MỘT ANH HÙNG THỜI ĐẠI

Lượt đọc: 4303 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II
công tước tiểu thư mêri

- Chưa chắc.

- Tớ rất ngại phải bắt đầu nhảy điệu Mazurka với cô tiểu thư, vì tớ hầu như không biết nổi lấy một vũ hình...

- Nhưng cậu đã mời nàng nhảy điệu Mazurka rồi cơ mà?

- Chưa...

- Liệu đấy! Kẻo người ta chặn trước cậu đấy…

- Thật ư? - anh ta nói và vỗ tay lên trán. - Thôi xin chào... Tớ đi trước để đợi nàng ở lối cửa vào đây. - Anh ta vớ lấy mũ và chạy đi mất.

Nửa giờ sau tôi cũng đi. Đường phố tối tăm và vắng vẻ. Người ta chen chúc quanh chỗ hội họp, hay nói là quanh cái quán hàng cũng được, bạn muốn gọi thế nào tùy ý. Các cửa sổ đã sáng ánh đèn; gió mát ban đêm làm vẳng đến tai tôi những âm thanh của một khúc quân nhạc. Tôi bước đi chầm chậm; lòng tôi buồn rười rượi... Lẽ nào, tôi nghĩ, cái chức năng duy nhất của tôi ở trên cõi đời này lại là đi phá hoại những niềm hy vọng của kẻ khác? Kể từ lúc tôi sống và tôi hành động, số phận tưởng như luôn luôn đẩy tôi vào thế gỡ nút cho những bi kịch của người đời, dường như không có tôi, người đời sẽ không ai có thể chết, chìm đắm trong thất vọng. Tôi là nhân vật cần thiết của hồi thứ năm; tôi vô tình đã đóng cái vai thảm hại của tên đao phủ hoặc kẻ phản bội. Làm như thế số phận nhằm đạt tới mục đích gì?.. Có phải số phận muốn định sẵn cho tôi trở thành tác giả của những bi kịch trưởng giả và những thiên tiểu thuyết gia đình - hay thành cộng tác viên chuyên cung cấp chuyện cho “Tủ sách để đọc”(1) chẳng hạn?.. Làm sao tôi biết được?.. Ðã từng có không biết bao nhiêu người khi bắt đầu cuộc đời thì tưởng là mình sẽ kết thúc nó như Alecxanđer Ðại đế hay huân tước Bairơn, nhưng rồi mãi mãi vẫn chỉ là những nhà cố vấn danh dự đấy ư?..

Khi bước vào phòng, tôi trà trộn vào đám đàn ông và để ý quan sát. Grusnixki đang đứng bên cạnh công tước tiểu thư và nói gì với nàng rất sôi nổi; nàng lơ đãng nghe anh ta nói, mắt thì đảo nhanh nhìn tứ phía, chiếc quạt áp lên môi, nét mặt lộ vẻ sốt ruột, mắt như tìm kiếm ai ở quanh đó: từ phía sau tôi nhè nhẹ đi tới để lắng nghe xem họ nói chuyện gì.

- Thưa tiểu thư, tiểu thư đang hành hạ tôi, - Grusnixki nói, - tiểu thư thay đổi rất nhiều kể từ khi tôi không gặp tiểu thư.

- Ông cũng thay đổi, - nàng vừa đáp vừa liếc anh ta một cái rất nhanh, nhưng anh ta không có khả năng nhận thấy ở đấy cái ý giễu cợt thầm kín.

- Tôi, tôi đã thay đổi... ồ không đời nào! Tiểu thư cũng biết là không bao giờ lại như thế được! Ai đã gặp nàng một lần thì sẽ ghi vào tận đáy lòng hình ảnh trác việt của nàng.

- Thôi ông đừng nói nữa...

- Tại sao tiểu thư lại không muốn nghe những điều mà cách đây ít lâu nàng vẫn thường nghe lòng đầy thiện cảm?..

- Vì tôi không thích những chuyện lặp đi lặp lại nhiều lần, - nàng cười đáp...

- Trời! Tôi đã nhầm một cách chua chát!.. Tôi thật là điên khi nghĩ rằng những chiếc cầu vai này chí ít ra cũng cho tôi cái quyền được hy vọng… Nhưng không: đáng lý ra tôi nên giữ suốt đời chiếc áo ca pốt lính tồi tàn kia vì có lẽ nhờ nó mà nàng đã chú ý tới tôi...

- Ðúng thế, chiếc áo ca pốt hợp với khuôn mặt ông hơn nhiều…

Vừa lúc ấy, tôi bước tới và chào nàng; tiểu thư hơi đỏ mặt và nói nhanh:

- Có phải thế không, thưa ông Pêtsôrin! Ông Grusnixki mặc chiếc áo ca pốt xám thích hợp hơn nhiều có phải không ông?..

- Tôi không đồng ý với tiểu thư, - tôi đáp, - bộ quân phục làm anh ta nom trẻ ra nhiều chứ.

Grusnixki không thể chịu nổi cái đá ấy, cũng như tất cả đám thiếu niên, anh ta tự cho là mình đã già, anh ta tưởng rằng trên mặt mình những vết hằn sâu của dục vọng đã thay thế cho những nếp nhăn của năm tháng. Anh ta liếc nhìn tôi bằng cặp mắt điên dại, giậm chân một cái và bỏ đi.

- Nhưng tiểu thư hãy thú nhận rằng, - tôi nói, - tuy anh ta lúc nào nom cũng lố bịch, nhưng vừa mới đây thôi, tiểu thư vẫn còn thấy anh ta hay hay... trong chiếc áo ca pốt xám đấy chứ ạ?..

Nàng nhìn xuống và không đáp.

Suốt buổi tối hôm ấy Grusnixki bám riết cô tiểu thư, khi thì nhảy với nàng, khi thì nhảy vis à vis[2], anh ta nhìn nàng như muốn nuốt trửng, rồi thở dài và làm cho nàng chán tai vì những lời van lơn và trách móc. Nhảy hết lượt thứ ba, vũ khúc quadrille[3] nàng đâm ra ác cảm với anh chàng.

- Tớ không bao giờ ngờ cậu lại là người như thế, - anh ta đến gần và nắm lấy cánh tay tôi, nói.

- Cái gì kia?

- Cậu sắp nhảy điệu Mazurka với nàng? - anh ta trịnh trọng hỏi tôi, - nàng đã thú với tôi như thế...

- Rồi sao nữa? Lẽ nào lại phải giữ bí mật?

- Tất nhiên... Đáng lý ra, tớ phải nghĩ đến cái con ranh... cái con làm đỏm kia có thể làm như thế lắm chứ... - Để rồi ta sẽ cho biết tay!

- Cậu nên đổ tội cho chiếc áo ca pốt hay đôi cầu vai của cậu thì hơn, chứ sao lại kết tội nàng? Nếu cậu không làm vừa lòng nàng thì đâu có phải lỗi tại nàng?..

- Sao lại làm cho người ta hy vọng?

- Tại sao cậu lại hy vọng? Muốn thì cố mà chiếm lấy, cái đó tớ hiểu, nhưng ai đời lại đi nuôi hy vọng?

- Cậu đã được cuộc, nhưng chưa hẳn đâu, - anh ta đáp với một nụ cười ác hiểm.

Ðiệu Mazurka bắt đầu. Grusnixki chỉ chọn mời có mỗi một mình cô tiểu thư; những tay nhảy khác cũng đến mời nàng luôn: đó rõ ràng là một âm mưu chống lại tôi; càng hay: nàng muốn nói chuyện với tôi nhưng bị ngăn trở - nàng lại càng mong muốn gấp bội.

Hai lần tôi xiết chặt tay nàng; lần thứ hai nàng rụt tay lại nhưng không nói một lời.

- Ðêm nay tôi sẽ khó ngủ lắm đây, - nàng nói với tôi sau điệu nhảy Mazurka.

- Grusnixki là kẻ có lỗi.

- Ồ không! - Và nét mặt nàng đượm vẻ buồn u uất nên tôi tự hứa với mình rằng tối nay nhất định ta sẽ hôn tay nàng.

Mọi người ra về. Khi đưa tiểu thư lên xe, tôi nhanh nhẹn ép bàn tay nhỏ bé của nàng lên môi mình. Trời tối, và không ai trông thấy gì cả. Và tôi trở về phòng nhảy, rất hài lòng về mình.

Đám thanh niên đang ăn bữa tối quanh chiếc bàn lớn, Grusnixki cũng đang ở đấy. Khi tôi bước vào, mọi người im bặt: chắc chắn là họ đang nói về tôi. Sau cuộc khiêu vũ dạo trước, nhiều người đã bực tức với tôi, nhất là lão đại úy long kỵ, nên bây giờ, nhất định họ đang lập một phe thù địch chống lại tôi, dưới sự chỉ huy của Grusnixki. Trông anh chàng mới hùng dũng và nghênh ngáo biết chừng nào...

Rất sung sướng; tôi yêu kẻ thù tuy nhiên không phải theo kiểu Cơ đốc giáo. Họ làm tôi khuây khỏa, làm cho máu tôi sôi lên. Lúc nào cũng đề phòng, đón bắt từng cái nhìn, xét đoán từng lời nói, tìm ra những ý đồ, phá vỡ những mưu mô, giả vờ đã bị mắc lừa rồi đùng một cái hất lật nhào tất cả cái lâu đài đồ sộ và công phu của những mưu mẹo và ý đồ của chúng - đó là cái mà tôi gọi là cuộc đời.

Suốt buổi cơm tối, Grusnixki và lão đại úy long kỵ không ngớt thầm thì và đưa mắt ra hiệu cho nhau.

6 Tháng 6,

Sáng nay, Vêra đến Kixlôvôđxk với chồng. Tôi gặp chiếc xe của họ khi tôi đang trên đường tới nhà công tước phu nhân Ligôpxkaia. Nàng khẽ gật đầu chào tôi; trong khóe mắt nàng, vẫn thấy lời trách móc.

Lỗi tại ai? Tại sao nàng không muốn cho tôi được dịp gặp riêng nàng? Tình yêu cũng như lửa, - thiếu chất đốt sẽ tắt. Những cái mà sự ghen tuông làm được thì lời cầu khẩn của tôi lại không thể làm được.

Tôi đang ngôi ở nhà bà công tước thì đồng hồ điểm một giờ. Tôi không thấy Mêri: nàng ốm. Chiều nay trên đại lộ cũng không thấy nàng. Cái đám người vừa mới được tập hợp lại, trang bị bằng kính tay quả thực là nom cũng có cái vẻ hăm dọa thật. Tôi sung sướng khi biết cô tiểu thư ốm: họ có lẽ đã làm gì đó xúc phạm đến nàng. Grusnixki đầu tóc rối bù, vẻ mặt thất vọng; anh ta có lẽ đang đau khổ thực sự, nhất là lòng tự ái của anh ta đã bị tổn thương, nhưng cũng có những người mà ngay đến nỗi thất vọng cũng là niềm vui!..

Khi về đến nhà, tôi cảm thấy như thiếu vắng một cái gì. Tôi không gặp nàng! Nàng ốm! Tôi yêu thật rồi sao?.. Chuyện vớ vẩn!

7 Tháng 6,

Vào lúc mười giờ sáng, - giờ mà bà công tước Ligôpxkaia thường đi xông nước ở bồn tắm Ermôlôp, - tôi đi ngang qua nhà bà công tước. Tiểu thư đang ngồi đăm chiêu bên của sổ, thấy tôi, nàng vội đứng dậy.

Tôi bước vào tiền sảnh; không có ai, lợi dụng lối sống tự do mà phong tục ở đây cho phép, tôi đi thẳng vào phòng khách không cần báo trước. Khuôn mặt xinh xắn của công tước tiểu thư phủ một màu xanh bợt. Nàng đứng bên chiếc dương cầm, một tay tỳ lên lưng ghế bành: bàn tay ấy hơi run run; tôi nhẹ nhàng đến gần nàng và nói:

- Tiểu thư giận tôi sao?..

Nàng ngước mắt lên nhìn tôi bằng một cái nhìn ẻo lả, sâu thẳm và lắc đầu; môi nàng mấp máy như muốn nói điều gì nhưng không nói nổi; nước mắt rưng rưng; nàng gieo mình xuống ghế và đưa hai tay lên bưng lấy mặt.

- Tiểu thư làm sao thế? - Tôi nắm lấy tay nàng, nói.

- Ông khinh em lắm!.. Thôi, để mặc em!..

Tôi bước vài bước... Nàng lại ngồi thẳng người lên, mắt nàng sáng lên...

Tôi dừng lại, tay nắm núm cửa, và nói:

- Hăy tha thứ cho tôi, thưa công tước tiểu thư! Tôi đã hành động như thằng điên... Lần sau sẽ không bao giờ có chuyện như thế nữa: tôi sẽ lễ độ hơn... Tiểu thư cần biết làm gì những điều đã xảy ra trong tâm hồn tôi từ độ đó! Tiểu thư không bao giờ hiểu được đâu, và như thế càng tốt cho tiểu thư hơn. Vĩnh biệt.

Khi đi ra tôi có cảm tưởng là tôi đã nghe thấy tiếng nàng khóc.

Tôi đi bộ, lang thang quanh vùng núi Masuk cho đến tận chiều tối, mệt mỏi kinh khủng, và về đến nhà, tôi nằm vật xuống giường trong trạng thái hoàn toàn kiệt lực.

Verne ghé vào thăm tôi.

- Có thật là anh định lấy công tước tiểu thư Ligôpxkaia không? - ông ta hỏi.

- Nhưng mà sao?

- Cả thành phố đều đồn như vậy; tất cả bệnh nhân của tôi đều bàn tán về cái tin quan trọng này; mà những bệnh nhân này thuộc loại người: cái gì cũng biết tất!

“Chắc Grusnixki chơi khăm mình đây!” – tôi nghĩ.

- Ðể chứng minh với anh, thưa bác sĩ, rằng những lời đồn đại ấy là giả dối, tôi xin tuyên bố với anh một cách bí mật là ngày mai tôi sẽ đi Kixlôvôđxk... ”

- Cả bà công tước cũng đi?

- Không, bà ta còn ở đây thêm một tuần nữa...

- Như vậy là anh không lấy vợ?..

- Bác sĩ, bác sĩ thân mến ơi! Hãy nhìn tôi đây: chẳng lẽ trông tôi giống một vị hôn phu hay một cái gì tương tự đến thế ư?

