Flornce, ngày…
12:30 đêm. Ở quảng trường Pitti của Florence, bên ngoài bảo tàng Pitti.
Tôi đang nghĩ cần phải treo cổ người đầu tiên phát minh ra ý tưởng đi thăm các bảo tàng nghệ thuật khi tới thăm một thành phố. Và sau đó, cần treo cổ cả kẻ đã phát tán ý tưởng này - tức các công ty du lịch và các học giả. Mà không, tốt nhất là không treo cổ họ. Hình phạt tốt nhất là bắt họ chỉ được đi thăm bảo tàng, lăng mộ, đền đài, thành quách, tức là tất cả những thứ đã chết và cổ vật ở mọi thành phố mà họ đến… chỉ thế mà không hơn gì.
Bảo tàng nghệ thuật hoàn toàn có thể là một cuộc tra tấn cho những người không quan tâm tới Michelangelo và muốn dành thời gian đi shopping hơn là đi ngắm tượng David, ngay cả khi chuyến đi Florence này là chuyến đi Florence duy nhất trong đời họ. Mà chính vì nó là chuyến đi duy nhất của đời họ tới Florence cho nên họ lại càng không nên đi ngắm tượng David nếu họ muốn đi shopping. Không ai nên phí thời gian làm vậy chỉ để có thể khoe với bạn bè bức ảnh mình đang đứng cạnh tượng David.
Tôi nói vậy là bởi vì khi tới Florence, tôi đã quyết định rằng, sau Paris, tôi sẽ không tới bất kỳ bảo tàng nghệ thuật nào nữa trong chuyến đi này. Vậy mà rút cục tôi vẫn đang có mặt trước bảo tàng Pitti. Tất cả là do thói bon chen.
Đêm qua, tôi đã đi ngủ với một ý nghĩ rất rõ ràng: “Điểm du lịch hấp dẫn nhất của Florence với mình lúc này chính là một giấc ngủ ngon. Mình sẽ ngủ cho đến lúc nào muốn dậy thì dậy. Florence là nơi nghỉ ngơi trong chuyến đi châu Âu này. Mình sẽ không bao giờ đi bảo tàng hay bất cứ điểm du lịch nào cả. Mình sẽ chỉ đi cắt tóc, đi mát xa, đi làm móng tay, móng chân, sẽ đi dạo loanh quanh và nghỉ ngơi sau bốn tuần đi lại.” Đây là một ý nghĩ rành mạch, đơn giản, tự nhiên và chắc chắn.
Sáng nay, tôi mở mắt lúc gần 7 giờ sáng. Nhưng vì đã quyết tâm nghỉ ngơi nên tôi nằm đọc sách đến 9 giờ 30 mới ra khỏi giường, ăn một bữa sáng rất thong thả trong nhà trọ rồi, cũng thong thả như thế, ra đường. Ở sảnh, tôi dừng lại chỗ anh chàng lễ tân vui tính Fredo:
“Fredo, tôi có một câu hỏi hơi kỳ cục cho anh.”
“Tôi có phải là trai bao không hả ?” Fredo cười toe toét.
“Không, không phải câu đó,” tôi nói. “Ờ nhưng mà anh có phải trai bao không đấy ?”
“Không, giá như mà được như vậy!” Fredo phá lên cười. “Chị định hỏi gì?”
“Anh có biết hiệu cắt tóc nào tốt không? Hiệu cắt tóc sinh viên ấy. Cắt được mà không quá đắt.”
“Hừm… câu hỏi không kỳ cục nhưng mà khó nhỉ… để tôi nghĩ xem…”
Fredo nghĩ mấy giây rồi quay sang nói tiếng Ý với người bảo vệ khách sạn.
“Rồi, tôi biết rồi, có một tiệm ở gần bảo tàng Pitti. Chị biết bảo tàng Pitti chứ?”
Tôi nói tôi biết; làm sao có thể đến Florence mà lại không nghe về bảo tàng Pitti, nhưng tôi không biết đường đến đó. Fredo chỉ cho tôi cách đi trên bản đồ. Tôi cảm ơn Fredo, vừa đi ra cửa vừa nghĩ thẫm “Tốt quá! Để đi đến cái hiệu cắt tóc đó mình sẽ phải đi qua Doumo, bảo tàng Uffizi, cầu Vecchio và bảo tàng Pitti. Nhưng mình sẽ không dừng ở bất cứ chỗ nào. Mình sẽ đi thẳng một mạch đến hiệu cắt tóc.”
Bên ngoài, trời nắng ấm và, sau Venice, Florence làm tôi hiểu thế nào là một thành phố sống. Ở đây có ô tô và xe máy chảy như những dòng sông nhỏ trên những đường phố lát đá, giữa những khối nhà kiến trúc Phục Hưng những quảng trường và lâu đài có khi còn cổ hơn Venice. Tôi bỗng nhiên nhận ra thêm là tôi không hề nhìn thấy bất cứ đứa trẻ nào ở Venice. Venice chỉ toàn người lớn, nhất là người già. Không biết trẻ con được sinh ra và người chết được chôn cất thế nào ở Venice. Nhưng thôi, hãy tạm gác các ý nghĩ u ám này lại cho những ý nghĩ sáng sủa hơn. Ví dụ như về sự hoành tráng của Doumo dưới ánh sáng ban ngày. Và hoành tráng hơn là dòng người dài dằng dặc đang xếp hàng chờ vào trong.
Nhìn hàng người dằng dặc ấy, tôi không băn khoăn gì khi đi thẳng qua Doumo. Nhưng đến quảng trường Piazza della Signoria (lúc này rất đông người) và nghe lỏm một hướng dẫn viên du lịch thuyết trình bằng micro với đoàn du lịch của anh ta về bức tượng David thì sự bon chen đã lại tóm được tôi.
“Hãy nhìn vẻ mặt David,” anh ta nói. “Hãy nhìn đôi lông mày cau lại và vẻ tư lự của David, đấy là dáng vẻ của một người đàn ông thời Phục Hưng. Nếu các bạn để ý đến tỷ lệ, thì các bạn sẽ thấy đầu và tay David to bất thường so với thân người; đây là một đặc điểm điêu khắc của Michelanelo; nhưng điều đặc biệt nhất là, khác với tất cả các nhà điêu khắc khác, Michelangelo đã khắc họa David một mình, trước khi chiến đấu với quái vật khổng lồ Goliath chứ không phải sau khi đã chiến thắng; ở đây, ta thấy cái tư lự củ David là một cái tư lự của con người thế tục sắp dấn thân vào một thử thách, chứ không giống một phiên bản thần thánh bất khả chiến bại. Nói cách khác, David là bức tượng đầu tiên khắc họa con người như một người phàm, bằng xương thịt và với những tư lự cá nhân, chứ không phải như một bản sao hay một mô hình của thế giới thần thánh như trong nghệ thuật trước đó.”
“Trời ơi!” tôi nghĩ. “Có thể mình sẽ không bao giờ trở lại Florence nữa. Mình phải đi xem David tư lự thế nào mới được.” Và với ý nghĩ đó, cơn sốt bảo tàng của tôi đã bắt đầu.
May sao, hàng người dài dặc xếp hàng chờ mua vé trước bảo tàng Uffizi đã đẩy lùi được cơn sốt của tôi. Tôi cũng an toàn vượt qua cầu Vecchio. Sông Arno vào mùa này cạn nước nên cây cầu trông trơ trọi. Và lại nó thương mại quá; khắp cầu là những người da đen bán túi Louis Vuitton, Fendi, và kính Guicci giả. Quá nhiều cửa hàng bán đồ trang sức vàng bạc; khiến tôi cứ nghĩ đến cụm từ “Trung tâm vàng bạc đá quý Hà Nội”. Nhưng ngay cả như vậy, đứng trên cầu Vecchio mà nhìn Florence dọc sông Arno quả là một bữa tiệc cho con mắt. Nhưng ngôi nhà sơn vàng mái ngói đỏ theo kiến trúc Phục hưng chạy ôm theo bờ sông lững lờ, và những ngọn đồi Tuscany xanh mờ xa xa… Chúa ơi, thành phố này là một miếng thiên đường được nhấc ra mà đặt xuống mặt đất.
Từ cầu Vecchio, tôi đi tới quảng trường Pitti. Không may cho tôi, ở đây chẳng có người bán hàng nào mà bảo tàng này lại trưng bày rất nhiều tác phẩm của Rafael và Botticelli; vậy là sự bon chen thắng thế và lôi được tôi đến quầy bán vé. May sao, bảo tàng chỉ nhận trả tiền mặt chứ không nhận thẻ tín dụng, còn tôi thì vừa hết sạch tiền mặt. Chậc, quả là cái điềm rằng tôi nên quên hẳn các bảo tàng đi. Vậy là tôi đi ra quảng trường rộng phía trước bảo tàng và nằm lăn ra đó dưới nắng. Xung quanh hầu như không có ai. Tôi sẽ nằm đây sưởi cho đến khi nào chán thì sẽ đi cắt tóc.
Nhưng như tôi đã nói, cần phải treo cổ cái người đã nhồi cho chúng ta ý tưởng phải đi thăm các bảo tàng nghệ thuật khi tới một thành phố. Chẳng có bảo tàng nào so được với việc nằm dưới ánh nắng mật ong vẩn vơ nhìn thấy mây với người Florence trôi qua.
Đối diện hằng ngày với một cái đẹp như thế này nên tâm hồn con người vươn lên được đến ngưỡng thánh thần. Trên một mảnh đất hẹp, người Ý nói chung và người Florence nói riêng đã sản sinh ra hội họa Ý, kiến trúc Ý, điêu khắc Ý, thời trang Ý, ẩm thực Ý, triết học Ý, văn minh Ý, và bóng đá Ý.

“Florence được hình thành khoảng năm 80 trước Công nguyên ở thung lũng Arno màu mỡ, án ngữ đường đi giữa Rome và miền Bắc nước Ý. Nó được hình thành như một khu đồn trú quân đội với nhiều đường phố nhỏ, thành lũy và pháo đài nhưng do vị trí địa lý thuận lợi nên Florence nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm buôn bán sầm uất. Cùng với sự sầm uất của thương mại, nghệ thuật cũng phát triển dưới sự bảo trợ của những nhà quý tộc và chính trị đứng đầu Florence. Thế kỷ XI sau Công nguyên được coi là thời kỳ vàng son của trường phái nghệ thuật Florence và trong thế kỷ XIII, Florence là trung tâm sản xuất các đồ da và dệt của châu Âu. Đến thế kỷ XV, Florence là một trong những thành phố lớn nhất, giàu nhất châu Âu. Mặc dù về danh nghĩa, Florence có một thể chế dân chủ nhưng thực tế, việc cai trị thành phố nằm trong tay gia đình Medici. Đời thứ ba của gia đình Medici, đứng đầu là Lorenzo Medici, là những người bảo trợ chính cho nghệ thuật ở Florence. Lorenzo là người đã nuôi Michelangelo, Leonardo da Vinci, Botticelli để hoàn thành nhiều tác phẩm hội họa, điêu khắc; cũng như các nhà soạn nhạc Alexander Agricola, Johannes Ghiselin, Heinrich Isaac. Đây chính là thời kỳ nghệ thuật Phục hưng hình thành và nở rộ, với cái nôi là Florence.
Sau thời hoàng kim này, Florence và gia đình Medici có một khoảng thời gian khủng hoảng. Tùy nhiên, Machiavelli, nhà chính trị lỗi lạc (tác giả của tác phẩm Quân vương ) đã tiên đoán rằng Florence sẽ phục hồi mạnh mẽ. Quả nhiên, cuối thế kỷ XVI, gia đình Medici quay lại cai trị Florence trong hai thế kỷ tiếp theo trước khi bị lật đổ vào thế kỷ XVIII.
Trong thế kỷ XIX, Florence từng là thuộc địa của Áo. Sau đó, nước Pháp dưới sự cai trị của Napoleon đã từng chiếm Florence, biến nó thành một quận thuộc địa của nước Pháp từ năm 1808 đến năm 1814, khi Napoleon thất thế. Năm 1861, Florence và vùng Tuscany trở thành kinh đô của Ý thay cho Turin. Trong kế hoạch hiện đại hóa kinh đô, các khu chợ cũ, các lâu đài Trung cổ bị phá hủy thay vào đó là những đường phố và các dãy nhà mới. Các quảng trường được mở rộng. Tuy nhiên, sáu năm đó, khi quân Pháp rời khỏi Ý thì kế hoạch hiện đại hóa Florence bị ngưng lại vì Rome trở thành thủ đô.
