may và một tài khoản ở nhà băng bốn mươi lăm nghìn đô la. Ba chiếc phong bì trong va li thuộc về những nguồn lợi nhỏ chi tiêu hàng ngày. Chiếc thứ tư chỉ có một tờ đánh máy giấy than đã gửi cho ai đó với nội dung: Tôi thấy tất cả. Chiếc phong bì này dẫn đến nạn nhân số một chăng? Như vậy ai nhận tờ thông báo này? và Kramer đã thấy gì?
- Phải đi vào sự việc, sự việc cụ thể.
Một người là Phil Kettering biến mất. Vì sao? Anh ta ở đâu? Có phải là kẻ giết Kramer không? Kramer xác định đã thấy tất cả đối với anh ta chăng? Kramer thấy gì, thế nào đây?
Cotton Hawes lao vào một giả thuyết táo bạo trong một ngày nghỉ, ngoài giờ làm việc. Nếu nhầm thì anh không lãng phí thì giờ và tiền của cộng đồng. Nếu đúng sẽ có giờ hành động.
Ngày thứ tư 17 tháng bảy vào buổi sáng anh lái xe đi, không nói với ai mình đi đâu. Anh đến vùng núi phía bắc, leo lên những ngọn Adirondacks vào căn nhà đi săn ở Kukabonga.
Jerry Fielding nhận ra xe anh, xuống những bậc thấp đón anh. Ông nói:
- Tôi rất mong được gặp lại ông. Có tin gì về Kettering không?
- Không. Không tìm ra được vết tích gì.
- Dấu hiệu không hay cho anh ta, đúng không.
- Rất xấu, tôi đồng tình với ông. Ông biết rõ khu rừng này chứ?
- Như trong túi tôi vậy.
- Ông hướng dẫn cho tôi được không?
- Ông muốn đi săn à?
- Theo một ý nghĩa nào đó thì đúng, Hawes nói trước khi lấy chiếc va li nhỏ trong xe,
- Ông có cái gì trong đó? Fielding ngạc nhiên hỏi.
- Quần tắm. Ông bắt đầu dẫn lại hồ cho.
- Ông nóng lắm à? Fielding hỏi, càng lạ lùng hơn.
- Có lẽ, tôi đang có lửa cháy trong mình. Tôi cho rằng một chốc nữa chúng ta sẽ biết.
- Được. Chờ tôi đốt điếu thuốc đã - Fielding nói đơn giản.
Họ tìm kiếm chỗ đó một giờ. Mộc góc vừa gần đường vừa ô trên bờ hồ. Cây cỏ mới mọc thêm che mặt đất một ít nhưng còn thấy được những vết bánh xe. Hawes lại bò cúi xuống nước.
- Có cái gì trong đó chăng? Fielding hỏi.
- Một chiếc xe.
Hawes đã cởi áo quần, mặc nhanh quần tắm chuẩn bị xuống nước.
Chỗ ấy khá sâu đấy Fielding bảo anh.
- Cũng phải xuống thôi, anh trả lời và nhảy ào xuống. Anh lặn mất hút, Nước tháng bảy lạnh. Hawes cảm thấy im lìm, mờ tối khi anh xuống sâu dần. Chiếc xe nằm trên cát như vỏ một con tàu bị đắm. Anh nắm lấy cửa kéo ra để đứng lên dưới đáy, tìm cách nhìn vào bên trong xe, Không thể được, lòng hồ tối quá. Cảm thấy ngạt thở, anh giận gót chân, thả nắm cửa trồi lên mặt nước.
Fielding đang chờ trên bờ.
- Có thấy gì không?
Hawes thở hít mấy hơi trước khi trả lời.
- Chiếc xe dưới lòng hồ là một chiếc Plymouth. Tôi không trông thấy được bên trong. Cần có một chiếc đèn chiếu và đòn bẩy để mở cửa xe. Ông bơi được chứ - Fielding?
- Như một con cá.
- Rất tốt. Ở nhà ông có mấy máy điện thoại? Hawes kêu lên vừa bơi vào bờ.
- Hai, làm sao?
- Hay lắm. Trong lúc ông điện cho người ta mang dụng cụ tới, tôi gọi về thành phố hỏi chi tiết về chiếc xe.
Liên lạc với thành phố, Cotton Hawes chợt nghĩ cần thêm một số đồ dùng nữa, ngoài chiếc đèn chiếu và đòn bẩy. Anh yêu cầu một mặt nạ và những chai khí nén. Dụng cụ cuối buổi chiều mới tới. Fielding và Hawes trở lại hồ, bận quần áo đánh cá dưới nước, và cùng lặn xuống.
