Vốn là một người yêu mùa hạ vô bờ bến, thế nên đây là lần đầu tiên tôi có ý nghĩ “thật tàn nhẫn” khi nhìn lên vầng mặt trời màu bơ đang sôi lục bục giữa bầu trời màu cô-ban xanh thẳm. Thực ra thì, hôm nay không hẳn là một ngày hè mà là “quãng thời gian nắng ráo giữa mùa mưa”, nhưng mặt trời vẫn giáng xuống mặt đất những tia nắng nhức nhối như giữa mùa hè.
Bên trong chiếc áo thun, mồ hôi từ ngực nhỏ xuống bụng tôi ròng ròng. Tôi đang ngả rạp thân mình về phía trước, đè trọng lượng cơ thể lên tay lái để dắt chiếc xe máy đi.
Tóc mái tôi dính bết vào nhau bởi những giọt mồ hôi to đùng trên trán.
Những giọt mồ hôi cũng rơi xuống từ cằm, tạo thành đám nước nhỏ trên chiếc bình xăng đỏ mà tôi rất ưng bụng.
Đột nhiên chiếc xe tải tiến tới phía sau lưng tôi bật còi xe đinh tai nhức óc - loại còi đã được “độ” lại trái phép - rồi đi vượt qua tôi. Bị bao vây bởi màn khí thải đen xì từ chiếc xe tải nọ, tôi suýt thì ho sặc sụa.
“Đồ chết tiệt!” Tôi lầm bầm chửi thề trút bực.
Chiếc xe máy tôi đang cố công đẩy là một chiếc GB250 Clubman. Dòng xe xi-lanh đơn cổ điển của Honda, năm ngoái tôi đã phải làm thêm miệt mài mới tậu được một chiếc đồ cũ. Bình xăng thuôn thuôn màu đỏ thuần của nó thật đẹp, mỗi lần ngắm tôi lại muốn vuốt ve. Xe chạy không quá hao xăng, cũng không cần kiểm tra bảo dưỡng nhiều nên rất hoàn hảo với một gã sinh viên nghèo như tôi.
Nhưng là khi nó chạy đàng hoàng …
Sáng nay, để giải tỏa những phiền muộn khi đi xin việc không được như ý, tôi đã một mình lên đường đi chơi - một việc đã lâu lắm rồi tôi không làm. Trên bán đảo trong những ngày nắng ráo giữa mùa mưa này, biển, núi và những cơn gió đều sáng lấp lánh đầy tươi mới. Xui rủi là do mải mê ngắm cảnh, tôi quên không đổ thêm xăng, cứ thế chạy xe đi mãi, cuối cùng khi tới trước con dốc dài trên đường quốc lộ dọc theo bờ biển, chiếc xe cạn xăng.
Vốn dĩ khi gần cạn xăng, chỉ cần vặn van xăng sang chế độ “dự trữ” thì xe vẫn sẽ chạy được với số nhiên liệu ít ỏi sót lại trong bình, nhưng hôm nay không hiểu sao tôi để van xăng ở chế độ “dự trữ” mà cứ thế chạy đi, kết cục đã hết sạch xăng không sót lại giọt nào.
Nhìn trước nhìn sau chẳng thấy nhà dân. Cũng không có cửa hàng nào. Nghĩa là tôi sẽ không thể nhờ ai giúp đỡ được.
Bốn năm đi xe máy, đầy là lần đầu tiên tôi thảm hại như vậy.
Vì lẽ đó, tôi lâm vào cảnh phải đổ mồ hôi ròng ròng để dắt chiếc xe máy cỡ trung nặng trịch, lần đầu tiên tôi dùng cơ thể mình để cảm nhận sức nặng của con xế yêu.
Ngoài ra, tôi còn nhận ra thêm một quy luật của cuộc đời.
Đó là… HỌA VÔ ĐƠN CHÍ
Thấy tôi dắt xe máy thở hổn hển, ông trời vẫn ban thêm thử thách cho tôi. Thử thách đó chính là chuyện ấy. Nói một cách đơn giản để một con bò cũng có thể hiểu thì là tôi đang muốn đi nhà vệ sinh đến phát điên lên được. Nếu chỉ là tiểu tiện, tôi có thể tận dụng đặc quyền của nam giới để tìm bừa một chỗ nào đó quanh đây mà hành sự, nhưng đúng lúc này tôi lại muốn “đi nặng”, thật muốn ngửa mặt lên trời mà oán thán.
Đẩy một chiếc xe máy cỡ trung lên trên con dốc quả là một công việc nặng nhọc, nếu không gắng sức sẽ không thể tiến về phía trước. Nhưng nếu gắng sức quá thì e mông tôi sẽ không-giữ-được-thứ-cần-giữ mất. Nghĩa là tôi đang bị ép phải đi trên một chiếc dây thừng giữa không trung. Một nửa số mồ hôi đang chảy ròng ròng như thác nước trên người tôi là mồ hôi lạnh.
Không thể nhầm lẫn được. Khoảnh khắc này, tôi là người đàn ông xui xẻo nhất trên bán đảo này. Mà không, không biết nên nói thời điểm của vận mệnh không tốt, hay bản thân vận mệnh đó không tốt nữa… Tóm lại, trong đầu vừa nghiêm túc nghĩ một chuyện thật vớ vẩn rằng giá mà có thể đóng thật chặt chiếc van mông lại như van của bình xăng xe thì tốt biết mấy, tôi vừa gắng hết sức - theo rất nhiều nghĩa - để leo lên con dốc, một người đàn ông đáng thương thế đấy.
❀ ❀ ❀
Cuối cùng, khi đã lên tới đỉnh dốc, tôi lại chui vào một đường hầm vừa dài, vừa tối, vừa hẹp tới mức xe tôi và một chiếc xe tải lớn không thể nào đi tránh nhau được. Trong đường hầm đầy khí thải của xe cộ, khiến tôi muốn ngưng thở. Để an toàn, tôi bật hệ thống đánh lửa, bật đèn sau xe, cố gắng dắt xe đi thật nhanh trong bóng tối với hơi thở nông nhất có thể. Thế nhưng, khi đi tới khoảng giữa đường hầm, một loạt tiếng động lớn từ phía sau lưng tôi mỗi lúc một lại gần. Lại một chiếc xe tải lớn nữa.
“Papapapaaann!”
Chiếc xe tải chạy lướt qua tôi với khoảng cách suýt soát, chỉ còn vài cm nữa là đâm vào chiếc xe máy tôi đang dắt.
Gã lái xe chắc chắn đã cố tình làm thế đây mà.
“Đồ cứt đái!” Tôi tức giận quát lên, rồi lập tức hối hận.
Bởi tôi nhận ra giây phút này, chính tôi mới là kẻ gần với cứt đái nhất, tôi thấy mình thật thảm hại.
Rồi cũng ra khỏi đường hầm đầy khói, tôi cảm thấy thật biết ơn bầu không khí bình thường. Tôi tạm dừng bước, lấy mu bàn tay lau mồ hôi trên trán, khẽ thở phù một tiếng. Đúng lúc đó, một tấm biển có vẻ được đóng thủ công đặt bên con đường đi bộ chợt lọt vào mắt tôi. Gọi là biển hiệu nhưng nó chỉ là một cây gậy gỗ trắng nhỏ, vuông vức cắm trên mặt đất.
Cà phê ngon và âm nhạc hay ~ Tiệm cà phê Mũi Đá. Rẽ trái ở đây
Một biển hiệu được cắm ở cửa đường hầm như thế này có lẽ không được nhiều người trông thấy, nếu có thấy họ cũng không thể đột ngột rẽ trái được…
“Chắc chắn không thể kịp được.”
Tôi thầm thì với ý rằng những khách đi đường khác sẽ không kịp bẻ lái, nhưng vì tôi cũng có vẻ không kịp tới nơi để xử lý bụng dạ mình, nên tôi vội vàng dắt xe theo chỉ dẫn trên tấm biển. Dẫu sao tôi cũng phải dùng nhờ nhà vệ sinh trong tiệm cà phê tên Mũi Đá gì gì đó. Cổ họng tôi đang khát khô, đi vệ sinh xong tôi sẽ uống ực một hơi cốc cà phê đá.
Theo lời chỉ dẫn từ tấm biển, tôi rẽ trái trên đường quốc lộ, trước mặt là con đường trải đá dăm. Gọi là “đường” nhưng thực ra chỉ có hai lằn bánh xe trên khu đất hoang đầy cỏ dại kéo dài như đường ray tàu hỏa mà thôi.
Một nơi như thế này thực sự sẽ có một tiệm cà phê ư?
Tuy trong lòng hơi bất an nhưng tôi vẫn hì hục đẩy chiếc xe. Nếu phía trước không có cửa tiệm nào cả… Mà thôi, có lẽ như vậy cũng tiện. Tôi sẽ có thể dùng tới kế sách cuối cùng - ấy là “nhà vệ sinh lộ thiên”.
Đi được một đoạn, mảnh đất liền trước mắt đột nhiên biến mất, khung cảnh mở rộng ngút ngàn. Biển đang trải rộng phía dưới. Khi nãy tôi đã cắm cúi leo lên một con dốc rất dài, giờ thì hình như tôi đang đứng trên một vách đá.
Từ trên nhìn xuống, biển hoàn toàn tĩnh lặng, nhìn như một miếng thạch màu xanh thẫm. Trên không, vài con đại bàng đang chậm rãi lượn thành hình vòng tròn, không phát ra tiếng động. Nhìn sang phía bên kia mặt biển, con phố phía bên kia bờ biển hiện lên với cái bóng mờ nhạt.
Cơn gió biển mềm mại như miếng bông cotton đã quen thuộc với da thịt, trêu đùa phần gáy ướt đẫm mồ hôi của tôi.
Vừa dắt xe tôi vừa hít thở sâu bầu không khí mang theo mùi nước biển.
Tôi rẽ trái theo vết bánh xe trên đường, cuối cùng thì tới được đỉnh đầu của một mũi đá nhỏ. Phía trước nó là vách đá dựng đứng, không đi tiếp được nữa. Tôi dừng xe máy ở một khoảng đất trông không có cỏ mọc, dựng chân chống xe xuống. Và rồi tôi khẽ thì thầm trong lồng ngực.
Đúng là có thật, một tiệm cà phê ở một nơi như thế này…
Thật đáng kinh ngạc, ở đỉnh đầu của mũi đá thậm chí không có cả một con đường đi vào tử tế này lại mọc lên một ngôi nhà nhỏ có vẻ được xây thủ công, sơn xanh. Bên trên cửa sổ của ngôi nhà nhỏ có mắc một tấm ván dường như làm bằng gỗ lũa đã bạc màu vì mưa gió, trên đó có dòng chữ viết bằng mực để “Tiệm cà phê Mũi Đá”.
Tôi nhanh chóng bước về phía cửa ra vào của tiệm.
Đúng lúc đó, tôi cảm nhận được một ánh mắt từ phía tay phải mình.
Ngoảnh đầu sang, ánh mắt tôi chạm phải ánh mắt một người đàn ông to lớn để râu lởm chởm. Phía bên phải ngay cạnh tiệm cà phê Mũi Đá là một tòa nhà đang xây dở, mới chỉ có móng và cột, người đàn ông to lớn đang đứng dựa vào cây cột đó. Chú ấy ngậm điếu thuốc đã hút gần hết ở một bên mép, khoanh chặt đôi cánh tay lực lưỡng, chăm chú nhìn tôi. Chiếc áo ba lỗ trắng chú mặc đã đổ đầy mồ hôi, lúc này đang dính vào thân trên, khắc họa cơ bắp gồ lên trên cơ thể. Trên hai vai chú ấy có xăm hình xăm với họa tiết gì đó. Đầu húi cua, cằm vuông vức. Gương mặt và cánh tay rám nắng, chú ấy trông thật giống những tuyển thủ đô vật chuyên nghiệp, nhưng với dung mạo này thì hẳn là vai phản diện rồi.
“A, chào… chào chú.” Thấy khó xử nên tôi quyết định cất tiếng chào trước. “Cháu muốn dùng nhờ nhà vệ sinh ạ.”
Người đàn ông vẫn ngậm điếu thuốc trên môi, chỉ “ừ” một tiếng, chiếc cằm vuông vức của chú ta hất chỉ phía sau tiệm cà phê Mũi Đá.
“À… Là đằng kia, phải không ạ? Cảm ơn chú.”
Tôi khẽ cúi đầu chào rồi bước về phía được chỉ, trong lúc vẫn cảm thấy ánh nhìn đáng sợ của ông chú phía sau lưng mình.
Phía sau tiệm cà phê là một mảnh đất nghiêng thoai thoải mọc đầy thông. Trên khoảng đất bằng chật hẹp phía trước nó có một ngôi nhà nhỏ sơn cùng màu xanh da trời với tiệm, đó chính là nhà vệ sinh. Nhà vệ sinh này nhìn thô mộc như thể được một người thợ nghiệp dư làm nên, nhưng bên trong sạch sẽ không ngờ, bó oải hương khô được treo lủng lẳng từ khung cửa sổ kính mờ của nhà vệ sinh tỏa ra mùi hương nhẹ nhàng.
Tôi vội vã tụt quần, ngồi lên bệ bồn cầu, hít thật sâu hương oải hương, rồi… Phù, tôi thở dài một hơi đầy cảm giác giải phóng.
Tôi đã thoát nạn trong tích tắc.
Tạm thời, tôi đã được cứu khỏi một thế nguy nan.
Vừa chìm đắm trong dư ầm của cảm giác được giải phóng, tôi vừa chậm rãi ra khỏi nhà vệ sinh.
Đúng lúc đó…
“Ối!”
Tôi suýt thì nhảy dựng lên.
Bởi dưới chân tôi có một chú chó.