- Tôi không nói thế... nhưng anh cũng biết đấy, - ông ta cười ranh mãnh, nói thêm - có những đám mà một người hào hiệp nhất định phải lấy làm vợ, và có những bà mẹ chí ít là cũng không làm gì để tránh điều ấy... Chỗ bạn bè với nhau cho nên, tôi khuyên anh một điều: hãy cẩn thận hơn! Ở vùng nước suối này, không khí nguy hiểm nhất đấy; tôi đã từng thấy bao nhiêu thanh niên ưu tú, đáng được hưởng một cuộc sống tốt đẹp, đã rời khỏi nơi này để đi thẳng đến nhà mồ... Và tôi đây nữa, liệu anh có tin được không, người ta thậm chí còn muốn cưới vợ cho tôi nữa cơ đấy! Chính là một bà mẹ quê mùa có cô con gái rất xanh xao ốm yếu. Vô phúc cho tôi là đã nói với bà ta rằng cô con gái bà sẽ trở lại hồng hào sau khi đi lấy chồng; thế là bà ta mắt rưng rưng lệ cảm kích đề nghị tôi lấy con gái bà với tất cả gia sản chừng năm mươi nông nô thì phải. Nhưng tôi đã trả lời là tôi thật không có khả năng làm việc ấy nữa...

Verne từ giã tôi, đinh ninh rằng ông đã làm cho tôi chú ý đề phòng.

Qua những lời ông ta nói, tôi chỉ nhận ra một điều là khắp nơi trong thành phố đã ồn lên những lời đồn đại độc địa về tôi và cô tiểu thư: về chuyện này rồi Grusnixki sẽ biết tay tôi!

10 tháng 6,

Tôi ở Kixilôvôđxk thế là đã được ba ngày. Ngày nào tôi cũng trông thấy Vêra bên bờ giếng và trong lúc đi dạo mát. Sáng sớm, khi ngủ dậy, tôi đến ngồi bên cửa sổ và chĩa kính cầm tay sang ban công nhà nàng; nàng đã mặc quần áo từ lâu và đang đợi ám hiệu; chúng tôi làm ra vẻ như tình cờ gặp nhau trong khu vườn đi từ nhà chúng tôi xuống giếng. Khí núi trong lành đã khiến cho nước da trên mặt nàng trở lại tươi tắn và bồi bổ lại sức lực cho nàng. Không phải vô cớ mà Nardan được mệnh danh là cái mạch nguồn tráng kiện. Dân bản địa khẳng định rằng không khí ở Kízlôvôđxk khơi gợi ái tình, rằng ở đây thường mở nút chung cục cho tất cả các thiên tình sử đã khơi mào từ chân núi Masuk. Quả thật, thì ở đây chỗ nào cũng toát ra cái vẻ cô liêu thơ mộng; ở đây cái gì cũng huyền bí: nào là những bóng cây gia cành lá dày đặc rủ bóng xuống dòng nước nhỏ đang chảy ầm ầm và tung bọt trắng từ tảng đá này xuống tảng đá khác để mở cho mình một con đường len lỏi giữa những ngọn núi xanh, nào là những vực hẻm tối tăm và im lìm, từ đấy chúng lại tỏa nhánh đi khắp ngả, nào là vẻ tươi mát của bầu không khí vốn đã thơm tho lại được hương vị của loại cỏ cao miền Nam và keo trắng làm cho thơm hơn, nào là tiếng róc rách của những con suối lạnh buốt chảy triền miên như tiếng ru đưa người ta vào giấc ngủ ngọt ngào, và chảy đến cuối thung lũng thì hội tụ, cùng nhau mở một cuộc đua giao hảo và cuối cùng thì đổ vào con suối lớn Pôtkumôk. Từ phía ấy, cái vực hẻm phình rộng ra và biến thành một cái hố trũng cây cối xanh rì; trong đó có một con đường ngoằn ngoèo mù bụi chạy qua. Lần nào trông ra đường tôi cũng có cảm tưởng như có một chiếc xe đang chạy qua, và từ trong cửa sổ xe một khuôn mặt hồng hào đang nhìn ra. Bao nhiêu xe đã qua lại trên con đường này, nhưng chiếc xe ấy thì vẫn chẳng thấy đâu. Khu Xlôbôđka[4] sau pháo đài đã đầy người; trong tiệm ăn nằm trên đồi cách nhà tôi ở chỉ mấy bước, chiều vừa buông là đã bắt đầu lấp lánh ánh đèn lọt qua hai hàng cây phong, tiếng người nói ồn ào, tiếng lanh canh của cốc tách chạm vào nhau cứ thể vang lên cho đến tận khuya.

Trên thế gian này không có nơi nào người ta uống nhiều rượu vang Kakhetin và nước khoáng như ở đây.

Nhưng trộn lẫn hai thứ này

Có ối người ưa chuộng -

Trong số họ không có tôi.

Gruxnixki cùng đồng bọn hầu như ngày nào cũng om xòm trong tửu quán, và với tôi hầu như không chào hỏi gì sất.

Anh ta vừa tới hôm qua, nhưng đã bị cãi lộn với ba ông già muốn vào bồn tắm trước anh ta: chắc chắn là - những nỗi bất hạnh đang thúc đẩy tinh thần võ biền ở nơi anh.

11 Tháng 6,

Cuối cùng họ đã tới. Khi nghe thấy tiếng bánh xe gõ lọc cọc trên mặt đường - lúc ấy tôi đang ngồi bên cửa sổ, trái tim tôi giật bắn lên... Thế là thế nào nhỉ? Lẽ nào ta lại yêu thật rồi sao?.. Tôi sinh ra vốn đã xuẩn ngốc nên có thể là như thế lắm chứ.

Tôi ăn trưa ở gia đình họ. Công tước phu nhân nhìn tôi rất âu yếm và không rời cô con gái lấy nửa bước... Chẳng hay ho gì đâu! Thế nhưng Vêra lại ghen tôi với cô tiểu thư: niềm hạnh phúc mà tôi đã cố công để đạt được là thế đấy! Để hành hạ kẻ tình địch người đàn bà không từ một việc gì hết! Tôi nhớ là một người đàn bà đã yêu tôi vì tôi yêu người khác - Không có gì ngược đời hơn là trí tuệ đàn bà: khó mà thuyết phục được đàn bà trong bất cứ việc gì, phải dẫn dắt họ để họ tự thuyết phục mình; trình tự các chứng cứ mà họ dùng để triệt tiêu những định kiến của mình là rất độc đáo; để hiểu được phép biện chứng của họ phải lật ngược trong đầu mình tất cả những quy tắc sơ đẳng của lôgich học. Ví như một cái phép thông thường thì:

Người này yêu ta, nhưng ta đã có chồng: do đó không nên yêu người ta.

Cái phép của đàn bà thì:

Mình không nên yêu anh ta, bởi vì mình đã có chồng, nhưng anh ta yêu mình, - vậy thì...

Ở đây có mấy cái chấm, bởi vì lý trí không lên tiếng, mà phần lớn là cái lưỡi, con mắt và tiếp theo chúng là trái tim nếu đàn bà cũng có một trái tim.

Cái gì sẽ xảy ra, nếu một lúc nào đó những dòng ký này lọt vào mắt đàn bà? “Vu khống!” – cô ta thét lên một cách phẫn nộ.

Kể từ khi các thi sĩ làm thơ và đàn bà đọc thơ (vì thế mà phải mang ơn họ sâu sắc nhất trần đời), không biết bao nhiêu lần người ta gọi họ là thiên thần, thật ra tâm hồn họ rất đơn giản nên họ tin ngay cái lối tán tụng ấy là thật, mà quên mất rằng, cũng chính những thì sĩ ấy đã vì tiền mà tôn sùng Nêrô như một vị á thánh...

Dù tôi có phải nói về họ một cách ác khẩu như vậy là không đúng lúc, đúng chỗ thì tôi vẫn là một người mà trên thế gian này, ngoài họ ra không yêu gì nữa cả, tôi vẫn là một người luôn luôn sẵn sàng hy sinh cho họ sự thư thái, lòng tự ái, và cả mạng sống nữa... Nhưng không phải vì một cơn tức giận và lòng tự ái bị tổn thương mà tôi cố hết sức giật phăng khỏi người họ tấm màn kỳ ảo có phép mầu, một tấm màn chỉ có con mắt tinh đời mới nhìn thấu được. Không! Tất cả những cái mà tôi nói về họ chỉ là kết quả của:

Những quan sát lạnh lùng bởi trí óc

Và những nhận xét xót xa cay đắng bằng con tim.(5)

Ðàn bà lẽ ra họ phải mong sao cho tất cả cánh đàn ông đều biết họ rõ ràng như tôi, vì từ khi tôi không sợ họ và đã hiểu thấu những khuyết điểm dù cỏn con của họ, tôi càng yêu họ gấp trăm lần.

Nhân thể nói thêm: cách đây mấy hôm Verne đã so sánh đàn bà với khu rừng bị mê hoặc mà thi sĩ Taxxơ(6) đã nói trong tác phẩm “Giêsudalem giải phóng!”. “Cứ tiến tới đi, - ông nói, - những nỗi kinh hoàng mà chúa đã phán từ khắp tứ phía sẽ lao vào anh: bổn phận, lòng tự hào, vẻ lịch thiệp, dư luận quần chúng, sự lố lăng, khinh miệt... Có điều là đừng nhìn, hãy tiến thẳng: dần dần những quái vật kia sẽ biến đi, và trước mặt anh sẽ là cánh rừng thưa yên tĩnh và sáng sủa, ở giữa là những cây sim xanh mượt đang nở hoa. Nhưng vô phúc cho anh nếu ngay từ bước đầu tim anh đã đập rộn lên và ngoái cổ lại!”

12 tháng 6,

Buổi tối hôm nay xảy ra nhiều biến cố. Cách Kixlôvôđxk ba dặm, trong một hẻm núi, nơi có con suối Pôtkumôk chảy qua, có một vách đá gọi là Chiếc nhẫn: đó là một cái cổng thiên tạo. Nó đứng sừng sững trên một ngọn đồi cao, và mỗi khi vầng đông xế tà đều ném qua đó xuống thế gian cái nhìn rực lửa cuối cùng của mình. Một đoàn kỵ mã đông đúc đi tới đấy để ngắm cảnh mặt trời lặn qua ô cửa sổ đá ấy. Thật ra thì không một ai trong chúng tôi để ý tới mặt trời. Tôi cưỡi ngựa đi cạnh cô tiểu thư; lúc quay về, phải lội qua suối Pôtkumôk. Những con suối vùng núi, ngay cả những con nhỏ nhất, cũng đều nguy hiểm, nhất là lòng suối lại là một thứ kính vạn hoa hoàn hảo, do sức ép của song nó cứ thay hình đổi dạng hàng ngày; có chỗ hôm qua còn có một hòn đá thì hôm nay lại là một cái hố. Tôi nắm lấy dây cương ngựa của cô tiểu thư và thúc nó lội xuống nước sâu không quá đầu gối. Chúng tôi bắt đầu từ từ lội qua, đi chéo ngược dòng nước chảy. Người ta biết rằng khi đi qua một con suối chảy mạnh thì không nên nhìn xuống nước vì dễ chóng mặt. Tôi quên báo cho tiểu thư Mêri biết trước điều ấy.

Chúng tôi đã đi đến giữa dòng, nơi nước chảy mạnh nhất thì đột nhiên nàng lảo đảo trên yên... “Tôi thấy khó chịu!” nàng nói bằng một giọng yếu ớt... Mau lẹ, tôi nghiêng người về phía nàng và đưa tay, quàng lấy tấm thân mềm mại của nàng, - “Nhìn lên trời! - tôi thì thào bảo nàng, - không việc gì đâu; đừng sợ: đã có tôi ở bên cạnh”.

Nàng thấy khá hơn; và muốn thoát khỏi cánh tay tôi, nhưng tôi lại càng xiết chặt hơn cái thân hình thon thả và mềm mại kia; má tôi gần kề sát má nàng, người nàng nóng bừng lên như bốc lửa.

- Ông làm gì tôi thế? Trời ơi!..

Mặc cho nàng xúc động và bối rối, tôi không hề để ý tới, môi tôi đã chạm vào bên má mịn nàng của nàng; nàng rùng mình nhưng không nói gì. Chúng tôi đi ở phía sau nên không ai trông thấy. Khi chúng tôi lên tới bờ thì mọi người đã cho ngựa đi nước kiệu. Cô tiểu thư ghìm ngựa lại; tôi dừng lại bên nàng, rõ ràng là sự im lặng của tôi đã làm nàng lo lắng, nhưng vì tính tò mò tôi đã thề là sẽ không thốt ra một lời. Tôi muốn xem nàng xoay xở ra sao để thoát khỏi hoàn cảnh bối rối này.

- Hoặc là ông khinh em, hoặc là ông yêu em lắm? - cuối cùng nàng nói, giọng đầy nước mắt. - Có lẽ ông muốn cười nhạo em, làm rối loạn tâm hồn em và rồi sau đó sẽ bỏ mặc em. Như thế thì hèn hạ quá, bần tiện quá, đến nỗi chỉ một lời... ồ không, không đúng, phải không ông? - nàng nói thêm, bằng một giọng tin tưởng dịu dàng. - Vì em nào có gì để cho ông phải khinh, phải không ông? Hành động sỗ sàng của ông... em cần, em cần tha thứ cho ông bởi vì em đã cho phép... Hãy trả lời đi ông, hãy nói đi, em muốn nghe giọng nói của ông!.. Trong những lời cuối cùng, có cái gì đó tỏ ra nôn nóng kiểu đàn bà làm tôi bất giác đã mỉm cười, may thay, trời đã bắt đầu tối... Tôi không đáp gì cả.

- Sao ông lại làm thinh? - nàng nói tiếp, - có lẽ ông muốn em phải nói trước là em yêu ông chắc?

Tôi vẫn im lặng...

- Ông muốn thế chăng? - nàng nói tiếp và quay ngoắt sang phía tôi... Trong ánh mắt và giọng nói quả quyết của nàng có cái gì thật đáng sợ.

- Ích gì? - Tôi nhún vai, đáp.

Nàng quất ngựa một roi và lao thục mạng trên con đường chật hẹp, nguy hiểm; việc đó xảy ra nhanh đến nỗi tôi phải vất vả lắm mới đuổi kịp nàng và cũng là lúc nàng đã nhập vào đoàn. Từ lúc đó cho về đến nhà, nàng cười nói luôn miệng. Cử chỉ của nàng có cái gì nóng nảy; nàng không nhìn tôi lấy một lần. – Mọi người đều nhận thấy cái vui khác thường ấy. Nhìn cô con gái, trong thâm tâm bà công tước lấy làm mừng, còn con gái bà thì chẳng qua là đang bị một cơn loạn thần kinh: rồi nàng sẽ qua một đêm mất ngủ và sẽ khóc. Ý nghĩ này làm tôi sung sướng vô ngần. Có những phút tôi hiểu được Vampir là con ma hút máu đấy … Ấy thế mà tôi vẫn được xem như một thanh niên nhân từ và tôi sẽ cố gắng để đạt được danh hiệu ấy!