Trong thế kỷ XX, Florence phát triển mạnh do mở rộng các ngành du lịch, thương mại, tài chính, và công nghiệp. Ngày nay, Florence có dân số khoảng gần bốn trăm ngàn người sống trong thành phố, và hơn một triệu người nếu tính cả các vùng ngoại ô. Florence tiếp tục là một trong những điểm du lịch lớn là trung tâm nghệ thuật và thời trang của Ý và thế giới. Các hãng thời trang lớn của Ý như Salvatore Ferragamo, Gucci, Cavalli, Pucci đều đóng trụ sở chính ở đây trong khi nhiều hãng khác như Prada hay Chanel đều có văn phòng chi nhánh lớn trong thành phố… ”
Tôi đọc những điều này về Florence từ cuốn sách mang theo, trong lúc ngồi trên bờ tường của quảng trường Pitti và ăn bữa trưa ngon nhất trong suốt chuyến đi này. Tôi đã mua bữa trưa này từ một tiệm ăn bé xíu ngay bên cạnh bảo tàng.
Tiệm ăn có một quầy hàng ám khói quay gà tơ ở bên trên; và mỡ gà rớt xuống dưới thì dùng để chiên khoai tây củ. Đứng quay gà và chiên khoai là một người đàn ông Ý to béo, mồ hôi nhễ nhại, vừa đảo khoai bằng một cái xẻng nhỏ vừa vung tay nói chuyện với những khách vào quán - chủ yếu là dân văn phòng ở quanh đây. Họ ăn mặc đẹp, diện toàn com lê, cà vạt, hoặc váy; họ mua đồ ăn cho vào hộp rồi mang về. Tôi mua nửa con gà quay, một ít khoai tây cắt làm bốn, chiên tỏi, và một ít rau dền xào tỏi. Cả bữa ăn chỉ có 7 euro nhưng là bữa ăn ngon nhất của tôi trong suốt chuyến đi châu Âu tới giờ.
Ăn trưa xong, tôi tới tiệm cắt tóc. Đây là tiệm cắt tóc cho sinh viên nên trông không có gì hào nhoáng. Người cắt tóc cho tôi là một cô gái trẻ, mặc xuềnh xoàng một chiếc áo thể thao thụng, không son phấn trang điểm, thậm chí tóc cô ấy cũng bù xù. Trong lúc đó, ở cái ghế bên cạnh, một anh chàng người Ý rất điển trai và chải chuốt đang cắt cho một phụ nữ trung niên. Tôi muốn anh ta cắt cho tôi nhưng cô gái kia đã tiến tới, cười rất hiền và hỏi xem tôi muốn cắt không thôi hay là cả cắt cả gội - cắt không chỉ 12 euro, còn cả cắt và gội thì 15 euro. Tôi nói cắt và gội. Cô ấy bảo tôi đi tới bồn gội đầu. Tôi cứ tưởng là nếu tính riêng tiền gội đầu như thế thì tôi sẽ được gội đầu ba mươi phút như ở Việt Nam, hóa ra cô ấy chỉ lấy nước phun vào đầu tôi, gãi qua loa rồi xả nước, giống như ở Mỹ. Ở Mỹ thì việc gội này nằm trong việc cắt tóc rồi, không ai tính thêm tiền.
Gội xong, cô bảo tôi ra ghế ngồi.
“#%%#**@)^#%%*^#%*#,” cô nói một tràng tiếng Ý làm tôi ngẩn ra.
“Vâng” tôi trả lời đại, “vẫn kiểu này, chỉ cắt ngắn đi thôi.”
“#^)$*%&#%*$%*%#*%#,” cô chìa hai ngón tay ra và ra hiệu hai đốt ngón tay.
“Vâng, cắt đi khoảng chừng đó.”
“#^^*$^*#%*%$*$%*$%*%$.”
“Vâng, tôi rẽ mái ở chỗ này. Tôi sẽ giữ mái bằng. Như thế này…”
“&%&^$&$&*$&*?”
“Vâng, ngắn chừng đó. Tôi muốn một cái đầu khoai tây đẹp. Potato, potato [66] …”
[66] Khoai tây, khoai tây.
“Hử ? Patata, patata ?”
Ý tôi muốn nói tới cái đầu tỉa tròn kiểu như đầu của nhóm Beatles thời những năm 1960. Cái đầu đó trông đơn giản nhưng thực ra rất khó cắt cho tóc người châu Á. Lúc ở Chicago, tôi đã thử rất nhiều nơi, và cuối cùng chỉ có mỗi Steve, anh chàng đồng tính ở tiệm cắt tóc trên phố 57 có thể cắt được cái đầu đó. Steve bảo “đơn giản mới là khó, chứ mấy cái đầu phức tạp thực ra dễ làm, vì đầu đơn giản thì nếu cắt hỏng là lộ ngay”.
Tôi không biết làm thế nào để giải thích được cho cô gái cắt tóc về cái “đầu khoai tây” theo ý tôi. Cuối cùng tôi nói:
“Beatles. Paul McCartney. 1963.”
“Ah ah,” cô ấy cười. “Giờ thì cô ấy hiểu ra kiểu đầu tôi muốn rồi.”
Sau khi chúng tôi đồng ý về kiểu đầu, tôi ngồi yên xem cô ấy làm việc. Thực sự, tôi chưa thấy ai cầm kéo khéo léo như thế và cắt chăm chú nhưng uyển chuyển đến thế - còn hơn anh chàng điển trai toanh toách bên kia. Có vẻ như cô ấy mới là thợ chính, còn anh kia chỉ là thợ phụ - chuyên phục vụ các bà già thích được các chàng trẻ tuổi, bóng bẩy chăm sóc. Thực tế là anh kia vừa cắt tóc vừa tán chuyên gì đó - chắc để thời trang và làm đẹp - nên bà khách cứ liến thoắng nói và xoay bên nọ, xoay bên kia để soi gương từ các hướng. Còn cô gái của tôi, cô ấy không nói một lời trong khi cắt. Hai mắt cô ấy nhìn thẳng vào tóc tôi, hai tay xoay cái đầu tôi như đang xoay một quả cam. Rõ ràng tôi không hề tồn tại với cô ấy, chỉ có mái tóc của tôi tồn tại.
Tôi dĩ nhiên cũng chỉ cần có thế. Sau khoảng bốn lăm phút, tôi ra khỏi cửa hàng với một cái đầu khoai tây mà tôi rất thích. Đến nỗi, tôi nhờ cô ấy chụp một tấm ảnh cái đầu mới cho tôi và xin chụp chung một cái ảnh. Lúc này, cô mới cười, hỏi bập bõm:
“ Where are you from ?”
“Tôi là người Việt Nam nhưng đang sống ở Mỹ.”
Hơi dài dòng nhưng cũng không có câu nào khác phản ánh đúng tình trạng và cảm giác của tôi. Sau tám năm ở Mỹ, tôi thấy mình rõ ràng không phải người Mỹ nhưng cũng không còn thuộc về Việt Nam nữa. Tôi ở đâu đó ở giữa. Và càng đi nhiều, tôi càng thấy thế giới quả thật ngày càng trở nên toàn cầu, danh tính của mỗi người và khái niệm “nhà”, “quê hương” ngày càng nhòe. Nhưng người bạn tôi gặp trên đường đến từ đủ mọi nơi, làm đủ mọi nghề, thường không sống ở nơi mà họ sinh ra. “Công dân thế giới” - đây là cái mà các thế hệ trẻ bây giờ đã trở thành. Không còn là một từ xa xỉ nữa, nó thực sự là một hiện hữu.
Như ở Florence, tôi đã có người cắt tóc, đã có quán ăn yêu thích. Theo những kết nối giản đơn đó, Florence hoàn toàn có thể trở thành nhà của tôi. Tôi chỉ cần thêm một căn phòng nhỏ và một cái xe đạp hoặc xe máy để đi lại - vậy là đủ dể bắt đầu một cuộc sống mới.

5:30 chiều: Viết từ trên tháp cao nhất của nhà thờ Doumo. Tôi đang ở trên đỉnh cao nhất của Florence, nhìn xuống thành phố và những quả đồi của bình nguyên Tuscany bao quanh thành phố. Từ chỗ này, khung cảnh thật choáng ngợp. Hàng hàng những ngôi nhà Phục hưng màu đỏ, vàng, và da cam tỏa ra như những cánh cung từ quảng trường trung tâm thành phố, chạy tới những chân núi xanh xa. Mặt trời đang lặn, rải những ánh nắng ấm dịu xuống một vài nóc nhà ở phía bên kia thành phố, trong khi lại chói sáng ở phía khác. Đây đó trên những quả đồi, mây trắng bảng lảng trong một thứ ánh sáng mơ hồ như phủ khói. Bầu trời có màu gần xanh nhưng ở về phía Tây có những đụn mây hồng và tím dày, qua đó, những luồng sáng trắng xuyên xuống thành vệt. Thật là một cảnh thành thần; người ta có thể cứ chép nguyên khung cảnh này và gọi nó là thiên đường. Tôi có thể đứng đây ngắm cái cảnh này mãi mãi nhưng Doumo sẽ đóng cửa lúc 6 giờ 20 phút nên tôi phải ghi nhanh một chút rồi ra khỏi đây.
Tôi đã vào đây sau khi loanh quanh shopping trong thành phố. Shopping, phải rồi; dù không hề có ý định, nhưng tôi đã không cưỡng được. Tôi không hề phóng đại.
Chiều nay, sau khi cắt tóc, tôi đi loanh quanh, hờ hững ngắm nghía các cửa hàng bán đồ da ở con đường chạy dọc sông Arno với ý nghĩ “Cứ nhìn thôi thì có chết ai?”

Florence, nhìn từ nóc thánh đường Doumo
Hóa ra là chết nhiều người, trong đó có tôi. Ở một cửa hàng tôi thấy một cái túi da đỏ rất đẹp bày trong tủ kính… Tôi đứng ngắm nó một lúc rồi lơ đãng hỏi người chủ cửa hàng xem tôi có thể nhìn nó kỹ hơn và nếu có thể thì thử khoác nó… Chị ấy nói dĩ nhiên rồi, và sau đó thì tôi mắc câu như một con cá tội nghiệp. Tôi đeo nó lên người, ngắm nghía trong gương và không thể nào bước đi nổi. Trời ơi, cái túi này thuộc về tôi, nó chắc hẳn được làm ra cho tôi, người thợ nào làm ra nó hẳn đã biết trước có ngày tôi đến; mà cái túi cũng đã chọn tôi là chủ, nếu tôi không mua nó thì tôi sẽ phản bội nó, nó sẽ không hạnh phúc với người chủ khác, trời ơi… Ồ nhưng mà không, tôi không muốn mua thêm cái túi nữa, tôi có nhiều túi rồi, mà tôi có bao giờ cần túi đâu, lúc nào cũng vẫn chỉ dùng một cái túi cũ duy nhất… Vậy là tôi đặt cái túi xuống… rồi lại cầm nó lên… rồi lại đặt nó xuống… rồi lại cầm nó lên… thật là đau khổ… tôi chưa từng biết đến nỗi khổ shopping cho tới lúc này… trời ơi… nhưng mà không được…
Trong lúc này, người phụ nữ bán hàng cứ thản nhiên nhìn tôi nhắc lên, đặt xuống. Khi tôi cầm nó lên lần thứ ba, chị ấy nói:
“Cái túi này thật hợp với cô. Tôi không hiểu tại sao nhưng nó hợp với cô lắm, như là được làm riêng cho cô ấy.”
Trời ơi, giết tôi đi. Giết chết tôi đi. Tại sao chị ấy lại phải nói thế chứ?
Tôi cố thoi thóp:
“Tôi thích lắm, nhưng tôi không thể mua được. Tôi nhiều túi lắm rồi, mà thực sự lúc này tôi cũng không thể mua một cái túi chừng đó tiền.”
“Có thể cô sẽ mua được những cái túi này chăng.” Chị ấy nói với vẻ thông cảm và chỉ cho tôi cái giá bên cạnh mà tôi đã không nhìn đến vì mải dán mắt vào cái túi đó.
“Những cái này thì bao nhiêu tiền?” Tôi hỏi. “Xin chị nói giá cho tôi trước khi tôi thử đeo chúng nếu không thì tôi sẽ chết.”
“Ôi trời ơi !” Chị ấy phá lên cười. “Cô vui tính quá ( chị ấy nghĩ tôi nói đùa, nhưng mà tôi hoàn toàn không đùa ). Nhưng cái này khoảng 75 euro.”
“Chị nói thật đấy chứ ? Chị không đùa đấy chứ? Chúng đẹp thế cơ mà.”
Tôi không thể tin là những cái túi này chỉ có 75 euro, tức là khoảng 130 đô la, bởi vì trông chúng cũng đẹp y như cái túi đó. Làm sao lại có thể chỉ có 75 euro.
“Chị nói 75 euro đúng không ?” Tôi hỏi lại và chỉ vào một cái túi. “75 euro, không phải 750 chứ ?”
“Phải rồi, 75 euro, không phải 750,” chị ấy lại cười ngặt nghẽo. “Cô vui tính quá.”
Tại sao người ta rất hay cười và bảo tôi vui tính vào những lúc tôi nói những điều nghiêm túc và chân thành nhất nhỉ? Hình như bi kịch cuộc đời tôi hoàn toàn liên quan đến những khoảnh khắc vui tính chết người như thế này.
