Mưa

Lượt đọc: 3476 | 1 Đánh giá: 4/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÙNG NƯỚC LÈO
nguyên tác: boule de suif guy de maupassant

Độc giả ít ai còn lạ với Guy de Maupassant (1850-1893) nên chúng tôi không cần phải giới thiệu nhiều. Ông với Honoré Balzac (1799-1850) là hai tiểu thuyết gia Pháp ở thế kỉ trước được Âu, Mĩ, mà có lẽ cả thế giới khâm phục nhất.

.

Guy de Maupassant

(1850-1893)

Anatole France bảo “nghệ thuật viết truyện của ông hoàn toàn: mạnh mẽ, uyển chuyển mà cân xứng”. Léon Tolstoi khen ông là “đã đạt được những chỗ thâm áo yên lặng của con người”. Còn những tiểu thuyết gia Anh như Joseph Conrad và William Somerset Maugham đều nhận rằng “tài kể chuyện của ông thì không ai bằng”; nhất là Maugham coi ông như bậc thầy của mình, chịu phục rằng nhiều truyện ngắn của ông, không dư mà cũng không thiếu một chi tiết, đem kể ra thì bất kì ai nghe cũng phải mê.  

Tác phẩm của ông gồm non hai chục cuốn vừa truyện ngắn, truyện dài (không kể một tập thơ). Nhiều nhà phê bình đồng ý rằng truyện dài hay nhất của ông là Une Vie (Một đời sống); còn truyện ngắn xuất sắc nhất là Boule de Suif[1] mà chúng tôi dịch là Thùng Nước Lèo. Chính truyện ngắn này đã được nhà xuất bản Seghers lựa trong tập Les Vingt meilleures nouvelle française (1956) và nhà Pocket Library trích và ca tụng trong tập: The great short stories of De Maupassant (1955).

Trong khoảng bốn chục trang, tác giả kể cho ta nghe một bi hài kịch thời chiến tranh Pháp – Phổ (1870). Nhân vật gần đủ các giới trong xã hội Pháp thời đó: giới quí phái, giới con buôn trọc phú, giới cách mạng, giới cần lao… nhân vật chính là một gái điếm, mà hạng người còn có liêm sỉ giữ được chút thiên lương lại chính là ả gái điếm đó chứ không phải là bọn thượng lưu như ta tưởng.

Ông không giảng luân lí, không dựng một triết thuyết, không phân tích tâm lí, cơ hồ như cũng không có thắc mắc nào cả, chỉ kể chuyện một cách khách quan, không thương cũng không ghét, mà rất có nghệ thuật, tình tiết xảy ra tự nhiên, đoạn trước gợi ra đoạn sau, đoạn sau giảng thêm đoạn trước, thành thử câu chuyện rất nhất trí, mạnh mẽ, đầy đủ mà hấp dẫn, đọc không thấy chán. Đọc xong ai cũng thấy chua chát và có cảm tưởng rằng tác giả nhìn xã hội mắt một cặp mắt tinh quái, ngạo đời, nhưng không tàn nhẫn.

Riêng chúng tôi, chúng tôi thấy có vài nét hơi đậm, mạnh và bén thật, nhưng kém phần tế nhị; có lẽ đó là một tật chung của tuổi trẻ vì ông viết chuyện đó hồi mới ngoài hai mươi. Những tác phẩm hồi sau giọng đằm khi đã từng trải nhiều, lòng trắc ẩn của ông mới hiện rõ, như trong truyện dài Une Vie chẳng hạn.

Dù sao, văn mỗi tuổi cũng có vẻ đẹp riêng của nó, và Thùng Nước Lèo vẫn đáng là “một trong những bi kịch hay nhất của hậu bán thế kỉ trước”[2].

THÙNG NƯỚC LÈO

BOULE DE SUIF[3]

 

Luôn mấy ngày liền, những mảnh tàn quân đã đi qua châu thành. Không còn phải là một bộ đội nữa mà chỉ là một bầy ô hợp tán loạn. Râu thì dài và bẩn, quân phục thì rách rưới, họ uể oải tiến, chẳng cờ xí, chẳng kỷ luật gì cả. Hết thảy đều có vẻ mệt đừ, không suy nghĩ, quyết định được gì nữa, chỉ do thói quen mà bước, chứ hễ dừng lại là té quị liền vì kiệt sức. Nhiều nhất là bọn bị động viên, hạng người vốn hiếu hòa, yên nhiên hưởng lợi tức đó mang không nổi cây súng; rồi tới bọn dân quân nhỏ bé, nhanh nhẹn, dễ hoảng hốt mà cũng dễ hăng tiết, sẵn sàng chiến đấu mà cũng sẵn sàng đào tẩu; xen vào những bọn đó có vài tên lính chánh qui, quần cụt đỏ đã mệt đừ, còn sót lại sau một trận lớn; một số lính pháo thủ ủ rủ sắp hàng với những bộ binh hỗn tạp đó; và thỉnh thoảng người ta thấy cái nón bóng loáng của một kị binh nặng nề bước mà theo không kịp bọn phóng viên nhanh nhẹn.  

Tới phiên những đoàn nghĩa dũng quân đi ngang qua, tên thì rất oai hùng: “Đội trả thù Chiến bại – Đội Công dân của Nhà mồ - Đội Chia phần chết”, mà vẻ mặt thì y như tụi ăn cướp.

Chủ soái của họ, xưa kia buôn nỉ hay buôn lúa, bán mỡ bò hay bán xà bong, do hoàn cảnh mà thành chiến sĩ, nhờ có nhiều tiền hay có bộ râu mép dài mà được phong làm sĩ quan, mình đeo đầy khí giới, bận đồ nỉ, gắn lon, bàn cãi oang oang về những trận đồ, phách lối khoe khoang rằng chỉ có mình là đưa vai ra để chống đỡ nước Pháp hấp hối; nhưng đôi khi họ sợ ngay những lính của họ, bọn đầu trộm đuôi cướp, thường can đảm ghê gớm, phá phách và trụy lạc.

Tụi Phổ sắp vô thành Rouen, người ta bảo vậy.

Đội dân quân, hai tháng nay, thận trọng dò xét trong những cánh rừng bên cạnh, có khi bắn lầm vào lính gác của mình, và mới nghe thấy tiếng động của một con thỏ con ở trong bụi là đã lắp đạn sẵn sàng chiến đấu rồi, bây giờ cũng đã giải tán, ai về nhà nấy. Khí giới của họ, quân phục của họ, tất cả những khí cụ sát nhân của họ trước kia làm cho các cây trụ trên quốc lộ trong một khu rộng ba dặm ở chung quanh phải bở vía, bỗng biến đi đâu mất hết.

Những người lính Pháp cuối cùng mới qua con sông Seine để theo đường Saint-Sever, Bourg-Achard mà tới Pont-Audemer, và ở cuối đoàn, viên tướng tuyệt vọng, vô phương mưu tính cái gì được với bọn tàn quân rời rạc đó, đành bước theo họ, giữa hai sĩ quan hầu cận. Vì chính ông cũng ngơ ngác trong cuộc tan rã lớn lao của một dân tộc quen thắng trận mà rồi thua một cách tai hại mặc dầu khét tiếng hùng dũng.

Rồi thì một không khí trầm lặng, chờ đợi, hoảng hốt, bao phủ khắp châu thành. Nhiều ông trọc phú[4] buôn bán riết rồi hóa ra bụng bự, mất cả khí lực y như một tụi hoạn, lo lắng run rẩy đợi kẻ thắng tới, chỉ sợ chúng cho những cây tiêm nướng thịt và những con dao phay là khí giới thì có mà bỏ mạng với chúng.

Đời sống như ngưng lại; tiệm thì đóng cửa, mà đường phố thì không có tiếng người. Thỉnh thoảng một thường dân thấy cảnh tĩnh mịch đó đâm hoảng, nép vào chân tường mà chạy.

Đợi chỉ thêm lo, nên người ta mong kẻ thù tới phắt đi cho rồi.

Buổi chiều sau cái ngày quân Pháp rút đi, vài tên kị binh Phổ, không biết ở xó nào chui ra, vội vã băng qua châu thành. Rồi một lát sau một đám đen từ dốc Sainte-Catherine tiến xuống trong khi hai đợt sóng xâm lăng xuất hiện trên những con đường Darnetal và Boisguillaume. Cùng một lúc, tiền quân của ba đội đó hợp nhau lại ở Thị Sảnh, và do tất cả những đường phố chung quanh, quân Đức ập tới, trải ra trên đường, bước chân gõ nhịp nhàng vang động.

Trong khi những hiệu lệnh hô lớn bằng một giọng lạ tai, ồ ồ dội lên giữa hai dãy nhà như bỏ hoang, thì sau những cánh cửa sổ khép, có những cặp mắt rình ngó bọn người thắng trận, bọn người do “quyền chiến tranh” mà được làm chủ châu thành, chủ tài sản và sinh mạng. Ở trong căn phòng tối tăm vì đóng kín, dân chúng hoảng sợ như gặp thiên tai, những cuộc biến chuyển tàn hại của trái đất mà kẻ nào khôn lanh, mạnh mẽ tới mấy cũng đành thúc thủ. Vì mỗi lần mà trật tự bị đảo lộn làm mất sự an toàn, mà luật lệ của loài người và vũ trụ không còn che chở được cái gì nữa, mà mọi sự đều bị một sức tàn bạo vô ý thức chi phối, thì cái cảm giác đó lại hiện lên. Một cuộc động đất đè bẹp cả một dân tộc dưới những ngôi nhà sụp đổ; một trận lụt cuốn thây những người nông dân với thây những con bò hay những cây xà nhà bức lìa nóc, hoặc một đội quân thắng trận tàn sát những kẻ dám chống cự lại, lùa bọn tù binh đi, rồi nhân danh lưỡi kiếm mà cướp bóc, và cảm ơn một vị Thần nào đó bằng tiếng đại bác; những cái đó đều là những tai ách khủng khiếp làm cho người ta chưng hửng, hết tin ở lẽ công bình của Thượng đế, hết tin ở sự che chở của Trời và ở lẽ phải của loài người như trong sách thường dạy.

Kế đó những toán người đi gõ cửa từng nhà và biến mất vào trong nhà. Sau khi chiếm đất rồi tới lúc đóng quân. Bổn phận của kẻ thua là phải tỏ ra ân cần với kẻ thắng.

Được ít lâu, sự hoảng sợ lúc đầu đã qua, sự yên tĩnh trở lại. Trong nhiều gia đình, sĩ quan Phổ ăn chung một bàn với chủ nhà. Vài kẻ cũng có giáo dục, tỏ vẻ nhã nhặn mà thương hại cho nước Pháp và bảo rằng không muốn dự cái chiến tranh này, nó tởm lắm. Người ta mang ơn họ đã có thiện cảm với mình, vả lại, biết đâu chừng, sau này chẳng có lúc cần sự che chở của họ. Vị nể họ thì có thể xin bớt được vài miệng phải nuôi. Đã hoàn toàn ở trong tay họ rồi thì làm mất lòng họ làm chi? Hành động như vậy không phải là can đảm mà là táo bạo – Mà các ông trọc phú ở Rouen không còn cái tật táo bạo như hồi xưa, hồi châu thành đó rạng danh vì những cuộc chống cự anh dũng nữa – Sau cùng người ta tự nhủ rằng – và đây là cái lý do tối thượng người ta rút được trong phép lịch sự của Pháp – miễn là ra ngoài đường đừng tỏ ra thân mật với lính ngoại quốc, còn ở trong nhà thì có thể lễ phép với họ được. Ra ngoài, thì là người lạ, mà ở nhà thì cứ vui vẻ chuyện trò; và người Đức mỗi buổi tối lại ngồi sưởi nán thêm một lúc ở bên lò sưởi chung.

Đến ngay châu thành cũng lần lần có vẻ bình thường trở lại. Người Pháp vẫn chưa ra đường nhưng lính Phổ thì lúc nhúc ngoài phố. Với lại, bọn sĩ quan khinh kị bận đồ xanh, tuy ngạo nghễ kéo lê thanh gươm trên mặt đường, nhưng đối với bọn dân chất phác, coi vẻ cũng không khinh họ gì quá lắm, không khó chịu gì hơn bọn sĩ quan truy kích mà năm trước, từng giải khát ở những quán cà phê này.

Nhưng trong không khí vẫn có cái gì, một cái gì tế nhị và bí mật, một không khí lạ, chịu không nổi, như có một mùi gì nó lan ra, mùi xâm lăng. Nó đầy trong các tư gia, trong các công trường, làm cho thức ăn mất vị và người ta có cảm tưởng đi du lịch ở đâu xa lắm, tại những bộ lạc dã man và nguy hiểm.

Tụi thắng trận đòi tiền, rất nhiều tiền. Dân châu thành luôn luôn phải trả; với lại người ta giàu có mà. Nhưng một thương gia càng giàu có, thì lại càng đau khổ vì phải hi sinh của cải khi thấy đồng tiền kiếm ra được vào tay kẻ khác mất.

Tuy nhiên theo dòng sông đi xuôi xuống phía dưới châu thành độ vài ba dặm, về phía Croisset, Dieppedalle hoặc Biessart, những người chèo thuyền hay đánh cá thường kéo lên được ở đáy sông xác một tên Đức bận quân phục; đã trương ra, bị đâm hay đập, liệng đá bể đầu hay từ trên cầu cao xô xuống dòng nước. Bùn sông vùi lấp những cuộc trả thù tối tăm, man rợ, âm thầm đó, nó nguy hiểm hơn những cuộc chiến đấu giữa thanh thiên bạch nhật mà lại không có tiếng vang của danh vọng.

Vì luôn luôn có những người Đại đởm căm thù kẻ ngoại quốc mà sẵn sàng chết cho một lí tưởng.