Lại tĩnh lặng dưới lòng hồ, bóng tối xanh thẳm... Hawes cầm chiếc đèn chiếu, Fielding đòn bẩy. Vừa xuống sâu, Hawes vừa lặp đi lặp lại. Nếu là chiếc xe của Kettering... nếu là chiếc xe của Kettering...
Và một ý nghĩ mới đến với anh.
Nếu đó là chiếc xe của Kettering, giả thuyết của anh là đúng. Lập luận thực ra cũng đơn giản. Hawes cho rằng Kettering bị giết ở Kukabonga, không bao giờ trở về sau cuộc đi săn nữa. Bị một kẻ nào đó giết ở đây và thủ tiêu xác chết. Sy Kramer chứng kiến việc ám hại, đưa tin. “Tôi thấy tất cả”. Hung thủ giết Kettering là người đã nộp cho Kramer những món tiền khổng lồ để bảo vệ mình, cho đến ngày quá mệt mỏi, quyết định phạm tôi lần thứ hai, giết chết Kramer
Ý nghĩ mới đó nảy ra trong đầu óc Hawes cũng đáng lo ngại. Vì nếu Kettering bị sát hại ở Kukabonga, và nếu hung thủ cũng là kẻ giết chết Kramer, có gì ngăn cản hắn gây ra vụ án mạng thứ ba?
Jerry Fielding phải chăng có mặt khi Kettering bị giết? Và Fielding lại đang cầm chiếc đòn bẩy!
Nếu chiếc xe là của Kettering và nếu Kettering bị sát hại Jerry Fielding phải chăng có thể là thủ phạm cũng như những kẻ khác đã có mặt trong tháng chín?
Hawes tự hỏi có phải mình ở dưới đáy hồ với một kẻ sát nhân không? Ý nghĩ đó làm anh nổi da gà nhưng chẳng làm sao được, đành chờ đợi:
Anh lại phía sau chiếc xe, Fielding theo sát anh, tay cầm đòn bẩy. Hawes chiếu đèn vào tấm biển, số xe là 39X - 1412. Anh lẩm bẩm nhiều lần đề nhớ, ra hiệu cho Fielding theo anh lại cánh cửa. Fielding lại gần. Sau chiếc mặt nạ, khuôn mặt ông có cái gì đó ghê sợ, dọa dẫm. Không còn là người đậm đà, hòa nhã đón tiếp thân mật Hawes buổi sáng nữa. Trong tay ông chiếc đòn bẩy có dáng dấp một vũ khí đáng sợ. Hawes đưa chùm ánh sáng vào trong xe, không thấy gì. Anh hiểu nếu Kettering ở trong xe, xác anh ta phải nằm trên sàn không trông thấy qua cửa kính. Anh lại ra hiệu cho Fielding.
Jerry Fielding có vẻ không hiểu. Ông đứng im, tay cầm đòn bẩy, Hawes bơi quanh xe, mở thử các cửa vẫn khóa chặt. Anh trở lại, giơ ngón tay trỏ vào cửa bên cạnh chỗ lái xe.
Fielding hiểu, nghiêng đầu. Họ dồn sức cùng ấn xuống đòn bẩy,- mở cánh cửa ra. Hawes vào trong xe, tự nhủ Fielding chỉ việc đóng cửa nhốt anh lại, Hawes chết ngạt khi chai khí nén đã hết. Fielding không động tĩnh gì, vẫn đứng bên cạnh cửa và chờ đợi.
Hawes chiếu đèn vào ghế sau, vẫn trống không. Anh bước thụt lùi ra khỏi xe, kéo Fielding đến sau hòm. Họ dùng đòn bẩy nạy khóa, mở được nắp hòm. Hòm cũng trống rỗng. Chắc là chiếc xe của Kettering nhưng không có xác ở đấy.
Hai người cùng trồi lên mặt nước.
Anh thanh tra tự hỏi có nên xin lỗi Fielding nhưng anh nín lặng. Họ trở về nhà, Hawes điện thoại hỏi Sở quản lý xe cộ. Sau mười phút người ta gọi lại báo cho anh biết số 39 X 1412 là xe của một người tên là Phil Kettering ở Sand’s Spit. Anh cảm ơn và bỏ máy.
Anh không phải là người giấu kín ý nghĩ của mình. Anh còn cần Fielding giúp đỡ và muốn biết nên đối xử ra sao.
