Sau thất bại của Napoleon tại Waterloo tháng Sáu năm 1815, và việc kết thúc Hội nghị Vienna muộn hơn trong cùng năm, các cường quốc liên kết với nhau chống lại những đòi hỏi của người dân châu Âu về các bản hiến pháp tự do và quyền tự quyết dân tộc. Sa hoàng Alexander I trở thành vị quân chủ hùng mạnh nhất châu Âu, và cai trị theo cách thức ngày càng bí hiểm và độc đoán, đàn áp các cuộc nổi dậy đòi tự do ở Naples, Hy Lạp và Đức, cho tới khi ông qua đời năm 1825. Francis I của Áo ngày càng trông cậy nhiều hơn vào Metternich. Sau khi nhận lại những lãnh thổ cũ của Áo, ông thành lập Liên minh Thần thánh phản động nhưng không bao giờ tái sinh đế chế La Mã Thần thánh. Ông qua đời năm 1835 ở tuổi 67. Frederick William III của Phổ cũng trở nên cực kỳ phản động, tảng lờ lời hứa của mình về việc soạn thảo một hiến pháp cho Phổ năm 1813, và qua đời năm 1840. Metternich tiếp tục là một nhân vật trung tâm trong nền ngoại giao châu Âu, duy trì một sự cân bằng được thiết lập tại Hội nghị Vienna, cho tới khi ông buộc phải trốn khỏi Vienna bằng cách ăn mặc như một bà thợ giặt trong cuộc Cách mạng 1848; ông chết năm 1859. Pius VII cũng quay sang chống lại chủ nghĩa Khai sáng, tái lập chế độ chuyên chế ở Lãnh thổ Giáo hoàng, vốn được trả lại cho ông ta theo Hiệp ước Vienna. Ông mất năm 1823. Vua Ferdinand VII của Tây Ban Nha buộc phải chấp nhận một bản hiến pháp tự do năm 1820, và bị nhân dân Tây Ban Nha lật đổ, sau đó được người Pháp khôi phục quyền lực năm 1823, bị nhân dân căm ghét vì sự thèm khát trả thù của mình. Ông chết mà không được người đời thương tiếc năm 1833.
Nhờ vào phần lớn những cải cách tư pháp và chính trị được Napoleon thực hiện, mà nhà Bourbon đã không thể tái áp đặt kiểu cai trị cũ trong lần Phục hồi thứ hai của họ năm 1815. Louis XVIII trong thời gian trị vì của mình đã cố gắng tìm một con đường trung dung giữa người em trai phản động của mình là Bá tước d’Artois, người tìm cách cản trở bất cứ nhượng bộ dân chủ nào, và những người theo chủ nghĩa hợp hiến tự do, đòi Pháp phải đi theo mô hình Anh và trở thành một nền quân chủ lập hiến. Ông qua đời năm 1824, sau đó Bá tước d’Artois trở thành Vua Charles X. Ông bị lật đổ trong cuộc Cách mạng tháng Bảy năm 1830, mang tới Vua Louis Philippe (em họ Charles) ôn hòa hơn, và chết trong cảnh lưu vong ở Italy năm 1836. Những hy vọng của các phần tử bảo hoàng thủ cựu chết cùng với Charles.
Phần lớn gia đình Napoleon sống dưới sự bảo vệ của Giáo hoàng tại Rome sau trận Waterloo, trong đó có mẹ ông, lui về đó với người em cùng mẹ khác cha của bà là Hồng y Fesch. Ở tuổi 85, mù lòa và co ro trên một chiếc ghế bành, bà đọc cho hầu gái Rosa Mellini chép lại những hồi ức. “Mọi người gọi ta là người mẹ hạnh phúc nhất thế gian”, bà nói, “song đời ta là một chuỗi những phiền muộn và đau khổ”. Bà qua đời vào tháng Hai năm 1836. Fesch qua đời ở đó ba năm sau, xung quanh là bộ sưu tập nghệ thuật trứ danh của ông, phần lớn được ông hiến tặng các thành phố Ajaccio và Lyon. Louis theo đuổi nghiệp văn chương của mình tại Rome, nhưng ẩn danh tới thăm Hà Lan một lần vào năm 1840, tại đây các thần dân cũ nhận ra ông và hoan hô. Ông mất tại Livorno vào tháng Bảy năm 1846. Người vợ đã chia tay từ lâu của ông, Hortense, mua lâu đài Arenenberg ở Thụy Sĩ vào năm 1817, bà ta sống tại đây tới lúc qua đời ở tuổi 54 vào tháng Mười năm 1837. Con trai ngoài giá thú của bà ta với Tướng Flahaut sau này được Napoleon III phong là Công tước de Morny. Eugène de Beauharnais, Công tước xứ Leuchtenberg, sống lặng lẽ ở Munich với vợ và bảy đứa con, một trong số đó trở thành Hoàng hậu Brazil. Ông mất hồi tháng Hai năm 1824. Một con gái khác của ông, Công nương Josephine, kết hôn với Hoàng tử Oscar, người kế vị ngai vàng Thụy Điển, và là con trai của Bernadotte, vào năm 1823; con trai họ, Maximilian, kết hôn với con gái Sa hoàng Nicholas I.