Sau cùng, thấy bọn xâm lăng mặc dầu bắt châu thành phải phục tòng một kỉ luật sắt, nhưng không có những hành động ghê tởm mà người ta phao lên trong cuộc tiến binh đắc thắng của họ, nên dân chúng bạo dạn lên và bọn thương gia lại thấy cần phải buôn bán, không thể ngồi không được. Vài người có những mối lợi lớn mắc kẹt ở Havre còn do quân đội Pháp chiếm, và họ muốn đi theo đường bộ tới Dieppe rồi xuống thuyền ra hải cảng đó.

Người ta làm quen với sĩ quan Đức, vận động xin viên tướng tổng tư lệnh một giấy phép xuất hành.

Một chiếc xe lớn bốn ngựa đã được giữ trước cho cuộc hành trình đó, mười người đã ghi tên ở nhà chủ xe, và người ta định sáng thứ ba, khởi hành khi còn tối đất để đi cho dân chúng khỏi bu lại coi.

Từ mấy bữa nay, đất đóng giá, cứng ngắc, và vào khoảng ba giờ chiều hôm thứ hai, những đám mây đen từ phương Bắc đùn về rồi tuyết đổ liên tiếp suốt buổi tối và ban đêm.

Bốn giờ rưỡi sáng, hành khách họp nhau ở sân khách sạn Hôtel de Normandie để lên xe.

Họ còn ngái ngủ, quấn mền mà vẫn rét run. Trong bóng tối người ta không thấy rõ mặt nhau; người nào cũng bận những bộ áo lạnh dày cộm và nặng nề, coi y như là những ông mục sư bụng bự lượt bượt trong bộ áo thầy tu vậy. Nhưng có hai người nhận được nhau, rồi một người thứ ba tiến lại, họ trò chuyện với nhau.

Một người nói:

- Tôi dắt nhà tôi theo.

- Tôi cũng vậy.

- Mà tôi cũng thế.

Người thứ nhất nói thêm:

- Chúng tôi sẽ không trở về Rouen nữa và nếu tụi Phổ tiến lại Havre thì chúng tôi sẽ qua Anh.

Khí chất giống nhau nên dự tính của họ cũng giống nhau.

Nhưng sao vẫn chưa thắng xe kìa? Một ngọn đèn nhỏ - do một tên giữ ngựa cầm – thỉnh thoảng ở trong một cái cửa tối om hiện ra rồi lại biến ngay vào trong một cái cửa khác. Ở phía sau nhà có tiếng chân ngựa dậm đất, nhưng nghe không vang vì đất phủ rơm, rồi có tiếng đàn ông nói với ngựa và chửi thề. Tiếng lục lạc leng keng báo rằng người ta lấy bộ cương ra, rồi tiếng đó rung lên, trong trẻo, đều đều, nhịp nhàng theo bước chân ngựa, thỉnh thoảng ngưng một chút rồi thình lình khua động trở lại, tiếp theo là tiếng lục đục của những móng sắt dậm trên mặt đất.

Đột nhiên cửa khép lại. Mọi tiếng ngưng hẳn. Bọn trọc phú lạnh cóng, cứng ngắc, không nói năng gì cả.

Một bức màn tuyết trắng bất tận, liên tục rớt xuống đất, lấp lánh; mọi vật đều mất hình, phủ một lớp bụi như bọt nước đá; và trong cảnh tĩnh mịch của thành phố yên lặng, bị vùi dưới mùa đông, người ta chỉ nghe thấy tiếng sột soạt mơ hồ, chập chờn, không có tên để gọi, của tuyết rơi; nó là một cảm giác hơn là tiếng động, nó là sự xen trộn của những vật rất nhỏ và nhẹ đầy cả không trung, khắp cả mặt đất.

Người đàn ông mang cây đèn hiện ra, tay cầm đầu dây kéo một con ngựa; con vật buồn rầu miễn cưỡng bước. Người đó ghìm con ngựa ở sát càng xe, cột lại, loay hoay một lúc lâu ở chung quanh để thắng cho được chắc, vì một tay mắc cầm đèn rồi, chỉ có một tay là rảnh. Khi người đó quay lại kiếm con ngựa thứ nhì thì nhận thấy rằng hành khách đứng im, tuyết đầy người, bèn bảo: “Tại sao không lên xe mà ngồi, ít nhất cũng khỏi phải hứng tuyết.”

Có lẽ họ không hề nghĩ tới, nay có người nhắc, họ mới ùa lên xe. Ba người đàn ông để cho vợ ngồi trong cùng rồi leo lên theo; những bóng tờ mờ tùm hụp khác lẳng lặng lên chiếm những chỗ còn lại.

Sàn xe phủ đầy rơm, chân họ lún xuống. Những bà ngồi ở trong có đem theo lồng ấp nhỏ bằng đồng, đốt thứ than hóa học lên rồi thì thầm kể những tiện lợi của thứ lồng ấp đó cho nhau nghe, lặp lại những điều mà ai nấy biết thừa rồi.

Sau cùng xe đã thắng xong sáu con ngựa chứ không phải bốn, vì phải kéo nặng. Một tiếng ở ngoài hỏi vô: “Mọi người lên xe cả rồi chứ?” Có tiếng ở trong đáp: “Rồi”. Thế là khởi hành.

Xe tiến chậm, chậm quá, từng bước một. Bánh xe lún xuống tuyết; thùng xe rắc rắc, rên rỉ; ngựa trượt chân thở phì phì; và chiếc roi lớn của người đánh xe, kêu đôm đốp hoài, bay tứ phía, cuốn lại rồi bung ra như một con rắn tong teo, thình lình quất vào một cái mông ngựa tròn, làm cho con vật phải lấy gân mà gắng sức.

Ánh sáng lên lần lần mà không hay. Tuyết không đổ nữa. Một hành khách, dân Rouen chính cống, so sánh tuyết đổ với một trận mưa bông gòn. Một ánh sáng đục lọc qua những đám mây lớn, đen và nặng, làm cho cảnh đồng quê trắng xóa càng thêm phần rực rỡ; đây đó hiện lên một hàng cây lớn đóng giá hoặc một mái nhà tranh phủ tuyết.

Trong ánh sáng ảm đạm của bình minh, hành khách trên xe nhìn nhau.

Ở trong cùng, chiếm những chỗ tốt nhất, vợ chồng Loiseau, buôn rượu ở đường Grand-Pont, đương thiêm thiếp ngủ.

Trước kia làm tài phú cho một nhà buôn, nhà buôn này phá sản, Loiseau mua lại cửa tiệm mà làm giàu. Hắn bán rất rẻ những thứ rượu rất tồi cho các tiệm bán lẻ ở nhà quê và trong giới quen biết thân hay sơ, người ta đều coi hắn là một tên bợm quỷ quyệt, một dân Normand chính cống, mưu mô, vui tính.

Hắn nổi danh xoáy đến nỗi một buổi tối nọ ở quận, ông Tournel, một nhà đặt ngụ ngôn và vè có giọng cay độc và tế nhị, được nhiều người trong miền biết tiếng, khi thấy các bà các cô buồn ngủ cả, mới đề nghị chơi trò “Loiseau bay”[5] rồi danh từ đó bay khắp các phòng khách ở quận, lan ra tới tỉnh, làm cho dân trong tỉnh cười sái hàm suốt một tháng trời.

Loiseau còn có tài khôi hài, thanh nhã và tục tĩu, đủ giọng, và nhắc đến tên hắn thì ai cũng phải bảo:

- Thằng cha đó thật tức cười!

Nhỏ con mà bụng tròn như trái banh, mặt đỏ, râu mép lốm đốm hoa râm.

Mụ vợ cao lớn, cương quyết, to tiếng, quyết định mau, trông nom sổ sách tiền nong trong cửa hàng, nhờ mụ mà cửa hàng hoạt động và vui vẻ. Bên cạnh cặp đó, là lão Carré-Lamadon, đàng hoàng hơn, ở trong một giới sang trọng hơn, được trọng vọng, có địa vị trong nghề buôn bông, làm chủ ba hãng dệt, được thưởng Tứ đẳng Bắc đẩu bội tinh và là nghị viên quận hạt. Trong suốt thời Empir[6]. Lão cầm đầu phe đối lập có thiện chí, đả kích bằng những khí giới lễ độ - như lão nói – mục đích duy nhất là để cho chính quyền có muốn mua chuộc hắn thì phải trả một giá đắt. Mụ Carré-Lamadon trẻ hơn ông chồng nhiều, là niềm an ủi cho những sĩ quan con nhà sang trọng phải đổi đến đóng ở Rouen.

Đối diện với chồng, mụ ta nhỏ xíu rất dễ thương, rất xinh xắn, thu hình trong bộ áo cầu, não nuột ngó phía trong thảm hại của chiếc xe.

Ngồi bên cạnh mụ là ông bà bá tước Hubert de Bréville một trong số những gia đình quí phái kì cựu nhất ở Normandie. Ông bá tước già, rất sang trọng, tướng mạo vốn đã hơi giống vua Henri IV lại được ông rán tô chuốt cho càng giống hệt. Theo một truyền thuyết vẻ vang cho gia đình ông thì vua Henri IV hồi xưa có làm cho một bà trong giòng Bréville mang bầu rồi ông chồng của bà đó nhờ vậy được phong bá tước, làm thống đốc một tỉnh.

Bá tước Hubert là bạn đồng viện với lão Carré-Lamadon, thay mặt cho đảng Orléan ở trong tỉnh. Tại sao mà ông lại cưới con gái một chủ tàu nhỏ ở Nanter, thì tới bây giờ vẫn là chuyện bí mật. Nhưng bà bá tước có vẻ sang trọng tiếp khách rất khéo, có kẻ đồn rằng bà được một người con của vua Louis-Phillipe[7] để mắt tới, thành thử tất cả giới quí phái trong miền rất niềm nở với bà mà phòng khách của bà nổi tiếng nhất tỉnh, khó khăn mới được vô cái nơi độc nhất mà người ta còn giữ được thái độ phong nhã thời cổ đó.

Gia tài của gia đình Bréville, gồm toàn bất động sản, theo thiên hạ kháo nhau, lợi tức được tới năm trăm ngàn đồng mỗi năm.

Sáu người đó, ngồi ở phía trong cùng chiếc xe. Đó là khu của giới có lợi tức, của bọn người lương thiện, có quyền hành, theo tôn giáo và sống có qui tắc.

Do một sự ngẫu nhiên kỳ dị, đàn bà ngồi chung cả một ghế; và bên cạnh bà bá tước có hai bà Phước đương lần tràng hạt lầm rầm tụng kinh Lạy cha và kinh Kính mừng. Một bà Phước đã già, mặt rỗ như tổ ong. Bà kia rất nhỏ yếu, mặt mũi xinh mà bệnh hoạn, ngực lép như người ho lao bị đức tin tàn phá đục rỗng phổi, thứ đức tin nó tạo nên những kẻ cảm tử vì đạo.

Trước mặt hai bà Phước đó là một người đàn ông và một người đàn bà mà mọi người đều chăm chú ngó. Người đàn ông là Cornudet, biệt danh “dân chủ” mà ai cũng biết hắn là ông kẹ của hạng tôn tưởng. Từ hai chục năm nay, hắn nhúng bộ râu đỏ và rậm vào những cốc rượu tại khắp tiệm cà phê dân chủ. Hắn cùng với anh em và bạn bè đã ăn hết cái gia sản khá lớn của cha hắn bán mứt để lại, và hắn nóng lòng đợi Chính phủ Cộng hòa thành lập để nhận một địa vị xứng đáng cho bỏ cái công hắn uống bao nhiêu là rượu dân chủ rồi. Ngày mùng bốn tháng chín[8], có lẽ do một trò khôi hài, hắn tưởng được chức chủ quận, nhưng khi hắn tới nhậm chức, thì chỉ có những tùy phái là làm chủ phòng giấy, họ lại không chịu nhìn nhận hắn và hắn đành rút lui. Thực ra thì hắn tốt bụng, không làm hại ai, thích giúp đỡ người khác, hắn tổ chức sự cự địch một cách hăng hái không ai bì. Hắn sai đào hầm trong các cánh đồng, hạ những cây nhỏ trong các khu rừng bên cạnh, đặt bẫy trên khắp các nẻo đường và khi quân thù sắp tới, khoái chí về những công trình dự bị của mình, hắn vội vàng rút về châu thành. Bây giờ hắn nghĩ nên lại Havre để giúp ích cho quốc gia được nhiều hơn, vì ở đó sắp có những cuộc phòng bị cần thiết nữa.

Còn người đàn bà, một ả trong bọn gái điếm, cũng nổi tiếng, vì còn trẻ mà đã mập, cho nên người ta gọi ả là Thùng Nước Lèo. Nhỏ mà tròn vo, toàn những mỡ, ngón tay húp lên, thắt eo ở những đốt, y như chuỗi dồi ngắn ngủn vậy, da láng bóng, căng thẳng, ngực vĩ đại nhô ra dưới lớp áo; vậy mà coi ả vẫn gợi tình, lắm kẻ đeo đuổi ra phết, vì vẻ tươi tắn của ả làm cho người ta ưa nhìn. Mặt ả như một trái táo đỏ, một nụ mẫu đơn hàm tiếu; và trong cái mặt đó, phía trên, đính một cặp mắt đen nhánh, đẹp lạ, thăm thẳm dưới hàng lông mi dài; phía dưới nở một cái miệng có duyên, nhỏ, cặp môi ươn ướt sẵn sàng đón những cái hôn và hàm răng nhỏ nhắn, trắng bóng.

Người ta bảo ả còn có nhiều đức rất quí nữa.

Khi các bà trong giới lương thiện nhận ra được ả, thì tiếng thì thầm lan đi, người ta nói nhỏ với nhau những tiếng “điếm” “nhục nhã trơ trẽn”, tuy là thì thầm mà lớn đến nỗi ả phải ngẩng đầu lên. Rồi ả ngó chung quanh, vẻ khiêu khích bạo dạn làm cho mọi người tức thì im bặt, cúi đầu xuống chỉ trừ có Loiseau là liếc ả, lòng phấn khởi.