- Fielding - anh bắt đầu nói - ông đừng giận tôi.
- Ông đã nghi ngờ tôi chứ gì?
- Tôi cũng không biết nữa. Xe của Kettering ở dưới lòng hồ mà không biết xác ông ta đâu. Theo tôi, chắc được chôn đâu đó trong rừng, không xa chỗ người ta đẩy xe xuống hồ. Tôi nghĩ phải là một người trong nhà giết Kettering, bị Kramer trông thấy. Kramer bắt đầu tống tiền nên bị giết. Thế đấy.
- Và tôi có mặt khi Kettering bị giết. Đúng không?
- Đúng.
- Đây là công việc của ông, tôi hiểu lắm.
- Rất hay. Sáng hôm Kettering vào rừng một mình trước khi ra về, ông ở đâu?
- Tôi ở trong nhà với những người kia cho đến khi ăn sáng xong thì tôi ra tỉnh.
- Để làm gì?
- Đi mua thực phẩm
- Người ta có nhớ đã gặp ông không?
- Tôi ở cả buổi sáng mua các thứ. Chắc chắn người ta nhớ có tôi. Nếu không, kiểm tra ngày ghi hóa đơn cũng dễ thôi. Tôi không có thời gian thực tế để giết Kettering, chôn đi và đẩy xe anh ta xuống hồ.
- Ông có kiểm tra ngay được không?
- Tôi gọi điện thoại để ông tự nói chuyện với người bán thực phẩm. Anh ta tên là Pete Canby. Ông chỉ việc hỏi anh ta những gì ông muốn biết.
- Kettering đi khỏi đây vào ngày nào?
- Ngày thứ tư. Để tôi xem lại... Ngày mồng 5 tháng chín. Tôi gọi Pete và ông có thể nói chuyện.
Fielding quay số điện thoại người bán hàng rồi đưa máy cho Hawes, Canby tìm các hóa đơn. Anh đã xác nhận Jerry Fielding có mặt. ở tỉnh trong buổi sáng ngày 5 tháng chín. Hawes bỏ máy.
- Tội không biết nên xin lỗi ông thế nào – Anh nói.
- Không có gì. Ông làm nhiệm vụ của mình. Phải như thế. Bây giờ ông có muốn chúng ta cùng đi tìm mộ không?
Họ tìm kiếm rất lâu nhưng không thấy gì Cotton Hawes trở về thành phố, với một ý nghĩ khác. Một ý nghĩ suýt làm anh mất mạng.
Hung thủ là một trong ba người. Anh biết vậy. Frank Ruther, Joaquim Miller, và John Murphy...
Hawes không biết ai trong ba người và cho rằng cái chết của Kramer, xác Kettering tan rữa trong một xó nào của vùng núi Adirondacks chỉ khám phá ra được bằng mưu mẹo. Phải bố trí một ván cờ thật chặt chẽ, một phần cũng dựa vào phản ứng của Lucy Mencken trước tay tống tiền thứ hai cho là tiếp tục công việc của Kramer. Torr chỉ hù dọa mơ hồ nhưng Lucy sẵn sàng lại nộp tiền, thấy việc Kramer có người thừa kế cơ nghiệp là lẽ đương nhiên.
Anh hi vọng hung thủ cũng sẽ hành động như vậy. Nếu ván cờ thắng, anh sẽ tóm được kẻ giết người, nếu không thành anh cũng chẳng mất gì mà sẽ biết được điều khác... Lập luận của anh dù sao cũng có những sơ hở, nghiêm trọng, suýt làm anh mất mạng nặng nhất là anh giữ kín kế hoạch của mình, không trao đổi gì với đồng đội.
Anh về thành phố lúc bốn giờ sáng, thuê một phòng khách sạn Parker ở trung tâm Isola. với tên giả là David Gorman, ở đấy anh gửi đi ba bức điện như nhau, một cho Ruther, một cho Miller và bức cuối cùng cho Murphy.
“Tôi biết rõ vụ Kettering. Sẵn sàng nói chuyện. Có thể thỏa thuận với nhau. Ông đến khách sạn Parker, Isola. Phòng 1612 vào đúng trưa náy. Tôi sẽ có mặt ở đó. Hãy đến một mình. David Gorman.”
Những bức điện gửi đi lúc bốn giờ ba phút. Đến bốn giờ rưỡi, anh gọi điện cho quận 87 hỏi gặp anh Carella. Carella đi vắng Meyer Meyer trả lời.