Lucien bị bắt sau trận Waterloo, nhưng được phép lui về Lãnh địa Giáo hoàng, ông qua đời tại đó vào tháng Sáu năm 1840, để lại 11 đứa con từ hai cuộc hôn nhân. Joseph ở lại Bordentown, New Jersey, sử dụng tước hiệu Bá tước de Survilliers trong 16 năm, và khôn khéo từ chối vương miện Mexico năm 1820. Trong một thời gian ngắn, ông từng sống ở Surrey, Anh. Ông bảo vệ danh tiếng của em trai mình một cách khéo léo, và qua đời ở Florence vào tháng Bảy năm 1844. Năm 1816, Jérôme lưu vong tới Trieste và lấy tên Bá tước de Montfort, song ông luôn coi mình là một quân chủ. Ông trở về Pháp năm 1847 và trở thành Thống đốc điện Invalides năm 1850, và Chủ tịch Thượng viện, qua đời năm 1860. Caroline Murat tái giá sau khi chồng bà ta bị hành quyết, và sống ở Florence cho tới khi bà ta qua đời vào tháng Năm năm 1839, với tước hiệu tự đặt là nữ Bá tước xứ Lipona (một cách đảo chữ cái của Napoli). Pauline tuyên bố đã định lên đường tới St Helena khi nhận được tin về cái chết của anh trai mình. Dù đã có một nhân tình từ 10 năm trước, nhưng Camillo Borghese cho phép Pauline quay về nhà ông tại Florence ba tháng trước khi bà ta mất vào tháng Sáu năm 1825. (Ông ta can dự vào các mưu toan của những người ủng hộ Bonaparte cho tới khi qua đời năm 1832.)
Charles-Louis-Napoléon, người trẻ nhất trong ba con trai của Louis Vua Hà Lan, tham gia vào cuộc Cách mạng Italy năm 1831 tìm cách tấn công Pháp ở Strasbourg năm 1836, tới thăm Mỹ năm 1837, tìm cách tấn công Pháp một lần nữa năm 1840 và bị giam nhưng trốn thoát năm 1845. Năm 1848, ông được bầu làm Tổng thống với 9,9 triệu phiếu ủng hộ, và thực hiện một cuộc đảo chính năm 1851, trở thành Hoàng đế Napoleon III năm 1852. Ông bị lật đổ sau Chiến tranh Pháp-Phổ thời gian 1870-1871, và qua đời trong cảnh lưu vong năm 1873. Vậy là thiên sử thi đế chế bắt đầu ở Ajaccio năm 1769 đã lụi tắt ở Chislehurst, Kent, 104 năm sau đó. Đến cuối đời mình, ông vẫn đeo chiếc nhẫn cưới mà bác ông đã trao cho Josephine bà ngoại ông.
Marie Louise có cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối với Neipperg bốn tháng sau cái chết của Napoleon. Họ có một đứa con chính thức sau hai đứa con ngoài giá thú đầu tiên, trước khi Neipperg chết năm 1829. Marie Louise sau đó kết hôn với Bá tước de Bombelles và qua đời vào tháng Mười hai năm 1847, sau khi đã trị vì Parma, Piacenza, và Guastalla từ năm 1814.