Nhưng rồi ba bà lại tiếp tục truyện trò với nhau; có con điếm đó, họ bỗng thấy thân mật với nhau hơn lên. Hình như họ nghĩ rằng trước mặt cái đồ bán trôn vô sỉ đó, hạng có chồng con tử tế như họ phải đoàn kết lại với nhau; vì ái tính hợp pháp bao giờ cũng khinh bỉ thứ ái tình tự do.

Ba ông cũng vậy, thấy Cornudet thì, vì bản năng bảo tồn mà thân nhau hơn, nói chuyện với nhau về tiền nong bằng một giọng khinh khi kẻ nghèo. Bá tước Hubert kể những tai hại do bọn Phổ gây ra, bò thì bị ăn cắp, mùa màng thì mất mát, ông ra vẻ một ông lớn mười lần triệu phú, bị phá phách như vậy mà không hề núng, có cùng lắm là khó chịu trong một năm thôi. Lão Carré-Lamadon, mà kĩ nghệ bông lung lay nhiều, đã gởi sáu trăm ngàn quan qua Anh, cũng như người ta để dành một trái lê phòng lúc khát vậy. Còn Loiseau thì đã thu xếp để bán cho Quân nhu cục của Pháp hết số rượu xấu còn ở trong hầm, thành thử chính phủ thiếu hắn một số tiền vĩ đại mà lần này đi Havre hắn hy vọng sẽ được lãnh.

Cả ba người đều nháy nhau, thân mật. Tuy giai cấp khác nhau mà cũng như anh em với nhau nhờ có đồng tiền cùng ở trong cái giới của bọn người giàu có, bọn người thọc tay vào túi quần lúc lắc những đồng tiền vàng cho kêu lẻng xẻng mà nghe.

Xe chạy chậm tới nỗi hồi mười giờ sáng vẫn chưa đi được bốn dặm. Đàn ông phải xuống xe ba lần để leo dốc. Người ta đã bắt đầu lo, vì định ăn cơm ở Tôtes mà cái điệu này thì không mong gì tới đó trước khi tối trời được. Ai nấy đều ngó xem có cái quán nào trên đường không khi xe bị lầy trong một đống tuyết và phải mất hai giờ mới thoát ra được.

Đói quá, trí óc người ta mụ đi, mà không thấy bóng một cái quán tồi, một cái tiệm rượu nào cả, bọn chủ quán, chủ tiệm đã hoảng hốt tạm dẹp nghỉ khi hay tin tụi Phổ và tụi lính Pháp chết đói sắp tới.

Bọn đàn ông chạy vô các trại ở bên đường để mua thức ăn, nhưng đến bánh mì cũng không có, vì dân quê nghi ngại đã giấu hết cả rồi, sợ các ông lính không có gì ăn, thấy có cái gì là cướp cái đó.

Khoảng một giờ chiều Loiseau kêu rằng kiến bò bụng quá rồi. Ai nấy cũng ở trong tình trạng của hắn đã từ lâu, và nhu cầu ăn mỗi lúc một tăng đã làm im bặt câu chuyện. Thỉnh thoảng có người ngáp dài, tức thì người khác ngáp theo; mỗi người thay phiên nhau, tùy theo tính tình, cách xử thế và địa vị trong xã hội của mình mà mở miệng ra hoặc kêu răng rắc hoặc kín đáo yên lặng hơn trong khi đưa vội bàn tay lên che cái lỗ miệng hoác có hơi thở bay ra.

Thùng Nước Lèo cúi xuống nhiều lần như để kiếm cái gì ở dưới cùng. Ả do dự một giây, ngó các người chung quanh rồi lặng lẽ ngẩng lên. Mặt mọi người xanh xao và nhăn nhó. Loiseau bảo giá có khúc đùi thịt muối lúc này thì ngàn quan hắn cũng mua liền, Mụ vợ ra dấu như để phản đối, rồi bình tĩnh lại. Hễ nghe nói đến tiêu phí phạm là luôn luôn mụ đau khổ, mụ không hiểu được những lời nói đùa về chuyện đó.

Ông bá tước bảo:

- Tôi thấy khó chịu trong người, tại sao tôi quên không nghĩ tới việc mang theo thức ăn chứ?

Ai cũng tự trách mình như vậy.

Cornudet có một bầu đầy rượu rum; hắn mời mọi người; ai nấy lạnh lùng từ chối. Chỉ có Loiseau chịu uống hai giọt thôi; khi trả bầu, hắn cảm ơn.

Vậy mà cũng đỡ chứ, nóng người lên mà khuây đói được. Nhờ có rượu hắn hóa ra vui tính và đề nghị hành động như bọn người ở trên chiếc tàu nhỏ trong bài hát: là làm thịt hành khách nào mập nhất. Lời nói bóng bảy về Thùng Nước Lèo đó làm chướng tai những người có giáo dục. Không ai đáp; chỉ một mình Cornudet mỉm cười. Hai bà Phước đã ngưng tụng kinh, bàn tay đút sâu vào cổ tay rộng, họ ngồi yên, mắt kiên quyết cuối xuống có lẽ để dâng nỗi khổ mà Chúa bắt họ phải gánh chịu.

Sau cùng, lúc ba giờ chiều, xe qua một cánh đồng mênh mông bất tận, xa xa không thấy làng xóm gì cả, Thùng Nước Lèo vội vàng cuối xuống, kéo dưới băng ra một rổ lớn phủ chiếc khăn trắng.

Trước hết ả lấy trong rổ ra một cái đĩa sứ nhỏ, một cái chén đẹp bằng bạc rồi một cái bát sành lớn chứa hai con gà giò đã cắt sẵn từng miếng, ướp trong thịt đông; người ta còn thấy trong rổ nhiều món ngon khác nữa: ba-tê, trái cây, bánh kẹo, đủ cho ba ngày đi đường mà khỏi phải ăn ở các quán trọ. Bốn cổ chai ló ra khỏi các gói thức ăn. Ả lấy ra một cánh gà rồi nhỏ nhẹ ăn với một thứ bánh nhỏ mà ở Normandie người ta gọi là bánh “Nhiếp chính”.

Ai nấy đều trố mắt ngó ả. Rồi mùi thức ăn tỏa khắp, làm cánh mũi phồng lên, nước miếng chảy ra, mà hàm thì đau thắt lại ở phía dưới tai. Lòng khinh bỉ của các bà đối với con điếm đó hóa ra dữ tợn, như là họ muốn giết ả, hoặc liệng ả xuống đường, trong tuyết, liệng cả chén, rổ và các thức ăn theo ả nữa.

Nhưng Loiseau thì hau háu nhìn cái bát sành thịt gà.

Hắn bảo:

- Khéo quá, bà khéo dự phòng hơn chúng tôi. Có những người chu đáo không quên một việc gì cả.

Ả ngẩng lên ngó hắn:

- Xin mời ông ... Nhịn từ sáng đến giờ, chịu sao nổi.

Hắn ngả đầu chào:

- Vâng, tôi chịu không nổi nữa, thú thực vậy, bà cho phép thì tôi không từ chối. Gặp hoàn cảnh nào theo hoàn cảnh nấy, phải không bà?

Rồi liếc xung quanh một lượt, hắn nói thêm:

- Những lúc như lúc này, gặp được người tốt bụng thực quí hóa quá.

Hắn trải một tờ báo ra cho khỏi dơ quần, lấy ra một con dao luôn luôn bỏ theo trong túi, cắm mũi dao vào một đùi gà còn láng những thịt đông, rồi lấy răng xé, nhai, vẻ khoan khoái lộ rõ đến nỗi trong xe phát ra tiếng thở dài não nuột.

Nhưng Thùng Nước Lèo giọng ngọt ngào và khiêm tốn mời hai bà Phước ăn chung với mình. Cả hai bà đều nhận lời liền, lầm bầm ít lời cảm ơn rồi chẳng kịp ngẩng mắt lên nữa, bắt đầu ăn rất nhanh. Cornudet cũng không từ chối lời mời của ả, thế là cả bốn người trải báo lên đùi, làm thành như một cái bàn ăn vậy.

Miệng mở ra, khép lại liên tiếp, nuốt, nhai, ngốn một cách dữ tợn. Ngồi trong góc, Loiseau làm việc rất hăng, khuyên nhỏ mụ vợ nên bắt chước mình. Mụ chống cự một lúc lâu, rồi sau khi thấy ruột đã thắt lại, mụ chịu thua. Lúc đó người chồng mới vui vẻ hỏi “bà bạn đồng hành nhã nhặn của họ” cho phép hắn được tặng vợ một miếng nhỏ không.

Ả mỉm cười chìa cái bát sành ra:

- Dạ được xin ông cứ tự nhiên.

Khi mở chai rượu vang thứ nhất, người ta hơi lúng túng: chỉ có mỗi một cái chén. Đành chùi qua nó đi rồi chuyền tay nhau vậy. Chỉ có Cornudet, có lẽ là muốn lịch sự với ả, đặt môi vào cái chỗ còn ướt môi của ả.

Thấy chung quanh mình người ta ăn uống, mùi thức ăn tỏa ra ngào ngạt, ông bà bá tước De Bréville và ông bà Carré-Lamadon, chịu không nổi các cực hình ghê gớm mà người ta gọi là cực hình Tantale đó[9].

Thình lình người vợ trẻ của nhà công nghiệp thở dài làm cho mọi người quay lại; mụ ta trắng nhợt như tuyết, mắt nhắm lại, đầu cuối xuống; xỉu rồi. Ông chồng hoảng hốt cầu cứu  mọi người. Ai nấy luýnh quính, chỉ có bà phước già là đỡ đầu mụ ta lên, dí vào môi chiếc chén bạc của Thùng Nước Lèo, cho uống vài giọt rượu. Thiếu phụ kiều diễm đó cựa cậy, mở mắt ra, mỉm cười, tuyên bố bằng một giọng sắp chết rằng đã thấy dễ chịu lắm. Nhưng để khỏi xỉu một lần nữa, bà Phước buộc mụ uống đầy một ly rượu vang và bảo:

- Tại đói đấy chứ có gì đâu.

Lúc đó Thùng Nước Lèo thẹn thò, lúng túng, nhìn bốn hành khách nhịn đói kia, lắp bắp:

- Trời ơi! Tôi đâu dám; nhưng nếu các ông các bà không chê ...

Ả ngưng bặt, sợ xúc phạm họ. Loiseau nói vào:

- Khéo khỉ lắm! Trong những trường hợp như vầy, đều là anh em với nhau cả, phải giúp đỡ lẫn nhau chứ. Thôi đi các bà, đừng làm khách nữa, nhận đi mà. Đêm nay chắc gì đã có nhà để trú chân. Xe mà chạy cái điệu này thì sợ trưa mai vẫn chưa tới Tôtes.

Người ta còn do dự, không ai dám lãnh cái trách nhiệm “vâng”.

Nhưng ông bá tước giải quyết ngay vấn đề. Ông quay lại ngó cô ả mập và thẹn thò nọ, rồi giọng rất quí phái, ông bảo:

- Chúng tôi xin nhận lời, cảm ơn bà.

Chỉ có bước đầu là khó khăn. Đã liều rồi thì người ta cứ phăng phăng tới, gần hết rổ thức ăn. Chỉ còn một cái ba-tê gan, một cái ba-tê sơn ca, một miếng lưỡi hun khói, những trái lê Crassane, một ổ bánh ngọt thơm Pont l’Évêque, những chiếc bánh bông lan, một chén đầy dưa chuột và hành ngâm dấm, vì ả ưa đồ sống như mọi người đàn bà khác.

Không lẽ ăn của ả mà không nói chuyện với ả. Cho nên phải chuyện chớ, mới đầu còn giữ kẽ, sau thấy ả biết điều, lễ phép, người ta hóa tự nhiên hơn. Bà De Bréville và mụ Carré-Lamadon, rất lịch thiệp, tỏ vẻ lễ nhượng một cách nhã nhặn. Nhất là bà bá tước có cái thái độ hạ cố dễ thương của những bà rất quí phái mà không có sự tiếp xúc nào có thể làm hoen ố được, rõ ra con người lịch sự. Còn cái mụ cao lớn Loiseau tâm hồn cục cằn, vẫn ương ngạnh, nói thì ít mà ăn thì nhiều.

Tất nhiên người ta nói về chiến tranh. Người ta kể những chuyện kinh khủng của tụi Phổ, những hành động anh hùng của Pháp, và bọn người chạy trốn này đều khâm phục sự can đảm của những người ở lại. Rồi tới những chuyện tư, và Thùng Nước Lèo thành thực cảm động – bọn gái điếm khi tả những cơn giận dữ tự nhiên của mình, thường có giọng hăng hái như vậy – kể những nguyên do bắt ả phải rời Rouen:

- Mới đầu em tưởng có thể ở lại được. Nhà có đầy thức ăn. Thà chịu nuôi mấy thằng lính còn hơn là bỏ xứ mà không biết đi đâu. Nhưng khi em thấy tụi Phổ đó thì em chịu không nổi nữa! Chúng làm cho em dóa lên; và em đã tủi nhục khóc suốt ngày. Em mà là thân nam nhi thì phải biết! Đứng ở cửa sổ em ngó chúng và chị ở của em ghì tay em lại cho em khỏi liệng đồ đạc vào đầu vào cổ chúng. Rồi có đứa lại ở nhà em; em nhảy lại bóp cổ đứa thứ nhất. Bóp cổ chúng cũng không khó gì hơn bóp cổ những kẻ khác! Và nếu không có một đứa nắm tóc em kéo lại thì em đã bóp chết thằng đó rồi. Rồi sau em phải trốn đi. Gặp được cơ hội, em thoát thân liền nên mới có ngày hôm nay.

Người ta khen ả lắm. Người ta mến ả, có ai đâu mà gan như ả. Cordunet vừa nghe vừa mỉm cười tán thưởng, đại lượng như một sứ đồ, một linh mục ca tụng Chúa vậy, vì tụi dân chủ râu dài này nắm độc quyền tôn giáo. Rồi tới phiên hắn thuyết bằng một giọng khoa trương học trong những tờ bố cáo dán đầy tường; cuối cùng là một đoạn hùng hồn đả kích kịch liệt “tên bợm Badinguet”[10].