“Nhưng mà nó đẹp quá,” tôi nói. “Nó có khác gì với cái kia đâu ?”
Chị bán hàng hẳn là thấy tôi rất đáng thương, vả lại tôi là người khách duy nhất lúc đó nên chị ấy nói với vẻ rất thật.
“Những cái túi này rẻ hơn bởi vì nó là những cái túi cuối cùng của bộ sưu tập. Cô thấy đây, mỗi cái chỉ có một màu, không có màu nào khác cả, và cũng không có cái thứ hai. Nó không hợp với bộ sưu tập tôi đang có cho mùa này. Cũng có cái như cái này này, chỉ là đồ tôi làm mẫu để bán thử, rồi không sản xuất. Chúng là túi đơn. Không còn cái thứ hai nên chúng rẻ. Cô hiểu không?”
Không, tôi không thể hiểu cái logic đó. Cái đẹp là cái đẹp, mọi nơi, mọi lúc, mọi mùa… cần gì đi với bộ sưu tập cho mùa nào…
“Nhưng mà chúng đẹp quá,” tôi nhắc lại lần thứ ba, với một sự ngớ ngẩn hiển nhiên. “ Xin chị đừng giận, thực sự là tôi không hiểu ; tôi thấy chúng còn đẹp hơn những cái túi trong bộ sưu tập mùa này của chị, mấy cái túi đắt tiền kia kìa.”
“Cô nói đúng rồi,” chị ấy nói. “Tôi nói thật nhé, những cái túi này còn đắt hơn mấy cái túi kia nếu như chúng không phải là những cái cuối cùng tôi có hoặc không phải túi mẫu. Ví dụ, cái này, tôi chỉ có một cái duy nhất làm mẫu, tôi làm cái mẫu này, còn đắt hơn cả túi kia, loại da này đắt hơn nhiều và phải làm rất kỳ công. Nhưng tôi chỉ làm mẫu mà không sản xuất cho nên tôi định bán nó với giá rẻ, thu lại được bao nhiều thì thu.”
“Tôi hiểu rồi,” tôi nói và không đừng được mà thêm. “Tôi chẳng hiểu là người Ý các chị bị làm sao nữa. Sao người Ý lại có thể có con mắt nghệ thuật tuyệt vời thế nhỉ ?”
Chị ấy lại cười.
“Tôi không phải người Ý. Tôi sinh ở Anh nhưng chuyển sang đây lúc tôi còn nhỏ. Nhưng tôi đồng ý với cô, người Ý có con mắt nghệ thuật đặc biệt; họ rất riêng không dân nước nào tính kịp họ về khoản này đâu.”
Rồi đột nhiên chị ấy nói:
“Nếu cô trả tiền mặt tôi sẽ bán cái túi này cho cô với giá 65 euro.”
Tôi đã sẵn sàng trả 75 euro rồi, nhưng các cụ quả không sai khi nói “Thấy bở đào mãi” vì sau khi nghe chị ấy nói thế thì tôi mỉm cười, nói với chị ấy:
“60 euro nhé.”
Và thêm:
“Tôi xin chị đấy, tôi thích nó lắm.”
Chị ấy nhăn nhó, vặn vẹo một lúc, rồi nói:
“Thôi được, tôi lỗ rất nhiều tiền cho cái túi này nhưng mà tôi thích cô,” tôi nói thật đấy. “Tôi sẽ để nó cho cô.”
Tôi không biết chị ấy có thích tôi thật không và tôi cũng không biết thực sự chị ấy mất bao nhiêu để làm cái túi. Nếu tôi kể chuyện này với mẹ tôi, chắc chắn mẹ tôi bảo tôi bị lừa; với mẹ tôi thì tôi là đứa dễ bị lừa nhất trên đời, người ta nói sao tôi trả vậy và luôn tin bất cứ sự phỉnh phờ nào. Nhưng kệ, tôi có một cái túi đẹp mà tôi thích. Với tôi, chuyện chỉ có thế. Ai lừa tôi là việc của người đó, tội của người đó.
Chị bán hàng cẩn thận bọc cái túi cho tôi trong một cái túi giấy vàng nhạt, rồi bỏ vào trong một cái túi xách khác bằng vải. Rồi chị còn nói chuyện với tôi về các loại da, về việc làm túi, về việc thiết kế túi và sản xuất túi ở Florence. Chị ấy chỉ cho tôi thấy cần phân biệt các loại da như thế nào để biết đâu là túi thật…
Sau khi ở cửa hàng túi ra, tôi còn mua thêm một đôi giày da và một đống sổ bọc da tuyệt đẹp để làm sổ ghi chép trong vài năm tới. Sau đó, tôi về lại nhà trọ, cất chúng đi rồi tới Doumo.
Nhưng giờ, tôi phải xuống đã. Họ sắp đóng cửa Doumo.

8:27 tối: Viết từ quảng trường Vecchio. Tôi ngồi ở một bậc thềm đá, nghe một người đàn ông và một cô gái vừa chơi guitar vừa hát các bài hát tiếng Anh. Họ đã hát “All I have to do is dream [67] ”, rồi đến “Hey Jude” và bây giờ là “You’re got a friend [68] ” của James Taylor. Họ phối bè với nhau rất hay; cô gái không phải người nói tiếng Anh nên hát tiếng Anh với một chút accent, còn người đàn ông là người Mỹ, có một giọng trầm ấm rất dày. Quanh tôi, rất nhiều người cũng ngồi trên các bậc thềm, quanh những bức tượng cẩm thạch lớn của quảng trường mà nghe nhạc. Tôi thấy mình thật may mắn và hạnh phúc bởi vì tôi đã phát hiện ra cặp nghệ sĩ này trước nhất; tôi là người đầu tiên ngồi xuống nghe họ, và rồi những người khác mới tới… nhưng vì tôi là người đầu tiên nên đã chọn được chỗ ngồi tốt nhất.
[67] Tôi chỉ cần mơ.
[68] Bạn có một người bạn.
Tôi nói “may mắn” bởi vì tôi đã định về nhà bằng lối khác; nhưng linh tính hay cái gì đó mách tôi nên đi cái lối mới này. Dường như các thiên thần của Rafael, Michelangelo hay linh hồn của Florence đã đưa tôi đến đây bởi vì họ muốn tôi có một quãng thời gian tuyệt vời ở đây.
Lúc ở Doumo ra, tôi ngồi xuống các bậc thềm lớn bên ngoài cửa nhà thờ để nghỉ, với ý định sau đó sẽ đi về khách sạn. Lúc đó, mặt trời bắt đầu lặn và màu nắng cuối ngày hợp tuyệt vời với màu sơn vàng của những ngôi nhà Florence. Trông như thể cả thành phố đang được quét bằng mật ong, tắm trong mật ong. Thế là tôi quyết phải đi bộ trở lại cầu Vecchio để nhìn ánh hoàng hôn trên sông Arno và trên các ngôi nhà dọc sông.
Tôi đã không lầm. Từ cầu Vecchio nhìn ra, hoàng hôn buông xuống Florence như một phép màu. Như thể Chúa hay các thiên thần trên cao đang lấy một bình vàng lỏng đổ xuống thành phố. Giờ thì tôi hiểu tại sao cái thành phố bé tí xíu này lại sản sinh ra nhiều nghệ sĩ vĩ đại thế, hằng giờ, không thể nào không hướng tới cái đẹp và coi cái đẹp như một phần máu thịt. Không thể nào không nghĩ đến thiên đường và thần thách.
Tôi đứng đó ngắm mặt trời lặn rồi đi bộ trở lại cái quán nhỏ mà tôi đã mua bữa trưa. Tôi mua một ít cà tím nướng, một ít rau dền xào tỏi, một ít khoai tây, và một miếng sườn to. Rồi tôi đi bộ về phía nhà trọ. Tôi đã định sẽ trở lại nhà trọ, ăn bữa tối này rồi sẽ đi ngủ. Nhưng trên đường về, tôi đã rẽ ngả này và gặp hai người nghệ sĩ đường phố.
Họ vừa mới hát “The Boxer” của Paul Simon và Art Garfunkel. Tôi vui quá. Nhưng trời bắt đầu trở lạnh và tôi đã thấy đói. Tôi sẽ nghe thêm hai bài nữa rồi về khách sạn ăn bữa tối chắc chắn sẽ rất ngon này. Chỉ thế thôi là đủ cho một ngày tốt lành nữa. Tôi không cần phải tiêu nốt phần còn lại của buổi tối vào việc gì cả.
Cho đến lúc này, Florence đã rất hào phóng với tôi. Như thể Florence cố gắng bù đắp cho tôi những gì Venice làm hỏng.
Cảm ơn Florence!
☆☆☆
Florence, ngày…
11:15 đêm: Viết trên giường. Tôi mệt rã rời. Hai chân tôi và lưng tôi đã hóa đá, cứng đờ, không sao nhấc lên được. Người tôi thì sực mùi dầu con hổ. Nhưng ngoài sự mệt mỏi thể xác này thì tôi thoải mái hoàn toàn. Tôi vừa trở về sau chuyến đạp xe qua những quả đồi Tuscany, mà chính xác là vùng Chianti.
Chuyện đạp xe trên đồng quê Tuscany không hề nằm trong kế hoạch của tôi ở Florence. Tới tận chiều qua tôi cũng không hề có kế hoạch đi. Nhưng đêm qua, tôi đã đi uống bia với mấy người bạn trong cùng nhà trọ; sau nửa đêm, trở về nhà từ club cùng với họ, rồi nhìn Florence yên tĩnh trải ra dưới ánh trăng đầy tháng và nhất là nhìn cái bóng thẫm của bức tượng David trên quảng trường Signoria vắng người, tôi muốn ra khỏi thành phố. Lúc ấy đã sau nửa đêm nhưng những tờ quảng cáo tour du lịch đều nói rằng họ trực điện thoại 24/24 nên tôi cứ gọi. Tôi có ba tờ quảng cáo khác nhau; tôi gọi cho cả ba và cả ba đều nói rằng họ đã kín chỗ cho tour ngày mai. Thực tế là họ đã kín chỗ cho cả tuần tới vì tháng Chín là tháng du lịch cao điểm ở Ý.
Khi biết mình không có cơ hội để đạp xe, tôi bắt đầu tưởng tượng: đồng quê Tuscany như trong những bức tranh… những vườn nho và ô liu trải dài, những ngọn đồi thấp “như những đàn voi quỳ”, những rặng thông và tùng, xen lẫn những lâu đài cổ… những màu vàng, màu xanh da trời, xanh lá cây, nâu đất, màu mật ong, màu cỏ úa, màu bụi và nắng, màu của cái nóng và những bóng râm trên mặt đất, mùi nho, mùi thông, mùi đất… trời ơi, làm sao tôi có thể bỏ qua. Vậy là tôi quyết định sáng mai tôi sẽ dậy sớm đi tới điểm tập kết của những đoàn tour trong quảng cáo, có thể sẽ có ai đó bỏ chỗ của họ vào phút cuối. Mà kể cả nếu không có ai bỏ chỗ thì tôi cũng sẽ cầu xin, năn nỉ. Tôi dứt khoát phải thuyết phục họ cho tôi đi, kể cả phải quỳ xuống lạy lục, tôi nhất định phải được nhìn thấy Tuscany trước khi rời Florence.
Vậy là tôi yên chí đi ngủ. Tôi giữ được quyết tâm đó đến sáng và 7 rưỡi sáng thì tôi trở dậy; ăn sáng rồi rời khách sạn. Tôi xem bản đồ các điểm tập kết và đi tới điểm gần nhất ở gần cầu Vecchio.
Ngày hôm nay nắng đẹp. Vẫn còn sớm mà bên ngoài bảo tàng Uffizi đã có một hàng người dài tới mấy chục mét đang chờ đến giờ mở cửa. Nhìn thấy hàng người dài ấy, tôi càng thấy phải ra khỏi thành phố. Vậy là tôi hùng dũng đi tới điểm hẹn. Tôi đến đó lúc 9 giờ 25 phút sáng và chỉ có một người đàn ông và một người đàn bà đang ngồi trên bờ tường bê tông thấp cạnh bờ sông. Cả hai đều mặc quần soóc, áo phông đi giày thể thao và mang nước nên tôi đoán có thể họ là người của đoàn đạp xe. Vì trông họ cũng ngơ ngác như tôi nên tôi tiến tới hỏi:
“Xin chào, anh chị đi đạp xe có phải không?”
“Ôi ơn Chúa là em hỏi,” người đàn ông nói. “Chúng tôi đang băn khoăn không biết là mấy giờ phải tập trung ở đây, 9 hay 10 giờ. Chúng tôi đến đây từ lúc 9 giờ nhưng chờ mãi chẳng thấy ai. Chúng tôi đang tưởng chúng tôi đến nhầm chỗ.”
“Họ nói 10 giờ,” tôi nói. “Họ nói gặp ở chỗ này.”