Đó là một chú chó lai màu trắng, mà có lẽ một trong những tổ tiên của chú là giống chó Shiba, cổ chú chó đeo một chiếc vòng màu đỏ. Cu cậu ngồi rất gọn gàng, gương mặt vui vẻ ngước lên nhìn tôi. Có vẻ cậu chàng đang ngồi đợi tôi bước ra từ nhà vệ sinh.
“Trời đất, đừng có dọa tao như vậy chứ. Chú mày là chó của tiệm cà phê này hả?”
Tôi nhỏ giọng bắt chuyện, chú chó quay mông về phía tôi, bắt đầu tập tễnh bước đi. Bước đi của chú thật kỳ cục, như thể bị bỏ sót mất một nhịp bước vậy. Nhìn kỹ, tôi nhận ra chú bị khuyết cẳng chân phải phía trước. Phần đó tương đương với cẳng chân phía dưới đầu gối của con người.
Đi được một đoạn, chú chó trắng quay đầu lại, kiểm tra động thái của tôi. Tôi bèn đi theo phía sau, thấy vậy chú có vẻ yên tâm bước tiếp. Giống như chú đang nói “Phía này, phía này” vậy. Kết cục, chú chó trắng đã dẫn tôi tới cửa tiệm cà phê Mũi Đá.
Đứng trước cánh cửa được sơn xanh đầy vẻ thủ công, tôi đưa tay nắm lấy nắm cửa trơn trơn được làm từ gỗ lũa tự nhiên rồi chậm rãi kéo cửa về phía mình. Chuông cửa vang lên tiếng “lộc cộc” ngọt ngào. Ngay lập tức, mùi hương cà phê ấm áp cùng luồng hơi lạnh từ máy điều hòa tràn tới.
“Chào mừng quý khách.”
Tiếng một phụ nữ trưởng thành và hơi khàn khàn vang lên.
Nhìn quanh, tôi thấy một bà lão ngồi trên chiếc ghế tròn đặt nơi lối vào nhà bếp. Mái tóc bạc ngắn được bà nhuộm thành màu nâu nhạt, bờ lưng mảnh dẻ của bà giương lên như một cây cung, tuổi bà chừng sáu mươi lăm. Đôi môi đỏ rực của bà thật ấn tượng.
“Mời cháu ngồi chỗ nào cháu thích.”
Bà nở một nụ cười quý phái rồi lặng lẽ đứng lên khỏi ghế. Rồi bà nói với chú chó đang ngồi dưới chân tôi: “Cảm ơn mày nhé Kotarou.” Như thể hiểu rõ tiếng nói của con người, chú chó Kotarou quay tròn một vòng sang bên phải rồi tự mình đẩy cửa bước ra khỏi tiệm, rồi biến mất sau hàng hiên đầy nắng.
Tôi nhìn không gian bên trong tiệm một lần nữa. Gọi là tìm “chỗ mình thích”, nhưng trong tiệm chỉ có hai chiếc bàn nhỏ.
Bộ bàn ghế cũ, chiếc xà ngang trên trần nhà, khung cửa sổ, chiếc kệ sâu bên trong đựng đầy đĩa CD và đĩa than, và cả ván lót sàn nữa, nhìn đâu cũng có vẻ như là đồ làm thủ công. Nhìn kỹ còn thấy khe hở ở phần chôn chân cột, ván lót sàn hơi lung lay, những vết đinh đóng trên tường cũng không được che đi. Nhìn thế nào cũng không giống một ngôi nhà được thợ chuyên nghiệp cẩn thận tạo nên. Nhưng không hiểu sao sự lỏng tay khi xây dựng này lại tạo nên phong vị riêng cho tiệm, khiến khách tới tiệm cảm thấy nơi đây thật gần gũi, thân thuộc.
Những món đồ trang trí và các loại đồ dùng cổ của nước ngoài bày biện tùy ý bên trong cửa hàng chẳng ăn nhập gì với nhau. Nhưng mỗi món đều có cá tính riêng biệt, chúng khiến tôi có một cảm giác háo hức và yên bình khó tả, giống như khi bước vào cửa tiệm đồ cổ đầu tiên của khu phố nơi mình sống vậy.
Trên bức tường gỗ mộc mạc, chiếc đồng hồ quả lắc màu nâu gụ đang đung đưa con lắc bên trong, bên cạnh chiếc ghế tròn bà lão ngồi khi nãy có dựng một lò sưởi củi đốt màu đen đã điểm vài vết mốc. Từ lò sưởi củi mọc lên một ống khói tráng thiếc, có lẽ tới mùa đông thì lò sưởi củi này sẽ được thực sự dùng tới.
Đương nhiên trong tiệm chỉ có mình tôi là khách.
Tôi ngồi xuống chiếc bàn trước mặt.
“Hôm nay trời nắng đẹp mà không thấy núi Phú Sĩ nhỉ?”
Đặt tờ thực đơn được viết bằng bút lông trên giấy Nhật cùng một cốc nước đá bằng thủy tinh xanh xuống trước mặt tôi, bà lão lơ đãng nhìn khung cửa sổ gỗ, nói.
Nghe bà nói, tôi cũng hướng ánh mắt về phía cửa sổ… Và rồi tôi lặng người đi.
Phong cảnh bên ngoài đẹp như một bức tranh tuyệt mỹ. Sắc xanh của biển và bầu trời, vùng cỏ mọc trước mắt, và bóng của khu phố phía bờ biển bên kia được đóng khung nhờ khung cửa sổ này, tạo thành một bố cục đẹp vô cùng.
“Ngày thường sẽ nhìn thấy núi Phú Sĩ hả bà?” Tôi hỏi.
“Tùy điều kiện thời tiết, có những hôm nhìn thấy rõ lắm. Hôm nay trời nắng ráo, nhưng vì đang là mùa mưa nên chắc độ ẩm cao, không thấy được.”
Chà. Hóa ra là thế.
“Dù không nhìn thấy núi Phú Sĩ thì phong cảnh này cũng đủ đẹp rồi ạ.”
Tôi nói suy nghĩ thật trong lòng mình, bà lão cười nói “Cảm ơn cháu” như thể chính bà được khen vậy. Thời trẻ có lẽ bà đẹp lắm… Vừa nghĩ vậy, tôi vừa uống cạn cốc nước rồi gọi cà phê đá.
“Cháu thích loại nhạc nào?”
“Gì cơ ạ?”
“Ở tiệm này, khi chỉ có một vị khách, bà sẽ thực hiện cả yêu cầu về nhạc nền của khách nữa.”
Thú thực, tôi không biết nhiều về âm nhạc. Tôi chỉ biết các ca khúc đang nổi để đi hát karaoke, thế nên tôi hơi luống cuống, vội đưa mắt nhìn về kệ đựng đầy CD dựng bên tường.
“Dạ…”
Nhưng trên đĩa chỉ có tên của các nghệ sĩ viết thành hàng ngang, tôi chẳng biết ai trong số đó.
“Cháu là sinh viên à?”
“Dạ…”
“Nếu được thì để bà chọn nhạc giúp cháu nhé?”
“A, dạ vâng, nhờ bà ạ.”
Bà lão lui vào gian bếp phía sâu bên trong tiệm, một lúc sau, từ chiếc loa hiệu BOSE gắn trên tường, một ca khúc của nhóm The Beach Boys phát ra với âm lượng dễ chịu. Tên ca khúc là “Surfin’ Safari”. Bài hát này thì tôi cũng biết. Nói đúng hơn, tôi biết bởi đây là ca khúc mà cô bạn gái cũ - hay chơi lướt ván và đã chủ động chia tay tôi năm ngoái - thường hay nghe.
Một lúc sau, tách cà phê đá được bưng ra. Tôi cho một ít sữa và si-rô gomme [8] vào tách cà phê rồi đưa ống hút lên miệng. Và rồi tôi thốt lên một tiếng, mắt nhìn về phía bà lão. Bởi tách cà phê ngon đến mức kinh ngạc.
Bà lão ngồi xuống chiếc ghế tròn với tư thế cổ vươn cao như những vũ công ba lê, mắt ngắm nhìn khung cảnh ngoài cửa sổ.
Hay là vì khát quá nên tôi mới thấy tách cà phê ngon đến thế? Nghĩ vậy, tôi hút lấy dòng nước hơi đăng đắng ấy một lần nữa, bình tĩnh nếm thử hương vị của nó.
Quả nhiên vẫn thơm ngon như cũ.
Vị “ngọt” của cà phê nồng đậm, không hề có vị đắng chát thiêu đốt lưỡi và cổ họng, ngụm cà phê trôi tuột xuống thực quản của tôi.
Tôi nhìn bà lão một lần nữa, lần này ánh mắt chúng tôi giao nhau. Bà khẽ nghiêng đầu như muốn hỏi “Cháu có gì muốn nói à?”
“Bà ơi, tách cà phê này ngon quá.”
Bà lão lim dim mắt. Khi bà cười, gương mặt bà trở nên thật thân thiện, dễ gần.
“Tới tuổi này bà vẫn chẳng có thứ gì để tự hào về mình, nhưng riêng việc pha cà phê ngon thì bà làm rất khá.”
Bà nói thực ra bà pha cà phê nóng còn ngon hơn, nên tôi liền gọi thêm món tủ của tiệm - món Mũi Đá hỗn hợp.
Và hương vị của nó cũng thơm ngon hơn hẳn bình thường.
“Đúng thật. Ngon quá bà ạ.”
“Thật vui vì cháu thích. Cảm ơn cháu.”
Bản thân chiếc tách cũng thật đẹp. Trên nền màu chàm, những hoa văn trắng hình ngôi sao và hình tròn điểm xuyết đây đó, kiểu thiết kế khiến người ta nghĩ đến một bầu trời đêm rất đẹp. Phần quai khá lớn và dễ cầm, có hình vòng cung và mang màu cầu vồng.
“Chiếc tách này đẹp quá. Cầu vồng bắc ngang qua bầu trời đêm, thật giống cầu vồng đêm ở Hawaii.”
Nghe vậy, bà lão cười khúc khích.
“Bà cũng thích chiếc tách này lắm. Đây là tác phẩm do một vị khách khá lâu trước đây của tiệm tự nặn ra, nung rồi gửi tặng. Tên chiếc tách này là Bờ biển đấy.”
“Ơ, sao lại gọi là bờ biển ạ?”
“Những đốm trắng này không phải ngôi sao mà là vỏ sò và con sao biển. Phần màu chàm chính là biển đó.”
“Ồ, hóa ra là như vậy…”
Đúng là cũng có thể nhìn ra như vậy… Nhưng đối với tôi thì hình ảnh bầu trời sao phù hợp hơn.
Tôi chuyển chủ đề câu chuyện về cà phê như cũ.
“Bà làm thế nào để pha được cốc cà phê ngon như thế này ạ?”
Tôi hỏi thẳng, bà lão cười vẻ tinh nghịch hỏi lại “Đây là bí mật doanh nghiệp đấy, cháu vẫn muốn biết ư?”
“Vâng. Cháu muốn biết ạ.”
“Vậy bà sẽ bảo cháu.” Bà lão lim dim mắt, đôi môi cử động. “Trong thời gian pha một tách cà phê, cháu phải chuyên tâm cẩu nguyện rằng ‘Hãy trở nên thật ngon, hãy trở nên thật ngon.’ Khi làm vậy, tách cà phê cháu pha sẽ ngon một cách đáng ngạc nhiên đấy.”
“Ha ha ha, thật ạ?”
Bị bà lão trêu, tôi bật cười vui vẻ.
“Cháu cười đó à, nhưng điều này là thật đấy. Nếu cháu nghĩ bà nói dối, cháu có muốn thử một tách cà phê được pha với lời cầu nguyện ‘Hãy trở nên thật dở, hãy trở nên thật dở’ không?”
“À thôi, cháu không muốn thử món đó đâu.” Tôi vừa cười vừa lắc đầu.
“Như vậy tốt hơn cho cháu đấy. Nếu uống, chắc chắn cháu sẽ bị đau bụng.”
Bà lão cũng cười.
Sau đó, tôi và bà lão - người đã sống lâu chắc gấp ba lần tôi - vui vẻ nói đủ thứ chuyện vô thưởng vô phạt trên đời.
Bà lão tên Kashiwagi Etsuko, tuổi của bà cũng là một “bí mật doanh nghiệp”.
Tôi xưng tên của mình. “Cháu là Imaizumi Ken ạ. Bạn bè thường gọi cháu là Imaken.”
“Ồ, cháu đẹp trai như vậy mà lại gọi là Imaken nhỉ [9] .”
Bà có vẻ thích những câu đùa vụng về và những lời nghe hơi thảo mai thế này.
Tôi ngạc nhiên khi biết bà Etsuko sống một mình, bà dùng hai căn phòng nhỏ phía bên trong bếp và căn gác xép bên trên hai căn phòng đó.
Bà sống một mình ở nơi mũi đá xa xôi bất tiện này không thấy cô đơn sao? Tuy việc này không liên quan đến tôi nhưng tôi vẫn thấy lo lắng. Dù vậy, tôi không có dũng khí nói ra miệng, đành nuốt ý nghĩ ấy xuống. Thay vào đó, tôi nói một câu không phải câu khen nịnh mà là một lời tán dương thật lòng:
“Nơi đây có thể nhìn xuống biển từ cửa sổ, thích thật bà nhỉ.”
Bà Etsuko khẽ gật đầu.
“Đúng là rất thích. Biển luôn thay đổi biểu cảm của nó nên người ngắm chẳng bao giờ biết chán. Vả lại, bên dưới vách đá kia có vẻ là một điểm câu cá, khách quen của tiệm rất hay câu được cá to và mang tới tặng bà.”
“Trời, thích thế. Ở đây câu được cá gì hả bà?”
“Ví dụ như cá tráp, cá mù làn xương màu nâu. Tùy theo mùa và theo thủy triều, nói chung nhiều loại lắm.”
“Bà cũng đi câu ạ?”
“Bà không xuống được vách núi nên chỉ chuyên ăn thôi.”