Thùng Nước Lèo tức thì nổi giận vì ả vào phe Bonaparte. Đỏ gay như trái anh đào, ả bất bình, lắp bắp:

- Để các ông lên thay họ đi coi! Có mà loạn! Chính các ông đã phản người ta! Nếu bọn đểu giả các ông mà lên cầm quyền thì thiên hạ phải bỏ xứ mà đi.

Cornudet thản nhiên mỉm cười một cách ngạo nghễ, tự cao, nhưng người ta cảm thấy rằng hắn sắp văng tục nếu như ông bá tước không xen vô tuyên bố một cách có uy thế rằng tất cả những ý kiến thành thực nào cũng đáng tôn trọng, và nói mãi ả mới chịu dịu xuống. Bà bá tước và mụ chủ hãng dệt, thuộc bọn người đàng hoàng nên trong thâm tâm vốn ghét Chính thể Cộng hòa mà chẳng cần suy nghĩ gì; vốn ưa như mọi người đàn bà, những Chính phủ lòe loẹt, độc tài, thành thử dù không muốn mà cũng có thiện cảm với cô gái điếm biết tự trọng nọ, vì tình cảm của ả giống với tình cảm của hai bà.

Rổ thức ăn đã nhẵn. Mười người ăn, làm gì mà chẳng hết; người ta tiếc rằng sao rổ không lớn hơn chút nữa. Câu chuyện cũng tiếp tục thêm một lát, nhưng từ khi ăn xong thì chuyện cũng nguội dần.

Đêm đổ xuống, lần lần hóa tối mò; trong lúc tiêu hóa người ta càng thấy lạnh, và cô ả mập như vậy mà cũng run lên. Bà De Bréville cho ả mượn cái lồng ấp mà than đã thay nhiều lần từ sáng, và ả nhận liền vì chân muốn cóng rồi. Mụ Carré-Lamadon và mụ Loiseau đưa lồng ấp của mình cho hai bà phước.

Người đánh xe đã thắp đèn. Người ta thấy rõ một đám hơi nước ở trên mông đẫm mồ hôi của những con ngựa buộc bên gọng xe; và hai bên đường, tuyết như trải lần ra dưới ánh sáng phản chiếu di động của các ngọn đèn.

Trong xe tối om, không phân biệt được gì nữa; nhưng thình lình giữa Thùng Nước Lèo và Cornudet có một cử động; và mắt Loiseau soi bói, trong bóng tối, thấy Cornudet, né vội ra một bên như bị thoi ngầm một cái mạnh.

Phía trước, ở trên đường đã hiện ra những đốm lửa nhỏ. Sắp tới Tôtes. Xe đã chạy 11 giờ, kể thêm 2 giờ cho ngựa nghỉ ăn lúa bốn lần hết thảy là 13 giờ. Xe vô thị trấn rồi ngừng trước khách sạn Hôtel du Commerce.

Cửa xe mở ra. Một tiếng động quen thuộc làm mọi hành khách giật mình: tiếng bao gươm cà trên mặt đất. Rồi có một tiếng tên Đức la cái gì đó.

Xe đã ngưng hẳn rồi mà không ai xuống như sợ hễ ra khỏi xe là bị giết. Rồi người đánh xe hiện ra tay cầm một cây đèn thình lình rọi vào tới phía trong cùng, ánh sáng chiếu trên hai hàng đầu người lố nhố, ngơ ngác, miệng há hốc, mắt trợn trừng, vừa ngạc nhiên vừa hoảng hốt.

Đứng bên người đánh xe, trong ánh sáng, là một sĩ quan Đức, trẻ mà rất cao, tóc hung hung, bộ quân phục khít người như một thiếu nữ bận coóc-xê, chiếc nón lưỡi trai dẹp đánh xi bóng láng, chụp nghiêng trên đầu, có vẻ một anh bồi trong khách sạn Anh. Râu mép hắn dài quá mức, cứng, vuốt nhọn, và đâm ngang ra mỗi bên, ở đầu là một sợi nhỏ xíu, hung hăng, không rõ tới đâu là hết; bộ râu đó như đè nặng ở hai mép, kéo xệch hai bên má ra, làm cho môi có một nếp nhăn hạ xuống.

Hắn nói tiếng Pháp, mời hành khách xuống xe, giọng lơ lớ cứng ngắc:

- Xuộng xe cho, xuộng hệc.

Hai bà Phước tuân lệnh trước nhất, những thánh nữ đó vốn nhu mì, quen mọi sự khuất phục rồi. Rồi tới ông bà bá tước, vợ chồng nhà công nghiệp Loiseau ra sau, đẩy mụ vợ to lớn ra trước. Mới đặt chân xuống đất, vì khôn khéo hơn là vì lễ phép, hắn đã chào ngay “kính chào ông”. Viên sĩ quan Đức xấc láo như những kẻ có đủ quyền sinh sát, chỉ ngó hắn mà không thèm đáp.

Thùng Nước Lèo và Cornudet mặc dầu là ngồi gần cửa mà bước xuống sau cùng, nghiêm trang ngạo mạn trước mặt kẻ thù. Ả rán tự chủ và bình tĩnh; còn lão “dân chủ” thì bàn tay run run, bi thảm, hành hạ bộ râu dài, hung hung của mình. Họ muốn giữ vẻ đàng hoàng, vì biết rằng trong những cuộc gặp gỡ như vậy, mỗi người lãnh một chút trách nhiệm thay mặt cho xứ sở của mình, cả hai đều bất bình trước thái độ mềm mỏng của những bạn đồng hành, ả thì rán tỏ ra dũng cảm hơn những bà đứng bên, những bà trong giới lương thiện; còn lão nọ thì thấy rằng mình phải làm gương cho người, tiếp tục, bằng thái độ, cái sứ mệnh kháng chiến mà lão đã bắt đầu thi hành khi đào phá đường để cản địch.

Người ta vô nhà bếp rộng lớn của lữ quán và viên sĩ quan Đức bảo trình giấy phép của viên tướng tư lệnh, trong đó có ghi tên, tướng mạo vả nghề nghiệp của mỗi hành khách hắn ngó mỗi người rất lâu, so sánh xem có đúng với những lời ghi không.

Rồi thình lình hắn bảo: “Tược”, rồi biến mất.

Lúc đó người ta mới khoan khoái. Lại đói nữa, bảo nấu xúp. Phải nửa giờ mới nấu xong, và trong khi hai người ở gái có vẻ lăng xăng về món xúp thì họ đi coi phòng. Các phòng đều ở trong một hành lang dài, phía cuối có một cái cửa ra vào lắp kính ghi số.

Sau cùng người ta mới ngồi vào bàn ăn thì chủ quán đích thân vô. Trước kia lão buôn ngựa, người mập, bị bệnh suyễn, thở phì phì, khàn tiếng, đờm khò khè trong họng. Ông thân lão truyền cho lão cái tên Follenvie.

Lão hỏi:

- Ai là cô Elisabeth Rousset?

Thùng Nước Lèo giật mình, quay lại:

- Tôi.

- Thưa cô, viên sĩ quan Phổ muốn nói chuyện với cô ngay bây giờ.

- Nói chuyện với tôi?

- Vâng nếu cô phải là cô Elisabeth Rousset.

Ả lo lắng, suy nghĩ một giây, rồi từ chối hẳn:

- Phải, nhưng tôi không đi.

Chung quanh ả có vẻ xôn xao, ai nấy bàn tán, hỏi nhau tại sao có lệnh đó. Ông bá tước lại gần:

- Bà lầm rồi, bà từ chối như vậy có thể gây ra những nỗi khó khăn ghê gớm chẳng riêng cho bà mà cho cả những bạn đồng hành của bà nữa. Không nên chống cự lại với những kẻ mạnh hơn mình. Bá cứ đi đi, chắc chắn không có gì nguy hiểm đâu, có lẽ chỉ là còn thiếu một nghi thức nào đó thôi.

Mọi người đều nói vào, người ta năn nỉ ả, hối thúc ả, thuyết giáo ả và sau cùng thuyết phục ả; vì ai nấy đều sợ ả mà bướng thì sinh ra nhiều sự rắc rối. Ả bảo :

- Vì các ông các bà mà tôi phải nghe lời đấy!

Bà bá tước nắm tay ả:

- Và chúng tôi cảm ơn bà.

Ả đi ra người ta đợi ả về rồi mới ăn.

Người ta buồn rầu vì tại sao viên sĩ quan Đức không gọi mình mà lại gọi cô ả dữ tợn, nóng nảy đó, và nghĩ thầm nếu tới phiên mình phải gọi thì sẽ trả lời những câu hèn hạ ra sao.

Nhưng độ mười phút, ả trở về, hổn hển, đỏ mặt lên, giận đến nghẹt thở. Ả lắp bắp:

- Quân chó má, quân chó má!

Mọi người vội vàng hỏi, nhưng ả làm thinh; vì ông bá tước hỏi gặn quá, ả đáp rất nghiêm trang:

- Không, chuyện đó không liên quan gì tới các ông các bà cả, tôi không thể nói được.

Người ta ngồi chung quanh một liễn xúp cao ngào ngạt mùi thơm bắp cải. Mặc dù có vụ kinh hãi đó, bữa cơm cũng vẫn vui. Rượu tần ngon, cặp Loiseau và hai bà Phước uống thứ đó cho rẻ tiền. Những người khác đòi rượu vang; Cornudet đòi rượu bia. Hắn có một lối đặc biệt để mở nút ve, làm cho rượu xùi bọt lên, rồi cầm nghiêng cái ly mà ngắm, soi lên ánh đèn để ngó kĩ màu rượu. Khi hắn uống, bộ râu dài, một màu với thứ rượu quí của hắn, run run lên như cảm động vì âu yếm; mắt hắn lác đi không rời ly rượu một chớp, và hắn có vẻ làm tròn cái nhiệm vụ độc nhứt, mà trời giao cho hắn đó. Trong đầu hắn, hắn đã hòa hợp, liên kết với nhau hai cái đam mê nó ám ảnh hắn suốt đời: rượu bia và Cách mạng; và nhất định là hắn không thể uống cái này mà không nghĩ cái kia.

Vợ chồng Follenvie ngồi ăn ở cuối bàn. Người chồng thì rên như một cái đầu máy bể, khò khè trong ngực, thành thử không vừa ăn vừa nói được; mụ vợ trái lại không lúc nào ngớt miệng. Mụ kể tất cả những cảm tưởng của mụ khi tụi Phổ tới; kể chúng làm cái gì, nói những gì; mụ rất ghét chúng trước hết vì tốn tiền cho mụ, sau nữa vì mụ có hai người con trai trong quân đội. Mụ nói nhiều nhất với bà bá tước, lấy cái việc hầu chuyện một bà quí phái làm vinh hạnh lắm.

Rồi mụ hạ giọng để kể những chuyện khó nói, và người chồng thỉnh thoảng ngắt lời:

- Im miệng đi, mụ Follenvie.

Nhưng mụ chẳng thèm nghe, cứ tiếp tục.

- Thưa bà, tụi nó chỉ ăn khoai và thịt heo, rồi lại thịt heo và khoai. Mà đừng tưởng là chúng sạch nhé.

- Không đâu! Vô phép bà, chúng bậy bạ ra khắp chỗ. Và nếu bà thấy chúng luyện tập hằng giờ, hằng ngày; chúng nhóm lại trong một cánh đồng; rồi đi tới đi lui, quay bên này, quay bên kia. Nếu chúng cày ruộng hoặc đắp đường ở xứ của chúng thì cũng đỡ! Nhưng thưa bà, không, tụi nhà binh đó không ích lợi gì cho ai cả! Dân chúng phải nuôi họ để họ học cách tản sát! Tôi chỉ là một người đàn bà thất học, nhưng thấy họ hủy hoại thể chất mà cứ dậm chân từ sáng tới tối như vậy, tôi tự nhủ: Khi có những người phát minh được biết bao nhiêu điều để giúp ích nhân loại, thì tại sao có những kẻ chịu khó nhọc để làm hại người như vậy! Nghĩ mà coi, có gì khả ố bằng cái việc giết người không, dù là giết tụi Phổ hay tụi Anh, tụi Ba Lan, tụi Pháp? Ai làm hại mình mà mình trả thù, thì mình có lỗi và chính phủ xử mình; nhưng khi người ta tận diệt con trai chúng ta như giết bầy thú, giết bằng súng, thì lại tốt vì ai giết được nhiều thì được thưởng huy chương. Thật là tôi không còn hiểu chút gì nữa.

Cornudet lớn tiếng:

- Chiến tranh là dã man khi người ta tấn công một xứ láng giềng yên ổn; nhưng nó là một bổn phận thiêng liêng khi người ta bảo vệ tổ quốc.

Mụ chủ quán cuối đầu xuống:

- Phải, khi tự vệ thì lại khác; nhưng tất cả những ông vua tự ý gây chiến, thì có nên đem giết cả đi không?

Cặp mắt Cornudet bừng lên:

- Hay! Một nữ công dân đáng khen lắm.

Lão Carré-Lamadon suy nghĩ lung. Mặc dù vốn tôn sùng những tướng tá nổi danh, lão thấy mụ nhà quê đó có lương tri, và lão nghĩ: bao nhiêu cánh tay ở không, tốn kém tai hại đó; bao nhiêu sức lực phải nuôi báo cô mà chẳng sản xuất được gì cả đó, nếu đem dùng vào những công trình kĩ  nghệ lớn lao cần hằng thế kỉ chưa xong, thì có phải là lợi cho quốc gia biết bao không.

Nhưng Loiseau đã đứng dậy, lại nói thầm với chủ quán. Lão này cười, ho, khạc; bụng bự của lão dội lên dội xuống,khi nghe Loiseau khôi hài, và lão hỏi mua sáu thùng nhỏ rượu vang, giao vào mùa xuân khi nào tụi Phổ đã đi hết.