“Cảm ơn em, may quá; bọn tôi lo lắng từ nãy đến giờ.”
Hóa ra hai người này – Amy và Greg là người bang Ohio – đang đi nghỉ tuần trăng mật. Học đã đăng ký tour đạp xe này cách đây một năm, lúc lên kế hoạch cho đám cưới và tuần trăng mật; và họ đã cho thông tin về tour này vào trong cuốn sổ kế hoạch của họ. Nhưng vì cả hai đều là dân marketing bận rộn nên đã không hề xem lại cho tới tận lúc đến Florence và tới đêm qua thì họ nhận ra là không có thông tin gì ngoài tấm bản đồ Mapquest chỉ điểm hẹn. Họ không biết thời gian hẹn chính xác và cũng không có địa chỉ chính xác. Họ đăng ký tour này vì hai vợ chồng ông già người hàng xóm đã nói rằng tour đi xe này là kỷ niệm tuyệt vời nhất của họ trong chuyến đi Ý.
Nghe Greg nói thế, tôi lại càng quyết tâm phải đi bằng được. Tôi nói với Greg:
“Em không đăng ký trước tour này. Đêm qua em gọi thì họ nói là tour đã đầy rồi. Nhưng em vẫn cứ đến xem có ai bỏ chỗ hay không.”
“Phải có tinh thần thế chứ,” Greg nói. “Được rồi Ruby, chúng tôi nhất định sẽ giúp em vào. Dĩ nhiên là bọn tôi chẳng có quyền gì nhưng bọn tôi sẽ cố gắng xin giúp.”
9 giờ 45 phút, bắt đầu có thêm người xuất hiện ở chỗ tập kết và tôi thì như ngồi trên đống lửa. Càng có nhiều người đến, tôi càng bồn chồn. Các tờ quảng cáo nói rằng mỗi tuần thường chỉ nhận mười tám người để đảm bảo an toàn, nhưng đã có tới hai tư người đứng chờ và vẫn chưa thấy hướng dẫn đâu. Tôi bắt đầu cầu nguyện một cách tuyệt vọng trong đầu: “ Please, please , tôi xin tất cả các thánh thần trị vì Florence, tất cả linh hồn và thiện ý của những người đang sống hay đã chết ở vùng Tuscany đẹp đẽ này, xin giúp tôi được đi đạp xe… làm ơn cho tôi được nhìn thấy vùng Tuscany đẹp đẽ này!”
Đúng 10 giờ, một anh chàng da trắng khoảng hai lăm tuổi mặc áo phông màu xanh đen với hàng chữ “Michigan” ở trước ngực xuất hiện và tự giới thiệu mình là Keith, “hướng dẫn viên du lịch”. Anh ta có một giọng nói vui vẻ, và nói một thứ tiếng Anh rất lạ. Khi anh ta đến chỗ Greg và Amy, Greg lập tức nói:
“Tôi và vợ tôi đã đặt chỗ trước. Nhưng tôi cần thêm chỗ cho một người bạn nữa trong nhóm của tôi.”
“Tôi sẽ phải xem rồi mới trả lời anh được,” Keith nói. “Hôm nay, không hiểu sao chúng tôi có quá nhiều người đăng ký đi.”
Rồi Keith tiến tới chỗ tôi:
“Chào, tôi là Keith. Em có đặt chỗ trước không?” ( chắc đoán tôi trẻ hơn anh ta )
“Không, em đến xem có thể ghép vào đoàn không.”
“Tôi sẽ phải kiểm tra tổng số rồi sẽ báo với em sau. Tôi sẽ quay lại trong hai phút.”
Keith tiếp tục kiểm đếm quân số cả đoàn rồi băng qua đường và biến mất tromg một tòa nhà. Khoảng năm phút sau, Keith trở lại, lần này đi cùng một anh chàng da trắng gầy nhom, mặc áo thun và đội mũ bảo hiểm như những tay đua ở giải đua vòng quanh nước Pháp. Tim tôi bắt đầu đập thình thịch chờ họ đi tới chỗ mình. Nhưng Keith và anh kia đi tới một nhóm bốn người ở phía xa nhất và nói gì đó với họ. Bằng vào điệu bộ và nét mặt mấy người kia, tôi đoán họ cũng là những khách hàng nhảy dù như tôi và vừa mới bị từ chối. Khi tôi thấy cả bốn người bỏ đi, tôi hiểu là cơ hội của tôi vô cũng mong manh. Và chẳng mấy chốc thì Keih và thanh niên cao gầy kia tới chỗ tôi.
“Xin lỗi em,” Keith nói, “bọn anh không cho em đi được rồi. Hôm nay đông người quá. Xin lỗi nhé.”
“Ôi khônggggggggggg,” tôi nói. “Pleaseeeeee, cho em đi với.”
Hẳn là tiếng kêu của tôi thảm thiết lắm bởi vì tôi vừa dứt lời thì tất cả những người đang đứng ở quanh đó đều quay đầu lại và đồng thanh nói:
“Ôi khônggggggggggg…”
Chắc họ đoán tôi chỉ là một đứa bé nên rất tội nghiệp cho tôi - và điều đó cũng không sai lắm bởi vì tất cả những người đứng đó đều già hơn và to lớn hơn tôi rất nhiều. Tôi là người châu Á duy nhất, là người duy nhất đi một mình, và trông chắc chắn không cao hơn một thiếu niên mười tuổi ở phương Tây.
“Xin lỗi,” Keith lại nói, “vấn đề là bọn anh không có đủ xe cho mọi người. Đoàn hôm nay là đoàn đông nhất mà bọn anh từng tổ chức, bọn anh hết sạch cả xe đạp rồi.”
“Thế có thể cho cô ấy ngồi trong ô tô cùng đoàn được không ?” Greg nói, rồi lập tức thêm. “Ồ nhưng mà thế thì chẳng có gì vui vì em sẽ chẳng được đạp xe.”
“Dĩ nhiên là ngồi ô tô thì cũng được,” Keith nói. “nhưng mà như anh nói đấy, sẽ chẳng có gì vui cả.”
“Không sao, thế cũng được,” tôi cố chộp lấy cơ hội cuối cũng để được thấy đồng quê Tuscany. “Cho em đi trong ô tô cũng được. Cứ để cho em ngồi trong ô tô. Em muốn được thấy Tuscany.”
Mọi người lúc này đều háo hức theo dõi kết cục câu chuyện và họ chăm chú nhìn Keith chờ nghe quyết định. Mắt tôi cũng dán vào Keith. Keith thì nhăn nhó không biết quyết định ra sao. Đột nhiên, anh chàng mặc dồ đua xe nói bằng một thổ âm rất lạ mà tôi không biết là ở đâu.
“Em trèo xuống được không ?”
Lúc ấy tôi đang ngồi trên bờ tường thấp chạy dọc bờ sông. Tôi không hiểu câu hỏi của anh ta nhưng cũng lập tức nhảy xuống, vừa nhảy vừa hỏi:
“Ý anh là gì ?”
Tôi nhảy xuống và lập tức bỏ cả áo khoác ngoài để làm cho tôi trông nhỏ còn nhỏ hơn - tôi không hiểu tại sao trông nhỏ hơn thì lại có lợi cho tôi nhưng lúc đó dường như có tiếng nói mách bảo tôi rằng tôi nên cởi áo. Keith và anh chàng mặc đồ đua xe nhìn tôi từ trên xuống dưới, rồi lại từ dưới lên trên. Tất cả những người đứng quanh đó cũng vây lại. Bất thần anh chàng mặc đồ đua quay sang nói với Keith:
“Mình có thể dùng cái xe đạp cho trẻ con vẫn treo trên gác. Cậu nghĩ thế nào ?”
Keith nhíu mày đăm chiêu trong lúc tôi nín thở chờ. Keith lại nhìn tôi từ trên xuống dưới, rồi từ dưới lên trên, rồi nhăn nhó thêm trước khi tặc lưỡi.
“Thôi được, em có thể đạp cái xe đạp trẻ con.”
“Yeahhhhhhhhhhhhh!”, tôi reo. “Người lùn là bá chủ thế giới.”
Tất cả mọi người ở đó đều phá lên cười.
“Thế nào, em vui chứ ?” Greg nói.
“Cảm ơn anh chị,” tôi nói. “Không có anh chị nhắc họ không cho em đi.”
Giờ thì tôi hết sức cao hứng, nhất là sau khi tôi thấy Keith đuổi thêm hai người da trắng to lớn nữa đi. Chẳng mấy chốc, đoàn chúng tôi băng qua đường, leo lên ba chiếc xe minivan. Tôi đi cùng xe với Amy và Greg, một cặp vợ chồng đứng tuổi người Texas đang đi kỷ niệm hai mốt năm ngày cưới. Lái xe cho chúng tôi chính là anh chàng mặc đồ đua xe mà lúc này tôi đã biết tên là Andy. Andy người Scotland, vì thế mà nói tiếng Anh kiểu người Scotland, cứ lên bổng xuống trầm vô tội vạ.

Sau ba mươi phút, chúng tôi rời khỏi dòng xe cộ đông đúc của Florence và những quả đồi Tuscany bắt đầu trải ra. Càng xa khỏi Florence, xe cộ và nhà cửa càng vắng. Chẳng mấy chốc, hai bên đường chỉ còn những vườn cây ô liu và nho và con đường thì lên xuống qua đồi. Andy chắc chắn đã qua cung đường này hàng ngàn lần nên lái xe rất nhanh như thể đang đi trên đường bằng; còn chúng tôi trong xe thì bắt đầu thấy lao đao. May mà Andy rất vui tính và liên tục kể những câu chuyện cười kỳ cục bằng cái giọng trầm bổng của anh ấy.
“Khỉ thật, tôi mê cái giọng của cậu này quá đi mất,” Greg nói khi chúng tôi dừng lại để Andy ra ngoài mua nước. “Tôi đoán là cậu ta chắc cũng mê giọng Mỹ của tụi mình.”
Một tiếng sau, chúng tôi tới điểm tập kết để ăn lót dạ và lấy xe đạp. Đó là lâu đài từ thế kỷ XI của dòng họ Guicciadini, một dòng họ làm rượu và dầu ô liu, giống như đa số các gia đình khác ở đây. Keith, Andy, và một cô gái đưa chúng tôi đi một vòng quanh lâu đài, qua các hầm rượu và hầm đựng dầu ô liu, giới thiệu cho chúng tôi về quy trình làm cả hai thứ này, rồi lên tòa tháp cao nhất của lâu đài để nhìn ra cả quang cảnh đồng quê xung quanh. Sau đó chúng tôi đi xuống một phòng để thứ rượu vang, bánh mỳ và dầu ô liu.
Đấy là món bánh mỳ với dầu ô liu ngon nhất mà tôi từng ăn trong đời. Dầu rất đậm, thoáng một chút vị chát ở cuối lưỡi, sánh, mà không ngấy. Bánh mỳ mới nướng; vỏ dày cỡ cả phân, không cứng mà cũng không mềm. Nó giòn vừa phải, đủ để khi nhúng vào dầu ô liu thì miếng bánh mỹ giữ dầu lại chứ không để dầu chảy xuống tong tỏng, cũng không sũng. Họ làm rất đơn giản: bánh mỳ được xắt sẵn thành lát, và dầu ô liu cứ vậy mà tưới lên. Có thế thôi. Tôi ăn sáu lát và nếu không nghĩ đến những người khác thì tôi sẽ ăn hết cả cái bàn bánh mỳ này. Tôi có thể suốt đời sống chỉ bằng bánh mỳ và dầu ô liu thế này.

Đây là món bánh mì với dầu ô liu ngon nhất mà tôi từng ăn trong đời
Họ cũng đã rót rượu được sản xuất trong lâu đài này ra các ly thủy tinh cho mọi người thử. Có cả vang trắng, vang đỏ và các loại rượu mạnh. Tôi không uống nhưng những người khác đều uống ít nhất một ly và đều trầm trồ rằng rượu ngon. Chắc là ngon thật vì sau đấy ai cũng mua rất nhiều rượu và dầu ô liu để mang về làm quá. Vả lại rượu cũng rẻ, chỉ 5 euro một chai vang làm quà cho gia đình giáo sư Menken ở Berlin khi tôi trở lại.
Sau bữa ăn nhẹ, Keith và Andy dẫn chúng tôi xuống nhà xe để nhận những chiếc xe đạp 24 tốc độ. Ở chỗ này, tôi cần phải mở ngoặc nói thêm rằng Andy từng là tay đua xe đạp chuyên nghiệp trong nhiều năm. Rồi Andy gặp Keith - một sinh viên Anh đi du lịch tới Florence và cũng thích đạp xe. Hai người bắt đầu đạp xe quanh vùng này như một cách tập luyện; rồi dần dần, họ nảy ra ý định sẽ tổ chức các tour đạp xe. Đến nay, công việc của họ tiến triển rất tốt và cả hai đã bỏ việc đua xe chuyên nghiệp. Andy nói “Đua xe cũng tốt, nhưng chẳng kiếm ra tiền mà sống”. Còn mỗi chuyến dẫn tour như thế này, tôi nhẩm tính, có 25 người, mỗi người đóng 65 euro, nếu trừ tiền họ cho hai bữa ăn, tiền nước, tiền các chi phí xe cộ, thì chắc cả hai cũng được 500 euro/ngày, mỗi tháng họ đi 10 đến 15 chuyến, tức là khoảng 5000 euro cho hai người mỗi tháng. Với mức này, ít nhất họ cũng đủ sống ở đây.