Bà Etsuko nói rồi cười, đúng lúc đó, chiếc loa BOSE phát ra bài hát “Girls on the beach (Những cô gái trên bờ biển)”. Trong số các ca khúc của The Beach Boy, tôi thích ca khúc này nhất.
“A, bài hát này…”
“Cháu biết bài này à?”
“Vâng. Cháu khá là thích nó. Khi nghe, cảm giác tâm trạng mình rất nhẹ nhõm, dễ chịu, khiến cháu thấy lạc quan hơn. Thực ra bài hát này là do bạn gái cũ giới thiệu cho cháu.”
Bà Etsuko vừa rót thêm nước lạnh vừa cười với vẻ lém lỉnh, rồi bà nói một câu đắng ngắt: “Từ xưa, mùa hè, tình yêu và ca khúc Girls on the beach đã luôn đi cùng nhau rồi.”
“Ồ… Là thế ạ?”
“Ừ. Vì nó rất phù hợp làm nhạc nền cho tình yêu mùa hè mà.”
Nếu là bình thường, hẳn người ta sẽ thấy kỳ lạ khi một người nhiều tuổi như bà Etsuko nói những câu trẻ trung đến thế, nhưng không hiểu sao khi người nói là bà thì câu nói ấy liền chẳng mang tới cảm giác kỳ cục chút nào.
Phải rồi. Nếu nhắc tới cảm giác kỳ lạ thì…
“Bà ơi, khi nãy có một người đàn ông đứng ở công trường xây dựng bên cạnh tiệm nhà mình, chú ấy đã chỉ nhà vệ sinh cho cháu.”
“À, người đó hả.” Gương mặt bà Etsuko rạng rỡ như thể có chuyện gì vui, bà kể: “Đó là cháu ruột của bà, tên là Kouji. Kouji xăm mình, nói năng lại thô lỗ, trông đáng sợ lắm phải không cháu?”
Câu duy nhất người đàn ông tên Kouji đó nói với tôi là “ừ”, tôi nghĩ nếu trả lời “Vâng, rất đáng sợ” thì không đúng lắm, vì thế tôi chỉ cười cười mập mờ cho qua chuyện, đúng kiểu người Nhật thường làm.
“Trông thế thôi nhưng thằng bé là một người tốt bụng lắm.”
Dù được gọi là “thằng bé” nhưng chú ấy cũng đã bốn mươi mốt tuổi, công việc chính là thợ sơn nhà. Bà Etsuko bảo chú Kouji đang tự xây một quán bar nhỏ có thể chơi nhạc sống bên cạnh tiệm cà phê Mũi Đá.
Kotarou - chú chó dẫn đường cho tôi - năm năm trước nằm bên vệ đường trong tình trạng bị xe cán mất một bên chân, bà Etsuko đã mang chú chó tới bệnh viện thú y để cứu sống nó, từ đó cậu chàng sống cùng bà luôn. Bà kể Kotarou là “chú chó hướng dẫn” chuyên đưa khách tới tận cửa tiệm, cậu chàng cũng rất được mọi người yêu quý với vai trò này. Người đã xây một căn nhà nhỏ cho chó ngoài hiên chính là chú Kouji, cậu chó Kotarou mỗi ngày đều được ngắm hoàng hôn trên mũi đá này từ căn nhà nhỏ đó.
Nhân tiện, mũi đá này không có tên. Vì thế bà Etsuko đặt tên tiệm đơn giản là “Tiệm cà phê Mũi Đá”.
“Khách quen của tiệm rất hứng thú với tiệm, họ thường tập trung lại để sang sửa tiệm. Thế nên hình dáng ban đầu của tiệm hầu như không còn nữa.”
“Ồ. Cửa tiệm của bà kỳ lạ thật đấy.”
“Mỗi năm hình dáng của nó lại khác, địa điểm cũng dịch chuyển một chút.”
“Cảm giác như cửa tiệm của bà đang ‘sống’ ấy bà nhỉ?”
“Ừ. Nó có lẽ đang ‘sống’ nhờ tất cả mọi người quan tâm tới nó…”
Bà Etsuko nhìn quanh tiệm với ánh mắt như đang nhìn một thứ mình vô cùng yêu thương.
“Bức tranh kia cũng là tác phẩm của một vị khách quen à bà?”
Tôi chỉ hai bức tranh màu nước tuyệt đẹp treo trên tường. Bố cục tranh giống hệt nhau, cả hai chắc chắn đểu là cảnh hoảng hôn nhìn từ mũi đá này. Nhưng nét vẽ của hai bức hoàn toàn khác nhau.
Bức tranh bên phải vẽ bầu trời màu mứt cam đậm, mặt biển tỏa sáng màu đỏ cam, bờ biển bên kia và núi Phú Sĩ được vẽ thành bóng đen. Nét vẽ rất mạnh mẽ, nam tính. Bức tranh sống động tới mức phong cảnh bên trong như sắp nhào ra khỏi khung tranh, khiến người ngắm cảm thấy một luồng sinh lực mạnh mẽ trào dâng bên trong mình.
Trái lại, bức tranh bên trái tỏa sáng lấp lánh, nét vẽ vô cùng tinh tế. Trên bầu trời hoàng hôn phảng phất cảm giác trong suốt đầy khoan khoái, mặt biển cũng được nhuộm bởi hai màu xanh dương và cam tươi mới. Bờ biển bên kia có màu xanh lá nhạt, núi Phú Sĩ tỏa ra ánh sáng màu hồng như tiên cảnh. Hơn cả, điểm khác biệt lớn nhất giữa nó và bức tranh bên phải chính là có một chiếc cầu vồng từ giữa biển vươn lên tới trời cao.
“Bức tranh bên phải là tác phẩm của một vị khách quen của tiệm. Người đó muốn trở thành họa sĩ. Thứ Hai hàng tuần, người đó luôn mang dụng cụ vẽ tới, vừa uống cà phê ngoài hiên vừa vẽ phong cảnh của mũi đá này. Giống như một người quan trắc tại một điểm cố định ấy, nhìn thú vị lắm.”
“Bức tranh thật mạnh mẽ.”
“Ừ. Dù người vẽ nên nó không phải kiểu người mạnh mẽ chút nào.”
Tôi hình dung ra một ông chú râu ria lởm chởm ngồi ngoài hiên miệt mài mài cọ lên giấy vẽ.
“Còn bức tranh cầu vồng bên trái là tác phẩm của ai ạ?”
“Bức này ư..Nói tôi đó, ánh mắt bà Etsuko bỗng trở nên xa xăm. “Bức tranh này… ừm… có thể coi nó là bức tranh do chủ nhân của tiệm cà phê này vẽ nên.”
Bà Etsuko ngắm bức tranh, nói một câu đầy ý vị sâu xa.
“Ơ, chủ nhân…? Chủ nhân của tiệm này không phải là bà sao ạ?”
“Cháu thấy đấy, cửa tiệm này đang ‘sống’ mà.”
Bà Etsuko nói rồi nở nụ cười lém lỉnh giống khi nãy, đúng lúc đó, một chiếc ô tô hạng nhẹ màu vàng dừng lại bên ngoài cửa sổ tiệm.
“Ồ, thấy xe mới nhớ hôm nay vừa đúng là thứ Hai. Người vẽ bức tranh bên phải đến rồi đấy cháu.”
Người bước xuống khỏi chiếc xe đó không phải một ông chú râu ria lởm chởm. Thật bất ngờ, đó là một cô gái trẻ và nhỏ nhắn. Cô ấy mặc chiếc áo thun màu xanh cốm, quần jeans dài tới đầu gối, chân đi giày thể thao trắng. Mái tóc đen được buộc đơn giản thành một túm phía sau. Cô gái đeo cặp kính có gọng màu đất sét. Lúc cúi xuống định lấy đồ đạc từ ghế sau xuống, Kotarou phi từ trong ra, nhảy choi choi lên lưng cô ấy. Cô gái ngạc nhiên ngoảnh lại phía Kotarou, đoạn cô ấy ngồi xuống, ôm và vuốt ve cổ chú chó.
Bầu trời xanh và mặt biển lấp lánh, màu xanh lá mơn mởn của cỏ cây, cô gái trẻ muốn trở thành họa sĩ và chú chó trắng… Khung cảnh nhìn từ khung cửa sổ ấy đẹp tựa một bức tranh, đến mức tưởng chừng tất cả đều không thực. Tôi lơ đãng ngắm nhìn cảnh ấy như đang xem thước phim không tiếng động trong giấc mơ của mình vậy.
“Ô kìa, yêu từ cái nhìn đầu tiên đấy à?”
Đột nhiên nghe thấy tiếng bà Etsuko bên cạnh, tôi giật mình, mông nảy lên khỏi ghế dễ phải đến năm xen-ti-mét.
❀ ❀ ❀
Sau hôm đó, trời đổ mưa dai dẳng.
Quần đảo Nhật Bản nằm trọn trong vùng mưa, dùng đòn bẩy cũng không suy suyển được.
Tôi đã hoàn thành đợt thi đầu của ở trường - ngôi trường được gọi là trường đại học hạng hai, có khi hạng ba không chừng - và đang đón kỳ nghỉ hè cuối cùng của đời sinh viên. Kỳ nghỉ hè của trường đại học tuy dài, nhưng cuốn sổ tay gáy xoắn của tôi trong thời gian này đen kịt chữ. Bởi trong đó chứa đầy lịch phỏng vấn xin việc và lịch hội thảo.
Những thằng bạn nhận được thư mời làm việc từ công ty nguyện vọng của mình đã bắt đầu ăn nhậu bạt mạng với khí thế thổi bay cả mùa mưa dài dằng dặc này. Chúng kể lể đủ thứ, nào là chuyến du lịch đảo Saipan, nào là cả câu lạc bộ của chúng tụ tập lại sinh hoạt, rồi khoe bạn gái, khoe chiến tích tán tỉnh, hồn nhiên như tụi trẻ con. Rồi chúng ăn uống no say để ăn mừng tự do của mình.
Mặt khác, chúng dần mang vẻ mặt vênh váo như thể chúng là những người trưởng thành ưu tú, và bắt đầu cẩn thận giữ khoảng cách với tôi.
Thật không phải nếu tụi tao làm phiền trong quãng thời gian Imaken xin việc như vậy…
Và rồi, bóng dáng mọi người dần mờ nhạt khỏi phạm vi tay tôi có thể với tới. Bỗng nhiên bị cô lập về mặt tinh thần, không lâu sau tôi bắt đầu tìm thấy niềm vui ngọt ngào méo mó trong sự tự ngược đãi bản thân, thế là tôi chìm nghỉm vào đó. Tôi làm bạn với thứ văn học kinh điển vừa cổ, vừa nặng nề và đẹp của Dazai [10] , Camus [11] và Kaiko [12] , tâm trạng tôi ngày càng u ám hơn. Có lẽ đây chính là cách con người ta rơi vào trầm cảm - từng có lúc tôi nghĩ như vậy.
Hôm nay tôi tới phỏng vấn ở một nhà xuất bản nhỏ có vẻ không có ước mơ cũng không có triển vọng gì trong tương lai nằm ở tầng một của một tòa chung cư hỗn hợp nhà ở - văn phòng.
Tổ phỏng vấn gồm một ông chú mặt trông gian gian với chỏm râu bên dưới mũi, mắt đeo cặp kính gọng đồi mồi, và một cô tuổi sồn sồn mặt không trang điểm, có ánh mắt mạnh mẽ. Nơi phỏng vấn không phải là phòng phỏng vấn, tôi được đưa vào một góc nhỏ được tách biệt với xung quanh bởi lớp vách ngăn, ứng viên ngồi đối diện với hai người phỏng vấn qua chiếc bàn họp nhỏ xíu - đại khái thì nó cũng không khác buổi phỏng vấn tuyển nhân viên làm thêm của một tiệm ăn gia đình là mấy.
Người mở miệng đầu tiên là cô sồn sồn có ánh mắt ghê gớm đó.
“Tại sao cậu muốn đến công ty chúng tôi làm việc?”
Tới rồi! Mở đầu liền hỏi động cơ ứng tuyển ngay. Đây là câu hỏi mà tôi đã học rất kỹ trong cuốn cẩm nang phỏng vấn và trên mạng.
“Dạ. Từ nhỏ cháu đã hay đọc tác phẩm dành cho nhi đồng Bộ truyện kính lúp mà quý công ty xuất bản trong nhiều năm nay; thêm nữa, cháu rất ấn tượng với tác phẩm nổi tiếng Viết là Đập nhưng đọc là Vô ích [13] nhằm phản đối việc xây dựng đập của Nhật Bản được công ty mình xuất bản bữa trước. Cháu vốn dĩ rất quan tâm tới trạng thái chính trị và các quan chức chính phủ của đất nước ta ngày nay…”
“Ôi, thôi đủ rồi, không cần nói nữa.” Ông chú nuôi chỏm râu dưới mũi đưa hai tay ra phía trước, cắt ngang câu nói tôi đã tốn công học thuộc.
“Gì cơ ạ?”
“Nghe những chuyện đó chẳng thú vị gì cả.”
“Dạ…”
“Tôi hỏi một cách đơn giản hơn nhé, cậu đã đi phỏng vấn ở công ty xuất bản lớn nào chưa?”
Ông chú có chỏm râu dưới mũi và cô sồn sồn cùng nhìn tôi chăm chăm.
“Dạ… Dạ vâng, thời buổi này kiếm việc khó khăn nên cháu có đi phỏng vấn một số công ty để lỡ không được vào công ty mình muốn thì còn có nơi làm tạm ạ…”
“Tóm lại là có đi phỏng vấn chứ gì.” Cô sồn sồn lộ vẻ mặt chán nản. “Ở các công ty xuất bản lớn, hàng nghìn người thi tuyển mới đỗ được một người. Vậy mà cậu coi mấy công ty đó là ‘nơi làm tạm’, thật không thể tin được!”