- Anh ấy ở nhà, Cotton ạ, có việc gì vậy?
- Sáng nay anh ấy đến chứ?
- Có lẽ vào tám giờ. Anh muốn nhắn gì ư?
- Lúc anh ấy đến, bảo gọi điện cho tôi ở khách sạn Parker.
- Đồng ý. Công việc tốt chứ?
- Tôi ở phòng 1612.
- Tôi sẽ nói lại.
- Cám ơn.
Bây giờ anh chỉ còn việc chờ.
Hawes suy nghĩ về các mặt của vấn đề và tìm đặc điểm của từng kẻ khả nghi. Không ai bắn giỏi nhưng không cần phải là chuyên gia mới hạ được một người cách tám bước chân với khẩu súng săn. Murphy có lẽ ít có khả năng nhất vì đôi tay run rẩy, nhưng Murphy lái xe rất giỏi và hung thủ đi xe. Mỗi người đều có điều kiện nộp số tiền lớn Kramer đòi hỏi. Ruther thú nhận thừa kế được một tài sản, bảo rằng đã phung phí nhiều. Anh ta cũng có thể đã cho Kramer. Miller đầu cơ đất đai và xác định kiếm được ba mươi nghìn đô la, có lẽ còn hơn thế. Murphy là một người đổi tiền trước đây, có ngôi nhà sang trọng, tham gia loại thể thao đắt tiền và chơi sang, ông này cũng có khả năng mua sự im lặng của Kramer.
Người nào cũng có điều kiện cả.
Người nào cũng ở trong rừng hôm Kettering ra đi.
Bất kỳ ai trong ba người đó cũng có thể giết Kettering và Kramer. Anh chỉ còn chờ. Đến giờ sẽ có tiếng gõ cửa và Hawes mở ra cho kẻ giết người. Vấn đề là thời gian. Anh nhìn đồng hồ. Mới năm giờ hai mươi bảy phút. Anh rút khẩu súng ngắn trong bao dưới nách trái, tháo dây đeo để tất cả ở bàn đầu giường. Sau đó anh ngả người trong chiếc ghế dựa ngủ thiếp đi.
Người ta gõ cửa sớm hơn dự định.
Hawes giật mình choàng dậy, dụi mắt và nhìn đồng hồ. Chín giờ. Ánh nắng tràn ngập gian phòng. Còn những ba giờ nữa mà.
- Ai đấy? Hawes hỏi.
- Người đi săn - một giọng trả lời.
Hawes ra mở cửa, khẩu súng vẫn để ở bàn.
Hawes mở cửa cho hung thủ. Cho cả ba người.
-16-
Cả ba người đều cầm súng ngắn.
- Vào lại trong phòng đi - Ruther nói.
- Nhanh lên - Ruther ra lệnh.
- Và không được kêu một tiếng, Miller cảnh cáo.
Mặt Hawes mất cả thoải mái. Ba người đẩy anh vào phòng nhanh gọn, im lặng. Miller khóa cửa, Murphy kéo màn cửa sổ, con mắt sắc sảo của Ruther nhìn chiếc dây đeo và khẩu súng ngắn trên bàn ngủ.
Ông già đàng hoàng đến lấy khẩu súng giắt vào thắt lưng.
- Chúng tôi không ngờ được gặp ông, Ông Hawes - Ruther nói. Chúng tôi tưởng thực sự có một tên là David Gorman. Ai biết đâu...
Chuông điện thoại reo Hawes ngập ngừng.
- Ông trả lời đi - Ruther bảo.
- Tôi phải nói gì đây?
- Có ai biết ông ở đây không? Ruther hỏi.
- Không - Hawes trả lời không nao núng.
- Thế có lẽ chỗ tiếp tân. Cứ trả lời bình thường. Hỏi xem họ muốn gì. Và đừng đùa đấy.
Hawes nhấc máy.
- A lô?
- Cotton đấy à? Steve đây - Carella nói.
- Vâng, đây là phòng 1612.
- Sao?
- Ô. Hawes đang cầm máy.
Carella không trả lời ngay. Hawes hình dung anh đang nhún vai.
- Được đồng ý, đó là phòng 1612 và Ô. Hawes đang cầm máy. Và bây giờ, việc lộn xộn ấy nghĩa là gì.
- Vâng, tôi đã gọi bữa sáng. Cách đây mười phút - Hawes nói.
- Thế nào? Nghe đây, Cotton...