Sau khi nhận xe và được hướng dẫn cách điều khiển xe, chúng tôi được phân thành ba nhóm, mỗi nhóm mười người, và lập tức lên đường. Mỗi người cũng được phát một cái mũ bảo hiểm và một chai nước. Nhóm đầu tiên đi theo Andy, nhóm thứ hai đi theo Keith, và nhóm thứ ba đi theo cô gái mà chúng tôi mới gặp ở trên lâu đài. Nghe phân công như thế, tôi đoán ngay nhóm thứ nhất chắc là toàn những người to khỏe và hăng máu; mà tôi thì không có cả hai đặc điểm này. Thực tế là khi nghe Andy vừa nói “Nhóm 1 đi cùng tôi” thì một người đàn ông ngoài năm mươi nói với vợ:
“Chúng mình sẽ không đi nhóm này. Mình không phải là ‘ cool people.’ ”
Xe của tôi đúng là một cái xe đạp trẻ con, bánh xe nhỏ hơn tất cả các xe còn lại. Và tôi dĩ nhiên cũng không muốn đi cùng nhóm này bởi vì tôi rõ ràng là không thể nào theo kịp họ về thể lực. Nhưng nhóm này có Andy, rồi cả Greg, Amy, và vợ chồng Texas trong xe chúng tôi; vậy là tôi có cảm giác như tôi phải đi theo “gia đình” của mình. Vậy là tôi miễn cưỡng nhảy lên xe, bám theo Andy, Greg, và Amy – lúc này đã phóng vút từ trên sân lâu đài xuống con dốc dẫn vào.


Tôi lao xe xuống và lập tức có cảm giác như bay lên cùng với tốc độ và hai hàng thông vun vút trôi lại phía sau. Nhưng chỉ năm phút sau, tôi gặp ngọn đồi đầu tiên bên ngoài lâu đài và mắc một lỗi khủng khiếp mà rõ ràng là có một phần tại Andy. Thực ra, đây cũng không hoàn toàn phải là lỗi của Andy mà của cả nền giáo dục. Nó là thế này.
Cái xe đạp có hai cái lẫy để điều chỉnh tốc độ (có 6 tốc độ) – mà về cơ bản nghĩa là điều chỉnh xem bạn sẽ dùng nhông lớn hay nhỏ. Khi bạn lên đồi, bạn muốn chuyển sang nhông nhỏ để đỡ mất sức vào mỗi lần đạp; còn khi xuống đồi hoặc chạy trên đường bằng, bạn nên dùng nhông lớn để đi nhanh hơn. Giống như chạy xe máy; lúc lên dốc hoặc mới khởi động bạn đi số 1, 2, lúc chạy đường bằng và nhanh, bạn lên số cao nhất. Nhưng Andy lúc hướng dẫn chúng tôi lại nói:
“Nếu bạn muốn đạp nhẹ nhàng thì kéo lẫy về phía bạn; nếu bạn muốn đạp nặng hơn thì đẩy lẫy ra xa khỏi bạn. Nhớ nhé, nhẹ hơn thì kéo, nặng hơn thì đẩy.”
Lúc đấy tôi đã nghĩ “Thế là thế quái nào nhỉ? Ai điên mà lại muốn đạp nặng hơn?” Lẽ ra Andy nên nói thế này:
“Khi lên dốc, chuyển sang các số nhỏ như 1, 2, 3; khi xuống dốc hoặc trên đường bằng, chuyển sang các số lớn như 4, 5, 6.”
Chà, nhưng giải thích mọi thứ một cách đơn giản và dễ hiểu là một kỹ năng mà không phải ai cũng có.
Lúc khởi hành tôi đang đi ở số 4 hoặc 5 gì đó. Khi chúng tôi bắt đầu leo dốc, những người khác đều còn khỏe nên họ leo dốc băng băng, không vấn đề. Còn tôi, thấy mọi người phóng qua vùn vụt một cách dễ dàng, tôi cố gắng nhấn bàn đạp nhưng trời ơi, tôi không sao ấn được bàn đạp xuống vì dốc thì cao mà xe đạp thì đang để ở số quá lớn. Nhưng tôi dĩ nhiên không biết, tôi chỉ tiếp tục lấy hết sức mà ấn xuống, tôi đứng cả lên để dùng sức nặng cơ thể và sức cơ bắp để ấn bàn đạp nhưng xe không nhúc nhích. Người tôi đã đầm đìa mồ hôi trong khi hai chân đã gần như hóa đá vì co rút trong những cử động đột ngột. Thế mà chúng tôi chỉ mới khởi hành và đây chỉ là con dốc đầu tiên và cũng không quá cao. “Damn, mình không thể đạp được. Chỉ vừa mới khởi hành mà mình đã kiệt sức rồi. Mình không thể nào đạp hết cả chuyến này được, những hơn hai mươi cây số.” Tôi nghĩ thế, nhưng một ý nghĩ khác lại lặp tức chen vào “Gớm, chưa chi đã định bỏ cuộc rồi à?”; vậy là tôi tiếp tục vặn vẹo trên xe, cố nhích từng bước một.
Tôi đã cố thử điều chỉnh tốc độ xe bằng cách gạt qua gạt lại cái lẫy; nhưng vừa mới bắt đầu hành trình và trong lúc tá hỏa vì những người khác cứ phóng qua tôi ầm ầm, tất cả những lời hướng dẫn của Andy biến thành mớ bòng bong. Tôi gạt qua gạt lại cái lẫy để thử nhưng không làm sao quyết định được là cần phải làm gì vì số to hay nhỏ thì hình như tôi vẫn không làm sao khiến cái xe di chuyển được. Hai chân thực sự đã cứng lại, lưng lại đau và tôi cứ thở hổn hển, mồ hôi đầm đìa. Được một lúc, tôi không sao cử động được nữa, cả người tôi hóa đá trong lúc đứng lên để ấn bàn đạp; vậy là tôi từ từ đổ vật sang một bên, may mà kịp nhảy khỏi xe. Sự bất lực làm tôi vừa muốn đá cái xe, vừa muốn đá bản thân. Nhưng rút cục, tôi chỉ nuốt giận và quyết định là sẽ dắt xe lên dốc. Tôi dựng xe lên, hít một hơi và bắt đầu dắt xe bằng đôi chân bê tông. Nhưng dắt được mấy bước, sự bực mình và nôn nóng tóm được tôi, và tôi lại nhảy lên yên xe với quyết tâm sẽ đạp bằng được lên dốc… nhưng nhanh chóng hiểu rằng việc này chỉ khiến chân và lưng tôi thêm co rút mà không được tích sự gì. Tôi khổ sở và bực mình làm sao. Cơ thể tôi thì kêu gào “Dừng lại, dừng lại ngay… mình muốn tự sát à? Không đạp được đâu, mình không đủ sức, nhảy vào trong ô tô đi”; nhưng đầu óc ương bướng của tôi thì phản kháng “Gớm nhỉ? Mới thế này mà đã đầu hàng à? Hồi sáng thì cố gắng cầu xin người ta cho đi bằng được, giờ vừa mới đi được mấy phút thì đã bỏ cuộc. Đẹp mắt chưa?”
Đạp xe đã mệt, mà cái màn đấm bốc qua lại giữa cơ thể và lý trí làm tôi còn mệt hơn. Một lần nữa, tôi lại nhảy xuống khỏi yên xe, đã mạnh vào bánh xe và chỉ thiếu chút nữa là lăn ra đất đấm ngực thùm thụp mà kêu gào. Ngay lúc đó, cứu tinh xuất hiện. Đó là một người đàn ông Úc ở nhóm phía sau:
“Miss, cô có làm sao không?” Anh ấy hỏi.
“Tôi không biết nữa,” tôi cố nói qua hơi thở hổn hển.
“Hình như xe của tôi bị làm sao ấy. Tôi không làm sao khiến nó di chuyển được. Tôi cố đạp hết sức mà nó không đi.”
“Ồ, cô đang để số to quá. Phải chuyển sang số nhỏ khi lên dốc; thế này này…”
Anh ấy chỉnh lại số cho tôi.
“Cô thử đi”
Giờ thì dễ hơn nhiều mặc dù xe đi rất chậm.
“Cô thấy dễ hơn chưa?”
“Ồ, dễ hơn rồi, cảm ơn anh; anh cứ đi trước đi.”
“Không sao đâu.”
Lúc này, nhóm của tôi và cả hai nhóm kia xũng đã biến mất sau đỉnh đồi. Còn lại mỗi mình tôi loay hoay bò như một con sên lên đỉnh. Người đàn ông Úc chậm rãi đạp phía sau tôi và từ tốn giải thích bài giảng Nhập môn đạp xe đạp mà Andy rõ ràng đã đánh trượt tôi. Cuối cùng thì hai chúng tôi cũng đến đỉnh dốc, rồi lao xuống dốc, và đạp mười phút trên đường bằng thì gặp cả đoàn đua đang đứng lại bên một sườn đồi để chụp ảnh tòa lâu đài. Trông ai cũng hơn hở, vui vẻ, còn tôi thì chỉ có duy nhất một ý nghĩ “Trời ơi, những hai mươi cây số ? Mình chỉ mới đạp có hai cây mà đã chết đến nơi rồi.”

Giá chết rồi thì còn đỡ vì như thế thì tôi còn được nằm xuống và không cảm thấy gì. Đằng này, tôi không được nằm mà toàn thân thì đau nhức, các chỗ cơ bị co rút cứ nóng rãy lên. Chắc hẳn là tôi đã vặn sai các bó cơ đùi và hông vì lúc này mỗi cử động nhắc chân cũng làm tôi đau nhừ và có cảm giác chân tôi không thuộc về tôi nữa; cùng lúc, hai mông tôi ê ẩm vì vặn vẹo trên cái yên cứng. Tôi đau đến nỗi, sau khi bắt kịp mọi người ở chỗ chụp ảnh, tôi nhảy xuống xe và không hề nghĩ tới việc chụp ảnh mà chỉ lục túi xách để tìm lọ dầu cao tôi luôn mang theo.
Vẫn còn đang lục tìm lọ dầu thì tôi nghe tiếng Andy gọi nhóm tôi chuẩn bị lên đường tiếp. Cho đến lúc tôi tìm được lọ dầu thì cả nhóm tôi và một số người từ nhóm khác đã lên xe đi tiếp, trong khi một số người hóa ra còn chậm hơn tôi bắt đầu tiến tới chỗ chụp ảnh. Cái chỗ chụp ảnh này thì chỉ đủ cho chục người đứng nên nhóm tôi phải đi thì nhóm sau mới có chỗ. Vậy là tôi nhét lọ dầu trở lại một chỗ để tìm, lấy máy ảnh ra chụp vội vài tấm. Tôi chỉ chụp được vài tấm vì tôi đã nghe tiếng Keith hét lên hào hứng trong tư thế đứng thẳng người trên xe đạp:
“Này mấy người kia, trành ra cho bọn tôi đi, chỗ này thuộc về bọn tôi rồi.”
May mà Andy vẫn còn quanh quẩn để chờ người cuối cùng trong nhóm - tức là tôi. Tôi tóm lấy anh:
“Andy, cái xe của em bị làm sao ấy.”
“Nó làm sao, darling?” ( Andy gọi tất cả mọi người trong đoàn già, trẻ, lớn, bé là darling .)
“Nó đi chậm lắm.”
Thực ra thì tôi chỉ hỏi han để câu giờ, chứ tôi biết cái xe của tôi có bánh nhỏ hơn xe của mọi người nên tôi chắc chắn đi chậm hơn và phải đạp gấp hai lần để đi cùng quãng đường. Tôi cũng muốn Andy kiểm tra xem tôi có đang đi đúng số không. Andy nhìn vào cái lẫy rồi nói:
“Darling, em cần phải đi số to nhất vì giờ mình sẽ chạy trên đường bằng một lúc,” anh vừa nói vừa gạt cái lẫy sang số 6. “Nào đi thôi !”


Chúng tôi lại lên đường. Trời ơi, tôi ước tôi không phải đạp xe nữa, và tôi không biết lần nghỉ tới là chỗ nào và còn bao nhiêu ngọn đồi trước khi được nghỉ nên tôi bắt đầu hối hận vì đã tham gia việc đạp xe này. Thêm vào đó, hẳn là tất cả sự đi lại trong cả tháng vừa rồi đã tích tụ lại làm cho tôi xuống sức nên tôi càng hối hận. Tuy thế, trí óc bướng bỉnh của tôi thì vẫn cứ bình tĩnh nói “Thì dĩ nhiên là khó rồi, có ai bảo là dễ đâu, nhưng mà nhìn xem, mấy người già còn đạp được… người ta đã tính toán cái tour này cho cả người già và trẻ con, mình chắc chắn là có thể đi được.” Vậy là tôi tiếp tục đạp trong tính trạng bất mãn đầy mình.