Mới ăn xong, ai nấy đi ngủ liền vì mệt lữ.

Nhưng Loiseau vì đã để ý nhận xét, cho vợ đi nằm rồi, mới đi lại phía cửa lúc thì ghé tai lúc thì ghé mắt vào lỗ khoá để rán tìm ra được cái gì mà hắn gọi là “bí mật của hành lang”.

Khoảng một giờ sau hắn nghe có tiếng sột soạt, vội vàng ngó, và thấy Thùng Nước Lèo bận cái áo choàng bằng vải xanh viền ren trắng. Ả cầm một cái giá đèn, tiến về phía cuối hành lang, chỗ có con số lớn. Nhưng ở bên cạnh, một cánh cửa hé mở và vài phút sau, ả trở về thì Cornudet bận quần tuột dải đeo, đi theo ả. Họ nói nhỏ với nhau rồi ngừng lại. Ả như cương quyết ngăn không cho hắn vô phòng. Khổ tâm thay, Loiseau nghe không rõ gì cả; nhưng sau cùng họ lớn tiếng, và lão bắt được vài lời. Cornudet hăng hái năn nỉ.

Hắn bảo:

- Thì có làm sao? Cô điên hả?

Ả đáp giọng bực tức:

- Không được, ông ơi, có những lúc không làm những chuyện đó được; với lại, ở đây mà làm vậy thì xấu hổ lắm.

Hắn không hiểu, hỏi tại sao.

Ả càng tức, lớn tiếng:

- Tại sao ư? Ông không hiểu tại sao ư? Khi có tụi Phổ ở trong nhà, biết đâu chừng, ngay ở phòng bên cạnh?

Hắn làm thinh. Hạng đĩ đó mà cũng ái quốc, biết mắc cỡ, có kẻ thù ở bên thì không chịu ân ái. Thái độ đó chắc đã đánh thức cái phong thể suy nhược của hắn, vì sau đó, hắn chỉ ôm ả hôn thôi, rồi rón rén về phòng mình.

Loiseau bừng bừng lên, rời lỗ khoá, nhảy nhót trong phòng, hai chân đạp vào nhau, chụp cái nón vải vào đầu, giở tấm “ra” phủ bộ xương cứng ngắt của mụ vợ, hôn mụ, đánh thức mụ dậy hỏi:

- Yêu anh không cưng?

Rồi thì cả nhà hoá tĩnh mịch. Nhưng chẳng bao lâu từ một phía nào đó, không biết là từ hầm rượu hay từ cái trang, phát ra một tiếng ngáy mạnh, độc điệu, đều đều một tiếng ồ ồ và kéo dài, khừ khừ như tiếng nồi súp-de sôi sùng sục vậy.

Lão Follenvie đã ngũ.

Vì đã định tám giờ sáng hôm sau khởi hành nên người ta họp nhau ở trong bếp; nhưng chiếc xe – mà cái mui vải đỡ cả một nóc tuyết – đứng trơ trọi giữa sân, không có ngựa, cũng không có người đánh xe. Người ta đi kiếm tên này ở chuồng ngựa, ở chỗ chứa rơm, ở chỗ để xe mà không thấy. Mọi người quyết định đi lùng khắp thị trấn. Họ ra chỗ công trường, mà phía sau là nhà thờ; hai bên là những căn nhà nhỏ có lính Phổ. Người lính thứ nhất họ thấy đương gọt khoai. Người thứ nhì ở xa hơn, đương cọ rửa một tiệm hớt tóc. Một người nữa râu kín tới mắt ôm một đứa nhỏ đương khóc, ru nó ở trên đùi để dỗ nó nín; và những mụ nhà quê to lớn mà chồng ở trong “quân đội chiến đấu” ra dấu cho những kẻ thắng trận ngoan ngoãn đó, bảo làm việc này việc khác: bửa củi, đổ nước nóng lên bánh, xay cà phê: một người lính giặt cả quần áo cho chủ nhà, một bà cụ tàn tật nữa.

Ông bá tước ngạc nhiên hỏi một người phụ thủ ở trong nhà thờ bước ra. Con chuột già của giáo đường này đáp:

- Tụi đó không độc ác đâu; người ta bảo chúng không phải là người Phổ. Chúng ở một xứ nào xa hơn nữa, tôi không biết ở đâu; chúng để vợ con lại ở nhà, chúng đâu có ham chiến tranh. Tôi chắc rằng vợ con chúng ở nhà cũng đương khóc chồng và cha; ở xứ họ cũng như xứ mình, dân chúng thật điêu đứng. Ở đây, lúc này, người ta chưa đến nỗi khổ lắm, vì tụi lính đó không làm hại gì ai cả mà chúng cũng làm mọi việc như ở nhà chúng vậy. Thưa ông, cùng nghèo khó với nhau cả thì phải giúp đỡ lẫn nhau chứ… Chỉ các ông bự mới gây chiến thôi.

Cornudet thấy kẻ thắng và kẻ bại mà lại hoà hợp thân mật với nhau, tỏ vẻ bất bình, rút về quán trọ, không ra đường nữa. Loiseau nói đùa: “Họ sinh sản lại”. Carré-Lamadon nghiêm trang hơn: “Họ sửa sang lại”. Nhưng vẫn không thấy tên đánh xe. Sau cùng người ta tìm thấy hắn trong một quán cà phê, đương thân mật nhậu nhẹt với tên lính thị vệ của viên sĩ quan. Ông bá tước lớn tiếng hỏi:

- Đã ra lệnh cho chú thắng xe hồi tám giờ sáng, chú quên ư?

- Phải, nhưng rồi sau tôi lại nhận được lệnh khác.

- Lệnh ra sao?

- Lệnh không được thắng xe.

- Ai ra lệnh đó cho chú?

- Viên chỉ huy Phổ.

- Tại sao?

- Tôi không biết. Lại mà hỏi ổng. Người ta cấm tôi thắng xe và tôi không thắng xe. Đó, có vậy thôi.

- Chính viên sĩ quan bảo chú như vậy?

- Không, chủ quán truyền lệnh xuống cho tôi.

- Bao giờ?

- Tối qua, khi tôi sắp đi ngủ.

Ba người đàn ông trở về, lo ngay ngáy.

Họ muốn gặp chủ quán Follenvie nhưng chị ở bảo ông chủ bị bệnh suyển, bao giờ cũng mười giờ sáng mới dậy. Và ông chủ còn cấm ngặt không được đánh thức trước giờ đó, trừ khi có hoả tai.

Họ lại muốn gặp viên sĩ quan, nhưng vô phương, mặc dù hắn cũng ở trong quán, vì chỉ có Follenvie là được phép gặp hắn về những vấn đề dân sự. Họ đành phải đợi vậy. Phụ nữ về phòng làm những việc lặt vặt hoặc nói chuyện tầm phào. Cornudet ngồi dưới lò sưởi cao, lửa cháy ngùn ngụt ở bếp. Hắn bảo đem xuống cho hắn một cái bàn nhỏ, một chai bia, rồi hắn đốt ống điếu. Ống điếu đó được bọn dân chủ coi trọng ngang với hắn, hình như người ta cho rằng nó đã phụng sự Cornudet tức thị cũng là phụng sự quốc gia.

Nó rất đẹp, bằng đá bọt, sái thuốc đóng đen, đen bằng răng chủ nhân nó, nhưng nó thơm, cong lại, bóng láng, tay hắn cầm quen rồi và có nó thì diện mạo của hắn mới đủ bộ. Hắn ngồi yên, lúc thì ngó ngọn lửa trong lò, lúc thì nhìn bọt rượu bia viền miệng ly; và mỗi lần hớp xong, thì hắn lại khoan khoái lùa những ngón tay dài, gầy vào mớ tóc nhờn của hắn, đồng thời hít những bọt rượu bám ở râu mép.

Loiseau lấy ý rằng ngồi hoài tê chân, nên đi chào khách tại các quán rượu nhỏ ở trong miền. Ông bá tước và lão chủ xưởng dệt nói chuyện chính trị, tiên đoán về tương lai nước Pháp. Một ông thì tin ở giòng họ D’Orléans, một ông thì tin ở một vị cứu quốc còn mai danh nào đó, một vị anh hùng sẽ xuất đầu lộ diện khi nào mọi sự đều thất vọng: một Du Guesclin, một Jeanne D’Arc biết đâu chừng? Hoặc một Nã Phá Luân đệ nhất khác nữa… À! Nếu hoàng tử mà không còn nhỏ như vậy! Cornudet nghe họ, mỉm cười, như người biết rõ vận mạng rồi. Khói thuốc ống điếu của hắn toả ra, thơm cả nhà bếp.

Đồng hồ gõ mười giờ, Follenvie hiện ra. Người ta vội vàng hỏi, thì lão chỉ lặp đi lặp lại lời này hai ba lần mà không thay đổi một tiếng:

- Sĩ quan bảo tôi như vầy: “Ông Follenvie, ông phải cấm người ta ngày mai thắng xe cho những hành khách đó. Không có lệnh của tôi thì họ không được đi. Nghe chưa? Có bấy nhiêu thôi”.

Rồi người ta muốn gặp mặt sĩ quan. Ông bá tước sai người mang lên cho hắn một tấm thiếp trên đó lão Carré-Lamadon đã ghi thêm tên và tất cả chức tước của mình. Sĩ quan Phổ nhắn rằng ăn cơm trưa xong, nghĩa là khoảng một giờ, hắn sẽ bằng lòng cho hai người đàn ông đó vô nói chuyện.

Các bà ló mặt ra, mặc dầu lo lắng nhưng ăn cũng được vài miếng. Thùng Nước Lèo có vẻ đau và bối rối lạ.

Họ vừa uống cà phê xong thì tên lính hầu vô gọi họ. Loiseau nhập bọn với hai người kia; người ta muốn lôi Cornudet đi theo nữa cho thêm phần long trọng nhưng hắn dương dương tuyên bố rằng nhất định không liên lạc gì với tụi Đức. Và hắn lại xuống bếp ngồi dưới lò sưởi, gọi một chai bia nữa.

Ba người đàn ông lên gác, được dẫn vô căn phòng đẹp nhất của quán. Viên sĩ quan nằm dài trên ghế bành, chân gác lên lò sưởi, hút một ống điếu dài bằng sứ, khoác một cái áo mặc ở trong nhà đỏ rực mà chắc hắn đã xoáy được trong căn phố bỏ trống của một nhà trọc phú quê mùa nào. Hắn đứng dậy, cũng không chào, không ngó họ. Đúng là thói thô bỉ của tụi quân thắng trận.

Một lúc sau hắn mới hỏi:

- Cạc ông muộng gì?

- Ông bá tước đáp:

- Thưa ông chúng tôi muốn khởi hành.

- Không.

- Ông cho phép chúng tôi hỏi lí do gì vậy?

- Lị do là tôi không muộng.

- Thưa ông, chúng tôi kính cẩn thưa ông hay rằng vị tướng tư lệnh của ông đã cho phép chúng tôi đi lại Dieppe; và tôi nghĩ rằng chúng tôi không làm cái gì để cho ông phải nghiêm khắc với chúng tôi như vậy?

- Tui không muộng. Có phậy thui. Thui cạc ông ti xuộng.

Cả ba cuối đầu chào rồi rút lui.

Buổi chiều hôm đó thật thảm hại. Không sao hiểu nổi tính tình bất thường của thằng cha Đức này cả; và mọi người đều có những ý nghĩ rất lạ lùng. Người ta họp ở trong bếp, bàn cãi hoài, tưởng tượng những việc khó tin. Hắn muốn giữ họ làm con tin chăng – nhưng để làm gì vậy? – Hay là dẫn đi làm tù binh? Hay là bắt cóc họ để đòi một số tiền chuộc rất lớn? Nghĩ tới điều đó, ai nấy kinh hoảng. Người nào giàu nhất lại càng sợ nhất, nghĩ rồi đây phải trút cả từng bao đầy vàng vào tay thằng săng đá[11] ngạo nghễ đó để chuộc mạng mình. Họ moi óc để tìm kiếm những lời nói dối sao cho xuôi tai, kiếm cách giấu của cải đi, làm bộ nghèo, rất nghèo. Loiseau tháo dây chuyền đồng hồ đeo tay giấu vào túi. Đêm xuống họ càng thêm lo. Đã lên đèn rồi mà còn phải đợi hai giờ nữa mới tới bữa cơm tối, mụ Loiseau đề nghị chơi vài ván bài để tiêu khiển. Mọi người biểu đồng tình. Chính Cornudet cũng lịch sự dụi ống điếu đi, ngồi vào bàn.

Ông bá tước trang bài, chia bài, Thùng Nước Lèo ăn ngay ván đầu, rồi ham chơi, người ta quên lo. Nhưng Cornudet thấy rằng cặp Loiseau thông đồng với nhau để ăn gian.

Sắp ăn cơm thì lão Follenvie bước vô, bảo, giọng đặc những đàm:

- Sĩ quan Phổ cho hỏi cô Elisabeth Rousset đã đổi ý chưa?

Thùng Nước Lèo tái mét, đứng yên; rồi thình lình tía tai, ả giận muốn nghẹt thở, không thốt được nữa. Sau cùng ả xổ ra:

- Ông lại bảo cái thằng Phổ bợm bãi, dơ dáy, thằng Phổ chó chết đó rằng không khi nào tôi bằng lòng; ông nghe rõ chưa, không khi nào, không khi nào, không khi nào!

Lão chủ quán mập đi ra. Người ta bu lại hỏi ả, năn nỉ ả hé cho biết có điều bí mật gì vậy, thằng Phổ đó gọi ả lên làm gì vậy. Mới đầu ả không chịu nói, sau giận quá, ả la lên:

- Nó muốn cái gì? Nó muốn, nó muốn ngủ với tôi! Mả mẹ nó!