Những đứa con của Napoleon trải qua các số phận rất khác nhau. Napoleon II, tức Vua La Mã hay Công tước xứ Reichstadt, được giám hộ bởi Marmont, người đã cố gắng nhưng bất thành trong việc đầu độc tâm hồn ông chống lại cha mình. Ông gia nhập quân đội Áo nhưng mất vì bệnh lao ở Schönbrunn ngày 22 tháng Bảy năm 1832, khi mới 21 tuổi; khuôn mặt nạ được đắp từ mặt ông sau khi mất có thể tìm thấy tại Museo Napoleonica tại Rome. Hài cốt của ông được Adolf Hitler cho đưa tới điện Invalides năm 1940 để thúc đẩy tình hữu nghị giữa Áo và Chính phủ Vichy ở Pháp. Bá tước Alexandre Walewski mới 7 tuổi khi mẹ ông là Marie Walewska qua đời, nhưng ông nhận được sự giáo dục tốt từ bác mình, một sĩ quan trong quân đội Pháp. Ông gia nhập Binh đoàn Ngoại quốc (Lê dương) và chiến đấu ở Bắc Phi, sau đó trở thành đại sứ tại London, nơi ông ta thu xếp chuyến thăm của em họ mình là Napoleon III tới đó, cũng như chuyến thăm Pháp của Nữ hoàng Victoria. Ông trở thành Chủ tịch Cơ quan Lập pháp và mất vì một cơn đau tim tại Strasbourg năm 1868 ở tuổi 58. Charles Denuelle, Bá tước Léon, con trai ngoài giá thú của Napoleon với Eléonore Denuelle de la Plaigne, lớn lên giống người cha đẻ của mình tới mức những người đi qua phố nhìn ông ta chằm chằm trên phố. Ông có một cuộc quyết đấu với một sĩ quan liên lạc của Wellington vào tháng Hai năm 1832, và cho rằng mình sống sót nhờ một chiếc cúc áo mà Hortense tặng và được ông mang theo mình. Ông sa đọa thành kẻ phóng đãng nát rượu hay gây gổ, cho dù Napoleon III đã trả các món nợ và dành cho ông một khoản trợ cấp, nhưng đã chết trong cảnh nghèo khó vì ung thư dạ dày ở Pontoise tháng Tư năm 1881. Mẹ ông góa chồng trong chiến dịch năm 1812. Bà kết hôn với Bá tước Charles-Emile-Auguste-Louis de Luxbourg năm 1814, và sống cùng chồng cho tới khi ông này mất 35 năm sau đó. Bà ta qua đời năm 1868.
Về các thống chế của Napoleon, Mortier bị giết cùng 11 người khác vì một quả bom trong cuộc duyệt binh năm 1835. Quả bom do một người Italy bất đồng đặt với hy vọng ám sát Vua Louis-Philippe. Nhà vua đã khóc trong tang lễ của Mortier. Nicolas Soult, Công tước de Dalmatie, lưu vong ở Đức tới năm 1819, nhưng sau đó trở thành Bộ trưởng dưới thời Bourbon và Chủ tịch Hội đồng và là Bộ trưởng Chiến tranh cải cách dưới thời Louis-Philippe. Ông đại diện cho Pháp tại lễ đăng quang của Nữ hoàng Victoria năm 1838, khi đó Wellington đã tổ chức một bữa tối chào mừng ông ta. Ông mất năm 1851. Bernadotte trở thành Vua Thụy Điển năm 1818 và trị vì cho tới khi qua đời năm 1844; hậu duệ của ông ngày nay đang ngồi trên ngai vàng Thụy Điển. Thống chế Jourdan, bất chấp việc từ chối tham dự tòa án binh kết án Ney, trở thành một bá tước và thành viên Thượng viện năm 1819. Ông ủng hộ Cách mạng 1830, và mất ba năm sau đó. Marmont, Công tước de Raguse, một thời gian ngắn là người giám hộ của Vua La Mã. Ông qua đời năm 1852, là người cuối cùng trong số các thống chế của Napoleon. Khi hồi ký của ông được xuất bản sau khi chết, một nhà phê bình đã ví ông với “một xạ thủ bắn tỉa nấp sau bia mộ của chính mình để ngắm bắn những người không thể đáp trả.”
Trong số các cựu bộ trưởng của Napoleon, Jean-Jacques-Régis de Cambacérès trốn thoát tới Brussels trong cuộc Phục hồi thứ hai nhưng được phép trở về Pháp năm 1818, tại đây ông sống đời ẩn dật khá phong lưu cho tới khi mất vào năm 1824. Louis-Mathieu Molé trở thành Tổng giám đốc cầu đường dưới thời kỳ Phục hồi sau đó trở thành Bộ trưởng Hải quân, rồi Bộ trưởng Ngoại giao dưới thời Vua Louis-Philippe và là Thủ tướng từ năm 1836 tới 1839; ông mất năm 1855. Tên của Armand de Caulaincourt bị Louis XVIII đưa vào danh sách ngoài vòng pháp luật, nhưng sau đó lại bỏ ra khi được Sa hoàng Alexander thuyết phục. Ông mất năm 1827. Hugues Maret, Công tước de Bassano, được Louis-Philippe phong làm Thượng nghị sĩ và trở thành Thủ tướng Pháp trong tám ngày vào tháng Mười một năm 1834; ông qua đời tại Paris năm 1839. René Savary viết tám tập hồi ký và xuất bản năm 1828, trở thành Tư lệnh Quân đội Pháp tại Algeria một thời gian ngắn vào năm 1831, nơi ông thể hiện sự tàn ác đáng kể. Ông mất năm 1833.