May là từ đoạn đó có rất nhiều đường bằng phẳng và những lần đổ dốc. Và chẳng mấy chốc, dù người vẫn đau ê ẩm, tôi bắt đầu hào hứng trở lại. Hơn thế, cái phong cảnh như tranh của đồng quê Tuscany trở nên mê hoặc và làm cơn đau đỡ đi. Thêm nữa, thời tiết hôm nay tuyệt vời để đạp xe. Khi lao xe xuống đồi, tôi có cảm giác như đang bay. Tôi co hai chân lên trên gióng xe và mỗi lần lao lại không đừng được mà hét lên:
“Ahhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhh”
Nhóm của tôi dĩ nhiên là đạp khỏe hơn tôi; bây giờ, khi chúng tôi liên tục xuống dốc, họ nặng hơn nên theo quán tính thì lao càng nhanh và ngày càng bỏ xa tôi. Loáng cái họ đã mất hút và tôi chỉ còn lại một mình lóc cóc đạp trên con đường không bóng người, giữa những quả đồi thấp đầy nho và ô liu. Tôi sung sướng không sao tả nổi mặc dù vẫn có thể nhận biết từng búi cơ trên đùi và ở lưng đang đau nhói theo các cử động. Tuy thế, tôi cũng đã học được một vài tiểu xảo để giảm thiểu việc tốn sức lực; mỗi lần xuống đồi, tôi đạp thật nhanh để lấy thêm lực; sao cho đến lúc xe phải lên dốc tiếp thì tôi vẫn còn đủ quán tính mà chạy lên đến gần đỉnh con dốc. Cứ thế… lên dốc, xuống dốc, lên dốc, xuống dốc… tôi lao băng băng một mình qua các sườn đồi và mỗi lần lao xuống thì lại hét:
“Ahhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhhh!”
Trước khi tôi nhận ra thì tôi đã đến điểm dừng chụp ảnh thứ hai. Chỗ này là đỉnh một ngọn đồi nhìn xuống thung lũng có tòa lâu đài. Lần này, tôi đủ lịch duyệt để biết rằng không cần phải nghĩ xem mọi người đang làm gì; ai muốn đi thì đi, không cần bám theo họ, không cần đi cùng họ. Vậy là tôi lấy máy ảnh ra, nhờ một người đàn ông Úc lúc trước chụp cho một tấm; sau đó, tôi tự chụp vài tấm ảnh phong cảnh; rồi cất camera đi để lấy lọ dầu con hổ. Sau đó, tôi cẩn thận, bình tĩnh xoa dầu vào lưng, bụng, cổ, trán và rốn. Giờ thì tôi ổn rồi… và nhóm tôi cũng đã lên đường.
Chúng tôi tiếp tục lao dốc thêm một lúc nữa, cùng với một đoạn đường bằng. Đến lúc này, cả đoàn đã đi chừng một tiếng và có lẽ khoảng mười cây số. Tôi lại tụt lại và khi bắt kịp đoàn thì mọi người đã dừng lại ở một nhà hàng - đây là trạm ăn trưa của chúng tôi.
Khi tôi vào tới nơi, mọi người đang tản mát ở ngoài vườn và đều hỏi tôi có ổn không vì lúc nào tôi cũng tụt lại phía sau. Tôi nói tôi ổn cả mặc dù có hơi mệt. Hóa ra, tôi không phải người duy nhất thấy mệt. Chắc chắn là chuyến đạp xe này không phải một chuyến đạp xe cưỡi ngựa xem hoa chơi chơi; Andy và Keith đảm bảo rằng mỗi người tham dự đều phải đạp cật lực mới đến đích và có lẽ vì thế mà họ sẽ thấy vui mừng hơn khi hoàn thành được chuyển đi.
Trong bữa trưa, tôi ngồi đối diện với một cặp đồng tính từ London. Người “chồng” là một người đàn ông đã ngoài 60, da rất trắng, nhẹ nhàng, nói chuyện từ tốn. Còn người “vợ” là một người đàn ông ngoài 40, da ngăm ngăm, cơ bắp cuồn cuộn, nói chuyện oang oang và lúc nào cũng đầy kịch tính. Cả hai đều rất lịch sự và hay mỉm cười. Họ hỏi chuyện tôi và kể về cuộc sống ở London - người trẻ hơn không ngừng cao hứng mô tả London và nói tôi nên đến sống ở London nếu tôi có ý định đi khỏi Mỹ bởi vì London đa dạng và “quốc tế” hơn nhiều so với các thành phố khác ở châu Âu.
“London rất tuyệt. Tôi chưa bao giờ thấy thành phố nào như thế, ngoại trừ New York.”
Trái với dự đoán của tôi, bữa trưa thực ra rất ngon chứ không phải như những bữa du lịch qua quýt trong các tour du lịch một ngày. Bữa trưa có đủ cả ba món - đầu tiên là salad với dầu trộn Ý; tiếp đến là món chính với tám lựa chọn khác nhau (tôi chọn xúc xích với đậu trắng); sau đó tráng miếng bằng tiramisu hoặc kem; rồi sau đó là cà phê hoặc trà. Dĩ nhiên trong bữa ăn có rượu vang nhà làm do chủ quán cung cấp miễn phí và muốn uống bao nhiêu thì uống. Trừ tôi, ai cũng uống rất nhiều - dù là bữa trưa. Người phụ nữ ngồi cạnh tôi uống ít nhất ba ly.
Sau bữa trưa, chúng tôi được nghỉ mười lăm phút ở ngoài vườn để tiêu thức ăn. Tôi nhân cơ hội này nằm xuống cỏ để cho lưng được nghỉ. Trời ơi, chưa bao giờ tôi mừng như vậy khi được ngả lưng xuống mặt đất bằng phẳng. Tôi bôi thêm một ít dầu vào lưng và bụng; rồi cứ nằm đó nhìn trên trời xanh và để nắng sưởi ấm mặt. Nếu không phải đi tiếp thì tôi đã có thể cứ thể ngủ một mạch.

Mười lăm phút sau, chúng tôi lại khởi hành. Tôi lại một lần nữa túm lấy Andy:
“Andy, nhóm 2 và nhóm 3 đi chậm hơn nhóm 1 phải không ?”
“Không đâu, từ giờ chúng ta sẽ đi thành một nhóm lớn thôi. Nhưng đừng lo, darling. Em cứ đi theo tốc độ nào mà em thấy thoải mái cho em. Cứ từ từ thôi cũng được.”
Rồi có tiếng Keith gọi to cho tất cả mọi người nghe thấy:
“Giờ chúng ta sẽ đi thành một nhóm thôi. Lần lượt từng người một. Nhớ đi sát lề bên phải. Nhớ nhìn đường cẩn thận. Đi thôi, các chiến binh của tôi.”
Hẳn là họ đã tính toán kỹ vì trong khoảng một tiếng tiếp đó, chúng tôi chủ yếu đạp xe trên đường bằng, và điều này có lý vì tất cả vừa mới ăn trưa xong. Chỗ này, tôi phải công nhận rằng Keith và Andy tổ chức một tour du lịch rất chuyên nghiệp, chu đáo, và hết sức thoải mái cho khách hàng. Mỗi lần chúng tôi phải băng qua đường, họ lại ra đứng giữa đường để trông chừng xe cộ và chờ cho đến khi tất cả qua hết mới đi tiếp. Ba người luôn phân công nhau, một đi trước, một chặn hậu và một ở trong ô tô đi kèm để lo hậu cần. Hai người đi đầu và cuối liên tục tăng tốc hoặc chậm lại để kiểm tra tình hình của mọi người trong đoàn xem có ai bị tụt lại hoặc đuối sức, hay có vấn đề gì. Nước lúc nào cũng sẵn sàng… và Keith và Andy lại còn hài hước kinh khủng.
Nếu bạn nghĩ rằng đạp xe trên đường bằng phẳng dễ hơn trên đồi thì bạn nhầm. Lý do là thế này. Khi bạn leo đồi, bạn có một cái đích cụ thể để phấn đấu ; trí óc bạn tập trung vào cái đích đó. Còn khi bạn đạp xe trên một con đường bằng phẳng dài tít tắp không biết đâu là đích, thì lúc đó đầu óc bạn bắt đâu chơi trò với bạn. Nó bắt đầu bối rối, quẩn quanh, bứt dứt, bồn chồn, nhẹo nhệch vì không biết bao giờ thì đến nơi nhỉ, gớm sao trời lại nắng thế, hình như mình bắt đầu đau bụng, không biết tối nay mình có sưng chân lên không, thế này mà ốm thì mai làm sao mà ra sân bay được, nếu mà nhỡ chuyến bay thì làm thế nào nhỉ, vân vân và vân vân… Và chẳng mấy chốc, bạn sẽ bắt đầu thấy mệt và bồn chồn; bạn bắt đầu thấy nóng bức, mọi thứ trở nên khó chịu và bạn chỉ muốn nằm vật xuống mà ngủ. Bạn bắt đầu cáu bản thân vì đã đi chuyến đi này và tự dẫn xác vào sự khổ sở này. Bạn sẽ bắt đầu trách móc bản thân và sau đó thì trách móc đến các đối tượng khác…
Lúc này cả nhóm lại bắt đầu vỡ ra thành những tốp nhỏ: những người khỏe nhất đi đầu cùng với Andy; sau đó là đến tôi một mình một nhóm tương đương với nhóm… trẻ con và ở cuối cùng là một nhóm gồm có mấy phụ nữ to béo và một cặp thanh niên trong đó cô gái có vẻ như đang ốm. Keith đạp xe ở nhóm cuối cùng, vừa động viên vừa chuyện phiếm với họ và trông chừng các nhóm phía trước. Tôi nghe tiếng Keith cười văng vẳng ở xa.
Trong tình trạng sức khỏe bình thường, có lẽ tôi sẽ xoay xở được với chuyến đạp xe này nhưng vì đã mất quá nhiều sức lúc đầu và trong những tuần vừa qua, cộng với việc lâu lắm rồi không đạp xe nên tôi mệt bã. Tốc độ của tôi cứ giảm dần, giảm dần và đến một lúc, tôi bắt đầu chuệch choạc đạp lạc ra ngoài vệ đường, vấp vào mấy cái ổ gà, ngoi ngóp quay lại mặt đường nhựa trong tình trạng ngơ ngơ như người mất hồn. Hình như tôi bắt đầu say nắng hoặc quá mệt; tôi phải bắt mình tập trung bằng cách đếm lẩm nhẩm “Một tôi đang đạp xe, hai tôi đang đạp xe, ba tôi đang đạp xe…”; tôi phải giữ đầu óc bận rộn và tập trung; nếu không nó lại bắt đầu bồng bềnh và kêu gào đòi tôi bỏ cuộc. Phía sau tôi, một cô gái béo thở hổn hển đã bắt kịp tôi rồi khó nhọc vượt qua tôi và đi mất dạng. Tiếp đến là cặp thanh niên ốm yếu. Giờ thì tôi là người đi cuối cùng trong cả đoàn, chỉ có Keith, đạp chầm chậm ở cách một quãng; vừa đạp vừa kiểm tra email trên Blackberry và trả lời email bằng cách bỏ hai tay khỏi ghi đông mà xe vẫn cứ bon bon.
Tôi biết Keith ở phía sau nhưng tôi không ngoái lại nhìn mà Keith cũng không đạp nhanh lên để bắt kịp. Anh chỉ theo phía sau ở một khoảng cách vừa đủ. Sau một khúc cua khá hẹp, tất cả những người phía trước đã biến mất hút; chỉ còn lại mình tôi với ánh nắng chói chang và những vườn ô liu lúc này đã trở nên nhàm chán và con đường thì vô tận. Tôi đã không còn đếm “một tôi đang đạp xe, hai tôi đang đạp xe…” nữa; thay vì thế, tôi đếm “một tôi là con sên, hai tôi là con sên, ba tôi là con sên…” Tôi không còn bực mình nữa, tôi chỉ quá mệt.
Chắc chắn là tôi đã thực sự giảm tốc độ xuống bằng con sên mà không biết, vì khi tôi đang chăm chỉ đếm “ba tôi là con sên” thì tôi nghe tiếng Keith ngay phía sau:
“Hey darling, em có muốn anh đẩy một lúc không?”
“Cảm ơn anh, em không sao đâu.”
“Đừng lo, cứ gác hai chân lên phía trước đi, cho chúng nghỉ chút, anh sẽ đẩy em.”
Keith vừa nói vừa đặt một tay ra sau lưng tôi và bắt đầu vừa đạp vừa đẩy tôi.