Khi xuống ngựa, các bà đều vào nhà công tước phu nhân, tôi rất xúc động và phi ngựa lên núi để xua tan những ý nghĩ dồn ứ trong đầu. Đêm mờ sương làm cho khí trời mát mẻ đến say lòng người. Trăng lên từ sau những ngọn núi đen sẫm. Mỗi bước chân của con ngựa không bịt móng nghe âm vang giữa cảnh tĩnh mịch của con hẻm. Đến bên một con thác tôi cho ngựa dừng lại uống nước, tôi háo hức hít mạnh hai hơi bầu không khí mát rượi của đêm phương Nam, rồi cho ngựa quay trở lại. Tôi đi qua Khu phố ngoại ô. Các cửa sổ đã bắt đầu tối đèn. Lính canh trên thành pháo đài và lính Kôdắc đi tuần ở xung quanh đang ề à gọi nhau…

Trong một ngôi nhà ở Khu ngoại ô xây bên bờ một con lạch, tôi thấy đèn đóm vẫn sáng trưng. Thỉnh thoảng lại có tiếng nói và tiếng kêu hỗn độn, chứng tỏ là ở đó có đám quân nhân đang đánh chén. Tôi xuống ngựa và rón rén tới bên cửa sổ. Nghé qua một cánh cửa sổ khép hờ tôi có thể nhìn thấy rõ những người đang uống rượu và nghe được hết câu chuyện của họ. Người ta đang nói về tôi.

Lão đại úy long kỵ rượu vào thêm hăng, đập mạnh nắm tay xuống bàn yêu cầu mọi người chú ý.

- Thưa các ngài. – lão ta nói, - điều đó thật chẳng còn ra cái thể thống gì! Cần cho thằng Pêtsôrin một bài học! Cái bọn chưa ráo máu đầu ở Peterbua ấy bao giờ cũng vênh váo chừng nào ta chưa búng cho chúng một cái vào mũi! Hắn tưởng chỉ có mình hắn sống trong giới thượng lưu, vì hắn luôn mang găng tay sạch tinh và đi giày bóng lộn!

- Và cả nụ cười khinh mạn ấy nữa! Nhưng tôi chắc kỳ thật hắn chỉ là một thằng hèn, - vâng một thằng hèn.

- Tôi cũng nghĩ thế, - Grusnixki nói. – Hắn thích đùa. Có lần tôi đã nói oan cho hắn những việc mà giá là người khác thì tôi đã bị xé xác ngay tại chỗ, nhưng Pêtsôrin lại biến tất cả thành trò cười. Tất nhiên tôi không khiêu khích gì hắn, bởi vì, đó là việc của hắn, nhưng tôi không muốn giao du nữa…

- Grusnixki thù hằn vì hắn phỗng mất cô công tước tiểu thư của cậu ấy! – Ai đó nói.

- Liệu anh còn nghĩ ra thêm được chuyện gì nữa nào! Thật ra thì tôi cũng có theo đuổi cô ta ít lâu, nhưng rồi thôi ngay vì không định lấy vợ, mà nguyên tắc của tôi là không được làm tổn thương đến danh dự của một người con gái.

- Nhưng tôi xin cam đoan với các anh rằng đứa nhát gan nhất thế gian này là Pêtsôrin chứ không phải là Grusnixki!.. - Ồ, Grusnixki là một con người tuyệt vời, và anh ấy cũng là một người bạn chân chính của tôi! – lão đại úy long kỵ lại nói. – Thưa các ngài! Ở đây không một ai bênh Pêtsôrin đấy chứ? Không có ai cả à, vậy thì càng hay! Các ngài có muốn ta thử thách lòng can đảm của hắn không nào? Các ngài sẽ được dịp tha hồ vui thích...

- Muốn, nhưng bằng cách nào?

- Vậy thì các ngài hãy nghe đây: Grusnixki là người căm ghét hắn nhất, vậy anh ấy sẽ đóng vai chính! Anh ấy sẽ kiếm một chuyện vớ vẩn gì đấy để gây sự và thách đấu… Hãy gượm đã; cái trò đùa ấy là thế này… Anh ấy sẽ thách hắn quyết đấu: được! Tất cả những việc khiêu khích, chuẩn bị, ra điều kiện sẽ cố làm sao cho thật trịnh trọng và thật giật gân – tôi xin lãnh trách nhiệm việc này; tôi sẽ là người làm chứng của anh, anh bạn tội nghiệp của tôi ạ! Được lắm! Nhưng cái điều mấu chốt là ở chỗ này: súng ngắn chúng ta sẽ không nhồi đạn. Tôi xin cam đoan với các anh Pêtsôrin là một thằng nhát! Tôi sẽ đặt hai người đứng cách nhau sáu bước, chà mẹ kiếp! Các ngài thấy thế có được không?

- Ý kiến hay quá! Đồng ý! Tại sao lại không nhỉ? – Từ tứ phía đều có tiếng người la lối.

- Còn anh, anh Grusnixki?

Tôi nóng lòng chờ đợi câu trả lời của Grusnixki, một cơn giận dữ lạnh lùng xâm chiếm tôi khi tôi nghĩ rằng nếu không có điều run rủi may mắn này, tôi rất có thể sẽ trở thành trò cười cho tất cả cái tụi xuẩn ngốc này. Nếu như Grusnixki từ chối, có lẽ tôi sẽ nhảy bổ vào ôm chầm lấy cổ anh ta. Nhưng sau vài phút im lặng hắn đứng lên, đưa tay ra bắt tay lão đại úy và trịnh trọng nói: “Hay lắm, tôi đồng ý!” 

Thật khó mà tả xiết nổi hoan hỉ của tất cả đám người tử tế kia.

Tôi về nhà; xốn xang bởi hai cảm giác trái ngược nhau. Thứ nhất là buồn bã. “Tại sao tất cả chúng nó lại căm ghét mình? – tôi nghĩ. – Tại sao? Tôi có xúc phạm đến ai đó chăng? Không! Có thể nào tôi lại thuộc hạng người mà người ta chỉ mới nhìn thấy mặt thôi cũng đã có ác cảm rồi?” Và tôi cảm thấy rằng một cơn căm phẫn đầy nọc độc mỗi lúc một ứ lên trong tâm hồn tôi. Tôi đi đi lại lại ở trong phòng và nói: “Hãy coi chừng, thưa ông Grusnixki! Không đùa với tôi như thế được đâu! Ông có thể phải trả giá đắt chỉ vì ông đồng lòng với những thằng bạn xuẩn ngốc của ông. Tôi không phải là thứ đồ chơi của ông!..”

Suốt đêm tôi không hề chợp mắt. Sáng dậy, người tôi vàng như nghệ.

Sáng nào tôi cũng gặp công tước tiểu thư ở bên giếng.

- Ông ốm hay sao thế? – nàng nhìn tôi chăm chú và nói.

- Đêm qua tôi không ngủ.

- Cả em cũng thế… Em oán ông… có lẽ không đúng chăng? Nhưng ông hãy nói đi, em có thể tha thứ cho ông tất cả…

- Tất cả ư?

- Tất cả… có điều ông phải nói thật… Và nói mau lên… Liệu ông có thấy, em đã suy nghĩ nhiều, cố giải thích, biện minh cho thái độ của ông; có lẽ ông sợ cha mẹ em cản trở gì chăng… không có đâu; - nếu các cụ biết… (giọng nàng run run) em sẽ van nài các cụ. Hay là do địa vị của ông… nhưng ông nên biết rằng em có thể hy sinh tất cả cho người em yêu… Ồ, ông trả lời nhanh lên, hãy thương em với… ông không khinh em đấy chứ? Có phải thế không ông!

Nàng chộp lấy tay tôi. Bà công tước đi phía trước với chồng Vêra và không trông thấy gì; nhưng những bệnh nhân đang đi hóng mát có thể nhìn thấy: họ là những kẻ thóc mách nhất trong đám ngồi lê đôi mách; và tôi vội rút ngay tay mình ra khỏi bàn tay nàng đang nồng nàn xiết chặt lấy tay tôi.

- Tôi sẽ nói hết sự thật với tiểu thư, - tôi trả lời, - tôi sẽ không tìm cách tự bào chữa, cũng không giải thích hành vi của mình; tôi không yêu tiểu thư…

Môi nàng hơi tái đi…

- Thôi để tôi yên! – nàng thều thào nói. Tôi nhún vai, quay người lại và đi thẳng.

14 tháng 6

Đôi khi tôi tự khinh miệt mình… có phải vì thế mà tôi khinh cả kẻ khác chăng?.. Tôi không thể có được những cơn hứng khởi cao quý; tôi sợ trở thành khôi hài ngay đối với tôi. Vào địa vị tôi, một người khác có lẽ đã dâng cho cô tiểu thư cả son coeur et sa fortune[7]; nhưng đối với tôi tiếng lấy vợ như có quyền lực ma quái; cho dù tôi có yêu tha thiết một người đàn bà nào đi nữa, nhưng nếu cô ta lại để lộ ra khiến tôi cảm thấy là tôi phải lấy cô ta thôi, thì cũng xin vĩnh biệt ái tình! Trái tim tôi trở thành đá, và không gì có thể hâm nóng lại được nữa. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả, trừ điều ấy; tôi có thể hai chục lần liều mạng, thậm chí cả đến danh dự nữa… nhưng tôi sẽ không bán tự do của tôi. Tại sao tôi lại quý nó đến thế? Tôi tìm thấy gì ở nó?.. tôi định đi tới đâu? Tôi chờ đợi gì ở tương lai?.. Quả thật là chẳng có gì sất. Đấy là tính sợ hãi bẩm sinh gì đó, một linh cảm khó hiểu… Bởi vì có những người sợ một cách vô ý thức: sợ nhện, sợ gián, sợ chuột… Có nên nói ra điều này không nhỉ?.. Hồi tôi còn nhỏ một bà lão đã nói cho mẹ tôi biết lá số của tôi; bà ta đã nói cho tôi biết trước là tôi sẽ chết vì tay một người vợ độc ác; thế là tôi mang một ấn tượng rất sâu sắc từ đấy; tôi thấy việc lấy vợ là việc hết sức ghê tởm!.. Tuy nhiên có cái gì đó vẫn nhắc nhở tôi là lời tiên đoán ấy sẽ thành sự thật; nhưng ít ra tôi cũng cố làm sao cho điều ấy xảy ra càng chậm càng hay.

15 tháng 6

Hôm qua nhà ảo thuật Anphenbaum tới đây. Ở cửa tiệm ăn xuất hiện một tấm quảng cáo dài thông báo cho đám quần chúng thượng lưu biết rằng nhà ảo thuật, nhà nhào lộn, nhà hóa học và quang học kỳ tài nói trên sẽ được cái hân hạnh tổ chức một buổi biểu diễn lớn ngay ngày hôm nay, vào lúc tám giờ tối, trong phòng họp của giới Thượng lưu (nói cách khác là trong tiệm ăn). Giá vé: hai rúp rưỡi.

Mọi người đều chuẩn bị đi xem nhà ảo thuật kỳ lạ ấy. Ngay cả bà công tước Ligôpxkaia, tuy cô con gái của bà vẫn ốm nhưng bà vẫn lấy vé đi xem.

Hôm nay, sau bữa cơm trưa, tôi đi ngang dưới cửa sổ nhà Vêra; nàng ngồi một mình trên bao lơn, một mảnh giấy rơi xuống chân tôi:

“Tối nay, vào lúc mười giờ, tới gặp em, lên lối cầu thang lớn; chồng em đã đi Piatigorxki và sáng mai mới về. Bọn gia nhân cũng như bọn tỳ nữ sẽ không ở nhà, em đã phát vé cho tất cả bọn chúng cả đám gia nhân nhà bà công tước nữa! – Em đợi anh; thế nào cũng đến nhé!”

“A, ha, - tôi tự nhủ, - thế là cuối cùng mình cũng được thỏa mãn!” Lúc tám giờ, tôi đi xem nhà ảo thuật. Gần mười giờ công chúng mới tập trung đông đủ; buổi diễn bắt đầu. Ở mấy hàng ghế cuối, tôi nhìn thấy đám gia nhân nhà Vêra và nhà bà công tước. Chẳng thiếu một ai. Grusnixki ngồi ở hàng ghế đầu, mang chiếc kính có cán. Nhà ảo thuật mỗi lần cần đến cái mùi xoa, cái đồng hồ, cái nhẫn và v.v… đều nhờ đến anh ta.

Đã lâu nay Grusnixki không chào hỏi tôi nữa, nhưng hôm nay hắn nhìn tôi hai lần, vẻ láo xược. Tất cả cái đó hắn sẽ phải nhớ tới khi chúng tôi phải thanh toán với nhau.

Gần mười một giờ, tôi đứng dậy và đi ra.

Bên ngoài, trời tối như mực. Những đám mây đen nặng nề, lạnh lẽo nằm sóng soài trên những đỉnh núi lân cận; lâu lâu mới có một luồng gió thoi thóp làm lay động mấy ngọn cây phong ở quanh tiệm ăn. Đám người đông đúc chen chúc bên các cửa sổ. Tôi xuống đồi và khi đã ngoặc vào cổng, tôi bèn rảo bước. Đột nhiên tôi cảm thấy như có ai đó đi ở phía sau tôi. Tôi dừng lại và xem xét. Không tài nào nhận thấy gì trong đêm tối; để cho được cẩn thận, tôi đi vòng quanh nhà, làm như thể đi dạo. Khi đi qua dưới cửa sổ nhà tiểu thư Mêri, tôi lại nghe thấy tiếng bước chân ở phía sau; một người đàn ông, cuộn mình trong chiếc áo ca pốt, chạy lướt qua rất nhanh. Điều đó khiến tôi lo lo nhưng tôi vẫn cứ lén tới gần bậc tam cấp và vội vàng chạy tọt vào chân cầu thang tối om. Cánh cửa mở ra, một bàn tay bé nhỏ nắm lấy tay tôi…

- Không ai trông thấy anh chứ? – Vêra vừa thì thào vừa áp người vào tôi.

- Không!

- Bây giờ thì anh đã tin em yêu anh chưa? Ôi, thế mà em cứ do dự mãi, cứ đau khổ mãi… nhưng bây giờ thì em đây, anh muốn làm gì thì làm.