Nhóm trên đảo St Helena nhanh chóng phân tán sau cái chết của Napoleon. Henri Bertrand trở lại Paris sống trong ngôi nhà cũ của Napoleon và Josephine trên phố Chantereine. Ông mất vào tháng Một năm 1844. Bá tước Montholon chia sẻ cảnh cầm tù với Napoleon III tại nhà tù Ham từ năm 1840 đến 1846 – cùng quãng thời gian sáu năm, như ông đã chia sẻ với bác của Napoleon III. Ông mất tại Paris vào tháng Tám năm 1853. Albine de Montholon chia tay chồng đã lâu, theo đuổi mối quan hệ với Basil Jackson tại Brussels, và qua đời vào tháng Ba năm 1848 trong một vũ hội do các cháu tổ chức cho bà ta. Emmanuel de Las Cases xuất bản Le Mémorial de Sainte-Hélène (Hồi ký Saint Helena) thành bốn tập vào năm 1823, và liên tục tái bản có sửa chữa trong suốt đời mình. Ông được bầu làm đại biểu Nghị viện năm 1831, và qua đời năm 1842. Louis Marchand viết hồi ký của mình trong cảnh tiện nghi ở Auxerre. Năm 1822, Betsy Balcombe kết hôn với Charles Abell, người sau đó bỏ rơi bà. Bà chuyển tới Sydney, Australia cùng đứa con duy nhất của họ, nhưng rồi quay lại London để dạy nhạc. Khi xuất bản hồi ký của mình, bà được Napoleon III ban cho đất tại Algiers, song lựa chọn ở lại London, bà ta qua đời tại đây năm 1871. Francesco Antommarchi xuất bản The Last Moments of Napoleon (Những khoảnh khắc cuối cùng của Napoleon) năm 1825, và tìm cách bán các bản sao mặt nạ khi chết của Napoleon vào năm 1833, nhưng đã bị kiện về bản quyền tác giả của nó, mà đúng ra phải thuộc về bác sĩ Francis Burton. Trên bia mộ của mình ông đã cho ghi dòng chữ: “Một bác sĩ Italy phụng sự Hoàng đế và người nghèo”. Ngài Hudson Lowe rời St Helena sau cái chết của Napoleon và chỉ huy quân Anh tại Ceylon (ngày nay là Sri Lanka) từ năm 1825 đến 1830, nhưng không được chỉ định làm thống đốc nơi này. Ông qua đời vào tháng Một năm 1844 ở tuổi 74. Bác sĩ Vignali bị sát hại tại nhà riêng ở Corse hồi tháng Sáu năm 1836.
Trong số những thuộc cấp khác của Napoleon, Tướng Charles Lefebvre-Desnouëttes bị thương năm 1815, và di cư sang Mỹ. Khi trở về Pháp năm 1822, ông bị đắm tàu và chết đuối. Jean Rapp trở thành một dân biểu của khu Thượng sông Rhin và sau đó là quản lý ngân khố cho Louis XVIII, qua đời hồi tháng Mười năm 1821. Jacques-Louis David tới sống tại Brussels sau năm 1815 và trở lại vẽ các chủ đề cổ điển, qua đời năm 1825. Antoine-Jean Gros thấy rằng ngày càng ít người thích những bức tranh lịch sử và tân cổ điển của mình; ông mất năm 1835. Roustam cuối cùng lại khoác lên người bộ trang phục Mamluk cho các buổi trình diễn ở London, và chết vào tháng Mười hai năm 1845 ở tuổi 65. Claude Méneval xuất bản hồi ký của mình năm 1827, có mặt trong lễ đưa hài cốt của Napoleon trở về Paris năm 1840, và mất tại Paris năm 1850. Octave Ségur, sống sót sau khi bị thương và bị bắt ở Nga năm 1812, trở về Pháp sau chiến tranh, nhưng vào năm 1818 đã nhảy xuống sông Seine khi phát hiện ra vợ ngoại tình.