Bị bắt bẻ cách nói giảm nói tránh rồi. Sao những người phụ trách phỏng vấn ai nấy đều xấu tính thế nhỉ?
“Xin… xin lỗi cô. Cháu có đi phỏng vấn ở một vài công ty xuất bản khác ạ.”
“Biết ngay mà. Thế đã đậu bên nào chưa?” Ông chú có chòm râu dưới mũi hỏi với ánh mắt tinh quái.
“Dạ chưa… Cháu chưa đậu bên nào cả.”
“Hẳn là thế rồi. Chẳng có bên nào muốn tuyển những kẻ nói dối đâu.”
Kẻ nói dối?
Tôi là kẻ nói dổi ư?
“Thế sao cậu muốn vào làm ở nhà xuất bản? Công việc chỗ tôi rất vất vả, phải làm ngoài giờ nhiều, lương lại thấp. Như vậy cũng được ư?”
“Dạ. Cháu muốn công việc của mình có ý nghĩa, và cháu rất thích làm công việc biên tập sách, làm ra sách ạ.”
“Công ty tôi có cả phòng kinh doanh đấy. Nếu xét hai bên thì bên phòng đó đang thiếu người hơn. Cậu có muốn làm một công việc không phải biên tập sách không?”
Tôi không muốn. Việc tôi muốn làm là biên tập sách cơ. Nhưng… Tôi ghét việc đó, nhưng điều tôi ghét hơn cả là tìm mãi không được việc. Thế nên tôi gật đầu.
“Vâng. Vì cháu nghĩ việc bán sách chắc chắn cũng mang lại niềm vui và cảm giác thành tựu.”
“Trời, cậu lại nói dối rồi.” Ông chú với chòm râu dưới mũi đẩy gọng kính đồi mồi lên cao.
“Gì cơ ạ?”
“Không phải vừa lúc nãy cậu nói cậu thích công việc làm ra những cuốn sách sao?”
“Dạ… Nhưng, nhưng mà đó không phải là nói dối… Cháu hiểu một công ty xuất bản được dựng lên từ nhiều phòng ban khác nhau, và việc nỗ lực đưa sách lên kệ của các nhà sách cũng là một việc rất quan trọng…”
Không thèm nghe tôi nói hết câu nói lúng túng như gà mắc tóc của mình, cô sồn sồn đã dội xuống đầu tôi một câu nói như một tiếng thở dài:
“Nếu chỉ biết nghe những lời đẹp đẽ đó thì các công ty xuất bản nhỏ bé yếu ớt như công ty chúng tôi sập lâu rồi. Cậu không nghĩ tới lúc này vẫn chưa được công ty nào nhận nghĩa là bản thân cậu có chỗ không ổn hay sao? Sao cậu không thử bắt đầu lại bằng cách ngừng nói dối chính mình đi?”
“…”
“Phải đấy. Nếu làm như vậy, chắc chắn cậu sẽ trở nên hấp dẫn hơn trong mắt nhà tuyển dụng. Cậu không có vẻ là người xấu, cố gắng lên nhé!”
Ông chú với chòm râu dưới mũi nặng nề đứng dậy, vỗ vỗ vai tôi bảo “Buổi phỏng vấn kết thúc. Kết quả sẽ thông báo sau!”, nói rồi chú nhanh chóng rời khỏi đó.
“Dạ, vậy…”
“Hôm nay như vậy là xong. Cậu có thể về được rồi.”
“D… dạ vâng. Cảm ơn cô ạ.”
Tôi cúi chào với góc độ đúng như sách cẩm nang hướng dẫn rồi ra khỏi công ty xuất bản đó.
Tôi bước vào chiếc thang máy cổ lỗ, ra khỏi tòa chung cư hỗn hợp xám ngắt cũ kỹ, bên ngoài trời đang mưa, một cơn mưa ấm áp. Tôi bật chiếc ô gấp lên, đi bộ trên một con đường nhỏ ở Kanda [14] , chiếc quần âu trong bộ vét đi xin việc dần thấm nước mưa, bám chặt vào đùi tôi.
Khi tôi định băng qua một con đường lớn trước ga, đúng lúc đèn giao thông chuyển sang màu đỏ. Từ chiếc ô của ông chú nhân viên văn phòng đứng bên cạnh, những giọt nước mưa lộp bộp lăn xuống, thấm ướt vai tôi.
“Ôi!” Một tiếng thở dài ủ rũ hơn cả bầu trời u uất lúc này thoát ra từ sâu thẳm bên trong tôi.
“Cậu không có vẻ là người xấu, cố gắng lên nhé.”
Câu nói mà ông chú với chòm râu dưới mũi bỏ lại trước lúc rời khỏi. Đó hẳn là thông báo trượt dưới hình thức của một lời khích lệ.
Chỉ mình tôi là kẻ nói dối thôi sao?
Không phải lúc tìm việc làm, tất cả mọi người đêu tự nói dối bản thân ít nhiều ư?
Nhớ lại ánh mắt coi thường của bà cô đó, tôi bất giác chặc lưỡi, đột nhiên ông chú nhân viên văn phòng đứng chênh chếch phía trước quay lại nhìn tôi vẻ khó hiểu.
Và rồi, ngay trước khi đèn chuyển sang xanh, một chiếc taxi đi lướt qua chỗ tôi đứng, làm vũng nước sâu trước mặt tôi văng lên tung tóe, khiến quần chúng tôi ướt sũng.
Thôi, chuyện đó chẳng còn gì quan trọng nữa…
Tôi vừa nghĩ vậy thì ông chú nhân viên văn phòng đứng chếch trước mặt tôi vừa lườm chiếc taxi đi qua vừa chặc lưỡi rõ to.
Nhìn cảnh ấy, tôi lại bất giác thở dài.
❀ ❀ ❀
Lúc đi lững thững về được tới căn phòng chung cư giá rẻ nơi tôi sống một mình, cơn mưa đã nặng hạt hơn, bên ngoài trời đã về chiều.
Tôi tháo đôi tất ướt sũng nước mưa vứt vào máy giặt, sau đó cởi bộ vét đi xin việc ra, cứ để ướt mà treo lên mắc áo y nguyên như vậy.
Tôi mặc áo thun cùng quần ngắn, mở máy tính trên chiếc bàn bừa bộn để kiểm tra hòm thư điện tử. Ngoài thư rác, có hai thư mới. Một bức là từ đàn anh của tôi, tôi có hỏi nhờ dành thời gian cho tôi tới kiến tập tại công ty anh ấy, nội dung thư là “Tuần này anh bận, tuần sau có gì anh gửi mail lại nhé.” Bức còn lại là từ phòng nhân sự của một công ty sản xuất lớn, nơi tôi tham dự phỏng vấn vòng hai vào tuần trước. Ngoài nơi này, tất cả những công ty lớn khác đều đã loại tôi từ vòng hồ sơ, nên riêng việc lọt được tới vòng hai đã là một kỳ tích rồi. Chắc đằng nào cũng bị loại thôi, nhưng tôi vẫn mở thư ra với chút ít hi vọng mong manh trong lòng.
Và rồi, hai giây sau, tôi thở dài. Nội dung thư chỉ có ba dòng. Nội dung cũng vô cùng lạnh nhạt, một bức thư mẫu được gửi cho nhiều người.
“Chúng tôi rất tiếc vì lần này chưa có duyên làm việc cùng bạn…”
Duyên là cái gì chứ. Vả lại làm gì có lần sau mà nói lần này.
Tôi đóng hộp thư lại, buồn bực kêu lên “Trời ơi là trời”, và chợt cảm thấy tiếng mưa rơi to hơn khi nãy. Từ cánh cửa mở he hé, mùi hương của hoa dành dành len lỏi bay vào.
Mùa mưa cũng sắp kết thúc rồi.
Tôi lấy cuốn sổ gáy xoắn trong cặp ra, lướt mắt qua lịch trình dự kiến của mình. Trong cột của ngày hôm nay, ngoài lịch phỏng vấn, tôi còn ghi tên một công ty thương mại mà tôi chưa từng nghe qua bao giờ, cùng dòng chữ “Viết hồ sơ xin việc”. Bằng cử chỉ chậm rãi, tôi mở trang chủ của công ty thương mại đó ra, nhấp chuột vào dòng chữ “Thông tin tuyển dụng”. Rồi tôi mở trang Hồ sơ xin việc ra. “Hồ sơ xin việc” là một tờ đơn ứng tuyển trên trang web (tương tự như một bản Sơ yếu lý lịch vậy). Tôi phải điền họ tên, tên của trường đại học tôi tốt nghiệp (mà tôi không muốn viết ra chút nào), địa chỉ thư điện tử và địa chỉ nhà, lý do ứng tuyển, sở trường sở đoản, những việc tôi đã dành thời gian thực hiện từ hồi đi học, tự tiếp thị bản thân…
“.. .Trời, thôi, mình bỏ cuộc!”
Tôi nằm lăn ra sàn.
Tôi vớ lấy một cuốn tạp chí truyện tranh chất đống trên sàn, nhưng rồi sực nhớ ra mình đã bị nhà xuất bản cuốn tạp chí này loại trong cuộc phỏng vấn, tôi liền dứt khoát ném nó vào thùng rác. Tôi đẩy thứ cảm giác đen ngòm dồn nén bực bội ấy ra ngoài cùng những cái hít vào thở ra thật sâu không biết bao nhiêu lần.
Nhìn tấm giấy dán tường đã ngả vàng trên trần nhà, tôi chợt cảm thấy trần nhà cao hơn hẳn mọi khi. Trong góc phía bắc của trần nhà có một vết ố màu nâu, hình dáng của vết này giống như bản đồ của một nơi nào đó. Bản đồ khiến tôi liên tưởng đến “gió”.
Bất giác, tôi muốn leo lên xe máy phóng đi quá.
“Chết tiệt. Muốn đi nơi nào đó thật xa cho khuất mắt quá!”
Hình ảnh chợt lóe lên trong đầu tôi khi lầm bầm nói vậy là hai bức tranh ở tiệm cà phê Mũi Đá. Bức tranh mạnh mẽ, và bức tranh tỏa sáng vẽ hình cầu vồng. Câu nói đầy ý vị sâu xa của bà Etsuko “Có thể coi nó là bức tranh do chủ nhân của tiệm cà phê này vẽ nên” sống dậy trong đầu tôi.
Ngày hôm đó…
Cô gái trẻ mơ ước trở thành họa sĩ bước vào trong tiệm cà phê Mũi Đá, bà Etsuko gọi cô ấy là Midori. Cô ấy là người vẽ bức tranh mang cảm giác mạnh mẽ. Lúc bắt gặp ánh mắt tôi, Midori vừa khẽ mỉm cười hơi cảnh giác vừa cúi đầu chào, rồi lập tức quay sang cùng bà Etsuko chuyện trò. Từ đầu câu chuyện giữa họ tôi đã nghe thấy những từ như “Nghỉ hè” và “Giảm giá cho học sinh sinh viên” nên tôi đoán cô gái là sinh viên đại học hoặc trung cấp gì đó.
Sau một lúc không tìm được cơ hội xen vào cuộc trò chuyện giữa hai người, tôi uống cạn tách cà phê rồi rụt rè đứng dậy khỏi ghế, bước tới trả tiền nước cho bà Etsuko.
“Ô, cháu về đấy à? Chỉ cần trả tiền tách cà phê đá thôi. Cà phê nóng là bà ép cháu uống mà.” Bà Etsuko nói.
Bận tâm với ánh mắt của Midori sau cặp kính, tôi vẫn đề nghị trả tiền tách cà phê nóng, tuy nhiên bà Etsuko đã gạt đi: “Sinh viên như cháu không nên khách khí như vậy.”
Ra khỏi tiệm cà phê, tôi nghe tiếng bà Etsuko với theo “Lần sau cháu lại đến nhé.” Tôi quay đầu lại, nở một nụ cười không rõ ý nghĩa giống như Midori lúc nãy rồi gật đầu.
Tôi khép cửa, đi về chỗ đậu xe máy.
Ánh nắng mùa hè xối lên người tôi, tôi bất giác nheo mắt lại.
Cơn gió biển sảng khoái thổi từ dưới vách đá tới khiến chiếc áo thun của tôi phồng lên, bay phần phật.
Tôi lấy chìa khóa xe máy từ túi quần jeans ra…
“A…”
Cuối cùng tôi cũng nhớ ra một việc vô cùng quan trọng.
Xe tôi bị hết xăng…
Tôi đành bỏ qua cảm giác xấu hổ để mở cánh cửa tiệm cà phê Mũi Đá lần nữa.
Ánh mắt hai người phụ nữ đồng loạt hướng về phía tôi, vẻ mặt không hiểu có chuyện gì. Họ nghiêng đầu với góc độ giống hệt nhau, trông thật giống hai mẹ con.
“Cháu quên đồ gì à?” Bà Etsuko hỏi.
“Dạ không, thực ra… xe máy của cháu bị hết xăng ạ…”
Trước lời thú nhận ngây ngô ấy, hai người quay sang nhìn nhau cười khúc khích. Thấy vậy tôi cũng ngượng ngùng cười theo.
“Midori ơi, cháu có thể dẫn cậu Imaken đây tới chỗ chú Kouji giúp bà được không? Chú Kouji chắc sẽ có sẵn xăng dùng cho máy phát điện đấy.”
Nghe bà Etsuko nói, Midori hỏi lại “Imaken ư?”, mắt liếc sang tôi. Tôi cảm thấy việc biệt danh quen thuộc của tôi được phát ra từ miệng hai người họ giống như một món quà nhỏ bất ngờ vậy, nhưng vì xấu hổ nên tôi chỉ nói nhỏ “Xin lỗi, nhờ em giúp cho.”
Tôi đi theo sau lưng Midori, vừa tiến về phía cồng trường xây dựng bên cạnh vừa tận hưởng cơn gió xanh của mũi đá. Lúc trước tôi đi theo Kotarou, giờ đi theo Midori. Tiệm cà phê Mũi Đá có vẻ ngày càng có nhiều người hướng dẫn hơn.