Tim nàng đập mạnh, tay nàng lạnh như băng,… Những lời trách móc của thói ghen tuông những lời cầu khẩn lại bắt đầu, - nàng đòi tôi phải thú nhận hết với nàng, và nói rằng cho dù tôi có phản bội nàng thì nàng sẽ cam lòng chịu đựng bởi vì nàng chỉ có một có một ước mong duy nhất là thấy tôi được sung sướng! Điểu đó tôi không tin nàng lắm, nhưng để cho nàng yên lòng, tôi vẫn thề, vẫn hứa v.v...

- Như vậy là anh không lấy Mêri chứ? Không yêu cô ta chứ?.. Thế mà cô ta cứ tưởng... anh có biết là cô ta mê anh như điên, như dại không, tội nghiệp cho cô bé!..

………

Vào lúc gần hai giờ sáng, tôi mở cửa sổ, và bằng hai tấm khăn san nối vào nhau, tỳ người vào cột tôi tụt từ bao lơn phía trên xuống bao lơn phía dưới. Trong nhà Mêri vẫn sáng ánh đèn không hiểu cái gì đã xui tôi đi tới bên ô cửa sổ ấy. Màn che chưa kéo kín hẳn nên tôi có thể tò mò nhìn vào trong phòng. Mêri đang ngồi trên giường, khoanh tay trên gối, mái tóc dày vén gọn dưới chiếc mũ con đội đêm có thêu rua; một tấm khăn quàng rộng màu hoa mào gà phủ lên đôi bờ vai trắng, và hai bàn chân nhỏ bé giấu kín trong đôi giày Ba Tư màu sặc sỡ. Nàng ngồi bất động, đầu cúi gằm; trên chiếc bàn nhỏ trước mặt có một quyển sách đang mở, nhưng đôi mắt nàng bất động và u uất một nỗi buồn khôn xiết, hình như đôi mắt ấy đã lướt đi lướt lại trên cùng một trang có đến hàng trăm lần, mà đầu óc thì vẫn nghĩ vơ vẩn tận đâu đâu...

Trong lúc ấy, có ai đó động sột soạt ở phía sau bụi cây. Từ trên bao lơn, tôi nhảy xuống đám cỏ. Một bàn tay vô hình đã túm lấy vai tôi.

- A-ha! - một giọng nói thô bạo kêu lên, - chết nhá!.. bắt được quả tang đang đêm mò tới nhà công tước phu nhân!..

- Giữ chặt lấy nó! - lại một người khác từ sau góc nhà lao ra, kêu toáng lên.

Đó là Grusnixki và lão đại úy long kỵ.

Tôi nện vào đầu lão một quả làm lão ngã té ngửa, rồi đâm bổ vào bụi cây. Tôi thuộc tất cả những đường ngang, lối tắt trong khu vườn trên sườn đồi trước cửa nhà chúng tôi.

- Có trộm! Lính tuần đâu!.. - họ kêu toáng lên, có tiếng súng nổ. Một quả đạn bùi nhùi còn đang bốc khói rơi ngay sát chân tôi.

Một phút sau, tôi đã về tới phòng mình, cởi áo và lên giường nằm. Tên hầu của tôi vừa khóa cửa thì Grusnixki vào lão đại úy đến gõ cửa nhà tôi.

- Pêtsôrin! Anh ngủ ư?.. Anh có nhà không?.. - lão đại úy kêu lên.

- Tôi đang ngủ, - tôi càu nhàu đáp.

- Dậy đi!.. Có trộm... Tụi Tserkex...

- Tôi đang sổ mũi, sợ nhiễm lạnh. - Tôi đáp.

Chúng bỏ đi. Thật là uổng, vì tôi đã lên tiếng: giá cứ để cho bọn chúng tìm kiếm trong vườn thêm một giờ nữa. Trong khi đó thì tiếng báo động đã nổi lên dữ dội. Một người Kôdắc phi ngựa nước đại từ pháo đài tới. Rồi thì đâu đâu cũng nhốn nháo cả lên; người ta bắt đầu đi tìm tụi Tserkex trong khắp các bờ bụi, và cố nhiên là chẳng thấy một tên nào. Nhưng nhiều người có lẽ vẫn tin chắc rằng nếu đội lính canh, đội phòng vệ, dũng cảm và khẩn trương hơn tí nữa thì ít ra cũng có vài chục thằng ác điểu phơi thây tại chỗ.

16 Tháng 6,

Sáng hôm nay ở bên giếng, người ta chỉ bàn tán về cuộc đột kích ban đêm của tụi Tserkex. Khi đã uống hết số cốc nước khoáng Nardan theo đơn bác sĩ, và sau khi qua lại mười lần dưới hàng cây gia trên con đường dạo mát dài hun hút, tôi đã gặp ông chồng Vêra vừa mới đi Piatigoxkơ về: ông ta nắm lấy cánh tay tôi, và chúng tôi cũng vào tiệm ăn để ăn sáng, ông ta rất đỗi lo lắng cho bà vợ. Ông nói: "Hồi đêm nhà tôi sợ hết hồn, mà việc ấy lại xảy ra đúng lúc tôi đi vắng mới chết chứ!" Chúng tôi cùng ngồi vào bàn ăn kê gần ở lối cửa thông sang căn phòng phía góc: ở đấy có mươi chàng thanh niên, trong đó có cả Grusnixki. Đây là lần thứ hai, số phận đã cho tôi cơ hội nghe lỏm được câu chuyện có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của hắn. Hắn không nhìn thấy tôi, nên tôi không thể nghi ngờ dụng ý của hắn, nhưng như vậy thì tội của hắn với tôi càng thêm nặng.

- Nhưng có đúng là tụi Tserkex không? - một người nào đó hỏi. - Có ai nhìn thấy chúng không cái đã?

- Tớ sẽ kể cho các cậu nghe đầu đuôi câu chuyện, - Grusnixki đáp, - nhưng đừng có đi tố tớ đấy; việc đó như thế này: hôm qua có một người, tớ không nói tên ra đây với các cậu, đến cho tớ hay rằng vào lúc mười giờ đêm anh ta đã thấy có đứa lẻn vào nhà bà công tước Lôgôpxkaia. Nên nhớ là bà công tước lúc ấy đang ở đây, còn công tước tiểu thư thì đang ở nhà. Thế là chúng tớ cùng nhau đến nấp ở dưới của sổ để rình đợi thằng cha tốt số kia.

Tôi cũng xin thú thực rằng lúc ấy tôi rất lo sợ, tuy người ngồi cùng bàn với tôi chỉ cắm đầu cắm cổ ăn: ông ta có thể sẽ nghe thấy những điều rất khó chịu đổi với ông ta, nếu chẳng may Grusnixki lại đoán ra đúng sự thật, nhưng vì ghen tuông hắn đâm ra mù quáng nên không hề nghĩ tới cái sự thật ấy.

- Đấy các cậu thấy không, - Grusnixki nói tiếp, - chúng tớ ra đi có mang theo một khẩu súng lắp đạn giả, cốt để dọa thôi mà! Chúng tớ đợi trong vườn tới hai giờ. Cuối cùng hắn từ đâu hiện ra thì có trời biết, có điều là không phải từ cửa sổ, vì cửa sổ đóng; có lẽ hắn trèo qua cửa kính sau cột, cuối cùng như tớ đã nói, chúng tớ thấy có người từ bao lơn nhảy xuống... Công tước tiểu thư là thế nào nhỉ? Hả? Chà, tớ xin thú thực là các cô tiểu thư Matxkơva cũng đều như thế tất! Sau chuyện này liệu còn có gì đáng tin nữa kia chứ! Chúng tớ muốn tóm lấy hắn nhưng hắn giằng ra được và chuồn vào bụi rậm nhanh như con thỏ, lúc ấy tớ mới nổ súng.

Xung quanh Grusnixki có tiếng xì xào ngờ vực.

- Các cậu không tin ư? - hắn nói tiếp, - tớ xin lấy danh dự mà thề với các cậu một lời thề cao thượng rằng tất cả điều đó đều là sự thật một trăm phần trăm, và để dẫn chứng tớ sẽ chỉ đích danh cái vị ấy cho các cậu biết tay.

- Nói đi, nói đi, hắn là ai vậy? - cå bốn phía đều có tiếng thúc giục.

- Pêtsôrin! - Grusnixki đáp.

 Vừa lúc ấy hắn ngước mắt lên - tôi đứng ở lối cửa vào, ngay trước mặt hắn. Hắn sợ hãi, mặt đỏ rần như gấc. Tôi tới gần và nói với hắn một cách chậm rãi và rành rọt:

- Tôi rất lấy làm tiếc là đã vào chậm khi ông đã đưa ra lời thề danh dự để chứng thực cho một điều vu khống bỉ ổi nhất. Giá có mặt tôi thì ông đã không phạm một điều hèn mạt không đáng có.

Grusnixki đứng chồm dậy và như muốn nổi khùng.

- Tôi yêu cầu ông, - tôi nói tiếp, vẫn bằng cái giọng điệu như cũ, - tôi yêu cầu ông cải chính ngay tức khắc điều ông vừa nói; ông cũng thừa hiểu đó là một sự bịa đặt. Tôi không ngờ rằng thái độ lạnh nhạt của một người đàn bà đối với những đức tính chói lọi của ông lại đáng để ông tìm cách báo thù khủng khiếp đến thế. Ông nghĩ kỹ đi: nếu ông khư khư giữ lời ông vừa nói, ông sẽ mất cái quyền được gọi là một người danh giá và ông sẽ phải liều mạng đấy.

Grusnixki đứng trước mặt tôi, mắt hắn cụp xuống, xúc động mạnh. Nhưng cuộc đấu tranh giữa lương tâm và lòng tự ái diễn ra không lâu. Lão đại úy long kỵ ngồi bên lấy khuỷu tay hích hắn; hắn giật mình rồi trả lời tôi rất nhanh, mắt vẫn nhìn xuống.

- Thưa ngài kính mến, khi tôi nói điều gì là tôi đã nghĩ kỹ và sẵn sàng nhắc lại... Tôi không sợ những lời đe dọa của ngài và sẵn sàng đương đầu với tất cả...

- Điều ấy ông cũng đã tỏ rõ rồi, - tôi lạnh lùng đáp lời hắn, và nắm lấy cánh tay viên đại úy long kỵ, đi ra khỏi phòng.

- Ông muốn gì? - lão đại úy hỏi.

- Ông là bạn của Grusnixki, vậy chắc ông sẽ là người làm chứng của hắn?

Viên đại úy nghiêng mình rất trịnh trọng:

- Ông đoán đúng, - lão đáp, - làm chứng cho anh ấy còn là bổn phận của tôi, bởi vì lăng mạ anh ấy là lăng mạ cả tôi: đêm qua tôi cùng đi với anh ấy, - lão ưỡn thẳng cái thân hình hơi còng của mình lên và nói thêm.

- À, thế ra chính ông là người đã bị tôi vụng về nện cho một cú trúng đầu đấy ư?

Mặt lão trở nên vàng ệch rồi tím ngắt; nỗi căm hờn được giấu kín hiện rõ trên mặt lão.

- Tôi lấy làm hân hạnh sẽ đưa người làm chứng của tôi đến gặp ông ngay đêm nay, - tôi nói thêm, rồi cúi chào rất lịch sự và làm như không để ý đến cơn điên khùng của lão.

Tôi lại gặp ông chồng Vêra ở bậc tam cấp của tiệm ăn, hình như ông ta đang đợi tôi.

Ông ta xiết chặt tay tôi với một tình cảm như thán phục.

- Ông là một chàng trai cao thượng! - ông ta nói, lệ rưng rưng. Tôi đã nghe hết cả. Thằng đốn mạt! Thằng vô ơn... Ðã thế thì một gia đình tử tế làm sao còn có thể tiếp chúng được nữa! Lạy chúa, may mà tôi không có con gái. Nhưng ông liều mạng vì một người đàn bà, thì người ấy ắt sẽ đền bù lại ông. Ông cứ tin vào sự kín đáo của tôi cho đến lúc cần thiết, - ông ta tiếp. - Chính tôi cũng đã có thời trai trẻ và đã từng ở trong quân đội: tôi hiểu rằng không nên chen chân vào những việc như thế này. Chào ông!

Tội nghiệp ông già! Mừng vì mình không có con gái...

Tôi đi thẳng tới nhà Verne, ông đang ở nhà và tôi kể lại với ông tất cả - quan hệ của tôi với Vêra và với cô tiểu thư, và câu chuyện mà tôi vừa nghe lỏm được, do đó tôi biết được ý định của các ngài ấy là muốn đem tôi ra chế giễu bằng cách cho chúng tôi dùng đạn giả bắn nhau. Nhưng hiện nay câu chuyện lại ra ngoài phạm vi đùa bỡn; tất nhiên, họ không ngờ rằng câu chuyện lại kết cục như vậy.

Bác sĩ đồng ý là người làm chứng cho tôi; tôi nói cho ông biết mấy điểm quy tắc về điều kiện của cuộc quyết đấu: lẽ ra phải dặn ông cương quyết đòi hỏi làm sao cho công việc diễn ra càng kín đáo càng tốt, bởi vì dù tôi có sẵn sàng đương đầu với cái chết vào bất cứ lúc nào, nhưng tôi lại không mảy may cam lòng làm hư hại mãi mãi tương lai của mình trên cõi đời này.

Rồi tôi trở về nhà. Chừng một giờ sau thì bác sĩ đi thám hiểm về.

- Đúng là một âm mưu chống lại anh. - Ông nói – ở nhà Grusnixki tôi có gặp lão đại úy long kỵ và một lão khác nữa, nhưng tôi quên mất tên. Tôi đứng lại một phút ở phòng ngoài để tháo bao cao su bọc giầy. Trong nhà họ cãi cọ nhau ồn ào khủng khiếp: "Không vì cớ gì khiến tôi đồng ý cả, - Grusnixki nói, - hắn đã làm nhục tôi trước công chúng; thế cho nên bây giờ sự việc lại khác hẳn rồi". "Việc ấy thì can gì đến cậu? - lão đại úy đáp, - tôi sẽ chịu trách nhiệm tất. Tôi đã từng làm chứng cho năm cuộc quyết đấu và tôi biết thu xếp việc đó như thế nào. Tôi đã lo liệu chu đáo. Duy có một điều là xin cứ để mặc tôi. Sợ đâu có phải là xấu. Nhưng tại sao lại phải mạo hiểm khi còn có thể tránh được?.."