- Nếu cần, tôi sẽ gọi lại các món ăn... tốt, tốt. Cho nước cam, cà phê và bánh ngọt. Thế thôi.
- Đúng là Cotton ở máy đấy à?
- Chứ sao!
- Này, có việc gì...?
Hawes dùng tay bịt ống nghe.
- Họ muốn đem bữa sáng lên cho tôi. Được không?
- Không, Ruther nói.
- Cứ để mang lên - Murphy can thiệp. Đừng để người ta nghĩ có điều gì không bình thường.
- Ông ấy có lý đấy, Frank Miller nói thêm.
- Được rồi, bảo họ cứ lên. Không vẽ chuyện. Coi chừng!
Hawes bỏ ông nghe lên tai:
- A lô?
- Cotton - Carella thở dài nhẫn nại - Tôi vừa đến cơ quan Meyer viết để lại mấy chữ, bảo tôi gọi anh ở khách sạn Parker...
- Lên ngay - Hawes nói.
- Sao?
- Tôi bảo lên ngay, phòng 162.
- Cotton, anh...
- Tôi chờ - Hawes nói và bỏ máy.
- Họ bảo sao? - Ruther hỏi.
- Họ bảo sẽ đưa lên.
- Trong bao lâu nữa?
Hawes tính nhanh thời gian một chiếc xe cảnh sát rú còi từ bốt phóng đến.
- Khoảng mười lăm phút - Nói xong anh tiếc ngay là không nói lên nửa tiếng.
Anh tự nhủ sẽ không có việc gì cho đến lúc người hầu phòng anh bịa ra đưa bữa ăn sáng lên.
Nếu chậm hơn, những kẻ này chờ được bao lâu? Điều cần thiết là gợi cho họ nói để kéo dài thời gian. Khi nói, người ta mất khái niệm thời gian.
- Tôi chỉ chờ có một người - Hawes nói.
- Đáng lẽ chúng tôi phải nghi ngờ điều đó - Ruther đáp. Chúng tôi hơi ngạc nhiên về chữ “Đến một mình” trong bức điện. Nếu ông nắm được vấn đề Kettering thì phải biết chúng tôi có ba người. Nhưng chúng tôi cho là ông muốn nói đến một mình, không có cảnh sát. Chúng tôi đã nhầm, đúng không?
- Đúng thế.
- Thực sự ông có nắm được vấn đề Kettering không?
- Tôi biết chiếc xe anh ta nằm dưới lòng hầm. Chắc xác được chôn đâu đó. Có gì nữa mà biết?
- Nhiều điều lắm - Miller nói.
- Vì sao các ông giết anh ta?
- Một... Miller bắt đầu nói.
Nhưng Ruther cắt ngang lời anh.
- Im miệng đi, Joaquim.
- Có làm sao đâu? Anh quên chúng ta đến làm gì à?
- Anh ấy có lý Frank. Việc đó còn làm gì được nữa? Ông già có vẻ hoàn toàn bất lịch sự với khẩu súng ngắn ở thắt lưng và một khẩu trong tay, trông như một quận trưởng hách dịch.
- Vì sao các ông giết Kettering? Hawes hỏi lại.
Miller đưa mắt nhìn Ruther thăm dò. Anh này nghiêng đầu.
- Một tai nạn. Chúng tôi giết chết anh ta ngoài ý muốn.
- Chúng tôi là ai? Người nào trong các ông?
- Không xác định được. Chúng tôi cùng đi săn, thấy lay động trong bụi cây, ngỡ là một con cáo. Cả ba cùng bắn một lúc. Con cáo lại là Kettering. Chạy lại thì anh ta đã chết. Không biết do viên đạn của ai.
- Dù sao thì cũng không phải của tôi. Murphy tuyên bố.
- Chẳng ai biết được, John ạ.
- Có, tôi biết chứ. Tôi có khẩu súng Savage ba trăm, các anh có khẩu hai mươi hai. Nếu tôi bắn trúng, các anh đã ...
- Tôi nhắc lại chẳng biết được, John.
- Trời ơi, có tôi biết. Kettering bị chết vì viên đạn cỡ súng hai mươi hai.
- Sao ông không nói ngay lúc đó.
- Tôi mất cả bình tĩnh, không biết mình làm gì nữa. Anh thấy đấy. Các anh cũng chẳng hơn gì.
- Lúc ấy rồi thế nào? Hawes hỏi.
- Chúng tôi ở giữa rừng với một cái xác chết trong tay...