Vừa còn lại hai người với tôi, Midori liền im bặt. Tôi muốn làm gì đó để giải quyết sự khó xử lạ lùng này, thế nên tôi tới đi bên cạnh Midori và bắt chuyện với cô ấy.
“Ừm, em là sinh viên đại học à?”
“Dạ.” Giọng đáp hơi dè dặt.
“Anh đoán là trường mỹ thuật?”
“Dạ vâng…” Midori đáp, ánh mắt cúp xuống.
Cô gái này thực sự là người đã vẽ bức tranh mạnh mẽ đó ư? Cảm thấy nghi hoặc, tôi đánh liều hỏi: “Bức tranh treo trong tiệm đẹp quá. Ngắm bức tranh đó khiến tinh thần anh phấn chấn lên rất nhiều. Em là người vẽ bức tranh đó đúng không?”
Sau khi khen ngợi bức tranh, tôi có cảm giác ánh mắt nâu đỏ phía sau cặp kính của Midori sáng lên một chút. Midori ngước nhìn tôi với ánh mắt ấy, vẻ mặt hơi ngại ngùng. Nhưng rồi cô lại nhanh chóng chuyển ánh mắt xuống đất.
“Em cũng khá ưng bức tranh ấy. Nhưng để kiếm tiền bằng tranh vẽ thì trình độ của em còn non kém lắm.”
“Kiếm tiền bằng tranh vẽ ư? Em sẽ coi việc vẽ tranh là công việc của mình à?”
“Vâng, tương lai là thế ạ. Thế nên em phải cố gắng nhiều nữa.”
Một cây kim nhỏ chợt hình thành trong lồng ngực tôi, khiến trái tim tôi đau nhói.
“Em không đi xin việc sao?”
“Vẽ tranh là công việc tự do, vả lại em mới là sinh viên năm hai.”
“Sinh viên năm hai à. Thế thì ít hơn anh hai tuổi.”
“Nhưng em đã thi trượt hai năm mới vào được đại học mỹ thuật, thế nên có lẽ chúng ta cùng tuổi đấy.”
“Ồ thế à, thế thì chúng ta cùng tuổi rồi.”
Midori mở miệng định nói gì đó, thì chợt có tiếng chim mòng biển đen vang lên trên trời cao, hai chúng tôi ngẩng lên nhìn. Giữa không trung không một gợn mây, một bóng đen nhỏ bay vòng quanh với tốc độ chậm rãi tới mức phi tự nhiên. Tôi bất giác quay sang nhìn Midori, Midori cũng nhìn tôi. Đó là khoảnh khắc chúng tôi thực sự nhìn vào mắt nhau lần đầu tiên. Khoảnh khắc ấy vỏn vẹn 0,5 giây. Thông tin tôi thu được chỉ có một.
Cô ấy không trang điểm, nhưng có lẽ điều đó càng làm cô ấy dễ thương hơn…
Vòng ra phía sau khu vực thi công, chúng tôi thấy chú Kouji đang dùng cưa gỗ để cưa các mảnh gỗ vuông vức cho bằng với nhau. Lúc chú đặt chiếc lưỡi cưa quay với vận tốc rất cao lên miếng gỗ, tiếng xè xè khá nông vang lên. Những mảnh vụn gỗ chất đống trên sàn tỏa ra mùi hương gỗ thơm thơm, thứ mùi có gì đó thật thân thương với tôi.
Midori đứng cạnh chú Kouji - lúc này đang đầy những giọt mồ hôi trên gương mặt, lớn tiếng giải thích sự thể.
“Thế nên nhờ chú để lại cho anh này một ít xăng ạ.”
Chú Kouji dừng tay, ngẩng mặt lên. Chú nhìn tôi chằm chặp chẳng ngại ngần gì.
Trước áp lực từ ánh nhìn ấy, tôi bất giác nuốt nước bọt.
Thấy vậy, một nụ cười thật dễ mến bất ngờ xuất hiện trên gương mặt chú Kouji, trái với dự liệu của tôi.
“Hết xăng à? Ngày xưa chú cũng hay bị như thế lắm.”
Giọng nói của chú đầm ấm, dễ nghe. Gương mặt màu sô cô la rám nắng như ngư dân, đuôi mắt có những nếp nhăn rất sâu. Vẻ ngoài của chú đáng sợ, nhưng từ chú vẫn tỏa ra bầu không khí của một ông anh lớn đáng tin cậy.
Một lúc sau, chú Kouji đã rót đầy xăng vào chiếc chai hai lít rồi đưa cho tôi: “Của cháu đây.”
“Cháu cảm ơn chú ạ.”
“Ừ.”
Bằng cách đó, tôi đã thoát khỏi tình huống hiểm nghèo thứ hai.
❀ ❀ ❀
Từ hôm đó tới giờ tôi chưa quay trở lại tiệm cà phê Mũi Đá. Đã ba ngày thứ Hai trôi qua nếu tính cả ngày hôm nay, nhưng tất cả những thứ Hai đó đều có mưa. Tôi chẳng có phương tiện nào ngoài xe máy nên hoàn toàn bó tay khi trời mưa gió.
Cơn mưa tối tăm, và mũi đá ấy…
Vừa ngắm trần nhà, tôi vừa nghĩ về bà Etsuko.
Khi khách khứa về hết, chú Kouji cũng về, một mình đương đầu với mưa gió trên mũi đá không người ấy, không biết bà sẽ cảm thấy thế nào? Sao bà lại dựng tiệm cà phê ở đỉnh đầu một mũi đá không tên, thưa vắng và khó kinh doanh như vậy? Người “chủ tiệm” vẽ nên bức tranh cầu vồng ấy rốt cuộc là ai?
Thứ hiện lên trong đầu tôi là nụ cười của bà Etsuko, một bà lão quý phái và thân thiện, nhưng ngẫm kỹ thì con người bà thật nhiều bí ẩn.
Tôi phải tới đó lần nữa mới được.
Tôi nghĩ vậy. Tôi muốn biết về bà Etsuko. Tôi muốn cảm ơn chú Kouji. Tôi muốn lên xe phóng đi để giải tỏa sự căng thẳng trong thời gian đi tìm việc làm này. Ngoài ra… ừm, tôi cũng muốn gặp Kotarou nữa.
❀ ❀ ❀
Vừa hết mùa mưa, tôi liền leo lên yên xe máy.
Bầu trời mùa hè buổi sáng sớm trong vắt, trên đám cây cối trong công viên gần nhà, những chú ve đã vội râm ran.
Tôi khoác ba lô lên vai, đội mũ bảo hiểm rồi nổ máy. Cùng với độ rung dễ chịu chỉ có ở loại động cơ xi lanh đơn, con ngựa sắt đỏ bừng tỉnh dậy. Bờ mông tôi hoan hỉ vì lâu rồi mới được cảm nhận nhịp điệu ấy.
Rẻn rẻn rẻn…
Tôi chậm rãi đạp số, lên tay ga.
Khung cảnh quen thuộc trước mắt bắt đầu chuyển động.
Giây phút bầu không khí ngưng tụ buổi sáng biến thành cơn gió.
Cảm giác này… quả nhiên thật tuyệt.
Từ đường quốc lộ, tôi rẽ vào đường cao tốc giáp biển, tăng tốc trước ánh sáng buổi sớm mùa hè gay gắt. Có lẽ vì còn sớm nên đường khá thưa vắng.
Đi qua một con phố nổi tiếng với những khu có thể nhặt sò nhặt hến, số lượng xe cộ và đèn giao thông càng giảm đi, không gian cũng mở rộng hơn, chuyến đi của tôi cũng dần giống chuyến du lịch hơn.
Một lúc sau, chiếc xe bồn chạy phía trước rẽ phải, con đường thẳng tắp trải dài thật dễ chịu trước mắt tôi. Phía trước con đường tràn ngập những tia nắng trắng xóa của mặt trời.
Tôi chợt có thứ cảm giác kỳ lạ rằng lúc này tôi có thể đi tới bất cứ nơi đâu. Tôi vặn tay ga thật mạnh.
Động cơ rền lên, vận tốc xe tăng vọt.
Những ngôi nhà ở vùng quê, màu xanh tươi mơn mởn của đồng ruộng, cánh rừng hơi nhô cao, tiệm pachinko [15] quen thuộc, ngôi đền cũ, tấm biển của khách sạn tình yêu… Mọi thứ tiến lại gần rồi lại bay ra phía sau lưng tôi. Từ lúc nào, nhịp rung của xe và nhịp tim tôi đã hòa thành một. Tiếng gió phần phật lấp đầy bên trong mũ bảo hiểm của tôi, nhưng trái tim tôi hoàn toàn tĩnh lặng, bởi tôi đang tập trung nhìn một điểm rất xa.
Cảm giác thoải mái khi đầu không phải nghĩ gì, trong trái tim không mang lời nói dối nào, chỉ phóng xe đi trên con đường thẳng tắp… Tôi không còn muốn rẽ vào con đường nhỏ nào nữa.
Tôi không muốn lặp lại những ngày luôn phải tìm kiếm lối thoát nữa.
Khoảnh khắc đó, tôi có cảm giác cuối cùng mình đã tiếp xúc được với tiếng lòng của bản thân.
❀ ❀ ❀
Tôi rẽ vào cửa hàng tiện lợi, ăn sáng với một chiếc bánh mì kẹp thịt. Tôi muốn uống cà phê ở tiệm cà phê Mũi Đá, vì thế tôi chỉ mua nước ép cam lạnh làm nước uống.
Khi bụng dạ dịu xuống, tôi tiếp tục chạy xe đi.
Mỗi lần mặt trời lên cao hơn, độ gay gắt của tia nắng cũng tăng lên gấp bội. Cảm giác như mảng lông tay lộ ra khỏi áo thun của tôi đều đã bị thiêu cháy. Và rồi, những con gió khoan khoái buổi sáng lại thổi tới, làm dịu đi cái nóng ấy.
Trên khoảng trời ở phía tôi đang đi tới, một đám mây vũ tích nổi lên sừng sững. Những ngọn núi được che phủ bởi màu xanh lục đậm đặc, như thể cây cối đang cô đọng toàn bộ sinh lực của mình lại; tiếng ve râm ran len lỏi cả vào trong mũ bảo hiểm của tôi.
Đột nhiên mùi của gió thay đổi, vài giây sau, biển mở rộng ra bát ngát phía bên trái tôi. Cảm giác như trái tim tôi cũng mở rộng ra theo vậy.
Tôi mở chốt mũ bảo hiểm, hít đầy lồng ngực cơn gió biển.
Sắp tới nơi rồi…
Để không bỏ lỡ góc rẽ vào tiệm cà phê Mũi Đá, tôi vừa chạy xe vừa chú ý quan sát. Thứ đánh dấu góc rẽ đó nằm ngay trước đường hầm, và tấm biển trắng nhỏ thì tôi đoán là do chú Kouji làm ra.
Thế nhưng, dù đã hết sức chú ý, tôi vẫn xuống hết con dốc mà không tìm thấy, cuối cùng phải quành lại. Tôi nhớ rất rõ con đường dốc này. Đúng thế, sao có thể quên được, nó chính là con dốc nơi tôi phải dốc sức dắt xe máy trong lúc lòng hết sức mơ tưởng tới cái nhà vệ sinh mà.
Vậy nghĩa là… Sau khi leo lên đỉnh dốc, đi qua đường hầm thì rẽ trái luôn là tới.
Kết cục đúng là như vậy.
Tấm biển hiệu đó nằm ngay ngoài đường hầm, nhưng đối với người đi xe từ phía bắc tới, biển hiệu đó sẽ lọt thỏm trong đám cỏ dại, không nhìn thấy gì. Hèn gì tôi chú ý như vậy mà vẫn bỏ lỡ nó.
Từ đường quốc lộ tôi rẽ sang trái, chậm rãi lái xe máy theo vết bánh xe lồi lõm trải dài trên con đường đầy cỏ dại. So với bốn tuần trước, cỏ dại nơi đây đã cao hơn gần hai mươi xen-ti-mét. Một lúc sau, tôi nhìn thấy mặt biển xanh thẫm trải rộng phía dưới vách đá, tôi liền rẽ sang trái theo vết bánh xe, tiệm cà phê Mũi Đá sơn màu xanh dương liền hiện ra trước mắt.
Trước cửa tiệm có đặt một chiếc ghế dài làm thủ công bằng gỗ tại vị trí quang đãng nhất. Tôi dừng xe cạnh chiếc ghế.
Tôi tắt máy, tháo mũ bảo hiểm ra, treo vào cái móc bên dưới yên xe. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay, giờ là hơn chín giờ sáng một chút.
Tôi nhìn mặt biển rộng bát ngát, phóng tầm mắt nhìn sang bờ biển phía bên kia, rồi phồng ngực lên, hít vào thở ra thật sâu.
Hôm nay núi Phú Sĩ hiện ra rất rõ nét.
Tiếng sóng rì rào bên dưới vách đá vọng lên.
Sau lưng tôi có tiếng bước chân trên sỏi. Ngoảnh đầu lại, đúng như tôi nghĩ, Kotarou đang thè lưỡi mừng tôi.
“Lâu lắm không gặp chú mày. Còn nhớ tao chứ hả?”
Kotarou không nói gì, chỉ vẫy vẫy đuôi, rồi giống như lần trước, nó xoay nửa vòng tròn về bên phải, dẫn tôi tới cửa tiệm cà phê.
Tôi mở cánh cửa có tay nắm làm từ gỗ lũa, nhìn vào bên trong. Âm thanh ngọt ngào từ chiếc chuông vang lên.
Giống như lần trước, mùi thơm ấm áp của cà phê phảng phất bay ra, nhưng không thấy bà Etsuko ngồi trên chiếc ghế tròn cạnh lò sưởi củi.