Đang lúc ấy tôi bước vào. Họ im bặt. Cuộc đàm phán giữa chúng tôi kéo dài khá lâu; cuối cùng chúng tôi quyết định như thế này: cách đây chừng năm dặm có một con đường hẻm vắng vẻ, ngày mai vào lúc bốn giờ sáng, họ sẽ tới đó, còn chúng ta sẽ tới sau họ nửa giờ; các anh sẽ đứng bắn cách nhau sáu bước – điều này thì chính Grusnixki đã đòi như thế! Có người chết thì coi đó là do bọn Tserkex giết hại. Đến lúc này tôi đâm nghi: bọn chúng, tức là bọn làm chúng có lẽ đã có thay đổi đôi chút ít trong kế hoạch ban đầu và muốn nạp đạn thật vào một khẩu súng ngắn của Grusnixki. Điều này hơi giống như một cuộc ám sát, nhưng trong thời chiến, và nhất là trong cuộc chiến ở xứ Á đông, thì mọi mưu mẹo đều được dùng tất, tuy nhiên, tôi có cảm tưởng là Grusnixki không đến nỗi đê tiện như lũ bạn bè hắn. Anh nghĩ sao? Chúng ta có nên cho chúng biết là ta đã đoán biết được hết rồi không?

- Không đời nào, bác sĩ ơi! Ông cứ yên tâm, chúng không làm gì được tôi đâu!

- Vậy anh định làm gì nào?

- Ðó là bí mật của tôi.

- Hãy cẩn thận kẻo ngã đấy... bởi vì chỉ có sáu bước!

- Bác sĩ ơi, ngày mai tôi đợi ông vào lúc bốn giờ. Ngựa sẽ sẵn sàng... Xin chào ông!

Tôi ngồi lì ở nhà, khóa trái cửa phòng cho đến tận chiều tối. Bà công tước sai gia nhân đến mời, tôi cho người ra cáo rằng bị mệt...

……[8]

Hai giờ sáng... không hề chợp mắt. Nhưng lẽ ra phải ngủ để sáng mai khỏi run tay. Vả lại cách sáu bước thì khó lòng mà bắn trật. Chà, thưa ngài Grusnixki! Cái trò bịp bợm của ngài chả lợi lộc gì cho ngài đâu... Chúng ta sẽ đổi vai cho nhau: bây giờ thì tôi phải tìm trên gương mặt xanh xám của ngài những dấu hiệu của sự sợ hãi thầm kín. Sao ngài lại tự đặt ra cái khoảng cách sáu bước hiểm nghèo ấy làm gì? Ngài tưởng tôi sẽ không tranh cãi mà cứ giơ trán ra cho ngài bắn sao… nhưng chúng ta sẽ rút thăm kia mà!.. Và lúc ấy... lúc ấy thì... lỡ hắn may mắn hơn thì sao? nếu ngôi sao hộ mệnh của tôi cuối cùng lại phản tôi?.. Có gì lạ lắm đâu: từ lâu ngôi sao hộ mệnh ấy đã chả luôn luôn trung thành chiều theo cái tính khí thất thường của tôi rồi đó sao; lòng chung thuỷ trên thiên đường cũng không hơn gì trên mặt đất này đâu.

Biết làm sao? Phải chết thì chết chứ sao! Sự tổn thất này đối với thế gian chẳng đáng là bao; vả lại bản thân tôi cũng chả đang chán đời đến cực độ rồi đó sao. Tôi như người ngáp dài trong đêm vũ hội và sở dĩ chưa về ngủ, cũng chỉ tại chưa có xe. Nhưng xe kia đã sẵn sàng... Thôi, tạm biệt!..

Tôi điểm lại trong ký ức toàn bộ quá khứ của tôi và bất giác tôi tự hỏi: tôi sống làm gì? Tôi sinh ra trên cõi đời này với mục đích gì?.. Nhưng mục đích thì chắc là có đấy, và chắc chắn là cái số của tôi rất cao, bởi vì tôi cảm thấy trong tôi năng lực vẫn còn rất dồi dào... Nhưng tôi lại không đoán ra cái mệnh này, tôi ham hố đâm bổ vào những cái bả dục vọng thấp hèn và rỗng tuyếch; ra khỏi cái lò dục vọng ấy tôi đã trở thành một con người lạnh lùng và cứng rắn như sắt thép, nhưng tôi đã vĩnh viễn mất đi bầu nhiệt huyết của những chí hướng cao cả - đóa hoa tươi đẹp nhất đời người. Rồi từ đấy không biết bao nhiêu lần tôi đã giữ vai trò cái lưỡi rìu trong tay số mệnh! Như một công cụ trừng phạt, tôi đã rơi xuống đầu những nạn nhân phải chết, thường không phải vì giận dữ, nhưng không bao giờ thương tiếc... Tình yêu của tôi không bao giờ đem lại hạnh phúc cho một ai, bởi vì tôi không bao giờ chịu hy sinh gì cho những người tôi yêu: tôi chỉ yêu cho tôi, tôi yêu để thỏa mãn cá nhân tôi; tôi chỉ làm thỏa mãn sự đòi hỏi kỳ lạ của trái tim, ngốn ngấu một cách háo hức những tình cảm, những vuốt ve chiều chuộng, những sướng vui và đau khổ của họ, và cứ ngốn mãi mà chẳng bao giờ thấy no. Ví như một người bị cái đói hành hạ, ngủ thiếp đi vì kiệt lực và trong giấc mơ lại thấy những món ăn sang trọng và rượu vang sủi bọt bày ra trước mắt; anh ta khoái trá ngốn ngấu những thứ quà hư không của trí tưởng tượng, và anh ta cảm thấy dễ chịu hơn; nhưng vừa mới tỉnh giấc - ước mơ biến mất, chỉ còn lại cái đói gấp đôi và thất vọng!

Và có thể ngày mai tôi chết!.. và trên mặt đất này sẽ không còn một ai hoàn toàn hiểu hết tôi. Người này thì cho tôi là tồi tệ hơn, người kia lại thấy tôi tốt hơn là tôi trong đời thực... Người này nói: anh ta là một thanh niên tốt, kẻ khác lại cho tôi là đồ súc sinh!.. Cả người này lẫn người kia đều nhầm. Ðã thế thì sống làm gì cho nhọc xác nhỉ? Vậy mà người ta vẫn sống - vì tò mò: người ta đợi một cái gì đó mới mẻ... Thật tức cười và cũng đáng bực!

*

*     *

Tôi ở pháo đài N, thế mà cũng đã được một tháng rưỡi rồi. Bác Marxim Marximich đi săn... tôi còn lại một mình, ngồi bên cửa sổ, mây xám phủ kín núi non từ ngọn cho đến chân; sau màn sương, mặt trời nom giống như cái chấm vàng. Trời lạnh, gió rít và làm cho các cánh cửa sổ lung lay... Buồn quá! Tôi bèn ghi tiếp cuốn nhật ký bị gián đoạn vì có biết bao nhiêu biến cố kỳ lạ.

Tôi đọc trang cuối: buồn cười thật! Tôi đã tưởng chết; điều đó đâu có dễ: tôi chưa uống cạn ly rượu đắng cay và lúc này tôi cảm thấy trời còn cho tôi sống lâu.

Tất cả quá khứ nằm trong ký ức tôi sao mà rõ rệt và sắc nét đến thế. Thời gian không hề xóa đi một đường nét, một sắc màu!

Tôi nhớ suốt cái đêm trước cuộc quyết đấu, tôi không hề chợp mắt lấy một phút. Viết, tôi không thể viết lâu: một nỗi lo thầm kín giày vò tôi. Tôi đi bách bộ trong phòng chừng một giờ, sau đó thì ngồi xuống và giở cuốn tiểu thuyết của Oantơ Xcốt[9] đang nằm trên bàn ra xem: đó là quyển "Những tín đồ Thanh giáo ở Ecôt"; lúc đầu tôi phải cố mới đọc nổi, nhưng sau đó thì bị cái chuyện hoang đường kỳ diệu ấy cuốn hút, tôi quên hết mọi sự đời... Lẽ nào nhà thơ anh hùng ca xứ Êcôt ấy ở thế giới bên kia lại không được đền bù xứng đáng vì mỗi phút giây vui sướng mà cuốn sách của ông đã đem lại cho người đời?..

Rồi cuối cùng trời hửng sáng. Thần kinh tôi trở lại bình thường. Tôi nhìn vào gương: khuôn mặt tôi với nước da xanh xám còn hằn rõ những dấu vết của một đêm thao thức đầy đau thương; nhưng đôi mắt tuy thâm quầng, vẫn long lanh một cách kiêu hãnh và nghiệt ngã... Tôi lấy làm vừa lòng với mình lắm.

Tôi ra lệnh đóng yên cương, mặc quần áo và chạy đi tắm. Ngâm mình trong nước suối khoáng Nardan mát lạnh đang sủi bọt tôi cảm thấy sức lực cả thể xác lẫn tâm hồn đều được hồi phục. Ra khỏi thùng tắm tôi thấy mình tươi tắn và phấn chấn như đang sửa soạn đi khiêu vũ. Cứ thử đi rồi sẽ biết: tâm hồn không lệ thuộc vào thể chất!..

Khi trở về tôi thấy bác sĩ đang đợi tôi. Ông mặc chiếc quần nịt xám, chiếc áo Captan và đội chiếc mũ Tserkex. Tôi cười vang khi trông thấy hình dáng nhỏ bé của ông dưới chiếc mũ lông đồ sộ ấy, gương mặt ông nói chung không có vẻ gì là hiếu chiến nhưng lúc này nom cứ dài thưỡn ra so với lúc bình thường.

- Bác sĩ ơi! cớ sao anh lại buồn thế? - tôi nói với ông. - Anh chẳng đã từng đưa tiễn hàng trăm người sang thế giới bên kia, mà lòng vẫn cứ dửng dưng quá đỗi rồi đó sao? Anh cứ tưởng tượng rằng tôi bị mắc bệnh sốt mật; tôi có thể khỏi, cũng có thể chết; thế này hay thế kia cũng đều nằm trong trình tự của sự vật cả mà thôi; hãy cứ xem tôi như một con bệnh mắc một thứ bệnh mà anh chưa biết, và như vậy tính tò mò của anh càng được kích thích tới tột độ; ngay lúc này anh có thể có một số nhận xét sinh lý học rất quan trọng trên người tôi... Sự đợi chờ một cái chết bức tử không phải là một căn bệnh thực sự sao?

Ý nghĩ này làm ông sửng sốt, và ông lại trở nên vui vẻ.

Chúng tôi lên ngựa, Verne hai tay nắm chặt lấy dây cương, và chúng tôi lên đường. Trong nháy mắt chúng tôi đã phi nước đại trước pháo đài, vượt qua khu ngoại ô và đi vào hẻm núi có con đường ngoằn ngoèo bị cỏ cao phủ kín tới phân nửa và chốc chốc lại bị một con suối ầm ĩ cắt ngang, muốn qua suối phải lội, rất buồn cho bác sĩ là mỗi lần lội trong nước con ngựa của ông cứ đứng dừng lại.

Tôi không nhớ là có một buổi sáng nào trời xanh và tươi mát hơn hôm ấy! Mặt trời vừa ló ra khỏi những ngọn núi xanh, và luồng hơi ẩm của những tia nắng hòa lẫn với khí mát của đêm tàn gây cho tất cả các giác quan một cảm giác uể oải êm ái lạ kỳ; tia sáng tươi vui của ngày đang lên chưa rọi vào khe hẻm; chỉ mới nhuốm vàng những mỏm vách đá ớ hai bên đường, sừng sững trên đầu chúng tôi; mỗi khi có làn gió mát nhẹ thổi, những bụi cây rậm rịt mọc trong các khe nứt sâu trên vách đá, lại giội lên người chúng tôi một cơn mưa bạc. Tôi còn nhớ - lần ấy tôi yêu thiên nhiên hơn bất cứ lúc nào trước đó. Sao tôi lại tò mò ngắm từng giọt sương đang lấp lánh trên một chiếc lá nho to và phản chiếu muôn vàn tia sáng sặc sỡ đến thế! Sao tôi lại hăm hở cố phóng tầm mắt vào chốn xa xăm mờ ảo đến thế! Chốn ấy con đường mỗi lúc một hẹp hơn, những vách đá xanh hơn và ghê rợn hơn, và cuối cùng hình như chúng chập vào nhau thành một bức tường không thể vượt qua. Chúng tôi lặng lẽ đi.

- Anh có viết di chúc không? - Verne bỗng nhiên hỏi tôi.

- Không!

- Nhưng nếu anh chết thì sao?

- Những người thừa kế sẽ có cách.

- Lẽ nào anh không có lấy một người bạn mà anh muốn gửi lời vĩnh biệt ư?..

Tôi lắc đầu.

 - Chẳng lẽ trên đời này không có một người đàn bà nào mà anh muốn để lại một vật gì đó để làm kỷ niệm sao?..

- Bác sĩ ơi, - tôi trả lời ông, - anh có muốn tôi mở toang tâm hồn tôi cho anh xem không nào?.. Anh thấy đấy, tôi không còn ở cái tuổi khi hấp hối lại gọi tên người yêu hay để lại cho bạn một nắm tóc có ướp nước hoa hoặc không ướp. Khi nghĩ đến cái chết kề cận có thể xảy ra, tôi chỉ nghĩ đến bản thân tôi mà thôi; có những kẻ không làm cả cái việc như thế nữa kia. Bạn bè ngày mai rồi sẽ quên ta hay tồi tệ hơn còn trút lên đầu ta, có trời biết là những chuyện bịa đặt gì, đàn bà khi ôm ấp người khác, sẽ cười nhạo ta để không gợi lên ở tình nhân mối ghen tuông với người đã chết, - cầu Chúa tha tội cho họ! Từ trong dông tố của cuộc đời tôi chỉ rút ra được một số ý niệm – chứ không có chút tình cảm nào. Ðã lâu rồi tôi không sống bằng con tim mà bằng khối óc. Tôi cân nhắc, phân tích các dục vọng và hành động của riêng tôi với con mắt tò mò khắc nghiệt nhưng lạnh lùng. Trong tôi có hai con người: một người thì sống với đầy đủ ý nghĩa của từ ấy, còn người thứ hai thì suy nghĩ và thẩm xét người kia, có thể sau một giờ nữa con người thứ nhất sẽ vĩnh biệt anh và vĩnh biệt thế gian này, còn con người thứ hai... người thứ hai?.. Hãy xem kia, bác sĩ ơi, anh có thấy ba cái bóng đen đen trên vách đá ở phía bên phải kia không? Chắc là những đối thủ của chúng ta đấy?..

Chúng tôi thúc ngựa đi nước kiệu.