Hawes bỗng hình dung mình cùng với họ trong khu rừng vắng lặng, cúi xuống thân thể một người vừa chết, bàng hoàng vì sự im ắng cùng ba tiếng súng nổ và tiếng kêu... Anh hiểu những người này đang sống lại cảnh ấy, thấy lại những cảm giác lúc ấy, run rẩy vô cùng...
- Chúng tôi không biết làm như thế nào - Miller lại nói.
- Tôi, tôi muốn báo cáo tai nạn với nhà chức trách - Murphy khẳng định.
- Nhưng chúng ta làm sao được. Anh ta chết rồi. Lạy Chúa, ông biết rõ anh ta chết rồi.
- Nhưng là một tai nạn trong khi săn bắn.
- Điều đó thì làm được gì? Bao nhiêu người bị treo cổ vì tai nạn rồi.
- Đáng lẽ phải báo cáo việc đó.
- Nhưng không thể. Nếu người ta không tin, kết tội chúng giết người thì sao?
- Người ta sẽ tin chúng ta.
- Và ông cũng nhớ vụ tống tiền tai hại cho tôi vì việc đó chứ?
- Với tôi cũng vậy. Miller an ủi.
- Ảnh của chúng ta sẽ đăng tải lên các báo về những vụ bê bối trong nước. Rồi sự ngờ vực, không tin chắc ai là người trong chúng ta đã giết một người. Chúng ta sống sao nổi trong tình trạng đó.
Báo cáo thì tốt hơn. Murphy lặp lại.
- Chúng ta làm thế là đúng. Không ai thấy chúng ta. Không ai biết được.
- Không phải là một vụ án mạng. Một tai nạn thôi. Đáng nhẽ...
- Nhưng lạy Thần rừng, anh ta chết rồi. Ông muốn thấy cả đội quân cảnh sát làm cuộc sống chúng ta đảo nghiêng lên ư? Muốn sống như trong địa ngục? Ông muốn những cơ sở kinh doanh của chúng ta, những gì chúng ta cật lực làm ra bị đổ xuống sông biển? Phá nát cuộc sống chúng ta vì một người chết, một tai nạn ngu ngốc ư? Ông muốn cầu may về sự khoan hồng của tòa án à? Không. Chúng ta đã làm những gì cần phải làm. Phải vậy thôi.
- Có lẽ thế... Murphy thở dài.
Hawes tự nhủ việc tranh cãi trong rừng cũng kết thúc theo cách đó, được kết luận theo lý lẽ sai trái, lý lẽ của ba người sợ hãi trước một vấn đề vượt quá khả năng của họ.
- Thế rồi chúng tôi chôn anh ta - Miller nói tiếp. Chúng tôi tháo phanh tay của chiếc xe, khóa các cửa lên xuống rồi đẩy xe xuống hồ. Nghĩ không có ai thấy, chắc chắn chỉ có chúng tôi trong rừng.
- Các ông báo cáo lên thì hơn - Hawes nói. Nặng nhất thì cũng chỉ bị kết tội mười lăm năm tù hoặc một nghìn đô la tiền phạt, hay cả hai nếu chánh án quá khắt khe. Thường thì lập luận tai nạn được chấp nhận, các ông có thể không bị kết tội thậm chí không bị phạt tiền.
- Chúng tôi không có thì giờ hỏi luật sư, Ô. Hawes. Thì giờ cấp bách, phải hành động nhanh. Chúng tôi làm theo cái hợp lý nhất mà chúng tôi nghĩ. Không biết ở vị trí chúng tôi, ông sẽ làm như thế nào.
- Tôi đi báo cáo ngay.
- Có thể đúng mà cũng có thể không. Bây giờ can đảm lên, không ở trong cuộc thì nói thế. Ông không có ở đó, súng đang bốc khói, một người chết dưới chân như chúng tôi. Ngồi trong lòng một chiếc ghế bành thì dễ quyết định thôi.
- Ông hiểu cho, Miller nói thêm - Chúng tôi nghĩ là một vụ án mạng.
- Tôi, tôi đã bảo phải đi báo cáo - Miller lại nói. Đã nói nhiều nhưng các anh không nghe. Những thằng hèn. Đáng lẽ tôi không nên nghe các anh! Không nên nghe những người hoảng loạn.
- Ông là người trong cuộc, hãy im đi - Miller kêu lên. Làm sao chúng ta biết được có người đang theo dõi.
- Kramer à? Hawes nói
- Đúng, Kramer. Thằng chó đẻ.
- Các ông nhận được mảnh giấy “Tôi thấy tất cả” vào lúc nào?