Ai nấy đều rất bất bình nên không thấy chướng tai, Cornudet dằn mạnh cái ly lên bàn, làm bể ly. Tiếng bể đó là tiếng mạt sát quân săng đá thô bỉ, đê tiện kia, là một luồng phẫn nộ, một sự đoàn kết để đề kháng, để kêu gọi mỗi người hy sinh một chút cho ả. Ông bá tước vẻ ghê tởm tuyên bố rằng tụi đó cư xử y như bọn dã man thời ăn lông ở lỗ. Nhất là các bà, đối với Thùng Nước Lèo, có thái độ thương hại cương quyết mà âu yếm. Hai bà Phước tới bữa cơm mới ló ra, cuối xuống không nói gì cả.

Khi cơn giận đã nguôi, người ta mới ngồi ăn, nhưng nói ít: ai nấy nghĩ ngợi liên miên.

Các bà về phòng sớm; còn các ông vừa hút thuốc vừa đánh bài các-tê, người ta mời lão Follenvie chơi, để khéo léo hỏi lão xem có cách nào thắng sự kháng cự của tên Phổ đó không. Nhưng lão chỉ nghĩ đến ván bài, chẳng nghe gì cả, cũng chẳng đáp gì cả; luôn luôn nhắc:

- Chơi đi chứ, mời các cụ.

Lão chú ý tới nỗi quên cả khạc, thành thử có tiếng kéo nhị[12] trong ngực lão. Phổi lão khò khè đủ điệu của bệnh suyễn từ những âm trầm, đục cho tới những âm ồ ồ mà cao như tiếng gà trống mới tập gáy.

Khi mụ vợ buồn ngủ quá rồi lại nhắc lão, lão cũng không chịu bỏ cuộc. Rồi mụ phải lên lầu một mình, vì mụ là con người “ban mai”, hễ mặt trời mọc thì thức dậy; còn lão là con người “ban đêm”, luôn luôn sẵn sàng thức thâu canh với bạn bè. Lão lớn tiếng nói với theo: “Để ly lòng đỏ trứng với nước đường[13] ở gần lửa cho tôi nhé”. Khi người ta thấy không gợi được của hắn một chút gì cả, người ta tuyên bố tới giờ đi ngủ và ai về phòng nấy.

Hôm sau người ta dậy sớm, hy vọng một cái gì và nóng đi hơn hôm trước nữa, nghĩ tới nông nỗi phải ở lại thêm một ngày trong cái quán nhỏ ghê tởm này mà phát sợ.

Nhưng hỡi ơi! Ngựa vẫn ở chuồng, mà tên đánh xe thì mất dạng. Không làm gì, người ta dạo chung quanh cỗ xe. Bữa cơn trưa mới tẻ làm sao! Người ta như có vẻ lạnh lùng với Thùng Nước Lèo. Vì sau một đêm suy nghĩ sự phán đoán của người ta đã hơi thay đổi. Bây giờ đây, người ta gần như oán con điếm đó sao đêm trước không lén lút lại kiếm thằng Phổ đi, như vậy có phải là các bạn đồng hành, khi bừng mắt dậy được ngạc nhiên một cách thú vị không. Giản dị quá đi! Mà ai biết đâu đấy? Ả nhắn với tên Phổ đó là ả thương tình những bạn đồng hành mà nhận lời, thế là vẫn giữ được thể diện cho ả. Đối với ả, quan trọng gì cái thứ đó!

Nhưng không ai dám thú những ý nghĩ đó ra.

Buổi chiều, buồn đến chết đi, ông bá tước đề nghị đi dạo chung quanh. Ai nấy bận áo cho thật ấm rồi cả bọn đi ra trừ Cornudet – lão thích ngồi sưởi hơn – và hai bà Phước vì hai bà suốt ngày không ở nhà thờ thì lại nhà Cha sở.

Mỗi ngày mỗi thêm lạnh, lạnh buốt mũi và tai, chân đau quá, hễ bước một bước thì thấy nhức nhối; khi ra tới cánh đồng, nhìn cảnh mênh mông trắng toát ảm đạm ghê gớm, mọi người vội trở về ngay, tâm hồn cóng lại, lòng thắc lại.

Bốn bà đi trước, ba ông đi sau, cách xa xa một chút.

Loiseau hiểu rõ tình trạng, thình lình hỏi không biết cái “con điếm đó” bắt họ phải ở lại cái xó xỉnh này bao lâu nữa. Ông bá tước luôn luôn nhã nhặn, bảo không thể buộc một người đàn bà hy sinh một cách khổ tâm như vậy được; bà ta muốn hay không là tuỳ ý. Lão Carré-Lamadon nói rằng nếu quân Pháp quay trở lại tấn công theo con đường Dieppe, vì có tin đồn như vậy, thì hai bên chắc sẽ gặp nhau ở Tôtes, không sai được. Ý đó làm cho hai ông kia lo lắng.

Loiseau bảo:

- Hay là đi bộ mà trốn.

Ông bá tước nhún vai:

- Trốn làm sao được? Tuyết như vầy? Lại thêm bận bịu các bà nữa. Vả lại thế nào chúng cũng đuổi theo, chỉ nửa phút là tóm lại được, dẫn về làm tù binh, tụi lính Đức tha hồ mà hành hạ.

Đúng; ai nấy làm thinh.

Các bà nói chuyện về y phục; nhưng có chút gượng gạo, cơ hồ họ không đoàn kết với nhau nữa.

Thình lình ở đầu đường viên sĩ quan Đức xuất hiện. Thân hình cao lớn, thắc eo trong bộ quân phục, nổi bật lên nền tuyết ở chân trời; hắn đi, đầu gối dang ra, đúng cái đặc biệt của bọn quân nhân muốn giữ cho đôi giày đánh bóng khỏi bị dơ.

Khi hắn gần tới các bà, hắn cúi đầu chào, còn bọn đàn ông thì hắn chỉ khinh bỉ ngó, bọn này cũng giữ thể diện, không thèm ngã nón, mặc dầu Loiseau hơi đưa tay lên nón muốn chào.

Thùng Nước Lèo đỏ mặt tía tai, còn ba bà kia, thấy nhục quá: để cho thằng săng đá đó bắt gặp khi đi chung với con điếm mà nó đe đối xử một cách suồng sã tới mức đó!

Rồi người ta bàn tán với nhau về hắn, về dáng điệu, vẻ mặt của hắn. Mụ Carré-Lamadon đã quen nhiều sĩ quan, sành sõi lắm, bảo thằng tướng đó coi cũng được đấy; mụ tiếc rằng hắn là người Đức chứ nếu là người Pháp thì mặc đồ khinh kỵ binh vào, hắn sẽ bảnh trai ra phết và không thiếu gì phụ nữ mê hắn.

Về quán rồi, họ không biết làm gì. Họ sinh ra chua chát với nhau vì những chuyện chẳng nghĩa lý gì cả. Bữa cơm tối lặng lẽ; họ ăn vội rồi về phòng, hy vọng ngủ được để hết thì giờ.

Sáng hôm sau họ dậy, mặt mũi bơ phờ, lòng bực tức. Các bà gần như không nói năng gì với Thùng Nước Lèo.

Có tiếng chuông nhà thờ làm lễ rữa tội. Ả có một đứa con gởi một gia đình nông dân ở Yvetot nuôi giùm. Mỗi năm chỉ gặp con có một một lần mà cũng chẳng bao giờ nhớ tới nó; nhưng bây giờ nghĩ tới đứa nhỏ sắp được rửa tội kia, thình lình ả thấy yêu mến đứa con của ả quá chừng và nhất định đi dự lễ.

Ả vừa đi ra là mọi người ngó nhau, kéo xích ghế lại nhau, vì người ta cảm thấy rằng thế nào cũng phải quyết định một cái gì. Loiseau nảy ra một ý: đề nghị với sĩ quan Đức giữ một mình Thùng Nước Lèo lại thôi, còn những người khác thì cho đi.

Lại nhờ chủ quán nói giùm, nhưng chủ quán vừa mới lên đã xuống liền. Tên Đức đó hiểu bản tính con người lắm, đuổi lão đi. Hắn định giữ cả bọn lại cho tới khi nào ý muốn của hắn được thoả mãn mới thôi.

Lúc đó, cái bản chất thô lỗ đê tiên của mụ Loiseau mới bộc lộ:

- Chúng ta chịu chết già ở đây à? Cái nghề của nó, của cái con điếm ấy, là làm cái việc đó với bất kì thằng đàn ông nào, thì tôi tưởng nó không có quyền từ chối thằng này mà ưng thằng khác. Tôi hỏi các bà nè, ở Rouen nó gặp thằng nào nó cũng ngủ với thằng đó, cả với những thằng đánh xe. Vâng thưa bà, cả với thằng đánh xe ở quận! Tôi biết rõ vì thằng đó mua rượu ở tiệm tôi mà. Và bây giờ đây, lúc chúng ta gặp bí, nó có thể giúp chúng mình được thì nó lại ỏng ẹo, cái thứ đĩ thập thành ấy!... Tôi thấy ông sĩ quan ấy cư xử đàng hoàng lắm. Có lẽ ông ta phải nhịn từ lâu; bọn ba chúng ta đây, chắc ông ta thèm lắm chứ. Nhưng không, ông ta chỉ đòi cái thứ của trăm thằng kia thôi, còn những đàn bà có chồng thì ông ta biết kính trọng. Thử nghĩ coi, ông ta làm chủ mà. Chỉ cần bảo: “Tôi muốn” là ông ta và lính ông ta có thể bắt ép chúng ta cả rồi.

Hai bà kia hơi rùng mình. Cặp mắt của bà Carré-Lamadon sáng lên càng tăng vẻ đẹp của bà, và mặt bà hơi lợt, tưởng chừng như đã bị viên sĩ quan cưỡng ép rồi vậy.

Bọn đàn ông bàn bạc ở xa xa, lúc đó lại gần. Loiseau nổi quạu, muốn cột tay cột chân cái con “khốn nạn” đó mà đem dưng cho kẻ thù. Nhưng ông bá tước tổ tiên ba đời, đã làm sứ thần, mà cử chỉ ngôn ngữ ra con nhà ngoại giao lắm, nghĩ nên khôn khéo thì hơn. Ông bảo: “Phải dụ cô ta mới được”.

Thế là người ta âm mưu với nhau.

Bọn đàn bà ngồi sát lại nhau, người ta nói nho nhỏ, người ta cùng bàn bạc, mỗi người đưa một ý kiến. Đàng hoàng lắm. Nhất là các bà kiếm được những lời thanh nhã, những tiếng tế nhị rất hay để nói về những cái tục tỉu nhất. Họ giữ gìn lời nói nên một người lạ có nghe cũng không hiểu được. Nhưng sự e lệ của hạng người đàn bà sang trọng chỉ là một lớp mỏng phủ bên ngoài thôi, họ hoan hỉ nghe những chuyện dâm ô, thâm tâm thích mê đi, như cá gặp nước vậy, vầy vọc ái tình một cách khoái lạc như một tên đầu bếp tham ăn nấu nướng cho mọi người vậy.

Thế là họ vui vẻ trở lại câu chuyện, vì họ thấy nó ngộ quá đi. Ông bá tước nói đùa vài câu hơi bạo, nhưng ông ta khéo nói thành thử người ta chỉ mỉm cười thôi. Tới phiên Loiseau cũng chêm vài câu tục tĩu hơn, nhưng không ai ngượng cả; và mọi người đều nghĩ về cái ý mà mụ Loiseau đã nói toạt ra: “Đã là cái nghề của nó, của cái con điếm đó, thì tại sao nó lại từ chối thằng này mà ưng thằng khác?” Mụ Carré-Lamadon, con người dễ thương, hình như còn nghĩ rằng ở vào địa vị mụ thì mụ thấy thằng đó còn đáng ưng hơn thằng khác.

Người ta dự bị cẩn thận cuộc phong toả như để bao vây một cái đồn vậy. Mỗi người đồng ý về nhiệm vụ của mình, về những lý lẽ mình sẽ đem ra chống đỡ, những hành động mình phải làm. Người ta định kế hoạch tấn công, định mưu mô, cách đột kích ra sao, để bắt cái thành trì sống đó phải tiếp kẻ thù tại chỗ.

Cornudet đứng ở xa, hoàn toàn không liên quan gì đến vụ đó.

Mọi người chăm chú đến nỗi không nghe thấy tiếng Thùng Nước Lèo trở về.

Ông bá tước “suỵt” nhẹ, họ ngẩng cả lên. Ả đã đứng đó rồi. Thình lình người ta yên lặng, hơi lúng túng, không hỏi gì ả cả. Bà bá tước quen phép xã giao hời hợt bề ngoài lên tiếng:

- Coi lễ rữa tội có vui không?

Ả còn cảm động, kể lại hết, từ nét mặt tới cử chỉ, đến cả cái vẻ của nhà thờ nữa.

- Thỉnh thoảng cầu kinh, thấy nhẹ người lắm.

Nhưng cho tới bữa tối, người ta mới bắt đầu vào đề. Mới đầu là nói chuyện bâng quơ về đức tận tâm vị tha, người ta kể những gương cổ nhân: Judith và Holopherne[14], rồi chẳng có lý do gì cả, nhảy qua Lucrèce với Sextus[15], rồi Cléopâtre[16] ăn nằm với tất cả các tướng soái thù địch của nàng, làm cho họ thành nô lệ nàng hết. Rồi họ kể bướng một chuyện do những đầu óc triệu phú ngu dốt của họ tưởng tượng ra, kể rằng đàn bà La Mã lại Capoue quyến rũ Annibal[17], bọn sĩ quan và những đội dũng binh của ông. Người ta kể tên tất cả những người đàn bà đã ngăn được quân xâm lăng, đem thân mình làm bãi chiến trường, một phương tiện để thống trị, một khí giới và tên những phụ nữ đã dùng những cái vuốt ve anh dũng của mình để thắng những kẻ thù ghê tởm, mà hy sinh trinh tiết của mình cho sự tận tâm, sự trả oán.