Dưới chân vách đá có ba con ngựa buộc trong bụi; chúng tôi cũng buộc ngựa mình vào đấy, và leo lên theo một con đường mòn nhỏ hẹp, chúng tôi tới một bãi đất trống, đứng đợi chúng tôi ở đấy có Grusnixki cũng lão đại úy long kỵ và một người làm chứng khác tên là Ivan Ignatêvich, cái tên họ này tôi chưa bao giờ nghe nói đến.

- Chúng tôi đợi các ông lâu lắm rồi! - Lão đại úy nói, miệng nở một nụ cười mỉa mai.

Tôi rút chiếc đồng hồ ra và giơ cho lão xem.

Lão xin lỗi và thanh minh là đồng hồ của mình nhanh.

Vài phút trôi qua, im lặng, nặng nề; sau cùng để phá tan bầu không khí ấy, bác sĩ hướng về Grusnixki, nói:

- Tôi có cảm tưởng rằng khi cả hai vị đều tỏ ra sẵn sàng quyết đấu và làm việc đó là để trả món nợ cho các quy tắc của danh dự, thưa các vị, bây giờ các vị có thể giải thích cho nhau và giải quyết vấn đề này một cách thỏa đáng!

- Tôi sẵn sàng - tôi nói.

Lão đại úy nháy mắt cho Grusnixki, và thằng cha này tưởng tôi sợ nên tỏ vẻ ngạo mạn, tuy từ nãy đến giờ mặt hắn vẫn tái mét. Kể từ lúc chúng tôi tới đây, đây là lần đầu hắn ngước mắt lên nhìn tôi; nhưng trong ánh mắt hắn có một cái gì như lo lắng, biểu lộ một cuộc đấu tranh nội tâm.

- Ông hãy trình bày những điều kiện của ông đi, - hắn nói, - và tất cả những điều tôi có thể làm được cho ông, ông hãy tin rằng...

- Điều kiện của tôi, thì đây: ngay hôm nay ông hãy công khai cải chính những điều vu khống của ông và xin lỗi tôi...

- Thưa đức ông, tôi lấy làm lạ sao ngài lại dám đề nghị với tôi những việc như thế?..

- Ngoài việc đó, tôi còn biết đề nghị với ông cái gì khác được?..

- Chúng tôi sẽ đấu vậy!

Tôi nhún vai.

- Xin mời, nhưng cũng nên biết rằng một trong hai ta nhất định sẽ chết...

- Tôi mong rằng người đó là ông...

- Còn tôi lại tin chắc sẽ trái lại...

Hắn ta bối rối, đỏ mặt, rồi phá lên cười miễn cưỡng.

Lão đại úy nắm tay kéo hắn ra một nơi; và hai người thì thầm với nhau một lúc lâu. Lúc tới đây, tâm trạng tôi còn khá hiếu hòa, nhưng tất cả những việc vừa giờ bắt đầu làm tôi tức tối.

Bác sĩ đến bên tôi.

- Này, - ông nói bằng một giọng rõ ràng là lo lắng, - anh chắc đã quên mất âm mưu của chúng rồi?.. Tôi không biết lắp đạn súng ngắn, nhưng trong trường hợp này... Anh thật là kỳ quặc! Hãy nói cho chúng biết là anh đã biết tỏng ý đồ của chúng, và chúng sẽ không dám... Việc quái gì phải thế! chúng sẽ bắn rơi anh như một con chim...

- Xin anh cứ bình tĩnh, bác sĩ ạ, và anh hãy đợi đấy... Tôi sẽ có cách thu xếp khiến bọn chúng chẳng lợi lộc gì đâu. Cứ để mặc cho chúng thì thầm...

- Thưa các ngài, chán lắm rồi! - tôi lớn tiếng nói với chúng, - đấu thì đấu đi; các ngài có đủ thì giờ để bàn bạc từ hôm qua rồi kia mà...

- Chúng tôi đã sẵn sàng, - lão đại úy nói, - mời hai ngài, ai về chỗ nấy!.. Thưa bác sĩ, xin ngài cho phép đo đủ sáu bước...

- Hãy đứng vào chỗ! - Ivan Ignatiêvich nhắc lại giọng the thé.

- Xin lỗi các ngài! - tôi nói, - còn một điều kiện nữa, vì chúng tôi sẽ bắn chết nhau, nên chúng tôi phải làm tất cả những gì có thể làm để việc khỏi bị bại lộ và để các ngài làm chứng của chúng ta khỏi phải chịu trách nhiệm. Các ngài đồng ý chứ?..

- Hoàn toàn đồng ý.

Vậy thì tôi đã nghĩ ra một cách như thế này. Các ngài có thấy trên đỉnh vách đã dựng đứng kia, về phía tay phải, có một đám đất hẹp không? từ đó xuống tới chân cao ước độ ba mươi xagien, có thể hơn nữa; phía dưới là đá nhọn. Mỗi người chúng tôi phải đứng ở ngay mé ngoài đám đất bằng kia; như vậy một vết thương dù nhẹ nhất cũng đưa đến chỗ chết: điều này chắc hẳn là hợp với ý muốn của các ngài, vì các ngài đã tự ý định ra khoảng cách sáu bước. Kẻ nào bị thương nhất định sẽ bay nhào xuống dưới và chắc chắn sẽ chết tan xác; bác sĩ sẽ gắp đạn ra và như vậy sẽ rất dễ dàng giải thích cái chết bất thần ấy là do một bước nhảy hụt. Chúng ta sẽ tung đồng tiền xem ai bắn trước. Ðể kết thúc, tôi xin tuyên bố rằng nếu không đúng như thế tôi sẽ không đấu.

- Xin mời, - lão đại úy vừa nói vừa đưa mắt nhìn Grusnixki một cách đầy ý nhị; hắn gật đầu tỏ vẻ chấp nhận. Nét mặt hắn thay đổi từng lúc một. Tôi đã dồn hắn vào một tình thế khó xử. Bắn nhau trong những điều kiện bình thường, hắn có thể nhằm bắn tôi ở chân, làm tôi bị thương nhẹ và như vậy hắn cũng đủ thỏa mãn việc báo thù mà lương tâm không bị cắn rứt lắm; nhưng bây giờ hắn chỉ còn mỗi một cách là bắn chỉ thiên, hoặc trở thành kẻ sát nhân, hoặc cuối cùng là vẫn cứ đeo đuổi âm mưu đê tiện của mình, để cũng tự đặt mình vào tình thế nguy hiểm như tôi. Trong lúc này, thật tôi không muốn ở vào địa vị của hắn. Hắn kéo lão đại úy ra nơi khác và nói với lão điều gì rất nóng nảy; tôi thấy đôi mắt tím ngắt của hắn run run; nhưng lão đại úy quay ngoắt đi với một nụ cười khinh miệt “Cậu là đồ ngốc! - lão nói khá lớn với Grusnixki, - cậu không hiểu gì sất! Chúng ta đi thôi, thưa các ngài!".

Một con đường mòn nhỏ hẹp len lõi giữa các bụi cây, bò lên dốc; những phiến đá vỡ khập khiễng xếp thành những bậc thang chênh vênh của chiếc thang thiên tạo này; chúng tôi bám vào các bụi cây leo lên. Grusnixki đi trước theo sau là những người làm chứng của hắn, sau đó đến tôi với ông bác sĩ.

- Tôi thấy anh thật là lạ, - xiết chặt tay tôi bác sĩ nói, - để tôi bắt mạch cho anh xem sao!.. Ô hô! anh đang sốt!.. nhưng nhìn mặt anh lại không thấy chỉ có đôi mắt anh là sáng ánh hơn mọi ngày.

Đột nhiên có tiếng lạo xạo của những hòn sỏi nhỏ lăn dưới chân chúng tôi. Gì thế nhỉ? Grusnixki bị vấp ngã; cành cây hắn níu bị gãy và tí nữa thì hắn tuột ngửa xuống mé dưới, nếu những người làm chứng không đỡ hắn lại.

- Hãy cẩn thận, kẻo ngã trước đấy: - tôi quát bảo hắn, - đó là một điềm không hay rồi. Hãy nhớ lại Iuli Xêda[10].

Sau cùng chúng tôi đã lên tới đỉnh một vách đá nhô hẳn ra ngoài; nền đất phủ một lớp cát mịn tuồng như được sửa sang để chuẩn bị sẵn cho một cuộc quyết đấu. Xung quanh, những ngọn núi chen chúc nhau chìm trong sương mù vàng óng của buổi ban mai, nom như một bầy gia súc đông nghịt; còn ở phía nam ngọn Enbơruk hiện lên sừng sững như một khối đá đồ sộ trắng toát tạo thành một đường vòng xích khép kín gồm những ngọn núi đóng băng với những đám mây xốp như bông từ phương Đông chạy tới đang nhởn nhơ bay lượn. Tôi đi tới mép bãi bằng nhìn xuống và thấy hơi chóng mặt; dưới kia nom có vẻ tối tăm và lạnh lẽo như trong một nấm mồ, những chiếc răng đó nhọn bị mưa bão vào thời gian ném từ trên vách đá cao xuống, phủ đầy rêu phong đang đợi một con mồi.

Nền đất bằng, chỗ chúng tôi sắp bắn nhau là một hình tam giác gần như đều cạnh. Chúng tôi đã đo đúng sáu bước bắt đầu từ cái góc nhô hẳn ra ngoài và cùng thỏa thuận là người đầu tiên phải nếm đạn của kẻ thù sẽ đứng ngay trên cái góc ấy, quay lưng về phía vực; nếu người đó không bị giết chết thì hai bên đối địch lại đổi chỗ cho nhau.

Tôi định bụng là sẽ dành tất cả mọi thuận lợi cho Grusnixki; tôi muốn thử thách hắn; trong tâm hồn hắn có thể lóe lên một tia hào hiệp, và như vậy mọi việc sẽ được thu xếp ổn thỏa hơn; nhưng lòng tự ái và tính cách yếu hèn của hắn đã thắng. Tôi muốn cho mình toàn quyền không thương tiếc hắn, nếu số phận vẫn nuông chiều. Ai mà chả có những điều thỏa thuận như thế với lương tâm mình?

- Hãy tung tiền đi, bác sĩ! – lão đại úy nói.

Bác sĩ rút trong túi áo ra một đồng tiền bạc và tung lên không.

- Chấn song! – Grusnixki vội vã kêu lên như một người bất thình lình bị một cái huých thân tình làm bừng tỉnh.

- Con phượng hoàng[11]! – tôi nói.

Đồng bạc quay mấy vòng rồi rơi xuống đất, kêu leng keng; mọi người nhảy xổ tới xem.

- Ông gặp số may rồi!, - tôi nói với Grusnixki, - ông được bắn trước! Nhưng nên nhớ rằng nếu ông không bắn chết tôi thì tôi sẽ không bắn trượt đâu – tôi xin hứa với ông một lời danh dự đấy.

Hắn ta đỏ mặt; hắn thấy xấu hổ vì giết một người không có vũ khí, tôi nhìn hắn chòng chọc; giây phút ấy tôi đã có cảm tưởng là hắn sẽ quỳ xuống chân tôi, cầu xin tha tội; nhưng làm sao có thể thú nhận một âm mưu hèn hạ đến thế? hắn chỉ còn có mỗi một chước là bắn chỉ thiên; tôi tin là hắn sẽ bắn chỉ thiên! Chỉ có mỗi một điều có thể ngăn cản hắn: hắn nghĩ là tôi sẽ đòi phải có một cuộc quyết đấu thứ hai.

- Ðã đến lúc rồi! - bác sĩ giật tay áo và khẽ nhắc tôi, - nếu lúc này anh không nói là chúng ta đã biết ý định của chúng thì mọi việc sẽ hỏng bét. Xem kìa, hắn đang lắp đạn... Nếu anh không nói gì thì tôi sẽ tự...

- Không vì lý do gì trên đời này cả, bác sĩ ơi, - tôi vừa đáp vừa giữ tay ông ta, - anh sẽ làm hỏng hết cả mất; anh đã hứa là cứ để mặc tôi cơ mà... Nào có can gì tới anh? Có lẽ tôi muốn chết cũng nên…

Ông ta nhìn tôi với vẻ kinh ngạc:

- Ồ, như thế thì lại khác!.. Nhưng lúc sang thế giới bên kia, đừng có đi kiện tôi đấy...

Trong lúc ấy, lão đại úy đã nạp xong đạn vào khẩu súng của mình, lão trao cho Grusnixki một khẩu, miệng mỉm cười thì thầm với hắn điều gì không rõ và trao cho tôi khẩu còn lại.

Tôi đứng ở góc nền đất bằng, chân trái tì chặt xuống đá và hơi nghiêng người về phía trước để có bị thương nhẹ cũng không lộn cổ ra phía sau.

Grusnixki đứng đối diện với tôi và theo hiệu lệnh, bắt đầu giơ súng lên. Ðầu gối hắn run run. Hắn nhắm thẳng vào trán tôi...

Thế là một nỗi tức giận khó tả sôi lên trong lồng ngực tôi.

Đột nhiên hắn hạ nòng súng xuống, và xanh như tàu lá, hắn ngoảnh sang người làm chứng của mình:

- Tôi không thể bắn được! - hắn nói giọng khản đặc.

- Đồ hèn! - lão đại úy đáp.

Súng nổ. Viên đạn làm xước đầu gối tôi. Tôi bất giác bước mấy bước lên phía trước để mau chóng rời xa mép bờ vực.

- Chà, anh bạn Grusnixki ơi, đáng tiếc là cậu đã bắn trật rồi! - lão đại úy nói, - giờ thì đến lượt anh, hãy đứng ra chịu đạn! Trước hết, hãy ôm hôn tôi cái đã: chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa đâu! họ ôm hôn nhau; lão đại úy đã cố nén để khỏi bật cười. - Đừng sợ, lão xảo quyệt liếc nhìn Grusnixki và nói thêm, - tất cả trên đời này chỉ là chuyện nhảm nhí! Tạo hóa là thằng ngu, số phận là con gà tây còn thì đời không đáng giá lấy một xu!

Nói xong những lời bi thảm ấy với cái vẻ mặt hết sức trang nghiêm, hắn trở về chỗ cũ, Ivan Ignatiêvich cũng ôm hôn Grusnixki, nước mắt giàn giụa, và thế là chỉ còn một mình hắn đối mặt với tôi. Cho đến lúc này tôi vẫn cứ cố tự giải thích với mình cái tình cảm đã sôi sục trong lòng tôi lúc ấy đại khái là thế nào; trong đó có cả sự tức giận vì lòng tự ái bị tổn thương, cả sự khinh bỉ và phẫn nộ nảy sinh khi nghĩ rằng cái người hiện đang nhìn tôi với vẻ vững tin, tỉnh táo đến mức điềm nhiên kia, hai phút trước đây, không phải trải qua một chút hiểm nghèo nào, đã muốn giết tôi như giết một con chó, vì nếu chân tôi bị thương nặng hơn chút nữa, thì chắc chắn tôi đã ngã lộn nhào xuống khỏi bờ vực rồi.