“Cứ gác chân lên trước,” Keith nói vì tôi vẫn cứ tiếp tục đạp. “Gác lên đi, anh sẽ đẩy, không sao đâu.”
Vậy là tôi đành gác chân lên phía trước và để cho Keith đẩy tôi.
“Thế nào rồi !”
“Đỡ lắm, cảm ơn anh.”
Tôi để Keith đẩy tôi một đoạn rồi nói:
“Em có thể đạp chậm tùy ý em, phải không ?”
“Đúng rồi, đạp chậm tùy ý, miễn là em thấy thoải mái.”
“Thế thì không phải lo cho em đâu, anh cứ đi trước đi, em sẽ đuổi theo.”
“Được rồi, darling. Thế thì anh sẽ đi chuẩn bị ô tô. Cứ đi từ từ nhé.”
Rồi Keith phóng vụt qua tôi và mất dạng. Giờ thì tôi thực sự còn lại một mình. Không một ai ở xung quanh; con đường không người, không ô tô, không xe máy, xe đạp. Tôi nhảy xuống khỏi xe, lấy máy ảnh ra chụp vài tấm, rồi cứ đứng ở vệ đường nhìn những triền đồi trải dài trong ánh nắng vàng như mật ong. Thật là một cảnh trong mơ. Khi tôi lên lại xe, tôi bắt đầu đếm vui vui “Phải, tôi là con sên; vâng tôi là con sên…” và tôi cứ đạp mãi, đạp mãi, đạp mãi trên đường…

Không rõ bao lâu sau, tôi thấy mọi người đang chờ tôi dưới tán cây ô liu bên vệ đường. Chiếc xe vẫn đi kèm đã đỗ cạnh đó và phía trước mặt là một con dốc cao sừng sững. Những người khỏe nhất trong nhóm đã bắt đầu đạp xe leo dốc; những người khỏe nhì đang uống nước và duỗi chân duỗi tay; những người yếu hơn thì còn đang đấu tranh tư tưởng xem có nên leo dốc không hay vào ô tô, còn tôi thì vừa mới đến. Tuy thế, tôi không hề nghi ngờ rằng tôi nhất định sẽ leo dốc. Kể cả với tất cả sự mệt mỏi vào lúc này, tôi biết là tôi sẽ và có thể lên đến đỉnh dốc. “Dĩ nhiên là thế rồi,” tôi tự nhủ. “Mình chưa bao giờ bỏ cái gì giữa chừng cả, nhớ chứ?”
Vậy là tôi đi đến chân dốc với sự quyết tâm đó. Vừa nhảy xuống khỏi xe, tôi nghe lỏm được câu chuyện như sau giữa Andy và cô gái béo:
“Tôi có nên cố không ?”
“Darling, nó là một cái dốc chết người. Tùy em quyết định nhưng nếu là tôi thì tôi sẽ không cố nếu đã mệt rồi.”
“Nhưng mà thế thì rồi tôi sẽ bỏ lỡ một cơ hội thể dục tốt.”
“Đây không phải một cơ hội thể dục tốt đâu darling. Leo con dốc này là một cuộc chiến.”
“Thế à? Khó thế à?”
“Nó là một cái dốc chết người,” Andy nhắc lại.
“Thế thì tôi vào xe vậy.”
Cô gái béo nói rồi đưa xe cho Andy buộc lên ô tô. Tôi đi tới chỗ Greg và Amy xem họ đang làm gì. Greg đang nhăn nhó khổ sở:
“Tình yêu ơi, thế em không đi thật à ?”
“Không, em không đi đâu, xin lỗi anh.”
Greg ( càng khổ sở hơn ): “Nhưng anh không muốn leo một mình. Mình là một đội cơ mà.”
“Không, em xin lỗi, nhưng em không thể đi được. Nếu em leo thì ngày mai chắc chắc là em không nhấc được chân lên, có khi còn phải đi viện ấy. Em thì không muốn đi viện vào lúc này.”
Chà, Greg và Amy đang đi nghỉ tuần trăng mật và muốn làm mọi thứ cùng nhau, thế mà Amy còn không muốn leo dốc cùng Greg. Và Amy thì to khỏe hơn tôi nhiều. Tôi bắt đầu nghĩ lại. “Nếu Amy không đi thì có lẽ mình cũng không nên đi.” Nhưng một phần khác trong tôi vẫn muốn leo dốc. Vậy là tôi lại túm lấy Andy.
“Andy, leo cái dốc này có khó không?”
“Rất khó, darling yêu quý ạ.”
“Anh nghĩ là em có leo được không?”
“Dĩ nhiên là em có thể leo được nhưng em cần nghĩ xem có đáng không, bởi vì leo xong, có thể em sẽ rất mệt vào mấy ngày tới.”
Phải rồi, tôi còn hai ngày mệt nhọc phía trước với rất nhiều di chuyển, tôi không muốn mạo hiểm. Tôi không muốn ngày mai thức dậy và không nhắc nổi chân ra khỏi giường. Vậy là tôi hít một hơi “Được rồi, mình không cần phải chứng minh gì cả. Dĩ nhiên là mình có thể leo được cái dốc này, nhưng mình sẽ không làm. Không phải hôm nay, không phải lần này.”
“Em sẽ vào xe!” Tôi nói và đưa xe cho Andy chất lên ô tô.
Cuối cùng có nhiều người vào xe hơn tôi tưởng - đến mức xe phải đi hai chuyến mới chở hết. Ngoài tôi và Amy, còn có người đàn ông đồng tính già, cô gái béo, người phụ nữ từ Texas, tất cả những người phụ nữ ngoài năm mươi và cô gái ốm. Khoảng mười người đã lên ô tô.
Xe nặng nề vọt lên dốc rồi dừng lại ở một nhà hàng ngay trên đỉnh dốc. Chúng tôi xuống đó tiếp tục thở và uống nước, nghỉ ngơi, chờ những người leo dốc. Chừng mười lăm phút sau, người đầu tiên xuất hiện: chính là anh chàng đồng tính lực lưỡng. Anh ta không có vẻ gì là mệt mỏi mặc dù áo ướt đẫm mồ hôi và mặt lẫn tóc ướt rượt. Anh ta dắt xe chạy tới chỗ người bạn kia, la to:
“Anh có thấy không? Em lên đầu tiên. Anh có chụp được cái ảnh nào không?”
“Có, có, anh chụp đây này,” người kia mỉm cười và cúi xuống hôn anh ta.
Rồi lần lượt, từng người một lên đến đỉnh dốc, ai nấy thở hổn hển, mặt đỏ văng, áo ướt đầm. Greg nói không ra hơi trong lúc Amy lấy nước cho Greg uống:
“Em đúng đấy, em không leo được đâu. Anh suýt bỏ cuộc giữa chừng.”
Từ chỗ đó, chúng tôi chủ yếu đạp xe xuống dốc, để về lâu đài. Tôi sung sướng không sao tả xiết. Khi về gần tới lâu đài, tôi dừng lại ở một ruộng nho cùng với vài người đi xuống ăn nho. Nho ngon.
Trở lại Florence, tôi ôm hôn tạm biệt mọi người rồi đi bộ trở lại khách sạn. Ngang qua cầu Vecchio, tôi đứng lại nhìn Florence lúc hoàng hôn. Thành phố tắm mình trong một dòng vàng. Những cơn gió nhẹ từ dưới sông và từ những quả đồi lướt nhẹ trên trán tôi; cả người tôi mỏi nhừ, động vào chỗ nào cũng thấy đau nhưng tôi thấy yên ổn.
Tất cả rồi sẽ ổn thôi.
☆☆☆
Châu Âu, ngày cuối cùng
1:00 chiều, giờ châu Âu: Tôi đang viết những dòng này trong khoang máy bay của chuyến bay Delta 079 và đang trên đường trở lại Mỹ. Sau khi ở Đức, và Ý trong một tháng, chia đều mỗi nơi 10 ngày, tôi rút ra kết luận: nếu được chọn, tôi nhất định sống ở Paris, có thể đi chơi ở Ý, nhưng sẽ làm việc với người Đức, đi du lịch với người Đức, ra trận với người Đức. Và trong trường hợp tôi bị đi đày ra hoang đảo mà chỉ được chọn duy nhất một người bạn giữa người Đức, Pháp, Ý và không biết thông tin gì khác ngoài quốc tịch thì tôi nhất định sẽ chọn người Đức. Vì sao? Bởi vì trong mười ngày ở Đức mang lại cho tôi cảm giác tin cậy mà tôi không có được ở Ý hay ở Pháp cho dù, để đổi lại, sự đáng tin đó đi kèm một chút lạnh lùng.
Chiều qua, khi máy bay hạ cánh xuống sân bay Schonefeld, cảm giác đầu tiên của tôi là sự nhẹ nhõm vì được trở lại một nơi mà tôi sẽ không phải mắt trước mắt sau lo mất đồ, lừa đảo, hoặc lo bị tán tỉnh. Ở Đức, thực sự tôi cảm thấy yên tâm hơn cả khi ở Mỹ. Kéo hành lý ra ngoài, tôi rất tự tin đi tới chỗ đậu taxi để về nhà vợ chồng giáo sư Menken, một người quen của gia đình chồng tôi.
Lái taxi là một ông già đã ngoài bảy mươi, mặc quần ka ki với áo vest phẳng nếp, tóc hầu như không còn nhưng vẫn được chải ép gọn gàng, tác phong nghiêm trang theo kiểu một đại tá quân đội về hưu. Sau khi lên xe, tôi đưa miếng giấy có địa chỉ nhà giáo sư Menken cho ông. Ông lái xe rất cẩn thận và sau chừng hai mươi phút thì chúng tôi tới một phố có tên hình như là Steppendorfer Weg và ông bắt đầu tìm số nhà. Tôi hoàn toàn không biết gì về Berlin nhưng như tôi còn nhớ thì quang cảnh nhà giáo sư Menken không giống thế này. Đồng hồ trên taxi lúc đó chỉ 21 euro. Sau khi vòng thêm một vòng ngược lại đường mà không tìm được số nhà 33, ông lái taxi bảo tôi đưa lại tờ địa chỉ. Ông nhìn, lẩm bẩm gì đó bằng tiếng Đức rồi với tay tắt đồng hồ tính tiền đi. Sau đó, ông lái xe ngược lại về đường sân bay Schonefeld. Tôi bắt đầu lo rằng có lẽ tôi ghi sai địa chỉ và bây giờ ông già trả tôi lại sân bay.
Nhưng xe chỉ chạy ngang sân bay rồi rẽ sang hướng khác… chạy chừng ba mươi phút sau thì tôi thấy quang cảnh bắt đầu giống với nhà giáo sư Menken. Đi thêm một lúc nữa thì tới nhà. Lúc này, ông già mới bật đồng hồ lên và tôi vẫn chỉ phải trả 21 euro cho dù tôi đã đi gấp ba đoạn đường đó. Cho tới bây giờ, tôi vẫn không rõ là lỗi tại tôi ghi sai địa chỉ hay ông già đi sai đường lần đầu. Nhưng trong cả hai trường hợp, tôi đều khâm phục sự trung thực và tử tế hiếm có của ông. Cả ba lần tôi đi taxi ở Ý, tôi đều bị lừa; còn bốn lần đi taxi ở Đức, lần nào số tiền cũng giống hệt nhau khi tôi đi cùng đoạn đường. Tôi đưa cho ông già lái xe 25 euro và cảm ơn ông - vì sự trung thực nhiều hơn là vì số tiền tôi tiết kiệm được.
Ông bà giáo sư Menken ăn mặc chỉnh tề ra đón tôi. Cả hai lần tới đây, dù là tôi sẽ ở qua đêm, ông bà luôn ăn mặc rất nghiêm chỉnh để đón khách. Trong nhà, ông bỏ áo khoác cho tôi rồi giúp tôi mang hành lý vào tận phòng. Sau đó, ông mang nước cho tôi uống còn bà chuẩn bị khăn tắm cho tôi. Bà nói rằng bữa tối sẽ bắt đầu lúc 7 giờ hoặc sớm hơn nếu tôi đói.
Đúng 7 giờ, bữa tối bắt đầu. Bữa tối có bánh mỳ với mấy loại thịt hun khói, patê, cá sardine xốt cà chua và một ít salad dưa chuột với cà chua bà tự làm. Bà giải thích với tôi rằng bữa trưa là bữa ăn chính của người Đức, còn bữa tối chỉ là ăn bánh mỳ nhẹ thôi. Tôi nói, và tôi hoàn toàn thành thật, rằng đây là bữa ngon nhất trong nhiều ngày vừa qua của tôi. Cả hai ông bà rất hài lòng, nhất là bà, vì tôi ăn nhiều.
Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện. Tôi kể rằng chai rượu đỏ mà tôi mua biếu ông bà là rượu tôi mua ngay tại lâu đài dòng họ Guicciardini, vốn có truyền thống làm rượu vàng và dầu ô liu từ thế kỷ XI. Tôi mua chai rượu này trong chuyến đi xe đạp ở vùng đồng quê Chianti, cách Florence khoảng hơn một tiếng đi ô tô. Tôi nói đi xe đạp có cả người già và người trẻ; người trẻ thì hăng hái đạp lúc đầu nhưng sau rồi mất sức rất nhanh, còn người già đạp chậm nhưng đều đặn và có khi lại đến đích trước. Hai ông bà gật gật đầu, rồi bà nói với tôi rằng “bởi vì người già có…” - đến đây thì bà không nhớ ra từ tiếng Anh mà bà muốn dùng. Tôi đang định gợi ý một số từ thì bà đã “ excuse me ” rồi đứng dậy đi vào phòng khách. Khi trở lại, bà cầm theo một cuốn từ điển bỏ túi Anh - Đức. Bà nói một từ tiếng Đức gì đó rồi bắt đầu tra.
“À, đúng rồi,” bà cười. “Kinh nghiệm. Experience . Người già có kinh nghiệm hơn người trẻ.”
Từ đó, cuộc nói chuyện của chúng tôi thỉnh thoảng lại ngắt quãng để ông bà tra từ điển cho thật chính xác từ định dùng. Giáo sư Menken năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi và đã nghỉ hưu. Bà Menken năm nay cũng ngoài bảy mươi, cũng đã nghỉ hưu sau nhiều năm làm nhân viên hành chính. Ông bà là bạn từ thời phổ thông, cưới nhau từ lúc còn trẻ và sống chung đến bây giờ. Tôi có thể nhìn rõ hạnh phúc và sự hòa hợp của hai người như việc bà quen thuộc đồ uống của ông, nhớ đến loại đường dùng cho người có bệnh tiểu đường của ông, quen với từng thói quen nhỏ và ý nghĩ của ông… Mặc dù ngoài bảy mươi nhưng cả hai đều hồng hào, khỏe mạnh, đi lại nhanh nhẹn, lưng thẳng, nói chuyện hoàn toàn minh mẫn, với một sự bình thản và hiền lành của những người biết rõ về bản thân mình và không cần so sánh mình với ai. Tôi nghĩ nguyên nhân chính là vì cả hai ông bà đều vẫn sử dụng trí óc - như việc dùng từ điển này là một ví dụ. Bà Menken nói với tôi rằng bà vẫn đều đặn đi học tiếng Anh mặc dù bà chưa bao giờ có khách nói tiếng Anh như tôi. Bà còn đi tập Yoga nhiều năm nay. Hai ông bà hằng ngày đều đọc báo, xem ti vi, đọc sách, sử dụng Internet để biết tin tức và làm việc trên máy tính.
Sau bữa tối, chúng tôi ra phòng khách uống nước và nói chuyện tiếp; bà vẫn mang theo từ điển và mỗi khi không nhớ ra từ, bà lại mở từ điển ra. Tôi đã dạy tiếng Anh luyện thi đại học một thời gian trước khi đi Mỹ, tôi có thể kết luận rằng khả năng hiểu và nói tiếng Anh của bà Menken hơn hẳn nhiều bạn trẻ Việt Nam mà tôi từng dạy mặc dù bà mới học và học khi đã già. Vấn đề không phải ở khả năng trí tuệ mà ở thái độ học tâp. Sự cẩu thả, lớt phớt, không đến nơi đến chốn là đặc điểm mà tôi gặp ở nhiều học sinh cũ của tôi. Sang đến Mỹ, cái lớn nhất và đầu tiên mà tôi học được là việc học hành đến nơi đến chốn; tuy nhiên cái đến nơi đến chốn này ở Mỹ có một nguyên nhân hết sức thực tế: vì sinh viên Mỹ hầu hết phải vay tiền ngân hàng để đi học đại học cho nên họ phải cố học như một cách vắt kiệt tất cả những gì có thể vắt từ khoản đầu tư của mình. Còn bà Menken đi học tiếng Anh khi đã già, hoàn toàn là do sở thích và như một cách giải trí của người già tại câu lạc bộ mà bà sinh hoạt. Tuy thế, bà vẫn học rất nghiêm túc; và sự nghiêm túc này dường như là đặc tính của người Đức – như tôi thấy ở khắp nơi. Như thể họ nghiễm nhiên cho rằng nếu đã làm việc gì, phải làm cho đến nơi đến chốn. Ngay cả sự trung thực, tử tế của họ cũng là một sự trung thực, tử tế đến nơi đến chốn, có tính nghiễm nhiên chứ không phải do lễ giáo.
Sau 9 giờ, tôi xin phép ông bà Menken đi ngủ sớm vì tôi hơi mệt sau cả ngày đi đường. Ông bà cẩn thận dặn tôi rằng lúc 7 giờ sáng, rèm cửa sổ sẽ tự động kéo lên nhưng tôi cứ việc ngủ, đến lúc 7 rưỡi thì hai ông bà sẽ gọi tôi dậy, chúng tôi sẽ ăn sáng lúc 8 giờ và 9 giờ thì taxi sẽ đến đưa tôi ra sân bay. Ông Menken còn đưa cho tôi một cái đèn pin nhỏ, để nếu nửa đêm tôi có dậy đi toilet thì có thể soi đèn. Ông nói tôi cứ yên tâm về chuyện ra sân bay vì ông đã gọi điện cho hãng taxi và còn nói chuyện cả với người lái taxi để yên tâm là tôi sẽ được trông nom tử tế.
Sáng nay, trời Berlin nắng đẹp. Ông bà Menken ôm hôn tôi ở cửa, chúc tôi có một chuyến bay an toàn và cuộc sống hạnh phúc. Tôi cũng chúc hai ông bà sức khỏe và mọi sự tốt lành.
Máy bay cất cánh lúc 11 giờ 25 phút. Bên dưới, cảnh vật Berlin không làm người ta choáng ngợp như khi nhìn thấy những tòa nhà chọc trời của New York và cũng không làm người ta bị mê hoặc như khi thấy sông Seine của Paris. Tôi chợt nhớ ra rằng ngoài một đĩa DVD về lịch sử Đức, tường Berlin, tôi không hề mua một món quà kỷ niệm nào về Berlin. Có lẽ cũng đúng; di tích du lịch lớn nhất của Berlin là một di tích chiến tranh mà, so với những đấu trường Colloseo của Rome, tháp Eiffel của Paris hay quảng trường Thánh Marco ở Venice thì nó thật thô kệch. Tuy thế, Berlin vẫn có cái làm tôi nhớ: đó là con người và sự tử tế. Berlin làm tôi nhớ rằng sự tử tế là một điều cần phải nghiễm nhiên tồn tại, phải là một lối sống tự nhiên như người ta ăn, uống, thở; và nó phải được thực hành ở mọi nơi, với mọi người, trong mọi hoàn cảnh.
☆☆☆
New York, ngày…
Vào 2 giờ 20 phút chiều, chuyến bay 079 của Delta hạ cánh xuống sân bay Kennedy ở New York và tôi trở lại Mỹ sau đúng một tháng ở châu Âu. Một tháng trước, khi tôi đi, New York JFK chỉ là một sân bay bận rộn vào hạng nhất thế giới. Một tháng sau tôi quay lại, JFK là hình ảnh một nước Mỹ và một thế giới đang hoảng loạn: tại các quầy báo Hudson News, hầu hết các tờ báo lớn chạy hàng tít choán hết trang một về vụ khủng hoảng tài chính lớn nhất kể từ sau Thế chiến II; quanh các màn hình ti vi lớn ở các cửa ra máy bay, dân business tụ tập, thành kính lắng nghe Wolf Bliter của CNN đưa tin kế hoạch thương lượng giữa tổng thống Bush với Quốc hội Mỹ về một cuộc tổng giải cứu nền kinh tế: “A bailout to end all bailot”. Cũng chỉ trong một tháng John McCain đã đề cử một phụ nữ ít tên tuổi trên chính trường Mỹ (Sarah Palin) làm ứng cử viên phó tổng thống trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng sắp tới, hai hay ba cơn bão lớn đã tàn phá vũng biển Caribbean và vịnh Mexico và thời tiết đã kịp chuyển từ mùa hè sang thu…
Trong một tháng tôi đi vắng, thế giới dường như đã lộn ngược. Hình ảnh “bình thường” duy nhất có lẽ là những người phụ nữ mặc chải chuốt vẫn bình thản hơ ấm ngón tay trong cửa hàng 10 Minute Manicure [69] để chuẩn bị làm móng trước khi lên máy bay.
[69] Làm móng tay móng chân 10 phút.
Tôi nghĩ đến cái tài khoản còm cõi của mình ở một ngân hàng nhỏ tại Chicago; không biết tôi có nên rút hết tiền mang về nhà cho chắc chắn và chuyển sang tiêu tiền mặt giống như khi ở Việt Nam và châu Âu thay vì dựa vào cái văn hóa tín dụng Mỹ vừa mới chứng minh tính bấp bênh của nó? Và theo đúng tinh thần của một người sống ở một đất nước đang rơi vào khủng hoảng tài chính, tôi thầm làm một bảng cân đối trong đầu về chuyến đi châu Âu vừa rồi. Ngoài quà cho người thân, tôi đã chi tiêu những gì?
- Vé máy bay khứ hồi.
- Ba cái áo thun cao cổ và hai cái mũ nồi mua ở Paris
- Nhạc trữ tình Pháp mua trong chợ trời ở khu Clignancount.
- Một cơn ho từ hai tuần nay do hít khói thuốc lá từ đường phố Paris và khí ẩm Venice: quy đổi ngang một gói kẹo ngậm ho và thuốc sẽ mua khi về đến nhà.
- Tượng thạch cao mua bên ngoài bảo tàng Vatican.
- Khuyên tai mua ở Venice,
- Mặt nạ Venice.
- Vòng cổ bằng thủy tinh Murano.
- Túi da, giày da, và sổ bìa da ở Florence.
- Đĩa DVD về Bức tường Berlin.
- Một đôi giày đã bị bai và mấy cái áo lót sẽ phải vứt đi vì đã nhão dưới mưa nắng lây rây một tháng trời.
Các chi phí khách sạn, nhà trọ, ăn uống và đi lại trong ba ngày - tôi vẫn giữ hóa đơn một số nơi trong đó làm kỷ niệm.
Chà, tôi nên bắt đầu đau lòng được rồi, nhất là với tỉ giá quy đổi euro và đô la như hiện nay.
Nhưng bên cạnh những thiệt hại tài chính đó, tôi có mười GB ảnh chụp, một ít postcard, một số bản đồ nhàu nát vì bị dùng nhiều, các tờ rơi giới thiệu các bảo tàng và điểm du lịch, một bình nước trong chuyến đạp xe ở đồng quê Tuscany, những tấm vé xe buýt nước ở Venice, hóa đơn McDonald ở Florence, vài vé tàu điện ngầm ở Paris chưa hề dùng, cuống vé máy bay từ Berlin đi Paris, từ Paris đi Venice, từ Florence về lại Berlin, và khứ hồi Boston - Berlin? Và còn một cuốn sổ nhỏ viết kín, gần một trăm trang ghi chép dọc đường, hai bút bi cạn mực, một hộp thuốc Advil cũng đã cạn, một lọ dầu con hổ dùng dở, những tấm các- vi- rít và mẩu giấy nham nhở với nét chữ ghi vội vàng của những người bạn mới quen? Những thứ này trị giá bao nhiêu?
Thôi, tôi sẽ không tính toán nữa.
Tạm biệt châu Âu.
Tạm biệt.
Hẹn gặp lại một ngày gần nhất.
Giờ thì tôi phải về nhà và đối mặt với một hành trình còn khó khăn hơn. Tôi sẽ phải nói với Sơn rằng chúng tôi nên chia tay. Tôi yêu Sơn nhưng cả hai chúng tôi sẽ hạnh phúc hơn nếu không sống với nhau.
Những ngày tháng một mình ở châu Âu làm cho tôi hiểu rằng tôi có thể hạnh phúc trở lại. Quan trọng nhất, tôi có thể hạnh phúc kể cả khi tôi một mình. Bất chấp những năm tháng qua, tôi vẫn còn có khả năng rung động, vẫn còn có thể nghe, nhìn, và cảm thấy cuộc sống xung quanh, tôi còn chưa đóng băng như tôi tưởng. Bên dưới cái bề mặt kết thành bởi những điều không thể chia sẻ, tôi vẫn còn là tôi như tôi biết trước đây – và tôi sẽ không chối bỏ tôi nữa. Sự thật là tôi sẽ không bao giờ có thể chối bỏ bản thân mình, không bao giờ có thể làm một ai khác. Sự thật là không một ai nên hoặc có thể chối bỏ bản thân mình, kể cả khi họ làm điều đó nhân danh tình yêu.
Sẽ khó khăn, nhưng có lẽ nỗi sợ bất hạnh là nỗi sợ hãi phí phạm nhất của đời người.



Để download thêm các ebook truyện ngôn tình khác, hãy truy cập: http://www.luv-ebook.com