Cửa không khóa, chắc bà không đi vắng đâu… Vừa nghĩ vậy thì chú chó Kotarou ngồi dưới chân tôi bỗng sủa “Gâu” một tiếng. Sau đó, thật ngạc nhiên, tôi nghe thấy tiếng bà Etsuko từ trong bếp vọng ra “Đây đây, xin lỗi, bà ra đây.” Ngoài nhiệm vụ dẫn đường, Kotarou còn làm thay nhiệm vụ của một chiếc chuông gọi phục vụ nữa.
“Chú mày giỏi thật đấy.”
Tôi ngồi xổm xuống, nhìn vào mắt Kotarou, vuốt ve nọng cằm nó. Khi tôi đang trong tư thế ấy, có tiếng nói vang lên sau lưng:
“Đúng là Imaken rồi. Bà đoán hôm nay cháu sẽ đến mà.”
Bà Etsuko nở nụ cười lém lỉnh, đứng ở cửa bếp. Tôi cũng đứng lên, cúi đầu chào bà, hồi hộp hỏi: “Sao hôm nay bà biết cháu sẽ đến ạ?”
Bà Etsuko cười khúc khích, trả lời “Vì hôm nay là ngày cháu đã chờ đợi từ lâu.”
“Ý bà là ngày hết mùa mưa ấy ạ?”
Cứ ngỡ mình giả vờ ngây ngô khá thành công, nhưng tôi đã không thể địch lại với bà lão phù thủy bách phát bách trúng.
“Tính từ ngày hôm đó, thì hôm nay là ngày đầu tiên không mưa, đặc biệt còn là…”
“Là gì ạ?”
“Là thứ Hai đầu tiên không mưa!” Bà Etsuko nói rồi hết nhìn hai bức tranh lại nhìn tôi với vẻ đầy ám chỉ.
“Ơ, cháu, cháu đâu có… Không phải như vậy đâu ạ…”
Trái tim tôi lỡ mất một nhịp, khiến câu tôi nói ra cũng trở nên lắp bắp. Chẳng đếm xỉa tới trạng thái đó của tôi, bà Etsuko tiếp tục nói.
“Hôm nay Midori sẽ đến vào buổi trưa. Lúc nãy con bé có gọi điện nói sẽ mang nguyên liệu nấu bữa trưa tới.”
“Ồ, thế ạ.”
Tôi cố chấp tỏ ra không quan tâm rồi ngồi xuống chiếc bàn có thể quan sát rõ bên ngoài cửa sổ.
“Từ giờ tới bữa trưa còn kha khá thời gian, cháu có thể ở đây tới lúc đó không? Đây là cơ hội thưởng thức tài nấu ăn của Midori đấy.”
“Dạ…” Đương nhiên tôi sẽ đợi… Nhưng dù sao tôi cũng có thể diện của mình, vì thế tôi nhìn đồng hồ đeo tay, làm bộ như đang khó nghĩ.
Bà Etsuko bắt đầu cười khúc khích. “Con người cháu dễ đoán thật.”
“…”
“Nhưng bà không thấy như thế là xấu đâu.”
“… Cảm ơn bà ạ.”
Khoảnh khắc nói rời miệng câu đó, tôi lập tức hối hận. Bởi nói thế nghĩa là tôi thừa nhận những điều bà Etsuko nói về mình.
Sau khi thành công trong việc hỏi dắt mũi tôi, bà Etsuko bảo “Biết ngay mà”, rồi tiếp tục cười khúc khích.
Để thay đổi chủ đề câu chuyện, tôi gọi một tách cà phê đá. Nhạc nền tôi nhờ bà chọn, tiếng nhạc Bossa Nova tĩnh lặng, phù hợp với buổi sáng ở mũi đá trong một ngày nắng đẹp vang lên.
Một lúc sau, bà Etsuko mang kem chuối ra kèm với cà phê đá, bảo “Cháu ăn thử món ăn thử nghiệm cho thực đơn mới xem thế nào nhé.” Cà phê đương nhiên ngon, nhưng kem cũng rất ngon. Cảm giác tan chảy của kem cùng cảm giác giòn tan của đá bào hoa quả hòa trộn với nhau thật tuyệt.
“Ôi, món này ngon quá bà ạ.”
Tôi tán dương thật lòng, không hề mang ý nịnh, bà Etsuko liền cười nói “Một người nói dối dở tệ như Imaken mà khen thì chắc là thật rồi. Vậy bà sẽ coi món đó như một lựa chọn cho thực đơn mới.”
Lúc đó, cửa tiệm bật mở, tiếng ve đột ngột tràn vào. Tôi ngoảnh lại, bắt gặp ánh mắt chú Kouji, chú đang mặc một bộ áo liền quần cộc tay màu trắng.
“Ồ, là anh chàng hết xăng bữa trước đây mà.” Nụ cười mỉm hấp dẫn của riêng chú đã hiện rõ trên mặt.
“Bữa trước may nhờ chú giúp đỡ ạ.” Tôi vội vàng lấy một set sáu lon bia trong ba lô ra. “Thực ra cháu định trả lại xăng cho chú, nhưng ở trạm xăng người ta từ chối bơm xăng trực tiếp vào chai nhựa… Nên cháu thay xăng bằng bia để cảm ơn chú ạ.”
Cùng với lời cảm ơn, tôi đưa cho chú Kouji set bia, chú cười khì.
“Không cần làm vậy đâu. Chú mày là sinh viên mà. Giữ lại uống với bạn bè đi. À bác ơi, giờ thủy triều đang vừa tầm, cháu đi câu một lát đây.”
Bà Etsuko, người được chú Kouji gọi bằng “bác”, vừa mỉm cười vừa nghe cuộc đối thoại giữa tôi và chú Kouji. Nhưng rồi như thể vừa nghĩ ra điều gì, bà vỗ bộp hai tay vào nhau.
“Đúng lúc lắm Kouji. Cháu dẫn Imaken đi câu cùng được không? Cậu nhóc này đang không biết làm gì để giết thời gian.”
Chú Kouji vui vẻ đáp “Vâng, không vấn đề gì” rồi nhìn tôi. “Chú mày tên Imaken hả?”
“Dạ. Cháu là Imaizumi Ken ạ.”
“Được. Vậy thì, Imaken, hãy dùng cá để trả tiền xăng nhé.”
“A, vâng ạ…”
Sau đó, tôi nối gót theo sau bờ lưng rộng lớn của chú Kouji ra khỏi tiệm cà phê Mũi Đá. Tay phải tôi cầm chiếc xô đựng mồi câu. Tay trái tôi cầm bình nước đựng trà lúa mạch do bà Etsuko pha và bắt tôi mang đi. Trên tay chú Kouji đi phía trước tôi là cần câu và vợt lưới bắt cá. Trên vai chú là thùng đá giữ lạnh. Nếu tính cả chú, tổng cộng tôi đã được ba người dẫn đường khi tới đây.
Lúc trèo xuống vách đá trước tiệm cà phê, chú Kouji ngoảnh lại nhìn tôi.
“Chú mày đừng có ngã đấy nhé. Rơi xuống đây là đi đời đấy.”
“Dạ…”
Thế là, tay vẫn mang theo đồ, tôi cẩn thận trèo xuống dốc đá nguy hiểm có thể mất mạng nếu rơi xuống đó.
Sau khoảng ba phút, xuống tới chân vách đá, chúng tôi đi bộ tới đầu chỏm đá nhô ra hướng về phía vịnh. Nơi đó nghe nói thủy triều hay lên xuống, là địa điểm câu được nhiều cá. Tảng đá ngoài cùng có mặt trên bằng phẳng như để làm nơi ngồi câu cá, quả là một nơi tuyệt vời.
Một con cua mai đỏ vừa nhanh chóng bò ngang qua tảng đá dưới chân tôi.
Thứ mùi phong phú của chỏm đá. Tiếng sóng vỗ yên bình. Cơn gió biển màu xanh dương trong suốt. Mặt nước màu xanh đậm. Núi Phú Sĩ sừng sững. Bầu trời xanh với cụm mây vũ tích thẳng đứng.
Cảm giác bản thân đang độc chiếm một mùa hè hoàn hảo, tôi thật muốn hét lên thật to.
“Nào, chúng ta bắt đầu chứ?”
“Dạ.”
Chú Kouji hướng dẫn sơ qua cho tôi, tôi ném lưỡi câu xuống biển.
“Ồ, chú mày quăng cần câu khéo đấy. Trước đây từng đi câu rồi hả?”
“Hồi nhỏ cháu thường ra sông hoặc đầm lầy gần nhà để câu ạ.”
“Thế à? Thế thì có thể trông cậy được rồi.”
Chú Kouji cũng ném lưỡi câu xuống nước. Hai chiếc phao nhỏ xíu nổi dập dềnh trên mặt nước, theo sóng triều dần trôi ra xa. Chú Kouji ném mồi câu quanh phao. Sau đó hai chúng tôi chỉ việc ngồi bệt xuống đá, chờ phao chìm là được.
“Chú mày là sinh viên đại học hả?”
“Dạ. Cháu là sinh viên năm bốn ạ.”
“Ngày trong tuần mà vẫn xách xe đi vi vu được, rảnh ghê nhỉ.”
“Dạ… Thực ra cháu không rảnh đâu.”
“Gì cơ?”
“Cháu vẫn chưa tìm được việc làm.”
Chú Kouji hừ mũi “Thế à!” như thể sao cũng được, chú ngậm điếu thuốc, lấy bật lửa ra châm lửa.
“Thế có người yêu chưa?”
“Dạ, hiện tại vẫn chưa ạ…”
“Hiện tại vẫn chỉ là Imaken [16] thối hả?”
Chú Kouji nói một câu đùa vụng về hơn cả bà Etsuko rồi tự cười khùng khục một mình.
“Đi kiếm việc làm hả, thế tương lai chú mày muốn làm gì?”
“Điều đó chính cháu cũng chưa biết ạ.”
Trước câu trả lời không rõ ràng của tôi, chú Kouji khẽ nhếch lông mày bên phải nhìn tôi.
“Chú mày nói dối rồi. Ai mà chẳng có một hai việc muốn làm chứ. Ngay cả trẻ con cũng có ước mơ tương lai nữa là.”
Chính bởi vì đã trở thành người lớn nên mới không thể dễ dàng ước mơ như trước đấy. Tôi nghĩ thế nhưng kịp dừng lại, không nói ra miệng.
“Chú Kouji có ước mơ gì không?”
“Ờm, nhiều lắm chứ, nhưng hiện tại thì là câu được một con cá bánh lái hoặc cá tráp dài 41 xen-ti.”
Cơ thể chú to lớn với một trái tim cũng to lớn tương đương, vậy mà ước mơ của chú thật nhỏ bé, điều đó khiến tôi bật cười.
“Nếu thế bây giờ cháu cũng ước như vậy. Nhưng tại sao chú chọn con số 41 xen-ti ạ?”
“Vì giờ chú bốn mốt tuổi. Mỗi năm ước mơ lớn thêm một chút, như vậy không phải rất vui sao?”
Cụm từ “Không phải rất vui sao” vang vọng mãi bên trong tôi. Nếu có thể sống với tiêu chuẩn đánh giá duy nhất là có vui hay không thì tốt biết mấy.
“Chú Kouji cũng có những chuyện không vui chứ ạ?”
Dụi xong điếu thuốc hút gần hết vào chiếc gạt tàn nhỏ mang theo, chú Kouji quay sang nhìn tôi. Rồi chú lại mỉm cười.
“Sao thế ạ?”
“Phao của chú mày chìm rồi kìa.”
“Dạ? A!”
Tôi luống cuống dựng cần câu lên, cuộn dây lại. Chiếc cần câu trên tay tôi lập tức uốn cong như vầng tráng tròn.
“Ồ, con này có vẻ to đấy. Giật lên cẩn thận đấy nhá.”
Chú Kouji cầm lấy chiếc vợt lưới, nhìn xuống lòng biển. Sự kháng cự hết sức bình sinh của con cá truyền rần rần đến cánh tay cầm cần câu của tôi. Não tôi hơi tê dại đi vì cảm giác rần rần ấy.
“Đừng cuống, cứ làm cẩn thận vào.”
“Dạ..”
Tôi cố kiềm chế cảm giác luống cuống trong lòng, cẩn thận cuộn dây. Một lúc sau, một con cá với lớp vảy dưới bụng lấp lánh ánh bạc nằm lọt thỏm trong chiếc vợt lưới của chú Kouji.
“C… câu được rồi!”
“Ừ, một con cá tráp ngon lành đây. Nó phải dài hơn 30 xen-ti đấy. Chú cá này coi như thay cho tiền xăng nhé.”
Chú Kouji vừa cười vừa rạch con dao nhỏ vào mang cá để cắt tiết rồi vứt vào thùng giữ nhiệt. Sau đó hai chúng tôi lại ngồi cạnh nhau, quăng cần câu ra. Việc câu được chú cá thú vị vừa rồi khiến tâm trạng tôi phấn chấn hơn hẳn. Có lẽ vì thế mà tôi đã nói ra một câu chính tôi cũng không ngờ tới.
“Ôi, hay là cháu bỏ quách việc đi tìm việc làm phiền phức đi nhỉ. Việc ấy chẳng vui tẹo nào.”
Mắt chú Koụịi nheo lại, không rõ chú đang cười hay vì mặt biển chói mắt quá nên chú nheo mắt, chú lặng im nhìn chiếc phao. Hơi buồn vì chú không phản ứng gì trước câu nói trong lúc phấn khích của mình, tôi quyết định hỏi thử một câu bất ngờ:
“Cháu hỏi một chuyện hơi kỳ cục có được không ạ?”
“Ừ.”
“Nếu cháu không thích cuộc sống của một nhân viên làm công ăn lương thì chú có nghĩ cháu nên từ bỏ việc đi tìm việc làm không?”
Chú Kouji vẫn nhìn chiếc phao, miệng khẽ thở dài. Rồi đột nhiên chú nói với giọng khá thô lỗ: “Chú mày thực là một thằng đáng ghét.”