Tôi chăm chú nhìn vào mặt hắn mấy phút, cố tìm xem hắn có gì là hối hận, dù rất nhỏ không. Nhưng tôi lại có cảm tưởng là hắn đang cố nén một nụ cười.

- Tôi khuyên ông trước khi chết nên cầu Chúa đi! – lúc ấy tôi bảo hắn.

- Đừng có lo lắng cho linh hồn tôi hãy lo cho bản thân mình thì hơn. Tôi chỉ yêu cầu ông một điều: bắn nhanh lên.

- Và như vậy là ông không chịu cải chính những lời vu khống của ông? Không chịu xin lỗi tôi!.. Nghĩ kỹ đi! Lương tâm ông không mách bảo ông một điều gì ư?

- Ngài Pêtsôrin! – lão đại úy long kỵ kêu lên, - ông đến đây không phải để rửa tội cho người khác, xin ông cho phép tôi nói rõ… Làm nhanh lên; kẻo lỡ có người đi qua đường và nhìn thấy chúng ta đấy.

- Được lắm! Bác sĩ ơi, mời anh lại đây với tôi.

Bác sĩ Verne tiến lại gần tôi. Tội nghiệp cho bác sĩ! Ông ta còn xanh hơn Grusnixki mười phút trước đấy.

Những lời sau đây, tôi cố ý nói to, thủng thẳng từng tiến một như người ta tuyên án tử hình:

- Bác sĩ ơi, chắc chắn là trong lúc vội vàng các vị đã quên nạp đạn vào súng của tôi. Tôi đề nghị anh nạp lại, mà nạp thật cẩn thận vào!

- Có thể nào lại thế được!- lão đại úy kêu lên, không thể thế được! Tôi đã nạp đạn cả hai khẩu, chẳng lẽ đạn trong súng của ông lại rơi đâu mất… Đó không phải là lỗi của tôi! – Nhưng ông không có quyền nạp lại… ông không có quyền… đó là điều trái hẳn với thể thức; tôi không cho phép…

- Được lắm! – tôi nói với lão đại úy, - nếu vậy thì tôi sẽ đấu cùng ông với những điều kiện như thế… Lão bối rối.

Grusnixki đứng đợi, đầu cúi gằm, bối rối và buồn bã.

- Để mặc họ… sau cùng hắn nói với lão đại úy khi ông ta đang muốn giằng khẩu súng của tôi khỏi tay bác sĩ, - vì chính anh cũng biết là họ có lý.

Mặc cho lão đại úy làm đủ mọi ám hiệu, - Grusnixki vẫn như không muốn nhìn nữa.

Trong lúc ấy bác sĩ đã nạp xong đạn và trao súng cho tôi. Thấy thế lão đại úy nhổ toẹt một bãi xuống đất và giậm chân.

- Sao mà cậu ngu đến thế, hở anh bạn, - lão nói, - một thằng ngốc đặc!.. Nếu cậu đã giao phó tính mạng cậu cho tớ thì phải nghe tớ đến cùng chứ… Đáng đời cậu lắm! Thôi thì chết như con ruồi chết vậy… Lão quay gót bước đi miệng lẩm bẩm: - Nói gì thì nói, điều đó vẫn cứ trái với thể thức.

- Grusnixki! – Tôi nói, - hãy còn kịp; cải chính những lời vu khống của mày đi, tao sẽ tha thứ cho mày tất cả. Mày đã không lừa tao được rồi; và lòng tự ái của tao đã được thỏa mãn; - hãy nhớ lại chúng mình đã từng là bạn của nhau…

Mặt hắn đỏ bừng bừng, đôi mắt sáng quắc.

- Bắn đi! – hắn trả lời, - tôi tự khinh tôi, và tôi căm thù anh. Nếu anh không giết tôi thì một đêm nào đấy tôi cũng sẽ ám sát anh. Trên mặt đất này không đủ chỗ cho cả hai đứa…

Tôi bóp cò.

Khi khói tan, Grusnixki đã không còn trên nền đám đất nữa. Chỉ còn một làn bụi cát nhẹ xoáy tròn như cái cột ở mép bờ vực sâu.

Ai nấy đều kêu lên một tiếng.

- Finita la comedia! [12] - tôi nói với bác sĩ.

Ông không đáp lời và ngoảnh mặt đi với vẻ kinh hoàng.

Tôi nhún vai và cúi chào những người làm chứng của Grusnixki.

Khi xuống núi theo con đường mòn, tôi nhìn thấy chiếc thây đẫm máu của Grusnixki nằm giữa những khe nứt của vách đá. Bất giác tôi nhắm mắt lại…

Tôi cởi dây buộc ngựa và thủng thẳng ra về. Lòng tôi nặng trĩu như một tảng đá đè lên ngực. Tôi cảm thấy mặt trời tối mờ đi, tia nắng không sưởi ấm được tôi.

Chưa tới Khu ngoại ô, tôi đã rẽ phải, men theo con hẻm. Hình hài của con người làm cho tôi đau khổ: tôi chỉ muốn được tách biệt một mình. Buông lỏng dây cương, đầu cúi gằm, tôi đi một hồi lâu, cuối cùng thì đến một chỗ tôi không biết là chỗ nào; tôi cho ngựa quay trở lại và bắt đầu tìm đường; mặt trời đã xuống thấp khi tôi về tới Kixlôvôđxk; người kiệt lực cưỡi trên con ngựa kiệt lực.

Tên đầy tớ cho tôi biết Verne có tới tìm và đưa cho tôi hai lá thư: một của bác sĩ và một… của Vêra.

Tôi mở bức thứ nhất, nội dung như sau:

"Tất cả đều ổn thỏa, không thể hơn: người ta đã mang cái thây bị biến dạng về, đạn đã được gắp ra khỏi ngực. Mọi người đều cho rằng anh ta chết là vì tại nạn rủi ro; chỉ có tư lệnh trưởng, chắc đã phong thanh biết việc tranh cãi của các anh, nên ông ta lắc đầu, nhưng không nói gì. Không có bằng chứng gì để buộc tội anh và anh có thể ngủ ngon... nếu có thể... Chào anh..."

Tôi cứ do dự mãi không dám bóc lá thứ hai... Nàng có thể viết gì cho tôi?.. Một linh cảm nặng nề làm cho tâm hồn tôi xao xuyến.

Nó đây, bức thư ấy đây, mỗi chữ mỗi lời đều mãi mãi khắc sâu vào tâm trí tôi:

"Em viết cho anh vì chắc chắn rằng chúng ta sẽ không bao giờ còn gặp nhau nữa. Cách đây mấy năm, khi xa anh, em cũng nghĩ như thế; nhưng trời còn muốn thử thách lòng em lần thứ hai; em đã không chịu được cuộc thử thách này, trái tim yếu đuối của em một lần nữa đã bị một giọng nói quen thuộc chinh phục... không phải vì thế mà anh khinh em, phải không anh? Lá thư này vừa là lời vĩnh biệt và cũng là lời thú tội: em phải nói với anh tất cả những điều đã chứa chất trong trái tim em từ ngày nó yêu anh. Em sẽ không kết tội anh đâu, - anh đã cư xử với em như bất kỳ một người đàn ông nào khác: anh đã yêu em như người ta yêu của cải của mình, như một nguồn vui, những nỗi lo âu và phiền muộn cứ như thế nối tiếp nhau, và thiếu vắng chúng cuộc đời này sẽ buôn tẻ và đơn điệu. Em đã hiểu như thế ngay từ đầu... Nhưng thấy anh đau khổ nên em đã hy sinh đời em cho anh, hy vọng rằng một ngày nào đó anh sẽ biết đến lòng hy sinh của em, một ngày nào đó anh sẽ hiểu tình yêu sâu sắc của em không hề lệ thuộc vào bất cứ một điều kiện gì. Từ đó đến nay thời gian trôi qua đã khá nhiều: em đã hiểu thấu tất cả những bí ẩn của lòng anh... và em thấy rõ rằng em đã hy vọng hão huyền. Lòng em xót xa cay đắng! Nhưng tình yêu của em đã gắn liền với tâm hồn em: nó tối dần nhưng chưa tắt.

Chúng ta sẽ xa nhau mãi mãi; thế nhưng anh có thể tin rằng em sẽ không bao giờ yêu một người nào khác nữa: vì anh mà trong tâm hồn em đã cạn kiệt hết tất cả những cái quý giá của mình, khô hết nước mắt và tan hết mọi hy vọng. Một người phụ nữ đã một lần yêu anh thì không thể nhìn người đàn ông khác mà không có chút khinh miệt, không phải vì anh tốt hơn người ta, ồ, không đâu! mà chỉ vì trong bản chất của anh có cái gì đó đặc biệt, cái gì đó đặc thù của riêng anh, cái gì đó như kiêu hãnh và bí ẩn; dù anh nói gì, trong giọng nói của anh vẫn có một sức mạnh uy quyền không cưỡng nổi; không ai lại biết cách làm cho người khác yêu mình một cách thường xuyên như anh; không ai có cái xấu lại hấp dẫn như anh; không ai có cái ánh mắt lại hứa hẹn bao niềm khoái lạc như anh; không ai biết lợi dụng những ưu thế của mình tốt hơn anh và không một ai có thể đau khổ một cách thực sự như anh, bởi vì chẳng ai lại cố công tự thuyết phục là mình không đau khổ.

Giờ thì em phải nói rõ với anh lý do làm cho em vội vàng ra đi; lý do này đối với anh cũng không quan trọng gì lắm vì nó chỉ liên quan đến một mình em mà thôi.

Sáng nay, chồng em đi vào phòng em và kể cho em nghe cuộc cãi cọ giữa anh với Grusnixki. Rõ ràng là mặt em đã biến sắc vì ông ấy chăm chú nhìn vào mắt em một lúc lâu, chỉ suýt nữa thì em bất tỉnh nhân sự khi nghĩ rằng hôm nay anh phải đấu súng mà em lại là nguyên nhân; em cảm thấy mình sắp điên. Nhưng lúc này, khi em có thể suy xét lại, thì em tin rằng anh vẫn sống: không thể nào anh chết mà lại không có em, không đời nào! Chồng em đi bách bộ trong phòng rất lâu; em cũng không biết ông ta đã nói với em những gì, không nhớ là em đã trả lời ông ấy những gì... chắc hẳn là em đã nói với ông ấy rằng em yêu anh... Em chỉ nhớ là cuối buổi nói chuyện của hai vợ chồng em, ông ấy đã xúc phạm em bằng một lời khủng khiếp và bỏ ra ngoài. Em nghe tiếng ông ấy ra lệnh đóng ngựa... Thế là đã ba giờ đồng hồ em ngồi bên cửa sổ và đợi anh về... Nhưng anh sống, anh không thể chết được!.. Xe đã sẵn sàng... Xin vĩnh biệt, vĩnh biệt anh... Ðời em thế là hết, - nhưng có đáng kể gì? Nếu em còn có thể tin được rằng anh bao giờ cũng nhớ đến em, - em không dám nói là yêu, - không đâu, chỉ nhớ đến thôi... Xin vĩnh biệt; có người tới... Em phải giấu lá thư đi...

Có phải là anh không yêu Mêri không? Anh sẽ không lấy cô ta chứ? Anh ơi: anh nên vì em mà chịu sự hy sinh này nhé: em đã vì anh mà mất tất cả mọi thứ trên đời này...”

Tôi như điên, đâm bổ ra thềm, nhảy phốc lên con ngựa Tserkex vừa được dắt qua sân, và tôi phi hết tốc lực trên đường đi Piatigorxkơ. Con vật đã mệt nhoài nhưng tôi vẫn cứ hối thúc một cách không thương tiếc; nó thở phì phò và toàn thân đẫm bọt mồ hôi, nhưng vẫn cứ vun vút đưa tôi đi trên con đường đầy sỏi đá.

Mặt trời đã lẩn vào trong đám mây đen đang nằm nghỉ trên rặng núi phía tây; trong hẻm núi trời tối và ẩm ướt. Con suối Pôtkumôk chảy ào ào qua các tảng đá nghe khô khan và đơn điệu. Tôi cứ phi, ngực thấy ngạt thở vì sốt ruột. Ý nghĩ là mình sẽ không còn gặp nàng ở Piatigorxkơ như một nhát búa đập vào tim tôi! - Chỉ cần trông thấy nàng một phút, một phút nữa thôi, nói với nàng một lời từ biệt, xiết chặt tay nàng... Tôi cầu nguyện, tôi chửi rủa, tôi khóc than, tôi cười... không, không gì có thể diễn đạt nổi nỗi xốn xang, và thất vọng của tôi!.. Khi nghĩ rằng có thể mất nàng vĩnh viễn, đối với tôi Vêra đã trở nên quý giá hơn tất thảy mọi thứ trên cõi đời này - hơn cả cuộc sống, cả danh dự và hạnh phúc! Có trời mà biết trong đầu tôi đã nảy nở những mưu đồ kỳ dị, điên cuồng như thế nào... Trong lúc đó thì tôi cứ phi, phi mãi, thẳng tay dồn thúc ngựa. Thế rồi tôi nhận ra là con vật đang thở dốc, mỗi lúc một nặng nề hơn; nó đã loạng choạng hai lần ngay trên mặt đường phẳng... Còn năm dặm nữa thì tới Exxentukôp - một trạm ngựa của người Kôdắc, đến đấy tôi có thể thay ngựa.

Tình thế còn có thể cứu vãn nếu con ngựa của tôi còn đủ sức phi thêm được mươi phút nữa! Nhưng khi tôi leo lên khỏi một cái mương xói nhỏ để ra khỏi núi, đến khúc ngoặt gấp, con vật thình lình ngã vật xuống đất. Tôi khéo léo nhảy xuống ngay, nắm lấy dây cương lôi nó dậy, nhưng vô hiệu: chỉ còn nghe thấy một tiếng rên yếu đuối thoát ra qua hai hàm răng nghiến chặt; vài phút sau nó trút hơi thở cuối cùng, tôi còn lại một mình giữa thảo nguyên, mất nốt niềm hy vọng cuối cùng: tôi thử đi bộ - đôi chân tôi khuỵu xuống; kiệt sức vì những lo âu trong ngày và một đêm không ngủ, tôi ngã vật xuống đám cỏ ướt và khóc nức nở như một đứa trẻ.