Một số đối thủ và người phỉ báng Napoleon có kết thúc buồn thảm. Louis de Bourienne xuất bản tập hồi ký đầy ác ý bôi nhọ Napoleon năm 1829 và chết trong một trại điên ở Caen vào tháng Hai năm 1834. Laure, nữ Công tước d’Abrantès, chết trong cảnh khốn cùng ở một ngôi nhà có phòng cho thuê xập xệ năm 1838 ở tuổi 54. Huân tước Castlereagh tự sát bằng cách dùng dao nhíp tự cứa cổ mình ngày 12 tháng Tám năm 1822. Những nhà thơ cấp tiến ăn mừng, nhưng nước Anh thì đã mất một trong những Bộ trưởng Ngoại giao tài ba nhất của mình.
Trong số các đối thủ khác của Napoleon, René de Chateaubriand phục vụ ở các vị trí bộ trưởng và đại sứ dưới thời Bourbon nhưng đối lập với Louis-Philippe, người được ông gán cho cái tên “vua tư sản”, cho tới khi qua đời năm 1848. Mémoires d’Outre-Tombe (Hồi ký từ bên kia nấm mồ) của ông được xuất bản sau khi qua đời, chỉ trích Napoleon là kẻ nghiệt ngã như một bạo chúa, và đặc biệt trách cứ ông về việc hành quyết Công tước d’Enghien. Benjamin Constant được chỉ định vào Hội đồng Nhà nước sau khi nhà Bourbon bị lật đổ năm 1830, nhưng qua đời trong cùng năm. Paul Barras chết lúc 11 giờ đêm 29 tháng Một năm 1829. Trước đó cùng ngày, ông đã cho gọi con đỡ đầu Paul Grand tới bên giường mình và giao cho ông này tập hồi ký của mình, vì đã thấy nhà Bourbon tịch thu giấy tờ của Cambacérès sau khi ông này qua đời. Nhà chức trách tới nơi sáng hôm sau để lấy đi giấy tờ của Barras, nhưng họ đã quá muộn. Vì nhiều lý do cá nhân và pháp lý, hồi ký mãi tới những năm 1880 mới được xuất bản, và khi đó hóa ra lại có thái độ quá hiềm khích và ít có giá trị lịch sử. Lúc sắp lâm chung năm 1837 Hippolyte Charles yêu cầu rằng những lá thư ông nhận từ Josephine phải bị đốt đi, và tất cả, trừ năm lá, đã bị đốt. Karl von Schwarzenberg nhận được rất nhiều vinh hạnh và huân chương, nhưng bị một cơn đột quỵ vào năm 1817. Ba năm sau, ông tới thăm chiến trường Leipzig nhân lễ kỷ niệm bảy năm ngày trận đánh diễn ra, và bị một cơn đột quỵ thứ hai tại đó rồi qua đời ngày 15 tháng Mười. Ngài Sidney Smith được chôn tại Père la Chaise năm 1840, quan tài của ông được bọc trong quốc kỳ Anh. Cả ba bản điếu văn đều do những người Pháp đọc. Dù là một thành viên của Binh đoàn Danh dự, nhưng tổ chức này đã không cử đội danh dự truyền thống đến với người đã chối từ Napoleon về số phận của mình tại Acre.
Charles-Maurice de Talleyrand, Vương hầu Benevento, quở trách một phụ tá vì đã mô tả cái chết của Napoleon như một “sự kiện”, nói rằng đó chỉ đơn thuần là một “mẩu tin”. Ông tiếp tục phục vụ bất cứ chế độ nào cần mình, làm Bộ trưởng Ngoại giao và Chánh thị thần cho nhà Bourbon, và sau Cách mạng 1830 là Đại sứ tại London cho Louis-Philippe. Ông mất năm 1838, có nhà vua ở bên giường và được Hồng y giáo chủ Paris làm lễ xức dầu thánh cho.
Khi nghe tin về cái chết của Napoleon, Công tước Wellington nói với bạn mình, phu nhân Arbuthnot, “Giờ tôi có thể nói mình là vị tướng thành công nhất còn sống”. Ông đã ngủ với hai tình nhân của Napoleon – Giuseppina Grassini và Cô George – trở thành một Thủ tướng mờ nhạt trong hai năm 1828-1830, và được tưởng niệm bằng một quốc tang rất xứng đáng vào năm 1852. Khi được kể về sự huy hoàng của lễ cải táng cho Napoleon tại Paris năm 1840, ông đã nhận xét, “Một ngày nào đó người Pháp chắc chắn sẽ lại nghĩ tới việc chiến thắng nước Anh”, nhưng về mặt cá nhân, ông “chẳng thèm bận tâm tới chuyện đó!”