Người ta còn nói bóng bảy về một phụ nữ Anh nọ, con nhà rất sang trọng chịu tiêm vào người một thứ bệnh truyền nhiễm ghê gớm để đổ bệnh cho Bonaparte, nhưng Trời xui khiến làm sao, đến giờ hẹn hò nguy hiểm đó, Bonaparte bỗng mệt không tới được nên thoát chết.

Người ta kể tất cả những chuyện đó bằng một giọng nghiêm trang, ôn tồn, thỉnh thoảng mới cố tình tỏ ra hăng hái để kích thích sự ganh đua.

Cứ nghe họ thì người ta có thể tin rằng chức vụ duy nhất của đàn bà ở cõi trần này là luôn luôn hy sinh, phó thác liên tục tấm thân cho cái động cỡn của tụi săng đá.

Hai bà Phước hiền hậu cơ hồ như không nghe gì cả, đăm đăm chiêu chiêu, còn Thùng Nước Lèo thì làm thinh.

Cả buổi chiều hôm đó người ta để cho ả suy nghĩ. Nhưng đáng lẽ gọi ả là “bà” như trước thì người ta chỉ gọi là “cô” thôi, không ai hiểu tại sao; có vẻ như người ta muốn hạ ả xuống một bực trên một cái thang danh dự mà ả đã leo được, để cho ả thấy địa vị xấu hổ của mình.

Lúc dọn món canh, lão Follenvie lại vô, lặp lại câu hôm trước:

- Sĩ quan Đức cho hỏi cô Elisabeth Rousset đã đổi ý kiến chưa?

Ả đáp cụt ngủn:

- Không.

Bữa cơm tối đó, cuộc đồng minh đã suy yếu. Loiseau lỡ lời mất ba câu. Mọi người đấm hông để tìm những thí dụ mới nhưng không ra, thì bà bá tước, có lẽ không suy nghĩ trước, mơ hồ thấy cần phải ca tụng Tôn giáo, bèn hỏi bà Phước lớn tuổi nhất về sự nghiệp các vị Thánh. Nhiều ông Thánh có những hành động mà chúng ta cho là tội lỗi; nhưng Giáo đường dễ dàng xoá cho hết, khi những hành động đó có mục đích làm vẻ vang cho Chúa, hay làm phúc cho người khác. Lý đó mạnh đấy; bà bá tước lợi dụng liền. Rồi, hoặc là do một sự đồng tình ngấm ngầm, một sự chiều lòng che đậy mà những kẻ bận áo tu hành thường tỏ ra rất xuất sắc; hoặc là do đần độn một cách may mắn, ngu xuẩn mà lại giúp được người, bà Phước già ủng hộ được cuộc âm mưu đó rất nhiều. Người ta tưởng bà e lệ, thì bà tỏ bạo dạn, nói nhiều, hăng hái. Bà không luýnh quýnh mà dò dẫm, quỷ biện; thuyết của bà đanh thép; đức tin của bà không do dự; lương tâm của bà không ngần ngại. Bà cho sự hy sinh của Abraham[18] là tự nhiên, vì nếu có lệnh trên ban xuống thì bà sẽ giết cha và mẹ tức thì; và theo ý bà, không có gì mà không đẹp lòng Chúa miễn là ý chí đáng khen. Bà bá tước lợi dụng ngay uy quyền thiêng liêng của kẻ đồng loã bất ngờ đó, hỏi bà câu này có ý như mong bà chú giải định lí luân lí: “Mục đích biện hộ cho phương tiện” mà khuyến thiện người nghe!

- Vậy thưa bà, theo ý Chúa cho rằng con đường nào cũng tốt, và Chúa sẽ tha thứ hành động nếu lý do trong sạch?

- Thưa bà, còn gì nghi ngờ điều đó nữa? Một hành động tự nó xấu xa, thường khi hoá ra đáng khen nếu khi làm, người ta nghĩ đến một mục đích cao cả.

Và họ tiếp tục như vậy, khám phá ra những ý chí của Chúa, đoán trước những quyết định của Người, buộc Người lưu tâm tới những việc mà thực ra chẳng liên can gì tới Người cả.

Tất cả những lời đó đều che đậy, khôn khéo, kín đáo. Nhưng mỗi lời của thánh nữ đội mũ vải kia làm thủng một lỗ lớn trong sự chống cự, sự bất bình của ả giang hồ. Rồi câu chuyện đổi chiều một chút, người đàn bà đeo tràng hạt thòng thòng đó nói về những giáo đường của thánh hội của mình, về nữ viện trưởng của mình, về bản thân mình, về bà bạn dễ thương ngồi gần mình, tức bà Phước thân ái Saint-Nicephore. Người ta mời hai bà lại Havre để săn sóc hàng trăm binh lính bị đậu mùa trong các nhà thương. Bà tả những bệnh nhân thống khổ đó, kể những chi tiết về bệnh của họ. Và trong khi hai bà mắc kẹt ở giữa đường vì tư ý của tên Phổ này thì một số đông người Pháp thiếu sự săn sóc của hai bà mà có thể chết được. Bà chuyên môn săn sóc quân nhân; bà đã qua Crimée, qua Ý, qua Áo; và nghe bà ta tả những trận bà đã dự, người ta bỗng thấy rằng bà là một vị nữ tu hành có chiêng có trống, trời sinh để theo bộ đội, lượm những lính bị thương trong sự hỗn độn của chiến tranh, và còn hơn một chủ soái nữa, bà chỉ nói một tiếng là bọn lính vô kỉ luật vào phép hết, đúng là một bà Phước Thùng thùng thình thình rất tốt, mà mặt rỗ chằng chịt y như một khu đất bị bom đạn tàn phá vậy.

Bà nói xong, không ai nói thêm nữa, kết quả có vẻ tốt quá rồi.

Ăn cơm xong người ta về phòng ngay.

*

Sáng hôm sau, đợi trễ trễ một chút người ta mới xuống phòng khách.

Bữa cơm trưa yên lặng. Để cho hạt giống gieo hôm trước có thì giờ đâm mầm rồi ra trái chứ.

Bà bá tước đề nghị buổi chiều đi dạo một lúc; và ông bá tước khoát tay Thùng Nước Lèo, đi chậm lại phía sau, như đã định trước.

Ông nói với ả bằng một giọng thân mật, như cha nói với con, nhưng hơi khinh khỉnh một chút, giọng mà bọn người nghiêm trang thường dùng với hạng gái điếm. Từ địa vị cao trên thang xã hội, từ sự tôn kính không ai chối cãi được, ông ngó xuống, gọi ả là “cháu à”. Ông vô thẳng ngay đề:

- Vậy ra cháu muốn để các bà ở lại đây, chịu chung với cháu tất cả những sự tàn nhẫn nó sẽ xảy ra sau khi quân Phổ thua trận ư? Sao cháu không chịu chiều lòng một chút như cháu vẫn thường làm trong đời cháu đấy?

Ả làm thinh.

Ông ta ngọt ngào, lý luận, đập vào tình cảm. Vẫn giữ được cái thái độ “ông bá tước” mặc dầu là nếu cần, cũng biết tỏ ra nịnh đầm, khéo khen, nhã nhặn; ông tán tụng công ả đối với mọi người, mọi người sẽ mang ơn ả lắm; rồi đột nhiên ông gọi ả bằng em:

- Này em, hắn có thể khoe rằng đã được hưởng một bông hoa đẹp mà ở quê hương hắn không dễ gì tìm ra được.

Ả vẫn làm thinh, tiến lên kịp bọn đi trước. Về tới quán, ả vào phòng riêng liền, không trở ra nữa. Lo lắng cực độ. Không biết ả sẽ làm gì đây? Nếu ả mà vẫn ương ngạnh thì thật là rắc rối!

Tới giờ ăn cơm tối; đợi ả mà ả không ra. Lão Follenvie vô, bảo rằng cô Rousset khó ở và xin đừng đợi cô nữa. Mọi người vểnh tai mà nghe. Ông bá tước lại gần chủ quán:

- Xong rồi chứ?

- Vâng.

Vì lịch sự, ông không nói gì với các bạn đồng hành cả, chỉ gật đầu ra dấu thôi. Tức thì mọi bộ ngực thở phào ra một cách nhẹ nhàng, vẻ hoan hỉ hiện trên các bộ mặt. Loiseau la lớn:

- Trời đất quỷ thần ơi! Nếu quán này có săm banh thì tôi đãi bà con một chầu liền.

Mụ Loiseau lo ngay ngáy khi thấy chủ quán trở vô với chai rượu. Bỗng người ta hoá ra ồn ào, để thổ lộ tâm can; lòng đầy một nỗi vui phóng đãng. Ông bá tước hình như nhận thấy rằng mụ Carré-Lamadon có duyên đáo để, ông chủ hãng dệt khen sắc đẹp của bà bá tước. Câu chuyện ồn ào, vui vẻ; nhiều câu hóm hỉnh lạ.

Thình lình Loiseau nét mặt lo lắng, đưa tay lên, la:

- Im!

Mọi người nín thinh, ngạc nhiên, đã gần đâm hoảng. Rồi hắn ngóng tai, đưa cả hai tay ra, làm dấu “suỵt”, ngước mắt lên trần, lại nghe ngóng, sau cùng giọng tự nhiên, bảo:

- Chư vị cứ yên tâm, mọi sự như ý.

Mới đầu không ai hiểu là nghĩa gì, nhưng rồi mọi người mỉm cười.

Độ mười lăm phút sau, hắn lại làm trò hề đó, như vậy mấy lần trong buổi tối: hắn làm bộ như gọi ai ở tầng trên, dặn dò người đó những câu bóng bảy mà hắn quen dùng trong nghề chào hàng của hắn. Lúc đó hắn làm bộ buồn rầu, thở dài: “Tôi nghiệp cô ả”; hoặc nổi doá lên càu nhàu: “Thằng Phổ mạt kiếp!”. Đôi khi, đúng cái lúc không ai nghĩ tới nữa thì giọng vang lên, hắn la mấy tiếng liền: “Thôi! Thôi!” rồi thêm, như tự nói với mình: “Miễn là mai còn thấy mặt ả: đừng làm chết con người ta, thằng khốn nạn!”.

Những lời pha trò ấy tuy điểu giả, mà chẳng làm ai phật ý cả, người ta còn thấy thú vị nữa, vì sự bất bình cũng tuỳ thuộc hoàn cảnh như mọi cái khác mà cái không khí tạo ra ở chung quanh họ đã đầy những tư tưởng tục tĩu rồi.

Tới lúc ăn tráng miệng, chính các bà cũng có những lời bóng bảy hóm hỉnh, kín đáo. Mắt sáng lên vì người ta uống rượu đã nhiều. Ông bá tước, cả những lúc phóng túng vẫn giữ được vẻ nghiêm trang, kẻ cả, nảy ra một ý hay, so sánh cảnh của họ lúc đó với hồi cuối đông ở bắc cực, và nỗi vui của họ không khác gì nỗi vui của bọn đắm tàu mà thấy được con đường về phương nam.

Loiseau hăng lên, đứng dậy tay cầm ly săm banh:

- Tôi xin cạn ly để mừng sự giải thoát của chúng mình.

Mọi người đều đứng lên; hoan hô hắn. Cả hai bà Phước nữa, nể lời mời mọc của các bà kia, cũng bằng lòng nhúng môi vào ly săm banh mà từ hồi cha sinh mẹ đẻ chưa hề được nếm. Các bà ấy bảo rằng giống nước chanh có bọt, nhưng mà ngon hơn.

Loiseau tóm tắt lại tình hình:

- Không có chiếc pianô ở đây, để mình phổ một khúc chơi nhỉ.

Cornudet không thốt một lời, không có một cử động, có vẻ đăm đăm suy nghĩ những vấn đề rất nghiêm trang, và thỉnh thoảng giận dữ kéo bộ râu dài của hắn như muốn cho nó dài thêm ra. Sau cùng, khoảng nửa đêm, lúc sắp chia tay, Loiseau lảo đảo, thình lình vỗ vào bụng hắn, lúng búng hỏi:

- Tối nay bác không vui à? Không nói gì hết, sao vậy, công dân?

Cornudet ngẩng ngay đầu lên, liếc mọi người một lượt, mắt long lanh, dữ tợn:

- Tôi bảo cho hết thảy mọi người nghe này, các người mới làm một việc ô nhục!

Hắn đứng dậy, ra cửa, lặp lại một lần nữa: “Ô nhục!” rồi biến mất.

Mới đầu họ như bị xối nước lạnh, Loiseau chưng hửng, đứng ngây ra, nhưng rồi hắn định thần lại được, thình lình ôm bụng mà cười, bảo:

- Nho xanh quá, bồ ơi, xanh quá[19].

Vì không ai hiểu gì cả, hắn mới kể những “bí mật trong hành lang” cho nghe. Thế là cả bọn lại nhao nhao lên dữ dội. Các bà vui hoá điên. Ông bá tước và lão Carré-Lamadon cười đến chảy nước mắt. Làm sao mà tin được?

- Sao! Chắc chắn không? Hắn muốn…

- Tôi đã bảo rằng tôi thấy tận mắt mà.

- Và ả đã từ chối…

- Vì thằng Phổ đó ở phòng bên cạnh.

- Có lẽ nào?

- Tôi thề với ông.

Ông bá tước cười ngất, nhà kĩ nghệ thì hai tay ôm bụng. Loiseau tiếp tục:

- Các ông hiểu chứ, tối nay, hắn oán cô ả lắm, oán lắm.

Rồi cả ba lại cười, cười đến hết hơi, đến mệt đừ.

Tới đó người ta chia tay nhau. Nhưng mụ Loiseau, bẩm tính hay châm chọc, khi lên giường nằm, bảo chồng rằng cái con ranh Carré-Lamadon cay nghiệt đó, cả buổi tối vừa cười và vừa bực tức.

- Mình biết không, bọn đàn bà, khi đã say mê tụi quân nhân thì họ bất chấp, là Pháp hay là Phổ, được tuốt. Có đáng thương tâm không, hỡi Trời!