Tôi nằm bất động một hồi lâu và khóc xót xa, không buồn ghìm nước mắt và tiếng nấc; tôi tưởng ngực mình sắp vỡ tung; toàn bộ cái tính quả quyết, cái máu lạnh lùng của tôi đều tan biến như mây khói. Tâm hồn tôi không còn sinh khí, lý trí tôi im bặt, và nếu có ai trông thấy tôi lúc bây giờ thì họ sẽ khinh bỉ mà quay mặt đi.

Khi sương đêm và gió núi làm cho cái đầu nóng bỏng của tôi mát dịu lại và ý nghĩ trở lại bình thường tôi hiểu ra rằng đuổi theo một niềm hạnh phúc đã chết thì thật là vô ích và phi lý. Tôi còn muốn gì nữa nào? Gặp nàng ư? – Để làm gì? Giữa hai đứa chúng tôi còn gì nữa nào? Một chiếc hôn vĩnh biệt cay đắng sẽ không làm cho những hồi ức của tôi thêm phong phú, mà sau đó chỉ làm cho cuộc chia ly của chúng tôi đau xót thêm!

Thế nhưng tôi lại thấy dễ chịu vì mình còn có thể khóc! Vả lại nguyên nhân của hiện tượng đó có thể do thần kinh rối loạn, một đêm thao thức, hai phút đứng trước mũi súng và chiếc dạ dày lép kẹp.

Sự thể như thế lại hoá hay! Nỗi đau mới này, nói theo kiểu nhà binh, đã hoàn tất một cuộc phá hoại tốt lành ở nơi tôi. Khóc được là may, và sau đó nếu không có buổi phi ngựa và nếu không buộc phải cuốc bộ quay trở lại mười lăm dặm đường kia thì chắc đêm hôm ấy giấc ngủ đã không tài nào khép nổi đôi mắt tôi.

Về tới Kixlôvôđxki lúc năm giờ sáng, tôi nằm vật xuống giường và đánh một giấc như Napôlêông sau trận Oaterlô.

Khi tôi tỉnh dậy bên ngoài trời đã tối. Tôi ngồi xuống bên cửa sổ mở và cởi khuy áo ngoài, khi lồng ngực tôi vẫn chưa yên tĩnh sau giấc ngủ nặng nề vì mệt mỏi thì một cơn gió núi đã làm cho nó dịu vợi hẳn đi. Xa xa bên kia sông thấp thoáng những ngọn đèn trong các tòa nhà của pháo đài và khu ngoại ô ánh sáng rọi qua những ngọn cây gia rậm lá làm cho dòng sông thoáng hiện ra. Trong sân nhà chúng tôi tất cả đều yên ả, trong nhà bà công tước vẫn tối đèn. Bác sĩ bước vào; mặt mũi sa sầm; trái với thường lệ, ông không chìa tay cho tôi.

- Bác sĩ ơi, anh từ đâu tới thế?

- Ở nhà bà công tước Ligôpxkaia; con gái bà ta ốm - suy nhược thần kinh! Nhưng không phải việc ấy, mà là thế này kia: nhà chức trách đã đoán ra, và mặc dù không thể tìm ra chứng cớ thích đáng, thế nhưng tôi vẫn cứ khuyên anh nên đề phòng. Hôm nay bà công tước có nói với tôi là bà ta biết vì con gái bà mà các anh đã đấu súng. Chính cái lão già bé tí kia - tên lão là gì nhỉ? - đã kể hết với bà ta... Lão có chứng kiến cuộc cãi lộn giữa anh với Grusnixki trong tiệm ăn. Tôi đến để báo cho anh biết trước. Xin vĩnh biệt anh. Có lẽ chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa đâu: người ta sẽ điều động anh đi nơi khác.

Ông ta dừng lại ở ngưỡng cửa, ông rất muốn bắt tay tôi... và nếu tôi lại tỏ ra cho ông thấy dù một chút thôi là muốn bắt tay, thì chắc hẳn ông đã nhảy bổ tới bá lấy cổ tôi; nhưng tôi vẫn lạnh như đá - và ông ta bỏ đi.

Con người là thế đấy! Tất thảy bọn họ đều thế cả: họ biết trước tất cả những mặt xấu của một hành động, họ giúp đỡ, khuyên bảo, thậm chí còn khuyến khích ta hành động nữa kia khi họ thấy không còn cách nào khác rồi sau đó họ lại phủi tay và bất bình ngoảnh đi, bỏ mặc cái kẻ đã dám đảm nhận tất cả gánh nặng của trách nhiệm vào mình. Tất thảy bọn họ đều thế cả thậm chí cả những kẻ tốt nhất, thông minh nhất!..

Sáng ngày hôm sau, tôi nhận được lệnh của thượng cấp điều động tới pháo đài N, tôi rẽ vào chào bà công tước.

Bà rất đỗi ngạc nhiên khi tôi trả lời câu hỏi của bà: liệu tôi có điều gì đặc biệt quan trọng muốn nói với bà không? - Tôi đáp rằng xin chúc bà may mắn và vân vân…

- Nhưng tôi lại có câu chuyện cần nói với ông một cách nghiêm chỉnh.

Tôi im lặng ngồi xuống.

Rõ ràng là bà không biết mở đầu câu chuyện như thế nào; bà đỏ mặt lên, những ngón tay múp míp gõ nhẹ lên mặt bàn; cuối cùng bà đã mở đầu như thế này, giọng bà ngắt quãng:

- Này, ông Pêtsôrin này! Tôi nghĩ rằng ông là một người cao thượng.

Tôi nghiêng mình.

- Tôi thậm chí còn tin chắc như thế, - bà nói tiếp, - tuy rằng tư cách của ông có đôi chút đáng ngờ; nhưng ông có thể có những lý do mà tôi không biết, và giờ thì ông nên nói cho tôi hay. Ông đã bảo vệ con gái tôi khỏi bị vu khống, vì nó mà ông đã quyết đấu, - vậy là ông đã liều mạng vì nó... Ðừng ngắt lời tôi, tôi biết ông không thể thú nhận điều này, bởi vì ông Grusnixki đã chết (bà ta làm dấu). Chúa xá tội cho ông ta, - và tôi hy vọng, cho cả ông nữa! Điều đó không can hệ tới tôi, tôi không dám phán xét ông, vì con gái tôi, tuy là vô tội, nhưng cũng là nguyên nhân của cái việc này. Nó đã nói hết với tôi... tôi nghĩ là nó đã nói hết: ông đã tỏ tình với nó... nó cũng đã thú với ông là nó yêu ông (đến đây bà công tước thở dài não ruột). Nhưng nó đang ốm, và tôi tin rằng đó không phải là một thứ bệnh bình thường! Một nỗi buồn thầm kín đang làm nó héo hon; nó chưa thú với tôi nhưng tôi chắc ông là nguyên nhân... Ông hãy nghe đây: Có lẽ ông cho rằng tôi đang đi tìm danh vọng, giàu sang, - ông đừng nghĩ thế! tôi chỉ muốn cho con gái tôi được hạnh phúc. Ðịa vị của ông hiện nay cũng không có gì đáng cho người ta khát khao, nhưng mọi việc sẽ có thể thu xếp ổn thỏa: ông có gia tài; con gái tôi yêu ông, nó đã được giáo dục để biết cách làm cho chồng nó sung sướng, tôi giàu và chỉ có mỗi một mình nó... Ông nói đi, cái gì còn làm ông lấn cấn nào? - Ông biết đấy, lẽ ra tôi không nên nói tất cả điều này với ông, nhưng tôi tin vào tấm lòng ông, vào danh dự của ông; ông nên nhớ rằng tôi chỉ có mỗi một đứa con gái..., chỉ một...

Bà ta khóc.

 - Thưa công tước phu nhân - tôi nói, - tôi không thể trả lời công tước phu nhân được; công tước phu nhân hãy cho phép tôi được nói chuyện riêng với công tước tiểu thư...

- Không đời nào! - Bà ta thốt lên và đứng dậy khỏi ghế trong cơn xúc động mạnh.

- Tùy công tước phu nhân vậy! - tôi đáp và sửa soạn ra về.

Bà ta nghĩ ngợi một lát, rồi đưa tay ra hiệu cho tôi đợi, và bước ra ngoài.

Chừng năm phút trôi qua; tim tôi đập mạnh, nhưng tâm thần vẫn yên tĩnh, đầu óc vẫn lạnh lùng; tôi cố sức tìm trong tôi một chút tình yêu dẫu là le lói, đối với cô tiểu thư Mêri dịu dàng nhưng những cố gắng của tôi đều vô ích.

Rồi của mở, và nàng bước vào. Lạy Chúa tôi! sao mà nàng thay đổi nhiều đến thế, từ lúc tôi không gặp nàng đến nay nào đã lâu la gì?

Đi tới giữa phòng, nàng chệnh choạng; tôi chồm dậy đưa tay cho nàng và dìu nàng tới ghế bành.

Tôi đứng trước mặt nàng. Chúng tôi im lặng hồi lâu; đôi mắt to của nàng tràn ngập một nỗi buồn khôn tả, như đang tìm ở nơi tôi một cái gì đó giống như hy vọng; đôi môi nhợt nhạt cố mỉm cười nhưng không được; đôi cánh tay mềm mại khoanh trên đầu gối, trông gầy guộc và trong suốt khiến lòng tôi thấy thương nàng.

- Thưa công tước tiểu thư, - tôi nói, - tiểu thư biết là tôi đã đùa cợt tiểu thư chứ?.. Tiểu thư phải khinh tôi mới phải.

Trên má nàng ửng lên một màu hồng bệnh hoạn.

Tôi nói tiếp: - Ðã thế thì tiểu thư không thể nào yêu tôi...

Nàng ngoảnh mặt đi, chống khuỷu tay lên bàn, đưa một tay lên bưng lấy mắt, và tôi cảm thấy đôi mắt ấy long lanh hai hàng lệ.

- Lạy Chúa tôi! - nàng thốt lên giọng rành rọt.

Tình cảnh đó làm tôi không cầm nổi lòng: chỉ một chút nữa thôi có lẽ tôi đã quỳ gối xuống chân nàng.

- Như vậy là chính tiểu thư cũng thấy rõ, - tôi nói, cố lấy giọng rắn rỏi và trên môi nở một nụ cười gằn miễn cưỡng, - chính tiểu thư cũng thấy rõ là tôi không thể lẩy tiểu thư được, nếu như hiện giờ tiểu thư có muốn như thế đi nữa thì chẳng bao lâu tiểu thư sẽ hối hận. Câu chuyện vừa rồi giữa tôi và thân mẫu tiểu thư buộc tôi phải nói với tiểu thư không úp mở và tàn nhẫn như thế; tôi hy vọng rằng đó là do cụ nhầm lẫn: tiểu thư có thể dễ dàng nói rõ cho cụ biết sự thật. Tiểu thư cũng thấy là tôi đang diễn trước mắt tiểu thư một cái trò thảm hại và đê tiện nhất, và tôi cũng xin thú nhận là như vậy; đó là tất cả những gì tôi có thể làm đối với tiểu thư. Dù cho tiểu thư có ý nghĩ xấu về tôi đến thế nào, tôi cũng cam chịu... Tiểu thư cũng biết đứng trước tiểu thư tôi thật nhỏ nhen. Và nếu như tiểu thư thậm chí đã yêu tôi, thì từ lúc này tiểu thư cũng sẽ khinh tôi, có phải thế không?..

Nàng ngoảnh nhìn tôi, nhợt nhạt như đá hoa cương, chỉ có đôi mắt nàng là vẫn long lanh một cách tuyệt vời.

- Tôi căm thù ông... - nàng nói.

Tôi cảm ơn, nghiêng mình chào kính cẩn và đi ra.

Một giờ sau, chiếc xe tam mã chạy thư đã vun vút chở tôi đi khỏi Kixlôvôđxk. Cách Exxentukôp vài dặm, tôi nhìn thấy xác con tuấn mã của tôi ở bên đường; chiếc yên đã bị tước mất, - chắc là do một gã Kôdắc qua đường lấy mất, - và trên lưng nó thay vì chiếc yên là hai con quạ đang đứng chễm chệ. Tôi thở dài và quay mặt đi.

Và lúc này, ở đây, trong cái pháo đài buồn tẻ này, tôi thường điểm lại trong ký ức những cái đã qua, và tự hỏi: cớ sao tôi lại không thích bước lên con đường mà số phận đã dành cho tôi, nơi có những niềm vui êm ả và thư thái tâm hồn đang chờ đợi tôi?.. Không! Tôi không chịu sống an cư với cái chức phận ấy! Tôi như một người lính thủy đã sinh ra và lớn lên trên boong một con tàu cướp bể; tâm hồn anh ta đã quen sống với bão táp và chiến đấu, và khi bị ném lên bờ, anh ta thấy chán chường và khổ sở, mặc cho rừng cây rợp bóng vẫy gọi anh, mặc cho mặt trời hiền hòa tỏa sáng đón mừng anh; anh đi lang thang suốt ngày trên bãi cát ven bờ, tai lắng nghe tiếng sóng biển rì rào đơn điệu và mắt nhìn về chốn xa xăm mờ mịt; xem ở đấy, trên cái đường ranh giới nhợt nhạt tách biệt vực nước xanh vôi những đám mây xám ngắt, liệu có thấp thoáng một cánh buồm mà anh mong đợi hay không, thoạt đầu nó giống như cánh hải âu, nhưng dần dần nó nhô lên khỏi bọt sóng cồn và từ tốn xáp gần vào bến bờ hoang vắng...

(1) Tên một tạp chí xuất bản ở Pêterbua thời đó.

[2]Tiếng Pháp trong nguyên bản: đối diện.

[3] Tiếng Pháp: Vũ khúc bốn người một bộ.

[4] Một cái làng hay khu ngoại ô thành phố ở Nga vào thể kỷ 11-17, nằm trên đất của nhà nước hoặc lãnh chúa. Nghĩa thông thường chỉ khu ngoại ô, cho nên chúng tôi sẽ dịch là Khu ngoại ô.

(5) Câu thơ ở lời mở đầu trong “Evgheni Oneghin” - tiểu thuyết bằng thơ của Puskin.

(6) Nhà thơ lớn Italia, thế kỉ 16.

[7] Tiếng Pháp trong nguyên bản: trái tim và gia tài của anh ta.

[8] Bị kiểm duyệt cắt bỏ.

[9] Ðại văn hào Anh (1771-1832) - tác giả Aivanho (1820).

[10] Nhà độc tài La Mã (102-44 trước Công nguyên).

[11] Chấn song và con phượng hoàng là những hình nổi trên hai mặt đồng tiền bạc.

[12] Tiếng Italia trong nguyên bản: Tấn hài kịch đã hạ màn.

« Lùi
Tiến »