“Gì cơ ạ…?”
“Đúng là một thằng đáng ghét.”
“…”
“Lại tới rồi kìa.”
“Gì cơ ạ?”
“Nhìn phao đi.”
“A!”
Chiếc phao trên cần câu của tôi đã biến mất giữa làn nước.
Bằng cách đó, tôi đã câu được con cá thứ hai.
Lần này vẫn là cá tráp, nhưng tiếc là nó nhỏ hơn hẳn con bắt được lúc nãy.
“Thật ngại quá, chúng ta cùng đi câu mà chỉ mình cháu câu được…”
“Này này. Bị đối thủ xin lỗi càng khiến lòng kiêu hãnh của chú tổn thương hơn đấy.”
“Ồ, thế ạ? Xin lỗi chú ạ.”
“Trời đất, đã bảo đừng xin lỗi rồi mà.”
Chú Kouji bật cười. Tôi cũng cười thành tiếng.
Chúng tôi lần nữa ngồi xuống cạnh nhau, tay quăng cần ra xa.
Mặt trời dần lên cao, khi mặt trời bắt đầu ló mặt phía trên vách đá phía sau, những tia nắng của nó cũng chậm rãi nướng cháy lưng và gáy hai người chúng tôi.
“Imaken này.”
“Dạ.”
“Chú chưa làm nhân viên làm công ăn lương bao giờ nên không biết việc trở thành nhân viên một công ty là nên hay không nên.”
“Dạ.”
“Nhưng chú biết một điều.”
“…”
“Khi cháu cảm thấy băn khoăn không biết phải làm sao, thì hãy chọn một con đường thật rock ‘n roll, chắc chắn sẽ rất thú vị.”
“Rock ‘n roll ạ?”
“Tóm lại là,” chú Kouji gãi sồn sột chiếc cằm vuông vức của mình, nói tiếp: “Hãy luôn đi trên con đường khiến chú mày cảm thấy háo hức.”
Tôi thử tìm câu nào đó để đáp lại, nhưng không tìm thấy.
“Tuy rằng ít nhiều sẽ có nguy cơ, nhưng con người mạnh mẽ hơn những gì họ vẫn nghĩ đấy. Chỉ cần chú mày gắng hết sức làm một việc gì đó, tới lúc cần chắc chắn sẽ có ai đó đưa tay ra giúp đỡ.”
“Đơn giản… như vậy ư?”
“Ừm, đó chỉ là ý kiến chủ quan của chú thôi, nhưng chú thấy vậy đấy.”
Từ ngoài khơi, một chiếc thuyền đánh cá vọng tới tiếng động cơ “pạch pạch pạch pạch” nhẹ nhàng rồi đi lướt qua chúng tôi. Giữa khơi còn có bóng một chiếc tàu chở dầu lớn, nhìn như đứng yên không nhúc nhích.
“Dạ… Cháu sẽ suy nghĩ về điều chú nói ạ.”
“Ừ, người quyết định cuộc đời chú mày đâu phải là chú.”
“Vâng.”
Sau đó, trong một lúc lâu chúng tôi không nói gì với nhau, chỉ lặng lẽ nhìn chiếc phao. Có lẽ vì có tiếng sóng vỗ, tiếng mòng biển và tiếng ve kêu, hoặc vì gương mặt nhìn nghiêng của chú Kouji đang lim dim mắt trông có vẻ mãn nguyện nên sự im lặng đó không khiến tôi cảm thấy nặng nề.
Vài phút sau, lúc chú Kouji rắc mồi câu cạnh phao cho tôi, tôi mở miệng hỏi.
“Chú ơi, cháu hỏi một điều hơi kỳ cục được không?”
“Chú mày có hỏi gì ngoài những câu kỳ cục bao giờ đâu.” Chú Kouji cười như thể buồn cười lắm.
“Ồ, đúng là như thế… Sao cháu lại thế nhỉ?”
Tôi gãi đầu, ngượng nghịu cười, nhưng vẫn hỏi câu hỏi kỳ cục của mình.
“Sao bà Etsuko lại mở tiệm cà phê ở mũi đá này và sống một mình ở đây thế ạ?”
Chú Kouji không nói gì, chú nhấc dây câu lên, thay mồi câu mới rồi ném xuống biển. Chú thở phù một hơi dài từ cặp môi khép nhỏ lại.
“Bác ấy là một góa phụ.”
“Góa phụ ạ?”
“Chuyện xảy ra hơn ba mươi năm trước rồi. Chồng bác bị bệnh rồi mất.”
“…”
Tôi cũng có cảm giác như vậy, nhưng khi biết chuyện đó là thật, không hiểu sao lồng ngực tôi bỗng trở nên nặng nề.
“Chồng bác là họa sĩ, tuy có tài năng nhưng không giỏi tiếp thị nên không đắt khách lắm. Thời đó bác Etsuko là một nghệ sĩ dương cầm khá nổi tiếng.”
“Bà thích âm nhạc là vì thế ư…”
“Mũi đá này là địa điểm yêu thích của chồng bác ấy.”
“Vậy bức tranh cẩu vồng treo trong tiệm là…”
“Là tác phẩm của chổng bác ấy để lại. Hồi đó hai người sống ở Tokyo, nhưng rồi tình cờ chồng bác ấy được ngắm cảnh hoàng hôn ở mũi đá này, ông ấy rất xúc động nên đã vẽ lại để bác Etsuko được xem cùng, chính là bức tranh ấy đấy.”
Ra là vậy…
Tôi có cảm giác rất nhiều thắc mắc trong lòng mình đã được giải đáp.
Trong đầu tôi, giọng nói của bà Etsuko sống dậy.
“Bức tranh này… ừm… có thể coi nó là bức tranh do chủ nhân của tiệm cà phê này vẽ nên.”
“Cháu thấy đấy, cửa tiệm này đang ‘sống’ mà.”
Nhưng tôi vẫn còn nhiều câu hỏi nữa.
“Nhưng sao bà lại mở tiệm cà phê ở nơi xa xôi hẻo lánh thế này ạ? Dù chồng bà có thích nơi này đến đâu chăng nữa thì…”
Chú Kouji chầm lửa vào điếu thuốc, hít một hơi rồi nhả ra làn khói như thể điếu thuốc rất ngon.
“Ừm, tính bác ấy như vậy đấy. Bác ấy muốn trước khi chết được một lần nhìn thấy chiếc cầu vồng đó, chiếc cầu vồng mà người chồng đã mất rất muốn bác ấy được thấy.”
“Ủa? Chẳng lẽ chỉ vì thế mà bà… ?”
Bà dựng tiệm sao cho từ cửa sổ có thể nhìn thấy cùng một khung cảnh với bức tranh ấy ư?
“Khó tin quá hả?”
Tôi hít một hơi, muốn nói điều gì đó, nhưng rồi lại thở ra mà không nói được câu nào.
“Chú thấy không ổn vì bác nhiều tuổi rồi mà lại sống một mình ở nơi hoang vắng này, nên chú đã dựng một cửa hàng ở bên cạnh để thường xuyên tới xem tình hình bác thế nào.”
“Hóa ra là vậy ạ…”
“Đừng làm vẻ mặt như thế. Cuộc đời bác Etsuko không đáng thương đến thế đâu.”
Tôi lặng thinh nhìn chú Kouji. Quả thực bà Etsuko không tạo nên cảm giác bi thương chút nào. Nhưng…
“Tuy sống như vậy nhưng mỗi ngày của bác đều rất vui. Bác bảo mỗi ngày trước hoàng hôn đều háo hức với ý nghĩa rất có thể chiếc cầu vồng giống trong tranh ngày hôm nay sẽ xuất hiện. Đặc biệt những khi trời vừa tạnh mưa, bác đều hồi hộp không tả nổi. Bác cũng rất thân thiết với khách quen của tiệm nữa.”
“Thế ạ.”
“Ừ. Vì bác đã chọn một con đường rất rock ‘n roll? ”
Con đường rock ‘n roll ư…?
“Chỉ có điều…” Nói tới đó, đột nhiên tông giọng chú Kouji chìm xuống và hơi khàn đi.
Tôi im lặng nhìn khuôn mặt nhìn nghiêng của chú.
Chú Kouji lấy mu bàn tay lau những giọt mồ hôi nổi lên trên trán, chú chăm chú nhìn chiếc phao đang dập dềnh trong làn sóng, rồi chợt nói ra một câu ngoài dự liệu của tôi.
“Có lẽ bác ấy… cả đời này cũng sẽ không thấy được chiếc cầu vồng hoàng hôn giống như trong bức tranh ấy đâu.”
“Ơ… Tại sao ạ?”
“Chú mày giữ được bí mật chứ Imaken?” Ánh mắt chú Kouji vẫn đang nhìn chiếc phao.
“Có… có lẽ ạ.”
“Có lẽ?”
“À, à không, nhất định cháu sẽ không nói ra đâu.”
“Thế thì chú kể cho chú mày nghe.”
“Dạ.”
Chú Kouji quay sang nhìn tôi. Ánh mắt chú có chút đáng sợ, giống như lần đầu tôi gặp chú. “Thực ra gần đây chú nhận ra một điều về bức tranh ấy…”
Nội dung chú Kouji nói với tôi sau đó rất đơn giản, hợp lý, và cũng rất thuyết phục. Đúng như chú Kouji nói, có lẽ cả đời này bà Etsuko sẽ không thể thấy được chiếc cầu vồng giống như trong bức tranh ấy.
Nếu không nhận ra “một sự thật” ẩn giấu trong bức tranh đó… thì có lẽ cả đời này bà sẽ không thể…
“Chú Kouji ơi…”
“Ơi?”
“Sao chú không nói điều đó với bà Etsuko ạ? Nếu biết bí mật ấy, sao chú không cho bà biết? Nếu làm vậy, rất có thể bà Etsuko sẽ được ngắm chiếc cầu vồng đó…”
Có lẽ giọng nói của tôi hơi gay gắt. Nhưng chú Kouji không có vẻ dao động chút nào. Trái lại, chú nói với vẻ đùa giỡn: “Chắc chú mày không được đào hoa lắm phải không Imaken?”
“Ơ?”
“Vì chú mày chẳng tinh tế tí nào.”
“Sa… sao chú lại nói thế ạ?”
“Thử tưởng tượng đi. Giả sử chú cho bác Etsuko biết sự thật này… Nếu làm vậy, chú mày nghĩ bác ấy sẽ sống mỗi ngày với tâm trạng thế nào? Không phải mỗi ngày của bác ấy sẽ biến thành một ngày dài không có ước mơ gì hay sao?”
“A…”
Cảm thấy xấu hổ vì sự cạn nghĩ của mình, tôi không biết nói gì. Đúng như chú ấy nói, nếu giờ chú tước đi ước mơ duy nhất của bà thì…
“Có lẽ chú mày thực sự không có ước mơ gì, nhưng đối với một số người, chỉ cần có ước mơ là đủ để cuộc đời người đó có ý nghĩa rồi.”
Tôi không thể phản biện. Về việc mình đã không tinh tế với bà Etsuko, và về việc thực ra tôi đã luôn lừa dối chính bản thần mình…
“Chú Kouji này.”
“Hửm?”
“Cháu muốn hỏi một câu hơi nghiêm túc một chút…”
“Chứ không phải một cầu hơi kỳ cục hả?”
“Lần này khác ạ.” Tôi hơi cười, nói tiếp. “Ngoài việc đi câu, chú có ước mơ nào khác nữa không?”
“Gì vậy, cuối cùng không phải vẫn là một câu hỏi kỳ cục sao.” Chú Kouji nói đùa rồi hạ cần câu xuống, khoanh cánh tay to khỏe của mình lại. Và rồi, vừa ngắm núi Phú Sĩ màu lam sẫm, chú vừa kể với vẻ hơi ngượng.
“Cũng chẳng phải ước mơ to lớn gì, nhưng việc chú dành thời gian rảnh để một mình vất vả dựng nên quán kia là có lý do cả đấy.”
“Lý do ư?”
“Ừ. Khi nào quán hoàn tất, chú muốn tổ chức trình diễn nhạc sống cùng bạn bè ngày xưa ở đó.”
“Nhạc sống?”
“Chú Kouji cũng là một nhạc sĩ ạ?”
“Ngày xưa thôi. Vả lại chú kém nên không trở thành nhạc sĩ chuyên nghiệp được. Hồi xưa chú chơi trống đấy.”
“Chú thất bại giữa chừng ạ?”
“Vì chú không có tài năng.”
“Vậy việc chú làm thợ sơn… là một sự thỏa hiệp với cuộc sống ư?”
Nghe tới đây, chú Kouji bật cười.
“Chú mày đúng là một thằng nhóc khó ưa Imaken ạ.”
“Ơ, cháu… cháu xin lỗi…”
Vừa nói, để chắc ăn tôi liền nhìn chiếc phao trên dây câu của mình, nhưng lần này nó vẫn chưa chìm.
“Chú mày chả có miếng tinh tế nào trong người cả.” Vừa dụi tàn thuốc vào chiếc gạt tàn bỏ túi mang theo người, chú Kouji vừa nhìn tôi. Đôi mắt chú mỉm cười, “Ừm, nhưng thực lòng mà nói thì, lúc từ bỏ con đường làm nhạc sĩ, chú đã buồn trong một thời gian dài. Cũng là chú tự làm tự chịu thôi.”
“Tự làm tự chịu ạ?”
Chú Kouji khẽ thở phù một hơi, ánh mắt nhìn xa xăm. Tôi muốn hỏi chú lý do của việc “Tự làm tự chịu” đó, nhưng nếu hỏi, chú ấy sẽ thực sự nghi ngờ tôi có chút tinh tế nào trong người hay không, vì thế tôi im lặng.