Và cả đêm đó, trong cái bóng tối của hành lang, có tiếng chạy qua chạy lại, như run rẩy, để ý lắm mới nhận ra được như những hơi thở rất nhẹ, có tiếng chân rón rén, tiếng rắc rắc rất nhỏ. Và khuya lắm người ta mới ngủ, chắc vậy, vì dưới cánh cửa có những tia sáng lọt ra lâu rồi mới tắt. Rượu săm banh báo đời như vậy: người ta bảo nó làm cho khó ngủ.

Hôm sau mặt trời mùa đông sáng sủa, tuyết chiếu rực rỡ. Chiếc xe lần này mới thắng sẵn, đợi trước cửa trong khi một bầy bồ câu trắng, ưỡn cổ trong bộ lông xù, mắt hồng hồng điểm một chấm đen ở giữa, đủng đỉnh len lỏi giữa đám chân sáu con ngựa, kiếm ăn trong những đống phân bốc hơi rải rác trên đất.

Tên đánh xe khoác một chiếc áo da cừu, đương ngồi ở ghế đốt một ống điếu; tất cả các hành khách tươi cười bảo gói mau các thức ăn để dùng khi đi đường.

Chỉ còn đợi Thùng Nước Lèo. Sau cùng ả ló ra.

Ả có vẻ hơi băn khăn, xấu hổ; rụt rè tiến lại phía các bạn đồng hành; bọn này cùng quay mặt đi một lượt như không thấy ả. Ông bá tước nghiêm trang nắm tay bà vợ kéo xa ra, sợ dây cái đồ dơ dáy đó.

Cô ả đứng lại, ngạc nhiên; rồi gom hết cả can đảm lại, ả chào mụ chủ hãng dệt, giọng nho nhỏ, kính cẩn: “Kính chào bà”. Mụ gật nhẹ đáp lại một cách vô lễ, rồi lườm ả, như ả đã xúc phạm đến trinh tiết của mụ. Ai nấy ra vẻ lăng xăng, và người ta đứng xa ả như trong cái củng của ả có nhiễm độc. Rồi người ta ùa lên xe; ả lên sau cùng, lại ngồi vào chỗ cũ của mình.

Người ta làm bộ không thấy ả, không biết ả; mụ Loiseau ngồi ở xa khinh bỉ ngó ả, nói nho nhỏ với chồng:

- Cũng may mà em không phải ngồi gần nó,

Chiếc xe nặng nề chuyển bánh và cuộc hành trình lại tiếp tục.

Mới đầu không ai nói gì cả. Thùng Nước Lèo không dám ngước mắt lên. Ả vừa bực tức với họ, vừa xấu hổ đã nhượng bộ, để cho bọn giả đạo đức xô ả vào cánh tay tên sĩ quan Phổ mà bị nhơ nhuốc vì những cái hôn của hắn.

Nhưng rồi bà bá tước phá tan sự im lặng khó chịu đó đi, quay về phía mụ Carré-Lamadon hỏi:

- Bà quen bà D’Etrelles chứ?

- Vâng, bà ấy là bạn thân của tôi.

- Con người nhã nhặn quá!

- Lịch sự lắm! Đúng là giới thượng lưu, hiểu biết rộng mà nghệ sĩ tới chân răng kẽ tóc; hát rất hay mà vẽ tuyệt khéo.

Lão chủ hãng dệt nói với ông bá tước, và tuy các cửa kính run động rầm rầm, người ta cũng lõm bõm bắt được những tiếng: “Vé – tới hạn – tiền thưởng – trả góp”.

Loiseau đánh bài tay đôi với vợ nhờ đã thó được một cỗ bài cũ của chủ quán, nhầy mỡ vì đã năm năm cọ trên những mặt bàn ăn lau không kĩ.

Các bà Phước hiền hậu cầm chuỗi hạt lòng thòng ở dây lưng lên, cùng làm dấu thánh giá với nhau rồi thình lình môi họ mấp máy, mỗi lúc một mau, thì thầm tụng kinh, thỉnh thoảng lại hôn một chiếc mề đay, làm dấu lại, rồi lại lầm rầm đều đều, liến thoắng.

Cornudet ngồi yên nghĩ ngợi.

Đi được ba giờ đường, Loiseau dẹp cỗ bài lại, bảo:

- Đói rồi.

Mụ vợ với một gói cột dây gai, lấy ra một miếng thịt bò nguội. Mụ cẩn thận cắt thành những lát mỏng mà cứng, rồi hai vợ chồng cùng ăn.

Bà bá tước bảo:

- Chúng mình ăn nhé?

Người ta đồng ý và bà mở những gói thức ăn sắp chung cho hai gia đình. Thức ăn để trong một cái liễn dài, nắp có một con thỏ bằng sứ để tỏ rằng ở trong có món ba-tê thỏ bổ và ngon, có những làn mỡ trắng chảy qua đám thịt thỏ màu nâu, trộn với nhiều thứ thịt khác băm nhỏ. Một khúc Gruyère gói trong một tờ nhật trình mà hai chữ “Tin vặt” như in lên mặt phó mát nhờn nhờn.

Hai bà Phước hiền hậu mở một khoanh xúc xích hăng mùi tỏi; còn Cornudet đút một lần cả hai tay vào túi áo choàng may như cái bao, moi ra một bên bốn cái trứng luộc, một bên một miếng vỏ bánh mì. Hắn lột vỏ trứng liệng xuống lớp rơm ở dưới chân, rồi ngoạm vào trứng, làm rớt những miếng lòng đỏ nhỏ lên bộ râu của hắn, thành thử bộ râu như lốm đốm những ngôi sao.

Thùng Nước Lèo khi thức dậy, vội vàng và hoảng hốt không kịp nghĩ tới gì cả: ả ngó bọn đó thản nhiên ăn mà nổi xung, muốn nghẹt thở. Ả giận sôi lên, nghiến răng lại, rồi mở miệng tính chửi cho họ một tràng, chửi cái thái độ của họ, nhưng ả uất quá, thốt không được.

Chẳng ai ngó tới ả, nghĩ tới ả. Ả thấy bị tụi lương thiện vô lại đó khinh bỉ, họ bắt ả hy sinh rồi gạt bỏ ả ra, như một vật dơ dáy, vô ích vậy. Và ả nghĩ tới rổ lớn thức ăn đầy những món ngon mà họ nghiến ngấu, nghĩ tới hai con gà giò bóng nhẫy những thịt đông, tới những miếng ba-tê, những trái lê và bốn chai rượu vang của ả; rồi nỗi giận của ả thình lình nguôi xuống, như một chiếc dây căng quá mà đứt, ả rưng rưng muốn khóc.

Ả gắng sức ghê gớm, lấy gân rán nuốt lệ như con nít, nhưng lệ cứ trào lên, lóng lánh ở mi mắt rồi hai giọt lớn chảy ra, từ từ lăn trên má. Những giọt sau chảy nhanh hơn, như nước từ trong một phiến đá rỉ ra, rồi rớt đều đều trên bộ ngực căng tròn của ả. Ả ngồi ngay, mắt đăm đăm, mặt nghiêm và lợt lạt, hy vọng người ta không thấy mình khóc.

Nhưng bà bá tước nhìn thấy và ra dấu cho chồng hay. Ông chồng nhún vai như muốn nói: “Biết sao được, đâu phải lỗi của tôi”. Mụ Loiseau mỉm cười đắc thắng và thì thầm: “Nó tủi thân mà khóc”.

Hai bà Phước hiền hậu lấy giấy gói khúc xúc xích còn lại rồi lại tiếp tục tụng kinh.

Cornudet để tiêu hoá mấy quả trứng, duỗi chân cà khêu dưới chiếc ghế dài trước mặt, ngửa lưng, khoanh tay, mỉm cười như mới tìm được một trò khôi hài thú vị, bắt đầu huýt gió điệu La Marseillaise.

Các vẻ mặt sa sầm lại. Chắc chắn là họ không ưa điệu hát bình dân đó. Họ bực mình, quạu quọ, muốn tru lên như chó nghe tiếng phong cầm man rợ vậy. Hắn thấy thế càng huýt già không ngừng miệng. Thỉnh thoảng hắn lại hát nho nhỏ những câu này:

Hỡi Thần ái quốc thiêng liêng,

Hãy dắt và đỡ cánh tay trả thù của chúng tôi.

Hỡi thần Tự do, Thần Tự do yêu mến,

Hãy chiến đấu với những kẻ bênh vực Người!

Xe chạy nhanh hơn, vì tuyết cứng hơn; và cho tới khi đến Dieppe, suốt mấy giờ ngồi xe đằng đẵng buồn tẻ, trong tiếng lộc cộc gập ghềnh, hắn liên tục huýt, cả tới lúc đêm đổ xuống rồi tối mịt, hắn cũng vẫn ngoan cố huýt một cách dữ tợn, huýt hoài điệu đều đều đó để trả thù, buộc bọn người mệt nhọc và bực tức kia phải theo bài hát từ đầu đến cuối, mà nhớ lại những lời hắn nhấn vào mỗi nhịp.

Còn Thùng Nước Lèo thì vẫn khóc; thỉnh thoảng một tiếng nấc, mà ả không nén được, phát ra ở giữa hai đoạn ca, trong đêm tối.

Chú thích:

[1] Các bạn có thể xem nguyên văn tiếng Pháp truyện Boule de suif, bắt đầu từ trang http://clicnet.swarthmore.edu/litterature/classique/maupassant/boule.suif.a.html. (Goldfish).

[2] Saintsbury – một phê bình gia nổi tiếng của Anh (1845-1933) chuyên phê bình văn học Anh và tiểu thuyết Pháp.

[3] Chính nghĩa là “cục mỡ bò tròn vo”, thứ mỡ để làm nến – Trỏ một người mập, tròn.

[4] Nguyên văn là bourgeois. Tiếng này cũng như tiếng gentleman của Anh không thể dịch ra tiếng Việt được, vì ở nước mình không có giai cấp nào giống giai cấp bourgeois thời Trung cổ ở Pháp, vả lại tiếng đó có tới bốn, năm nghĩa. Theo nghĩa trong truyện này chúng tôi dịch là trọc phú, tuy chưa đúng hẳn nhưng còn hơn tiếng trưởng giả mà nhiều người thường dùng.

[5] Loiseau vole mà cũng có nghĩa là “Loiseau xoáy” – Vole có nghĩa là bay, hoặc ăn cắp. Lại có thể hiểu nghĩa là “chim bay” nữa, vì khi nghe nói, người ta không phân biệt được hai Loiseau (tên người) l’oiseau (con chim)

[6] Tức Second Empire, thời Nã Phá Luân đệ tam cầm quyền, từ 1852 đến 1870. Truyện này tả xã hội Pháp trong chiến tranh Pháp Phổ năm 1870.

[7] Trị vì từ 1830 đến 1848.

[8] Ngày 4-9-1870, có một cuộc cách mạng ở Pháp.

[9] Theo thần thoại Hy Lạp, Tantale là vua Lydie. Khi các vị Thần trên trời xuống Lydie, Tantale đem dọn thịt con của mình mời các vị đó ăn để xem các vị đó có thiêng không. Vì vậy thần Zeus đày Tantale xuống Âm ty, bắt chịu cực hình luôn luôn đói và khát, hễ nước sông gần tới miệng Tantale thì lại rút ra, trái cây gần tới tay Tantale thì cành cây lại đưa bổng lên, không hớp mà uống được, không hái mà ăn được.

[10] Biệt danh mà một số người đặt cho Nã Phá Luân đệ tam.

[11] Nguyên văn là “soldat” nghĩa là lính, chiến sĩ, quân nhân… nói chung. Hồi xưa ta gọi lính của quân đội Pháp chiếm đóng Đông Dương là “săng đá”, một cách gọi có vẻ khinh thường. Ở đây, “săng đá” là lính Đức mà nước họ chiếm đóng là Pháp. (Goldfish).

[12] Nguyên văn là “orgue”, nghĩa là đàn ống; ở đây cụ Nguyễn Hiến Lê đã “Việt hoá” thành đàn nhị. (Goldfish).

[13] Chắc sách in thiếu chữ “sữa”. Nguyên văn là “lait de poule”: một loại thức uống gồm sữa, lòng đỏ trứng, đường… (Goldfish).

[14] Theo kinh Cựu Ước, Judith là một trang nữ liệt Do Thái goá chồng ở thành Béthulie. Holopherne, tướng Assyrie bao vây thành đó. Nàng vô trại Holopherne, dùng kế mỹ nhân, phục rượu Holopherne, chặt đầu hắn, rồi nửa đêm trở về Béthulie. Sáng hôm sau quân Do Thái treo thủ cấp Holopherne lên cửa thành. Quân Assyrie sợ, mở vòng vây, bỏ chạy, bị giết rất nhiều.

[15] Lucrèce, tiết phụ La Mã thời cổ, bị Sextus làm nhục, đâm cổ tự tử, do thảm kịch đó mà chế độ cộng hoà mới thành lập ở La Mã (510 tr. tây lịch).

[16] Cléopâtre, nữ hoàng Ai Cập, rất đẹp, quyến rũ được những tướng La Mã đã xâm chiếm Ai Cập như César, Antoine, nhưng sau không quyến rũ được Octavien, nàng để cho rắn độc cắn mà tự tử.

[17] Annibal, tướng Carthage, đem quân qua đánh La mã tới đâu thắng đó, chiếm được Capoue, gặp mùa đông, tạm đóng quân lại. Theo truyền thuyết quân lính của ông vui thú mấy tháng tại Capoue, mà mất nhuệ khí. Nhưng truyền thuyết không nói rằng phụ nữ La Mã lại Capoue để quyến rũ họ.

[18] Một trưởng lão Do Thái sẵn lòng hy sinh con là Isac cho Chúa. Sắp giết con thì một vị thiên thần cản lại, vì Chúa chỉ muốn thử lòng ông thôi.

[19] Điển lấy trong một bài ngụ ngôn của La Fontaine. Con chồn thấy dàn nho muốn leo lên ăn, nhưng không được, bỏ đi, chê là nho xanh, không thèm.

« Lùi
Tiến »