- Ngày chúng tôi về nhà.
- Sau đó thì sao?
- Tiếp đó nó gọi điện thoại. Chúng tôi gặp nó ở Isolo vào cuối tháng chín. Nó bảo xem cả ba chúng tôi là tội phạm giết người. Nó chứng kiến những phát súng bắn, thấy chúng tôi chôn Kettering và phi tang chiếc xe. Và dưới con mắt nó, theo pháp luật cả ba chúng tôi có tội như nhau, nó đòi phải nộp tiền như nhau. Nó buộc phải có ba mười sáu nghìn đô la. Mỗi người mười hai nghìn.
- Điều đó giải thích được những chi tiêu điên rồ trong tháng chín. Sau đó?
- Đến tháng mười nó đòi nộp thêm, buộc mỗi người tăng mười tám nghìn, tất cả là ba mươi nghìn. Nó khẳng định đó là đòi hỏi cuối cùng. Chúng tôi không đủ số tiền đó một lần, nó chấp nhận trả tiền làm hai lần, hai mươi mốt nghìn trong tháng mười và chín nghìn vào tháng giêng.
- Chúng tôi phải nghi ngờ điều đó mới phải - Hawes nói. Tất cả những khoản tiền đều chia hết cho ba. Và đến tháng tư thì sao? Số tiền mười lăm nghìn đô la.
- Chúng tôi không nghe nói đến nó trong suốt mùa đông và bắt đầu tin rằng, nó không đòi chúng tôi gì nữa, Murphy nói. Thế rồi tháng tư nó lại đòi mười lăm nghìn đô la, thề thốt là lần cuối cùng. Chúng tôi cũng kiếm được mười lăm nghìn đô cho nó.
- Đấy là lần nộp cuối cùng?
- Không, nó tham lam. Nếu bằng lòng với những số tiền đã nhận thì Kramer còn sống đấy. Nó lại điện thoại cho chúng tôi vào đầu tháng sáu, đòi mười lăm nghìn nữa. Đến đây, chúng tôi quyết định giết chết nó.
- Các ông làm cách nào - Hawes hỏi.
- Bữa ăn sáng sao chưa đưa lên? Họ không mang nhanh cho, Ruther nhận xét.
- Sắp đưa lên thôi. Các ông kể cho nghe làm cách nào để giết Kramer đi.
- Chúng tôi theo dõi nó một tháng - Murphy giải thích. Mỗi người mỗi lượt, xây dựng một bảng giờ giấc, biết được nó làm những gì, đi đâu, vào giờ nào. Cuối cùng nắm rõ cuộc sống của nó như chính nó vậy.
- Thế rồi sao?
- Trong đêm 26 tháng sáu, chúng tôi mua một khẩu súng Savage ba trăm.
- Vì sao các ông đặc biệt chọn khẩu súng ấy?
- Lúc đầu chúng tôi hình dung có thể bắn nát mặt Kramer không ai nhận ra nó. Và cũng vì tôi có một khẩu súng Savage - Murphy bảo. Chúng tôi nghĩ nếu cảnh sát kiểm tra vũ khí, khẩu súng của tôi được loại bỏ và cả tôi nữa trong trường hợp đó.
- Ai bắn - Hawes hỏi.
Không người nào trả lời.
- Điều này dù sao cũng không quan trọng. Các ông cùng hành động mà.
- Người bắn giỏi nhất trong ba chúng tôi bắn. Ruther nói - Chỉ có thể nói thế với ông thôi.
- Murphy lái xe chứ?
- Dĩ nhiên. Tôi lái rất tốt.
- Còn người thứ ba làm gì?
- Cầm một khẩu súng ngồi ở ghế sau sát cửa kính. Nhưng chúng tôi không muốn bắn hai khẩu súng khác nhau trừ trường hợp lần đầu bắn trượt. Chúng tôi muốn để người ta nghĩ án mạng chỉ do một người.
- Bữa ăn sáng chết tiệt ấy đâu rồi? Miller hỏi.
- Thế khẩu súng của ông dùng như thế nào rồi? Hawes vội vàng hỏi.
Từ lúc nói chuyện điện thoại đến bây giờ đã được hai mươi phút, Hawes hình dung khả năng Steve không đến kịp và bắt đầu quan sát kỹ ba người vừa tính toán vận may.
- Chúng tôi làm đúng như các ông suy nghĩ - Ruther nói. Tháo rời súng, chôn vào bốn chỗ khác nhau.