“Ừm, nhưng mà chú cũng không ghét công việc sơn nhà hiện tại. Cần mẫn sơn từng vệt, rồi cuối cùng ngắm nhìn tác phẩm đã hoàn tất. Cảm giác thỏa mãn đó không tệ chút nào. Thế nên công việc này rất hợp với chú.”
Một con người có vẻ tràn đầy tự tin ở mọi góc độ như chú Kouji mà quá khứ cũng từng nếm mùi vỡ mộng, phải trải qua sự thất bại… Có lẽ tôi hơi xấu tính, nhưng khi biết điều này, đột nhiên tôi cảm thấy chú ấy trở nên gần gũi hơn trước rất nhiều.
“Chú Kouji này, ước mơ ấy mà…”
“Gì cơ?”
“Chú có nghĩ sẽ cần rất nhiều dũng khí mới có thể theo đuổi được ước mơ không?”
Nụ cười của chú Kouji trở nên rõ ràng hơn. Ánh mắt chú giống như ánh mắt của người anh cả đầy vững chãi, chở che, chú cười mỉm.
Và rồi, chú nói chậm rãi như thể vừa nói vừa lựa chọn câu từ:
“Theo kinh nghiệm của chú, thì việc lựa chọn một cuộc đời không theo đuổi ước mơ nào cũng rất cần dũng khí đấy.”
Trên bầu trời cao, đàn mòng biển cất tiếng kêu. Cơn gió biển ấm áp mùa hè thổi tới, hất lớp tóc mái của tôi bay lên. Não tôi như bị đóng đinh, tôi không tìm được lời gì để nói. Thế nên tôi im lặng, hít sâu vào lồng ngực cơn gió biển xanh.
Chú Kouji cầm lấy chiếc cần câu đặt trên tảng đá, nhấc dây câu dưới biển lên.
“Thôi, chú từ bỏ ước mơ về con cá bốn mươi mốt xen-ti, hôm nay câu tới đây thôi. Hôm nay chỉ mình chú không câu được con nào, thất bại thảm hại thật.” Chú Kouji nói, làm bộ lườm tôi.
“A ha ha… xin lỗi chú.”
“Chú đã bảo…”
“Chú đã bảo đừng có xin lỗi nữa kẻo chú tổn thương thêm, phải không ạ?”
Tôi cướp lời chú, chú liền vỗ lưng tôi bồm bộp với cánh tay to lớn của mình. Tấm lưng tê rần của tôi như chuyển thẳng từ mùa hè yêu thích thành mùa thu. Một chiếc lá đỏ thẫm cỡ đại… Nhưng không hiểu sao cảm giác đó thật thống khoái, tôi vừa cười vừa hướng về phía biển kêu lên: “Ôi, ha ha, đau quá, nhưng mà thật tuyệt.”
❀ ❀ ❀
Chúng tôi cầm đám đồ câu đã được xếp gọn lại, leo lên vách đá. Lúc về, tôi leo lên trước chú, nhưng lúc leo lên không sợ bằng lúc trèo xuống. Leo tới đỉnh vách đá, tôi thở phù một tiếng, mắt vừa ngước nhìn lên, trái tim tôi liền đập loạn nhịp.
Một cô gái đang ngồi trên băng ghế trước mắt tôi.
Cô ấy mặc chiếc áo thun vừa vặn màu cam, quần jeans đến đầu gối. Chiếc ô tô hạng nhẹ màu vàng cũng đậu bên cạnh. Trên đùi đặt một cuốn sổ vẽ phác họa đang mở.
Đột nhiên ánh mắt chúng tôi giao nhau. Tôi khẽ đưa tay lên chào. Midori đáp lại bằng một cái cúi đầu rất khẽ.
“Chào Midori. Hôm nay cháu vẽ gì thế?” Chú Kouji vừa nói vừa sải bước từ phía sau tôi về phía Midori. Tôi cũng theo chân chú. chú Kouji nhòm vào bên trong cuốn sổ phác họa, rồi “Ồ” lên một tiếng.
“Nhìn này Imaken.” Chú Kouji không khách khí nhấc cuốn sổ phác họa lên, giơ lên cho tôi xem.
“A…”
Tôi bất giác nhìn Midori.
“Em vẽ không được đẹp lắm…” Midori mỉm cười, vẻ mặt hơi xấu hổ.
Bức tranh vẽ nháp trong cuốn sổ phác họa là hình vẽ dáng lưng tôi và chú Kouji đang ngồi câu cá cạnh nhau. Midori đã ngồi trên băng ghế nhìn xuống chúng tôi trong suốt thời gian đó.
“Không đâu, em vẽ đẹp lắm. Cảm ơn em nhé.” Tôi bắt chước chú Kouji, thử khẳng định thật chắc nịch.
❀ ❀ ❀
Quá mười hai giờ trưa một chút, trên chiếc bàn có thể nhìn ra ngoài cửa sổ của tiệm cà phê Mũi Đá, nhiều món ăn được bày ra. Món cá tráp tươi ngon do chú Kouji sơ chế giúp, món cà ri kiểu Thái do Midori nấu và món salad. Tiếp theo là món cà phê đá của bà Etsuko. Món tráng miệng sau bữa ăn chính là kem chuối, món vừa may mắn lọt vào thực đơn mới của cửa hàng.
Bốn người chúng tôi vừa ăn vừa cười nói vui vẻ.
Thu hoạch lớn nhất của tôi trong bữa ăn này, đó là Midori không còn dùng kính ngữ với tôi nhiều nữa [17] .
Sau bữa ăn, chú Kouji chào mọi người để quay trở lại với “công trường xây dựng” bên cạnh. Midori đội chiếc mũ bằng vải khăn trắng ra ngồi ngoài hiên, bắt đầu vẽ phong cảnh. Bà Etsuko rửa bát đũa trong phòng bếp.
Tôi lại trở nên rảnh rỗi.
Tôi ngồi một mình trong căn phòng máy lạnh, lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ. Một khung cảnh khoáng đạt, xanh tươi mùa hè. Trên hàng hiên phía trước đó, tôi nhìn thấy tấm lưng mảnh khảnh của Midori.
Tôi thở dài vì lý do gì đó mà chính tôi không rõ, đoạn chậm rãi nhìn quanh tiệm. Cửa hàng hơi mờ tối khi so với khung cảnh bên ngoài cửa sổ này, nơi toàn những thứ chắp vá với nhau này giống như đang lặng lẽ “hít thở” vậy.
Tôi nhìn hai bức tranh đó.
Midori, cô gái muốn trở thành họa sĩ, và người chồng họa sĩ đã mất của bà Etsuko. Tâm tư của họ khi vẽ bức tranh này…
“Ô kìa.”
Tiếng nói rất gần phía sau tôi vang lên, tôi giật mình, mông tôi có lẽ vừa giật nảy lên khỏi ghế đến năm xen-ti.
“Ôi, bà làm cháu giật mình.”
Bà Etsuko cười khúc khích. “Cháu đang thả hồn đi đâu thế?”
Trên tay bà là một chiếc khay bạc, trên khay đặt hai tách cà phê đá.
“Cháu mang cà phê cho Midori giúp bà được không? Một tách là của cháu đấy Imaken. Cháu ra uống với con bé đi.”
Tôi nhận lấy chiếc khay được bà Etsuko, hết nửa phần là ép buộc, dúi vào tay mình. Nhận lấy rồi nhưng tôi vẫn chần chừ, bà Etsuko liền nở nụ cười trêu chọc như mọi khi.
“Đời người ngắn hơn cháu tưởng nhiều đấy. Đừng lãng phí bất kỳ giây phút nào được ở bên nhau. Thôi, cháu đi đi.”
Tôi nhìn bức tranh cầu vồng, rồi nhìn bà Etsuko. Trong nụ cười của bà, vẻ trêu chọc đã biến mất, chỉ còn là một nụ cười dịu dàng.
“Vâng, cháu đi đây ạ.” Tôi bưng hai tách cà phê sữa, bước ra hành lang.
Ra tới bên ngoài giống như lọt vào một thế giới khác. Đám ve làm rung chuyển bầu không khí với tiếng kêu thật lớn của chúng, nhiệt độ bên ngoài cũng có vẻ đang trên ba mươi độ.
“Bà Etsuko bảo anh mang đồ giải khát cho em.”
Tôi bước lên thềm hiên, đặt hai tách cà phê đá lên trên chiếc bàn làm thủ công từ những thanh gỗ vuông vức. Rồi tôi nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh Midori. Chiếc tách đồng rịn mồ hôi lấp lánh.
“Cảm ơn anh ạ.” Midori khép cuốn sổ phác họa lại, đặt nó lên chân mình.
“Lần này em vẽ gì thế?”
“Dạ, thực ra là, cái này ạ.”
Cô mở cuốn sổ vừa đóng lại ra cho tôi xem.
“Ồ, là xe máy của anh.”
“Em thấy dáng của nó dễ thương… Giờ em mới đang vẽ dở thôi ạ.”
“Em làm anh vui quá. Hơn nữa, em vẽ đẹp thật đấy.”
Midori lại tỏ ra ngượng ngùng như mọi khi. Tôi nghĩ, chính cử chỉ đó của em mới là dễ thương đấy, đúng lúc ấy tiếng nhạc phát ra từ chiếc loa gắn ngoài hiên chợt im bặt.
Ủa? Ngay khi hai chúng tôi quay sang nhìn nhau, đột nhiên một giai điệu quen thuộc với tôi vang lên.
Là ca khúc “Girls on the beach” của nhóm The Beach Boys.
Tôi quay đầu lại, nhìn qua cửa sổ vào bên trong tiệm. Nhưng bà Etsuko có vẻ đang ở trong bếp, tôi không nhìn thấy bà đâu.
Từ xưa, mùa hè, tình yêu và ca khúc “Girls on the beach” đã luôn đi cùng nhau rồi.
Câu nói của bà Etsuko trong lần gặp mặt đầu tiên chợt sống dậy trong tôi. Lúc này, khoảnh khắc này, tôi đã có mùa hè và “Girls on the beach” rồi. Để biến nó thành một bộ, tôi còn thiếu một thứ nữa.
“Midori này.”
“Dạ?”
“Sao em chỉ vẽ phong cảnh ở mũi đá này thế?”
“Ừm… Có lẽ vì ở đây cảnh đẹp, con người đáng mến, và khi ở đây em thấy rất dễ chịu chăng. Hơn nữa, em rất thích ngắm bức tranh cầu vồng treo bên trong tiệm.”
“Sau khi vẽ được bức tranh ưng ý ở đây thì em sẽ làm gì?”
“Em sẽ bảo bà treo bức đó lên thay cho tác phẩm hiện đang treo trên tường của em.”
“Ra vậy.”
Midori uống tách cà phê một cách rất ngon miệng, cô ấy nói như để tự nhắc bản thần “Phải cố gắng thôi.” Rồi cô ấy nhẹ nhàng quay sang nhìn tôi, lần đầu tiên đặt câu hỏi cho tôi:
“Anh Imaken tìm được việc rồi đúng không ạ?”
Thú thực, câu hỏi quá đỗi thẳng thắn này khiến trái tim tôi bị lỡ mất một hai nhịp, nhưng điều đó thực sự chỉ xảy ra trong thoáng chốc, sau đó, miệng tôi bắt đầu hoạt động một cách vô cùng tự nhiên:
“Anh dừng việc đi xin việc rồi.”
“Gì cơ ạ?”
“Anh sẽ trở thành người viết sách. Anh sẽ bắt đầu từ một cây bút tự do.”
Sau khi nói ra miệng, chính tôi cũng cảm thấy hơi ngạc nhiên khi cảm thấy mình dễ dàng hạ quyết tâm nhanh chóng đến vậy.
“Ồ, anh giỏi quá. Thế là cả hai chúng ta cùng vất vả như nhau, vì cùng làm công việc tự do.”
“Có lẽ. Nhưng con đường đó rất rock ‘n roll, có vẻ rất vui mà.”
Tôi mượn cách nói của chú Kouji, đôi mắt phía sau cặp kính của Midori liền ánh lên vẻ thân thiết.
“Trở thành nhà văn rồi anh sẽ viết về chuyện gì?”
“Ừm, cái đó thì…”
Như giữa cơn mơ, tôi uống một ngụm cà phê đá, ngắm nhìn mặt biển xanh thẳm mùa hè, nghĩ ngợi một lúc.
Ánh nhìn của Midori làm gò má bên phải tôi hơi nhột nhột.
Ca khúc “Girls on the beach” sắp kết thúc.
Đời người ngắn hơn tôi tưởng rất nhiều. Nếu vậy, từ giây phút này, tôi phải đi về phía khiến tôi cảm thấy háo hức. Không tự lừa dối bản thân nữa.
“Em nghĩ sao nếu anh viết một cuốn tiểu thuyết lấy hình mẫu là tiệm cà phê này và mọi người ở đây?”
“Ôi, nghe hay đấy anh ạ.”
“Cho anh dùng tranh của Midori để minh họa ngoài bìa sách nhé?”
“Như vậy càng tuyệt hơn nữa!” Trên gương mặt mộc rất hợp với phong cách của Midori, lần đầu tiên một nụ cười rạng rỡ xuất hiện.
“Thêm nữa…”
“Dạ.”
“Nếu được…”
“…?”
“Có một việc anh rất muốn em làm cùng anh. Vì anh không thể làm một mình được.”
“Gì cơ ạ?”
Midori khẽ nghiêng đầu thắc mắc.
Tôi hít vào một hơi thật sâu cơn gió biển thổi vào mũi đá.
Rồi tôi rành mạch nói:
“Anh đang nghĩ, nếu biến nó thành một câu chuyện tình yêu bắt đầu bằng cảnh hai người ngồi trên chiếc xe máy đó thì sẽ tuyệt biết bao.”
Gương mặt cười rạng rỡ của Midori chợt ửng hồng, cô cúi đầu xuống.
Tôi đã quyết định làm mới một trong những quy luật trên đời.
Đó là…
Tai họa… cuối cùng sẽ dẫn theo cơ hội đến cho ta.