-Tôi hiểu...
Murphy rõ ràng là mắt xích yếu nhất. Một ông già không thể nhắm bắn trúng được, lại có hai súng ngắn. Lần đầu tiên Hawes nhận ra vũ khí duy nhất không có giảm thanh là khẩu súng của anh mà Murphy dắt vào thắt lưng.
- Các ông vừa mua những khẩu súng này? Anh hỏi.
- Chúng ở trong bộ sưu tập của tôi - Murphy nói - Dùng xong chúng tôi cũng sẽ chôn chúng đi.
Hawes dùng lời nói dối cứu mình.
- Ông thật ngây thơ, Murphy, trông kỳ cục lắm.
- Ông vừa nói chúng tôi cùng hợp đồng làm khi giết Kramer, Murphy cãi lại. Tôi là con khỉ già, không ranh mãnh với tôi được đâu.
- Vâng, đúng là ông già rồi - Hawes bảo.
- Sao? Ông muốn nói gì?
- Ông dọa tôi bằng một khẩu súng đã khóa chốt an toàn .
- Thế nào? Murphy kêu lên.
Do phản xạ tự nhiên ông ta nhìn xuống khẩu súng ngắn. Chỉ một phần giây thôi, nhưng cũng đủ cho Hawes. Anh nhảy qua gian phòng, bàn tay trái chém xuống khuỷu tay Murphy như một nhát dao.
Anh nghe tiếng rít của viên đạn giảm thanh và thấy một mảnh gỗ bung ra cách đầu anh mười phân. Những ngón tay đã nắm chặt khẩu súng của Murphy, anh nằm xuống bắn. Khẩu súng hầu như không gây tiếng động, quang cảnh như trong màn ảnh câm. Viên đạn thứ nhất trúng Ruther. Miller lui ra cửa chuẩn bị ngắm bắn.
- Miller bỏ súng xuống! Hawes kêu lên. Để rơi súng đi không tôi ngắm vào tim đấy Miller ngập ngừng một giây rồi thả súng.
Hawes đá khẩu súng ra và quay lưng lại. Murphy ông già đã bất tỉnh.
Ngồi dưới đất, bám vào vai bị thương, Ruther hét:
- Đồ ngu, Sao anh không bắn? Sao không bắn nó? Miller khổ sở trả lời.
- Anh biết là tôi bắn trượt cả con bò đi ở hành lang, Frank anh biết rõ tôi không biết bắn...
Đúng lúc ấy cánh cửa bật tung, Steve Carella nhảy vào, súng trong tay, nhìn quanh phòng rồi nhún vai.
- Tôi đến chậm quá, anh bình tĩnh nhận xét.
- Có thể nói thế - Hawes trả lời.
- Những con chim của chúng ta đấy à?
- Đúng.
- Vụ Kramer?
- Đúng.
- Lúc đầu, tôi tưởng anh ngớ ngẩn. Phải năm phút mới hiểu ra. Nhưng vẫn nghĩ anh đang vui vẻ với một cô gái và sợ làm phiền anh.
- Anh có đầu óc sai lạc rồi.
- Vả lại anh cũng chẳng cần đến tôi. Có gì mà phải phàn nàn nữa.
- Nếu tám giờ anh có mặt ở văn phòng, anh sẽ đến tham gia đúng lúc.
- Trước đó tôi chạy lại nhà Lucy Mencken.
- Để làm gì? Hawes nhíu lông mày nghi ngờ hỏi.
Trả lại bà ta nửa tá phim ảnh. Tôi không đành để bà ấy sống trong khắc khoải.
- Bà ấy hoan nghênh hành động của anh chứ?
- Bà ta nhảy lên mừng rỡ và chiêu đãi rượu.
Hawes mỉm cười, gọi điện về quận cảnh sát.
Carella khóa tay Miller vào với Murphy. Hawes bỗng buồn ngủ ghê gớm. Anh ngáp mạnh.
- Nào, Cotton không phải lúc ngủ. Công việc không chờ anh đâu.
Hawes vẫn ngáp. Carella kéo màn cửa, ánh nắng tràn ngập gian phòng.
- Quận 87, đội Murchison đây. Một giọng nói vang lên bên tai Hawes.
- Cotton. Tôi đang ở khách sạn Parker, Isola. Tôi cần xe cứu thương và...
- Murchison nghe không nao núng, ghi vào sổ thường trực. Anh đi gọi xe và những người Hawes yêu cầu.
Một ngày nữa bắt đầu.